Bạch Thoại Phật Pháp - Bộ sách 12 Quyển - Quyển 2

BẠCH THOẠI PHẬT PHÁP
Bộ sách 12 Tập

 Quyển 2

Tác giả: Lư Quân Hoành

Xuất bản và Phát hành: Trung tâm Văn hóa Đài Phát thanh Đông Phương Hoa ngữ Úc Châu

Bạch Thoại Phật Pháp (Tập 2)

Chủ giảng: Đài trưởng Lư Quân Hoành

Ghi chép, chỉnh lý và biên tập: Ban Thư ký Đài Phát thanh Đông Phương Hoa ngữ Úc Châu

Kế hoạch: Ban Thư ký Đài Phát thanh Đông Phương Hoa ngữ Úc Châu

Hiệu đính: Ban Thư ký Đài Phát thanh Đông Phương Hoa ngữ Úc Châu

Biên tập Mỹ thuật: Ban Thư ký Đài Phát thanh Đông Phương Hoa ngữ Úc Châu

Xuất bản: Trung tâm Văn hóa Đài Phát thanh Đông Phương Hoa ngữ Úc Châu (2OR)

Địa chỉ: 54 Meagher St, Chippendale Sydney, NSW 2008 Australia

Điện thoại: (+61-2) 9283 2758

Địa chỉ Blog của Đài trưởng Lư Quân Hoành:

http://lujunhong2or.com

Lần xuất bản: In lần thứ 2, bản thứ nhất tháng 11 năm 2011

Số xuất bản: AORP100105

Số lượng in: 10.000 - 20.000 cuốn

Tải sách pdf tại đây

Google Ebook đọc trên điện thoại

LỜI TỰA

Các bài viết trong «Bạch Thoại Phật Pháp» đều được Sư phụ Lư Quân Hoành (Đài trưởng) của chúng tôi thuyết giảng và khai thị cho các đệ tử tại Quan Âm Đường thuộc Đài Phát thanh Đông Phương Hoa ngữ Úc Châu, sau đó được chỉnh lý dựa trên các bản ghi âm và ghi chép. Sư phụ dùng ngôn ngữ đời sống để giảng giải Phật pháp cao thâm, vừa giải thích trên phương diện triết lý nhân sinh, vừa sử dụng những ví dụ đơn giản, dễ hiểu trong cuộc sống thường ngày. Trong Bạch Thoại Phật Pháp, [người đọc] có thể lĩnh hội được những lý luận Phật học thâm sâu và ở tầng bậc cao. Sư phụ dùng phương tiện trí, nói phương tiện pháp, dẫn dắt các đệ tử phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui, đạt được sự giải thoát rốt ráo.

Sư phụ dạy chúng tôi làm sao để học Phật, làm sao để tu tâm, làm sao để tu hành, làm sao để tu sửa bỏ đi những tập khí vô minh trên thân mình, vì sao cần phải trì giới thủ pháp, v.v... Mục đích là để khơi dậy Phật tính trong chúng sinh muôn loài, khai mở trí tuệ, nâng cao sự giác ngộ, sửa đổi những hành vi sai lầm, thay đổi vận mệnh của chúng tôi, để thế giới tràn ngập tình yêu thương từ bi của Quán Thế Âm Bồ Tát.

Sư phụ còn dạy các đệ tử cách vận dụng lý luận Phật pháp trong đời sống thường ngày để giải quyết các vấn đề khác nhau mà bản thân phải đối mặt trong cuộc sống, học tập, sức khỏe, công việc...; làm sao vận dụng lòng từ bi và trí tuệ của Phật Bồ Tát để chúng ta được tiêu tai cát tường trong xã hội hiện đại, có một cuộc sống thanh tịnh và an vui.

Các bài viết trong cuốn «Bạch Thoại Phật Pháp» này, Sư phụ đều vận dụng trí tuệ viên dung của Bồ Tát, dùng ngôn ngữ đơn giản dễ hiểu, trình bày sâu sắc về định luật nhân quả của thế gian. Sau khi các bài viết được đăng tải, đã khiến hàng vạn chúng sinh hữu duyên như tỉnh cơn mê, thức tỉnh chúng sinh bước lên đại đạo học Phật, tu tâm, tu hành, thay đổi vận mệnh, và nhận được sự chào đón nồng nhiệt của nhân sĩ các giới trên toàn thế giới. Để cho nhiều người học Phật thiện lương được lợi ích hơn nữa, nay [chúng tôi] chỉnh lý lại và in ấn xuất bản, lưu thông miễn phí, gieo duyên rộng khắp với chúng sinh.

Tháng 1 năm 2013 tại Sydney

I. GIẢI THÍCH PHẬT PHÁP BẰNG NGÔN NGỮ ĐỜI THƯỜNG

1. Bàn về Phật Đức và Tri Hành Hợp Nhất

+

Phật đức chính là phẩm đức của Phật, chúng ta làm người cần phải có phẩm đức của Phật, phải có đạo đức của Phật và tính đức của Phật. Phật quả là có quả báo và quả vị của Phật. Vô ngã quả, người tu hành thật sự tốt thì ngay cả cái quả này cũng là không, vô ngã quả chính là không có quả, không có quả mới là thực sự có quả, mà có quả tức là không quả. Phẩm đức, đạo đức và tính đức của Phật đều là cảnh giới cao nhất, là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, tu thành Đại giác viên mãn, nghĩa là hoàn toàn giác ngộ, trí tuệ viên dung. Phải dùng ánh sáng của nhục thân cộng với ánh sáng của trí tuệ, hợp hai ánh sáng đó làm một, đó chính là ánh sáng của Phật (Phật quang). Ánh sáng nhục thân là do ăn chay, đầu óc sạch sẽ, không động não xấu, thân thể sạch sẽ... tức là nhục thân thanh tịnh. Phải tu thành ánh sáng nhục thân, tức là tu cho nhục thân phát ra ánh sáng, sau đó mới khai mở ánh sáng trí tuệ, ánh sáng trí tuệ cộng với ánh sáng nhục thân, chính là Phật quang. Nếu trên thân dơ bẩn, trong đầu dơ bẩn, hành vi dơ bẩn, linh hồn dơ bẩn, thì làm sao có Phật quang, ánh sáng Phật cũng không thể phổ chiếu vào trong được. Giống như một vật bị bọc kín, ánh mặt trời có thể chiếu vào không? Nếu là thủy tinh trong suốt, ánh mặt trời tự nhiên sẽ chiếu vào.

Tri hành hợp nhất, chính là biết đạo lý thì phải hành động, học Phật pháp nếu biết rất nhiều đạo lý mà không hành động, không làm, thì không phải là tri hành hợp nhất. Hành vi và kiến thức phải hợp làm một, cái hạnh mà bạn tu và kiến thức về Phật Bồ Tát mà bạn học, phải hợp làm một, chính là phải dùng kiến thức để phục vụ cho hành vi. Trong tu hành, cầu tri thức, vừa làm việc thiện, vừa khuyên bảo mọi người, sẽ học được thêm nhiều kiến thức Phật pháp. Vừa làm việc thiện, vừa ngộ đạo lý, tăng Phật lý, trưởng kiến thức. Mỗi người các bạn trong quá trình khuyên bảo người khác học Phật pháp, đều có thể tăng trưởng trí tuệ của Phật, dùng hành vi, hành động để đạt được kiến thức. Kiến thức dù nhiều mà không hành động, bạn có nói bao nhiêu kiến thức Phật pháp, nói ra đạo lý thao thao bất tuyệt, có nhiều kiến thức như vậy mà không làm, không ứng dụng, thì bằng như vô tri, bị xem là vô tri. Hãy nhớ rằng các bạn học xong thì phải đi cứu độ chúng sinh.

Phật nói: “Phàm là người chấp trước vào một kiến giải nào đó mà miệt thị các kiến giải khác, thì bị xem là đê hèn.” Nghĩa là chấp trước vào quan điểm của mình, chấp trước vào việc mình cho là đúng, mà cho rằng kiến giải của người khác đều sai, miệt thị người khác, tức là đê hèn. Trên đời có quá nhiều người chấp trước vào lý luận của mình, chấp trước vào quan điểm của mình, chấp trước vào những gì mình học, mà miệt thị những thứ khác, bậc trí giả gọi đó là trói buộc (triền khỏa). Người thông minh nói những người chấp trước vào quan điểm của mình mà không chịu tiếp nhận quan điểm của người khác là tự trói buộc, tự quấn chặt mình lại. Phật pháp không phải là lý thuyết thuần túy, Phật pháp là thực sự phải đi thực hành, nếu học Phật pháp xong mà không thực sự đi thực hành, thì sẽ không tương ứng với Phật Bồ Tát.

Phải biết mình không phải là người nhàn rỗi, không được nhàn rỗi. Nếu người này không phải người nhàn rỗi, thì không thể nhàn. Là người nhàn, thì không phải người thường. Từ mấy câu này ngộ ra một đạo lý: làm việc phải làm trên "công", phải làm trên "đức". Nếu làm bất cứ việc gì chỉ làm trên cái thiện, làm trên một sự việc, bạn không có công đức; bạn phải làm trên công, làm trên đức, đó mới là có ích cho sức khỏe thân tâm. Công là phát xuất từ trong tâm, vượt ra khỏi phạm vi việc thiện bình thường mới gọi là công. Dùng tâm Phật của bạn để làm việc thiện, dùng Phật đức – đức chính là đạo đức, đức tính của Phật Bồ Tát. Cộng thêm Phật đức của chính bản thân bạn, những việc làm đó gọi là công đức.

Người nên tự mình quy y, quy y Tự tánh Tam bảo, tự mình quy y Phật, Pháp, Tăng của chính mình. Phật ở trong tâm, Pháp ở trong hành, Tăng ở trong giới. Còn ai có thể làm chỗ quy y cho bạn? Bản thân bạn đã là Phật Bồ Tát rồi, quy y ai nữa? Học Phật không được tham ái, tham ái có thể khiến người ta không ác nào không làm, bởi vì lòng tham của bạn, cái yêu của bạn, có thể khiến bạn làm đủ mọi điều ác. Cho nên Thánh nhân, Hiền minh là "khắc niệm tác thánh" (khắc chế ý niệm để làm thánh), người có tu vi gọi là Thánh nhân, có thể khắc chế ý niệm của mình mới trở thành Thánh nhân. Phàm phu thì "lấy vọng niệm làm phàm", phàm phu chính vì vọng niệm quá nhiều mới trở thành người phàm. Cuối cùng răn dạy các đồ đệ rằng: Kẻ ngu tìm lỗi của thầy, còn người trí học cái hay của thầy. Nghĩa là ra ngoài xã hội đừng nhìn vào cái dở của người khác, phải nhìn vào cái hay của người khác. Trong ba người, ắt có thầy ta; trong mười bước, ắt có cỏ thơm. Hôm nay vì thời gian có hạn, xin giảng đến đây. Hợp thập.

2. Đài trưởng Lư bàn về Phật pháp và Nhân quả

+

Hôm nay giảng cho các bạn về Phật pháp và Pháp lực. Nhiều người đều biết Phật pháp pháp lực vô biên. Đã là pháp lực vô biên, nhưng có người có lẽ sẽ hỏi: Vậy tại sao nhiều thiên tai nhân họa như thế, Phật Bồ Tát không phát tâm từ bi đi cứu độ? Tại sao không ngăn chặn những tai nạn này xảy ra? Bởi vì Phật Bồ Tát không động nhân quả (không can thiệp trái quy luật nhân quả). Cộng nghiệp và biệt nghiệp do tự mình gieo trồng, tự mình nhất định phải chịu quả báo. Pháp lực của Phật Bồ Tát dù lớn đến đâu, nhưng với những người không có duyên phận với Phật Bồ Tát, thì Phật Bồ Tát cũng không thể cứu độ họ.

Phật Bồ Tát có ba trường hợp không thể cứu độ:

Thứ nhất, là người vô duyên. Nếu có duyên với Phật Bồ Tát, Phật Bồ Tát mới có thể giúp bạn, cứu độ bạn, pháp lực vô biên. Nếu vô duyên với Phật Bồ Tát, Phật Bồ Tát không thể giúp bạn, cứu độ bạn. Khi bạn cầu Phật, tức là bạn chỉ cần cầu Phật Bồ Tát, thành tựu cái Phật duyên này, Phật Bồ Tát mới giúp bạn. Bạn không cầu Phật Bồ Tát, chính là không có duyên phận với Phật, Phật Bồ Tát không thể giúp bạn (hiển linh).

Thứ hai, Phật Bồ Tát không thể tiêu định nghiệp. Định nghiệp chính là mạng, là nghiệp đã định, tức là tất cả những việc bạn đã làm từ kiếp trước, tự mình gieo nhân, nhận lấy quả, gọi là định nghiệp. Nhân do tự mình gieo, Phật Bồ Tát không thể giúp bạn tiêu trừ, tức là Phật Bồ Tát không động nhân quả.

Thứ ba, Phật Bồ Tát ở nhân gian không thể độ tận chúng sinh. Bởi vì không có duyên với Bồ Tát thì Bồ Tát không thể cứu độ bạn. Ví dụ Sư phụ hôm nay bảo bạn đến nghe bài, bạn nói không có thời gian, làm sao cứu độ bạn? Sư phụ làm sao giúp được bạn? Đạo lý chỉ là một chữ Duyên.

Trên thế giới, người vô duyên với Phật pháp gọi là "Đại địa thổ" (Đất đại địa). Tức là người không có duyên với Phật pháp và Phật Bồ Tát, gọi là đất đại địa, là bụi đất trong đại địa. Người có duyên và được ở cùng Bồ Tát, có thể cùng nhau cứu độ chúng sinh, gọi là "Chưởng trung thổ" (Đất trong lòng bàn tay), đất trong lòng bàn tay là Bồ Tát đã đặt bạn trong lòng bàn tay rồi, có duyên với Bồ Tát, Bồ Tát mới có thể cứu độ bạn.

Con người ở thế giới này, định nghiệp là không thể chuyển. Định nghiệp là tất cả những việc đã làm ở kiếp trước tạo thành định số vận mệnh của bạn, là nghiệp đã định sẵn, gọi là định nghiệp. Nghiệp đã định thì không thể chuyển, vận của con người có thể đổi, nhưng cũng chỉ có thể đổi từng năm một. Phật pháp tuy vô biên, nhưng cũng phải tuân theo định luật nhân quả. Nếu bạn làm việc rất xấu, Bồ Tát không thể giúp bạn tiêu trừ tội nghiệp. Đừng tưởng rằng hôm nay làm việc tốt có thể xóa bỏ việc xấu đã làm trước kia, điều đó là không thể. Nhân quả là tự mình gieo nhân, tự mình nếm chịu quả báo đó, người khác vĩnh viễn không thể thay thế. Phủ định định luật nhân quả chính là phủ định chân lý của vũ trụ nhân sinh. Nhân quả trong chân lý vũ trụ nhân sinh đã được định sẵn, đó là Thiên luật, là không thể động, là chân lý không thể thay đổi trong không gian vũ trụ, là chân lý vĩnh viễn không đổi, giới chúng sinh cũng như vậy. Ví dụ khi bạn làm việc tội ác, nhất định sẽ nhận ác báo, chịu khổ địa ngục. Địa ngục chỉ là nơi thi hành Thiên luật. Bồ Tát từ bi như vậy, tại sao thấy trong địa ngục có bao nhiêu người chịu khổ mà không thể cứu hết người trong địa ngục ra? Bởi vì đó là nhân quả, ai cũng không thể động vào.

Hãy nhớ đừng động vào nhân quả, đừng làm việc xấu, đừng gieo nhân ác, chỉ cần làm thì nhất định sẽ chịu quả báo, tạo nhân gì nhất định sẽ chịu quả báo nấy. Phật pháp nói "Phật pháp vô biên" là có ý chỉ đặc định. Ý chỉ đặc định đó là: Phật pháp vô biên khi cứu người tốt, chỉ khi cứu độ chúng sinh hữu duyên mới hiển lộ pháp lực vô biên. Với người có thiện nghiệp, đối với họ Phật pháp là pháp lực vô biên. Với người có trọng tội nghiệp, đương nhiên Phật pháp cũng là pháp lực vô biên (theo nghĩa trừng phạt/quy luật), có câu "Lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó lọt", chỉ cần làm việc xấu thì không thể trốn thoát sự trừng phạt của pháp luật.

Người có thành tâm, Phật có cảm ứng. Một người chỉ cần thành tâm sửa đổi, Phật Bồ Tát nhất định sẽ có cảm ứng. Mọi tai nạn trên thế giới đều do cộng nghiệp tạo ra. Bồ Tát cứu độ những chúng sinh hữu duyên bị tổn thương trong cộng nghiệp đó, và đều là người tốt, chỉ có người tốt Bồ Tát mới cứu. Ví dụ cùng mắc một bệnh, tại sao có người sống sót, còn có người trẻ tuổi đã chết? Những người trẻ đó là vì vô duyên với Phật Bồ Tát. Phật pháp cần phải tuân theo Thiên luật, tuân theo nhân quả và nghiệp báo mà làm. Nhân quả là không thể động, nghiệp báo cũng là không thể động.

Nhân quả hoàn toàn nằm trong mệnh. Người tu tâm nếu không tu mệnh là không được. Nếu không thay đổi mệnh của mình thì sẽ có tà kiến, tham ái, vô minh. Tà kiến là cho rằng mình luôn đúng. Vô minh là không hiểu chân tướng, cái gì cũng không biết. Tham ái là cái gì cũng thích, đều muốn tham. Con người phải học cách buông bỏ (xả), mới có thể chế ngự lòng tham của mình. Nếu tu hành tu tâm mà không tiêu trừ tà kiến, tham ái, vô minh, thì việc tu tâm của người đó nhất định sẽ bị "lậu" (rò rỉ, thiếu sót).

Sư phụ nói với các bạn, tâm thái quyết định tương lai của bạn. Có tâm thái tốt sẽ có tương lai tốt, tâm thái không tốt sẽ không có tương lai tốt. Cùng nhau cố gắng.

3. Tính mệnh song tu, người trí gặp duyên

+

Tính mệnh song tu (Tu cả tính và mệnh): Nhiều người đều biết khi về già hoặc khi có tai họa thì "tính mệnh khó bảo toàn". Thế nào là tính mệnh khó bảo toàn? Mệnh chính là nhục thể (thân xác) của bạn, Tính chính là linh hồn của bạn. Tính mệnh khó bảo toàn tức là linh hồn và thể xác của bạn đều không giữ được. Cho nên phải "tính tu" và "mệnh tu". Tính tu và mệnh tu đều quan trọng như nhau. Tính tu là tu bản tính, tu lương tâm của bạn; Mệnh tu là tu thân thể và hành vi. Vì vậy cần phải tính mệnh song tu.

Nếu bạn không có cái mệnh này thì không tu được cái tính này. Nếu mệnh của bạn rất tồi tệ, rất kém, khổ không thể tả, hơn nữa còn vô duyên tiếp xúc với pháp môn của Đài trưởng, thì là một người không có phúc khí. Mệnh là nền tảng của tu hành. Tu hành cần phải nội tu và ngoại tu. Nội tu là tu cho tâm bình lặng, ngoại tu là phải vô ngại đối với chúng sinh. Sư phụ thường giảng cho các bạn "ngoại quan vô ngại", chính là ngoại tu, phải tu tâm và hành vi của các bạn. Ngoại tu cần từ bi, tu khuôn mặt của các bạn, đừng mang tướng gian trá, phải để người ta nhìn vào thấy ngay là một tướng Bồ Tát. Tướng mặt của người tu tâm đều sẽ thay đổi, nếu hôm nay tướng mặt của bạn vẫn hung dữ như thế, tức là tâm của bạn căn bản chưa tu tốt. Một người học cái gì phải giống cái đó, học Bồ Tát nhất định phải giống Bồ Tát. Ngoại tu giống Bồ Tát, nội tâm cũng phải giống Bồ Tát, thì bạn mới là Bồ Tát chân chính. Người nội tu ít bệnh, ít phiền não, bởi vì tâm thái bình hòa, tâm thái bình lặng, người như vậy sẽ ít bệnh, ít phiền não. Người ngoại tu mặt mũi phải hồng hào, trắng hồng rạng rỡ, mắt phải có thần (có ánh sáng), tính tình phải ôn nhu, nói năng phải lễ phép, phải có trí tuệ, không nói thì thôi, hễ nói là sáng tỏ.

Bất kể bên ngoài phát ra âm thanh gì, đều phải nghe tiếng Phật trong nội tâm, phải nghe âm thanh của Phật Bồ Tát trong lòng. Bất kể gặp chuyện gì, Sư phụ chỉ cho các bạn một bí quyết: chỉ cần khởi một ý niệm, lập tức phải học cách hóa giải, chính là phải nghĩ rằng đây là Phật Bồ Tát đang thử thách các bạn. Khi cảm thấy có chuyện không hay xảy ra, phải nghĩ đến đó là Phật Bồ Tát thử thách các bạn, nên suy nghĩ làm sao để vượt qua khó khăn, phải chịu đựng được thử thách. Bất luận gặp chuyện gì chỉ cần nghĩ đến Bồ Tát, trên đời còn khó khăn nào không thể khắc phục, không thể chiến thắng?

Người học Phật cần phải nhớ kỹ: Quá khứ hà tất phải suy tính, hiện tại không cần căng thẳng, niệm Phật tự nhiên cát tường. Tức là chuyện đã qua đừng nghĩ tới nữa, tương lai không cần hoảng sợ, chuyện chưa đến bạn hoảng sợ làm gì? Thực thực tại tại nắm chắc một cái "hôm nay", còn hơn hai cái "ngày mai", ngày ngày niệm Phật thì tự nhiên cát tường.

Người trí gặp duyên tự đắc lực (Người có trí tuệ gặp duyên phận tự nhiên có được sức mạnh). Người có trí tuệ gặp tất cả các duyên phận, bất luận là thiện duyên hay ác duyên, đều có thể nhận được sức mạnh trong đó. Nhiều người khi gặp khó khăn, ngược lại càng kiên định niềm tin, có thể nhận được sức mạnh trong đó. Người có trí tuệ bất luận là thuận đạo hay nghịch đạo đều sẽ nhận được lợi ích từ đó. Thất bại hôm nay là thành công của ngày mai, thành công hôm nay cũng có thể báo trước thất bại của ngày mai, thực ra đó đều là một chữ Duyên.

Giảng cho mọi người nghe: Cảm xúc, đã qua kiểm định khoa học, tuyệt đối ảnh hưởng đến chức năng miễn dịch của con người. Cảm xúc của bạn tốt hay xấu sẽ ảnh hưởng đến chức năng miễn dịch của cơ thể bạn. Khi một người nổi nóng, đau buồn, khả năng miễn dịch sẽ giảm xuống. Tương tự, tức giận sẽ sinh ra chất độc giống như nọc rắn. Khi một người tức giận, tương đương với rắn phun nọc độc, cho nên tức giận có thể làm chết người, cũng có thể nói là bị chính mình đầu độc chết, vì chức năng miễn dịch của bạn làm hỏng cơ thể bạn. Người hay tức giận là trí tuệ không khai mở, "giận sinh ra bệnh không ai thay thế được".

Thực ra tiềm năng cơ thể người là vô hạn, dùng phương pháp gì để khai phá tiềm năng cơ thể? Là phải dùng tâm cảm ơn (lòng biết ơn) để khai phá tiềm năng con người. Bạn càng biết ơn, tiềm năng của bạn càng lớn, cách giải quyết vấn đề càng nhiều. Lòng biết ơn có thể khai phá tiềm năng của bạn, giúp bạn hóa giải tai nạn, loại bỏ tâm sân hận, sinh ra lòng yêu thương.

Con người sống trên đời phải biết tiếc phúc, đừng khi không có bệnh thì chà đạp cơ thể mình, khi có bệnh rồi lại oán trách. Thực ra đó là điều người ta thường nói: lãng phí sinh mệnh. Bình thường hãy tu tâm tu hành nhiều, tích đức nhiều, đợi khi có bệnh sẽ không oán trách nữa, vì bệnh sẽ rất nhanh khỏi.

Dưới đây nói cho các đồ đệ một mục lưu ý: Khi cúng nước cho Phật Bồ Tát, tuyệt đối không được cúng ly không (khi cúng nước không được đặt ly không lên trước rồi mới rót nước), bắt buộc trước tiên phải có một chút nước trong ly. Nước có thể loại bỏ lòng tham của bạn, đồ cúng cho Phật Bồ Tát nhất định phải toàn tâm toàn ý, không được có bất kỳ tư tưởng tiếc nuối nào trong đó. Cúng nước là để bạn không khởi tham sân si, không khởi tâm keo kiệt.

Nước có 4 công năng:

  1. Tính trong: Khi cúng nước, thân tâm bạn khỏe mạnh, lục căn sẽ tạm thời thanh tịnh.
  2. Chất mềm: Có thể làm cho ý niệm của bạn nhu thuận. Người thường xuyên uống nước ý niệm khá bình tĩnh; người không thường xuyên uống nước dễ nổi nóng, ví dụ miệng vừa khô là cả người bốc hỏa, chỉ muốn nổi cáu.
  3. Dễ cổ họng (lợi giọng): Uống nhiều nước có thể nói năng lưu loát ("nhả ngọc phun châu"), lời nói ra rất dễ nghe. Uống nhiều nước có thể làm tâm người bình lặng, uống nhiều nước có thể làm đầu óc bạn minh mẫn.
  4. Thanh triệt: Ý niệm trong sáng, ý niệm rất sạch sẽ.

Sư phụ răn dạy các đồ đệ: Người học Phật nên "lấy người làm thầy ta, lấy đức người làm đức ta, lấy biểu hiện của người làm biểu hiện của ta".

4. Trong tu Phật cần kiên trì "Tứ Bất" (Bốn Không)

+

Hôm nay giảng cho mọi người bốn chữ "Bất" (Không).

  1. Bất hỷ (Không vui mừng thái quá/Không cống cao ngã mạn): Không được có tâm cống cao ngã mạn. Tức là tự cảm thấy mình rất giỏi giang. Cống cao là tưởng mình làm được nhiều việc tốt, công đức rất lớn, tự cho mình là giỏi, rồi coi thường người khác, khinh rẻ người khác.
  2. Bất cụ (Không sợ hãi): Tức là đừng sợ hãi, đừng nghĩ lung tung, có tâm bình đẳng thì sẽ không sợ hãi. Ví dụ bạn có tiền, bạn có danh, bạn có lợi, đó là do công đức của bạn. Tôi vì có tâm bình đẳng với mọi người, khi có tâm bình đẳng thì bạn sẽ không sợ hãi bất cứ việc gì. Tại sao nhiều người lại sợ? Là vì lòng tự trọng đang tác quái. Phải biết con người sống trên đời, lòng tự trọng là Bồ Tát cho bạn có, cái tự trọng này phát xuất từ trong tâm bạn, nhắc nhở bạn ở nhân gian trước tiên phải tự tôn trọng mình. Lòng tự trọng phải xây dựng trên cơ sở bình đẳng, nếu có tâm phân biệt thì không còn lòng tự trọng nữa. Ví dụ khi cảm thấy mình rất nghèo, cảm thấy người ta giàu hơn mình, lòng tự trọng của bạn sẽ nổi lên. Một trong những cách giải quyết là hãy xem người đó như không có tiền, xem như cũng giống mình, nếu tự hạ thấp mình thì không có lòng tự trọng.
  3. Bất chấp (Không chấp trước): Tức là nhận lầm là nơi rốt ráo (cứu cánh). Cứu cánh là cho rằng việc tôi làm là đúng, chắc chắn là đúng. Chấp trước vào việc mình cho là đúng, trong cuộc sống hiện thực dù không có cách giải quyết cũng nhất định phải làm, đó gọi là chấp trước. Ví dụ, đi sòng bạc tự mình chấp trước cho rằng nhất định sẽ thắng. Tại sao lại chấp trước? Chính vì tự mình cho là cứu cánh rồi, chắc chắn là đúng rồi, cho nên mới chui đầu vào, đó là người không có tư duy, người không có trí tuệ.
  4. Bất không (Không không/Không rỗng tuếch): Tức là trong đầu không được hoàn toàn trống rỗng. Bất không thì sẽ rơi vào cảnh giới "ngoan không" (cái không đờ đẫn/vô tri) huyễn hoặc như ảo ảnh. Nếu trong đầu bạn cái gì cũng không, thì sẽ không rơi vào cái thế giới giả tạm này, chỉ có người tu đến tầng bậc nhất định mới có thể vào cảnh giới này.

Sư phụ từng giảng cho các bạn Thần thông có sáu loại: Thiên nhãn thông, Thiên nhĩ thông, Tha tâm thông, Túc mệnh thông, Thần túc thông và Lậu tận thông. Phải biết thần thông có được từ sự chứng ngộ. Chứng ngộ là chứng thực sự tồn tại của nó, ngộ ra Phật lý, Phật tính của nó, cũng gọi là khai ngộ. Khi một người thực sự khai ngộ thì sẽ có thần thông. Khi chưa khai ngộ mà đi truy cầu thần thông đều là sai lầm. Thần thông có được do pháp thuật, nghiệp báo, trì chú là có thể có. Tuy nhiên, pháp thuật về cơ bản là từ bên dưới (địa phủ) mà có, sau khi quỷ linh dựa vào thân thì sẽ có được rất nhiều pháp thuật, cho nên pháp thuật có thể giúp người cũng có thể hại người, tùy xem bạn tu pháp thuật gì. Trì chú là một loại tương đối đúng đắn. Còn một loại là nghiệp báo, nghiệp báo là do nghiệp lực báo ứng, nhưng nghiệp lực này không đại biểu cho "nghiệt lực" (nghiệp ác), mà là thiện nghiệp báo ứng. Kiếp này bạn có được thần thông này là do sự tu vi thiện nghiệp kiếp trước của bạn tạo thành. Nghiệp báo và trì chú đều sẽ có được thần thông. Trong thần thông, tầng bậc vô cùng phức tạp, chủng loại không giống nhau.

Thần thông bản thân là một loại sức mạnh trung tính, thần thông không thể ỷ lại. Tại sao gọi là trung tính? Vì thần thông không thể giải quyết triệt để vấn đề, là trung tính, không thể hoàn toàn dựa vào, cho nên Bồ Tát dạy chúng ta đừng ỷ lại vào thần thông, truy cầu thần thông, dạy chúng ta tu cái chân thực, có thể tu ra ngộ tính, còn cứ một mực truy cầu những thần thông này thì không có lợi ích gì, cũng không có tác dụng gì. Sư phụ có thần thông là để cho người ta tin, sau đó thông qua niệm kinh tu hành, tu tâm để thay đổi vận mệnh của chính họ. Sư phụ đang cứu độ chúng sinh hữu duyên. Nếu tất cả mọi người đều thực sự giác ngộ rồi, thì cái thần thông này đối với tôi còn có tác dụng gì? Nếu mỗi người đều có thể khai ngộ, niệm Kinh tu tâm như Sư phụ, các bạn nói xem cần thần thông để làm gì? Mục đích của thần thông là cứu người, nhưng cũng không cứu được người (theo nghĩa rốt ráo/giải thoát nghiệp), cho nên gọi là trung tính.

Mọi sự vật trên thế gian đều là trung tính. Ví dụ tiền có thể làm bạn hạnh phúc, cũng có thể làm bạn đau khổ (mang lại tai họa cho bạn). Dao có thể làm bạn đau khổ, cũng có thể làm bạn hạnh phúc: con dao giết người làm người ta đau khổ, còn dao phẫu thuật làm người ta hạnh phúc (giúp bạn giải trừ bệnh đau). Bất cứ việc gì khi xảy ra đều có tốt có xấu. Ví dụ khi một người ngất xỉu, là báo trước sức khỏe không tốt, từ đó về sau sẽ chú ý đến sức khỏe của mình, nếu không có lần ngất xỉu này làm sao biết chú ý đến sức khỏe? Đó chính là trung tính, dùng lời hiện đại gọi là phép biện chứng duy vật. Duy vật là vật thể tôi nhìn thấy này, chỉ hỏi nó thôi ("duy nó là vấn"), thứ nhìn thấy được là duy vật, còn thứ không nhìn thấy mà tưởng tượng ra gọi là duy tâm. Phép biện chứng duy vật là nhìn vấn đề từ hai mặt chính phản của sự vật, là xem sự vật có tính hai mặt, cho nên nhìn sự vật nhất định phải nhìn tính hai mặt của nó. Cái diệu của Phật pháp chính là để bạn trong đời người ngộ ra nhân sinh, từ nhân sinh mà tỉnh ngộ, đạt đến khai ngộ, cho nên Phật pháp là linh hồn của vạn sự vạn vật cũng là bản nguyên chân chính của con người.

Thần thông được ứng dụng với tâm thái nào? Sư phụ có thần thông ứng dụng với tâm thái nào? Điều này rất quan trọng. Khi bạn dùng một tâm thái tốt để ứng dụng thần thông, thì là Bồ Tát. Nếu dùng một tâm thái bất chính để ứng dụng thần thông, thì là ma. Ví dụ, trên đời này có người biết thôi miên, nếu là nhà thôi miên tốt sẽ làm người ta thả lỏng, quên đi quá khứ, thư giãn thân tâm. Nếu pháp bảo này rơi vào tay kẻ xấu, hắn có thể lợi dụng thuật thôi miên làm những việc vi phạm pháp luật, làm điều phi pháp. Thần thông ứng dụng vào tay ai sẽ khởi hiệu quả gì (phục vụ cho ai), cũng giống như tiền bạc: ở trong tay người tốt có thể bố thí, có thể giúp người làm việc thiện; khi tiền ở trong tay kẻ xấu, hắn có thể đi thuê giết người, đi đánh bạc... tiền liền biến thành tội ác. Nhưng bản thân tiền không có phân biệt thiện ác.

5. Học Phật chính là học làm người, đèn quang minh phải thắp trong tâm

+

Tiếp theo nói với đồ đệ về "Cứu cánh lậu tận thông" trong Lục thông. Đó là đã không bị sinh tử phiền não bao bọc. Lậu tận thông là đã thấu hiểu sinh tử, nhìn thấy tương lai, có thể nhìn thấy điểm tận cùng của nhân sinh. Là đã khai ngộ rồi, nhìn thấu mọi sự rồi. Lậu tận thông là sự khai ngộ của trí tuệ, nếu có thể tu đến Cứu cánh lậu tận thông thì không bị sinh tử phiền não trói buộc, liền trụ trong Niết bàn tịch tĩnh.

Niết bàn theo Phật pháp mà nói, là người này đi rồi, tuy nhục thể vẫn còn nhưng hồn phách đã rời khỏi nhục thân, đó gọi là Niết bàn. Khi một người ngồi thiền (đả tọa), hồn sẽ xuất khiếu, cũng có thể gọi là giả Niết bàn. Sau khi Niết bàn người ta sẽ tịch tĩnh, mà không dính mắc vào cái vui của Niết bàn. Nhiều người cảm thấy mình có thể Niết bàn rồi, vui sướng vô cùng vì cảm thấy hồn phách mình có thể đi ra, cũng có thể thu về. Thực ra, chỉ cần ở nhân gian giả Niết bàn, có khi hồn phách không về lại thân được, cho nên phải cẩn thận. Ngồi thiền là một việc rất hạnh phúc, khi một người ngồi thiền thì rất yên tĩnh, hồn phách rất thoải mái, nhưng ngồi thiền phải là người có đạo hạnh mới được. Nếu người không có đạo hạnh mà ngồi thiền, hồn phách đi ra rồi không về được, sẽ trở thành bệnh thần kinh.

Chúng ta cần phải không dính mắc vào cái vui của Niết bàn, tức là không cho rằng Niết bàn là rất vui sướng, là lìa cả hai bên (li tà nhị biên). Rời khỏi hai bên: một bên là Niết bàn, một bên là nhân sinh. Ở trong khoảng giữa Niết bàn và nhân sinh, con người không phải thực sự Niết bàn, cũng không phải thực sự sống trong nhân sinh. Chọn lựa ở giữa Niết bàn và nhân sinh chính là Ngộ. Niết bàn là cảnh giới giải thoát hoàn toàn, nhưng ở nhân gian làm sao có thể làm được giải thoát hoàn toàn? Từ ý nghĩa của cõi người trong sáu nẻo luân hồi mà nói, bạn không thoát khỏi nhân quả của nhân gian. Sau khi tu tâm, bạn phải cứu người, phải học Phật pháp Đại thừa, còn phải học Phật pháp Tiểu thừa, còn phải học thêm nhiều đạo lý cứu người, còn phải niệm Kinh, còn phải cứu người trong gia tộc mình, cho nên chỉ có thể ở trong khoảng giữa Niết bàn và nhân sinh mà có sự tu vi. Sư phụ gọi đó là "thường hành trung đạo", thường xuyên đi trên con đường ở giữa, đừng quá lệch, cũng đừng quá nghiêng.

Nếu có một chút thần thông lực thì phải làm sao? Tâm thái phải "bất hỷ", tức là đừng quá vui mừng; "bất cụ", không sợ hãi, vì có người sau khi có thần thông sẽ sợ hãi, sợ nhìn thấy những thứ trong linh giới; "bất chấp", không chấp trước, chấp trước rồi sẽ biến thành người thần kinh ở nhân gian, cả ngày chỉ muốn nhìn những thứ của linh giới; "bất không", trong đầu đừng hoàn toàn trống rỗng (trống rỗng theo kiểu vô tri), nếu hoàn toàn trống rỗng là một người thần kinh, thước đo này rất khó nắm bắt. Để các bạn tu luyện thành Không, lại muốn các bạn không được hoàn toàn Không. "Bất không" nghĩa là khi ý thức của bạn vẫn còn rất tỉnh táo, phải xem tất cả những ý thức này là Không. Cái Không thực sự trong tu vi vẫn là có ý thức. Ví dụ tôi biết việc này, nhưng tôi không nghĩ đến việc này, đó gọi là cái Không có ý thức, là cái Không do con người khắc chế. Còn cái Không ngộ ra được gọi là Chân Không. Sư phụ từng giảng cho mọi người, cái Ngộ chân chính là sự giác ngộ thực sự hiểu chân lý nhân sinh.

Nếu thực sự có chút thần thông lực, cần phải không tham đồ danh lợi, phải có tấm lòng rộng mở. Khi năng lực của một người càng lớn, tâm lượng càng rộng mở, là tỷ lệ thuận. Nếu có năng lực, bắt buộc phải có tâm lượng rộng mở. Nếu trong làm người, tu hành mà không có tâm lượng rộng mở thì bằng như không có năng lực. Tâm lượng này được xây dựng trên nền tảng nào? Là xây dựng trên nền tảng có thể nhìn rõ tốt và xấu, thiện và ác, oan gia, nghiệp nợ đều phân biệt rõ ràng, khi đó mới nhìn rõ chân tướng sự thật, lúc này tâm lượng của bạn tự nhiên sẽ rộng mở.

Nếu có chút thần thông lực mà đi vào tà đạo, sẽ rơi vào cảnh vạn kiếp bất phục. Lợi dụng một chút thần công Phật Bồ Tát ban cho để đi vào tà môn ngoại đạo, thì dù đã chịu qua một vạn kiếp nạn cũng không thể đầu thai lại làm người. Nếu lợi dụng chút hiểu biết trên thân mình, hoặc một chút công năng, một chút thần thông, một chút linh cảm để lừa gạt tiền tài, làm việc xấu, người này sau này sẽ rơi vào cảnh vạn kiếp bất phục.

Ở nhân gian, nhiều người sinh ra đã rất cương cường (cứng đầu). Nếu người này rất cứng rắn, dùng phương pháp gì để đối phó? Mọi người đều biết "lấy nhu khắc cương", tôi lấy nhu để thắng, tức là khi người này vô cùng cứng rắn, phải dùng ngôn ngữ nhu hòa để khắc chế họ, giúp đỡ họ.

Con người hiếu thuật (thích các phương thuật/thủ thuật), nghĩa là con người thường hay thay đổi, hoặc sau khi nghe người khác nói ra nói vào thì trong lòng sinh nghi hoặc. Cần phải kiên trì phương hướng tư duy của mình, đi con đường mình đã nhận định, đôi khi cảm thấy mê hoặc hoặc cũng không quản là đúng hay sai. Nên "lấy thành tâm cảm động", phải dùng thành tâm để tu tâm và làm cảm động người khác, để cảm hóa người, khiến họ cùng bạn đi trên một con đường chính xác.

Học Phật chính là học làm người, đèn quang minh phải thắp trong tâm, không phải treo giữa không trung. Nhiều người thắp đèn quang minh, viết tên mình lên rồi treo giữa không trung. Đèn quang minh phải đặt trong tâm bạn mới có thể chiếu khắp mười phương. Khi năng lượng của một người vô biên mới có thể chiếu khắp mười phương, còn một ngọn đèn treo giữa không trung chỉ có thể chiếu trong tấc vuông, tức là chiếu trên một tấc vuông đất. Đừng thắp ở bên ngoài, đèn thắp bên ngoài là cho người ta xem; đèn thắp trong tâm bạn mới chiếu sáng toàn thế giới, bởi vì trong tâm mỗi người đều có một ngọn tâm đăng. Ngọn đèn này giống như mạng internet, nối liền tâm của mỗi người trên toàn thế giới, đó là Phật tâm. Ngược lại, có những người ngọn đèn trong tâm đã tắt, không được thắp sáng, chính là chưa nghe được Phật pháp, cần phải dùng tu vi của mình để thắp sáng nó.

Phải thành toàn cái "Đại ngã", xả bỏ cái "Tiểu ngã". Nếu việc gì cũng nghĩ đến tiểu ngã trước, bạn lấy đâu ra đại ngã? Tu hành phải xem tiền tài là không, xem danh lợi là vô. Người tu tâm phải xem tiền là không, xem danh lợi như không có.

Hôm nay vì thời gian có hạn, Sư phụ giảng đến đây. Hãy nhớ: Sự tu hành chân chính là xả tận tất cả, đương hạ tự tại (ngay hiện tại được tự tại), quét sạch phiền não, buông bỏ vạn duyên. Các bạn hãy buông bỏ vạn duyên, gắng sức học Phật tu tâm. Thế giới này không có đạo lý để nói, chỉ có Duyên, bởi vì mọi việc đều do nhân duyên (nhân quả) tạo tác.

6. Mượn giả tu chân, chứng kiến Phật tính

+

Chứng kiến Phật tính (Kiến chứng Phật tính), nghĩa là bạn thấy người này đang làm việc thiện, là dùng tâm Phật để làm việc thiện, người đó là Phật, là Bồ Tát. Tôi kiến chứng rồi, tôi chứng minh rồi, bạn là Bồ Tát. Chứng minh Phật tính: nhìn thấy gọi là kiến chứng, sau khi thấy thì chứng minh là đồ thật gọi là kiến chứng. Cảm ngộ Phật tính: dùng chân tâm của mình để ngộ ra Phật tính. Ba cái này cộng lại mới gọi là công đức. Công đức là dùng tâm để làm việc thiện, hành việc thiện, nói lời thiện, những thứ phát ra từ tâm mới gọi là công đức. Làm việc thiện có phúc báo nhân thiên (trời người).

Cầu phúc không thấy công đức, bởi vì khi một người cầu phúc thì nhận được là phúc báo nhân thiên, chứ không nhận được công đức. Công đức có thể tiêu trừ tội nghiệp của bạn, có thể tiêu trừ nghiệp chướng của bạn. Công đức chân chính không những phải nhìn thấy Phật tính, còn phải ứng dụng Phật tính, còn phải cảm ngộ Phật tính, đó mới gọi là "chân thật diệu dụng". Ví dụ hôm nay làm công đức là làm một cách vô sở cầu (không mong cầu), đi giúp đỡ người khác, là thực sự đang giúp họ, thì đã chứng kiến Phật tính của bạn. Không có mục đích mà đi giúp người, cái làm ra đó chính là Phật tính. Việc bạn làm có thể nhìn thấy Phật tính của bạn, thì gọi là công đức. Nếu có mục đích mà đi giúp người, thì không phải là hành vi của Bồ Tát, không phải việc làm của Bồ Tát, không phải lời nói của Bồ Tát, cho nên không có công đức. Chân thật diệu dụng chính là thực sự mang Phật pháp này ra sử dụng một cách vi diệu.

Tại sao không ứng dụng Phật tính thì bằng như bất bình đẳng? Làm bất cứ việc gì nếu không ứng dụng Phật tính để làm, chính là bất bình đẳng. Không ứng dụng Phật tính làm việc thì sẽ có bất bình đẳng sao? Nếu không phải vì cứu độ chúng sinh, mà là vì một nguyên nhân nào đó mới làm, các bạn nói xem đó có phải là bình đẳng không? Ví dụ: vì để sau này bạn có thể làm nhiều việc hơn cho tôi, nên bây giờ tôi mới làm nhiều việc cho bạn, đây có phải là bình đẳng không? Trên lý niệm thì đây là bất bình đẳng, còn ở nhân gian nói ra thì dường như là bình đẳng (có qua có lại), nhưng thực tế đã đi chệch khỏi nguyên tắc "quảng độ chúng sinh hữu duyên" của Phật pháp. Chỉ khi không có mục đích, toàn tâm toàn ý đi giúp người, mới là bình đẳng thực sự. Bất bình đẳng chính là không ứng dụng Phật tính, nhưng bất cứ sự bất bình đẳng nào cũng có một thời hiệu (hiệu lực thời gian). Cái bất bình đẳng này đợi đến một lúc nào đó, sau khi tính thời hiệu của nó qua đi, thì sẽ bình đẳng. Ví dụ, vì việc thiện bạn làm đã hết rồi, nên sẽ bình đẳng. Chẳng hạn đừng tưởng rằng tôi cứu bạn một lần thì bạn phải vĩnh viễn nợ tôi, chịu khí tức của tôi. Đó là đạo lý bất bình đẳng. Đợi người này chịu không nổi rời đi, thì sẽ bình đẳng, đó là tính thời hiệu đã qua. Cho nên chúng ta nên dùng tâm bình đẳng đối đãi chúng sinh, vì vậy nên "dùng tâm bình đẳng nhìn người" (dĩ bình đẳng tâm thị nhân chi).

Phương pháp tu tâm nhanh chóng về Thân Khẩu Ý:

Trước tiên phải biết Thân Khẩu Ý là gì.

Thân nghiệp: Sát sinh, trộm cắp, tà dâm.

Khẩu nghiệp: Nói dối (vọng ngôn), nói lời thêu dệt (ỷ ngữ), nói lời ác (ác khẩu), nói lưỡi hai chiều (lưỡng thiệt).

Ý nghiệp: Tham dục, sân hận (sân khuể), ngu si.

Phương pháp tu tâm nhanh về Thân Khẩu Ý: Trong tâm bạn có một "Tâm pháp", một pháp môn duy tâm dựa vào bản tính của bạn, gọi là "Tâm trung tâm pháp" (pháp trong tâm của tâm). Bởi vì Phật tính của bản thân bạn chính là một pháp môn tốt nhất của bạn, trong tâm bạn đã có tâm pháp này rồi, đào cái tâm Phật lương thiện nhất của mình ra, đó chính là Tâm trung tâm pháp.

Giảng cho các đồ đệ về "Dùng Phật tính ấn phàm tâm": Phải tiếp nhận tâm của Phật Bồ Tát, in tâm Phật Bồ Tát vào trong phàm tâm của mình. Phải thường xuyên lấy Phật tính để soi chiếu (ấn chiếu) phàm tâm của mình. Ngược lại nếu dùng phàm tâm của mình để ấn Phật tâm... Ví dụ, hôm nay nghĩ đến ai đó từng làm hại mình thì rất căm phẫn, phải làm sao? Có thể trút giận lên người khác không? Nếu là Bồ Tát có làm như vậy không? Phải thường dùng phàm tâm đối chiếu với tâm Phật Bồ Tát. Ấn Phật tâm, là dùng tâm phàm nhân đặt cùng với tâm Phật Bồ Tát, nghĩa là bạn làm bất cứ việc gì đều phải hỏi Phật Bồ Tát: con làm như vậy có đúng không? Phật Bồ Tát ở đâu? Phật Bồ Tát ở ngay trong tâm bạn.

Cho nên phải "mượn giả tu chân", dùng thân thể giả tạm để thành toàn Phật tính chân thật của bạn. Có chân Phật tâm rồi, lập tức thân thể cũng thành Phật, bởi vì những việc thân thể giả tạm của bạn làm ra toàn là việc của Phật Bồ Tát làm. Ví dụ, bạn hợp chướng niệm A Di Đà Phật, trong đầu nếu là rỗng rang (thanh tịnh), thân thể giả của bạn đang lạy Phật thật, trong tâm cũng là Phật thật, bạn đang ánh chiếu ông Phật mà mình nhìn thấy, mình cảm nhận được. Cái việc lạy Phật này của bạn chẳng phải là mượn giả tu chân sao? Hiện tại bạn mượn cái miệng này đang niệm kinh, mà nhiều năm sau này, thân thể bạn không còn nữa, cái miệng bạn không còn nữa, thì có phải gọi là mượn giả tu chân không?

Dùng Phật ấn tâm (Dĩ Phật ấn tâm), cần phải có mấy điều kiện:

  1. Tâm lượng lớn, phúc báo lớn. Nếu tâm của bạn tương ứng với tâm Bồ Tát, tâm lượng (khí lượng) của bạn càng lớn, phúc báo của bạn sẽ ngày càng lớn.
  2. Khi niệm Kinh, trì tụng Bồ Tát trụ đảnh: Tức là khi bạn đang niệm Kinh, quán tưởng Quán Thế Âm Bồ Tát đang ngự trên đầu quán đảnh (rót nước cam lồ).
  3. Bồ Tát tâm quảng kết thiện duyên: Bồ Tát kết với chúng sinh đều là thiện duyên. Nếu bạn là Bồ Tát, bạn mang từ bi của Phật Bồ Tát đến cho người ta, kết chính là thiện duyên, cái tâm này của bạn kết ra bên ngoài là có công đức. Nếu bạn là người xấu mang đến cho người ta cái duyên đều là xấu, là ác, thì kết chính là ác duyên.
  4. Lấy mình làm gương, bố thí pháp: Tức là các bạn phải lấy mình làm gương (dĩ thân tác tắc), làm người phải giống như một vị Bồ Tát. Bố thí pháp, có thể giúp các bạn khai trí tuệ, có trí tuệ thì có thể khai ngộ. Bố thí pháp là bố thí vô lượng, là lợi ích chúng sinh, đây chính là tinh hoa của Phật pháp Đại thừa. Phật pháp Đại thừa giảng chính là lợi ích chúng sinh, tuyệt đối không phải lợi ích cho bản thân. Đại thừa Phật pháp lợi tha lợi sinh (lợi người lợi sự sống), khi bạn cứu người, nhất định sẽ phải bỏ công sức (hy sinh), đợi đến khi người ta tốt lên rồi, công đức bạn nhận được là vô lượng. Ví dụ khi bạn lấy tiền giúp đỡ người khác, thực ra bản thân cũng không có bao nhiêu tiền, đợi khi người ta tốt lên rồi, họ cảm kích bạn biết bao, sẽ đền đáp gấp bội, hoặc sẽ cảm kích bạn cả đời.

Muốn khai ngộ, phải hiểu cái tâm chân thật của mình, kiên trì tu trì có thể thấy bản tính của mình. Khi một người kiên trì tu trì bản thân, bản tính của bạn mới hiển lộ ra, tu đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, tức là cảnh giới cao nhất, chính là có được trí tuệ viên dung cao nhất. Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, chính là Phật.

Hôm nay giảng cho mọi người đến đây. Tất cả những người đi theo Sư phụ tu trì đều phải có một trái tim cảnh giác, đều phải thời thời khắc khắc giữ sự cảnh giác của mình, đừng phạm Thân Khẩu Ý ba nghiệp. Tội nghiệp càng nhiều, công đức tổn thất càng nhiều. Nếu hành vi của một người giống Bồ Tát rồi, thì cơ bản là Bồ Tát rồi, đây là nền tảng của mượn giả tu chân.

7. Tính không của Chánh kiến

+

Hôm nay Sư phụ bàn với các bạn về Tính không. Tính là bản tính, Không là không có. Khi một người "tính không", chính là lúc chấp nhận chân lý, sẽ chiến thắng được chân lý (đạt được chân lý). Nếu tính không "không", bị dính bụi trần thế tục, thử nghĩ xem trong cái tâm này có thể chứa được thứ gì? Cho dù nhét thứ mới vào, cũng sẽ bị ô nhiễm và phân giải mất. Phải triệt để "Không", bạn mới có thể bước sang một cảnh giới khác.

Ví dụ: Nước trong bể cá, nếu bạn rút 2/3 nước trong bể ra, để lại 1/3 nước bẩn, sau đó đổ thêm 2/3 nước sạch vào, cũng chỉ có thể làm giảm nồng độ trong nước bẩn ban đầu, chứ không thể hoàn toàn loại bỏ các chất bẩn trong nước cũ, ngược lại còn làm bẩn cả 2/3 nước sạch kia. Giống như trong tâm bạn có nhiều thứ không tốt, không phải tự mình có thể loại bỏ hoàn toàn được, hơn nữa trong lúc loại bỏ, lại trộn lẫn những thứ tốt mới học được với những thứ không tốt còn sót lại với nhau. Đồng thời trong tâm sẽ hình thành hai loại cảnh giới, hai loại tư duy, có khi là "đồng lõa làm bậy", có khi là hai tư tưởng đấu tranh trong tư duy. Ví dụ trong lòng bạn toàn những thứ dơ bẩn không tốt, khi có tư tưởng tốt đi vào, bạn sẽ khởi tâm nghi ngờ, khiến những tư duy thiện lương tốt đẹp này không thể lưu lại trong tâm bạn.

Hy vọng mọi người coi trọng vấn đề Tính không, bởi vì sau khi Tính không thì bản tính là thiện lương. Khi bản tính của bạn Không, sẽ không tồn tại những thứ dơ bẩn không tốt, không có thứ xấu tồn tại, đó chính là bạn khôi phục lại chân lý, chính là bản tính nguyên thủy nhất.

Trong Tính không bao gồm 12 nhân duyên (Thập nhị nhân duyên). Mười hai nhân duyên trong Tính không của bạn bắt buộc phải loại bỏ, bắt buộc phải khắc phục, bạn mới có thể đạt đến Tính không, điều này rất không dễ dàng. Con người sau khi khai ngộ, nên hiểu rằng chính kiến thực sự của 12 nhân duyên chính là Tính không. Có thể hiểu triệt để rồi, thì Tính không rồi. Ví dụ bạn nhìn thấy đồ tốt, một lúc sau thì qua đi; chuyện vui vẻ cũng một lúc là qua đi... Tất cả những cái đó đều là ngắn ngủi, đều là bình phong cản trở các bạn tu hành. Phải loại bỏ toàn bộ những tấm bình phong này, và nhận thức rằng chúng là ngắn ngủi, từ đó ngộ ra đạo lý chân chính của nhân sinh.

Tính không bằng với Chính kiến, tức là kiến giải đúng đắn. Từ sự vật lĩnh hội ra cái chân thực nhất, chính là Tính không. Ví dụ bảo bạn hải sản này ngon thế nào, mà bạn không cảm thấy, bởi vì bạn lĩnh ngộ được thứ này dù có ngon đến đâu, ăn vào một lát cũng hết, biến thành một loại vật chất khác. Khi bạn lĩnh ngộ được bản chất của nó, sẽ không tán thưởng nó, sẽ không chấp trước đi theo đuổi nó. Vấn đề của con người là chỉ nhìn thấy bề mặt, mà không thấy bản chất. Sư phụ dạy các bạn nhìn sự vật, nhìn vấn đề, phải học cách nhìn bản chất, phải nhìn thấy cái chân thực nhất, cũng như những kiến giải đúng đắn do nó sinh ra. Ví dụ, đưa cho bạn ăn tôm hùm, bạn biết mình không thể ăn: thứ nhất, tôm hùm sẽ vì tôi mà chết; thứ hai, ăn con tôm hùm này vào tôi sẽ tạo nghiệp v.v... Khi bạn nảy sinh những suy nghĩ đúng đắn này, bạn sẽ không ăn nó nữa. Cho nên ở thế gian đối với bất cứ việc gì, nếu bạn có thể nghĩ ra lý do đúng đắn để ngăn cản tư duy của mình nảy sinh sự theo đuổi chấp trước vào nó, bạn chính là có Phật tính.

12 Nhân duyên ở nhân gian, chính là: 1) Vô minh; 2) Hành; 3) Thức; 4) Danh sắc; 5) Lục nhập; 6) Xúc; 7) Thọ; 8) Ái; 9) Thủ; 10) Hữu; 11) Sinh; 12) Lão tử. (Cụ thể lĩnh ngộ sự huyền diệu trong đó, Sư phụ sẽ phân tích kỹ cho các đồ đệ sau này).

Nhân sinh các dị (Đời người mỗi khác), tức là sinh mệnh con người đều không giống nhau, môi trường sống mỗi người, hoàn cảnh mỗi người, những việc mỗi người trải qua đều không giống nhau, cho nên gọi là nhân sinh các dị. Xoay đi chuyển lại đều nằm trong 12 nhân duyên, mà 12 nhân duyên đều không thuộc về Chính kiến. Giống như ngửi thấy mùi thơm, sinh ra một loại khoái cảm, qua một lúc thì hết, cái đó không phải là Chính, cái Chính là vĩnh viễn tồn tại. Chỉ có Tính không mới được coi là Chính kiến. Chỉ khi Tính không rồi, bản tính của bạn hoàn toàn không rồi, mới là Chính kiến, cũng đồng nghĩa với "Thời Chính Không" (Không gian và thời gian chân chính là Không). Cái Không không có khái niệm thời gian là Chính Không. Bất cứ thứ gì trên thế giới khi không có thời không, bạn mới không mang thiên kiến. Có Chính kiến, mới có thể nhìn thoáng mọi sự trên thế giới, mới có thể nảy sinh quan điểm đúng đắn về tất cả sự vật trên thế giới. Có Chính kiến, nhìn thoáng mọi sự trên thế giới, và đạt được Tính không, hơn nữa có thể dùng Tính không này ở nhân gian để khế hợp chân lý, thì mới "ngộ Chính kiến" ở nhân gian. Bởi vì bản tính con người là Không, nên có thể khế hợp chân lý.

Thế nào là khế hợp chân lý? Ví dụ nhân loại cùng yêu chuộng hòa bình, bởi vì bản tính con người là khế hợp chân lý của thế giới này, tức là ai cũng có một trái tim chân thành, không thích làm việc xấu, làm bất cứ việc gì cũng phải phù hợp chân lý, đó gọi là Chính kiến. Nếu bản thân việc tốt việc xấu đều không phân rõ, rõ ràng là làm việc xấu, còn tìm lý do nói: tôi hôm nay là bất đắc dĩ, là để trừng phạt nó tôi mới làm việc xấu này, thì đó không phải là Chính kiến. Chính kiến chính là Tính không, Tính không chính là Chính kiến, Tính không chính là chân lý, có chân lý mới có thể không bị ô nhiễm giữa chúng sinh muôn loài.

Khi một người không bị ô nhiễm, chính là "bất tăng cũng bất giảm"; cũng "vô tịnh", tức không tồn tại cái gì sạch hay không sạch, không quan trọng sạch hay không, bởi vì sạch nghĩa là không có cáu bẩn, không có thứ gì có thể ảnh hưởng đến cơ thể bạn. Cũng "vô sinh", bởi vì sinh mệnh của bạn đã chứng đến bản tính rồi, thì không có sinh nữa, tức là "vô sinh diệc vô tử" (không sinh cũng không chết); "diệc vô lão tử cố" (cũng không có già chết vậy), vì Tính không rồi nên không có già chết; "diệc vô lão tử tận" (cũng không có hết già chết), bởi vì bạn không có sinh, cũng không có chết, không tồn tại già rồi chết rồi, không có sinh lão bệnh tử, cho nên cũng "vô diệt". "Vô Khổ Tập Diệt Đạo", nghĩa là người này bản thân không có diệt độ, bạn không có Khổ, nên bạn ngay cả cái chết cũng không có, bạn nói xem còn nhân duyên gì nữa? 12 nhân duyên tự nhiên cũng bị phá, phiền não cũng không còn. Sau khi 12 nhân duyên bị phá, thì bất sinh bất diệt, bất tăng bất giảm, bất cấu bất tịnh. Tâm Kinh giảng chính là Tính không. Nếu có thể làm được Tính không, sức mạnh sinh ra là vô cùng vô tận. Nếu các đồ đệ muốn nghe, Sư phụ có thể thường xuyên dùng văn bạch thoại (lời đời thường) giảng một số kinh văn cho mọi người, để khai mở trí tuệ cho các đồ đệ.

Các bạn phải nhớ: Phải nhìn thấu tất cả phiền não và tất cả sinh mệnh trên thế giới, những cái đó đều là biểu tướng của cuộc sống, là một loại hình tượng bề mặt, là thứ không có tính thực chất.

8. Tìm kiếm Tính không – Vượt qua 12 Nhân duyên

+

Bất cứ ai đối với sự vật đều có sự theo đuổi và cách nhìn mang tính hai mặt. Cùng một sự vật có thể nói nó rất tốt, cũng có thể nói ra rất nhiều điều không tốt, chủ yếu là xem tâm bạn lệch về bên nào. Ví dụ, người già có tốt không? Tốt! Người già kinh nghiệm phong phú, người già biết quan tâm thanh niên v.v... Ngược lại mà nói, người già có gì không tốt? Đi không nổi, xương cốt đau nhức, đầu óc lão hóa, việc gì cũng không rõ ràng v.v... Cùng một sự việc có thể nghĩ ra mặt tốt của nó, cũng có thể nghĩ ra mặt không tốt và xấu của nó. Phật pháp chính là dạy chúng ta chuyển đổi toàn bộ tư tưởng xấu thành tư tưởng tốt. Học Phật chính là chuyển đổi tư duy để khuyên giải người khác, an ủi người khác, giúp đỡ người khác, giải quyết khó khăn, cái đó gọi là Chánh tư duy. Có thể xem mọi người đều là tốt, bởi vì tư duy của bạn là Chánh, xem người khác đều là Chánh, bạn liền khai ngộ. Bạn xem người ta là xấu, chính là chưa khai ngộ. Người khai ngộ nhìn ai cũng là người tốt, không có khái niệm tốt xấu, thực ra đó là một cái Ngộ tính. Khi Ngộ tính này trong tư duy con người nảy sinh ra Chánh tư duy, thì chính là khai ngộ.

Sau khi khai ngộ, sẽ dẫn đến một thứ gọi là chứng lượng. Nghĩa là sau khi một người khai ngộ, hiểu rõ đạo lý, chứng thực được nhiều việc, năng lượng của người đó sẽ phát ra. Hiểu đạo lý rồi, cái gì cũng không sợ nữa; không hiểu đạo lý thì cái gì cũng sợ. Giống như nhiều người trước khi học Phật, bảo họ sinh mệnh ngắn ngủi sẽ chết, họ sẽ rất sợ chết. Đợi đến khi tin vào Quán Thế Âm Bồ Tát rồi, họ cái gì cũng không sợ, ngay cả cái chết cũng không sợ, bởi vì họ biết con người sẽ không chết (về linh hồn), hơn nữa sẽ nảy sinh một niềm tin: Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ không để tôi chết, nhất định sẽ cứu độ chúng tôi. Lúc này tư duy sẽ sinh ra một khối năng lượng thể rất mạnh, đó gọi là chứng lượng. Người sở hữu chứng lượng là người giác ngộ, người giác ngộ còn gọi là Giác giả. Giác giả chính là trong ý thức hệ cuộc sống và ý thức tư duy của bạn đã sinh ra một khối ánh sáng, chỉ sau khi khai ngộ mới có khối ánh sáng này. Sau khi khai ngộ chính là Giác giả, Giác giả là người giác ngộ, người thông minh và người có trí tuệ. Biết người sống cần phải suy nghĩ cho người khác, vấn đề của bản thân bạn sẽ dễ giải quyết. Còn kẻ ngu ngốc thì chỉ biết nghĩ đến lợi ích của mình, kết quả hại người chính là hại mình. Thường ngôn nói: Hại nhân tất hại kỷ. Trong đầu tạp niệm tư duy càng ít, trên thân mới càng sạch sẽ, nhìn sự vật mới rõ ràng, nhìn mới minh bạch. Trong đầu tạp niệm tư duy nhiều, nhìn sự vật gì cũng không minh bạch, không rõ ràng, cho nên không có ánh sáng trí tuệ của bản thân. Chỉ khi không còn tạp niệm, có được khối ánh sáng đó rồi, mới có thể dùng khối ánh sáng đó để hóa giải và soi rọi phương hướng tiến lên của bạn, khiến phương hướng của bạn ngày càng rõ ràng. Khối ánh sáng này gọi là Thần quang, cũng gọi là ánh sáng trí tuệ (Trí tuệ chi quang), ánh sáng trí tuệ lại bằng với ánh sáng ngộ tính.

Một người từ nhỏ sinh ra, gọi là Vô minh. Vô minh là cái gì cũng không biết, cái gì cũng không hiểu, mãi cho đến khi già chết, cuối cùng cái gì cũng không có và không biết rồi ra đi, nhân sinh đến vội vàng đi vội vàng. Trong một đời này trải qua 12 tầng bậc tuần hoàn, tức là có 12 cửa ải, 12 cửa ải này không ngừng tuần hoàn trong sinh mệnh của bạn. 12 tuần hoàn này nói trên phương diện tâm lý và sinh lý:

  1. Vô minh: Con người phải khắc phục vô minh. Vô minh là không minh bạch, không hiểu, cái gì cũng không minh bạch. Một người minh bạch rồi sẽ không làm sai việc, một người không minh bạch mới làm sai việc. Vô minh dẫn đến một quan điểm khác, là người này tuy vô minh nhưng tự cho là "hữu minh" (có sáng suốt), tức là tự cho mình cái gì cũng hiểu rồi.
  2. Sắc: Sắc chính là vật thể có màu sắc chúng ta nhìn thấy ở nhân gian, linh thể có màu sắc. Không hoàn toàn chỉ nam nữ chi sắc (sắc dục).
  3. Thanh: Tức là âm thanh. Tiếng hay muốn nghe, tiếng dở không muốn nghe, thích nghe lời hay... tất cả đều là nghe tiếng. Lời hay hoặc âm thanh truyền vào tai bạn sẽ làm bạn động lòng, đây gọi là tinh thần chuyển hóa thành vật chất. Bởi vì lời nói ra gọi là tinh thần, thứ vật chất là thứ đã biến thành hành vi rồi. Biến thành hành vi mới gọi là vật chất. Ví dụ lời hay nghe vào thì không nhìn thấy không sờ được, nghe xong trong lòng bạn dấy lên một sự cộng hưởng, tự cảm thấy rất vui hoặc cảm thấy không vui, sẽ phản ánh lên mặt bạn, biến thành vật chất.
  4. Hương: Hương ở nhân gian có rất nhiều loại... Bạn muốn tránh được 12 tuần hoàn này, bắt buộc phải khắc chế bản thân không chịu sự cám dỗ của các loại mùi vị. Ví dụ ngửi thấy mùi thơm, phải không cảm giác. Nhìn thấy vật có màu sắc, phải không thị giác. Khắc chế là tìm được căn cứ thực sự của Tính không nơi bạn.
  5. Vị: Mùi vị. Từ trong ý thức của bạn, có thể dùng tinh thần để nếm mùi vị. Thường ngôn nói: Nhân sinh khổ vị (mùi vị khổ của đời người), mùi vị đời người khổ a, chính là dùng ý thức và tâm để thể nghiệm.
  6. Xúc pháp: Chính là sờ thấy được, cảm xúc được. Phải biết tất cả vật chất ở nhân gian làm cho bạn có một khoảnh khắc cảm ứng, cảm thụ, cảm tưởng, nhưng đó đều là tạm thời, không phải dài lâu, những thứ này đều là tuần hoàn của 12 nhân duyên.
  7. Thọ: Là cảm thụ, cảm giác. Chịu khổ (thọ khổ) chính là cái cảm giác chịu đựng đó.
  8. Tưởng: Là nhận thức và phân biệt, là muôn vàn ý niệm tốt xấu trong lòng bạn.
  9. Hành: Là hành vi do thân tạo tác từ sự thể hiện của tâm.
  10. Thức: Là ý thức phân biệt các loại cảnh giới, ý thức này sẽ gieo nhân quả trong bát thức điền (tàng thức) của bạn.
  11. Ái: Đời người chính là xoay quanh chữ Ái (yêu). Cái yêu này không chỉ riêng tình yêu nam nữ, bao gồm tình thân, tình bạn, tình thầy trò... là đủ loại tình yêu lớn (đại ái). Con người cả đời không rời khỏi chữ Ái, đến cuối cùng khi chết vẫn là cái Ái này. Người sống bắt đầu từ Ái, đến khi Ái diệt vong, sinh mệnh ngắn ngủi ngay cả Ái cũng biến thành Không thành Giả.
  12. Biệt ly: Người yêu thương rời bỏ bạn, tiền thích dùng dùng hết rồi, công việc tốt mất rồi... tất cả đều là ly biệt. Mỗi một cuộc ly biệt đều là đau khổ, cảm thấy rất buồn.

Trong 12 tuần hoàn này có Lục căn, cũng có Lục xúc (Lục trần). Lục căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Lục xúc (đối tượng xúc chạm): Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Con người trong 12 tuần hoàn này không ngừng chịu khổ, chịu nạn, mãi cho đến già chết.

12 tầng bậc tuần hoàn Sư phụ giảng cho các bạn, nó sẽ tạo thành gánh nặng tâm lý cho các bạn, cho nên muốn Tính không rất khó. Chỉ khi loại bỏ toàn bộ những nhân duyên này, bản tính của bạn mới có thể Không. Lần sau sẽ lại bàn với các đồ đệ về Lục căn Lục xúc. Hợp thập.

9. Quy trình tu hành Diệu Pháp

+

Mọi người phải nhớ khi hoằng dương Phật pháp, phải xem mình là Phật tử chân chính, đây là một loại niềm tin đối với Phật pháp. Nếu khi hoằng dương Phật pháp mà không xem mình là Phật tử, bạn không thể hoằng dương Phật pháp, sẽ làm không tốt. Từ trong tâm làm được đệ tử của Phật rồi, còn phải ấn chứng Phật pháp. Thế nào là ấn chứng? Ấn chứng nghĩa là tôi tin tưởng, tôi cảm nhận, tôi thực hành, đó gọi là ấn chứng.

Ấn chứng Phật pháp rất quan trọng, khi bạn ấn chứng Phật pháp rồi, sẽ nảy sinh Không tánh, khai ngộ. Sau khi khai ngộ chính là Kiến tánh, nhìn thấy bản tính của mình. Khai ngộ chân chính là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, là thứ chân thực nhất. Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nghĩa là không có bất cứ lý do nào có thể nghi ngờ nó, nói nó không tốt, không có cách nào nghĩ ra bất cứ lý do gì để nói việc này là sai. Ở nhân gian không có thứ gì so sánh được gọi là Vô thượng, ý nghĩa của Vô thượng là không còn gì hơn nữa, đến đỉnh rồi, cũng tức là điều chúng ta gọi là Tuyệt diệu. Diệu, có thể nói là một cảnh giới chí cao vô thượng. Thích Ca Mâu Ni Phật dưới cây Bồ Đề đã ấn chứng Diệu pháp, ngộ ra đạo lý, đây là một cảnh giới chí cao vô thượng. Chánh đẳng Chánh giác là khi con người đạt đến một cảnh giới, sẽ có sự giác ngộ này, giống như trong cuộc sống hiện thực bạn đột nhiên hiểu ra một đạo lý vậy. Chánh đẳng Chánh giác là Bồ Tát, Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác là Phật.

Hôm nay giảng đơn giản cho mọi người quy trình cơ bản của việc tu học Phật pháp.

Thứ nhất, là Khai ngộ, phải hiểu đạo lý, phải ngộ ra đạo lý, bắt đầu tu hành, tu đến Minh tâm (sáng tâm) rồi gọi là Khởi tu.

Thứ hai, Minh tâm Kiến tánh, tu đến mức nhìn thấy Phật tánh của mình, chính là minh tâm kiến tính. Đây là những quy trình cơ bản của tu học Phật pháp.

Sư phụ bây giờ giảng dạy các bạn về quy trình cơ bản của tu hành, quy trình này là quy trình bạn đi đến con đường học Phật thành công.

  1. Tư lương đạo: Tức là bạn phải có đủ tư lương. Tư là vốn liếng, tư cách. Hai chữ Tư lương này là hành vi và công đức bạn tu từ kiếp trước, bạn cần phải có sự tích lũy, tích trữ này mới có thể làm được nhiều việc. Sự tích lũy và tích trữ này, cũng chính là bản tính của bạn, lương tâm của bạn. Nếu một người kiếp trước không tu tốt, kiếp này đầu thai làm người chăn trâu trong núi, người này kiếp này sẽ mất đi cơ hội tu hành, họ rất khó gặp được pháp môn Tịnh Độ (Pháp Môn Tâm Linh), rất khó gặp được Phật Bồ Tát, sẽ không biết làm sao để tu tâm, tu hành cho tốt, đây gọi là Tư lương đạo. Đạo chính là con đường tu tâm, tu hành này.
  2. Gia hành đạo: Thế nào là Gia hành? Gia hành này không phải là cộng thêm vào cho bạn, mà là tất cả hành vi bạn làm. Dưới tiền đề có Tư lương đó, bạn bắt đầu tu hành, cộng thêm sự tu vi thiện cử hiện tại của bạn, bạn bắt đầu tiến bộ, tiến về phía trước, tức là có tư lương nhất định làm nền tảng, mới có thể khởi động sự vận hành tu hành của bạn.
  3. Kiến đạo: Trong quá trình bạn dần dần học Phật, nhìn thấy những thứ chân thực. Như nhìn thấy Quán Thế Âm Bồ Tát, nhìn thấy tất cả những gì bạn đạt được sau khi tu hành hiện tại, tất cả cảm ngôn của bạn, trong lòng bạn hiểu rõ đạo lý, thấy được sự từ bi của Quán Thế Âm Bồ Tát đối với bạn. Đây gọi là Kiến đạo.
  4. Khai ngộ đạo (Tu đạo): Khai ngộ đạo là sau khi bạn nhìn thấy, bạn mới hiểu, ngộ tính bắt buộc phải xây dựng trên cái thấy và nghe (kiến văn), nếu mắt bạn không nhìn thấy, bạn sẽ không hiểu. Khai ngộ là sau khi trải qua Kiến đạo, ngộ ra đạo lý, biết đây là chân lý, đây là Đạo thật, bất luận thế nào tôi cũng phải kiên trì tu hành. Người có thể kiên trì tu hành là người đã khai ngộ.
  5. Chứng đạo: Chứng đạo rất quan trọng, chứng đạo chính là ấn chứng cái Đạo này, tức là sau khi bạn khai ngộ, bắt đầu tu đạo, hiểu rồi, chứng thực cái Đạo này là tuyệt đối đúng đắn, là con đường duy nhất tôi có thể đi, chỉ cần kiên trì đi tiếp, nhất định có thể thành công. Giống như các bạn bây giờ, chứng minh con đường này là con đường tôi nên học, là con đường của Bồ Tát, là con đường thích hợp nhất với tôi, mới có thể toàn tâm toàn ý tinh tấn tu hành. Đây chính là quy trình tu hành.

Khai ngộ chính là chuyển Lục căn "Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý" của bạn thành Phật tánh. Chính là chuyển vào trong Phật tánh của bạn, Phật pháp gọi là "Nhiếp trọn sáu căn" (Đô nhiếp lục căn). Ví dụ, khi mũi ngửi thấy thứ không tốt, phải dùng Phật tánh để ngửi hoa thơm. Khi mắt nhìn thấy thứ không tốt, phải dùng Phật tánh để nhìn, nhìn Phật pháp, nhìn tượng Quán Thế Âm Bồ Tát... Khi tai nghe thấy âm thanh không tốt, nhắc nhở mình đừng nghe, đi nghe Phật âm... chính là dốc sức nghĩ vào cái Tánh của bạn, tức là nghĩ vào Bản tánh.

Khai ngộ rồi có luân hồi không? Có luân hồi. Tại sao? Bởi vì khi bạn khai ngộ, chẳng qua chỉ là hiểu những đạo lý này, nhưng vẫn chưa Hành, đương nhiên sẽ luân hồi rồi. Lục căn "Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý" của bạn trong quá khứ đã tạo nghiệp, lẽ nào không bắt bạn đi luân hồi sao? Bạn tuy hiểu đạo lý rồi, nhưng bạn chưa sửa đổi, vẫn chưa đi tu sửa hành vi của mình, chỉ cần làm việc ác nhất định là phải luân hồi. Đừng tưởng rằng mình hiểu rồi, khai ngộ rồi là được, vẫn phải luân hồi trong sáu nẻo, bởi vì bạn chỉ là Khai ngộ, chứ không phải thực sự Chứng ngộ. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của bạn ở trong tâm bạn, trên thân bạn, nghiệp chướng đã tạo ra chính là một con người bằng xương bằng thịt của bạn, mà bạn vẫn tồn tại trong không gian vũ trụ này, tuy bạn khai ngộ rồi, hiểu rất nhiều đạo lý không nên tạo thập ác nghiệp, nhưng bạn đã tạo nghiệp rồi, những nghiệp chướng này sẽ bao vây bạn, nhân quả theo bạn, chỉ cần còn con người bạn, bạn nhất định phải lục đạo luân hồi.

Không muốn đọa vào lục đạo luân hồi thì hãy niệm Kinh nhiều, làm công đức nhiều, tiêu trừ toàn bộ nghiệp chướng trên thân mình, thanh trừ toàn bộ tham sân si của bản thân, phải học cách mọi việc đều tùy duyên.

10. Tiêu trừ nghiệp chướng, phản bản quy nguyên, thoát ly luân hồi

+

Tiếp theo giảng cho các bạn làm sao để hóa giải nghiệp chướng? Con người vì quá khứ lục căn này tạo nghiệp làm mê hoặc các giác quan cơ thể, bạn nhất định sẽ luân hồi. Sư phụ nói là nghiệp chướng đã đi vào trong ý thức của bạn. Ví dụ, chỉ cần bạn từng làm một số việc xấu, thông thường đều nhớ, sẽ không quên. Người ta hại bạn, bạn sẽ không quên, vậy bạn hại người ta, bạn cũng sẽ không quên, tức là đều đã đi vào trong ý thức của bạn, bởi vì trong tiềm thức của bạn, nghiệp bạn tạo trong quá khứ khiến bạn bắt buộc phải luân hồi. Chỉ có một loại "Căn tính" không chịu luân hồi, đó chính là Phật tính của bạn, Phật tính của bạn là không chịu luân hồi. Nếu bạn không muốn luân hồi, thì bạn phải làm cho những thứ khó giải thoát trên Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý của mình từ từ tách khỏi ý thức của bạn, loại bỏ nó đi. Bất kể ở nhân gian xảy ra chuyện gì, coi như không nhìn thấy, đừng nghe, miệng không nói, thân không làm, trong ý thức căn bản không có chuyện gì xảy ra, đây chính là đang thoát ly đau khổ.

Nói thì dễ, làm sao thoát ly? Sư phụ trước tiên lấy cho các bạn một ví dụ: Phật tánh của bạn ví dụ như là Vàng, là vàng được đào lên, vàng này khi đào lên xung quanh đều có đá cát tạp chất, bạn muốn cho vàng này phát sáng, thì bắt buộc trước tiên phải dùng nước rửa trôi các tạp chất bên cạnh, xử lý sạch sẽ. Tương tự bạn phải dùng nước rửa trôi những việc không tốt đã làm giống như đãi vàng, xử lý sạch sẽ, cái bản tánh, Phật tánh này của bạn sẽ hiển lộ ra.

Sư phụ dạy các bạn trong cuộc sống, phải lợi dụng Phật tánh vốn có của bạn để đi hóa giải. Như niệm Kinh, niệm Ngôi Nhà Nhỏ. Khi niệm Kinh có phải là đang dùng tâm Phật niệm không? Thứ niệm ra có phải là vàng không? Ngôi Nhà Nhỏ sau khi hóa (đốt) đi, có phải đã tiêu trừ nghiệp chướng của bạn không? Bản tính của bạn có phải ngày càng sạch sẽ không? Bắt buộc phải rửa sạch bụi trần trong lòng, loại bỏ đi, mới có thể thoát ly lục đạo luân hồi. Thoát ly thế nào? Sau này không tạo nghiệp nữa, những gì quá khứ đã làm, dùng phương pháp Sư phụ dạy các bạn để tu bổ tâm linh của các bạn, tức là niệm kinh sám hối. Tâm linh của các bạn nếu tu bổ tốt rồi, tâm sẽ rất sạch sẽ, rất thuần khiết, chính là Tánh không. Nếu bạn Tánh không rồi, đến đâu cũng là Không, thử nghĩ xem, Sắc giới thiên, Vô sắc giới thiên chẳng phải đều có thể đi sao? Bây giờ trên người bạn nhiều bụi trần, cáu bẩn như vậy, vàng này của bạn là không tinh khiết, cho nên nhất định phải rửa sạch tâm linh của chính mình.

Thế nào là buông bỏ? Thế nào là không buông bỏ được? Buông bỏ có mấy điểm, một là trong lòng buông bỏ, một là buông bỏ trên hành vi. Cái tâm này có thể buông bỏ hay không, phụ thuộc vào rất nhiều loại yếu tố mới có thể khiến tâm bạn buông bỏ. Lại nói không buông bỏ được, ví dụ, bạn lo lắng cho con cái, tâm không buông xuống được, trong lòng luôn nghĩ con cái hôm nay đi học có tốt không? Có xảy ra chuyện gì không? v.v... Thử nghĩ xem có bao nhiêu yếu tố khiến bạn không buông bỏ được? Không phải một câu "buông bỏ" là có thể làm được thực sự buông bỏ. Có thể buông bỏ hay không phải dựa vào tự bạn đi Ngộ, nếu bạn cái gì cũng không học không hiểu, có thể ngộ ra được không? Chỉ có hiểu đạo lý rồi mới có thể ngộ a. Nếu bạn ngay cả niệm Kinh cơ bản nhất, học Phật cũng không biết, làm sao ngộ đây? Phải hiểu Kinh gì là để bạn tu kiếp này, Kinh gì là để bạn khai ngộ, điểm này rất quan trọng, ngàn vạn lần đừng mê loạn niệm sai Kinh.

Ấn chứng Phật tánh, thực ra là thoát khỏi kiếp nạn trong Tánh không. Hãy nhớ Tánh không chính là tinh thần của bạn là Không, cái Không này là cái Không siêu thoát, là cái Không siêu thoát nhân loại, tức là trong đầu bạn đã không nghĩ việc gì nữa, cái Không không có vướng bận. Nhưng tại sao trong Tánh không lại có kiếp nạn? Bất cứ suy nghĩ, ý niệm, lo lắng, sợ hãi li ti nào nảy sinh khi đầu óc chưa hoàn toàn Không, đều là bạn đang tạo ra kiếp nạn trong Tánh không, cũng chính là vết đốm trong quá trình tu Phật của bạn. Ví dụ, một tấm kính rất sạch, cái sạch này là Tánh không, bạn chấm mực lên đó, chấm một điểm là nghĩ lung tung, chấm một điểm là khẩu nghiệp, chấm một điểm là vướng bận, lại chấm một điểm là cầu bất đắc khổ... Các bạn nói xem bây giờ tấm kính này có bẩn hay không? Mỗi một điểm này chính là kiếp nạn của tấm kính này, cũng có nghĩa là mỗi một điểm chính là kiếp nạn của Tánh không này, có thể hiểu không?

Khai ngộ chứng đạo rồi thì không chịu ảnh hưởng của luân hồi. Nếu bạn lau sạch tấm kính này, bạn sẽ không luân hồi nữa. Lau sạch thế nào? Sư phụ bây giờ đã truyền dạy pháp môn tốt như thế này cho các bạn, để các bạn biết cách lau sạch, loại bỏ nghiệp chướng của con người, ngay cả chúng sinh hữu duyên trên mạng cũng đều biết cách làm thế nào. Điều này chứng tỏ Phật pháp chân chính đã bắt đầu giáng lâm xuống thế gian chúng ta rồi. Nhiều pháp môn trong quá khứ đã sớm giáng lâm nhân thế, nhưng pháp môn quá khứ là tu hành dựa theo Thiên-Địa-Nhân tức thiên thời, địa lý, nhân hòa thời bấy giờ. Còn hiện nay Thiên-Địa-Nhân đều đang thay đổi, tốc độ cứu người hiện nay e rằng không thể quá chậm, cũng không thể hoàn toàn dùng một số cách tu của quá khứ, giống như bị bệnh nặng, trước kia đều dùng Đông y từ từ điều lý trị bệnh, còn bây giờ là trực tiếp phẫu thuật. Nói cho các bạn biết những thứ thực sự tốt đến thời khắc mấu chốt mới xuất hiện. Ví dụ, máy vi tính tốt như thế, tại sao không phát minh ra từ thời cổ đại? Nếu thời cổ đại đã có máy vi tính, điện thoại, di động..., thì đỡ biết bao nhiêu việc, Ngũ giáo Thánh nhân cũng không cần phụng mệnh trời đến thế gian, ngàn cay vạn đắng, tùy người tùy đất mà thiết lập giáo pháp, giáo hóa chúng sinh một phương. Từ một góc độ khác mà nói, các tông phái tuy tên gọi khác nhau, mà lý niệm đều giống nhau.

Phải nhớ kỹ, ngộ đạo chính là phải thay đổi quá khứ của bạn, nếu không đưa vào trong hành động thực tế, thì sẽ tạo nghiệp trong mê mang, nói sai lời, làm sai việc trong mơ hồ, phạm tội trong cái tâm và hành vi bất bình đẳng v.v..., bạn nhất định sẽ luân hồi trong sáu nẻo, không thoát khỏi khổ hải.

Cho nên phải: "Nhân Giới thủ bản, Nhân Nhân thi pháp, Nhân Tâm quy tĩnh, Nhân Không nhi hành, Nhân Duyên nhi sinh, Nhân Chính xả thiên, Nhân Ngộ đắc trí, Nhân Quả đắc ngộ, Nhân Ý thu niệm, Nhân Tịnh đắc không"

“Nương giới làm gốc, Nương duyên hành pháp, Nương tâm quy tĩnh, Nương Không hành động, Nương duyên sinh khởi, Nương chính bỏ tà, Nương ngộ sinh trí, Nương quả mà tỉnh, Nương ý nhiếp niệm, Nương tịnh ngộ Không”

– Đây là "Thập Nhân Pháp" Sư phụ tổng kết, hy vọng các đồ đệ khai ngộ.

Lý giải tham khảo:

10 câu này là một lộ trình tu tập tóm tắt: Bắt đầu từ việc Giữ Giới -> Tùy duyên độ người -> Làm cho tâm tĩnh -> Hành động vô ngã -> Hiểu lý duyên khởi -> Giữ gìn chính kiến -> Khai ngộ trí tuệ -> Thấu triệt nhân quả -> Kiểm soát ý niệm -> Cuối cùng đạt đến sự Thanh tịnh và Giải thoát (Không).

11. Bàn về niềm vui siêu nhiên – Pháp hỷ

+

Hôm nay giảng cho mọi người về "Phú nhuận ốc, đức nhuận thân" (Giàu có làm đẹp ngôi nhà, đức hạnh làm đẹp tấm thân). "Phú nhuận ốc" nghĩa là có tiền chỉ có thể khiến vẻ bề ngoài ngôi nhà của bạn lộng lẫy nguy nga, chứ không thể khiến thân thể bạn khỏe mạnh. Người có đức năng mới có thể có được thân tâm khỏe mạnh, đó gọi là "đức nhuận thân". Cho nên chúng ta phải tìm đức, chứ không phải tìm phú.

Con người chúng ta ở trên thế gian ví như hai con thuyền trên biển, hai con thuyền này cứ chạy loạn lên như ruồi mất đầu, một chiếc tên là Danh, chiếc kia tên là Lợi. Con người cũng giống như hai con thuyền này, va đập lung tung trên biển, không có mục tiêu, mê man băng qua bể khổ nhân sinh, đều chỉ vì hai chữ danh lợi. Chim vì ăn mà chết, người vì tiền mà vong, cứ tưởng thế là đúng đắn, là chính xác, kỳ thực đó là quan niệm hoàn toàn sai lầm. Sư phụ nói với các bạn, thế gian có hai loại tình, một là tình vì danh, hai là tình vì lợi. Danh lợi nằm trong tình lý, mà cũng nằm ngoài tình lý. Bạn có thể vì danh, có thể vì lợi, điều này nằm trong tình lý (lẽ thường); còn nằm ngoài tình lý, chính là khi cảnh giới của bạn thăng hoa rồi, bạn sẽ xem danh lợi như phân thổ. Khi cảnh giới của bạn nâng cao, danh cũng vô dụng, lợi cũng vô dụng, mà tâm linh của bạn mới là giàu có nhất.

Sư phụ bây giờ giảng cho mọi người, thế nào là Pháp hỷ? Pháp hỷ có quan hệ với cả Thân và Tâm. Trước hết nói về tinh thần, chính là tâm bắt buộc phải đi vào một số cảnh giới, chứ không phải niềm vui thông thường. Niềm vui thông thường ví dụ như kể một câu chuyện cười, mọi người cười một cái rồi thôi, chỉ là tạm thời, không phải phát ra từ nội tâm. Pháp hỷ chân chính là phải đả thông khí mạch. Khi một người kể một câu chuyện cười cao thượng, khí trường sẽ đi lên phía trên. Đả thông khí mạch thực sự là đả thông khí mạch trong não. Từ ngực trở lên là thượng mạch, từ ngực trở xuống là hạ mạch. Sư phụ từng giảng cho các bạn, một người khi qua đời, nếu đầu lạnh sau cùng là lên trời, ngực lạnh sau cùng là đầu thai làm người, phần thân dưới lạnh sau cùng là đầu thai làm súc sinh, bàn chân lạnh sau cùng là xuống địa ngục. Từ trên cơ thể người có thể phân biệt rất rõ ràng. Sư phụ dạy các bạn là phải đả thông thượng mạch, pháp hỷ đến từ thượng mạch, đến từ cảnh giới. Khi một người có cảnh giới, lời nói ra mới gọi là pháp hỷ. Ví dụ, một người bỗng nhiên chạy đến bảo bạn: "Bệnh của con tôi khỏi rồi, cảm tạ Quán Thế Âm Bồ Tát", đó là niềm vui phát ra từ nội tâm, đó gọi là pháp hỷ. Người học Phật mới có pháp hỷ, người không học Phật không có pháp hỷ, không có pháp hỷ thì không thể sung mãn (tràn đầy). Nếu không có một cảnh giới đúng đắn, có thể đả thông kinh lạc hướng lên trên, thì đó không gọi là pháp hỷ.

Pháp hỷ có khí tức, còn có hô hấp, hơi thở của pháp hỷ rất chậm rãi. Khi một người tràn đầy pháp hỷ nói chuyện, lời nói rất có triết lý, hơi thở quân bình, khí tức rất thuận. Một khi bạn đả thông khí mạch, cái theo sau đó gọi là Pháp lạc và Pháp vị. Pháp hỷ bằng với Pháp lạc, bằng với Pháp vị. Vị chính là hồi vị (dư vị), cứ nghĩ đến là vui, niềm vui này lan tỏa mênh mang trong lòng. Khi một người pháp hỷ sung mãn, cách tốt nhất là để nó vận chuyển, sau khi vận hành thì pháp hỷ mới có thể tràn đầy.

Sư phụ phân tích rộng cái pháp hỷ này cho các bạn: khi luồng hỷ khí này thông qua kinh lạc toàn thân bạn, sẽ sinh ra một loại cảm giác, cảm giác này khiến bạn cảm thấy vui vẻ, cảm thụ này là cảm thụ khoái lạc (vui sướng), cái vui sướng này gọi là Pháp lạc. Pháp lạc chính là pháp hỷ, vừa có một chút hoan hỷ, lại có một chút khoái lạc. Pháp lạc là một niềm vui vô hình, niềm vui vô hình là niềm vui không nhìn thấy không sờ được. Ví dụ ngày mai là kỳ nghỉ, bạn sẽ có một niềm vui vô hình, trong lòng cảm thấy cao hứng vì được nghỉ ngơi rồi, tuy bạn không cứ mãi để cái kỳ nghỉ này trong tâm, nhưng chính cái niềm vui vô hình này khiến bạn khi nói chuyện với người khác trong lòng cảm thấy vui vẻ. Niềm vui vô hình này tồn tại vô hình trong tâm bạn, đó chính là niềm vui mang tính nội hàm, nội tại, vô hình. Niềm vui này làm đầy toàn thân bạn, mở ra kinh lạc của bạn, khiến bạn cảm thấy một sự hoan du (vui thú) vô cùng chưa từng có, đây là một niềm vui không cách nào hình dung và so sánh được, bởi vì đây là niềm vui tràn đầy trí tuệ.

Cảm giác khi ăn vào miệng gọi là vị cảm (cảm giác về mùi vị); cái mắt nhìn thấy gọi là quan cảm, những cái này đều gọi là Pháp lạc. Ăn chay sẽ ăn rất vui vẻ, bởi vì tôi không sát sinh, những thứ ăn vào đều là đồ tự nhiên, cho nên sẽ sinh ra một loại pháp lạc. Mắt tôi nhìn ra đều là người tốt, tôi không xem văn hóa phẩm đồi trụy v.v... con mắt này là con mắt rất Chính, gọi là quan cảm, cũng là một loại của pháp lạc. Mắt nhìn ra đều là những thứ chính (ngay thẳng), thì trong đầu bạn sẽ có những thứ chính; thường xuyên nhìn những thứ không tốt, trong đầu bạn sẽ có những thứ không tốt (tà niệm). Sư phụ dùng văn bạch thoại (lời đời thường) giảng giải Phật pháp cho các bạn, giảng đi vào trong tâm các bạn, sau đó phân tích thấu đáo cho các bạn, để các bạn hiểu thế nào là pháp hỷ, đợi khi các bạn hiểu rồi, lập tức sẽ pháp hỷ sung mãn.

Khi khí mạch thông, sẽ sinh ra một niềm vui bền bỉ, mênh mang, nhưng không được chấp trước vào niềm vui này. Một người sau khi vui vẻ, dù là pháp hỷ cũng không được chấp trước, chấp trước sẽ mê vào đó, sẽ xảy ra sai lệch. Ví dụ khi một người nói: Tôi là người từng học Phật, tôi quá khứ thế này thế kia... người này chính là chấp trước. Chấp trước vào chút ít những gì mình đã học, dùng nó để làm đầy toàn bộ linh hồn và thể xác mình, thì làm sao tiếp nhận được sự vật mới khác? Nếu một người chấp trước rồi, phương hướng sẽ bị lệch, bởi vì chấp trước vào niềm vui này, mà niềm vui này là ảo cảm sinh ra sau khi có "tiểu định" (cái định nhỏ). Khi một người có tiểu định, là người đó bỗng nhiên dường như tỉnh ngộ ra. Ví dụ: À thì ra mình niệm kinh có thể tìm được công việc tốt, vậy mình niệm "Chuẩn Đề Thần Chú" đi cào xổ số chắc cũng thắng. Đây chính là sau khi tiểu định thì phương hướng bị lệch, chấp trước trồi lên, phương hướng và mục đích đều không chính, các bạn nói xem có trúng xổ số không? Cảm giác ảo giác này là không chân thực, thoáng qua sẽ hết, không thể vĩnh hằng, không thể lâu dài. Thái độ không thể duy trì lâu dài này, trong Thiền tông gọi là Sơ thiền. Sơ thiền là trong Thiền tông sau khi ngồi thiền vừa mới có chút ảo giác, ví dụ có thể nhìn thấy Bồ Tát hoặc nhìn thấy một số thứ của linh giới.

Niệm Phật có bốn phương pháp:

  1. Trì danh: Khi niệm Phật trước tiên phải trì danh. Trước khi niệm Kinh, nhất định phải nói: "Xin Nam mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát phù hộ cho con [việc gì đó]...".
  2. Quán tượng: Nhìn vào tượng Quán Thế Âm Bồ Tát để niệm Kinh, trong lòng sẽ thuần khiết.
  3. Quán tưởng: Trong đầu quán tưởng Quán Thế Âm Bồ Tát, nhưng quán tưởng rất khó, người mới học Phật niệm Kinh, nếu sơ ý một chút rất dễ bị tẩu hỏa nhập ma.
  4. Thực tướng: Chính là cái nhìn thấy thực thực tại tại. Tức là thực thực tại tại, tôi không nghĩ bất cứ thứ gì, nhìn thấy cái gì là cái đó, không nghĩ tưởng cái gì vào đầu cả. Ý nghĩa của Thực tướng là tự nhiên, là thứ không để tâm chấp vào, đừng dùng tâm để suy nghĩ một cách chấp trước rằng "tôi phải nhìn thấy Quán Thế Âm Bồ Tát". Thực tướng tu tâm, niệm kinh đến cuối cùng cũng sẽ nhìn thấy Bồ Tát, Bồ Tát sẽ đến trước mắt bạn, không phải là bạn muốn hay không muốn nhìn thấy, mà là bạn không muốn nhìn thấy cũng có thể nhìn thấy.

"Thực tướng diệu lý": Thực tướng có một đạo lý vô cùng huyền diệu, nghĩa là bất cứ thứ gì bạn nhìn thấy, chỉ cần trong lòng bạn nghĩ nó giống cái gì, nó sẽ biến thành cái đó, là biến hiện tùy theo tâm của bạn, đây gọi là Diệu tướng. Sau đó chuyển hóa thành Diệu lý, gọi là Thực tướng diệu lý. Sư phụ thường giảng cho các bạn "Dâng tâm hương" (hiến tâm hương), dâng tâm hương chính là thực tướng diệu lý. Hướng lên không trung nghĩ đến Phật Bồ Tát mình thờ, rồi bái lạy, trên không trung sẽ xuất hiện vị Phật Bồ Tát mà nhà bạn thờ lạy, cái hình dung ra đó chính là Diệu tướng. "Thân chứng thực tướng", là chính mắt bạn chứng thực cái tướng thực thực tại tại này, gọi là thân chứng thực tướng.

Cuối cùng Sư phụ nhắc nhở mọi người: Vọng ngữ là căn bản của tất cả ác nghiệp. Khi một người bắt đầu làm việc xấu, là bắt đầu nói dối. Vọng ngữ là gốc rễ để bạn phạm tội tạo nghiệp, khi một người tạo nghiệp làm việc xấu, việc đầu tiên làm chính là vọng ngữ (nói dối).

Vậy làm sao để loại bỏ tạp niệm? Một trong những phương pháp loại bỏ tạp niệm là "vi bế mục" (khép nhẹ mắt) để hóa giải. Giống như trước khi ngủ say, cái gì cũng không nhớ, đầu óc trống rỗng, tạp niệm mới có thể loại bỏ, nhưng thời gian không được lâu, cho nên dùng phương pháp khép nhẹ mắt, niệm kinh để hóa giải tạp niệm.

12. Từ Lục Căn, Lục Trần bàn về sự nâng cao cảnh giới

+

Hôm nay giảng cho mọi người về "Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý" (Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý) và "Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp", tức là "Lục căn" và "Lục trần" trong Phật pháp. Mọi người đều biết trong Tâm Kinh có những câu này. Chúng ta ngày ngày niệm Kinh, chúng ta hễ còn ở nhân gian thì cái miệng của chúng ta nhất định sẽ bị ô nhiễm, như nói lưỡi hai chiều, lời ngon tiếng ngọt (hoa ngôn xảo ngữ), đâm bị thóc chọc bị gạo (khiêu bát ly gián), nói xấu người khác v.v... Tai bạn nghe chuyện xấu của người ta, nghe những thứ không tốt, bạn nói xem có bị ô nhiễm không? Mắt nhìn những thứ không nên nhìn, có phải là ô nhiễm không? Đầu óc nghĩ những thứ không nên nghĩ, có phải là ô nhiễm không? Mũi ngửi những thứ không nên ngửi, cũng chịu ô nhiễm, thơm thối không phân biệt. Nhiều người ăn tỏi tự cho là rất thơm, ngửi thấy mùi này thì rất vui, những người này chính là thơm thối không phân biệt ở nhân gian. Thử nghĩ xem người ăn tỏi, hành tây, khi nói chuyện mùi từ miệng bay ra có hôi không? Dùng miệng niệm Kinh chẳng phải là một trường khí sao.

Ở thế gian, chuyện trong đầu con người nghĩ sẽ bị ô nhiễm, mắt cũng bị ô nhiễm, tai cũng bị ô nhiễm, miệng cũng bị ô nhiễm, ý niệm sẽ bị ô nhiễm, cái gì cũng sẽ bị ô nhiễm, bạn có trốn được không? Nếu Đài trưởng bây giờ muốn cứu độ chúng sinh, mà sợ bị ô nhiễm, thì có thể trốn một mình trên núi tự tu không? Đài trưởng có phải nhất định phải đến phàm trần, nhất định phải đến cái gọi là thế giới mộng ảo, thế giới hoa lệ (hoa hoa thế giới) này để cứu độ chúng sinh không? Khi cứu người, phải giúp mọi người sửa đổi tất cả những ý niệm không tốt này, nếu không giúp mọi người sửa đổi sự ô nhiễm của thân tâm, thì Đài trưởng không phải là người tu hành tốt.

Phải kích phát Phật tính của bản thân, sau đó lục căn của bạn mới không bị ô nhiễm. Bởi vì Phật tính của bạn tu ra rồi, bạn sẽ biết mắt này không nên nhìn thì không nhìn, tai không nên nghe thì không nghe, miệng không nên nói thì không nói, đầu không nên nghĩ thì không nghĩ. Tức là bạn biết cái gì là tốt, cái gì là xấu, cái gì nên nhìn nên làm, cái gì không nên nhìn không nên làm. Nếu những cái này đều không rõ ràng, thì đừng nói đi cứu người, bạn ngay cả tự độ còn không làm được, làm sao có thể độ người?

Nếu trốn trên núi tự tu, các bạn biết đó gọi là gì không? Sư phụ gọi đó là pháp môn "Tự ngã giải thoát". Thế nào là tự ngã giải thoát? Là mặc kệ người khác, tự mình lên núi tu cho tốt chính mình, chỉ cần mình có thể giải thoát, chuyện người ta không liên quan đến mình. Như vậy có được không? Người học Phật nên đi vào thế giới hiện thực này để cứu độ chúng sinh, còn ở trong chùa, ở trên núi có chúng sinh nào cho bạn độ? Đó chẳng phải là tu tự ngã giải thoát sao? Đó chính là một loại của Tiểu thừa Phật pháp.

Nếu bạn có thể đến thế giới phồn hoa này để chấp nhận thử thách, đó là vì cảnh giới của bạn đã nâng cao. Nếu cảnh giới không nâng cao, chỉ biết tu tốt chính mình, không biết làm sao giúp đỡ người khác, người này có phải là Bồ Tát không? Có phải là tu Bồ Tát đạo không? Phải nhớ học Phật tu tâm là sự nâng cao cảnh giới, nếu cảnh giới của người này không đạt đến trình độ nhất định, người đó tu không tốt đâu, đừng nói là tu tâm, ngay cả làm người cũng làm không tốt. Nếu không có cảnh giới nhất định, chúng sinh mà bạn cứu độ, chúng sinh đó chỉ có thể là chính bản thân bạn. Bạn chỉ có thể cứu chính mình, hơn nữa cứu đến một vị trí nhất định thì không lên được nữa, mọi người có hiểu không?

Cho nên tu hành trên núi, nhìn bề ngoài thì tâm linh bạn không bị ô nhiễm, "Lục căn" nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý của bạn không bị ô nhiễm, nhưng cảnh giới của bạn, nếu không đạt đến vị trí nhất định, bạn vĩnh viễn chỉ nhìn thấy những thứ nông cạn. Ví dụ, một người đứng trên mái nhà tu hành, mắt anh ta có thể nhìn thấy đồng ruộng, nhưng nếu phía trước có núi, có nhà cao tầng, mắt anh ta làm sao vượt qua được? Bạn ở cảnh giới này tu tốt đến đâu, cũng chỉ nhìn thấy những thứ hữu hạn đó, đợi sau khi bạn qua đời, cũng chỉ có thể đến tầng trời ở độ cao đó, có thể là Dục giới thiên, không thể đến tầng trời cao hơn. Khi cảnh giới của bạn vượt qua mái nhà, đứng trên đỉnh núi tu, bạn không chỉ nhìn thấy mái nhà, mà còn nhìn thấy đỉnh của tất cả các ngọn núi. Thử nghĩ xem lúc đó bạn là cảnh giới gì?

Sư phụ lấy ví dụ là để các bạn hiểu đạo lý trong đó. Nếu trong tâm không chịu ô nhiễm, sẽ cảm nhận được con người có một căn cơ tốt. Mỗi người tu tâm đều có một căn cơ, hôm nay bạn học Phật, ngày mai người kia học Phật, đều dựa vào một cái căn cơ. Ví dụ căn cơ này là thân thể của bạn, nếu thân thể không tốt (căn cơ nông), bạn có leo lên đỉnh núi cao được không? Chỉ có người thân thể tốt, tức là người căn cơ tốt, mới có thể leo lên đỉnh núi, mới có thể càng tu càng cao.

Sư phụ nói với các bạn, tu hành ở nhân gian là tu pháp môn Bồ Tát. Tu hành trên núi gọi là pháp môn Giải thoát. Bởi vì trên núi là cầu cho mình giải thoát ra, tôi không muốn phiền não, tôi không muốn thế này thế kia. Nhưng tu ở nhân gian thì khác, tu ở nhân gian, trước hết phải tự tu, tu cho mình thật tốt, sau đó mới có thể cứu độ người khác. Tu ở nhân gian, bạn không những phải tu bản thân, còn phải cứu độ chúng sinh, đây chính là Bồ Tát, pháp môn của Bồ Tát là cứu độ chúng sinh.

Nếu tu ở nhân gian nhất định phải nhớ, là có thử thách, Bồ Tát sẽ cho bạn một thử thách. Thử thách bạn, là để lục căn của bạn tiếp xúc lục trần mà không bị ô nhiễm, nếu bị ô nhiễm, bạn sẽ không đạt được cảnh giới của Bồ Tát. Một người phải thông qua thử thách mới có thể cứu độ chúng sinh, nếu ngay cả các loại khốn khổ thử thách của đời người còn không thông qua được, bạn làm sao có thể cứu độ chúng sinh? Ví dụ, người này đi khuyên người ta ăn chay, nhưng miệng mình lại ăn mặn, thế thì làm sao khuyên người ta ăn chay? Đây gọi là cảnh giới, đây gọi là thử thách. Nếu bạn khuyên người ta tu tâm, trước hết miệng mình không được nói hươu nói vượn, bạn mới có tư cách khuyên người khác. Thường ngôn nói "Sức mạnh của tấm gương là vô cùng tận", bạn mới có tư cách cứu độ chúng sinh. Nếu ngay cả tư cách cứu độ chúng sinh bạn cũng không có, bạn làm sao dùng thân Bồ Tát để cứu người?

Các bạn biết nhiều vị lão hòa thượng công lực thực sự cao, ngài có thể đến nơi phồn hoa để tu tâm, nơi càng ồn ào ngài vẫn có thể ngồi thiền tu tâm như thường, ngài sẽ không chịu ảnh hưởng của ngoại trần, đây gọi là Cao tăng, cảnh giới cao, tu vi cao, công lực cao. Công lực dựa vào công đức của bạn, người công đức càng lớn thì công lực càng lớn, người không có công đức thì không có công lực. Sư phụ từng giảng cho các bạn công đức từ đâu mà đến? Là từ nội tâm, từ tâm linh mà đến. Khi tâm của bạn đã qua điều chỉnh, tâm của bạn đã qua gột rửa, bạn mới có sức chịu đựng này, mới có thể kiên trì con đường tu tâm tu Phật của mình, mới không sống vô tri như động vật. Sự tu dưỡng, công đức của một người đến một mức độ nhất định, chuyện gì cũng có thể chịu được, chuyện gì cũng có thể khắc chế được, chuyện gì cũng có thể nghĩ thông, đây chính là sự nâng cao cảnh giới.

Khổng Lão Phu Tử từng nói một câu: "Khắc kỷ phục lễ". Nhiều người đều cho rằng khắc kỷ phục lễ là khôi phục cái Lễ của Chu Công, đây là cách hiểu sai lầm. Hồi đó phê phán "Khắc kỷ phục lễ" là cắt câu lấy nghĩa, nói cái "Lễ" này là khôi phục Lễ của Chu Công. Kỳ thực Khổng Phu Tử nói là khôi phục bản tính của con người, chữ "Lễ" này chỉ cái từ tâm phát ra, không phải là một loại lễ tiết, mà là tâm thái của bạn, là muốn mọi người khắc phục thói xấu của mình, để khôi phục bản tính của mình.

Nói cho các bạn biết, những bậc thánh nhân này đều là Bồ Tát chuyển thế, chỉ là cách gọi khác nhau mà thôi. Năm xưa những thánh nhân này đến nhân gian cứu người, vất vả biết bao, chu du liệt quốc khắp nơi, đến từng nước để du thuyết, chẳng phải giống như Bồ Tát đi khắp nơi cứu độ chúng sinh sao? Những vị đại pháp sư chạy khắp thế giới, Sư phụ hiện nay có phải cũng đang "chạy" khắp thế giới không? Chẳng qua tôi chạy không thấy mệt, là lợi dụng phát thanh tiên tiến hiện đại, mạng máy tính để "chạy" khắp thế giới, các bạn nói xem có giống nhau không? Hãy nhớ các bậc cổ thánh nhân đều là Bồ Tát hạ phàm cứu độ chúng sinh, cho nên chúng ta phải học tập tinh thần của họ. Một người phải học cách khắc chế, nếu một người không biết khắc chế, làm sao khôi phục bản tính của mình? Về mặt Phật pháp chữ "Khắc" này chính là một chữ "Giới", chỉ có trì giới mới có thể học Phật pháp. Nếu thế giới này mọi người không làm theo luân thường đạo lý, các bạn thử nghĩ xem, thế giới này sẽ trở thành một thế giới như thế nào? Hiện nay khôi phục lễ nghi, khôi phục đạo Khổng Mạnh, chính là khôi phục bản tính con người, nhưng cách Phật pháp vẫn còn rất xa.

13. Nghiệp chướng quấn thân, giải thoát buông xả

+

Người Trung Quốc nói Hiếu, nói Lễ; Bồ Tát nói Lễ nghi. Bồ Tát dạy chúng sinh chúng ta tôn trọng bậc trưởng bối, thấy người lớn tuổi hơn mình phải coi như cha mẹ mình. Nho gia cũng nói về hiếu kính, có điểm nào không liên quan đến Phật giáo đâu? Đó là lý do tại sao Phật giáo ở Trung Quốc được truyền thừa nhanh như vậy, và trở thành một tôn giáo chính của Trung Quốc chúng ta.

Tu tâm tu hành chính là một loại của chữ Hiếu, cho nên mọi người nhất định phải tu tâm tu hành cho tốt, phải kiểm tra kỹ bản thân mình, có phải đang tạo nghiệp không? Bây giờ có một số người miệng nói tu, nhưng thực tế không tu cho tốt, mỗi ngày đều tạo nghiệp. Nếu không tu cho tốt, lại có Tham Sân Si thì nhất định sẽ luân hồi trong lục đạo. Nếu một người tham danh, tham tài, tham sắc, nhất định sẽ luân hồi trong sáu nẻo. Sư phụ nói với các bạn, trong thế giới hiện tại này, người vì tham sân si mà phải lục đạo luân hồi chiếm gần 80%. Đó là lý do tại sao một số người mơ những giấc mơ rất đáng sợ, tuy trong hiện thực không đáng sợ như thế, nhưng ác mộng ngày nào cũng gặp vì thời gian người đó ở dưới địa phủ rất dài, và đã chịu âm tội ở địa phủ, cho nên khi ở nhân gian chịu khổ nạn âm gian sẽ cảm thấy rất dài, nhưng khi hưởng phúc hoặc vui vẻ thì cảm thấy rất ngắn.

Chúng ta ở trong thế giới mộng ảo khổ hải vô biên vô tế này, nghiệp chướng của chúng ta giống như cá mập vậy, cùng ở trong biển khổ với chúng ta, mà con cá mập này cứ bám chặt đuôi chúng ta mà cắn, đó chính là nghiệp chướng. Là nghiệp chướng quá khứ đang cắn chặt chúng ta, đuổi theo không buông. Bạn liều mạng bơi, vẫn bị nó đuổi kịp, khó khăn lắm mới có một con thuyền Phổ độ, có Bồ Tát đến cứu các bạn rồi, khi bạn vừa mới leo lên thuyền, cũng là khi bạn vừa mới học Phật. Có biết tại sao khi học Phật, trên người lại cảm thấy đau không? Tại sao có thứ đến phá bạn không? Bởi vì khi bạn vừa leo lên thuyền, con cá mập này sẽ cắn chân bạn không buông, muốn kéo bạn xuống nước. Nghiệp chướng tội ác của bạn chính là như vậy, không cho bạn chạy, đuổi theo bạn. Nhiều người leo được một nửa bị cá mập kéo một cái, lại rơi tòm xuống biển khổ. Cho nên các bạn thử nghĩ xem nghiệp chướng của một người nặng nề như vậy, bản thân căn bản không thể khống chế, cho dù đã lên thuyền rồi đều sẽ bị nghiệp chướng của bạn kéo xuống, hiểu chưa?

Người tu hành không được có tham niệm, sân niệm và các loại dục vọng. Người tu hành chính là người học Phật, người học Phật chính là người sùng bái Quán Thế Âm Bồ Tát, là đệ tử Phật, hoặc bản thân chính là Bồ Tát. Nếu bạn còn ngu si, còn tham niệm, còn sân niệm, thì chứng tỏ bạn căn bản chưa tu tâm. Sư phụ nói ngược lại cho các bạn nghe, các bạn có thể hỏi: "Thế nào gọi là người không tu tâm?". Người không tu tâm là người không sửa đổi Tham Sân Si trên người mình. Thế nào là ngu si? Ngay cả Phật pháp cũng không tin, chính là ngu si. Người ngu si rất khó cứu, rất khó độ hóa họ, tục gọi là "vô duyên". Nếu một người không tu tâm chính là ngu si, ngu si là không có trí tuệ, người không có trí tuệ thì sống giống như động vật bình thường vậy.

Nếu không làm nhạt bớt danh lợi của bản thân, không làm nhạt bớt dục vọng của bản thân, thì không tu tâm tốt được. Đừng tưởng dục vọng chỉ là chuyện nam nữ, dục vọng là toàn diện, như thực dục (ham ăn), tài dục (ham tiền)... đều là dục vọng. Có người coi tiền quan trọng hơn mạng sống. Sư phụ ở đây giảng cho các bạn là "đạm bạc danh lợi", thế nào là đạm bạc? Là xem danh lợi gì cũng nhạt một chút, mỏng một chút. Ngoài ra phải tu tâm cầu giải thoát, giải thoát chính là buông xả, buông bỏ tư tưởng danh lợi, bạn mới có thể giải thoát. Nếu người không thể giải thoát chính là không buông bỏ được.

Giải thoát nói thì dễ, giống như một sợi xích trói bạn, bạn phải dựa vào sức mạnh của chính mình để giải thoát. Ví dụ trong Tây Du Ký, Tôn Ngộ Không bị yêu ma trói lại, lúc đó để giải thoát, ông ấy biến một cái, biến thành nhỏ xíu, thế là xiềng xích tuột hết ra. Từ đạo lý này giảng cho các bạn nghe: xiềng xích trói người này lại, nó có một phạm vi và phạm trù. Ví dụ hôm nay tôi muốn làm bạn tức giận, tôi biết việc gì sẽ làm bạn tức giận, sợi dây này chính là xiềng xích. Nếu bạn tự thu nhỏ mình lại, xem mình nhỏ bé một chút, không để tâm việc đó, bạn sẽ giải thoát khỏi sợi xích này, đây chính là trí tuệ.

Ví dụ, có người bảo bạn: "Biết chưa? Chồng bà ở bên ngoài làm chuyện xấu". Khi nghe việc này bạn nên giải thoát thế nào? Trước hết xem mình nhỏ bé một chút, tôi có gì ghê gớm đâu, tôi rất nhỏ bé, có lẽ vì tôi không tốt mới gây ra như vậy. Nếu chồng thực sự làm chuyện xấu, tôi sẽ đi khuyên anh ấy, nói đạo lý cho anh ấy, để anh ấy hiểu nhân quả. Cố gắng xem mình nhỏ bé một chút, tự thu nhỏ mình lại, nghĩ xem quá khứ mình cũng từng làm sai, thôi thì tha thứ cho anh ấy đi. Bạn càng thu nhỏ mình, sợi xích này càng lỏng ra, tuột ra, bạn liền giải thoát. Nếu bạn đi tức giận, cảm thấy không thể nhẫn nhịn được nữa, sẽ nổi giận, càng nổi giận sợi xích này trói bạn càng chặt. Hiểu chưa?

Hãy nhớ khi thấy người ta không tốt, hãy cố gắng nghĩ nhiều về mình, mới có thể tu thành chính quả, mới có thể kiến tính. Tức là khi bạn thông suốt về mặt tinh thần, bạn chính là giải thoát, chứng ngộ Phật tính, bạn mới được coi là tu thành chính quả, mới có thể nhìn thấy bản tính, lương tâm của chính mình.

Tiếp theo giảng cho mọi người về việc Cúng đèn dầu. Cúng đèn dầu rất quan trọng, mọi người biết trên trời có một ngọn núi Tu Di, nếu thắp sáng một ngọn đèn dầu, sẽ giống như một ngọn núi Tu Di trên trời vậy. Đó là lý do tại sao trên cây hương (nhang) tàn tro cuộn lại rất ít, mà đèn dầu mỗi ngày đều có thể kết hoa sen. Trong nhà thờ Bồ Tát, nếu không cúng đèn dầu là không được, vì đèn dầu cao lớn như núi Tu Di, dầu trong đèn nhiều như nước trong biển lớn, cho nên việc châm dầu đèn là vô cùng quan trọng. Phải thường xuyên châm thêm dầu, tốt nhất mỗi ngày thêm một chút dầu, thường thêm dầu sẽ tăng trí tuệ, mắt cũng sẽ tốt. Nhiều người không biết thêm dầu. Tôi giảng cho các bạn một đạo lý nhân sinh, ví như hai người cùng uống trà, bạn chốc chốc lại châm thêm chút nước cho người ta, chốc chốc lại thêm chút trà, các bạn nói xem người ta có vui không? Người ta có phải rất cảm ơn bạn không? Đèn dầu cũng vậy, thường xuyên thêm dầu cho Phật Bồ Tát, tâm lượng của bạn sẽ rộng lớn như biển khơi. Nếu có bất kỳ tạp niệm nào đều cần phải cúng đèn dầu nhiều, thêm dầu nhiều. Lần sau Sư phụ sẽ nói tiếp cho mọi người.

14. Sinh mệnh là sản phẩm của vọng tưởng, quản thúc Tín căn, Niệm căn để thay đổi nó

+

Giảng cho mọi người về Lý niệm. Thế nào là Lý niệm? Lý niệm là ý niệm bạn nghĩ ra trên nền tảng lý luận. Nếu đơn thuần chỉ có một ý niệm, như tôi muốn làm gì đó, đó gọi là khởi niệm (ý nghĩ), mà không có nền tảng lý luận. Ví dụ, bụng đói, tôi muốn đi ăn, đó là không có một loại lý niệm. Thế nào là lý niệm? Cũng là bụng đói, người có lý niệm sẽ nghĩ: Hôm nay tôi ăn cơm lúc mấy giờ? Bây giờ đến giờ rồi tôi nên ăn cơm. Ý niệm hình thành sau khi tư duy gia công mới gọi là lý niệm.

Học Phật, nhất định phải kiên định lý niệm và niềm tin học Phật. Bởi vì bạn tin tưởng pháp môn này của Sư phụ, bạn mới thoát khỏi những tạp niệm không tốt của mình. Bạn chỉ cần có niềm tin học Phật này, bạn mới có thể giải thoát, bạn mới có thể đi về con đường thành Phật. Nếu một người không thể giải thoát những thứ phàm trần, người đó không thể thành Phật. Học Phật phải kiên trì lý niệm của mình: hôm nay tôi học Phật rồi, thì phải học cho tốt, bất kể thế nào tôi cũng phải kiên trì học tiếp, bất kể người ta nói gì tôi không nghe, tôi cứ một lòng một dạ tu cho tốt, có lý niệm như vậy mới có thể tu thành công.

Khi nghiệp lực đến, phải nhớ kỹ mục đích tu tâm. Mình tu tâm là vì cái gì? Là để khai ngộ, để hiểu bản tính lương tâm chân chính của mình. Nếu bạn quên mất mục đích tu tâm của mình, bạn bằng như lại bị kéo trở về. Tu rồi mà lại không tu nữa, là điển hình của ngu si. Phải kiên trì niệm lực của mình, niệm lực là sức mạnh của niềm tin, chỉ cần tin tưởng sẽ có sức mạnh.

Phải quản thúc Tín căn và Niệm căn của mình. Tín căn là căn nguyên của sự tin tưởng. Căn bản của ý niệm gọi là Niệm căn. Không quản được niềm tin của mình, sẽ đánh mất phương hướng, tất cả của mình đều sẽ bị người khác dắt đi, chứ không còn thuộc về mình nữa. Tại sao tình cảm của một số người bị người ta khống chế? Chính vì quá ngu si. Phải nhớ quản thúc Tín căn và Niệm căn của mình, đặc biệt là cái gốc của ý niệm nhất định phải quản cho chặt. Gốc của ý niệm giống như trong cuộc sống tôi nghĩ không thông, tôi buồn quá... cái gốc ý niệm này nhất định phải quản thúc, phải vận dụng Tinh tấn lực để tu. Tinh tấn lực là rất nỗ lực làm một việc, không chịu bất cứ trở ngại nào mà làm một việc, như vậy sẽ sinh ra một loại sức mạnh, đây cũng là sức mạnh siêu nhiên vốn có sẵn trong tâm. Quản được ý niệm là quản được niệm căn của con người. Niệm căn vừa Chính, cộng thêm niệm Kinh, một cảnh giới siêu hiện thực sẽ sinh ra trong ý niệm của bạn, ý niệm đó chính là Phật niệm.

Nhân nhỏ quả lớn, chớ thấy việc ác nhỏ mà làm, chớ thấy việc thiện nhỏ mà không làm. Tức là đừng tưởng làm một chút việc xấu, tạo cái nhân rất nhỏ thì không coi trọng nó, phải biết quả báo là rất lớn, và theo thời gian trôi qua, nhân ác sẽ biến lớn thành nghiệt chướng. Giống như trong cuộc sống chúng ta cãi nhau, hai bên không chịu giao tiếp, thấu hiểu, hận thù sẽ ngày càng sâu, đó chính là hễ có ác nhất định sẽ gieo nhân, hễ có thiện nhất định sẽ kết quả. Đừng tưởng làm việc tốt này rất đơn giản, rất nhỏ, nhưng chỉ cần bạn làm, sẽ gieo xuống một thiện nhân, trong Bát thức điền của bạn sẽ có một cái quả thiện.

Bố thí chân chính là buông bỏ toàn bộ phiền não, lo âu, tâm phân biệt, chấp trước. Tại sao đây lại gọi là bố thí? Bởi vì bạn buông bỏ phiền não, sẽ lợi mình lợi người. Ví dụ, hôm nay bạn không vui, mặt mũi đầy u sầu, phiền não, người khác nhìn thấy chẳng phải cũng làm người ta không vui sao? Đó chính là tăng thêm u sầu và phiền não cho người khác, vì người khác phải "hưởng thụ" nỗi u sầu và phiền não của bạn. Ngược lại, bạn vui vẻ, không lo âu, đón tiếp bằng nụ cười, làm người khác vui vẻ, đó chẳng phải là một loại bố thí sao?

Nếu bạn không để thị phi trong lòng, thì bất cứ lúc nào cũng là thời gian tốt đẹp của bạn. Nếu trong cuộc sống bạn không có đúng và sai, lúc nào bạn cũng sống rất vui vẻ. Ví dụ người ta rõ ràng làm sai, mà bạn tha thứ cho họ, bạn sẽ sống rất vui vẻ. Con người sống trên đời đừng cố tình đi tạo ra thị phi, đừng có đúng sai. Sai lầm là kết quả của mọi sự biến hóa ở nhân gian, phải nhìn thấu mọi sự biến hóa của thế gian, phải nhìn xuyên qua nó, phải nhìn thấy kết quả. Ví dụ, nếu bạn biết ăn bát đồ ăn này vào sẽ đem lại kết quả không tốt cho bạn, bạn sẽ không ăn, sẽ không có quái ngại (vướng bận). Quái ngại là vì bạn không nhìn rõ bản chất sự vật, cho nên mới có quái ngại.

Người quân tử là trách mình trước khi trách người (tiên trách kỷ hậu trách nhân). Nếu bạn là quân tử, muốn nói người khác, hãy lên án mình trước, bản thân tôi đã làm đúng chưa? Cho nên người chịu cúi đầu thì vĩnh viễn sẽ không đụng trúng khung cửa, vĩnh viễn không có con đường nào không qua được. Nghĩa là chúng ta làm người chính là phải học cách buông bỏ, cúi đầu, phải thường nói "Xin lỗi, tôi sai rồi". Phải biết buông bỏ bản thân, đừng xem mình cao như thế; phải học cách quên đi bản thân, mới có thể giải thoát.

"Tức kim hưu khứ, tiện hưu khứ; dục mịch liễu thời, vô liễu thời". Nghĩa là, nếu hôm nay đã "hưu" (dừng/nghỉ) rồi, buông rồi, thì bạn hãy buông triệt để, không cần nữa. "Dục mịch liễu thời, vô liễu thời" (Muốn tìm lúc xong, không có lúc xong), nghĩa là bạn cả ngày cứ nghĩ: khi nào tôi mới có thể kết thúc việc này đây, khi nào tôi mới có thể giải quyết việc này đây... thì vĩnh viễn sẽ không có lúc kết thúc.

Thực ra sinh mệnh là sản phẩm của vọng tưởng. Cái mạng ở nhân gian ngắn ngủi mấy chục năm này là do vọng niệm tạo thành, là vọng niệm nghĩ ra. Ví dụ nghĩ tôi muốn trở nên xinh đẹp, nghĩ tôi muốn có tiền, nghĩ tôi sau này sẽ thế nào thế nào... tất cả những cái đó đều là nghĩ ra cả, cuối cùng ra đi, cái gì cũng không còn, đó chẳng phải gọi là vọng tưởng sao? Chết rồi mang đi được gì? Thứ không mang đi được thì không thể coi là thật, thứ không dài lâu thì không phải của bạn, cuối cùng "Vạn ban đới bất khứ, duy hữu nghiệp tùy thân" (Muôn thứ không mang đi được, chỉ có nghiệp theo thân). Mỗi người hãy nghiêm túc suy ngẫm lời khai thị của Sư phụ, nhất định sẽ nhận được niệm lực không ngờ tới. Lần sau lại giảng cho các bạn.

15. Đoạn trừ phiền não, hóa giải nghiệp lực, tìm lại Phật tính

+

Một người cần phải có Định lực, bởi vì Định lực có thể sinh ra Tuệ lực. Sư phụ từng giảng cho các bạn về "Giới, Định, Tuệ", có giới luật mới có thể có định lực, có định lực mới có thể tăng trưởng trí tuệ. Người định được, người bình tĩnh, là người có trí tuệ. Mà định lực và tuệ lực tăng trưởng đồng thời. Dùng định lực và tuệ lực có thể loại bỏ phiền não, tức là dùng định lực của bạn, sinh ra trí tuệ, sau khi có trí tuệ bạn có thể đoạn dứt và rời xa phiền não. Muốn đoạn dứt phiền não, thì bắt buộc phải rời xa Tham niệm, Sân niệm, Ngu si, mà tất cả những điều này dựa vào định lực và tuệ lực. Nếu có hai lực Định, Tuệ, bạn mới có thể giải thoát, nhưng cũng chỉ là vừa mới trở thành một sự giải thoát thôi, có hiểu không?

Sư phụ thường nói nghiệp chướng của mỗi người lớn như biển, lớn như núi, bởi vì núi rất nặng, biển rất rộng. Nghĩa là người này toàn thân đều là thói xấu, giống như núi lớn, biển rộng, nghiệp chướng trên người, không có chỗ nào tốt. Thử nghĩ xem, mỗi người các bạn từ nhỏ đến giờ có bao nhiêu khuyết điểm? Không nghe người ta khuyên, không nghe người ta nói, ham ăn lười làm, chỉ biết mình, không biết người, không biết cảm nhận của người ta, chỉ biết cảm nhận của mình, làm tổn thương người ta, phỉ báng người ta v.v... những tội nghiệp này nặng như núi, ác nghiệp lớn như biển.

Phải dùng kính lúp để soi thói xấu của mình, phải dùng kính hiển vi để xem ưu điểm của mình. Nghĩa là phải xem ưu điểm của mình thật nhỏ, mà xem khuyết điểm của mình thật lớn, như vậy mới biết bản thân mình đáng sợ thế nào, phải tỉnh ngộ mau chóng sửa đổi thói xấu trên người. Nhiều người ngược lại, dùng kính lúp xem ưu điểm của mình, rõ ràng làm được chút việc thiện, lại xem thành rất lớn rất lớn; còn khuyết điểm rất lớn của mình lại xem thành rất nhỏ, cho rằng tôi chỉ có chút chuyện nhỏ này thôi mà? Có sao đâu? Xin ngàn vạn lần đừng quên "nhân nhỏ quả lớn" a.

Chúng ta phải làm thánh nhân, đừng làm tiểu nhân. Cùng là người, có người sống như trong địa ngục, lại có người sống như trên trời. Người sống trên trời là vì tâm họ rộng mở như trời, hơn nữa họ không có bất kỳ tạp niệm nào. Còn người sống trong địa ngục, là vì khí lượng (bụng dạ) của những người này nhỏ, nhỏ như cái lỗ kim, lo lắng, u sầu, ghen ghét, cả ngày sống trong đau khổ. Sư phụ bảo các bạn tu tâm là để các bạn sửa đổi cho tốt những thói xấu trên người, phải tu cho tâm lượng rộng lớn như biển khơi.

Tiếp theo giảng cho các bạn sự quấn bám của nghiệp lực. Bạn muốn làm người tốt, bạn làm không được người tốt, nghiệp lực quấn lấy bạn; bạn muốn vứt bỏ phiền não, bạn vứt không nổi phiền não, hơn nữa phiền não vĩnh viễn quấn lấy bạn. Ví dụ muốn làm người tốt, mà trong đầu tạp niệm nổi lên tứ phía, chốc lát ý niệm xấu lại đến, những ý niệm xấu, phiền não này đều là tự mình tìm đến, đẩy cũng không đẩy được, người tốt này làm sao đây?

Sư phụ bàn với các bạn về nghiệp lực:

Thứ nhất, nghiệp lực phải luân hồi là rất nặng, hơn nữa rất trọc (đục). Bởi vì nghiệp chướng trên người các bạn đủ để khiến các bạn luân hồi, mà không thể lên trời, cho nên những nghiệp chướng luân hồi này nó rất trọc, và rất nặng. "Đới nghiệp vãng sinh" (Mang nghiệp vãng sinh) nói về điều gì? Nói về việc các bạn có thể mang những nghiệp này lên trời, nhưng đó là nghiệp rất nhẹ. Ví dụ, hồi trẻ chửi người, nói xấu, làm chút việc xấu... nhưng về già bắt buộc phải tu tâm, mới có thể tiêu trừ việc xấu đã làm trong quá khứ, mang nghiệp lành đi. Không phải là nói bạn về già tiếp tục làm ác, mang những ác nghiệp nghiệt chướng này có thể vãng sinh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, điều đó là không thể. Đới nghiệp vãng sinh là sau khi bạn tu hành thay đổi, vẫn còn lại những dấu vết, là một số nghiệp rất nhẹ, chứ không phải mang trọng nghiệp vãng sinh, mọi người nhất định phải hiểu điểm này.

Vãng sinh dựa vào sức mạnh tu hành của chính mình. Tuy dựa vào sức tu hành của mình, nhưng bạn căn bản không thể tiêu trừ hết nghiệp chướng của mình. Sư phụ thường giảng cho các bạn: một tờ giấy trắng, bên trên đã viết chữ, bạn muốn tẩy sạch nó, các bạn nói xem có tẩy sạch được không? Vết tích căn bản vẫn còn trên đó, không tẩy được, cái tẩy đi chỉ là những thứ trên bề mặt mà thôi. Nhưng Bồ Tát rất từ bi với chúng ta, đợi khi chúng ta sắp đi, tuy vẫn còn ấn tích, Bồ Tát từ bi cũng sẽ cho chúng ta đi lên. Nói cho các bạn biết nghiệp chướng rất khó đạt đến mức loại bỏ tận gốc, muốn thực sự loại bỏ tất cả nghiệp chướng, cần có nghị lực và quyết tâm. Một người nếu không có nghị lực và quyết tâm, thói xấu (nghiệp chướng) trên người sẽ không bỏ được, nhất định phải "thống cải tiền phi" (đau đớn sửa đổi lỗi lầm xưa), bắt buộc phải thay đổi triệt để thói xấu trên người.

Thứ hai, khi nghiệp lực chịu quả báo, giống như núi lửa phun trào. Ví dụ, một người lúc đầu rất tốt, khi nghiệp lực chịu báo, bỗng nhiên trúng gió (đột quỵ), hoặc trong nhà xảy ra chuyện lớn v.v... Khi nghiệp chướng đến là thình lình, trốn cũng không trốn được, giống như núi lửa phun trào vậy. Khi nghiệp lực đến, bạn phải vừa chạy, vừa nhìn. Như trong nhà sắp xảy ra chuyện, mau chóng chạy. Cái "chạy" này Sư phụ bảo các bạn không phải là bảo các bạn trốn tránh, khi nghiệp lực đến các bạn nói xem có trốn được không? Tôi dạy các bạn chữ "chạy" này, là đem cái điềm báo này hóa giải đi, tiêu trừ đi. Đồng thời còn phải "nhìn", cái nhìn này là để bạn đi hóa giải, để bạn suy nghĩ. Ví dụ tại sao tôi lại có ý niệm không tốt này? Tai họa tại sao lại tìm đến tôi? Là loại nghiệp chướng gì tìm tôi? Là của kiếp này? Hay kiếp trước? Là thân nhân quá cố trong gia đình tôi? Hay là do tôi hiện tại chiêu cảm đến?

Khi nghiệp lực đến, giống như núi lửa phun trào, bạn vừa chạy, vừa nhìn, cái sức mạnh khủng khiếp đó bạn không thể trốn thoát, nếu lơ là một chút sẽ bị nó nung chảy vào trong, sẽ bị tan chảy trong nghiệp lực, cho nên nghiệp lực là thứ rất đáng sợ. Sư phụ bây giờ dạy các bạn pháp môn này chính là muốn làm nhiều công đức để tiêu trừ nghiệp lực, bởi vì chỉ có công đức mới có thể tiêu trừ nghiệp chướng, còn làm việc thiện chỉ có thể nhận được thiện báo.

Thứ ba, khi bạn ở trong biển khổ, nghiệp lực giống như con cá mập nhìn chằm chằm vào bạn, khi bạn muốn thoát khỏi và rời xa nó, con cá mập này sẽ không buông tha bạn, bạn bơi đến đâu, nó sẽ bám đuôi theo đến đó, đợi đến khi bạn khó khăn lắm mới nhìn thấy bờ, muốn liều mạng bơi lên bờ, muốn thoát khỏi nghiệp lực, cuối cùng nghiệp lực giống như con cá mập, kéo một chân bạn lôi bạn xuống lại. Thử nghĩ con người đáng thương biết bao, liều mạng muốn thoát khỏi nghiệp lực, liều mạng chạy a chạy, sắp đến bờ rồi, lại bị nghiệp lực kéo xuống, nghiệp lực vĩnh viễn đuổi theo bạn.

Nghiệp lực nằm ngay trong tâm bạn, ngay trên linh hồn bạn. Nghiệp lực cũng là ma lực, đấu tranh với nghiệp lực rất mệt, rất vất vả, cho nên tốt nhất đừng có nghiệp lực, đừng đi phạm nghiệp lực, phạm nghiệp lực rồi, tiếp theo sẽ đau khổ khôn nguôi, có hiểu không? Hơn nữa bất cứ lúc nào cũng có thể bị cá mập ăn thịt, hoặc tự tàn (tự hại mình), tức là bạn sẽ bị nghiệp lực làm bị thương hoặc chết. Nghiệp lực, là không thể tách rời, nó là nghiệp chướng, như hình với bóng, nghiệp chướng tùy thân, bất cứ lúc nào cũng có thể bị kích hoạt. Sau khi kích hoạt sẽ sinh ra linh tính, trước tiên ăn hết công đức của bạn, bởi vì công đức có thể giúp bạn chắn tai ương. Giống như một người rất béo, nghiệp lực đến cắn anh ta, trước tiên cắn hết thịt, nhưng chưa làm tổn thương đến xương, đạo lý cũng như vậy. Nếu người rất gầy, cắn một cái là tổn thương đến xương.

Khi bạn muốn rời khỏi biển khổ, cá mập sẽ cắn bạn lôi về, nó không cho bạn rời khỏi biển khổ. Bạn phải dùng "Căn lực" của mình, cắm sâu vào Phật tính nguyên thủy của bạn. Tức là nếu bạn muốn rời xa nghiệp chướng của mình, bạn bắt buộc phải có Căn lực, là sức mạnh của Phật tính nguyên thủy, cũng chính là bản tính của bạn, dùng Phật lực và Từ bi lực của Phật Bồ Tát để loại bỏ nó, để giải thoát, nếu không toàn bộ oan gia trái chủ sẽ đến tìm bạn.

(Ghi chú của Ban Thư ký: Tiết 3 này là vấn đề nghiệp lực mà Đài trưởng nói ở hai trường hợp khác nhau, có sự tương đồng kỳ diệu với ví dụ nghiệp chướng như cá mập lần trước).

16. Như thật tu tâm, chân tâm cúng dường

+

Nói cho mọi người biết, con người không thể chịu quá nhiều kích động (kích thích), chịu kích động một lần, hồn phách sẽ rời khỏi cơ thể một chút, có khi người bị kích động quá nặng, hồn phách sẽ lìa thân. Tuy hồn phách có thể quay lại, nhưng tốc độ quay lại rất chậm. Ví dụ, tiêm thuốc mê một lần, toàn thân sẽ tê liệt, người sẽ bất tỉnh nhân sự, đợi sau khi tỉnh lại, tư duy con người bị cản trở, đầu óc chuyển động chậm, phản ứng không nhanh nhạy, những cái đó đều là vì chịu sự kích thích của thuốc mê. Cho nên con người không được chịu kích động nhiều, nhiều người rất thông minh, nếu thường xuyên chịu kích động, phản ứng của họ sẽ chậm chạp. Trong cuộc sống phải tránh để mình bị kích động. Làm sao tránh? Nói cho mọi người biết rất đơn giản, chính là đừng Tham, đừng Sân, đừng Si. Quanh đi quẩn lại cũng chỉ mấy chữ này, nhưng giải quyết mãi không xong, tiêu trừ mãi không được cái Tham Sân Si này. Phải học cách: người ta hơn tôi, tôi không tham; người ta không tốt với tôi, tôi không hận. Trong đầu phải thường xuyên nghĩ đến người khác, phải muốn tốt cho người khác, phải biết bố thí, phải học cách Buông (Xả), buông hết ra ngoài, khi ra đi nhẹ nhẹ nhàng nhàng.

Bởi vì khi con người chịu kích động, sẽ chuyển thành ý niệm, mà ý niệm này sẽ chuyển biến thành nghiệp lực. Ví dụ, có người trong đầu thường nghĩ: Tại sao nó lại đối với tôi như vậy, đối xử không tốt với tôi? Tiếp theo là thù hận: Tôi hận nó chết đi được. Khi cái niệm hận này nảy sinh, nghiệp lực cũng theo đó nảy sinh, hiểu chưa? Lúc này nghiệp chướng sẽ ập đến như nước triều, ví dụ tôi hận a, hận bản thân, tôi không muốn sống nữa, chết đi cho rồi v.v... lúc này sẽ bị nước triều nghiệp chướng nhấn chìm. Cho nên con người nhất định phải học cách khắc chế bản thân, học Phật để hóa giải bản thân, loại bỏ Tham Sân Si.

Người không phát nguyện thì không sao; một khi phát nguyện, cả hai giới Âm Dương đều đến tìm họ. Khi chưa phát nguyện thì không sao; nếu phát nguyện với Phật Bồ Tát: "Quán Thế Âm Bồ Tát con muốn thế này thế này...", thì Âm tào địa phủ, nhân gian, tất cả đều sẽ đến tìm, cho nên miệng không được nói lung tung, không được phát nguyện bừa bãi. Nhiều đàn ông, phụ nữ khi làm sai chuyện, miệng phát nguyện lung tung, đều sẽ có báo ứng, bất luận là âm gian hay dương gian đều như nhau.

Tiếp theo giảng cho mọi người về Tu tâm cúng dường. Phật Bồ Tát nói phải biết cúng dường, cúng dường rất quan trọng. Cúng dường Phật Bồ Tát như dập đầu, cúng nước cho Bồ Tát, cúng trái cây cho Bồ Tát... đều gọi là cúng dường. Cúng dường (phụng dưỡng) cha mẹ các bạn cũng gọi là cúng dường, bởi vì họ là Phật Bồ Tát tương lai.

Tu tâm cúng dường phải hiểu quy tắc, tức là Phật niệm cần phải thấu hiểu.

1. Thứ nhất, Tu hành cúng dường: Chính là dùng lời nói hành động của mình để cúng dường Phật Bồ Tát. Bạn tu tốt, giống Bồ Tát, bạn chính là đang cúng dường Bồ Tát. Người ta nhìn vào thấy người này tốt quá, giống như Bồ Tát vậy, chính là dùng hành động để cúng dường Bồ Tát.

2. Thứ hai, Lợi ích chúng sinh cúng dường: Chính là giúp đỡ người khác. Ai ai cũng có Phật tính, bạn đối tốt với mọi người, có phải là bạn đang cúng dường lợi ích chúng sinh không?

3. Thứ ba, Nhiếp thọ chúng sinh cúng dường: Nhiếp thọ chúng sinh cúng dường là tôi thay chúng sinh chịu khổ để cúng dường, chính là đem tất cả những chuyện không tốt, tự mình gánh chịu, tôi thay chúng sinh chịu khổ. Chúng ta muốn cứu độ chúng sinh, bắt buộc phải dùng phương pháp phương tiện thiện xảo, tùy thuận căn cơ của chúng sinh để độ hóa. Phải lấy Nhẫn nhiếp Nhục (lấy nhẫn nhịn thu phục sỉ nhục); lấy Đại tinh tấn nhiếp Giải đãi, khống chế sự lười biếng của bản thân; lấy Trí tuệ để chống lại Ngu si.

4. Thứ tư, Đại chúng sinh khổ cúng dường (Thay chúng sinh chịu khổ cúng dường): Chính là thay thế chúng sinh chịu khổ. Ví dụ gặp tai nạn, chúng ta phải đi cứu tai cứu nạn, thì nhất định sẽ chịu rất nhiều khổ, những cái khổ này là thay chúng sinh chịu. Chư Phật Bồ Tát vì cứu độ chúng sinh, không tiếc cái khổ nhiều kiếp, thay chúng sinh chịu khổ. Chúng ta bây giờ tu hành có phải là thay chúng sinh chịu khổ để cúng dường không?

5. Thứ năm, Cần tu thiện căn cúng dường: Thiện căn là bản tính, ngày ngày đem bản tính, lương tâm của mình ra xem thử: tôi rất lương thiện, tôi rất vui lòng giúp đỡ người khác, tôi là một người tốt... tức là phải thường làm người tốt việc tốt, đây gọi là cần tu thiện căn cúng dường.

6. Thứ sáu, Bất xả Bồ Tát nghiệp cúng dường: Thế nào là không bỏ Bồ Tát nghiệp? Tôi vĩnh viễn không rời xa sự nghiệp của Bồ Tát, nghiệp quả của Bồ Tát, nghiệp đạo của Bồ Tát, tôi đi theo Bồ Tát tu tâm tu hành cho tốt, đây cũng gọi là cúng dường.

7. Thứ bảy, Bất ly Bồ đề tâm cúng dường: Chính là vĩnh viễn đừng rời xa tâm Bồ đề, chính là Từ bi tâm cúng dường. Tức là khi nói chuyện với Quán Thế Âm Bồ Tát, khi cúng nước, cúng trái cây, tâm của tôi vĩnh viễn không rời xa tâm Bồ đề. Bạn là Bồ Tát, đừng rời xa tâm Bồ đề, đây cũng là cúng dường. Đó là sự cúng dường công đức vô lượng.

8. Thứ tám, Tố Bồ Tát hạnh Pháp cúng dường (Làm Bồ Tát hạnh Pháp cúng dường): Bồ Tát ở nhân gian pháp cúng dường, chính là thi pháp cho chúng ta, bảo vệ chúng ta. Hôm nay Quán Thế Âm Bồ Tát dùng những pháp môn tốt này, ở trên thân Sư phụ, để giáo dục các bạn, giúp đỡ các bạn, Sư phụ đây gọi là Pháp bố thí, để các bạn hiểu đạo lý, để các bạn niệm Kinh, để gia đình các bạn đều tốt lên, có phải là pháp bố thí không? Nếu các bạn học làm giống như Bồ Tát Pháp bố thí cúng dường, cái các bạn nhận được chính là Cúng dường Như Lai. Như Lai chính là: nếu không đến, vốn dĩ đã ở đó; vốn dĩ ở ngay trong tâm các bạn giống như Đến vậy, chính là bản tính của các bạn. Hãy nhớ cúng dường Như Lai chính là phải hành Pháp bố thí.

Sư phụ cuối cùng báo cho mọi người biết phải nuôi dưỡng tâm từ bi, nghiêm túc tu tâm theo Phật pháp, tu cho ra chân như bản tính của mình.

17. Mười Đại Hạnh Nguyện của người học Phật

+

Phật dạy: "Như thật tu hành thị chân cúng dường cố" (Tu hành đúng như sự thật là sự cúng dường chân chính). Nếu các bạn dụng tâm lấy Phật Bồ Tát làm tấm gương để tu hành, thì đó là tu Phật tu tâm thật sự. "Như thật" là thực thực tại tại, không có nửa điểm giả dối, dùng chân tâm để tu, bạn chính là đang thực sự cúng dường Phật Bồ Tát. Thử nghĩ xem, các bạn học Quán Thế Âm Bồ Tát cứu độ chúng sinh, có phải đang cúng dường Bồ Tát không? Các bạn học Quán Thế Âm Bồ Tát giảng Kinh thuyết pháp, để mọi người được lợi ích, thay đổi bản thân, hoằng pháp lợi sinh, ai ai cũng cảm tạ Quán Thế Âm Bồ Tát, ai ai cũng cầu Quán Thế Âm Bồ Tát cứu con, đây có phải đang cúng dường Phật Bồ Tát không? Thệ nguyện của Quán Thế Âm Bồ Tát là nghe tiếng cứu khổ, cứu khổ cứu nạn, đại từ đại bi, hành vi này của các bạn chính là Pháp bố thí, chính là đang cúng dường Phật Bồ Tát.

Tiếp theo giảng đơn giản cho mọi người, mười đại hạnh nguyện (10 nguyện lớn) mà người tu hành cần phải có.

  1. Kính lễ chư Phật: Chính là đối với chư Phật Bồ Tát phải vô cùng tôn kính, có lễ mạo, lễ tiết, dùng tâm để cung kính Phật, đây là hạnh nguyện.
  2. Xưng tán Như Lai: Như Lai Bồ Tát ví như là tất cả các vị Bồ Tát, bạn cần phải có một sự xưng tán (ca ngợi). Như khi lạy Quán Thế Âm Bồ Tát, trong lòng bạn phải xưng tán Quán Thế Âm Bồ Tát: Ngài thật vĩ đại, cứu khổ cứu nạn độ chúng sinh chúng con, chúng con không thể dùng ngôn ngữ để cảm ân Ngài, chúng con ca tụng Bồ Tát. Cũng như các bạn nhìn thấy Sư phụ: "Chào Sư phụ", cái cảm giác thăm hỏi Sư phụ đó không phải là giả, không phải làm cho người ta xem, mà là một niềm pháp hỷ sinh ra từ sự kính trọng tồn tại trong nội tâm.
  3. Quảng tu cúng dường: Cũng chính là 8 loại cúng dường giảng cho mọi người ở phần trước. Phải tu nhiều cúng dường nhiều: cúng trái cây, cúng hoa tươi, bố thí tiền công đức, cúng dầu, khấu bái... đều là cúng dường. Phải cúng dường Phật Pháp Tăng, chính là Đại hỷ xả, công đức hỷ xả rất lớn, có thể khai trí tuệ, trừ phiền não, tích công đức.
  4. Sám hối nghiệp chướng: Phải thường xuyên sám hối nghiệp chướng của mình, mới có thể tiến bộ, hiểu đạo lý mới có thể tu tốt. Nếu cho rằng mình chẳng có khuyết điểm gì, bạn nói xem có tu tốt được không? Nghiệp chướng như hình với bóng, không sai một ly, chỉ có sám hối mới có thể tiêu trừ.
  5. Tùy hỷ công đức: Chính là tùy hỷ người khác làm công đức. Tức là không cưỡng cầu người khác làm việc, tất cả tùy hỷ. Nếu hôm nay kinh tế bạn không tốt, hãy làm Pháp thí nhiều hơn, trong Tam thí thì Pháp thí là nhất. Nếu bạn có tiền có thể cúng dường một chút, tùy hỷ công đức, nhất định sẽ có công đức hồi báo. Nhưng cũng đừng nói mình ngay cả cơm cũng chưa ăn, đem toàn bộ tiền ra cúng dường, thế cũng không được, là chấp trước.
  6. Pháp vật thường chuyển: Sư phụ giảng cho các bạn "pháp vật thường chuyển", ví dụ phật châu, niệm châu, có phải là pháp vật không? Có cần chuyển không? Khi niệm Kinh Phật châu có phải chuyển theo tay bạn không? Pháp vật, như pháp khí, kinh văn tụng niệm... khi bạn niệm Kinh, niệm từng biến từng biến, có phải đang chuyển theo mắt và não bạn không? Thiện niệm vừa động, tiêu tai cát tường. (Lưu ý: "Thỉnh chuyển pháp luân" thường được hiểu là thỉnh Phật thuyết pháp, ở đây Sư phụ giảng theo nghĩa rộng và thực hành cụ thể là chuyển pháp vật/niệm kinh).
  7. Thỉnh Phật trụ thế: Cung kính Bồ Tát, nhìn thấy Bồ Tát dùng các loại hình thức đến thế gian cứu người, hãy cúng dường ngài, làm một hộ pháp tốt, vì cứu độ chúng sinh, thỉnh Bồ Tát thường trụ tại nhân gian, giúp đỡ con người tìm lại bản tính.
  8. Thường tùy Phật học: Chính là phải theo sát Phật Bồ Tát để học, đây gọi là thường tùy Phật học. Học hành vi của Phật, tư duy của Phật, trí tuệ của Phật, ngộ tính của Phật. Các bạn phải cần tu Giới Định Tuệ, diệt trừ Tham Sân Si.
  9. Hằng thuận chúng sinh: Phải thuận theo chúng sinh để tu học Phật pháp, chính là phải không quản phiền phức để giáo hóa chúng sinh, dùng tâm Từ Bi Hỷ Xả đi cứu độ chúng sinh. Ví dụ người này rất thích nói chuyện, khi tôi độ cô ấy, trước tiên tôi phải học cách nói chuyện, phải thuận theo cái duyên của người ta mới có thể độ người ta lên. Sư phụ hiện nay chính là hằng thuận chúng sinh, thuận theo yêu cầu của chúng sinh để cứu độ. Như người hiện nay cần sức khỏe, bình an, học nghiệp, kinh doanh thuận lợi, Sư phụ thuận theo nhu cầu của chúng sinh để độ hóa họ, đợi khi họ mọi việc thuận lợi, cảnh giới nâng cao, tăng trưởng trí tuệ của Phật Bồ Tát, tự nhiên tu tâm tu tính, viên thành Phật đạo.
  10. Phổ giai hồi hướng: Tôi tu tâm, tôi tu hành, tôi đem công đức, thiện nghiệp hồi hướng rộng khắp (phổ biến), tôi yêu thương bất cứ ai, tôi hồi hướng đại ái cho nhân gian, gọi là phổ giai hồi hướng.

Con người phải thường còn chính niệm, phải thường xuyên có ý niệm ngay chính, đừng có ý niệm tà vậy. Con người rất đáng thương, nếu không có chính niệm, giống như phiêu bạt bất định trên biển cả mênh mông, không tìm thấy cái tôi, người này không có cách nào lễ Phật. Nếu trong lòng toàn nghĩ những thứ lệch lạc, bất chính, thì dù quỳ ở đây dập đầu cũng là giả, những điều cầu xin đều thuộc về hư vọng, làm công đức là để cho người ta xem.

Thường lý (lẽ thường), luân lý đạo đức của nhân gian giống như một làn khói mây của nhân gian. Ví dụ, con trai đối xử không tốt với tôi, dùng thường lý nhân gian mà nói, chỉ giống như khói mây là giả, làm mê hoặc một chút, đừng tưởng là con trai thực sự không tốt với bạn, kỳ thực tất cả đều có quan hệ với oan kết kiếp trước của bạn và con trai. Mà cái bạn nhìn thấy là con trai kiếp này không tốt với bạn, cho nên dùng luân lý bình thường thì không thể giải thích, bạn cũng không thể giải thoát, bởi vì đều là nhân quả kiếp trước, đợi thời gian đến thì sẽ hết, giống như khói mây, sẽ thay đổi, sẽ qua đi. Phải thường nghĩ tất cả đều là nhân duyên quả báo. Học Phật chính là để các bạn nhìn thoáng, buông bỏ, tùy duyên. Những đạo lý Sư phụ giảng cho các bạn bây giờ chính là để các bạn nhìn thoáng, buông bỏ, tùy duyên.

Bất cứ duyên phận nào cũng là "Tăng thượng duyên" thúc đẩy bạn tu tốt, là một nguồn suối kiên định sự tiến bộ của bạn. Vĩnh viễn phải thời thời khắc khắc sinh khởi tâm từ bi. Tùy duyên tu tâm, tùy duyên kết duyên, tùy duyên bố thí, tùy duyên thành duyên, cái "Duyên" này chính là Phật duyên.

18. Tìm thấy Bồ Đề Tâm của chính mình, không để ác duyên xoay chuyển luân hồi

+

Sư phụ hôm nay bàn với các bạn về Bồ Đề tâm trên trời. Bồ Đề tâm trên trời là gì? Trời có bao nhiêu tầng trời? Dục giới thiên, Sắc giới thiên, Vô sắc giới thiên đều không giống nhau, đều là những tầng trời khác nhau. Bồ Đề tâm ở tầng trời nào? Sư phụ nói với các bạn, mỗi tầng trời đều có Bồ Đề tâm, bao gồm cõi người, cõi súc sinh đều có Bồ Đề tâm. Bồ Đề tâm giống như ánh mặt trời chiếu rọi bản tính của mỗi chúng sinh, bản tính của mỗi chúng sinh đều có Bồ Đề tâm. Chúng ta tu là tu bản tính, là Bồ Đề tâm.

Sư phụ hôm nay giảng cho các bạn về Bồ Đề tâm trên trời. Bồ Đề tâm trên trời tương đối thuần tịnh, ít cáu bẩn, rất sạch sẽ. Hãy nhớ khi bạn phát nguyện học Phật rồi, sự quán tưởng mỗi ngày chính là làm hiển lộ Bồ Đề tâm và Từ bi tâm của bạn, đó là Bồ Đề tâm đến từ trên trời. Nhân gian chúng ta có làm được không? Làm được, chính là đem Bồ Đề tâm trên trời hóa thành tâm tính nhân gian để vận hành. Ví dụ, trái tim này rất trong suốt, nhưng bên ngoài bị cáu bẩn bao bọc, rất bẩn rồi, có thể không nhìn thấy nữa, trái tim này là của nhân gian. Nhưng khi bạn lên trời, trái tim này bụi trần rất ít, rất trong suốt, lúc này bạn có thể nhìn thấy Bồ Đề tâm của mình, có thể nhìn thấy Từ bi tâm của mình. Còn ở nhân gian tại sao lương tâm ngày càng ít, bởi vì lương tâm ngày càng dơ bẩn. Cho nên muốn các bạn biết Bồ Đề tâm và Đại bi tâm trên trời là như thế nào, các bạn hãy đem phương thức mô hình này áp dụng xuống nhân gian, thường xuyên xem xem bản tính và lương tâm của mình, có thuần tịnh không, có từ bi không.

Bồ Đề tâm chính là tâm Bồ Tát, tâm Bồ Tát mọi người đều biết là rất từ bi. Học Phật phải học trí tuệ của Phật, phải học tinh thần trong sáng của Phật Bồ Tát. Tại sao trên trời có thể nhìn thấy bản tính và Bồ Đề tâm của mình? Bởi vì người có thể lên trời đều rất lương thiện, là có thể nhìn thấy, thiên nhân (người trời) có thể bất cứ lúc nào bất cứ nơi đâu nhìn ra tâm tràng Bồ Tát, có thể nhìn thấy Bồ Đề tâm của mình. Người trời giống như tiên nữ trong phim hoạt hình vậy, họ có thể chốc lát bay đến đây, chốc lát bay đến kia, có thể bay tùy ý. Nhiều người trời trên trời cả ngày nghĩ việc giúp đỡ người khác, ngoại cảnh trên trời rất tốt, người trên trời đã rất tự do rồi, hơn nữa đều rất lương thiện. Còn chúng ta ở nhân gian, đâu đâu cũng là việc phải làm, đâu đâu cũng là cái phải tu.

Ở nhân gian chúng ta không nhìn thấy bản tính, không nhìn thấy lương tâm, sẽ làm rất nhiều việc xấu, làm rất nhiều chuyện không tốt, động rất nhiều ý niệm không tốt. Cho nên ở nhân gian, con người muốn nhìn thấy bản tính của mình là rất khó, chỉ có thể nói "sờ sờ lương tâm mà nói", tức là lương tâm đã không nhìn thấy nữa rồi, chỉ có thể sờ thôi, giống như người mù phải dựa vào sờ, nếu có thể nhìn thấy thì cần gì phải sờ? Đạo lý rất đơn giản. Bản tính của chúng ta ở nhân gian đã nhìn không rõ nữa rồi, chỉ có ở trên trời mới có thể nhìn thấy, nhìn thấy rồi bạn mới có thể đối chiếu, mới có thể ánh chiếu bản tính và lương tâm của bạn.

Ở nhân gian tuy bề mặt không nhìn thấy tâm của bạn, nhưng trong lòng bạn phải cảm giác như nhìn thấy vậy. Sư phụ giảng cho các bạn một đạo lý, ví dụ một người khi diễn kịch, rõ ràng không có cái cửa, anh ta phải giả vờ có một cánh cửa, đi tới mở cửa ra, rồi nhìn vào bên trong, rõ ràng không nhìn thấy gì cả, nhưng anh ta phải giả vờ nhìn thấy rồi; lại như diễn khâu quần áo, rõ ràng không có kim chỉ, nhưng cô ấy phải giả vờ có kim chỉ, giả vờ khâu vá quần áo. Nghĩa là bạn phải đem thứ nhìn thấy trên trời, dùng vào nơi không nhìn thấy ở nhân gian chúng ta, người này mới gọi là "hữu quán" (có quán), mới có thể "hữu tu" (có tu). Quán Thế Âm Bồ Tát, bạn có nhìn thấy không? Nhưng tại sao bạn biết hành vi của Quán Thế Âm Bồ Tát là cứu khổ cứu nạn? Đây là cảm thụ của bạn, là lợi dụng cảm thụ nhân gian để cảm ứng Bồ Đề tâm trên trời. Mỗi ngày đều phải quán tưởng, phải nghĩ tâm lương thiện của mình đã bị mình nhìn thấy rồi, nhìn thấy tâm mình rất lương thiện. Tôi phải cứu người, tôi phải từ bi, tôi phải giúp đỡ người... ngày ngày nghĩ như vậy, rồi biểu lộ nó ra.

Mọi người đều biết lục đạo luân hồi, bây giờ Sư phụ giảng cho mọi người về sự luân hồi của ác duyên. Thế nào là luân hồi của ác duyên? Chính là kiếp trước kết duyên không tốt, kiếp này lại ở cùng nhau mâu thuẫn chồng chất, tiếp tục kết duyên không tốt, đây gọi là luân hồi của ác duyên. Ví dụ, bạn bị người ta mắng, tâm bạn bắt đầu chuyển, tiếp theo bắt đầu luân hồi: sau khi bị người ta mắng, nhìn cái gì cũng không vui, tiếp theo phiền não đến, phiền não đến rồi tiếp theo thù hận đến, lại tiếp theo bắt đầu báo thù, cái ác duyên này bắt đầu luân hồi. Khi một người tức giận, chính là ác duyên đang luân hồi. Bạn không tức giận, cái luân hồi này sẽ không xoay chuyển.

Làm sao để giải quyết luân hồi của ác duyên? Phương pháp giải quyết là "Quán tưởng Không tánh" (Quán tưởng tánh Không). Trong cái Nghĩ mà Quán, trong cái Quán mà Nghĩ, gọi là quán tưởng. Ví dụ quán tưởng Quán Thế Âm Bồ Tát, nhắm mắt lại quán tưởng, không phải mở to mắt nhìn Quán Thế Âm Bồ Tát, đó gọi là Nhìn, không phải Quán. Quán tưởng là nghĩ đến hình tượng của Quán Thế Âm Bồ Tát, rồi trong tâm nhìn Quán Thế Âm Bồ Tát. Quán tưởng Không tánh, là quán tưởng thân thể này của tôi là Không (rỗng không). Ví dụ người ta đến mắng bạn, bạn phải cảm thấy mình là Không: Tôi không có gì cả, tôi không sao cả, tất cả đều là giả. Nếu bị người ta mắng, nên nghĩ: họ đang mắng nghiệp chướng trên người tôi, nghiệp chướng trên người tôi thực sự không tốt, không những người ta mắng, chính tôi cũng phải mắng, bạn nói xem bạn còn tức giận không? Nếu bạn coi những nghiệp chướng này là của mình, nhận hết vào người mình, bạn đương nhiên sẽ tức giận. Nếu bạn đẩy những nghiệp chướng này khỏi bản thân, đừng cho là của mình, hãy xem nó như vật chất hạ đẳng do ngoại cảnh đem lại, là nghiệp chướng kiếp trước của tôi, là tôi mang nghiệp chướng kiếp trước đến kiếp này, những món nợ này tôi nhất định phải trả, hơn nữa đều là "Tăng thượng duyên" của tôi, tức là duyên phận tăng thêm sự tiến bộ của tôi. Bạn có thể nghĩ như vậy, bạn sẽ không tức giận, đây chính là Tu.

Sau khi quán tưởng bản thân Không tánh, nên Nhập định. Thế nào là nhập định? Nói đơn giản một chút là làm cho tâm mình định lại. Sau khi nhập định mới có thể chuyển hóa thành Không. Khi một người định lại, ý niệm của họ mới xuất ra. Tâm không tĩnh được, trong đầu nghĩ điên cuồng (cuồng tưởng), trong tâm toàn là niệm điên cuồng (cuồng niệm), bạn nói xem có định lại được không? Nếu các bạn ngồi đây tâm không định, cái gì cũng không học được, khách sáo một chút gọi là tâm không định, nói không khách sáo là tạp niệm bụi trần.

Tu tâm rất nghiêm ngặt, một mảy may tạp niệm cũng không được có, nếu có một chút tạp niệm thì không tu tâm tốt được. Khi tu tâm, phải quên hết tất cả người và việc. Khi niệm kinh tạp niệm sinh ra thế nào? Chính vì trong lòng có đủ loại người và việc đang gợn sóng trong tâm, cho nên tạp niệm mới nổi lên tứ phía. Hãy nhớ phải giữ gìn thân tâm sạch sẽ, giữ gìn thân tâm thuần khiết, chính là phải bất cứ lúc nào cũng thanh trừ những thứ không tốt của thân tâm, phải thanh trừ toàn bộ tư duy không tốt, hành vi không tốt, ý niệm không tốt.

Bất cứ người học Phật nào, trước hết, bắt buộc phải loại bỏ kiêu ngạo tự đại. Tức là bạn có bản lĩnh đến đâu, có tiền đến đâu, thế nào đi nữa, chỉ cần ngồi bên dưới nghe Phật pháp, bạn là một người học Phật. Bồ Tát không có tâm phân biệt, bất kể hôm nay bạn là ai, chỉ cần ngồi dưới nghe Phật pháp, thì phải học cho tốt, không được kiêu ngạo tự đại, nếu kiêu ngạo tự đại thì căn bản không học Phật tốt được. Hôm nay bạn có tiền thì làm được gì? Có thể tiêu trừ nghiệp chướng tội nghiệp trên người không? Chỉ có công đức mới có thể tiêu trừ nghiệp chướng của bản thân. Nếu người này rất có tiền, anh ta bỏ ra rất nhiều tiền làm việc thiện, nhưng chỉ cần nghĩ đến mình nhận được bao nhiêu lợi ích, toàn bộ công đức sẽ biến thành không.

Thứ hai, bất cứ người tu học Phật pháp nào, bắt buộc phải loại bỏ lười biếng, đãi mạn (chểnh mảng). Người tu tâm không được lười biếng. Nếu sáng không chịu dậy, tối ngủ sớm, cả ngày hôn trầm ngủ, người hôn trầm ngủ càng ngủ càng béo, càng ngủ càng ngốc; người hôn trầm ngủ trí tuệ không khai mở; người hôn trầm ngủ, xét về mặt Phật pháp, người này thiếu mất mấy Độ trong Lục độ, cho nên các bạn học Phật bắt buộc phải loại bỏ lười biếng đãi mạn (Dãi đãi).

19. Kiểm soát tâm thái niệm Kinh, mượn giả tu chân

+

Sư phụ dạy các bạn mấy bí quyết niệm Kinh trong trường hợp đặc biệt.

  1. Khi quán tưởng Không tánh, đừng nghĩ đến bất cứ người nào và việc gì, hơn nữa phải để tâm bình tĩnh. Tâm thái nhất định phải bình tĩnh, tâm thái không tốt là tạm thời, nhưng tâm bắt buộc phải bình tĩnh. Ví dụ bây giờ bạn rất hận một người, nhưng phải nói với mình: tôi phải bình tĩnh, đừng nghĩ nữa, tập trung tinh lực niệm Kinh, như vậy tâm sẽ tĩnh lại.
  2. Khi bạn hỏa khí lớn (nóng giận), lúc này niệm Kinh cũng có một bí quyết. Khi hỏa khí thực sự lớn không đè xuống được, Sư phụ dạy các bạn phương pháp: lúc này niệm Kinh có thể niệm cho Bồ Tát nghe. Ví dụ thầy giáo ở trường tiểu học, khi lên lớp bảo học sinh đọc sách, thầy giáo có cần nghe các em đọc không? Bồ Tát dạy chúng ta những Kinh văn này, bảo chúng ta niệm, Bồ Tát có phải cũng muốn nghe không? Khi bạn nghĩ đến Bồ Tát đang nghe tôi niệm Kinh, bạn sẽ nghiêm túc không còn hỏa khí, giống như khi chúng ta làm việc, có người nhìn chúng ta, chúng ta sẽ làm tốt hơn. Sư phụ mỗi lần nghe thấy có người niệm Kinh thì rất vui. Niệm Kinh có thể "tương hỗ tiếp khí" (tiếp khí cho nhau), khí trường khi bạn niệm Kinh và khí trường của Quán Thế Âm Bồ Tát có thể tiếp nối với nhau, cho nên khi thực sự tức giận, có thể niệm cho Bồ Tát nghe, nhưng khi niệm Kinh không được mang theo bất kỳ tâm căm hận nào. Nếu vừa niệm Kinh vừa hận, ý niệm của bạn không tốt, niệm Kinh không tốt đâu, phương pháp là bạn chỉ có thể niệm thật to, dùng âm thanh để che lấp hỏa khí của bạn mà thôi.
  3. Khi tức giận niệm Kinh, nếu không niệm ra tiếng, sẽ hại máu (thương huyết) của bạn, bởi vì khí huyết của bạn đã không thuận rồi. Khi hỏa khí lớn chính là khí huyết không thuận, lúc này tốt nhất là niệm ra tiếng, âm thanh có thể to một chút. Giống như nhiều người khi không vui, nói chuyện giọng rất to, nói xong thì không sao nữa, tức là đã xả hết khí ra ngoài. Tại sao Sư phụ không để các bạn bình thường niệm thật to? Bởi vì khi niệm Kinh phải dùng Khí và Huyết cùng chuyển động, không phải chỉ dùng Khí chuyển động mà Huyết không động. Nếu đều nín ở bên trong là động huyết bất động khí, cho nên khí và huyết đều phải động. Đông y nói "khí huyết lưỡng khuy" (khí huyết đều hư tổn), thực tế là nói thân tâm bạn chưa điều tiết tốt, niệm Kinh cũng nhất định phải hiểu khí huyết điều hòa.
  4. Khi tức giận niệm kinh, phải vừa sám hối, vừa đồng thời trong lúc không phát ra tiếng thầm nói trong lòng: Quán Thế Âm Bồ Tát gia trì cho con, gia trì cho con... điểm này rất quan trọng.

Pháp thân của Phật Bồ Tát, ví dụ pháp thân của Quán Thế Âm Bồ Tát gọi là Thiên thủ thiên nhãn (Nghìn tay nghìn mắt), chính là Bồ Tát mà các bạn nhìn thấy bây giờ. Tuy đây không phải là pháp thân thực sự của cõi Phật, nhưng pháp thân của Bồ Tát cũng có thể đi vào linh hồn của các bạn. Từ một góc độ khác mà nói, Pháp thân của Phật, Pháp thân của Bồ Tát, Pháp thân của Sư phụ, là ngày hay đêm đều có thể đi vào trong giấc mơ của các bạn. Pháp thân của Bồ Tát có thể đến trong giấc mơ cứu bạn, có thể thường xuyên nói chuyện bên tai bạn. Pháp thân là vô sắc vô vị (không màu không mùi), là những hạt phân tử siêu vật chất, tạo thành khí trường. Pháp thân là một loại thể năng lượng phát ra từ sự vô cùng sạch sẽ, vô cùng thuần khiết. Ví dụ luyện khí công, khi phát công trên người có thể tỏa ra thứ như mây mù, cái đó gọi là năng lượng. Khi mở pháp hội, các bạn nhìn thấy trên đầu Sư phụ phát ra kim quang (ánh sáng vàng), đây chính là một loại thể năng lượng, cũng gọi là Phật quang.

Pháp thân của Phật là "vô xứ bất tại" (không nơi nào không có), là đột phá ngăn cách thời không, muốn đến đâu thì đến đó. Giống như tôi muốn lúc nào đến nhà bạn, là có thể đến nhà bạn, nhưng thực sự muốn đến nhà các bạn, cũng cần có duyên hoặc nguyên nhân, nguyên nhân này nằm ở chỗ các bạn có cầu Bồ Tát, bởi vì Bồ Tát là "hữu cầu tất ứng".

Bàn về Pháp âm của Phật Bồ Tát. Thế nào là Pháp âm? Chính là tai bạn thường xuyên có thể nghe thấy Sư phụ nói chuyện, tai bạn thường xuyên có thể nghe thấy Bồ Tát nói chuyện với bạn, đó gọi là Pháp âm. Pháp âm sẽ không vì thời gian mà trôi mất, cũng sẽ không vì thời gian này không có pháp âm mà không có Bồ Tát. Pháp thân sẽ không vì thời không mà có ngăn cách, pháp thân có thể thông qua thời không đi vào một không gian khác.

Pháp thân, Pháp âm đều là của Bồ Tát. Khi bạn đang hoằng dương Phật pháp, khi bạn giảng rất nhập tâm, bản thân cảm thấy giảng rất nghiêm túc, lúc đó bạn sẽ cảm thấy không phải là mình nữa, tự cảm thấy sao mình có thể giảng ra nhiều đạo lý và lý luận thế này nhỉ? Bạn đi cứu độ người ta, giảng a giảng a, sau đó nghĩ lại, những cái này là tôi giảng sao? Sao tôi lại giảng hay thế này? Ngôn ngữ của tôi sao lại phong phú thế này? Thực tế lúc đó là Bồ Tát đang gia trì trên người bạn.

Phải nhớ cứu độ người nhiều, pháp âm thường trú; cứu độ người ít, pháp âm bất trú (không ở lại). Người thường xuyên cứu độ người khác, Bồ Tát sẽ thường xuyên nói chuyện bên tai bạn; người không thường xuyên cứu độ người, bên tai sẽ không có âm thanh của Bồ Tát. Người thường xuyên tu hành tu tâm, pháp tướng của người đó thường trú, tức pháp tướng Bồ Tát thường trú; người thường xuyên không niệm Kinh, không lạy Phật, đến cuối cùng pháp tướng bất trú, tức là ngay cả một chút tướng Bồ Tát cũng không có, nhất định phải nhớ những đạo lý này.

"Hòa đạo âm" (Âm thanh hòa hợp với Đạo): bất luận pháp âm hay pháp thân, sẽ từ đó vạch ra Chân như. Chân như, chính là hoàn toàn đều là thật. Khi pháp âm của bạn và pháp thân của bạn vạch ra một Chân như, hình tượng Bồ Tát thật sự sẽ xuất hiện. Con người phải có Nguyện lực vô thượng, đi từ bi chúng sinh, đi cứu độ chúng sinh. Nguyện lực vô thượng, ví dụ hứa nguyện: Quán Thế Âm Bồ Tát con muốn thành tựu chúng sinh, con nhất định phải đi cứu độ tất cả những người hữu duyên, cho dù con qua đời, con cũng phải đi cứu độ chúng sinh. — Đây gọi là nguyện lực vô thượng. Các bạn có năng lực này không? Không có, chỉ có thể học tinh thần của Phật Bồ Tát.

Chỉ cần có nguyện lực thì nhất định phải cố gắng đi làm. Nguyện lực rất quan trọng, nguyện lực có thể thúc đẩy bạn, là căn cơ thành toàn tất cả nhân duyên của bạn ở nhân gian, thực ra chính là năng lượng của bạn. Nếu một người muốn làm mà làm không thành việc đó, chính là căn cơ của người đó không sâu. Ở nhân gian "tâm tưởng sự thành" (muốn gì được nấy), căn cơ này từ đâu mà đến? Rất đơn giản, là do công đức bình thường của bạn tạo nên, bạn liều mạng làm công đức, căn cơ này của bạn cắm càng ngày càng sâu, lúc này bạn cầu gì linh nấy. Hãy nhớ công đức càng nhiều sở cầu càng linh. Nếu gặp vấn đề hóa giải không được, chính là chứng tỏ công lực của các bạn không đủ, công đức không đủ.

Con người phải thay đổi theo sự biến thiên của thời đại. Tại sao gọi là Thiên Địa Nhân? Tại sao đổi tên phải làm "Sớ văn" (Săng văn/Thăng văn) xong mới có hiệu quả? Tên đừng đổi nhiều, đổi quá nhiều, đến tuổi già đều không quá tốt, sẽ hồn phách không toàn vẹn, rất dễ mắc chứng Alzheimer (lú lẫn tuổi già), rất dễ mắc chứng trầm cảm, vì hồn phách dễ tán. Ở nhân gian cái tên này là giả, như thường nói "nhân sinh như thùy hành" (đời người như ai đi - câu này có thể là ngạn ngữ địa phương hoặc cách nói riêng, ý chỉ cuộc đời như chuyến đi/như vở kịch), chỉ có ở trên trời và địa phủ cái tên này là thật. Con người phải tự trọng (tự ái), dùng tư duy bản tính. Sự khác biệt giữa người và động vật là người đầu đội trời, chân đạp đất, còn động vật là lưng hướng lên trời. Chỉ có con người là đầu đội trời, cho nên Phật pháp nói: Nhân thân nan đắc (Thân người khó được).

Tiếp theo giảng cho mọi người "Tương ứng pháp". Trong học Phật có rất nhiều pháp, rất nhiều pháp môn. Mà Tương ứng pháp, tuy không phải là một pháp môn, nhưng là một phương pháp rất tốt để học Phật. Thế nào là Tương ứng pháp? Tương ứng pháp chính là tôi gặp chuyện này rồi, tôi đến đối phó (giải quyết) chuyện này; tôi không gặp chuyện này, tôi không đối phó. Ví dụ nằm mơ, phải đem cảnh trong mơ tương ứng hóa thành chân đế, tức là xem cảnh giới trong mơ là thật. Đem mộng cảnh hóa thành chân đế, chính là bạn mơ giấc mơ này, bạn hãy xem nó như một thứ có thật để thực hành. Nhiều người rất thích nằm mơ, nằm mơ thực sự có thể khiến bạn khai ngộ rất nhiều. Sư phụ từng giảng cho các bạn, trên thế giới có rất nhiều nhà khoa học, rất nhiều phát minh của họ đều dựa vào cảnh trong mơ để thực hiện, tức là nằm mơ thấy rồi, sau đó đi thực hành, mới thành công. "Mộng tưởng thành chân" (Biến ước mơ thành sự thật) chính là đạo lý này, biến giấc mơ thành thứ có thật, rồi đi ứng dụng nó. Tương ứng pháp chính là đem mộng cảnh hóa thành chân đế để ứng dụng nó.

"Nhất thiết tướng bất khả đắc" (Tất cả tướng đều không thể được/không thể nắm bắt), nhưng phải nhớ, tất cả các tướng đều bất khả đắc, tướng trong mơ cũng vậy, tướng ở nhân gian cũng vậy, đều bất khả đắc, đừng đi nắm chặt lấy nó không buông, chỉ có thể ứng dụng nó, lợi dụng nó, chứ không thể thực sự nắm lấy nó, cứ giữ mãi bên mình. Ví dụ, gặp một ác mộng, bạn phải lợi dụng nó, có thể nói với Sư phụ: Sư phụ con gặp một giấc mơ, là thế này thế này... sau đó Sư phụ bảo bạn nên làm thế nào thế nào. Nếu bạn gặp ác mộng, cứ luôn nghĩ đến cảnh trong mơ, nắm chặt không buông, qua vài ngày bạn sẽ biến thành người trong ác mộng. Cho nên nằm mơ phải ứng dụng giấc mơ, không phải đạt được nó, mà là phải ứng dụng nó.

Nhất thiết tướng bất khả đắc, "Huyễn trung tu chân" (Trong ảo ảnh tu cái Chân thật). Nằm mơ có phải là ảo giác không? Nằm mơ có phải giống như thật, lại giống như giả không? Mà tỉnh mộng rồi cái gì cũng không còn, đây chẳng phải là ảo giác của bạn sao? Huyễn trung tu chân, ví dụ, trong mơ ăn thịt, tỉnh dậy: "Ái chà, mình không được ăn thịt a, mình ăn chay mà". Giấc mơ là ảo, nhưng khi bạn tỉnh dậy ngộ ra một đạo lý: mình "mộng khảo" (bài thi trong mơ) không thông qua — đây chính là huyễn trung tu chân rồi. Lại như trong mơ quỷ đến bắt bạn, đột nhiên bạn bắt đầu niệm Kinh, quỷ đều bị bạn đánh bại, bạn lúc này đã là huyễn trung tu chân rồi. Bạn trong mơ có thể nhớ đến Quán Thế Âm Bồ Tát, bạn trong mơ có thể nghĩ đến Quán Thế Âm Bồ Tát, có thể niệm Kinh, thực tế bạn đây đang là huyễn trung tu chân. Bạn trong mơ đều có thể nghĩ đến Quán Thế Âm Bồ Tát, đợi khi bạn chết, cũng nhất định có thể nghĩ đến Quán Thế Âm Bồ Tát. Nếu linh hồn bạn có thể nghĩ đến Quán Thế Âm Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát nhất định sẽ cứu bạn lên trời. Nhiều người khi gặp ác mộng không tỉnh lại được, đột nhiên nghĩ đến Quán Thế Âm Bồ Tát, vừa niệm Kinh liền tỉnh lại, đây chính là Mượn huyễn để tu chân.

Nhân thế gian cũng là mộng cảnh như ảo ảnh, tất cả không dài lâu, cho nên chúng ta phải mượn nhân gian tu chân tính của mình. Lần sau tiếp tục giảng cho các bạn về trợ lực của Tương ứng pháp.

20. Dùng trợ lực đưa Phật Bồ Tát vào trong tâm

+

Lần trước giảng cho mọi người về Tương ứng pháp. Thực ra Tương ứng pháp cần phải dựa vào trợ lực (lực hỗ trợ). Thế nào là trợ lực? Là sức mạnh giúp đỡ bạn, thúc đẩy bạn. Ví dụ khi bạn đang tu tâm, có người đến nói với bạn: "Bạn đừng tu pháp môn này nữa, tôi bảo bạn có một pháp môn rất tốt...", nếu lúc này bạn bắt đầu hồ đồ, không rõ ràng nữa, lúc này phải dựa vào một trợ lực, chính là sức mạnh trợ động (hỗ trợ chuyển động). Trợ lực này là trợ lực của sự kiên định tin tưởng (kiên tín). Nếu bạn tổng hợp lại từng chút từng chút của việc tu tâm trong quá khứ, sẽ trở thành một trợ lực. Ví dụ khi tôi niệm Kinh này xong, vận khí của tôi chuyển tốt, người khác niệm xong cũng chuyển tốt, sự linh nghiệm trong quá khứ và sự từ bi của Bồ Tát, bạn đem những thứ này tổng hợp lại, bạn sẽ sinh ra một loại trợ lực. Người ta nói pháp môn khác tốt, nhưng tôi kiên tin pháp môn này, tôi cứ tu pháp môn của Sư phụ tôi, đây chính là lực trợ động. Ngoài ra một cái nữa là Sức mạnh chân thực, lực trợ động dẫn xuất ra sức mạnh chân thực. Sức mạnh chân thực là, ví dụ bệnh ung thư của người này khỏi rồi, tuổi thọ của người kia kéo dài rồi v.v... những cái này đều là sức mạnh chân thực. Những sức mạnh chân thực này sẽ thúc đẩy bạn có loại trợ lực này, để tùy theo duyên phận của bạn, tương ứng mà giải quyết vấn đề của bạn.

Các đồ đệ hãy nhớ, bất cứ cảm ứng nào đều phải có năng lực phán đoán chân thực. Nếu trong khi niệm Kinh, trong khi học Phật, bạn có cảm ứng rồi, hy vọng có thể dùng một loại cảm ứng chân thực để phán đoán. Thế nào là cảm ứng chân thực? Là cái chân thực không phải cái hư ảo. Ví dụ, khi niệm Kinh, nhìn thấy Quán Thế Âm Bồ Tát rồi, thực sự nhìn thấy rồi, tương ứng cảm ứng chân thực của mình đến rồi, chứng tỏ bạn niệm Kinh thực sự có hiệu quả, niệm thực sự tốt. Còn có người khi niệm Kinh, bên tai có người nói chuyện, anh ta dường như nghe thấy, lại dường như không nghe thấy, đây có phải Quán Thế Âm Bồ Tát nói không? Có thể là phải, cũng có thể là không phải, đây chính là cảm ứng không chân thực.

Trong mơ cái gì là chân thực? Cái gì là không chân thực? Trong mơ nhìn thấy tất cả các tướng, đều không được "trước tướng" (chấp vào tướng). Nhưng, nếu bạn nhìn thấy tướng Quán Thế Âm Bồ Tát có kim quang (ánh sáng vàng) lấp lánh, đó có thể là Quán Thế Âm Bồ Tát thật sự đến. Nếu bạn trong mơ nhìn thấy tượng Phật Bồ Tát, biết hình tượng này là Bồ Tát, nhưng không phát sáng, thì có khả năng không phải là Bồ Tát. Lại ví dụ, ở nhân gian nhiều diễn viên đóng vai lãnh đạo, gần như có thể lấy giả làm thật, các bạn có hiểu đạo lý trong đó không? Con người thông qua hóa trang có thể biến đổi, mà quỷ ở linh giới cũng biết biến hóa. Cho nên những thứ hư ảo này, bạn phải nhìn thấy cái chân thực của nó, rồi đi đối chiếu nó, ứng dụng trí tuệ của mình phân biệt nó, biện biệt nó, bạn mới biết là thật hay giả.

"Bình thường tâm khán thế gian" (Dùng tâm bình thường nhìn thế gian), phải dùng cái tâm vô cùng bình thường nhìn thế giới này, tất cả mọi thứ ở thế gian này đều là bình bình thường thường. Tôi đối với cái gì cũng vô sở vị (Tùy duyên/không sao cả/sao cũng được). Hôm nay tôi có cái ăn, tôi cảm ơn; hôm nay tôi không có cái ăn, tôi cũng cảm ơn, cái gì cũng cảm ơn. Người thực sự thông minh, vừa mở miệng là "Cảm ơn", "Cảm ơn" trở thành một loại ngôn ngữ, tùy thời nói ra, trở thành bức tường phòng hộ trong ý thức, đây chính là trí tuệ, đây gọi là Dùng tâm bình thường nhìn thế giới — không có gì có thể làm tôi lo lắng, làm tôi phiền lòng, bất cứ việc gì trên thế giới đều rất bình thường.

Nếu có thể xem tất cả những việc xảy ra ở nhân gian đều là bình thường, bạn sẽ không buồn, bạn sẽ không đau lòng, không bi ai. Bình thường tâm nhìn nhân gian, tâm năng an chỉ (tâm có thể an và dừng), chỉ có tâm bình thường, tâm mới có thể an định, tâm linh mới có thể dừng sự vận hành của phiền não. Bởi vì bạn xem cái gì cũng bình bình đạm đạm, đều là xảy ra tự nhiên, tâm bạn sẽ bình định (bình thản và định tĩnh), sẽ bình an, sẽ dừng lại không động. Tâm không động nữa, gọi là An chỉ. Con người trước khi làm việc đều là tâm động trước, sau đó hành động, cho nên khi một người sắp xung động, là tâm đang động, sau đó là động tác trên hành vi.

Phải học cách nhận biết những thứ không tốt, "bất bị huyễn tướng sở hoặc", chính là đừng bị những huyễn tướng, ảo giác mê hoặc. Sư phụ nói với các bạn, bề mặt của con người chính là một loại ảo giác, con người đều có tính hai mặt, sự vật cũng đều có tính hai mặt, cho nên đừng bị huyễn tướng ảo giác của nhân gian mê hoặc. Cái bạn nhìn thấy chưa chắc là chân thực, mà cái không nhìn thấy cũng chưa chắc là hư ảo, phải dựa vào ngộ tính và trí tuệ.

"Tu pháp" chính là một loại thể ngộ (nghiệm và hiểu), tu pháp là tu cái pháp nhân gian của bạn, tu pháp môn nhân gian. Pháp môn nhân gian chính là làm việc thiện, làm công đức, giúp đỡ người khác, thành toàn đại ngã, khắc chế tiểu ngã, đây đều là pháp nhân gian. Ở nhân gian phải "dữ nhân vi thiện" (thiện lương với người), phải giúp đỡ người khác, bố thí v.v... những cái này đều là đang tu pháp nhân gian. Tu pháp là thể ngộ cảm thụ và ngộ tính của chính mình, ngộ ra những đạo lý nhân gian này, đi giúp đỡ người khác, người khác cũng sẽ giúp đỡ bạn. Sau khi khai ngộ sẽ biết: à thì ra tôi niệm Kinh, Bồ Tát sẽ giúp tôi, sẽ bảo vệ tôi.

Người "tâm bị tướng chuyển", bị cảnh tượng mê hoặc, sẽ "bản mạt đảo trí" (đảo lộn gốc ngọn), tức là tâm của nhiều người sẽ xoay chuyển theo cảnh giới. Ví dụ mọi người đều đang làm việc này, thế thì tôi cũng đi làm, rõ ràng việc làm đó không phải việc tốt, bạn đi làm rồi, bạn chẳng phải là đảo lộn gốc ngọn sao? Bạn bị cái cảnh tượng mọi người đều đang làm việc này mê hoặc, bạn vứt bỏ cái lương tâm bản tính tốt nhất của mình đi, mà nhìn thấy là những thứ ảo giác trên bề mặt, hiểu không? Cho nên tâm đừng bị hoàn cảnh xoay chuyển (tâm bất tùy cảnh chuyển). Ví dụ, việc mọi người đều làm, tôi cũng không nhất định phải làm, người ta xoay chuyển thế nào tôi không chuyển, hãy nhớ đừng bị cảnh tượng trước mắt mê hoặc, ngàn vạn lần đừng đem cái giả xem thành cái thật. Phải học cách tâm không tùy cảnh chuyển, linh không tùy duyên chuyển, tức linh không tùy nghiệp chuyển.

Sư phụ nói với các bạn phải nhớ: Phải đem mười phương ba đời tất cả chư Phật, đưa vào trong tâm bạn (thực nhập tâm trung). Tâm của bạn giống như trồng hoa vậy, quanh năm nở rộ, bốn mùa như xuân trồng trong tâm bạn. Phải để Phật trong tâm, phải hợp nhất với Phật, hợp nhất với Bồ Tát, sau đó bạn chính là Phật Bồ Tát. Bạn đem hình tượng của Bồ Tát, ngôn ngữ của Bồ Tát đều để trong tâm, chứa trong đầu bạn, từ thân thể bạn, từ linh hồn bạn toàn bộ đều là Bồ Tát, bạn nói xem bạn có phải là Bồ Tát không? Đây chính là Phật pháp nói "tức thân thành Phật" (ngay thân này thành Phật).

Dạy mọi người một pháp môn Vô Niệm. Chính là bề ngoài nhìn vào đầu óc không có ý niệm, giải thích là không có Tạp niệm (Vọng tưởng), khi một người đang niệm Kinh, không có ý nghĩ tạp loạn nảy ra, các bạn nói pháp môn này có tốt không? Không rồi (Rỗng rang rồi), đây chính là diệu pháp. Pháp môn Vô Niệm, nghĩa là bạn đã không còn tạp niệm nữa, tất cả phiền não của bạn đều không phải là phiền não nữa. Ví dụ, khi một người phiền não, đừng đi nghĩ đến nó, quên nó đi, đây chính là pháp môn Vô niệm. Tất cả phiền não, đừng coi nó là phiền não, đừng đi nhìn lại nó, đừng đi nghĩ đến nó, thậm chí đừng lưu nó trong tâm bạn, điểm này rất quan trọng. Vĩnh viễn phải nhớ phiền não đến bên cạnh bạn, chính là đừng đi nhìn lại nữa, đừng đi hồi ức, người già có cái bệnh lớn nhất là luôn thích hồi ức lại những chuyện không tốt trong quá khứ. Chuyện quá khứ đừng nhìn lại; phiền não hiện tại biến thành quá khứ, hãy đem tất cả phiền não hiện tại hóa giải đi, để nó biến thành quá khứ; phiền não tương lai đừng đi nghĩ. Phải đào rỗng chính mình, phải đoạn tận toàn bộ phiền não của mình, sự thông minh của bạn mới sinh ra trí tuệ. Phải biến sự thông minh của nhân gian thành trí tuệ của Phật Bồ Tát.

Sư phụ hy vọng mọi người tinh tấn học Phật cho tốt, làm người cho tốt, ngàn vạn lần đừng ghi nhớ phiền não trong lòng, ngàn vạn lần đừng ghi nhớ chuyện quá khứ trong lòng. Phải học cách buông bỏ ngay tại đây (đương hạ phóng hạ), tất cả tùy duyên.

21. Học Quán Thế Âm Bồ Tát nghe tiếng cứu khổ, hoằng pháp cứu độ chúng sinh là pháp môn không hai

+

Chúng ta mỗi ngày đều niệm thánh hiệu của Quán Thế Âm Bồ Tát, thánh hiệu này nên niệm như thế nào? Xưng hiệu đầy đủ thực sự phải niệm thế này: “Nam mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quảng Đại Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ Tát”. Người bình thường thì niệm: “Nam mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát” hoặc “Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát”.

Khi niệm thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, trước tiên, hãy bắt đầu từ việc niệm Kinh Phật. Nghĩa là không thể chỉ đơn thuần niệm thánh hiệu, mà cần phải niệm Kinh Phật trước, sau đó mới xưng niệm thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát. Sư phụ bây giờ dạy các bạn một điểm rất quan trọng, bởi vì bình thường niệm Kinh cộng với xưng niệm thánh hiệu, thực tế sẽ có sự tương hỗ cảm ứng rất lớn.

Cho nên khi các bạn gặp tai nạn, không kịp niệm kinh lớn, chỉ niệm thánh hiệu cũng được. Phải từ trong nội tâm phát ra: “Nam mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, cầu xin Quán Thế Âm Bồ Tát cứu con, cứu con…”. Nếu thực sự cấp bách, thì gọi trực tiếp “Quán Thế Âm Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát…”. Bởi vì bi tâm của Quán Thế Âm Bồ Tát rất sâu sắc, tâm cứu người của Quán Thế Âm Bồ Tát rất khẩn thiết, các bạn chỉ cần niệm thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát lập tức sẽ có cảm ứng. Các bạn nhất định phải nhớ, chỉ cần niệm “Quán Thế Âm Bồ Tát cứu con”, Bồ Tát sẽ đến cứu bạn, bởi vì Quán Thế Âm Bồ Tát là nghe tiếng cứu khổ (văn thanh cứu khổ), Quán Thế Âm Bồ Tát là có cầu ắt ứng (hữu cầu tất ứng). Cho nên, do Quán Thế Âm Bồ Tát có túc duyên (duyên kiếp trước) sâu dày với chúng sinh khổ nạn, có lẽ trong những kiếp trước bạn đã từng bái lạy Quán Thế Âm Bồ Tát, từng cầu xin Quán Thế Âm Bồ Tát. Duyên phận của các bạn và Quán Thế Âm Bồ Tát đã sớm liên kết với nhau, do đó các bạn cầu một cái là sẽ linh nghiệm.

Phật chi từ bi, bất cập Quán Âm (Lòng từ bi của Phật, không bằng Quán Âm - ý nói về sự gần gũi, cứu khổ thực tế). Bởi vì Quán Thế Âm Bồ Tát là người thay Phật rủ lòng từ bi cứu khổ, Quán Thế Âm Bồ Tát là đại diện cho đại từ đại bi cứu độ chúng sinh trong chư Phật Bồ Tát. Vì vậy khi thực sự gặp khó khăn, bạn cầu vị Bồ Tát nào cũng không bằng trước tiên cầu Quán Thế Âm Bồ Tát, vì Quán Thế Âm Bồ Tát là đại diện của cứu khổ cứu nạn.

Khi Thích Ca Mâu Ni Phật còn tại thế, Ngài cũng bảo chúng sinh cầu Quán Thế Âm Bồ Tát. Thích Ca Mâu Ni Phật nói: Quán Thế Âm Bồ Tát, trong vô lượng kiếp quá khứ, đã sớm cứu cánh thành Phật. Quán Thế Âm Bồ Tát thành Phật trước cả Thích Ca Mâu Ni Phật. Do đại bi nguyện lực của Quán Thế Âm Bồ Tát, vì để thành tựu đạo nghiệp cho tất cả chúng sinh, Ngài vẫn thị hiện làm Bồ Tát. Tâm từ bi của Quán Thế Âm Bồ Tát là đại diện và tấm gương của chư Phật Bồ Tát. Mỗi vị Bồ Tát thành đạo đều có nguyện lực khác nhau, ví dụ: Đại Bi – Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Trí – Văn Thù Bồ Tát, Đại Hạnh – Phổ Hiền Bồ Tát, Đại Nguyện – Địa Tạng Vương Bồ Tát. Mà nguyện lực của mỗi vị Bồ Tát khác nhau, có đặc điểm riêng, ngàn vạn lần không được đem các Bồ Tát so sánh với nhau, nhớ kỹ! Các Bồ Tát đều có trí tuệ viên dung, chỉ là nguyện lực khác nhau mà thôi. Thích Ca Mâu Ni Phật khi còn tại thế, cũng bảo chúng sinh khổ nạn niệm Quán Âm, huống hồ là chúng ta?

Tiếp theo Sư phụ giảng cho mọi người về kiến địa tương đẳng (kiến thức và địa vị ngang nhau). Dùng Bạch thoại Phật pháp (Phật pháp đời thường) hiện nay để nói, chính là kiến thức của bạn và kiến thức của người đó là ngang nhau. Ví dụ, bạn từng du học ở Mỹ, người đó từng du học ở Anh, đó gọi là kiến địa tương đẳng. Nghĩa là nền tảng học Phật của chúng ta là ngang nhau, chỉ khi ngang nhau, bạn mới có thể truyền Phật pháp tốt đẹp như vậy cho người đó. Trước kia là Phật truyền Phật, Bồ Tát không phải như các bạn bây giờ lên lớp học, mà là "đơn truyền độc thụ" (truyền riêng dạy riêng).

Hiện nay là thời mạt pháp, nếu người này truyền cho người kia, bắt buộc kiến địa của người đó và kiến địa của bạn phải tương đồng, tức là trình độ văn hóa của bạn và trình độ văn hóa của họ là giống nhau, cũng tức là mức độ tin Phật của bạn và mức độ tin Phật của họ là giống nhau, cảnh giới của bạn và cảnh giới của họ giống nhau, đó gọi là kiến địa tương đẳng. Chỉ có kiến địa tương đẳng mới có thể truyền thừa, chúng ta hôm nay cứu người cũng như vậy.

Nếu đạo lý bạn hiểu nhiều, nhưng không phải là chân lý thực sự của Phật Bồ Tát, mà là đạo lý nhân gian, thì giống như cái tâm này của bạn đã đổ đầy nước, đổ đầy nước rồi thì không thể thêm nước vào nữa, tức là bạn không thể tiếp nhận chân lý nhiều hơn, tốt hơn nữa. Ví dụ mùa đông muốn uống nước nóng, mà trong ly có rất nhiều nước lạnh, thêm chút nước nóng vào, nước trong ly vẫn là lạnh, phải đổ nước lạnh đi, sau đó thêm nước vào mới là nước nóng. Các bạn phải "đào" cho sạch sẽ trong lòng, không được giữ lại những thứ đã học qua, không được có tư tưởng "pháp môn này học một chút, pháp môn kia học một chút" trong lòng, nếu không các bạn làm sao tiếp nhận pháp môn tốt như vậy của Sư phụ? Các bạn đều biết, chỉ cần trong ly có nước lạnh, thêm nước nóng vào, nước trong ly sẽ biến thành nước ấm, chứ không phải nước nóng. Chỉ khi một chút nước lạnh cũng không có, nước nóng đổ vào mới là nước nóng thực sự.

Học chỗ đông một chút, học chỗ tây một chút, thực ra là đang dung hợp quán thông những thứ mà chính mình cũng không biết là có đúng hay không. Tại sao tu tâm cần phải có một cảnh giới? Ví dụ Sư phụ truyền dạy cho các bạn là nước nóng, mỗi ngày tưới tẩm lên thân các bạn, mà các bạn trước đó đã học rất nhiều pháp môn, nếu các bạn không làm sạch những gì đã học trước đó, các bạn sẽ mãi mãi không uống được nước nóng, thứ uống được mãi mãi chỉ là nước ấm. Đây chính là dùng bạch thoại (lời nói đời thường) giải thích Phật pháp.

Vậy làm sao để đạt được pháp môn này? Hãy nhớ phải nhất môn thâm nhập (đi sâu vào một pháp môn). Nếu bản thân bạn ý kiến rất nhiều, tâm bạn đã rất tạp loạn rồi, tiếp xúc đủ loại người và việc, còn có thị phi phân tranh ngoài xã hội. Thì những thứ thần thánh, tốt đẹp sẽ không thể đi vào trong tâm bạn, không thể cắm rễ trong tâm bạn. Bởi vì những thứ thần thánh không được có mảy may tạp loạn dơ bẩn bên trong, tức là trong tâm bạn, không được có mảy may những pháp môn không tương xứng, những thứ không phù hợp mà bạn đã từng học, đây chính là cảnh giới. Cho nên phải nhất môn thâm nhập, một người thời gian cả đời chỉ có thể chuyên học một môn, học nhiều chưa chắc đã có thể tinh tấn, đồng thời không thể đi sâu, tức là có khả năng không thành công.

Pháp môn của Sư phụ sở dĩ được người kính ngưỡng, là vì pháp môn của Sư phụ là pháp môn tốt nhất cho bá tánh, là pháp môn tốt nhất, thuận tiện nhất cho cư sĩ tại gia tu học. Con đường hoằng pháp này chúng ta phải đi đến cùng, cứu người phải cứu đến cùng. Chỉ cần bạn thường xuyên quan tâm người khác, người khác sẽ quan tâm bạn; bạn thường xuyên từ bi với người khác, sẽ có Bồ Tát từ bi với bạn.

Nói cho các bạn một đạo lý, quan tâm người khác chính là quan tâm chính mình, từ bi với người khác chính là từ bi với chính mình. Con người chúng ta hồ đồ như vậy đấy, mãi mãi không biết đối tốt với người khác, chỉ biết đối tốt với mình. Đối tốt với mình, thực tế chính là đối không tốt với người khác, đây chính là phép biện chứng duy vật. Phải hiểu rằng sau khi bạn cho đi, cái nhận lại được là vinh quang vô thượng, là niềm vui vô thượng, là chân lý của nhân sinh. Bố thí chính là chân lý, từ bi chính là chân lý. Còn người không biết bố thí và từ bi, vĩnh viễn không đạt được pháp hỷ. Như người không bao giờ khen ngợi người khác, người khác cũng sẽ không khen ngợi họ, họ sẽ không có cơ hội được vui vẻ.

Bình đẳng rồi mới có thể mặc phó (trao gửi âm thầm), nếu không sẽ là vọng truyền. Thế nào là vọng truyền? Hôm nay bạn không tin Phật Bồ Tát, tôi giảng cho bạn nghe mãi, giảng đến cuối cùng bạn vẫn không tin, tôi là truyền công cốc (bạch truyền), đó gọi là vọng truyền. Các đệ tử của Thích Ca Mâu Ni Phật năm xưa, đi theo Thích Ca Mâu Ni Phật học Phật tu tâm, trước tiên là tin tưởng Phật Tổ, Phật Tổ mới có thể truyền pháp môn cho họ. Ngày nay, các bạn đi theo Sư phụ học Phật, là vì tin tưởng Sư phụ, tin tưởng pháp môn của Sư phụ, tin tưởng Quán Thế Âm Bồ Tát, giữa chúng ta cũng là bình đẳng, bởi vì các bạn có ngộ tính, kiếp trước có tu, Sư phụ mới có thể truyền thụ pháp môn cho các bạn. Nếu trong số các bạn có một người không tin, thì tôi chính là vọng truyền.

Hôm nay giảng đến đây, lần sau bàn về Bình Đẳng và Diệu Pháp.


22. Diệu pháp niệm Phật là “Thành”, tu dưỡng ý niệm là “Thuần”

+

Tiếp theo giảng cho mọi người, truyền pháp cần bình đẳng. Cái bình đẳng này là tôi truyền cho bạn, bạn truyền cho người khác, nghĩa là giữa người với người trong vấn đề truyền pháp là tuyệt đối bình đẳng, tín ngưỡng truyền pháp, khái niệm cũng là bình đẳng. Nhưng nếu một người ngay cả Bồ Tát cũng không tin, bạn bình đẳng với họ thế nào đây? Bình đẳng là nói tố chất của bạn và tố chất của tôi là bình đẳng, khả năng lý giải của bạn và khả năng lý giải của tôi cũng là bình đẳng, khái niệm của bạn và khái niệm của tôi là bình đẳng, điều bạn tin tưởng chính là điều tôi tin tưởng, niềm tin, tín ngưỡng, khái niệm là bình đẳng, bạn mới có thể giảng pháp cho họ. Khi đã bình đẳng rồi, có một câu gọi là “Mặc phó” (âm thầm trao gửi), chính là âm thầm bỏ công sức, cứu người cần âm thầm bỏ công sức, cũng tức là âm thầm trao đi chân tình chân ý của bạn, đó mới gọi là truyền pháp bình đẳng thực sự.

Sau khi đạt được Phật pháp, mới có thể nói đến cảnh giới cá nhân của bạn. Cảnh giới của bạn bắt buộc phải dựa vào sau khi học Phật niệm kinh mới có thể nâng cao, sau khi nâng cao cảnh giới, mới có thể thoát ly phiền não. Nếu mỗi ngày bạn đều nghĩ đến phiền não, trong lòng bạn sẽ tràn ngập phiền não, bởi vì phiền não đều là do tự mình nghĩ ra, rất nhiều người khi chưa có phiền não đã bắt đầu nghĩ đến phiền não rồi. Bạn ngày ngày nghĩ phiền não, phiền não sẽ nhớ đến bạn, đến tìm bạn. Sau khi trong lòng tràn ngập phiền não, con người sẽ không thể thanh tịnh. Thử nghĩ xem, nếu người không thanh tịnh, làm sao truyền pháp? Bình đẳng là kiến địa bình đẳng, chính là kiến thức bình đẳng, kiến giải kiến thức của mọi người đều bình đẳng, tức là tâm và tâm là bình đẳng. Chỉ khi tâm của bạn và tâm người kia bình đẳng, bạn mới có thể truyền pháp, mới có thể tiếp nhận pháp.

Trong nhân quả tích lũy từ kiếp trước, nghiệp chướng trên người đã tạo thành rồi, chỉ cần có người châm lửa là sẽ nổ. Nếu ví nghiệp chướng như thuốc súng, vì trên người đều là nghiệp chướng, hơn nữa đã tích tụ một lượng lớn các nguyên tố có hại trong cơ thể, bất kỳ ngọn lửa nào, nghiệp chướng cũng sẽ bùng phát. Nếu trên người bạn đều là những nguyên tố tốt, sạch sẽ, thì có châm lửa cật lực cũng không cháy được. Giống như, bạn ngày nào cũng nói phát tài, mà bản thân không có những nguyên tố cơ bản để phát tài, thì không phát tài được. Nếu trên người bạn đều là những nguyên tố không tốt, người ta vừa nói bạn không tốt, bạn sẽ thực sự trở nên không tốt. Cho nên, từ xưa đến nay nói cái tốt thì không linh, nói cái không tốt thì lại linh.

Tu pháp bình đẳng chính là tu dưỡng ý niệm. Khi ý niệm của một người đạt đến trình độ nhất định, sẽ sinh ra một loại nguyên tố, đó chính là tu dưỡng. Cảnh giới càng cao, tu dưỡng càng cao. Những người khạc nhổ bừa bãi, lấy trộm của công, các bạn nói xem họ có tu dưỡng cao không? Tu dưỡng của họ rất thấp, kiến địa cũng rất thấp, vì cảnh giới không tới, nên họ cho rằng làm những việc này là không sao cả. Người có kiến địa như vậy, trong tâm cũng sẽ sinh ra một loại nguyên tố cơ bản, đó là rác rưởi.

Sư phụ bây giờ giảng cho mọi người diệu pháp niệm Phật. Tại sao cùng là niệm Phật, có người niệm thì linh, có người niệm lại không linh? Bởi vì trong đó có một diệu pháp.

Thứ nhất, pháp thế gian và xuất thế gian, không gì không lấy CHÂN THÀNH làm gốc (Thành tắc tiêu nghiệt chướng, tăng trưởng thiện căn). Diệu pháp của tu tâm niệm Kinh nằm ở chữ Thành, nói đến cùng là một chữ “Thành”. Một người không có thành tâm làm sao niệm Kinh, tu tâm? Thành thì tiêu nghiệp chướng, một người rất thành tâm niệm Kinh, vừa niệm Kinh là có thể tiêu rất nhiều nghiệp chướng. Khi niệm Kinh phải dùng cái tâm chân thành nhất để niệm, có thể tăng trưởng thiện căn của bạn, gia tăng trí tuệ của bạn.

Thứ hai, Tức lự vong duyên, nhất tâm tịnh niệm. Chính là khi niệm Kinh, bắt buộc phải dập tắt toàn bộ các loại lo âu và cố lự (băn khoăn) của bản thân, quên đi các loại duyên phận, bất kể người này có quan hệ gì với bạn, tất cả duyên phận, phải quên hết. Như vậy mới có thể đạt đến thành tâm tịnh niệm. Bởi vì khi bạn dập tắt lo âu quên đi duyên phận chìm đắm trong Phật pháp, bạn là nhất tâm tịnh niệm, tâm bạn chỉ có một ý niệm, là một ý niệm rất sạch sẽ, gọi là nhất tâm tịnh niệm. Sau đó giống như nghe thấy thánh âm, thân linh viên âm (tự mình nghe âm thanh viên mãn), giống như nghe thấy âm thanh của tự nhiên (thiên lại chi âm), giống như nghe thấy giọng nói của Quán Thế Âm Bồ Tát, nhìn thấy khuôn mặt của Quán Thế Âm Bồ Tát đang nói chuyện với bạn, thực ra đó chính là đích thân lắng nghe.

Thứ ba, Tiềm thông Phật trí, ám hợp diệu đạo. Chính là bạn đã tiềm nhập thông đạt, đến được trí tuệ của Phật Bồ Tát, và tìm thấy con đường này, niệm Kinh niệm đến mức hợp nhất với cảnh giới của Bồ Tát. Lúc này bạn mới có thể học được trí tuệ của Bồ Tát. Tu tâm tu đến cảnh giới bình đẳng với Bồ Tát, bạn mới có thể tiềm thông Phật trí, ám hợp diệu đạo. Chữ “ám hợp” này nghĩa là vừa vặn, trùng khớp.

Thứ tư, Thành đáo cực xứ, hoát nhiên quán thông. Nghĩa là khi bạn thành tâm niệm Kinh, trong đầu hoàn toàn tin tưởng Phật Bồ Tát, không có bất kỳ tạp niệm nào, đột nhiên cái gì cũng minh bạch, cái gì cũng thông suốt. Thực ra học Phật chính là coi trọng một chữ NGỘ.

Lấy Thành làm gốc, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng thiện căn; Tức lự vong duyên, nhất tâm tịnh niệm; Tiềm thông Phật trí, ám hợp diệu đạo; Thành đáo cực xứ, hoát nhiên quán thông. Đây chính là diệu pháp niệm kinh vậy.

Chính nhân hành tà pháp, tà pháp diệc chính. Người này là chính, nếu làm những việc của pháp môn có chút thiên lệch, nhưng những điều anh ta nói ra cũng là chính. Còn Tà nhân hành chính pháp, chính pháp diệc tà. Phật pháp có phải là chính không? Tại sao lại có tà đạo xuất hiện? Tại sao lại có tà ma xuất hiện? Có hiểu không? Chính đạo do người tà đi làm, sẽ biến thành tà đạo. Vĩnh viễn phải nhớ, chúng ta trong khi tu pháp nhất định phải hành cho chính, khi con người bạn không chính rồi, cho dù pháp bạn học là chính, nói ra cũng sẽ là tà. Ví dụ người tà học chính pháp, chính pháp cũng thành tà pháp, bởi vì tâm là tà, là tà tư thuyết pháp. Tư duy của hắn là lấy những thứ của Bồ Tát để đả kích người khác, hắn có thể lấy từng giới luật của Bồ Tát để đả kích một người nào đó, điều này vốn dĩ đã lệch khỏi Phật pháp. Học Phật pháp không nên đi nói người khác không tốt, càng không nên lấy giới luật của Bồ Tát để áp đặt người này, áp đặt người kia. Khi nội tâm bạn đen tối, tuy bạn thân ở nơi ánh sáng, nhưng nội tâm bạn vẫn là đen tối; khi nội tâm bạn quang minh, tuy bạn thân ở nơi bóng tối, nhưng nội tâm bạn vẫn là quang minh.

Chưa từng sinh ta, ai là ta? Khi ta chưa sinh ra, ai là ta? Khi sinh ta ra, ta là ai? Đợi khi sinh bạn ra rồi, bạn lại là ai? Bạn biết kiếp trước của bạn là ai? Kiếp trước nữa của bạn là ai? Lớn lên thành người, mới là ta? Lớn lên thành người chính là ta rồi sao? Là ta ư? Ta là ai? Vẫn không hiểu mình là ai? Đến cuối cùng, nhắm mắt mơ màng, lại là ai? Sắp chết rồi, hai mắt sắp nhắm lại, khi cái gì cũng không nhìn rõ nữa, bạn lại là ai? Con người từ khi sinh ra đến khi chết đi, mơ mơ màng màng sống cả một đời, đời người kết thúc nhanh như vậy đấy, thử nghĩ xem đây là cảm giác gì? Cho nên nói chính mình cũng không biết mình là ai. Con người đến thế gian này là khách qua đường vội vã, đến cũng vội vàng, đi cũng vội vàng, phải đi tìm kiếm thứ chân thực.

Học Phật phải học cách trầm mặc, trầm mặc là câu trả lời tốt nhất cho sự phỉ báng. Khi người ta phỉ báng bạn, câu trả lời tốt nhất của bạn chính là trầm mặc (im lặng). Học Bồ Tát phải học cách trầm mặc, không nói chuyện. Nhưng rất nhiều người chính là không thể trầm mặc, cho dù là người học Phật, cái trầm mặc cũng là giả vờ. Sự trầm mặc của người học Phật là phải hóa giải ác duyên trong lòng, sự trầm mặc của người học Phật là giống như Bồ Tát, đại từ đại bi, đại lượng bao dung (đại đỗ năng dung), tùy duyên cứu độ. Các bạn xem Bồ Tát có trầm mặc không? Bồ Tát nhìn chúng ta rõ ràng rành mạch, biết hành vi cử chỉ của mỗi người chúng ta, tuy Bồ Tát không nói, Bồ Tát rất trầm mặc, nhưng rất uy nghiêm. Cho nên con người chúng ta phải làm sao cho có uy nghiêm, đừng sợ người ta nói gì, tự mình có uy nghiêm, tự mình phải trầm mặc.

Có một câu gọi là “Trầm mặc là vàng”, nói càng nhiều thất bại càng lớn. Rất nhiều người thất bại trong đời, chính là thất bại ở lời nói. Rất nhiều người không thể trầm mặc, làm việc cứ thích nói, bất kể làm việc tốt hay việc xấu đều thích nói. Phải nhớ học Phật tu tâm làm công đức, đều phải làm ở trong tâm, mọi người sẽ cảm ơn bạn.

Phải học sự trầm mặc của Phật Bồ Tát, rèn luyện định lực của mình, có thể khiến bạn trong khi học Phật ở trong loạn mà không động, thuận nghịch cảnh bất dật (cảnh thuận hay nghịch đều không buông thả/xao động). Nhưng chúng ta rất khó làm được. Phải rèn luyện định lực của mình, phải định được chính mình, có thể khiến bạn trong khi học Phật ở trong loạn mà không động, phải học cách như như bất động, tâm không tùy cảnh chuyển. Thuận nghịch cảnh bất dật, chính là bất luận là thuận cảnh hay nghịch cảnh tâm đều rất bình ổn, đây là một trong những nền tảng của học Phật.


23. Nắm vững Pháp chấp, nhất môn thâm nhập

+

Mọi người phải nhớ tu học Phật pháp, không được Tham, không được Sân, không được Si. Nếu có người bảo bạn, có thể giúp bạn cầu tài, lúc này bạn phải cẩn thận, phải dùng tâm nghiêm túc suy nghĩ xem có chính hay không. Cầu tài, Bồ Tát sẽ không giúp chúng ta, tài là do bạn bố thí mà có, là do bạn kiếp trước tu mà được. Chúng ta tu học Phật pháp cầu là pháp môn chân chính, đạo chân chính, là để con người thân thể khỏe mạnh, tâm linh khỏe mạnh. Chỉ có thân thể khỏe rồi, tư duy khỏe mạnh, mới có thể tu tâm niệm kinh học Phật.

Có người nói, cầu thân thể khỏe, chẳng phải cũng là có chỗ cầu sao? Các bạn nói đúng không? Thực ra, thân thể là cha mẹ ban cho, bản thân thân thể này, ở nhân gian sẽ gặp rất nhiều nghiệp chướng, rất nhiều tai nạn, chúng ta muốn có một thân thể tốt, đây cũng là đang tận hiếu; hơn nữa, ở nhân gian chịu nghiệp báo, bất kể thiện nghiệp, ác nghiệp, chúng ta muốn tiêu tai cát tường, cũng cần phải có thân thể tốt, đây là chính cầu. Còn thiên cầu (cầu lệch) là cầu tài, cầu danh lợi... Nếu bạn cầu tiền tài, cầu làm quan, đây chính là lệch. Bồ Tát sẽ không hiển linh giúp bạn. Nếu bạn cầu thân thể khỏe, công việc tốt, học tập tốt, gia đình tốt... đây gọi là chính cầu, Bồ Tát sẽ từ bi đến giúp chúng ta.

Hy vọng mọi người phải nhớ, học Phật nhất định không được đi lệch, nếu học Phật đi lệch rồi, gieo nhân gì, sẽ chịu quả báo nấy. Người học Phật chúng ta, mỗi lời nói hành động đều phải chịu trách nhiệm với chính mình.

Sư phụ hôm nay giảng cho mọi người về “Pháp chấp”. Nếu thấy một pháp môn liền thích một pháp môn, người này không học tốt Phật pháp được. Pháp chấp chính là tôi nhận định pháp môn này rồi, tôi phải kiên trì học tiếp. Pháp chấp giống như quy tắc (pháp tắc) chúng ta học Phật vậy, bạn chỉ khi hiểu nguyên tắc của pháp này, bạn mới có thể nhận định pháp môn này. Khi bạn nhìn thấy một pháp môn, liền thích một pháp môn, bạn sẽ sinh ra phiền não, có hiểu không? Ví dụ, bạn trước đây tu pháp môn của Sư phụ, đột nhiên biết được pháp môn khác, cảm thấy pháp môn này rất tốt, sau đó không cần pháp môn của Sư phụ nữa, lúc này phiền não của bạn sẽ sinh ra. Bởi vì bạn sẽ nghĩ, cái tu học trước kia thì làm sao? Có cần tiếp tục học không? Cái hiện tại phải tu thế nào? Cho nên phải nhớ học pháp phải tìm được một môn, phải nhất môn thâm nhập, tốt nhất là nhất môn tiến nhập, đừng nhìn trái ngó phải.

Nhất môn thâm nhập, cũng gọi là Nhất pháp thông. Thế nào là Nhất pháp thông? Chính là bạn học bất kỳ một pháp môn nào nó đều thông, bất kỳ một pháp môn nào đều là khiến người ta có thể tinh tấn, khiến người ta làm việc tốt, làm việc thiện. Tìm được pháp môn thích hợp nhất với bạn, bạn sẽ càng học càng vui càng thụ ích, pháp môn này chính là pháp môn khiến bạn thông Phật. Nhưng rất nhiều người học pháp môn, rõ ràng học không vui vẻ, lại không thông, mà vẫn rất chấp trước ở trong đó, thực tế pháp môn này bạn đã học lệch rồi.

Rất nhiều người đều đã học pháp môn khác, tại sao vừa gặp pháp môn của Sư phụ liền cảm thấy rất vui? Bởi vì tìm được một cái Pháp thích hợp nhất với mình. Tìm được pháp thích hợp nhất với mình, thì phải làm được Nhất pháp thông. Sau khi Nhất pháp thông, thì bằng với Vạn pháp thông. Ví dụ, khi Sư phụ giảng bài cho các bạn, không chỉ giảng riêng pháp môn này của Sư phụ, Sư phụ cũng sẽ giảng đến tinh hoa của các pháp môn khác. Bạn từ pháp môn này cứ tinh tấn tu tiếp, bạn sẽ vạn pháp đều thông, bạn sẽ không đi lệch, bởi vì bạn biết tinh hoa của pháp môn Sư phụ, lại có thể hiểu lợi ích của các pháp môn khác để bổ trợ.

Nếu pháp môn này vô cùng thích hợp với bạn, bạn hãy tinh tấn tu học cho tốt, một môn tinh tấn, bạn sẽ có thể vạn pháp thông. Ví dụ cha mẹ dạy con, từ nhỏ phải biết lễ phép, không được chửi người, không được lục lọi đồ người khác... cha mẹ dạy con những điều tốt này, con học vào rồi, cả đời bất luận đi đến đâu cũng đều thụ dụng, sẽ không tùy tiện tranh cãi với người khác... các bạn nói xem có phải là một pháp thông chính là vạn pháp thông không. Nhưng rất nhiều người, từ nhỏ cha mẹ ly dị, gia đình bất hòa..., đứa trẻ lớn lên trong môi trường này rất dễ xảy ra sai sót, rất dễ chơi với những đứa trẻ không tốt, rồi đi làm việc xấu, đứa trẻ này dễ đi lệch đường. Ví dụ này nói rằng phải từ một lý thông, đến một pháp thông. Cho nên phải tinh tấn tìm được một pháp môn thích hợp nhất với mình, cứ tu mãi, bạn mới có thể có thành tựu.

Khi bạn Nhất pháp thông rồi, sẽ đạt được Vạn pháp thông. Nếu bạn Vạn pháp thông rồi, thực tế chính là đã kết duyên với các pháp môn khác. Hôm nay Sư phụ và tất cả các pháp môn đều đã kết một cái duyên. Có thể hiểu như thế này: Tôi không nhất định tu các pháp môn khác, nhưng tôi có thể kết duyên với các pháp môn khác, họ đều là đến cứu độ chúng sinh, đều là bác sĩ cứu người, tôi không nhất định khám những bác sĩ này, nhưng, tất cả bác sĩ đều được tôi tôn trọng.

Phải tu đến Tương ứng pháp. Tương ứng pháp chính là thích ứng một cách tương đối với tất cả các pháp. Ví dụ trước khi tu pháp môn của Sư phụ, bạn đã học một chút pháp môn khác, bạn tương đối tương ứng rồi, thích ứng một số pháp môn cơ bản, điều đó không sao cả. Thế nào là cơ bản? Ví dụ trước khi bạn biết Sư phụ, bạn không thể cái gì cũng không hiểu, cái gì cũng không biết, không thể mãi đến hôm nay mới bắt đầu học thế nào là Bồ Tát, thế nào là Phật, thế nào là thiện duyên, thế nào là ác duyên. Bạn ngay cả những Phật lý cơ bản này cũng không hiểu, bạn làm sao theo Sư phụ học cái Nhất pháp thông này? Thực ra, các bạn trước khi theo Sư phụ học pháp môn này, đã có nền tảng rồi, đã biết lạy Phật Bồ Tát thế nào, biết Phật Bồ Tát cứu độ chúng sinh trên thế giới này như thế nào.

Nhưng, các bạn đừng đào quá sâu vào các pháp môn khác, hiểu một chút pháp môn khác, học một chút, tìm hiểu một chút để bổ trợ bản thân là được rồi. Nếu Sư phụ giảng pháp môn cho các bạn, mà ngay cả một chút giáo quy giáo lý của pháp môn khác cũng không hiểu, thì làm sao cứu được nhiều chúng sinh hữu duyên hơn? Sư phụ thường giảng cho người của tôn giáo khác biết tôn giáo của chúng ta và tôn giáo khác có gì khác biệt và bất đồng, và tại sao đạo lý cơ bản của tôn giáo chúng ta lại giống nhau. Thực ra tôn giáo giai lý tương đồng (lý lẽ của các tôn giáo đều tương đồng).

Mọi người phải biết dùng Nhất pháp thông để tu Vạn pháp thông. Nếu bạn rất tinh thông một pháp môn, các pháp môn khác bạn sẽ từ từ hiểu rõ. Sau khi Nhất pháp thông, sẽ có một vị Bồ Tát giáng lâm lên người bạn, tức là sẽ có riêng một vị Bồ Tát giáng lâm lên người bạn phù hộ bạn, chỉ đạo bạn. Nếu bạn học Phật pháp, pháp môn bái lạy quá nhiều, quá tạp, có thể không có Bồ Tát chuyên biệt đến gia trì bạn, bạn sẽ không thể nhất môn thâm nhập, sẽ rất khó viên thành Phật đạo. Các bạn bây giờ đi theo Sư phụ tu học Phật pháp, nếu có việc gì sẽ trực tiếp tìm Sư phụ, Sư phụ sẽ giúp các bạn. Nếu các bạn cái này học một tí, cái kia học một tí, khi bạn có vấn đề, đi tìm ai giúp đây? Phải hiểu đạo lý trong đó.

Nếu bạn tu học một môn Phật pháp, rất tinh tấn, bạn sẽ có Bồ Tát giáng lâm lên người bạn phù hộ bạn, cần gì phải đi khắp nơi cầu xin? Phật ở ngay trên người bạn. Khi bạn Nhất pháp thông rồi, trên thân thể là hư không, trên người bạn vừa Không, tự nhiên Pháp sẽ thông, Bồ Tát sẽ giáng lâm trên người bạn. Rất nhiều thời gian khi bạn đang hành Bồ Tát đạo, bạn chính là Bồ Tát.

Giống như, trong kho chất đầy đồ linh tinh, sẽ không thông, nếu dọn sạch đồ linh tinh đi, thì thông rồi. Bạn bây giờ pháp môn nào cũng học, bạn nói xem có Không được không? Làm sao mà Thông được? Không Không thì không Thông, không Thông thì không Không. Giống như cơ thể vậy, nếu trên cơ thể có nhiều bệnh, kinh lạc sẽ không thông. Nếu tư tưởng của bạn cả ngày u uất, phiền não, đau khổ, bạn sẽ bị bệnh. Nếu trong cơ thể bạn, trong đầu bạn chứa chấp đủ loại tham sân si, tạp niệm, không thể xả (buông) không, làm sao bạn nghĩ thông được? Chỉ khi bạn loại bỏ tất cả mọi thứ, Không rồi, mới có thể Thông. Cơ thể bạn Không rồi, Phật Bồ Tát sẽ giáng lâm trên người bạn.

Ví dụ, tại sao Quan Âm Đường có nhiều Bồ Tát đến, vì Quan Âm Đường rất Không, không có đồ đạc tạp loạn, người đến không có tư tưởng tạp loạn, rất thuần khiết, như vậy Bồ Tát sẽ đến. Nếu trên người các bạn không có tạp niệm gì, không có thứ gì dơ bẩn, Bồ Tát sẽ giáng lâm trên người các bạn. Nếu tư tưởng các bạn cả ngày là u uất, đau khổ, phiền não vọng niệm hoặc nghĩ chuyện không tốt, các bạn nói xem Bồ Tát có đến không? Cho nên nhất định phải Không.

Không hay không Không, Thông hay không Thông, đều biểu hiện trên mặt các bạn. Hôm nay người này mặt đầy mây mù sầu não, bạn nói xem người đó có Không được không? Nếu bạn tu tất cả các pháp môn, cả đời này cũng tu không hết, bởi vì mỗi pháp môn đều thâm sâu vô cùng, làm sao bạn tu hết được? Pháp môn Sư phụ dạy các bạn bây giờ là "nhất thông bách thông", Sư phụ cố gắng dạy hết tinh hoa của tất cả các pháp môn cho các bạn, sau đó chỉ cho các bạn một con đường tốt nhất để các bạn tu. Sư phụ đối với tất cả các pháp môn, chưa bao giờ bình luận gì cả. Sư phụ là lấy cái sở trường của các pháp môn, bù đắp cái sở đoản của mình. Cái "đoản" này, là trong quá trình tu hành, trong quá trình giáo dục các bạn, trong quá trình cứu người, trên con đường tu hành, nếu các bạn trên người có ác nghiệp, bệnh đau, tai kiếp về gia đình, sự nghiệp... giúp các bạn phải tiêu trừ thế nào, hóa giải thế nào. Đây chính là chỗ vi diệu nhất trong pháp môn của Sư phụ.


24. Nắm bắt đương hạ (hiện tại), Phật tâm hoằng pháp, diệu pháp độ người

+

Tiếp theo Sư phụ giảng cho mọi người về "Đương hạ". Nhiều đại pháp sư đều thích nói một câu gọi là "đương hạ", đương hạ chính là lập tức, ngay, chính là phải lập tức bắt đầu tu tâm, lập tức bắt đầu học Phật, ngay lập tức làm công đức, dốc hết sức mình để tu sửa tất cả các ác nghiệp đã tạo trong quá khứ, bao gồm cả nghiệp chướng kiếp trước.

Lục Tổ từng nói: Quá khứ bất khả đắc, hiện tại bất khả đắc, vị lai bất khả đắc, phải nắm bắt đương hạ. Nghĩa là những thứ đã qua, tất cả đều không thể đạt được (không nắm giữ được). Chúng ta quá khứ có lúc rất vui vẻ không? Có. Chúng ta quá khứ có lúc trẻ đẹp, vinh quang, cầm quyền, giàu có không? Có. Nhưng những cái đó đều đã qua rồi, không còn nữa, đều bất khả đắc rồi. Nếu cứ luôn nghĩ đến người và việc trong quá khứ, người này đang thụt lùi, cho nên bất luận làm việc gì đều phải nhìn về phía trước. Vị lai bất khả đắc, bởi vì tương lai còn chưa đến, bạn làm sao nắm bắt được? Bạn ngay cả hiện tại còn không nắm bắt được, còn muốn đạt được tương lai? Quá khứ bất khả đắc, vị lai bất khả đắc, phải nắm bắt đương hạ, chính là phải làm những việc có ý nghĩa cần làm ngay bây giờ. Sư phụ dẫn dắt các bạn làm rất nhiều việc có ý nghĩa, như phóng sinh, hứa nguyện, niệm Kinh, mở pháp hội cứu độ chúng sinh... các bạn nói xem có ý nghĩa không?

Chúng ta học Phật học Pháp, phải có tâm thanh tịnh, phải nắm bắt đương hạ, phải hiểu rằng quá khứ đã qua rồi, không gọi lại được nữa, cho dù ngày ngày hồi ức, cũng không thể lấp đầy khoảng trống hiện tại của bạn. Nếu bạn thường xuyên hồi ức quá khứ, thực tế bạn đang thụt lùi, người thụt lùi vĩnh viễn không có lối thoát, người thụt lùi là sống trong đau khổ.

Phải học cách nắm bắt đương hạ, chính là phải nhìn vào hiện tại, bạn mới là người làm nên chuyện. Nếu bạn hiện tại cơm ăn không no, nói muốn mua bảo hiểm tiết kiệm, sau này sẽ được bao nhiêu bao nhiêu tiền, các bạn nói xem có thực tế không? Học Phật phải học ở đương hạ, bây giờ lập tức phải học, bây giờ lập tức phải sửa tập khí trên người mình. Như vậy nghiệp chướng không tốt hiện tại của bạn cũng sẽ biến thành quá khứ, con người sẽ trở nên rất nhẹ nhõm. Nhưng quá khứ cũng là bất khả đắc, nghiệp chướng quá khứ vốn dĩ cũng không cần thiết, cho nên chúng ta càng nên sớm buông bỏ, bất khả đắc mà!

Từ thời Thích Ca Mâu Ni Phật, pháp môn là Mặc truyền, tức là âm thầm truyền pháp, cũng gọi là ám truyền. Pháp Sư phụ bây giờ truyền cho các bạn, thực tế cũng gọi là âm thầm truyền, bây giờ là lên lớp cho đồ đệ, khi đông đảo Phật hữu đi theo Đài trưởng học Phật đã khai ngộ, cũng có thể từ đó hấp thu dưỡng chất, khai thị truyền pháp cho đồ đệ. Khi đó Thích Ca Mâu Ni Phật có một đại đệ tử tên là Ma Ha Ca Diếp, Thích Ca Mâu Ni Phật truyền pháp cho ông, ông lại truyền thừa cho đời sau, cứ như vậy đời này truyền đời kia, truyền mãi đến Tổ thứ 28, đến Đạt Ma Tổ Sư. Đạt Ma Tổ Sư cũng là một đối một mặc truyền, gọi là "Không tâm truyền không tâm". Thế nào là không tâm truyền không tâm? Chính là Sư phụ trước đó đã giảng cho các bạn: tâm Không rồi, bạn mới có thể tiếp nhận thứ người khác cho bạn. Nếu trong lòng bạn không Không, bạn làm sao tiếp nhận thứ mới? Giống như kho của bạn là trống, hàng hóa mới mới có thể bỏ vào, nếu kho đầy rồi, bạn làm sao bỏ hàng mới vào? "Nhất tâm truyền tâm", chính là dùng tâm để truyền cái tâm này, trước tiên tâm bắt buộc phải Không, mới có thể tiếp nhận cái Pháp này, mới có thể tiếp nhận ông Phật này. Nhất định phải nhớ Phật pháp đều là sau khi tự mình buông xả cho Không, mới có thể học vào cho tốt, sau này mới có thể tu thành chính quả.

Người truyền pháp kiến địa phải tương đồng, tức là suy nghĩ, cách nhìn phải gần giống nhau, như vậy mới có thể điểm tỉnh đối phương. Trong Phật pháp gọi là "Tâm hành", tức là hành vi trong tâm bắt buộc bạn và tôi phải gần giống nhau. Ví dụ hôm nay các bạn tin Sư phụ, tin Phật Bồ Tát rồi, các bạn đến nghe Sư phụ khai thị. Nếu các bạn không tin Sư phụ, Sư phụ làm sao truyền pháp cho các bạn? Nếu có sự bất đồng thì không thể truyền pháp. Nếu người này và bạn suy nghĩ không giống nhau, bạn không thể truyền pháp cho họ, nếu bạn cưỡng ép truyền pháp, họ không tin, ngược lại sẽ làm tổn thương bạn, liên lụy đến bạn. Giống như nhiều tôn giáo kéo người ngoài đường, khiến người ta phản cảm rồi nói lời không hay, sẽ làm tổn thương người truyền giáo đó.

Tâm và hành vi của tâm là giống nhau, người và người lương tâm đều tốt, lúc này bạn đem Phật pháp Phật duyên truyền cho họ, họ cũng có thể tiếp nhận Phật pháp Phật duyên của bạn, đây gọi là tâm tâm tương ấn. Nếu pháp được truyền mà tâm đối phương không thể tiếp nhận, truyền cũng vô dụng, gọi là vô dụng vô ích. Vô dụng vô ích là không có lợi ích, cũng không có tác dụng, là nói công cốc, nói nửa ngày chẳng có tác dụng gì, nói nửa ngày đối phương căn bản không nghe, không tiếp nhận.

Sự truyền thừa của Phật pháp bắt buộc phải xây dựng trên cơ sở Mặc truyền, tức là phải có một sự ăn ý (mặc khế), âm thầm truyền, chính là tôi và bạn tâm chiếu bất tuyên (trong lòng hiểu rõ không cần nói ra), đều biết phải học Phật, sau đó tôi mới có thể giảng Phật pháp cho bạn. Mà phương pháp tốt nhất hiện tại và tương lai, sự truyền thừa là phải cứu người nhanh chóng.

Hiện nay truyền pháp đến trên người có hai loại: Một loại là Đại truyền, chính là lợi dụng mạng internet hiện đại hóa, thông tin v.v...; Một loại là Tiểu truyền, chính là truyền từng người một. Các bạn giảng pháp cho bạn bè, giảng pháp cho người nhà, có phải là truyền từng người một không? Vì thiên thời không nhiều, phải dùng các loại diệu pháp cứu người, bao gồm có thần thông có thể khiến người ta nhanh chóng tin tưởng.

Sư phụ nói cho các bạn một cách truyền pháp khác, chỉ cần người có Phật tính, bạn đưa họ đến Phật đường, nếu có Bồ Tát, mọi người đều đang dập đầu, bảo họ cũng dập đầu, sau khi họ dập đầu, Bồ Tát sẽ gia trì cho họ. Giống như tại sao nhiều người cứ không tin Phật, nhưng Đài trưởng vừa giảng, họ liền tin? Bởi vì trong tâm mỗi người sẽ có một loại cảm ứng, sau đó sẽ tin tưởng. Bởi vì khí trường và khí trường sẽ lây lan (cảm nhiễm), mọi người đều dập đầu, tiếp theo họ sẽ tin, đây là dùng một loại khí trường bên ngoài chủ yếu để cảm nhiễm họ, ảnh hưởng họ, Bồ Tát gia trì bên trong khiến họ tin tưởng.

Sư phụ cuối cùng nói với các bạn, con người đều muốn trở thành Thánh nhân hoặc Bồ Tát, thực ra rất đơn giản. Dùng Bạch thoại Phật pháp nói: Đem dục vọng của mình giảm xuống thấp nhất, đem lý tính của mình thăng hoa lên cao nhất. Chính là phải kiểm soát dục vọng của mình, có thể đem lý tính, lý niệm của mình thăng hoa lên cao nhất, người này chính là Thánh nhân.

Ví dụ khi gặp kiếp nạn, sẽ không buồn khổ, người này chính là có thể kiểm soát lý tính của mình. Phàm việc gì cũng có thể đứng ở góc độ người khác, suy nghĩ cho người khác, chính là từ bi. Gặp chuyện vĩnh viễn đứng ở góc độ người khác nghĩ cho người ta, người này chính là từ bi. Tại sao nhiều người không hiểu từ bi, chính vì chưa bao giờ biết nghĩ cho người khác, chỉ nghĩ đến mình: tôi tức giận rồi, tôi buồn rồi, tôi khó chịu rồi... người này chính là không có tâm từ bi.

Phải học cách hoán vị suy nghĩ (đặt mình vào vị trí người khác), phải học đại từ đại bi của Quán Thế Âm Bồ Tát. Người tu tâm chúng ta, vĩnh viễn phải coi phiền não là Tăng thượng duyên thúc đẩy bạn tiến lên, tức là biến phiền não thành một cái duyên phận gia tăng sự tiến bộ của bạn.


25. Dùng Báo thân nhân gian tu thành Pháp thân Bồ Tát

+

Lần trước Sư phụ đã giảng cho các bạn một chút về Pháp thân, Hóa thân và Báo thân. Vậy thế nào là Hóa thân? Thế nào là Pháp thân? Thế nào là Báo thân? Khác nhau ở đâu?

Trước tiên nói Hóa thân. Hóa thân là sống trong không gian này của chúng ta với trạng thái sinh mệnh như thế nào? Ví dụ, chúng ta có nhục thân sống trong không gian này, vậy hóa thân sống ở nhân gian với hình thái như thế nào? Có tác dụng gì?

Đầu tiên nói cho mọi người biết, Hóa thân có thể phân ra hai thân: thân thứ nhất là Pháp thân, thân thứ hai là Báo thân. Pháp thân là thân Bồ Tát, hành vi cử chỉ có thể ảnh hưởng đến đối phương, hơn nữa ở nhân gian có thể khiến người ta nhìn thấy, cũng có thể không khiến người ta nhìn thấy. Chỉ có Bồ Tát mới có thể gọi là Pháp thân. Báo thân là thân chúng ta học Phật học Pháp ở nhân gian, chúng ta có cái thân này ở nhân gian, có quả báo này, nên mới có cái thân này. Vì con người có báo thân, nhưng ở nhân gian và trên trời làm rất nhiều việc của Bồ Tát, cho nên thoát ly lục đạo lên trời mới có thể trở thành Bồ Tát, đây là Báo thân chuyển Pháp thân. Nói cho mọi người biết Thiên vương của Dục giới thiên cũng là Báo thân Bồ Tát. Còn Sắc giới và Vô sắc giới thiên thì khác, là Hóa thân Bồ Tát.

Pháp thân, trong Phật pháp gọi là Pháp tính thân, là bản nguyên của nguyện lực thành tựu tất cả năng lượng. Pháp thân là bản nguyên tụ tập tất cả năng lượng, bản nguyên của năng lượng chính là Phật trong tính của bạn, là bản tính. Khi bạn hoàn toàn đạt được Pháp tính thân, bạn chính là một vị Bồ Tát, là Bồ Tát tầng thứ rất cao. Bản nguyên năng lượng này là hình dáng và phạm vi, cái hình dáng và phạm vi này, thực tế chính là bạn có thể sở hữu thế giới này. Các bạn thấy khi Sư phụ lạy Phật hai tay có thể đỡ trọn vũ trụ, bởi vì bản tính trên người chính là bản năng của vũ trụ, là tổng hòa của thể năng lượng vũ trụ, các nhà khoa học cũng nói từ góc độ vật lý học. Bồ Tát là không gian vật chất lớn nhất, là vô hình vô tướng. Các bạn đừng tưởng Quán Thế Âm Bồ Tát thực sự chỉ có nghìn tay nghìn mắt, thực ra nghìn tay nghìn mắt của Quán Thế Âm Bồ Tát là nói mắt của Bồ Tát muốn nhìn thấy đâu là có thể nhìn thấy đó, tay của Bồ Tát có thể cứu đến đâu là có thể cứu đến đó. Nghìn tay nghìn mắt là hình dung năng lượng rộng lớn của Bồ Tát, chứ không phải thực sự chỉ có nghìn tay nghìn mắt.

Báo thân, chính là nhục thân này của chúng ta đến chịu quả báo. Con người chúng ta đến thế gian là chịu quả báo, nếu kiếp trước làm việc tốt, kiếp này sẽ hưởng thiện báo; nếu kiếp trước làm nhiều việc xấu, kiếp này sẽ chịu khổ chịu ác báo. Báo thân này của chúng ta mới là chủ nhân thực sự của thế giới này, thân thể này của chúng ta là chủ nhân thực sự của thế giới, sau đó báo thân được hưởng thụ cũng là chủ nhân của thế giới này, các bạn có hiểu không? Tức là báo thân này vui là nó, không vui cũng là nó. Báo thân là nghiệp do nhân quả tạo ra khiến bạn đến thế giới này chịu báo.

Thế nào là Báo thân Bồ Tát? Chính là tất cả hành vi bạn làm ở nhân gian giống như Bồ Tát, thực tế bạn chính là Báo thân Bồ Tát. Bởi vì con người đã siêu thoát phàm trần nhân gian (ở đây chỉ tư duy, không phải nhục thân), bạn chính là Báo thân Bồ Tát. Báo thân Bồ Tát là không có pháp thân. Nếu hôm nay bạn đi làm việc tốt, chính là Báo thân Bồ Tát, là vì bạn dùng nhục thể đi làm việc Bồ Tát. Hôm nay bạn đi cứu người, giảng pháp cho người ta, bạn chính là Báo thân Bồ Tát.

Chúng ta sống trên thế giới này tồn tại theo định luật nhân quả, báo thân cũng là thành tựu của công đức. Bởi vì thân thể này của bạn kiếp trước làm rất nhiều công đức, kiếp này bạn mới dùng báo thân của mình nhận được sự hưởng thụ hoặc chức vị hiện tại, đây đều là do công đức kiếp trước. Báo thân hưởng thụ trong pháp thân, pháp thân chính là bản tính của con người, pháp thân này thực tế là thân của thiên giới. Pháp thân hiện tại của Sư phụ chính là dùng báo thân nhân gian để hoằng pháp. Sư phụ ở trên trời là Pháp thân, Sư phụ ở nhân gian là Báo thân. Báo thân chịu sự chi phối của Pháp thân trên trời. Báo thân thành tựu mới có thể kéo theo Pháp thân thành tựu. Báo thân thành tựu rồi, Pháp thân của bạn mới thành tựu. Tức là bạn ở nhân gian học Bồ Tát, đạt đến cảnh giới nhất định, một môn thông rồi, trí tuệ mở rồi, bạn mới có Pháp thân, đương nhiên là rất không dễ dàng. Thành tựu của Hóa thân và Pháp thân, thực tế chính là bắt đầu từ sự lôi kéo của Báo thân.

Trong văn hồi hướng có một câu: Tận thử nhất báo thân, đồng sinh Cực Lạc quốc (Hết một báo thân này, cùng sinh về nước Cực Lạc). Bởi vì báo thân không tu ra được (không mang đi được), giống như nhục thể này, bạn nói xem có thể mang nhục thể này cùng lên trời không? Điều đó là không thể. Bạn chỉ có thể thoát khỏi nhục thể này, mới có thể lên trời. Giống như một quả bóng hydro, bạn muốn nó bay lên, bắt buộc phải nhẹ, bên trong phải không có gì, càng không được mang theo bất cứ thứ gì, mới có thể bay lên.

Người triệt ngộ bản tính là người triệt để khai ngộ bản tính, cho dù người cả thế giới đều không hiểu, nhưng người đó vẫn không cảm thấy cô đơn. Khi bạn đã hoàn toàn hiểu đạo lý, khai ngộ rồi, bất luận hôm nay bạn làm việc gì, bản thân vĩnh viễn sẽ không cảm thấy cô đơn. Rất nhiều người cho rằng sau khi học Phật là để sau khi chết có thể lên trời, thực ra học Phật không phải là một sự ký thác đối với cái chết. Nhiều người không hiểu, khi quả báo đến, sẽ nghĩ tôi chết sớm cho xong, chết rồi có thể lên trời, đây chính là sự ký thác đối với cái chết. Thực ra họ hoàn toàn sai rồi, học Phật không phải là sự ký thác đối với cái chết, mà là ngay hiện tại sống tự tại và vượt lên cuộc đời khổ não. Chúng ta hôm nay học Phật không phải để sau khi chết thế nào thế nào, mà là để bây giờ bắt đầu tốt lên, bây giờ thay đổi nền tảng tu lên trời, đây mới gọi là học Phật. Phật Bồ Tát đến nhân gian, chính là để cứu độ chúng sinh, là hy vọng các bạn bây giờ có thể tốt, không phải để các bạn sau khi chết mới tốt.

Sư phụ bảo mọi người phải nhớ: Người khác vĩnh viễn là đúng, bạn vĩnh viễn là sai, con người bạn sẽ vĩnh viễn không sinh oán hận. Người khác vĩnh viễn là Tăng thượng duyên của bạn, cả đời người của bạn mới vĩnh viễn đi lên, cho đến khi tu thành đại giác đại ngộ, công đức viên mãn.


26. Học Bồ Tát giới, chuyển phàm thành thánh

+

Mọi người biết làm việc thiện có thể chuyển thành công đức, vậy tôi hỏi các bạn: một người có công đức, công đức của họ có chuyển thành thiện nghiệp không? Nói cho các bạn biết người xuất gia tu hành thì có thể. Họ cả đời này xuất gia tu hành, nếu không tu cho tốt, kiếp sau đầu thai làm người, công đức sẽ toàn bộ chuyển thành phúc báo. Ví dụ, niệm kinh hữu khẩu vô tâm (có miệng không có tâm), động não xấu hoặc làm việc không tốt... tất cả công đức tích lũy kiếp này toàn bộ chuyển thành phúc báo, bởi vì quả báo là đã đầu thai làm người, mà kiếp này coi như tu uổng công. Sư phụ nói cho các bạn đạo lý này, chính là muốn các bạn nhất định phải kiên trì tu hành tu tâm cho tốt, còn nữa là phải không ngừng "gia nhiệt" (làm ấm/tăng cường) tất cả công đức bạn làm, mới có thể giữ được công đức này.

Chúng ta đều đang học Bồ Tát, học tập tinh thần từ bi của Bồ Tát. Sư phụ hôm nay giảng cho mọi người "Thập địa Bồ Tát". Sư phụ mỗi lần chỉ có thể giảng cho các bạn một Địa. Thập địa Bồ Tát chính là mười cảnh giới khác nhau của Bồ Tát. Cảnh giới của Bồ Tát là cảnh giới chúng ta phải học tập. Tuy chúng ta bây giờ đang học Phật học Bồ Tát, nhưng các bạn cần phải biết Bồ Tát rốt cuộc là cảnh giới như thế nào?

Thập địa Bồ Tát còn gọi là Thập thánh vị. Chúng ta học Bồ Tát là học cảnh giới của Bồ Tát, mà cảnh giới của Bồ Tát có mười cấp bậc khác nhau, phải biết mình rốt cuộc tu đến cấp bậc nào rồi, tức là phải biết mình tu đến tầng thứ nào rồi. Sư phụ sẽ phân tích từng Địa một của Thập địa Bồ Tát, phân tích từ mặt chữ cho các bạn nghe, sau đó dùng bạch thoại giảng giải thấu đáo mười cảnh giới của Bồ Tát cho các bạn, để các bạn tu học Thập địa Bồ Tát, để các bạn hiểu mỗi cảnh giới Bồ Tát khác nhau rốt cuộc là thế nào? Làm sao mới có thể làm được Thập địa Bồ Tát?

Hôm nay giảng cho mọi người Nhất địa Bồ Tát, tức Sơ địa Bồ Tát, cũng gọi là Hoan Hỷ Địa Bồ Tát.

Hoan Hỷ Địa: Thủy xuất phàm cảnh sơ đăng thánh cảnh, khánh tâm nội dung duyệt tình ngoại phát, đa sinh hoan hỷ, cố danh hoan hỷ địa. Dụng văn tư tu tuệ vi gia hành trí, đoạn phàm phu ngã tính vô minh, chứng biến mãn công đức Đàn ba la mật tăng thượng.

Sơ địa Bồ Tát chính là vừa mới đến cảnh giới Bồ Tát. Sơ địa Bồ Tát là Hoan Hỷ Địa Bồ Tát.

"Thủy xuất phàm cảnh" (Mới ra khỏi cảnh giới phàm): "Thủy xuất" là vừa mới rời khỏi cảnh giới nhân gian, đến cảnh giới thánh nhân, tức cảnh giới Bồ Tát. Nghĩa là bạn vừa mới thoát ly cảnh giới bình phàm, cảnh giới phàm nhân, bắt đầu đi về hướng cảnh giới Bồ Tát.

"Sơ đăng thánh cảnh": là bạn vừa mới bắt đầu bước lên cảnh giới thánh nhân.

"Khánh tâm nội dung duyệt tình ngoại phát": là khánh hạ (chúc mừng), tâm hoan duyệt (vui vẻ), vừa mới bắt đầu cảm nhận nội tâm mình dung hóa (hòa tan) vào niềm vui của thánh cảnh, đã đem những việc phiền toái nhân gian hòa tan vào cảnh giới của Phật. "Duyệt" là tâm hoan hỷ, là tôi vô cùng hoan hỷ tiến vào thánh giới, tiến vào Bồ Tát giới, đã khai ngộ, nhận thức nhân sinh này chẳng qua là do nhân duyên hòa hợp mà thành, đối với việc gì cũng rất vui vẻ, đều có thể viên dung, tất cả mọi việc ở nhân gian đều có thể bao dung, viên dung, sau đó tiến vào thánh giới, hơn nữa làm việc gì cũng sẽ có một niềm vui sướng.

"Dung duyệt tình ngoại phát": là tâm hoan hỷ, tâm từ bi hỷ xả bắt đầu phát ra ngoài, là có một loại thể năng lượng làm cho bạn xuyên lên trên, giống như tên lửa vậy, những năng lượng khí khởi động đó phát ra ngoài, tên lửa liền bay lên. Bởi vì mỗi một việc của Sơ địa Bồ Tát, đều sẽ sinh ra tâm hoan hỷ, cho nên gọi là Hoan Hỷ Địa Bồ Tát. Hoan Hỷ Địa Bồ Tát làm việc gì cũng vui vẻ, đều là hoan hỷ, việc gì cũng nhìn thấu, việc gì cũng hiểu rồi, chỉ có con người mới không vui, lo âu, phiền não.

"Dụng văn tư tu tuệ": dùng Văn-Tư-Tu-Tuệ để tu trí tuệ của bạn. "Văn" là thấy nghe (kiến văn), tai nghe (nhĩ văn), mũi ngửi (tỷ văn)... chữ Văn này không chỉ là cái bạn nghe thấy mới gọi là Văn, là những thứ lục căn của bạn tiếp xúc lục trần đều gọi là Văn, tức là những thứ bạn tiếp xúc đều gọi là Văn, chữ Văn này là một khái niệm tổng thể. "Văn Tư" là sau khi bạn tiếp xúc sự vật, sẽ nảy sinh tư duy, sau khi có tư duy, mới có thể tu tuệ, cho nên gọi là Văn - Tư – Tu - Tuệ. Khi bạn nhìn thấy tất cả mọi thứ ở nhân gian, đi qua bộ não lọc, khi suy nghĩ, phải dùng Chính kiến của Bồ Tát để suy nghĩ, lúc đó sẽ biến thành tu tâm, biến thành bắt đầu khởi dụng trí tuệ của bạn.

Trí tuệ của con người đến từ đâu? Thứ bạn nhìn thấy phải học cách chuyển hóa. Ví dụ, chữ giản thể qua phần mềm máy tính chuyển hóa, sẽ biến thành chữ phồn thể, chữ phồn thể cũng có thể chuyển hóa thành chữ giản thể. Tức là trong đầu Bồ Tát giống như có một bộ chuyển đổi, tất cả mọi thứ đi vào, qua bộ não lọc một cái, liền biến thành thứ của Bồ Tát. Nhưng phải "Gia hành trí", tức là tất cả hành vi, tu hành của bạn, bắt buộc phải có trí tuệ, đây gọi là gia hành trí. Tức là tất cả hành vi bạn làm ra nhất định phải có trí tuệ. Ví dụ, cãi nhau với người khác, hành vi này của bạn có trí tuệ không? Ăn trộm đồ người ta, dùng ngôn ngữ lừa gạt người ta, các bạn nói những hành vi này có trí tuệ không? Những hành vi này căn bản chưa đạt đến cảnh giới Bồ Tát. Tất cả hành vi của Sơ địa Bồ Tát, bao gồm hành vi tư duy, hành vi trong tâm, toàn bộ đều bao hàm trí tuệ, trí tuệ này chính là trí tuệ của Bồ Tát.

"Đoạn phàm phu ngã tính": là nhất định phải đoạn trừ vô minh. Mỗi người chúng ta đều là phàm phu tục tử, phàm phu là trong đầu chỉ nghĩ đến mình, phàm phu là phàm nhân. "Ngã tính" là bản tính của chính tôi, là vô minh. Tức là đoạn trừ vô minh của bạn. Tại sao hiện tại lại vô minh? Là vì những việc làm sai trong đời quá khứ, khiến tâm linh bạn nhiễm bụi, mới trở thành vô minh, cho nên Bồ Tát nói phải đoạn phàm phu ngã tính vô minh.

"Chứng biến mãn công đức Đàn ba la mật tăng thượng": là Phật pháp mà bạn chứng ngộ công đức tròn đầy (biến mãn), là tất cả công đức hiện tại của bạn, bạn tránh xa tập khí vô minh của mình, tức là những gì bạn tư duy, lời bạn nói ra, cái bạn nghe thấy, việc bạn làm ra, toàn bộ đều là biến mãn trí tuệ Bồ Tát; (Ba la mật, là bờ bên kia), dùng cảnh giới của bạn lên một tầng nữa, lên một tầng nữa (tăng thượng).

Ba địa là một Giới. Đến cuối cùng Thập địa Bồ Tát là viên mãn, chính là một câu trong Tâm Kinh: "A nậu đa la tam miệu tam bồ đề", tức Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Tâm Kinh các bạn đều biết niệm, các bạn biết tựa đề Tâm Kinh nghĩa là gì không? Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh. Bát Nhã là trí tuệ, Ba La Mật là bờ bên kia, Đa là đến được. Tâm Kinh nghĩa là để tâm của bạn đến được bờ bên kia mà bạn yêu cầu, chính là đạt đến cảnh giới khai ngộ, là dùng trí tuệ của bạn đạt đến một bờ bên kia, cũng tức là dùng cảnh giới của bạn đạt đến một cảnh giới cao hơn. Sư phụ thường giảng cho các bạn Bát Nhã trí tuệ, Thích Ca Mâu Ni Phật giảng kinh thuyết pháp 49 năm, giảng chính là Bát Nhã trí tuệ. Trí tuệ của con người là quan trọng nhất, vì con người có trí tuệ, mới có thể khai ngộ, mới có thể tu hành tốt, bạn ngay cả trí tuệ cũng không có, cái gì nghe cũng không hiểu, tu hành thế nào?

Hôm nay thời gian có hạn giảng đến đây, lần sau Sư phụ sẽ giảng điều kiện tiến vào Sơ địa Bồ Tát, tức là làm sao từ phàm nhân chuyển đổi thành Bồ Tát, làm sao từ nhân giới dùng ý niệm đã qua tu luyện của mình, sau đó tiến vào Bồ Tát giới. Sư phụ dùng tám câu tâm đắc, khuyên bảo chúng sinh phá mê khai ngộ, tốc thành Bồ đề.

Thế đạo nan thành Phật, duy hữu tu tâm phục,

Tam miệu tam bồ đề, giới định tuệ lai y,

Phá trừ vô minh tâm, nhẫn nhục khai ngộ hân,

Chứng đắc vô thượng pháp, phàm nhân biến Bồ Tát.


27. Cảnh giới học Phật, học cách Hỷ Xả

+

Tiếp theo Sư phụ triển khai giảng giải cho các bạn, để các bạn hiểu rõ tu như thế nào mới có thể đạt đến cảnh giới Bồ Tát? Các bạn phải dùng cảnh giới Bồ Tát để yêu cầu bản thân, tu ngộ, viên thành Phật đạo.

Trước tiên, Năng kham nhẫn thụ, năng vi nan sự, tâm bất thối một. (Biết nhẫn chịu được, dám làm việc khó, lòng không thoái lui)

Chính là bất luận gặp chuyện gì đều có thể nhẫn chịu, nhẫn nại. Học Bồ Tát trước tiên phải học cách có thể nhẫn chịu, mà trong cái nhẫn chịu này không nhất định đều là lỗi của bạn, cho dù bạn đúng cũng phải nhẫn chịu. Sư phụ thường giảng cho các bạn, trên đời này không có đúng sai, chỉ có nhân quả. "Năng vi nan sự", là có thể chống đỡ việc khó, tôi đến nhẫn chịu việc làm khó, tức là tôi có thể đi làm bất cứ việc khó khăn nào. Việc mình rõ ràng có thể làm, mà không làm, để người khác làm, đây chính là ích kỷ, không đạt được cảnh giới Bồ Tát (đương nhiên làm bừa cũng là không đúng). "Tâm bất thối một", lương tâm, bản tính của bạn, vĩnh viễn không lui sụt. Nếu bạn làm được cảnh giới Bồ Tát, sẽ vĩnh viễn không lui sụt. Tâm của Sư phụ vĩnh viễn sẽ không lui sụt, vĩnh viễn sẽ cứu người, như vậy mới có thể gọi là Bồ Tát. Nếu gặp chuyện thì trốn, gặp chuyện thì chuồn, gặp chuyện thì thoái lui: tôi không tu nữa, tôi chỉ cần bảo vệ tốt tu vi của mình... người này vĩnh viễn không thể trở thành Bồ Tát.

Bất hảo tránh tụng, hảo nhu hòa tịch tĩnh. (Không thích tranh tụng, thích nhu hòa tịch tĩnh).

"Bất hảo" là tôi không hiếu thắng. "Tránh tụng" là cứ muốn tranh biện, kiện tụng với người khác. Bồ Tát vĩnh viễn sẽ không tranh biện, kiện tụng với người khác, đi nói lý lẽ nhân gian. Mà lý lẽ nhân gian thực ra là do chúng nhân tự mình gieo nhân, và đang chịu quả báo.

Thực ra chúng ta học Phật chính là thân tâm bạn phải vô cùng nhu nhuyễn (mềm mại). Tâm Bồ Tát vô cùng nhu nhuyễn, và vô cùng an ổn. Không phải nói tâm bạn nhu nhuyễn an ổn, mà là chỉ việc bạn làm ra, vô cùng nhu nhuyễn, vô cùng hài hòa ôn tồn, làm bất cứ việc gì tuyệt đối sẽ không cứng rắn, luôn luôn giải quyết vấn đề một cách mềm dẻo. Nếu bạn là Bồ Tát, người ta tranh với bạn, nói lý với bạn, bạn luôn sẽ lùi một bước để suy nghĩ, để giải quyết. Lùi một bước, biển rộng trời cao, bạn lùi một bước rồi, tâm nhu nhuyễn rồi, thân tâm mới có thể an ổn (an ẩn). Tâm Bồ Tát vĩnh viễn là bình tĩnh, vĩnh viễn là an ổn.

Học Phật thuyết pháp thời tâm đắc hỷ duyệt. (Học Phật, nghe giảng pháp thì trong lòng sinh niềm vui hiểu đạo)

Nghĩa là khi bạn nói Phật pháp, tâm tình bạn vô cùng hỷ duyệt (vui sướng), tâm bạn vô cùng vui vẻ. Khi thuyết pháp cho người ta, cái tâm đó là pháp hỷ sung mãn, mới có thể trở thành Bồ Tát. Tức là khi Bồ Tát cứu người, là dùng một cái tâm hỷ duyệt, đi cứu độ chúng sinh. Nhiều đại pháp sư trước khi tiếp nhận Phật pháp mới, là học tập Phật pháp nguyên thủy truyền xuống, nhưng khi họ nhận được sự gia trì trực tiếp của Bồ Tát, sẽ nảy sinh một số Phật pháp mới. Những Phật pháp này khi vừa mới xuất hiện, sẽ có nhiều người vẫn học Phật pháp cũ và tương đối bảo thủ đến công kích, vì họ cho rằng quá khứ không có là giả, là không đúng, không phải Phật pháp lưu truyền từ viễn cổ. Nhưng các bạn phải hiểu theo sự thay đổi của thiên thời, Phật pháp cũng sẽ thay đổi. Thử nghĩ xem xã hội hiện đại, bất kể từ vật chất đến lý niệm, có thể chứng minh trên đời không có gì là bất biến.

Đối vu Phật pháp, yếu hữu tín tâm. (Đối với Phật pháp, cần phải có lòng tin vững chắc.)

Nếu bạn là Sơ địa Bồ Tát, trước tiên bản thân phải có niềm tin với Phật, có niềm tin với Phật pháp. Bồ Tát ở nhân gian là có, pháp thân của chúng ta, nhục thân có Bồ Tát. Các bạn phải tin tưởng Phật Bồ Tát, đối với Phật pháp phải có niềm tin và tâm thanh tịnh. Các bạn học tập Phật pháp, trong lòng nhất định phải sạch sẽ, nếu bản thân còn tồn nghi hoặc đối với pháp môn mình học, làm sao học tốt được? Đây chính là không có niềm tin, tâm không thanh tịnh, khó tu thành chính quả.

Bi tâm mẫn niệm chúng sinh, cấp dư tha môn cứu hộ. (Lấy tâm từ bi mà nghĩ đến chúng sinh, mở nhiều phương tiện để cứu giúp người khác.)

Sơ địa Bồ Tát bắt buộc phải có tâm đại bi, bi mẫn chúng sinh. Sư phụ là cứu thế độ nhân, gặp người nào nói lời nấy. Hôm nay bạn cái gì cũng không hiểu, tôi chỉ có thể giảng cho bạn đạo lý của người cái gì cũng không hiểu. Bạn hôm nay là người học Phật pháp rất sâu, Sư phụ sẽ giảng cho bạn Phật pháp rất sâu. Sư phụ hiện nay hoằng pháp, ngay cả chính phủ cũng thích. Bao nhiêu người học pháp môn của Sư phụ, tu tâm niệm Kinh xong, thân thể hồi phục sức khỏe, gia đình hòa thuận chung sống, lại có bao nhiêu người quy y chính đạo, các bạn nói xem chính phủ có thể không cảm kích sao? Sư phụ tuyên dương là khiến người làm thiện, chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, giảm bớt bao nhiêu vấn đề xã hội. Sư phụ dạy các bạn học Phật học Pháp một cách chính quy, làm người cho tốt, khai phát trí tuệ của các bạn, mỗi một việc đều là chính đạo. Các bạn phải kiên trì con đường mình cho là chính, phải trân trọng, kiên trì tu học. Nếu những điều Sư phụ giải thích cho các bạn, các bạn có thể tiếp nhận, đó chính là thứ "Chính". Nếu Sư phụ hôm nay nói với các bạn những lời đều không đúng, các bạn tự nghĩ xem có tiếp nhận không?

Vô sân quái tâm khứ học Phật, tâm thường lạc từ hành. (Học Phật không mang tâm sân hận, oán trách; trong lòng luôn an vui, thực hành hạnh từ.)

Sơ địa Bồ Tát phải không có tâm sân quái, chính là vĩnh viễn không có tâm hận người khác và tâm quái ngại. Các bạn có thể làm được không có tâm sân hận, nhưng rất khó làm được tâm vô quái ngại. Các bạn đối với cha mẹ, con cái, người nhà thân nhân, cùng danh lợi toàn bộ đều có quái ngại. Nếu những thứ này không bỏ được, bạn sẽ không làm được Bồ Tát, là vô duyên với Bồ Tát rồi. Chỉ có cái gì cũng xả (bỏ) rồi, cảnh giới nâng cao rồi, mới có thể tu thành chính quả. Các bạn biết Bồ Tát là có cảnh giới, vì chúng sinh có thể xuống cõi dưới chịu khổ cứu người. Nếu các bạn không thể xả, không buông được chính là không có cảnh giới. Vì cứu độ chúng sinh, phải xả đi lợi ích của bản thân, đem tất cả mọi thứ vứt bỏ hết, đó mới gọi là Xả.

Quán Thế Âm Bồ Tát dạy chúng ta Hỷ Xả, hoan hỷ xả đi những thứ không nên lưu giữ. Bao nhiêu người đời đợi đến khi tiền còn chưa kiếm đủ, mạng đã không còn, các bạn nói xem tiền có mua được sức khỏe không? Nếu thực sự có tai nạn đến, ai có thể tránh thoát? Khi ra đi liệu có làm được không vướng bận, không còn luân hồi? Đến lúc bạn đi, nỡ (xả đắc), phải đi; không nỡ (xả bất đắc), cũng phải đi. Cho nên Bồ Tát dạy chúng ta phải học cách Xả, xả đến cuối cùng, bạn sẽ không cảm thấy khổ nữa. Ví dụ người bình thường không chịu bố thí tiền của, nếu bị phạt vài trăm tệ, trong lòng họ sẽ rất buồn, buồn mấy ngày liền, đây là do bình thường không biết Xả. Bình thường không biết Xả, đợi khi tai nạn đến, không xả cũng phải xả, trốn cũng không thoát. Muốn tu tâm cho tốt thì phải học cách Xả, nếu không sẽ tu không tốt. Nếu người cái gì cũng không thể xả, ngay cả Sơ địa Bồ Tát cũng không làm được.

Phải "tâm thường lạc từ hành", tức là tâm này phải thường xuyên vui vẻ, hơn nữa, tất cả việc làm đều là hành vi từ bi, đó mới gọi là Bồ Tát. Giúp đỡ người khác nâng cao cảnh giới, phải có tâm từ bi, tâm từ ái. Khi giúp đỡ người khác, cảnh giới của bạn sẽ nâng lên cao hơn.

Mong các đồ đệ khi học Phật hãy thận trọng, mọi nơi mọi lúc lấy Bồ Tát yêu cầu bản thân, như vậy cảnh giới sẽ thăng tiến nhanh. Thực sự ngộ ra những đạo lý này.

Chú thích người dịch tham khảo:

Nhẫn được việc khó, tâm không lùi

Tránh điều tranh cãi, giữ an vui

Học Phật nghe pháp, lòng vui sáng

Tin sâu Phật pháp, tín vững tin

Thương đời cứu khổ, bày phương tiện

Bỏ sân nuôi từ, tâm hành lạc


28. Vứt bỏ hư vọng chấp trước, tu thành ngộ tính trí tuệ

+

Nếu phàm nhân có thể tiến vào Sơ địa Bồ Tát, phàm nhân này đã xảy ra sự biến đổi về chất. Ví dụ các bạn bây giờ đi theo Sư phụ học Phật tu tâm, nếu có thể làm được mấy điều kiện của cảnh giới Sơ địa Bồ Tát mà Sư phụ giảng giải phía trước, bạn chính là Sơ địa Bồ Tát rồi, chất của bạn sẽ thay đổi, cảnh giới của bạn sẽ khác biệt, không còn là người bình thường nữa, trong sát na sẽ sinh ra một trăm hóa thân. Bạn chỉ khi làm được Sơ địa Bồ Tát, mới có cái bóng (hóa thân) này xuất hiện. Tức là khi bạn là một thỏi vàng, vàng phát sáng mới chiếu ra từng lớp từng lớp ánh sáng, giống như hào quang vạn đạo. Một tấm gương chỉ có thể chiếu một chỗ, còn bạn là một thỏi vàng, dưới sự chiếu rọi của ánh mặt trời bạn có thể chiếu sáng bốn phương tám hướng, bởi vì bạn sạch sẽ. Nếu thỏi vàng của bạn, toàn bộ đều bị thứ dơ bẩn che lấp, các bạn nói xem thỏi vàng này có thể phát sáng không? Khi bạn có hóa thân rồi sẽ có thần thông lực. Phải biết mình ở thế gian: Ta mỗ mỗ (tên mỗ) đã không phải là ta nữa, là Bồ Tát rồi, bắt buộc phải ở thế gian lấy công đức lực gia trì thọ mệnh.

Nếu các bạn làm Sơ địa Bồ Tát, sau khi có thần thông lực, sẽ biết được mình ở thế gian cần phải lấy công đức lực gia trì thọ mệnh, tức là có thể dùng công đức của bạn để kéo dài tuổi thọ của bạn, cũng tức là tuổi thọ của bạn kéo dài là dựa vào công đức gia trì. Cảnh giới của bạn càng cao, sẽ càng giống Bồ Tát. Ngày ngày đối chiếu bản thân, xem mình làm được bao nhiêu? Nếu ngày ngày đối chiếu bản thân, từ từ đều làm được rồi, sẽ xuất hiện pháp thân, quan trọng nhất là phải kéo dài tuổi thọ, cứu độ chúng sinh. Nhất định phải tu thân dưỡng tính, nhất định phải kiên trì, nhất định phải dung hợp với Bồ Tát, bạn mới tu ngày càng tốt. Dùng công đức lực gia trì tuổi thọ của mình, sau đó dương thọ của bạn trải qua trăm kiếp (bách kiếp nạn), tức là có một trăm cái kiếp nạn, bạn đều không sợ. Sau khi trải qua trăm kiếp, phải hiểu Sắc thân bất hoại, cái sắc thân này là tu mà ra.

Con người khi ra đi đau khổ nhất là sự vướng bận (thiên quái), nếu người này vô thiên vô quái (không vướng bận), khi đi sẽ không đau khổ. Đời người có bao nhiêu sự bất lực, lại có bao nhiêu chuyện bi thảm. Đời người phải học cách Xả (buông bỏ), nếu bạn bây giờ không học cách Xả, sau này sẽ rất khó xả bỏ, cũng tức là bây giờ cho bạn một cơ hội cởi trói, bạn phải vui vẻ, bạn phải pháp hỷ. Cởi trói chính là không cần danh lợi. Nhiều người vì quan vị, bèn không chịu nghỉ hưu, cuối cùng bị người ta vu hãm hoặc tham ô hủ bại vào tù. Đến lúc Xả, thì phải Xả, cho dù là cái nhà tôi yêu, đứa con tôi yêu, cũng đừng yêu quá sâu đậm. Nếu yêu quá sâu đậm sẽ không thể thoát ly. Giống như một số cha mẹ yêu con, tất cả đều vì con, nhưng con cái lại không nghe lời, cả ngày làm cha mẹ phiền muộn, cha mẹ cứ tức a tức a, cuối cùng thì tức chết.

Quảng độ chúng sinh năng chứng kiến Bồ Tát. Sơ địa Bồ Tát trước sau trăm kiếp đều có thể biết. Đó là lý do tại sao Sư phụ có thể biết trước (dự tri) rất nhiều việc. Tu đến tầng thứ này bạn sẽ tránh được rất nhiều kiếp nạn, cũng chính là linh cảm của bạn. Yếu chấn đãng bách thế gian, yếu khởi Tam muội định. (Phải chấn động trăm thế gian, phải khởi Tam muội định). Tam muội định chính là có thể định lại, là định lực của trí tuệ. Bồ Tát nói là Tam thiên đại thiên thế giới, còn thiên văn học nói là Ngân hà hệ. Trái đất này chẳng qua là một tinh cầu nhỏ bé, trái đất này và con người là giống nhau, cũng có sinh có diệt.

Một ý niệm của Bồ Tát và ánh sáng của Bồ Tát, có thể chiếu khắp trăm thế giới, tức là hào quang của Bồ Tát, có thể chiếu đến một trăm thế giới. Các bạn làm việc tốt, làm việc xấu trời đất đều biết, đừng tưởng là không biết. Muốn người không biết, trừ phi mình đừng làm. Bồ Tát động nhân quả của người là "tầm nhân động quả" (tìm nhân động quả), là tìm theo cái nhân này của bạn, để động cái quả của bạn. Tức là "nhân địa chế nghi" (tùy đất mà làm cho phù hợp), người này vốn dĩ phải chịu quả, Bồ Tát tìm theo quả báo này giúp bạn giảm bớt, giúp bạn hóa giải nhân quả, tuy không thể hóa giải toàn bộ, nhưng có thể giảm nhỏ, tức là đại sự hóa tiểu, tiểu sự hóa vô.

Cơ thể này phát quang, chấn động trăm thế giới, sau khi chiếu khắp trăm thế giới, thần thông lực của bạn sẽ ngày càng mạnh, sau đó có thể giáo hóa chúng sinh. Sư phụ hiện tại chính là đang giáo hóa chúng sinh. Nguyên duyên tính tịnh hóa (Bản tính duyên khởi ban đầu được tịnh hóa), chính là bạn vốn dĩ có cái duyên phận này, sau đó đi từ từ độ hóa, gọi là tịnh hóa chúng sinh. Bồ Tát độ hóa chúng sinh, lựa chọn trăm loại diệu pháp. Bồ Tát không phải chỉ nhìn chằm chằm vào một pháp môn, mà là lựa chọn trăm loại pháp môn thâm sâu, để độ hóa chúng sinh. Đó là lý do tại sao Sư phụ khi lên lớp cho các bạn, thường hay giảng đến pháp môn khác. Thứ tốt của người ta đều phải hấp thu.

Tòng tu ngộ trí tuệ lai giác thụ chứng ngộ pháp tuệ (Từ tu ngộ trí tuệ để cảm nhận chứng ngộ pháp tuệ). Tức là phải tu ngộ, tu thành trí tuệ của ngộ tính, trí tuệ từ từ xuất hiện, để giác thụ (cảm nhận), để cảm giác pháp tuệ chứng ngộ của bản thân, tức là thực sự ngộ ra những đạo lý này.

Vu hư vọng xứ, cường gia phân biệt chấp trước, tựu thị nghiệt chướng. (Ở chỗ hư vọng, cưỡng ép phân biệt chấp trước, chính là nghiệp chướng). Tức là bạn hiện tại ở trong thế giới Không này, không có hy vọng, do bạn vọng tưởng ra này (hư vọng chính là thế giới không chân thực này), sau khi ở chỗ hư vọng, việc làm không được, lại còn đi chấp trước, nhất định phải làm, bạn sẽ gia tăng nghiệp chướng. Ví dụ, bạn vốn dĩ không có tư cách và điều kiện, tham gia tranh cử chủ tịch gì đó, mà bạn liều mạng đi tham gia tuyển cử, mà cái chủ tịch này qua vài năm sau, lại bầu lại từ đầu, là cái Không, là thứ không có thực thể. Mà những thứ hư vọng này đều là sinh không mang đến, tử không mang đi. Ở chỗ hư vọng, phân biệt chấp trước, bạn rõ ràng biết những thứ này là vật chất hư ảo, bạn tiếp tục đi theo đuổi và chấp trước đi theo đuổi, chính là gia tăng nghiệp chướng. Nghiệp chướng rất nguy hiểm, có thể khiến người xuống địa ngục, nhân gian gọi là Tội nghiệt, người học Phật gọi là Nghiệp chướng.

Người trên thế giới phải chịu trách nhiệm với pháp luật, còn người tu hành phải chịu trách nhiệm với nhân quả. Người tu hành các bạn, tự mình gieo nhân, khi nếm chịu quả, đừng trách người khác. Khổ của mình đến, đều là do mình gieo nhân ác. Quả báo đến rồi, không ai thay thế. Cũng giống như người ở thế gian, bệnh đáo thống thời, phương tri khổ (bệnh đến lúc đau, mới biết khổ), nhất định phải đến lúc bị bệnh, mới biết đời người khổ a, cái đau bệnh của thân thể này khổ a.

Kiện thời đô vi tha nhân mang (Lúc khỏe đều bận rộn vì người khác), cùng đạo lý đó, lúc khỏe mạnh đều là bận rộn vì người ta, bận đến cuối cùng, đợi đến khi thân thể mình không tốt, mới biết mình khổ a.

Nhân bất cầu sự, sự tự nhiên thành. Thiên giáng vũ thủy, khê tự nhiên tồn. (Người không cầu việc, việc tự nhiên thành. Trời giáng nước mưa, khe suối tự nhiên còn/chứa). Bạn đừng đi theo đuổi bất cứ việc gì, việc sẽ tự nhiên thành công. Tôi không đi cầu nó, tôi đi nỗ lực, thành công thì thành công, không thành công thì thôi, nếu bạn liều mạng đi cầu, sẽ không thành công. Nước mưa trong thiên hạ, bạn chỉ cần có một con suối nhỏ, nước mưa sẽ tự nhiên lưu lại trong đó, lẽ nào học Phật không phải như vậy sao?

Sư phụ nói với các bạn "Minh sư chỉ điểm" (Thầy sáng suốt chỉ điểm) không phải là lấy ngón tay để chỉ trỏ, chỉ cần trong lòng hiểu rồi, cái gì cũng hiểu rồi. Đừng dùng nhục thể của bạn để kiểm soát linh hồn của bạn, nên dùng linh hồn để kiểm soát nhục thể của bạn, đây mới là bước đầu tiên của học Bồ Tát. Hôm nay giảng đến đây, lần sau lại khai thị cho các đồ đệ.


29. Hoằng pháp tu thiện, ly dục đắc lạc

+

Sư phụ hôm nay giảng cho mọi người, dùng Phật ngôn Phật ngữ để công kích người chứng ngộ, trong Phật pháp gọi là Tăng Thượng Mạn nhân. Nếu một người học Phật pháp, họ dùng lời Bồ Tát để công kích một người chứng ngộ, tức là công kích một người khai ngộ, trong Phật pháp gọi là Tăng Thượng Mạn nhân. Nghĩa là người này không có tu chứng chân thực, không thực sự đi tu tâm. Tăng Thượng Mạn nhân, là ngày ngày đi lên (tăng thượng - theo nghĩa tự cho mình giỏi), là người có tu vi, nhưng lại là một người ngạo mạn. Tăng Thượng Mạn nhân, nhìn bề ngoài thì đang tu, nhưng thực tế lại đang thụt lùi. Ví dụ, một số người tự cho mình học được chút Phật pháp, động một tí là lôi Phật pháp ra với người ta, xin hỏi bạn tu đạo nào? Sư thừa người nào? Thử nghĩ xem, tám vạn bốn ngàn pháp môn, bạn là người có đạo hạnh đến đâu, bạn có thể nói ra bao nhiêu pháp môn?

Trên mạng có một vị cư sĩ viết rằng: Vì có người hỏi ông Pháp Môn Tâm Linh điển xuất từ sách nào? Sư thừa nơi đâu? Ông cũng luôn rất nghi hoặc. Kết quả có một tối, mơ thấy Đài trưởng đang giảng pháp, ông liền đem câu hỏi này hỏi rất lớn tiếng. Lư Đài trưởng nghe xong không trả lời ngay, mà từ bên cạnh xuất hiện một vị Bồ Tát rất từ bi nói với ông: Pháp Môn Tâm Linh là do Quán Thế Âm Bồ Tát trong bức tranh Tây Phương Tam Thánh truyền thụ, tên pháp môn gọi là Pháp Môn Tâm Linh. Mọi người phải hiểu, phải tu pháp theo sự thay đổi của thiên thời. Có nhiều pháp môn như vậy, các bạn cần phải biết pháp môn nào là thực tế nhất, linh nghiệm nhất, thích hợp nhất cho người hiện đại tu hành. Sư phụ yêu cầu đồ đệ là Bất nhị pháp môn (không hai pháp môn), Sư phụ trực tiếp truyền thụ cho đồ đệ rất nhiều khí trường, nếu các bạn đi nghe pháp môn khác, đầu óc các bạn sẽ xoay chuyển, tâm linh cũng sẽ xoay chuyển, cái chuyển này có thể sẽ sinh ra phiền não, sinh nghiệp chướng, cho nên vĩnh viễn tu không thành công.

Một người sau khi học pháp môn của Sư phụ, không được lấy Phật pháp Sư phụ dạy để chỉ trích người khác, cũng không được lấy Phật pháp người ta học để chỉ trích pháp môn của Sư phụ, nếu không sẽ gọi là Tăng Thượng Mạn nhân, có hiểu không? Nếu bạn dùng Phật pháp đi nói người này không tốt, bạn không phải là một người tu hành chân chính. Phải nhớ trước tiên đừng làm người Mạn (ngạo mạn), tức đừng làm người ngạo mạn, bạn vừa ngạo mạn, việc gì cũng sẽ không tiến bộ, chỉ sẽ từ từ thụt lùi. Mạn chính là Thoái (lùi), mọi người đều đang tiến lên, bạn đi rất chậm (mạn), bạn nói xem có phải đang thụt lùi không? Phàm là người công kích người chứng ngộ, họ không có ngôn ngữ chứng ngộ của bản thân, tức là khi người này nói người ta không tốt, người này chính là chưa khai ngộ, tất cả lời nói ra, đều đã là lệch rồi, hiểu chưa? Không được đi nói lung tung về người khác, đặc biệt là không được chỉ mặt gọi tên đi nói người khác, ngàn vạn lần không được nói, đạo lý làm người và học Phật pháp là giống nhau.

Thập pháp giới (Mười pháp giới), Thập pháp giới mà Bồ Tát nói, có 6 giới mọi người đều biết, cũng gọi là Lục đạo, tức: Thiên đạo, A tu la đạo, Nhân đạo, Súc sinh đạo, Ngạ quỷ đạo và Địa ngục. Trong toàn bộ không gian vũ trụ, tức là trong Thập pháp giới, có 6 giới là phải luân hồi, có 4 giới là không luân hồi, 4 giới này cũng gọi là Tứ Thánh Đạo, là đạo của thánh nhân, là sùng cao, là nơi vô cùng chứng ngộ. 4 giới là Thanh Văn giới, Duyên Giác giới, Bồ Tát giới và Phật giới.

Nhiều người hỏi tôi đến giới nào thì không luân hồi? Sư phụ bây giờ nói rõ cho các bạn, chỉ cần siêu thoát lục đạo, tiến vào đạo thứ 7, sẽ không luân hồi. Nhiều người nói với Sư phụ: Chúng con bây giờ niệm Ngôi Nhà Nhỏ siêu độ người thân của mình lên trời rồi. Nói là đúng, nhưng siêu độ lên tầng trời nào? Đại bộ phận đều được siêu độ đến Dục giới thiên, mà Dục giới thiên vẫn nằm trong lục đạo luân hồi, rất đáng thương, cho nên một khi không tu chính pháp thì rất không dễ siêu thoát luân hồi. Khi một người đến nhân gian rồi, rất khó siêu thoát lục đạo luân hồi, cho nên đừng tùy tiện làm việc xấu, đừng tùy tiện nói lung tung tạo khẩu nghiệp, đừng nghĩ lung tung những việc không nên nghĩ.

Ở thiên giới có hai loại người có thể xuống: Thứ nhất là do nhân duyên bức bách, tức là do nghiệp lực gây ra, những người này ở trong lục đạo bị nghiệp lực dắt đi, bắt buộc đầu thai làm người hoặc làm quỷ hoặc làm súc sinh. Là nghiệp lực của bạn, khiến bạn tạo nên việc bạn bắt buộc phải đầu thai cái gì, bắt buộc phải không ngừng luân hồi trong lục đạo. Loại khác chính là Bồ Tát, Bồ Tát đến nhân gian đều là Thừa nguyện tái lai. Có người hỏi Sư phụ: Bồ Tát sau khi xuống có khả năng không về được không? Có. Nếu không tu hành tu tâm cho tốt, hoặc làm việc gì xấu, làm việc ác, sau này sẽ không về được nữa, sẽ đọa lạc vào trong lục đạo luân hồi, đây chính là lý do tại sao Bồ Tát còn phải xuống cứu người, để viên thành Phật quả.

Mọi người nhất định phải nhớ chúng ta làm người, sơ ý một chút sẽ rơi xuống rãnh, bò không ra được, cho dù bò ra được, nhưng chân bạn đã dẫm phải nước bẩn trong rãnh rồi, rất khó rửa sạch. Lục đạo trong Thập pháp giới còn gọi là Lục Phàm, chính là giới của phàm nhân, bao gồm Thiên giới cũng gọi là Phàm giới, chỉ cần là có luân hồi đều là Phàm giới. Tứ Thánh giới, là vĩnh ly sinh tử (vĩnh viễn lìa sinh tử), mãi mãi không có sinh tử, không nhập lục đạo.

Vậy nhiều người hỏi Sư phụ rốt cuộc muốn dẫn chúng con tu đến tầng trời nào? Sư phụ bây giờ nói rõ cho các bạn biết tầng trời Sư phụ muốn đưa các bạn lên là vĩnh viễn không luân hồi. Vĩnh viễn không luân hồi có 3 lựa chọn: Một là Tây Phương Cực Lạc thế giới của A Di Đà Phật, một là Thanh Văn Duyên Giác giới, một là Bồ Tát giới Phật giới. Phải hiểu khi bạn siêu thoát lục đạo, sẽ vĩnh viễn thoát ly nỗi khổ luân hồi, vĩnh viễn sẽ không vào lục đạo nữa.

Giảng cho mọi người về Thanh Văn pháp giới, chính là vừa mới vượt ra khỏi lục đạo, tiến vào đạo thứ 7. Thanh Văn pháp giới cũng gọi là A La Hán đạo, tu chứng quả A La Hán, là thánh quả của Tứ Diệu Đế (Tứ Thánh Đế). Về "Tứ Thánh Đế" Sư phụ trước đây đều giảng cho các bạn rồi, hôm nay không giảng nhiều nữa. Tứ Thánh Đế là Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế. Các bạn nếu không muốn luân hồi tối thiểu phải tu đến thánh quả của Tứ Thánh Đế.

Duyên Giác pháp giới, là tầng thứ 8, Duyên Giác pháp giới cũng gọi là Bích Chi Phật. Trong Bích Chi Phật có một loại gọi là Duyên Giác, còn một loại gọi là Độc Giác. Độc Giác là dựa vào tự mình từ từ tu hành, là dựa vào thiện căn kiếp trước. Bởi vì kiếp trước tu khá tốt, kiếp này lại tiếp tục làm việc tốt việc thiện, học Bồ Tát, mới có thể trở thành Độc Giác. Duyên Giác, duyên là gặp được Bồ Tát rồi, các bạn có Bồ Tát làm Sư phụ các bạn, làm thầy giáo các bạn, các bạn đi theo vị Bồ Tát này có cái duyên này, cho nên các bạn mới có thể đi lên. Ví dụ, các bạn học nghiên cứu sinh, có phải nhất định phải có một người hướng dẫn không? Có người hướng dẫn sẽ dễ học thành thạc sĩ, tiến sĩ, giáo sư... Còn một loại là từ nhỏ học tập luôn rất tốt, học rất ưu tú, được người hướng dẫn nhìn trúng, đặc cách đề bạt kéo lên. Bích Chi Phật chính là Duyên Giác. Các bạn bây giờ phúc khí lớn nhất chính là các bạn có thể đi con đường Duyên Giác, mà không cần đi Độc Giác, bởi vì Độc Giác dựa vào quá khứ, kiếp trước làm rất nhiều việc tốt, tích lũy công đức. Duyên Giác chính là nhất định phải có một duyên phận, sau đó đi theo Bồ Tát tu hành. Duyên Giác còn có một câu gọi là sinh tại thế gian của Phật, tức là thế gian này đã chuyển đến thế gian có Phật Bồ Tát, chính là có Phật sống, ở đây chỉ Phật sống chân chính (chân chính hoạt phật), Phật sống chân chính là người chân chính khai ngộ, người chân chính buông bỏ được, Bồ Tát sống chân chính thừa nguyện tái lai cứu độ chúng sinh.

Cuối cùng tổng kết cho mọi người: Địa ngục đạo, Ngạ quỷ đạo. Người ở Ngạ quỷ đạo rất khổ, người ở Ngạ quỷ đạo ai nấy bụng đều rất to, mà miệng rất nhỏ, đói vô cùng, nhưng lại ăn không vào, bèn lấy một thứ thổi từng chút một vào, cho nên gọi là Phóng diệm khẩu. Người ở bên cạnh Ngạ quỷ đạo, gọi là Địa thần, chính là loại thần rất hung dữ.

Trên Ngạ quỷ đạo là Súc sinh đạo, trên Súc sinh đạo là Nhân đạo. Có một cách nói: Giữa Nhân đạo và Súc sinh đạo có một đạo gọi là Hạ tam A tu la đạo, vậy Thượng tam A tu la đạo là ở trên Nhân đạo. A tu la đạo mà Sư phụ nhìn thấy đa phần là Thượng tam A tu la đạo ở trên Nhân đạo. A tu la đạo có phải là linh giới không? Có phải là linh thể không? Có thuộc về quỷ không? Là linh giới, nhưng không thuộc về quỷ. Người A tu la đạo thường xuyên đánh nhau với Trời, nếu là Hạ tam A tu la đạo có thể lên trời đánh nhau không? Có thể đánh nhau với Tiên nhân không? Thông thường A tu la bên dưới không thể lên đánh nhau với người trời. Trên A tu la đạo là Thiên đạo. Người trời có ngũ suy (năm tướng suy hao), thiên phúc hưởng hết sẽ xuống, Sư phụ từng giảng cho các bạn về Thiên đạo, hôm nay không giảng lại nữa.

Trong lục đạo cứ xoay chuyển như vậy, làm sao mới có thể thoát ly lục đạo không chịu khổ luân hồi? Trừ phi bạn tu tâm, tu hành niệm Kinh cho tốt. Trong lục đạo tất cả sự luân hồi, đều dựa vào nghiệp lực của bạn tạo ra. Bạn hôm nay luân hồi xuống dưới, là vì nghiệp lực của bạn quá nặng. Bạn hôm nay luân hồi lên trên, là vì nghiệp lực của bạn nhẹ, làm việc tốt nhiều, việc ác ít, nhưng vẫn đang chịu khổ luân hồi. Có câu nói: "Chạy được hòa thượng, chạy không được miếu". Hôm nay bạn nợ nợ, bất luận bạn chạy đi đâu cũng tìm được bạn. Giống như hôm nay bạn có nghiệp chướng, bạn có chạy được không? Bạn bị nghiệp lực này dắt đi, bắt bạn lên trời thì lên trời, bắt bạn xuống địa ngục thì xuống địa ngục.

Các bạn đều biết địa ngục có 18 tầng, nhưng các bạn biết địa ngục này do ai tạo ra không? Là do con người tự tạo ra, giống như nhà tù ở nhân gian vậy, vốn dĩ nơi này không có nhà tù, vì có quá nhiều người phạm tội, không còn cách nào, bèn xây dựng nhà tù, phạm nhân càng nhiều, nhà tù xây càng nhiều. Tương lai địa ngục tầng 19, tầng 20 đều sẽ có, vì sự ác liệt, ác tính, thói ác... tội lỗi của con người tạo thành nhất định phải xuống địa ngục, mà 18 tầng đã không đủ rồi, cho nên sẽ có tầng địa ngục 19, 20. Lòng người càng xấu, xuống càng sâu. Mọi người nhất định phải hiểu đạo lý, nhớ kỹ: Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành.

Sư phụ muốn các con phải hiểu — phải thấu suốt — phải khai ngộ. Được rồi, lần sau sẽ giảng tiếp.

30. Thật sự hiểu rõ Phật pháp, trở thành Bồ Tát nhân gian

+

Bất kỳ phàm nhân nào có cảnh giới tiến vào Sắc giới thiên và Vô sắc giới thiên, được người bình thường gọi là Thiên tiên, cảnh giới của họ rất cao, định lực cũng rất cao, hơn nữa là cực cao. Thế nào là định lực cực cao? Chính là cái định lực mà họ ngồi cũng vững, đứng cũng vững. Ở nhân gian, Bồ Tát biểu hiện là: Bạn dù đối xử với họ thế nào, họ cũng không vì thế mà dao động, vẫn như vậy, định lực cực cao, cảnh giới cực cao, người như vậy sẽ không nghĩ quẩn, không cãi nhau, không nổi nóng, không đố kỵ v.v... Cảnh giới của họ đã thoát khỏi lục đạo luân hồi, vượt qua cảnh giới Vô sắc giới thiên, và có thể dùng hóa thân của Bồ Tát để độ chúng sinh. Tại sao? Bởi vì ở Bồ Tát giới họ dùng hóa thân của Bồ Tát, nghĩa là cảnh giới của người tu tâm này đã vượt qua Sắc giới và Vô sắc giới thiên, đã là hóa thân của Bồ Tát rồi. Lại ví dụ, ở nhân gian chúng ta thường nói ai đó là Bồ Tát, thực ra là chỉ cảnh giới của họ đã ở Bồ Tát giới rồi, đều là hóa thân của Bồ Tát, hóa ra đều là thân thể Bồ Tát, là thành tựu của Bồ Tát.

Nhiều người đều hỏi tại sao Bồ Tát ở trên trời không hưởng phúc mà lại xuống nhân gian chịu khổ cứu người? Các bạn có biết tại sao không? Bởi vì bạn ở nhân gian độ hóa chúng sinh, và ở nhân gian có một mảnh đất tu vi, sau này trở về trên trời sẽ có mười phương tịnh độ. Quán Thế Âm Bồ Tát ở trên trời là Phật (Nam Hải Cổ Phật) Bồ Tát (Quán Thế Âm Bồ Tát), tại sao Ngài lại xuống đây cứu độ chúng sinh? Bất kỳ một nguyện lực nào của Ngài, bất kỳ một đạo tràng nào của Ngài ở nhân gian, trên trời sẽ có một mảnh tịnh độ tương ứng. Ví dụ, Phổ Đà Sơn là đạo tràng của Quán Thế Âm Bồ Tát tại nhân gian, khi về trời cũng sẽ có một thế giới tịnh độ Quán Thế Âm Bồ Tát giống như Phổ Đà Sơn.

Trong Kinh Phật có một câu nói: Nhất niệm A Di Đà Phật, niệm đến cuối cùng trong ao bảy báu nước tám công đức ở Tây Phương Cực Lạc thế giới sẽ sinh ra một đóa hoa sen. Sư phụ hôm nay ở Đài Đông Phương có một đạo tràng như thế này, trên trời cũng sẽ có một đạo tràng như thế này. Cho nên nhất định phải học a, bất luận là làm người hay làm Phật, bắt buộc phải có một nguyện lực, có nguyện lực mới có thể xuống cứu độ chúng sinh, viên thành Phật đạo. Hãy nhớ ở nhân gian cày cấy mảnh đất Phật này càng lớn, quả thực bạn trưởng thành càng lớn, quả vị trên trời tự nhiên cũng càng cao. Ví dụ, chỉ có làm nhiều công đức, công đức của bạn mới nhiều; làm nhiều việc thiện, bạn mới có một trái tim lương thiện; nghĩ nhiều cho người khác, mọi người mới nghĩ cho bạn, mới có thể thành tựu công đức của bạn. Nhiều người chỉ nghĩ cho mình, không chịu bỏ ra, có công đức được không? Cho nên quả vị này là dựa vào tự mình làm ra.

Nhất định phải dùng Báo thân mới có thể thành tựu Phật quốc độ của chính mình, mới có thể khai hoa kết quả trên Phật quốc độ của bạn. Báo thân chính là cái thân chúng ta đến chịu báo nghiệp này. Thiện có thiện báo, ác có ác báo, cái báo này không phải báo lên linh tính của bạn, mà là báo lên cái nhục thân nhân gian này của bạn. Bạn có báo thân này, nhất định phải chịu quả báo này, trên mảnh đất nhân gian này, bạn làm việc thiện, chịu thiện báo, làm việc ác, chịu ác báo, bởi vì là chịu nhận nhân quả báo ứng trên mảnh đất mà bạn đã gieo nhân quả. Ví dụ, ở đạo tràng này của Sư phụ, nếu gieo xuống đều là nhân thiện, quả báo công đức mà Sư phụ nhận được, sẽ báo lên mảnh đất này (đạo tràng). Cho nên đừng nghĩ gì cả, cứ thiết thực từng bước một đi về phía trước, đừng làm sai việc, đến lúc bạn viên thành Phật đạo thì tự nhiên sẽ thành, cũng như cơm chưa nấu chín, bạn lấy ra ăn, là cơm sống, bạn nhất định phải đợi cơm nấu chín rồi mới ăn, mới có mùi thơm, Phật pháp cũng là đạo lý này.

Có chúng sinh hỏi Sư phụ, nếu là Bồ Tát thực sự có thể dùng pháp lực trừng phạt người không? Nếu là người xấu, thì có thể. Nhưng vấn đề nguyên tắc là tâm của bạn phải Chính, chứ không phải là Tà. Bồ Tát từ bi độ chúng sinh, nhưng Hộ pháp thần nhất định sẽ trừng phạt kẻ xấu. Ví dụ, hôm nay bạn chịu khổ hoặc bị trừng phạt, nhất định là bạn đã gieo nhân ác; hôm nay bạn hưởng thụ, nhất định là bạn đã gieo nhân thiện. Bất luận nhân gì bạn chỉ có thể bình tĩnh tiếp nhận. Nhiều người nói "Tôi không phục, không công bằng", thế nào là không công bằng? Bạn có nhìn thấy kiếp trước của mình không? Cái nghiệp kiếp trước bạn làm, cái pháp kiếp trước người ta bố thí, nhiều thứ kiếp này bạn có nhìn thấy được không? Khổ nạn đến trên người mình, tự mình cảm thấy không công bằng, vậy khi đến trên người người khác, sao bạn lại rất vui? Thế có công bằng không?

Trong Thập pháp giới, giới thứ 7 là đã siêu thoát lục đạo luân hồi rồi, vậy trong lục đạo có Bồ Tát không? Trong lục đạo đương nhiên có Bồ Tát, ví dụ ở nhân đạo có vị thừa nguyện tái lai, sẽ có hóa thân, pháp thân. Nói cho các bạn biết mỗi đạo đều có Bồ Tát, nhưng đến giới thứ 7 thì khác, là siêu thoát lục đạo luân hồi. Bồ Tát chính là Giác ngộ, khi bạn giác ngộ rồi, bạn chính là Bồ Tát, nhất định phải hiểu những đạo lý này. Giới thứ 8 là Duyên giác, giới thứ 9 là Bồ Tát giới, Bồ Tát của giới này là Bồ Tát đại từ đại bi, đại trí đại huệ, đến giới thứ 10, cũng là cảnh giới cao nhất - Phật giới. Thống nhất gọi là Lục Phàm Tứ Thánh Đạo.

Sư phụ từng giảng cho các bạn rất nhiều, phải có Hóa thân thành tựu công đức, mới có thể có Pháp thân thành tựu. Hóa thân của bạn đã giống như Bồ Tát cứu độ chúng sinh rồi, Pháp thân của bạn ở nhân gian mới là Bồ Tát, nghĩa là linh hồn của bạn rất sạch sẽ, bởi vì hóa thân chính là linh hồn của bạn, linh hồn của bạn đã thành tựu trí tuệ Phật Bồ Tát, thì thân thể của bạn chính là Phật Bồ Tát.

Thân thể bạn không làm việc xấu, là vì linh hồn bạn không muốn làm, thì thân thể bạn nhất định rất sạch sẽ. Khi thân thể một người muốn đi làm việc xấu, linh hồn người đó nhất định dơ bẩn. Ví dụ, người này đi ăn trộm đồ, nhất định là tư duy nghĩ trước, nhất định là đầu óc nghĩ trước, thân thể mới động. Trí tuệ đến một thời điểm nhất định, cái gì cũng không nghĩ, cái gì cũng không sao cả (vô sở vị), chính là không có đau khổ nữa; ngược lại, đợi đến khi chuyện gì cũng có sao cả (hữu sở vị), thì đau khổ rồi. Nếu khái niệm, lý niệm, linh hồn của một người đều tu thành Bồ Tát rồi, hành vi của bạn, cuộc đời của bạn chính là Bồ Tát. Khi bạn chưa tu thành hóa thân của mình, thì pháp thân của bạn nhất định không phải là Bồ Tát.

Sư phụ tiếp tục giảng cho mọi người, trí tuệ của Phật, trí tuệ của Phật Bồ Tát. Dùng tất cả sự thông minh trí tuệ của một người, lấp đầy tất cả tư duy, cũng không bằng trí tuệ của Phật Bồ Tát. Sư phụ lấy cho các bạn một ví dụ: Một con voi đi ra bờ biển uống nước, bụng voi lớn như vậy, có thể hút rất nhiều nước, các bạn thử nghĩ xem bụng con voi dù có lớn đến đâu, có thể hút hết nước trong biển này không? Phật pháp mênh mông như biển, bạn học nhiều đến đâu có thể học hết Phật pháp không? Tương tự một con muỗi hút máu, cũng uống nước, con muỗi chạy ra biển lớn uống, đầu tiên, sự khác biệt giữa voi và muỗi đã rất lớn rồi, nhưng con muỗi uống no nước và con voi uống no nước có phải giống nhau không, có phải cùng một khái niệm không? Là một khái niệm, đều là no rồi. Có người học Phật giống như voi uống nước uống được nhiều, học Phật pháp học được nhiều, còn có người giống như con muỗi uống một tí tẹo, liền tưởng là học được toàn bộ rồi, mà các bạn chỉ uống có một tí tẹo nước như thế, cho là no rồi, vì bụng các bạn cảm thấy no rồi. Thực tế dùng Phật pháp mà nói, Phật pháp nhiều như vậy bạn học một chút xíu thế này, làm sao mà đủ chứ? Phật pháp "thủ chi bất tận, dụng chi bất kiệt" (lấy không bao giờ hết, dùng không bao giờ cạn), bạn làm sao có thể học hết toàn bộ đây?

Bạn học Phật pháp như thế nào? Có một phương pháp, bạn có thể học được cơ bản tất cả Phật pháp. Bạn hãy nghĩ thế này: bởi vì nước biển này vốn dĩ là của bạn, bạn chính là Phật Bồ Tát, chỉ khi bạn là Phật Bồ Tát, bạn mới có thể hưởng dụng nhiều nguồn suối của Phật như vậy, bởi vì bạn đã hiểu tất cả vật chất trong nước rồi, nó có bao nhiêu cấu trúc phân tử, bao nhiêu khoáng chất cacbohydrat v.v... nếu bạn cái gì cũng hiểu rồi, nước này đến chỗ bạn tự nhiên biến thành của bạn. Nếu bạn cái gì cũng không hiểu, uống một ngụm nước biển, sau đó nói: nước này sao lại mặn thế? Thực ra nước biển vốn dĩ là mặn. Giống như nhiều người học Phật pháp vậy, trong miệng ăn đường, lại đi uống nước biển, cho rằng nước biển sao lại ngọt thế, đó là lý do tại sao Phật pháp học đến sau này, mỗi người có suy nghĩ của mỗi người, mỗi người có đạo tràng của mỗi người, cách giảng pháp của mỗi người đều không giống nhau, đều tưởng mình là chính pháp, cho rằng một cách phiến diện của mình đều là chính pháp, cái khác đều là tà pháp. Sư phụ chưa bao giờ nói pháp môn khác đúng hay sai, Sư phụ bảo các bạn đi theo Quán Thế Âm Bồ Tát, lời Sư phụ nói ra, mọi người dùng tâm Phật cân nhắc có thể chấp nhận thì là chính pháp.

Tại sao cái Chánh mọi người đều có thể chấp nhận? Bởi vì cái Chánh là tâm tâm tương ấn với bản tính của bạn, có thể khiến bản tính của bạn chấp nhận nó, hơn nữa sự chấp nhận này là vô cùng quan trọng. Ví dụ, học Phật pháp có thể cầu tiền tài không? Học Phật pháp có nên nhận tiền của người ta không? Học Phật pháp có nên cứu độ chúng sinh không? Hiện nay có bao nhiêu người tu hành, có thể bước ra giảng giải Phật pháp cho người ta? Nếu bạn đi hỏi họ, họ không nói nhiều, thực ra họ học cũng không ít, nhưng họ học rồi, cũng chưa chắc có thể giảng ra được, cũng không thể trách họ, vì có vấn đề về sự thấu hiểu (lý giải), hiểu chưa?

Phải nhớ chúng ta học Phật học Pháp, phải hòa mình vào biển Phật, thử nghĩ xem, biển lớn này chẳng phải thuộc về bạn sao? Nếu không bạn chỉ là chuồn chuồn đạp nước, điểm đến là dừng, còn tưởng mình ăn no căng rồi, vui sướng vô cùng, quá ít rồi, Phật pháp quá thâm sâu rồi, bạn chỉ học được một chút lông da mà thôi. Có câu gọi là Thầy bói xem voi (Người mù sờ voi), người mù chưa từng nhìn thấy voi, một người mù chạy đến sờ con voi này, sờ thấy cái vòi voi, bèn nói, voi là một cái ống dài. Người khác sờ thấy bụng voi, bèn nói: sai rồi, voi là hình tròn mềm mềm, giống quả bóng da. Các bạn thử nghĩ xem, cái họ tưởng tượng chẳng qua là một chút xíu tiếp xúc Phật pháp, mà không thể nhìn vấn đề một cách vĩ mô (tổng quan). Dùng lời hiện đại gọi là "vĩ mô", tức là nhìn sự vật một cách toàn diện. Học Phật học Pháp phải nhìn sự vật một cách toàn diện, chứ không phải phiến diện.

Báo thân Phật, tức là người này ở nhân gian đã sở hữu trí tuệ của Phật. Bắt buộc phải có sự nhẫn nại của Phật Bồ Tát. Sư phụ là nhẫn nhục tinh tấn, các bạn đừng vì mình làm một chút xíu việc, người ta nói sai bạn một chút xíu, liền cảm thấy khó chịu a, chịu không nổi rồi. Nhất định phải học cách nhẫn nhục. Phải nhớ, con người luôn sẽ bị người ta nói, bạn làm đúng, người ta sẽ nói bạn; bạn làm sai, người ta càng nói bạn; bạn không nói không rằng, người ta cũng nói bạn, đây chính là "hiện tượng xã hội" hiện nay. Phải thản nhiên xử chi, nói thì nói rồi, có quan hệ gì đâu, tự mình làm đúng, người ta nói bạn xong sẽ hối ngộ, sau này người ta vẫn sẽ đối tốt với bạn. Bạn có bản lĩnh để người ta nói mà không ngã, chứng tỏ bạn là thật; bạn bị người ta nói xong liền ngã, tôi không làm nữa, bạn chính là ngã rồi, bạn chính là bị người ta nói trúng rồi. Từ xưa đến nay ai người không bị người nói? Nhiều lãnh đạo có cống hiến kiệt xuất khẩu bia tốt đến đâu, cũng sẽ có người nói ra lời không hay về họ. Phải chuẩn bị tâm lý tốt bị người ta nói, người ta nói bạn là cho bạn cơ hội, để bạn tiến bộ. Nếu không có người ta nói bạn, bạn sẽ không tiến bộ được. Nếu Sư phụ không nói các bạn, các đồ đệ sao có thể nỗ lực tinh tấn được?

Vĩnh viễn đừng quên bản thân chúng ta cũng là Phật. Bản thân là Phật, mới có thể làm được hành vi giống như Phật; nếu tâm không chính, sẽ không làm được Phật. Sư phụ nói với các bạn, Báo thân Phật chính là Phật nhân gian, là sự hưởng thụ của Chính Định. Con người có thể định lại được, hơn nữa tâm rất chánh, gọi là hưởng thụ Chánh Định. Chỉ khi một người rất chánh, tâm có thể định lại, người này mới có thể có được sự hưởng thụ chân chính, thực tế là hưởng thụ cảnh giới. Giống như người có cảnh giới cao thượng, giúp đỡ người khác, cảm thấy là niềm vui của mình, bởi vì đến cảnh giới này, mới có thể hưởng thụ; tương tự, giúp đỡ người khác, cảm thấy mình chịu thiệt thòi, mất mát, thì chưa đến cảnh giới này, sẽ không có được sự hưởng thụ này.

Làm một việc, nếu bạn không làm được, mọi người đều không làm được, việc này không làm thành công, có người sẽ rất đau khổ, mà có người lại rất vui vẻ. Tại sao? Người rất đau khổ cho rằng lần này thất bại rồi, không có lần sau nữa, vì anh ta không muốn làm nữa; còn người vui vẻ: "Ồ, thì ra nguyên nhân lần này thất bại là do đạo lý này, ái chà, lần sau tôi chắc chắn sẽ thành công". Cùng một việc, tâm chính có thể định lại, sẽ tiếp tục nỗ lực, không bị khó khăn đè bẹp, người này mới có thể thành công, đây là sự hưởng thụ chân chính.

31. Hóa thân người thành Pháp thân, làm chủ linh hồn mình ở nhân gian

Chủ nhân của thế giới Ta Bà thực tế chính là Báo thân Phật, nếu các bạn có thể làm chủ nhân ở thế gian này, bạn chính là một vị Phật Bồ Tát, bạn có thể kiểm soát tất cả tinh thần và vật chất của thế gian này.

Sư phụ từng giảng cho các bạn, "Sư phụ thị cảnh chuyển nhi tâm bất chuyển, Sư phụ thị nhượng cảnh giới tùy trứ ngã đích tâm chuyển, nhi bất thị ngã đích tâm tùy trứ cảnh lai chuyển" - Sư phụ là cảnh chuyển mà tâm không chuyển, Sư phụ là để cảnh giới chuyển theo tâm tôi, chứ không phải tâm tôi chuyển theo cảnh. Sư phụ thích dùng bạch thoại giải thích Phật pháp cho các bạn, ví dụ, một việc người ta không chịu đi làm, bạn phải dùng trí tuệ của Phật Bồ Tát khiến cảnh chuyển mà tâm không chuyển. Nếu bạn khiến người này hôm nay rất hận bạn, cũng có thể khiến người này hôm nay rất yêu bạn, đây chính là sự chuyển biến của tâm cảnh. Yêu và Hận vốn dĩ là thứ oan kết, có yêu sẽ có hận, có hận nhất định sẽ có yêu. Các bạn xem nhiều bộ phim, người này chính vì hận anh ta, đến cuối cùng cũng gả cho anh ta. Mọi sự vật đều có hai mặt chính phản, bất kỳ sự vật nào cũng sẽ thay đổi, bạn hôm nay có bản lĩnh để người ta mắng bạn, tôi tin bạn có bản lĩnh để người ta nói tốt về bạn, điều này phải xem trí tuệ của bạn rồi. Nhiều người chính là không có trí tuệ này, cho rằng nó vĩnh viễn sẽ không tốt với tôi nữa, là điều không thể. Thực ra trên thế giới này không có thứ gì vĩnh viễn không đổi, con người bản thân đã không có vĩnh viễn, huống hồ là sự vật, ví dụ, bạn vĩnh viễn trẻ trung? Đó là điều không thể.

Người thế nào sẽ không thất bại? Hiểu sự thay đổi của môi trường, người này sẽ vĩnh viễn không thất bại. Người thế nào sẽ thành công? Biết sự thay đổi của tất cả thế giới (sự việc) bên ngoài, anh ta sẽ thuận ứng trào lưu, anh ta sẽ vĩnh viễn không thất bại. Con người phải học cách thích nghi môi trường, thích nghi trào lưu, người ta đổi, tôi đổi, người ta không thay đổi, tôi cũng phải thay đổi. Học Phật cũng như vậy, hôm nay học được pháp môn mới này, bạn cảm thấy có tốt không? Tốt! Bạn hãy học cho tốt, các pháp môn khác cũng tốt, có pháp môn khác làm nền tảng, học pháp môn mới này sẽ nhanh hơn. Những thứ cơ bản của pháp môn khác, học một chút cũng tốt, Sư phụ không phải không cho các bạn học, là sợ các bạn học lệch, không tìm thấy phương hướng, bởi vì các bạn không có cảnh giới và khả năng lý giải cao như vậy, hơn nữa rất khó gặp minh sư chỉ điểm, cho nên các bạn nhất định phải hiểu đạo lý trong đó.

Sư phụ tiếp theo giảng cho mọi người, Thích Ca Mâu Ni Phật khi tại thế, là Hóa thân Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật năm xưa làm Thái tử ở Ấn Độ, gần như không có báo thân, vô cùng sạch sẽ, vô cùng tốt. Thích Ca Mâu Ni Phật từ trên trời xuống, chính là để hoằng dương tôn giáo này, tôn giáo này chính là Phật giáo. Trước khi Thích Ca Mâu Ni Phật viên tịch, Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni cũng đau đầu ba ngày, tức là phải trả hết tất cả nợ nần ở nhân gian.

Ở nhân gian phương pháp tốt nhất là điên cuồng làm công đức, công đức của mình làm càng lớn, quả vị trên trời càng cao. Bạn ở nhân gian liều mạng niệm "A Di Đà Phật", trong ao bảy báu ở Tây Phương Cực Lạc thế giới sẽ có một đóa hoa sen, bạn niệm càng tốt, đóa hoa sen này nở càng tươi tốt, mọc càng lớn. Đợi bạn đi rồi, đến trên trời, rửa trong nước tám công đức, sau đó ngồi lên hoa sen, bởi vì cái đi lên không phải là nhục thân, là linh hồn, linh hồn rất nhẹ, hơn nữa cần rất sạch sẽ. Ở nhân gian tu, trên trời có hoa sen, có quả vị. Nhân gian làm việc ác, trên trời nhất định sẽ trừng phạt. Sư phụ giảng cho các bạn từ trên trời đến dưới đất, thực ra Sư phụ không muốn giảng chuyện dưới đất cho các bạn lắm, vì giảng nhiều các bạn sẽ gặp ác mộng.

Thích Ca Mâu Ni Phật lúc đó là Hóa thân Phật, Ngài có hai loại hình thái ở thế gian:

Hình thái thứ nhất là thị hiện hình thể chúng sinh khác nhau mà tồn tại. Tức là Phật Bồ Tát đôi khi thị hiện hình thể là những chúng sinh khác nhau. Ví dụ, bạn làm bác sĩ, khi hoằng pháp trong bệnh viện chẳng phải mặc áo blouse trắng sao? Lúc này bạn thị hiện là một bác sĩ đang hoằng pháp. Nếu mặc âu phục thắt cà vạt, làm một thương nhân, lúc này xung quanh bạn đều là thương nhân, khi bạn độ hóa họ, bạn thị hiện thương nhân để hoằng pháp, để độ hóa chúng sinh. Đây là hữu hình hữu thể, là dùng nhục thân khác nhau để hoằng pháp, để cứu độ chúng sinh. Thích Ca Mâu Ni Phật năm xưa khi làm Thái tử, Ngài đã ngộ ra đạo lý này, xuất gia làm hòa thượng, Ngài biết thế giới này quá khổ rồi, đến sau này Ngài lại trở thành hình tượng Phật Bồ Tát, đi khắp nơi giảng Kinh thuyết Pháp, đây chính là dùng nhục thân.

Hình thái thứ hai là vô hình vô thần, vô ảnh vô hình. Vô ảnh vô hình là tồn tại dưới dạng quang năng (năng lượng ánh sáng). Quang năng là khi các bạn nhìn thấy Quán Thế Âm Bồ Tát, thực tế nhìn thấy là ánh sáng, các bạn nhìn thấy trên đầu Sư phụ có ánh sáng không? Đây chính là quang năng. Bất kỳ vật chất nào trên thế giới đều có thể phân giải nó ra, như một sợi tóc có thể phân giải nó, nước có thể phân giải, người cũng có thể phân giải, cái gì cũng có thể phân giải nó. Khi một người chết đi, vì con người 70-80% là nước, đến sau cùng chỉ còn xương, nhục thể đều là nước, liền hóa đi mất, vô hình vô ảnh. Vô ảnh vô hình xong, thực tế tiến vào thế giới linh thể, người cảnh giới cao chính là Bồ Tát. Chúng ta nhìn thấy Bồ Tát xuống rồi, chính là vô ảnh vô hình, nhìn thấy có, chốc lát lại không có.

Loại thứ nhất là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát hóa làm một người xuất gia đến thế giới này; Đại Thế Chí Bồ Tát hóa làm một chúng sinh tại gia tu hành, đều là Bồ Tát. Có Bồ Tát hóa làm người xuất gia, có Bồ Tát hóa làm chúng tại gia. Nếu các bạn người nào là hóa thân của Bồ Tát, thì bạn bây giờ là hóa thân của chúng tại gia, chúng tại gia là người tu hành ở nhà, không phải người xuất gia.

Loại thứ hai là người có công phu tu chứng, thừa nguyện tái lai. Tu chứng nghĩa là người này đã đạt được chứng ngộ rồi, có công phu này, họ thừa nguyện tái lai, họ đã là Bồ Tát rồi. "Tôi phải đến nhân gian cứu người, tôi phải đến nhân gian cứu độ bao nhiêu bao nhiêu người, nhất định phải để người trên mảnh đất này đều khai ngộ, biến mảnh đất này thành Phật tịnh độ và lạc thổ (đất an lạc)." Đây chính là nguyện lực của Bồ Tát thừa nguyện tái lai. Bồ Tát thừa nguyện tái lai, các bạn có thể nhìn thấy, có thể cảm thấy thân thể họ phát ấm, người thừa nguyện đến, thân thể phát ấm, mà có người phát sáng, chính là trên người có ánh sáng, nếu người này mọi người xưng là Bồ Tát, người đó nhất định sẽ phát sáng, trên người phải nóng. Sư phụ dẫn các bạn lạy Bồ Tát, thân thể các bạn sẽ phát nóng. Khi Sư phụ mở pháp hội, các bạn có thể nhìn thấy ánh sáng trên đầu Sư phụ, có một thính giả đã chụp được hào quang trên đầu Sư phụ.

Sư phụ nói với mọi người vài câu tâm huyết:

Khi bạn có biện pháp (cách giải quyết), người khác sẽ không làm gì được bạn (hết cách với bạn). Khi bạn có thể làm chủ tâm linh mình, người ta sẽ không làm gì được bạn. Bạn muốn người ta không làm gì được bạn, tốt nhất là tự mình có biện pháp.

Tri túc tâm thường tồn, chính là cái tâm biết đủ của chúng ta phải thường tồn tại trong thế gian, trong lòng phải thường cảm thấy rất biết đủ. Bất lương đích hiếu thắng tâm yếu thường diệt, tâm hiếu thắng không tốt phải thường diệt đi; tri túc tâm thường hữu, hiếu thắng tâm thường diệt, an nhàn tự tại. Bạn không đi hiếu thắng, không đi tranh đấu bạn sẽ vô cùng an nhàn tự tại.

Lâm sinh hữu hà hỷ? Lâm tử hữu hà cụ? (Sắp sinh có gì vui? Sắp chết có gì sợ?). Khi sống là hồ ly hồ đồ sinh ra, khi chết cũng đừng đi phát sầu sợ hãi, quan trọng là phải biết sau này đi về đâu. Tu vi của chính mình là mục tiêu tốt nhất chỉ đạo bạn đi về đâu.

Nhược ngộ Không tính pháp, vô sinh diệc vô tử. (Nếu ngộ pháp Tính Không, không sinh cũng không chết). Nhược ngộ Không, là bạn đã khai ngộ rồi, hiểu toàn bộ nhân sinh đều là Không. Có một tâm pháp như vậy, trong lòng hiểu rõ, nếu bạn biết nhân sinh phải làm sao, Vô sinh diệc vô tử, bạn sẽ không có khái niệm sinh và tử. Vô sinh vô tử chính là Không, đây chính là cảnh giới của Bồ Tát. Hôm nay giảng cho các đồ đệ đến đây.

32. Dùng tâm Như Lai, học Phật độ chúng, khéo quán nhân duyên

+

Hôm nay giảng cho mọi người về Như Lai tâm, ý nghĩa của Chân Như Phật. Như Lai tâm chính là tâm của Phật Bồ Tát chân chính, trong đó có một tầng hàm nghĩa: Như Lai tâm chính là Chân Như tâm, tâm Chân Như Phật chân thật chính là Như Lai tâm. Như Lai tâm là chân chính, chân thật, kiên cường. Như Lai tâm chính là bạn đối với Phật tính và Phật tâm này không có mảy may nghi ngờ, trong đó còn bao hàm Tùy duyên tâm, Thanh tịnh tâm, còn có Niết bàn tâm. Học Phật phải học bản tính chân chính và Chân Như Phật tâm. Cái tâm Phật Bồ Tát nguyên thủy chân chính của bạn, chính là bản tính, chính là Như Lai tâm. Mọi người biết Niết bàn chính là xem thế giới này là vô thường, bản thân khai ngộ rồi, hoàn toàn hiểu tính chân thực của thế giới này, tâm bạn giống như ban đầu, chính là Như Lai tâm.

Phật Bồ Tát bảo chúng ta "đừng nói rõ", chính là không thể trực tiếp thuyết pháp môn cho một số người không có ngộ tính, không thể nói rõ ràng cho họ biết, không thể minh thuyết (nói toạc ra). Học Phật tu tâm cần nhất là tự mình khai ngộ trước. Bởi vì sau khi bạn nói pháp môn này cho họ, nếu họ không học cho tốt, không tu cho tốt, không khai ngộ, đối với bạn mà nói càng không tốt. Phương pháp tốt nhất là do tự mình khai ngộ trước, sau đó khơi gợi ngộ tính của họ, để họ tự mình đến cảm ngộ, cảm nhận, rồi hiểu ra. Cái hiểu này là hiểu từ trong tâm, chứ không phải nghe người ta nói xong mới hiểu. Ví dụ, khi tự mình hiểu một việc, tự mình sẽ bừng tỉnh đại ngộ, còn người ta giảng cho bạn nửa ngày, dù cho là hiểu rồi, cũng là nửa hiểu nửa không, không phải khai ngộ triệt để, hiểu chưa? Bạn giảng những thứ họ không thể tiếp nhận, vì họ chưa đạt đến trình độ lý giải lý luận mà bạn giảng. Khi họ đạt đến trình độ lý giải Phật lý bạn nói, bạn nói gì họ mới tin.

Sư phụ bây giờ giảng cho các bạn 3 điểm, dạy các bạn tự mình làm sao để khai ngộ:

Thứ nhất, Hành Bồ Tát đạo. Chính là đi con đường Bồ Tát đang đi, Bồ Tát đang cứu người, chúng ta cũng cứu người. Bồ Tát đang làm công đức cứu độ chúng sinh, chúng ta cũng làm công đức cứu độ chúng sinh. Bồ Tát trì giới tu Thập thiện nghiệp, chúng ta cũng trì giới tu Thập thiện nghiệp, đây gọi là hành Bồ Tát đạo.

Thứ hai, Tích lũy phúc đức. Phúc đức và công đức là hai khái niệm. Phúc đức chính là làm việc thiện, làm nhiều việc thiện để cải thiện nhân quả của bạn. Nhưng việc thiện, không thể đại biểu cho công đức của bạn. Cho nên khuyên người học Phật bắt buộc phải bắt đầu từ phúc đức, nếu một người ngay cả việc thiện cơ bản cũng không muốn làm, người này sẽ không làm công đức. Nếu người này một chút việc tốt cũng không chịu làm, bạn nói xem anh ta có thể làm công đức không? Tuyệt đối sẽ không làm. Chỉ khi Thiện căn, Trí tuệ, Định lực, ba nhân duyên này chín muồi, mới có thể trở thành một loại công đức rất mạnh. Chính là thiện căn bản tính của một người là quan trọng nhất, tức là, bản tính của người này rất tốt, lương tâm rất tốt, mới có thể có đủ điều kiện cơ bản để tu tâm, sau đó từ từ tu, phải tu ra trí tuệ, mới có thể ngày càng tiếp cận khai ngộ Phật pháp.

Thứ ba, Phải có định lực. Nhiều người học Bồ Tát, trí tuệ có rồi, nhưng thiếu định lực. Các bạn biết định lực từ đâu mà đến không? Nó là do tu luyện mà thành, có trí tuệ rồi, nhất định phải có định lực. Học Phật học Pháp, học đến cuối cùng nếu không có định lực, thì không thể đạt đến tính thành thục của Phật, tức là, muốn đạt đến cảnh giới của Phật, trước tiên, bắt buộc phải thành thục (trưởng thành/chín chắn). Sự thành thục này chính là cảnh giới từ Sơ địa Bồ Tát đến Thập địa Bồ Tát mà Sư phụ giảng giải cho mọi người. Nếu bạn muốn viên thành Phật đạo, khi bạn làm Bồ Tát, phải có trí tuệ, phải có định lực, hơn nữa phải có bản tính, có đủ ba điều kiện này, mới có thể quá độ viên mãn hướng về Bồ Tát giới, cuối cùng đạt đến Phật giới. Ví dụ, người này rất thông minh, rất biết độ người, nguyện làm công đức, rất có trí tuệ, có thể định được chính mình, không chịu sự cám dỗ từ các phương diện. Nếu cứ tu như vậy, thì cơ bản viên thành Bồ Tát đạo, nhưng sự viên thành này là sự viên thành tương ứng.

Bồ Tát bảo chúng sinh, phải Thiện quán nhân duyên (Khéo quán sát nhân duyên), bạn phải học cách giỏi quan sát nhân duyên của người ta. Ví dụ, hôm nay người này quan hệ với người này rất không tốt, rất không vui. Bạn trước tiên phải biết nhìn, biết quan sát nhân duyên quả báo của hai người này, đây gọi là thiện quán nhân duyên. Nhiều người chính là không hiểu, khi cha mẹ đang cãi nhau, đứa con cứ nhất định phải xen mồm vào, kết quả bị tát một cái, đây chính là không biết thiện quán nhân duyên. Muốn cứu độ chúng sinh thì phải biết thiện quán nhân duyên, bạn muốn cứu độ họ, trước tiên phải xem người này và bạn có nhân duyên hay không, bạn có cái duyên phận này đi độ họ, đi cứu họ không. Nếu người này rất hận bạn, không muốn để ý đến bạn, bạn đi giảng pháp cho họ, chẳng phải bạn đi đụng vào đinh sao? Người ta nhìn thấy bạn là ghét, lúc này bạn có thể cứu độ họ không? Nếu nhân duyên này chín muồi thì trực tiếp khai thị. Ví dụ, người này từng học Phật pháp, bạn hãy trực tiếp khai thị, trực tiếp giảng pháp cho họ. Sư phụ vì có công năng nhìn Đồ đằng nên là trực tiếp khai thị, đương nhiên Sư phụ trực tiếp khai thị sẽ tốt hơn các bạn, vì các bạn không nhìn ra nhân duyên của họ, chỉ có thể nói bạn phải tu cho tốt a, có lẽ người ta sẽ nói, bạn còn chưa tu tốt bằng tôi đâu, cho nên phải thiện quán nhân duyên.

Dưới đây Sư phụ tiếp tục giảng cho mọi người, nếu bạn không đi thiện quán nhân duyên, trực tiếp đi khai thị, sẽ khiến chúng sinh duyên chưa chín muồi này chịu hại. Nếu đi khuyên bảo người ta, khi nhân duyên của người này chưa chín muồi, bạn cứ trực tiếp nói với họ nên làm gì làm gì, thực tế bạn là hại họ. Ví dụ, bạn khuyên họ, họ không nghe, cho dù ngoài miệng không nói, nhưng trong lòng đã không vui rồi, trong lòng sẽ sinh ra một loại ý niệm, thực tế bạn đã hại ý thức họ tạo nghiệp, họ trong lòng đang hận bạn, sau đó lại nói lung tung, thế thì bạn càng tạo nghiệp. Họ tạo nghiệp, bạn cũng tạo nghiệp, cho nên người không chín muồi, không thể độ, không còn cách nào. Phật Bồ Tát đều không thể độ tận chúng sinh, huống hồ hạng người như ta? Các bạn chỉ có thể chọn những quả đã chín để hái, chứ không thể hái những quả chưa chín xuống, đạo lý là như nhau. Có những người căn bản không khai khiếu, bạn giảng a giảng cho họ, đến sau cùng họ còn mắng bạn, bạn lại tạo nghiệp rồi. Bởi vì thiện căn phúc đức của họ chưa đầy đủ. Giống như một người cơm ăn không no, áo mặc không ấm, bạn đi nói với họ: "Bạn lấy chút tiền ra đầu tư được không?" Họ không có duyên phận này, làm sao tham gia những đầu tư này? Đúng không? Đây gọi là xem duyên phận, hơn nữa phải đầy đủ mới có thể đi cứu họ.

Ngoài ra khi nhân quả của người này chưa chính thức chín muồi, bạn không thể trực tiếp nói "Pháp giới thực tướng" (Thực tướng của pháp giới/Thực tướng của pháp tướng). Tức là khi người này cái gì cũng không hiểu, bạn không thể nói cho họ biết chân tướng của thế giới này. Ví dụ, nhiều người rất hài lòng với cuộc đời của họ, hơn nữa cảm thấy sống rất vui vẻ, cả ngày rượu chè ăn thịt, nhảy múa ca hát, cảm thấy mình rất có tiền. Lúc này bạn đi nói với họ: Nếu các người cứ trầm luân như vậy, sẽ không lên được trời, không đến được Tây Phương Cực Lạc thế giới, sẽ rơi vào lục đạo luân hồi, chịu khổ vô hạn. Họ có thể sẽ lập tức tát bạn một cái, nói bạn bị bệnh. Bởi vì duyên phận của họ chưa đến, cho nên không thể nói pháp giới thực tướng với người nhân duyên chưa chín muồi, nói thực tướng thực thực tại tại của thế giới này, diện mạo chân thực của thế giới này, bởi vì thế giới này là vô thường, sinh không mang đến, tử không mang đi, đây chính là thực tướng.

Bởi vì duyên của họ chưa đến, nên không có cách nào dấy lên một sự bình an và tâm nhẫn nại trong lòng. Ví dụ, ông chủ hơi có chút tiền, hôm nay nghĩ đầu tư, ngày mai nghĩ làm cái này, lại nghĩ làm cái kia, ngày nào cũng nghĩ không ngừng, ngày nào cũng mạo hiểm, họ vĩnh viễn sẽ không bình an. Phải nhớ bất luận làm việc gì bản thân phải bình an, phải nhẫn nại, bình an là phúc, ngàn vạn lần đừng đi tham, chỉ cần tham sẽ có nguy hiểm. Vĩnh viễn phải có một tâm bình an, bất luận làm việc gì, có thành công hay không, phải có tâm nhẫn nại, phải học cách vô sở vị (sao cũng được), tất cả tùy duyên.

Học Phật pháp phải học cảnh giới, phải từ bỏ tham sân si, tùy ngộ nhi an (gặp cảnh nào yên cảnh nấy). Đối với chúng sinh phải có duyên phận mới có thể cứu, nỗ lực của bản thân cộng với sự gia trì của Sư phụ mới có thể đạt hiệu quả, mới có thể thành công. Nếu Sư phụ liều mạng gia trì, mà bạn không niệm Kinh, thì không thể thay đổi nhân duyên của bạn. Người nghe Phật pháp, nếu thiện căn của họ không đầy đủ, không có thiện căn tốt, không có phúc đức tốt, sẽ phỉ báng bạn, nói bạn không tốt, tạo thành nghiệp chướng đối với đạo nghiệp tương lai của Bồ Tát, tức là sẽ tạo thành nghiệp chướng đối với việc Bồ Tát hoằng pháp tại nhân gian sau này. Ví dụ, những người duyên phận chưa chín muồi đó, cứ để đó trước, đợi Sư phụ đi độ họ thì sẽ tương đối viên mãn. Bởi vì các bạn đi giảng cho họ, họ không tin ngược lại sẽ rất hận các bạn, sẽ cảm thấy Pháp Môn Tâm Linh thế này thế nọ, đợi Sư phụ đi hoằng pháp cho họ, trong lòng họ đã có một loại chướng ngại, sẽ tạo thành nghiệp chướng, bởi vì có một cái "tiên nhập vi chủ" (cái ấn tượng đầu tiên làm chủ), tôi không vui rồi, tôi không nghe nữa. Thực tế khi bạn hoằng pháp đã động vào nhân quả của người ta, họ vốn dĩ không tin, bạn bắt họ nhất định phải tin, cho nên đã tạo thành chướng ngại chuyển thành nghiệp chướng. Lần sau tiếp tục giảng cho các bạn.

33. Ly dục phạm hạnh, thành tựu Phật tánh

+

Sư phụ hôm nay tiếp tục giảng cho mọi người Nhị địa Bồ Tát. Sư phụ trước tiên nói cho mọi người biết cảnh giới của Nhị địa Bồ Tát. Nhị địa Bồ Tát cũng gọi là Ly Cấu Địa.

"Diệu tu trung đạo vân trừ pháp cấu cố, danh ly cấu địa, dĩ gia hành trí đoạn vu chư chúng sinh khởi tà hành vô minh tận, chứng tối thắng công đức giới ba la mật vi tăng thượng".

“Khéo tu theo con đường trung đạo, dần trừ sạch các cấu nhiễm của pháp, nên gọi là Ly Cấu Địa. Dùng trí huệ gia hạnh để đoạn trừ vô minh khiến chúng sinh khởi các hành vi sai lạc, chứng đắc công đức thù thắng nhất của Giới Ba-la-mật, lấy đó làm sự tăng trưởng cao hơn”, đây là cảnh giới của Nhị địa Bồ Tát.

Nhị địa Bồ Tát là dùng Thập thiện nghiệp tự lợi lợi tha, để giúp đỡ người khác, để giúp đỡ chính mình. Tức là tự mình nhận được lợi ích của Thập thiện nghiệp để giúp người khác, để hoàn thành lợi ích này. Cảnh giới của Nhị địa Bồ Tát là từ Sơ địa tiến vào Nhị địa, cảnh giới bắt đầu có sự chuyển hóa mới, sự chuyển hóa này chính là Quang minh tâm (Tâm sáng ngời) của Ngài.

Bởi vì Nhị địa Bồ Tát có một Quang minh tâm, là tâm sáng tỏ, tâm khai ngộ. Quang minh tâm của Nhị địa Bồ Tát sẽ từ từ, dần dần trở thành Đại từ bi tâm. Từ bi tâm ai cũng có, nhưng thiếu một chữ "Đại". Đại từ bi tâm, Đại nguyện lực tâm, Đại phúc đức, Đại xả tâm, tức là bắt buộc mỗi ngày mỗi giờ trong tâm phải có tâm Từ Bi Hỷ Xả, nhưng phải là Đại (Lớn). Thế nào là Đại, thế nào là Tiểu? Ví dụ, tôi hôm nay hứa nguyện, Quán Thế Âm Bồ Tát con một năm ăn một ngày chay, hoặc một tháng ăn hai ngày chay, đây đều là Tiểu. Đại là: Quán Thế Âm Bồ Tát, con phát nguyện cứu độ chúng sinh hữu duyên. Nhất định phải hiểu nguyện lực là rất quan trọng. Địa Tạng Vương Bồ Tát phát nguyện "Địa ngục bất không, thệ bất thành Phật", tuy địa ngục vẫn chưa không, nhưng nguyện lực của Ngài đã thành tựu quả vị của Ngài. Tại sao một người phát nguyện rồi chưa thành công, cũng sẽ có quả báo (thiện báo)? Ví dụ, bạn thành tâm muốn đi làm một việc, nếu không thành công, nhưng bạn thực sự nguyện ý đi làm, thì có công đức, bắt buộc phải phát ra Đại nguyện lực.

Ngoài ra, đợi đến khi Đại xả tâm, Đại phúc đức, Đại nguyện lực, Đại từ bi tâm của các bạn sinh ra, chính là đang từ từ gột rửa tâm linh của các bạn, rửa sạch tâm các bạn. Khi bản tính của các bạn sạch sẽ, sẽ có thể nhìn thấy bản tính sạch sẽ, sẽ dần dần thoát ly khỏi sự nhiễm trọc (nhuốm bẩn) chìm đắm trong Dục giới. Khi bạn từ từ trải qua những sự gột rửa này, tâm cảnh của bạn sẽ từ từ bắt đầu thoát ly khỏi Dục giới thiên.

Sư phụ nói cho các bạn nghe, hòa thượng ngày xưa, thì có thể thoát ly Dục giới thiên, bởi vì họ ở trên núi ngồi trong chùa tu tâm, không gần nữ sắc, không gần tiền tài, đối với cái gì cũng vô sở vị (không màng), chỉ biết tu tâm cho tốt, là có thể đạt đến cảnh giới thoát ly nhiễm trọc của Dục giới. Trọc chính là ô nhiễm. Hiện nay nhà nào cũng có báo, các bạn có đi xem những trang không nên xem không? Các bạn đi theo Sư phụ tu tâm, nếu còn đi xem những trang không nên xem, các bạn là đồ đệ không tu tâm tốt. Nếu có người nói tôi xem xong là để phê phán, tôi nói cho các bạn biết người này là người không có cảnh giới, sẽ bị người đời phỉ nhổ. Những thứ đó là thứ dơ bẩn nhất, là thứ đáng xấu hổ nhất của con người, không được xem. Thử nghĩ xem, nơi dơ bẩn nhất trên cơ thể một người là ở đâu, người thích chỗ đó, có phải là người dơ bẩn không? Súc sinh mới yêu thích những chuyện này.

Cho nên người học Phật bắt buộc phải rời khỏi cảnh giới bụi trần, thành tựu thanh tịnh, Ly dục phạm hạnh, rời khỏi dục vọng của bạn. Chữ Phạm nghĩa là chân chính tin tưởng, chân chính đi tu hành vi của mình. Giới hạnh cụ túc, tất cả hành vi của bạn đều bắt buộc có giới luật. Phật pháp nói "Dĩ giới vi bản" (lấy giới làm gốc), cho nên bạn bắt buộc phải Giới, hơn nữa phải Cụ túc (đầy đủ), chính là phải Giới toàn diện, toàn phương vị, đem tư tưởng, hành vi, ngôn ngữ của bạn toàn bộ đều phải Giới, người này mới có thể tiến vào lĩnh vực tu hành của Nhị địa Bồ Tát, tức là vừa mới tiến vào lĩnh vực tu hành của Nhị địa Bồ Tát.

Nhiều người nói tôi sau này muốn đến Bồ Tát giới, có thể lên được không? Bây giờ Sư phụ đã chỉ ra mục tiêu cho các bạn rồi, cần các bạn tự mình đi tu, có tu lên được hay không là việc của các bạn, điều này phải xem các bạn có tu hay không. Sóng to đãi cát, có người kiên trì không nổi, tự động đào thải; có người vì phẩm hạnh không đoan chính, tự mình rút lui; có người tự mình không có tâm cầu tiến, không có niềm tin để thay đổi thói xấu trên người, thoái lui rồi; người thực sự tu tốt, trong tâm có Phật, thực sự đi theo con đường của Phật Bồ Tát, sẽ loại bỏ mọi khó khăn dũng cảm tiến lên. Ví dụ, các bạn đều từng thấy thuyền, mũi thuyền là nhọn, cái mũi thuyền nhọn này giống như một con đường, bạn học Phật học Pháp chính là chiếc thuyền này, thuyền cứ chạy mãi về phía trước, bạn sẽ luôn cưỡi gió rẽ sóng, gạt hết nước sang hai bên, điều này giống như học tập Phật đạo vậy, hiểu chưa? Nếu mũi thuyền này là bằng, bạn nói xem có bao nhiêu lực cản? Học Phật phải tìm được một con đường Phật chân chính, chính là con đường của Phật Bồ Tát, bạn mới có thể dũng cảm tiến lên.

Kinh Phật nói, tất cả tu học Phật pháp, phải dựa vào Thập thiện nghiệp làm nền tảng học Phật. Sư phụ từng giảng cho các bạn Thập thiện nghiệp, Nhị địa Bồ Tát là dùng Thập thiện nghiệp để tự lợi lợi tha. Thập ác nghiệp hôm nay không lặp lại giảng giải chi tiết nữa. Thập thiện nghiệp tức là: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ (nói dối), không lưỡng thiệt (nói hai chiều), không ác khẩu, không ỷ ngữ (nói thêu dệt), không tham, không sân, không si.

Người tu hành bắt buộc phải tu Thập thiện nghiệp trước thì mới "như pháp", tức là chỉ cần tu học Thập thiện nghiệp, bạn sẽ có thể tìm được chính pháp. Như, chính là tìm được. Như pháp chính là tìm đúng pháp này, sau đó đắc pháp, từng bước làm cho tâm bạn trở nên thanh tịnh. Thực tế bận tới bận lui, chính là bận cái tâm này. Các bạn hôm nay tất cả thói xấu, tất cả phiền phức từ đâu mà đến? Chính vì tâm không an tĩnh, tâm không sạch sẽ. Nếu tâm các bạn có thể sạch sẽ một chút, sẽ không xảy ra vấn đề.

Nhiều bệnh tật của con người đều do tâm không sạch sẽ gây ra, đó là lý do tại sao nói: Tâm là gốc tạo bệnh, là họa, là nguồn gốc tạo ra bệnh tật. Cho nên nói, Tâm định trị vạn bệnh. Người có tâm bệnh, cho dù trên người sinh ra một vạn cái bệnh, chỉ cần tâm định, cũng có thể trị tận gốc, hiểu chưa? Có một người bị ung thư, người nhà quyết định không nói cho anh ấy biết, đối xử với anh ấy rất tốt, để anh ấy tự cường, kết quả bệnh ung thư của người này khỏi. Người khác vừa mới phát hiện nghi là ung thư, người nhà liền nói cho anh ấy, nói rất có khả năng là ác tính, nhưng hiện tại vẫn chưa thể khẳng định, kết quả người này một tuần sau thì chết. Đây chính là tâm của bạn tạo thành nghiệp của bạn, tâm bạn chết rồi, con người bạn sẽ chết. Tâm vĩnh viễn đừng chết, con người bạn mới sống có ý nghĩa.

Trước tiên phải vượt ra khỏi cấu nhiễm (bụi bẩn ô nhiễm) của Dục giới, vượt ra khỏi cấu nhiễm của Dục giới chính là cảnh giới của bạn phải vượt qua Dục giới thiên, chính là phải vượt qua sự nhuốm bẩn của cặn bã nhân gian. Con người tu đến trình độ nhất định thì tu không lên được nữa, là vì cảnh giới không nâng cao lên được. Vậy cảnh giới nâng cao thế nào? Giảng cho các bạn nghe một đạo lý rất đơn giản, các bạn sẽ biết cảnh giới nâng cao thế nào. Các bạn bây giờ tại sao không khạc nhổ bừa bãi nữa? Các bạn ngày xưa tại sao lại làm thế? Đây chính là sự nâng cao cảnh giới. Nâng cao thế nào? Là cảnh giới tăng lên đến một trình độ nhất định, tự mình biết làm một con người không thể khạc nhổ bừa bãi, làm một con người phải giữ gìn vệ sinh, đây là một sự nâng cao của cảnh giới nội hàm, từ từ bạn tự nhiên sẽ không khạc nhổ bừa bãi nữa. Bạn nói cảnh giới này tu thế nào? Nhìn thấy được không? Sờ thấy được không? Sự nâng cao cảnh giới là không nhìn thấy, không sờ được, chỉ có dựa vào tự mình từ từ Ngộ, từ từ đi Tu luyện. Tại sao có người gặp chút chuyện là nhịn không nổi nhảy dựng lên? Tại sao có người lại rất trầm ổn nhẫn nhục tinh tấn? Đây chính là cảnh giới khác nhau. Người cảnh giới cao, dù chỉ thẳng mũi mắng họ, họ cũng chỉ cười cười thôi, một câu cũng không nói.

Tại sao lại trở thành Thập địa Bồ Tát? Bởi vì cũng là từng tầng từng tầng thăng lên. Cảnh giới của bạn càng cao, thì thăng càng nhanh; cảnh giới của bạn càng thấp, thì thăng càng chậm. Giống như nhân gian, tại sao cùng một việc, người khác nhau làm việc sẽ có phản ứng khác nhau, phản ứng khác nhau này đại biểu cho cảnh giới khác nhau.

Phát tâm tu học Thanh Văn, Duyên Giác Bồ Tát, là cảnh giới tu hành xuất thế của bậc Thánh giả. Thánh giả là thánh nhân. Biết tại sao Bồ Tát ở Thanh Văn đạo và Duyên Giác đạo sau khi đạt được quả vị A La Hán, không có quá nhiều thánh giả sẽ xuống cứu người không? Bởi vì họ sau khi xuống sợ vạn nhất không về được, sẽ lại rơi vào lục đạo luân hồi. Bồ Tát giới của Pháp giới thứ 9 và Phật giới của Pháp giới thứ 10 các Ngài phát nguyện xuống cứu độ chúng sinh, nguyện lực của các Ngài lớn. Nhưng Bồ Tát của Bồ Tát giới xuống cứu người cũng là mạo hiểm nguy cơ không về được, nhưng cảnh giới của Bồ Tát giới rất cao, cho dù là mạo hiểm nguy cơ không về được cũng muốn xuống cứu người. Chỉ có Phật xuống rồi, vĩnh viễn sẽ không trầm luân ở nhân gian, sẽ không rơi vào lục đạo luân hồi. Bởi vì Phật là bậc Đại triệt đại ngộ, là Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

34. Học Bồ Tát đạo, hành Thập thiện nghiệp, thành tựu thiện quả

+

Nhị địa Bồ Tát phải càng kiên cố hơn cầu Phật đạo ở trên. Nhị địa Bồ Tát phải lấy Phật đạo làm sự tiến lên (thượng tiến), phát Bồ đề bi nguyện, độ hóa chúng sinh, chính là hướng lên trên cầu Phật đạo, hướng xuống dưới độ hóa chúng sinh (thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh). Tiếp tục dùng Thập thiện nghiệp tự lợi lợi tha. Hy vọng các bạn xem kỹ lại Thập thiện nghiệp, muốn học Phật Bồ Tát, trước tiên phải làm được Thập thiện nghiệp, làm người cũng bắt buộc phải học Thập thiện nghiệp (Thân Khẩu Ý).

Phải dùng Quang minh tâm (tâm sáng ngời) vốn dĩ thanh tịnh, tiếp tục dùng chính trực, nhu nhuyễn, thuần thiện, bất tạp, điều phục, chính là phải dùng tâm địa vô cùng quang minh, điều giải và hàng phục nghiệp chướng trong tâm bạn. Mỗi người các bạn trong lòng đều có nghiệp chướng, phải hàng phục nó, tự mình điều giải. Ví dụ, hôm nay bị phạt tiền rồi, thì phải nghĩ: đều do mình không tốt, đã bị phạt mấy lần rồi, cái thói xấu đỗ xe bừa bãi này mãi không sửa, lần này bị cảnh sát bắt được cũng là đáng đời, sau này nhất định phải cẩn thận hơn, nhất định không được đỗ xe bừa bãi nữa — điều giải rồi nhé. Phải hàng phục tâm sân hận của mình, bị phạt tiền các bạn nói xem có hận không? Trong lòng có dễ chịu không? Điều phục chính là đến điều giải tâm của bạn, để tâm bạn đừng có ý hận, áp lực trong lòng phải dựa vào chính mình điều giải.

Nhị địa Bồ Tát chính là điều phục, nhu thuận, chính trực, phải tịch tĩnh. Tịch tĩnh là gặp chuyện gì cũng phải an tĩnh lại, có thể an tĩnh lại bạn mới có tư cách làm Bồ Tát, bạn chuyện gì cũng không tĩnh lại được thì không làm được Bồ Tát. Còn phải Quảng đại, sau khi tĩnh lại, tâm phải quảng đại, phải vô biên vô tế, phải dung nạp bốn biển, cho nên có câu "Hải nạp bách xuyên" (Biển nạp trăm sông), chính là biển lớn có thể dung nạp nước trong bất kỳ con sông nào chảy vào biển lớn, tức là dòng sông dơ bẩn chảy đến biển lớn cũng sẽ biến thành sạch sẽ, cho nên nói ngàn con sông đổ về biển lớn. Lấy những người đang ngồi đây làm ví dụ, trên người các bạn có thói xấu không? Nếu Sư phụ không nghiêm khắc trách cứ thói xấu trên người các bạn, là Sư phụ không đúng. Sau khi nghiêm trách, bằng như thay các bạn rửa sạch, Sư phụ vẫn để các bạn hải nạp bách xuyên, cái biển này là biển Phật.

Các bạn phải biết rõ Thập bất thiện nghiệp (Sư phụ từng giảng qua, Thập thiện nghiệp và Thập bất thiện nghiệp), Thập bất thiện nghiệp là nghiệp làm không tốt, Thập bất thiện nghiệp cũng gọi là Thập ác nghiệp. Thập ác nghiệp có thể khiến chúng sinh đọa lạc tam đồ ác đạo. Tam đồ ác đạo: súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục. Nếu xuống đó thì thê thảm rồi, rất khó lên được, chịu khổ vô cùng, cũng được gọi là chúng sinh trong biển khổ sinh tử. Chúng ta phải có tâm đáng thương (thương xót), phải thương xót họ. Sư phụ bây giờ có phải đang thương xót họ không? Bao nhiêu người ở địa phủ, bao nhiêu người ở địa ngục, Sư phụ dạy mọi người siêu độ thân nhân quá cố của mình lên trời, siêu độ về A tu la đạo, siêu độ về Nhân đạo, có phải đang cứu chúng sinh không? Không những cứu người, ngay cả quỷ cũng phải cứu, họ đều rất đáng thương, quậy phá các bạn, ăn xin các bạn, đều là để có thể đi lên. Các bạn đừng sợ, không có gì đáng sợ cả, hãy cứu độ họ cho tốt, giúp đỡ họ cho tốt. Thực ra con người chỉ cần rời khỏi nhục thân thì gọi là quỷ (hoặc linh hồn), chỉ có linh thể của bạn có thể đi lên. Trên người là A tu la đạo, lên nữa gọi là Thiên nhân, nhưng vẫn luân hồi trong lục đạo.

Nhị địa Bồ Tát phải phát ra Lợi ích tâm, An lạc tâm, Từ bi tâm, Liên mẫn tâm, Nhiếp thọ tâm, Thủ hộ tâm, Giáo hóa tâm, những cái này đều là điều Nhị địa Bồ Tát cần làm được.

Phải rất nghiêm khắc yêu cầu bản thân lợi ích chúng sinh, làm bất cứ việc gì đều phải tốt cho mọi người, đây gọi là Lợi ích tâm.

An lạc tâm là mỗi ngày phải làm rất nhiều việc, hơn nữa mỗi việc đều phải tốt cho mọi người, phải tự mình vui vẻ, khiến người khác vui vẻ.

Từ bi tâm là nhìn thấy ai cũng phải thương xót. Liên mẫn và Từ bi có sự khác biệt, Liên mẫn là chỉ cụ thể một sự việc nào đó, liên mẫn là chỉ người này rất đáng thương, sinh tâm liên mẫn; còn trong Từ bi tâm cũng bao hàm Liên mẫn tâm.

Nhiếp thọ tâm là nhiếp cái tâm của mình lại để chịu đựng áp lực. Nhiếp là tập trung, tập trung để tiếp nhận, để chịu đựng.

Thủ hộ tâm là phải bảo vệ cái Đạo này, bảo vệ pháp môn này. Hôm nay các bạn theo Sư phụ học pháp môn này, học cái Đạo này, thì phải bảo vệ nó.

Giáo hóa tâm là giáo hóa chúng sinh, đi giáo dục giúp đỡ họ, đi cảm hóa họ. Tâm tâm niệm niệm đều hy vọng mình trở thành người nỗ lực thực hành giáo dục chúng sinh (lực hành giả), tâm của tôi, niệm của tôi toàn bộ đều là giúp đỡ người khác, giáo dục người khác trở thành Bồ Tát, như vậy chính bạn mới có thể trở thành Bồ Tát. Giống như một trường sư phạm, thầy giáo trong trường hy vọng học sinh trong trường đều có thể đào tạo trở thành thầy giáo.

Giáo hóa chúng sinh tòng thiện tự thành (Giáo hóa chúng sinh theo thiện tự thành tựu), để chúng sinh thành tâm thành ý đi làm việc thiện. Khẩn thiết lợi ích chúng sinh, khẩn thiết là vô cùng thành khẩn, vô cùng cấp thiết đi giúp đỡ họ, đi làm lợi ích cho họ, cứu độ họ. Ví dụ, Sư phụ có tâm thành khẩn giúp đỡ các bạn, các bạn là đồ đệ của Sư phụ, cho dù đắc tội với các bạn, Sư phụ cũng không oán thán, bởi vì Sư phụ xứng đáng với Quán Thế Âm Bồ Tát (đối đắc khởi Quán Thế Âm Bồ Tát). Cho dù các bạn rời bỏ tôi, không để ý tôi, tôi đều phải nói các bạn, bất kể ai có thói xấu, nếu Sư phụ không nói thì là Sư phụ bất lương, vi sư bất chân (làm thầy không chân chính). Vĩnh viễn phải nhớ Sư phụ cho dù là tìm thói xấu trên người các bạn, cũng là để các bạn hiểu biết ác tập trong đời quá khứ của mình, sau đó giúp các bạn sửa đổi tiêu trừ nghiệp chướng, nếu không các bạn đến theo tôi học cái gì a?

Phải dùng cái tâm thanh tịnh nhất, vô cùng sạch sẽ trong sáng của mình để tăng trưởng, gia cường, củng cố, mở rộng đại bi nguyện độ hóa chúng sinh của mình. Các bạn nhất định phải độ hóa chúng sinh, bắt buộc phải đi cứu độ chúng sinh, nếu không sẽ không tu đến Bồ Tát giới.

Việc đáng buồn nhất trên đời là không biết từ bi, người không biết từ bi chúng sinh là người đáng thương nhất trên đời. Phải hiểu phiền não đến từ những nguyện vọng không hợp lý. Nếu nguyện vọng của bạn không hợp lý, tiếp theo chính là tự chuốc lấy phiền não cho mình, việc rõ ràng làm không được cứ cố làm, phiền não của bạn sẽ đến. Rõ ràng người này không thích bạn, bạn cứ cố theo đuổi, đây chẳng phải tự tăng thêm phiền não cho mình sao?

Cho nên tất cả hiện tượng trên thế giới đều là nhà tù của chúng ta. Hiện tượng bạn nhìn thấy thực tế chính là nhà tù trói buộc mình, là giám lao. Thứ bạn nhìn thấy bạn đi thích nó rồi, bị nó trói buộc rồi, xin lỗi, bạn bằng như đã vào tù. Ví dụ, bạn thấy người ta hút thuốc, bạn cũng đi nếm thử, nghiện rồi, rất khó cai. Lại như bạn hôm nay đi sòng bạc, thắng mấy trăm đồng, tiếp theo bạn liền vào nhà tù của nó, trở thành nô lệ của nó, sau khi vào rồi, trốn cũng không thoát.

Đã thành thân người, lại làm tà ác hạnh, bạn vốn dĩ đã là người rồi, lại liều mạng đi làm việc tà ác, thì giống như một viên châu báu rất sạch sẽ ngâm trong phân đất, lấy ra thối không ngửi nổi. Bồ Tát nói "Nhân thân nan đắc" (Thân người khó được), làm một con người không dễ dàng a, bạn làm người rồi, lại đi làm việc xấu, bạn chính là người ngu xuẩn nhất thế gian.

Sư phụ hôm nay giảng đến đây, lần sau tiếp tục giảng cho các bạn pháp lực của Nhị địa Bồ Tát, cũng tức là công năng (năng lượng) của Nhị địa Bồ Tát.

35. Nâng cao cảnh giới con người, tu luyện ánh sáng Bồ Tát

+

Hôm nay trước tiên giảng cho mọi người biết cảnh giới của con người tiến vào Sắc giới thiên như thế nào, điều này rất quan trọng. Thực ra, những cái này đều là sau khi tu đến cảnh giới trình độ nhất định, sinh ra một số biến hóa mang tính vật chất, theo cách nói của người hiện đại là biến hóa mang tính thực thể (khí chất tính). Nhiều người đều biết tu luyện là dùng khí trường để tu luyện. Ví dụ, tọa thiền, niệm Kinh v.v... thực tế đều là tu một cái Khí. Nếu thực sự tu đến cảnh giới nhất định, ngay cả cái Khí này cũng không cần nữa. Lại như, trong cuộc sống, nếu người này "không có khí" (không tức giận), không phải chỉ hơi thở của bạn không có khí, mà là nói con người vốn mang cái khí của Dục giới, là khí tức giận, là khí nổi nóng. Nếu người này không nổi nóng, các bạn nói xem người này có phải giống như Bồ Tát không. Tật xấu lớn nhất của con người chính là vì cái khí này không có chỗ đi, cho nên khi không vui, nó nhất định phải phát ra. Cái khí này tu đến về sau, theo sự nâng cao của cảnh giới, ngay cả cái khí này cũng không còn nữa.

Khi tu luyện đến trình độ nhất định, trong cơ thể sẽ sinh ra một loại Chuyệt hỏa (Lửa tam muội/Kundalini), loại chuyệt hỏa này có thể thông kinh lạc cơ thể. Nhiều người tu luyện tu đến cuối cùng âm khí quá nặng, chính là thiếu loại chuyệt hỏa này. Khi một người âm khí quá nặng, sẽ dễ sinh bệnh, cơ thể cảm thấy khó chịu. Nếu cả ngày giao thiệp với âm giới, sẽ nhìn thấy rất nhiều thứ của âm giới, hơn nữa càng nhìn càng nhiều.

Sư phụ nói với các bạn trên người phải có một loại Chuyệt hỏa, chính là một khối ánh sáng. Khối ánh sáng này rất quan trọng, khối ánh sáng này đi đến đâu có thể thông kinh lạc chỗ đó của bạn, bởi vì đây là một khối ánh sáng, biến thành một khối lửa, sau đó lửa lại thông kinh lạc. Còn cái Khí của bạn là không thông mạch, là đánh không thông mạch, kinh lạc và huyệt mạch của bạn bị khí làm tắc nghẽn, chính là người ta thường nói "khí uất bất thông". Kinh lạc không thông thực tế là tâm khí tắc nghẽn, khí có thể thường xuyên làm tắc nghẽn rất nhiều bộ phận cơ thể bạn, bao gồm máu, mạch máu v.v... Đó là lý do tại sao khi người ta tức giận, sức khỏe sẽ không tốt, khó chịu, nếu khí của bạn dùng không tốt sẽ xảy ra sự cố. Như nhiều người luyện khí công, tu không tốt đột nhiên đi mất (chết), còn có người tu luyện khí công không đúng mà tẩu hỏa nhập ma. Cho nên người tu luyện khí công hơi không cẩn thận chân tay sẽ xảy ra vấn đề, hoặc bỗng nhiên đầu óc bị kẹp, não trúng gió (đột quỵ), hoặc tu luyện đến sau này trên người mọc ra rất nhiều thứ.

Nói cho các bạn biết khí có thể làm tắc nghẽn kinh lạc của bạn, cho nên không được luyện khí, mà phải thông mạch, phải luyện một loại Ánh sáng (Quang), thực ra chính là Quang và Nhiệt. Năng lượng này chính là trong khi học Phật, một loại khí trường mà Sư phụ dạy các bạn cần chú ý, cũng chính là Chuyệt hỏa. Chuyệt hỏa có thể khiến mạch của bạn biến thành màu đỏ, bởi vì khối lửa này sau khi thông mạch của bạn, mạch của bạn sẽ biến thành màu đỏ. Rất đơn giản Sư phụ dẫn các bạn lạy Phật Bồ Tát, trên người các bạn có phải cảm thấy rất nóng không? Đây chính là thông kinh lạc của bạn rồi, Sư phụ không phải là một loại Khí, hoàn toàn là một loại Quang (Ánh sáng). Thời đại quá khứ chúng ta nói đều là năng lượng nguyên tử, còn bây giờ nói là tốc độ ánh sáng, là cấu trúc phân tử, tức là nguyên tử đã không thể đáp ứng nhu cầu của xã hội này rồi. Giống như người phương Tây chữa bệnh, chỉ cần thứ nhìn thấy được đều có thể giúp bạn mổ xẻ giải quyết, còn người Trung Quốc nói kinh lạc, có nhìn thấy được không? Nhưng nó thực sự tồn tại, cho nên người Trung Quốc chữa bệnh, là trị ngọn trị gốc cùng giải quyết.

Khi các bạn tu luyện đến cảnh giới trình độ nhất định, thực ra trên người sẽ xuất hiện một loại nhiệt lượng, mà nhiệt năng này có thể thông qua khí mạch của bạn biến thành màu đỏ, sau đó biến thành thanh tịnh, nhiệt năng này sẽ khiến bạn an tĩnh lại. Lấy một ví dụ đơn giản, các bạn cùng Sư phụ lạy Phật Bồ Tát, điều hòa vẫn bật, mà toàn thân lại cảm thấy rất nóng. Bình thường khi người ta nóng, rất dễ nổi cáu, rất dễ không vui, nhưng tại sao khi lạy Phật Bồ Tát, các bạn đứng đó lại rất an tĩnh? Là vì năng lượng nội hàm của chính các bạn phát ra rồi, thể năng lượng này có thể quán thông toàn thân bạn, cái này chính là một loại quang năng (năng lượng ánh sáng) chúng ta cần sau khi học Phật niệm Kinh. Ví dụ, ở nơi rất tối tăm, bạn châm lửa lên, có phải sáng rồi không, ngọn lửa này có phải là một khối ánh sáng không? Tức là lúc bắt đầu trước tiên phải tu Chuyệt hỏa của mình, tu thể năng lượng của mình, mà thể năng lượng này đến một lúc nào đó sẽ biến thành một khối ánh sáng, là ánh sáng màu đỏ, hơn nữa rất ấm áp, khi tràn đầy kinh lạc toàn thân, cơ thể sẽ sinh ra một loại ánh sáng, ánh sáng này là ánh sáng quang minh, ánh sáng này là ánh sáng thanh tịnh. Ví dụ, bạn đang ở đó vừa gấp vừa nhảy dựng lên nổi cáu, bỗng nhiên nhìn thấy một luồng ánh sáng bay tới, cảm giác là Quán Thế Âm Bồ Tát đến, bạn sẽ lập tức an tĩnh lại. Bồ Tát chính là Quang (Ánh sáng), ánh sáng này chiếu rọi vạn trượng, ánh sáng này có thể khiến bạn bình tĩnh lại. Ánh mặt trời cũng có thể chiếu rọi vạn vật, nhưng loại ánh sáng này, thể năng lượng này có âm có dương, cho nên đến tối thì không còn nữa.

Nếu khi bạn tu luyện ra loại ánh sáng này, nó là 24 giờ vĩnh viễn lưu chuyển trên người bạn, nó có thể giúp bạn đả thông kinh lạc. Đó là lý do tại sao nhiều người tu tâm có chính niệm sẽ không sinh bệnh, sẽ không tẩu hỏa nhập ma, còn người tâm niệm bất chính thì dễ tẩu hỏa nhập ma, đồng thời dễ sinh bệnh.

Sư phụ giảng giải cho các bạn từ góc độ vật lý, giảng cho các bạn từ khí chất, khi bạn có thể tu ra những chuyệt hỏa này, cảnh giới của bạn bằng như đã tiến vào Sắc giới. Mọi người đều biết Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới. Tiến vào cảnh giới Sắc giới thiên, tự mình có thể khống chế được mình, có thể khiến luồng hào quang này chạy khắp thân, hơn nữa vĩnh viễn chiếu rọi bạn. Ánh sáng này từ đâu mà đến? Chính là tu tâm, niệm Kinh, làm việc thiện, làm công đức v.v... Công đức một người làm đến mức nhất định, chuyệt hỏa sẽ tự nhiên phát ra, dùng Phật quang khống chế dục vọng của mình, dùng Phật quang tiêu trừ tham sân si của mình. Chuyệt quang có thể giải thích là ánh sáng của linh tính và ánh sáng ngoài thân, tức là khi chuyệt hỏa này hình thành một loại ánh sáng, thực tế chính là ánh sáng linh tính trên người bạn, đó là lý do tại sao khi người ta tu đến cảnh giới nhất định, trên đầu sẽ có vòng hào quang.

Sư phụ bây giờ giảng cho các bạn cảnh giới cao tầng. Cho dù các bạn đến Sắc giới thiên, sau khi đến Sắc giới thiên, phải hiểu Lạc ái, Pháp vị và Quang minh.

Lạc ái là khoái lạc (vui vẻ), tràn đầy từ ái.

Pháp vị là hoàn toàn tuân theo Phật pháp tam muội của Bồ Tát mà đi, mà vận hành, tức là việc bạn làm đều là việc Bồ Tát làm.

Quang minh là vì tất cả việc bạn làm đều là việc Bồ Tát làm, hơn nữa đều tràn đầy từ ái, bản thân lại cảm thấy rất vui vẻ. Thế nào là quang minh? Có quang (ánh sáng) mới có thể minh (sáng), mới có thể nhìn thấy. Không có quang sao có thể có minh? Là dựa vào ánh sáng của chính mình để thắp sáng.

Giảng đơn giản cho mọi người về Vô sắc giới thiên. Vô sắc giới thiên là Không tính thể (thể tính không), là tầng trời Không tính, ngay cả linh thể cũng vô cùng vô cùng sạch sẽ. Nhiều người nói đới nghiệp vãng sinh đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, tại sao có thể đới nghiệp vãng sinh? Vậy làm ác nghiệp cũng có thể lên sao? Cái đới nghiệp vãng sinh này nói về người này từng tạo nghiệp chướng, hoặc phạm tội. Bây giờ tu hành, sám hối tội nghiệp, mới có thể mang cái nghiệp rất nhẹ vãng sinh. Ví dụ, từng làm tổn thương người ta, mà bây giờ sửa đổi rồi, vẫn luôn tu tâm niệm Kinh, làm việc thiện, đợi đến khi họ sắp đi, là mang nghiệp rất nhẹ vãng sinh. Giống như một cái áo bẩn, tuy đã giặt qua mấy lần, còn lưu lại vết tích, nhưng cái áo này vẫn là sạch sẽ. Bồ Tát từ bi, đới nghiệp vãng sinh, là mang loại nghiệp rất nhẹ này vãng sinh, chứ không phải khi bạn hiểu đạo lý rồi tiếp tục tạo nghiệp, đợi đến khi chết, mới sám hối, như vậy là không lên được. Đây là vấn đề khái niệm, có hiểu không? Phật pháp nói khổ hải vô biên, quay đầu là bờ, tại sao nhân quả báo ứng như hình với bóng, hơn nữa hiện tại là báo ứng tăng tốc, chính là đơn giản như vậy.

Cho dù linh tính của một người đến cảnh giới của A Di Đà Phật, nhưng trong linh tính này sẽ có một số việc sai lầm bạn từng làm trong quá khứ, ví dụ, quá khứ bạn từng sát sinh, hoặc vu khống người ta hại chết người ta, loại nghiệp chướng này cũng đi theo Không tính thể của bạn vào trong linh thể bạn. Giống như một đám mây trắng là linh hồn của bạn, bỗng nhiên có một chút mây đen đi vào trong mây trắng của bạn, ở trong đám mây trắng của bạn lúc có lúc không, ví dụ này chính là phân linh thể trong toàn linh (linh hồn tổng thể) của bạn là có tội nghiệp, nhưng nhìn tổng thể vẫn là một đám mây trắng. Các nhà khoa học có làm thí nghiệm, lấy một chút mây trên trời phân tích, bên trong là những giọt nước nhỏ, nhưng những vật thể này đều có trọng lượng. Đám mây đen này chính là nghiệp chướng của bạn đi vào trong mây trắng của bạn, liền làm tăng trọng lượng của bạn, hơn nữa đám mây đen này lúc ẩn lúc hiện. Tức là bạn đến ao bảy báu nước tám công đức ở Tây Phương Cực Lạc thế giới để rửa, rửa sạch rồi, là tạm thời không có thứ đen, nhưng qua một lúc từ từ màu sắc lại hiện ra, hiểu chưa?

Khi nội tâm bạn có ô nhiễm, trong Bát thức điền có nghiệp chướng, thì vĩnh viễn không rửa sạch được, chỉ có một phương pháp có thể rửa sạch, chính là sau khi bạn đại triệt đại ngộ, sau khi thoát ly lục đạo luân hồi, khi toàn bộ tu học Phật pháp, bạn mới có thể theo thời gian kéo dài từ từ sạch sẽ triệt để. Nhưng, là rất khó. Giống như các bạn từng làm việc xấu, bây giờ có thể quên không? Các bạn sau khi học Phật, chỉ cần nhớ tới sẽ rất hận bản thân. Giống như rất nhiều cư sĩ nói tôi sau khi theo Đài trưởng học Phật, mới phát hiện mình trên người có nhiều khuyết điểm như vậy, bản thân sao lại làm sai nhiều việc như vậy chứ? Việc sai từng làm ngay cả nhắc cũng không dám nhắc, đây là tại sao? Là vì họ tự cảm nhận được sự tồn tại của nghiệp chướng trên người mình, mới có cảm ngộ như vậy. Nhưng rất nhiều người vẫn đang tạo nghiệp, cái cũ chưa đi, cái mới lại tạo, làm sao rửa cho sạch?

36. Dùng tâm thuần thiện dung hợp cùng tâm Bồ Tát

+

Sư phụ tiếp tục giảng cho các bạn, sau khi tiến vào Không tánh thể, Sư phụ ví nó như một đám mây trắng, khi đám mây trắng này sạch sẽ, chính là Không tánh thể, bạn sờ một cái có thể cảm nhận là thứ gì không? Cảm nhận không được, nhưng có thể nhìn thấy, giống như chúng ta đứng trên núi Lư Sơn nhìn thấy một đám mây trắng bay qua, bạn sẽ không nhìn thấy đối phương nữa, bạn muốn xua tan mây, là không xua tan được, đợi mây qua rồi cái gì cũng rõ ràng, đây chính là Không tánh thể. Nhưng Không tánh thể là dựa vào các điểm sáng ngưng tụ lại, nhiều điểm sáng như vậy từ đâu mà đến? Là việc thiện bạn làm, công đức bạn tích. Công đức càng nhiều, Không tánh thể này càng sạch sẽ. Nếu bên ngoài linh tính không có nhiều công đức rót vào trong mây của bạn, đám mây này trên trời là không nhìn thấy. Bạn làm việc thiện, làm công đức, cứu độ chúng sinh sẽ có không ngừng các điểm sáng ngưng tụ trong tầng mây này của bạn, lúc này đám mây này của bạn, là một đám mây rất đẹp, có thể nhìn thấy, nhưng sờ không được, nhưng có thể cảm giác được. Cho nên linh tính đến sau này không có nhục thể chính là như vậy, giống như trong Tây Du Ký yêu quái khi đến, xuất hiện là mây đen. Bồ Tát khi đến, là đạp trên tường vân (mây lành). Trong Tây Du Ký khi chưa nhìn thấy Bồ Tát, trước tiên là một đám tường vân, lát sau trên tường vân Bồ Tát xuất hiện, là mây tụ lại.

Cái Sư phụ bảo các bạn học chính là làm sao tụ tập những điểm sáng này lại, dung hợp cùng điểm sáng của vũ trụ. Điểm sáng của vũ trụ là thiên nhiên, dung hợp cùng cái điểm sáng vốn có của vũ trụ này, trạng thái này là ánh sáng và ánh sáng tương hỗ ánh chiếu (soi chiếu lẫn nhau). Ví dụ, tâm của Quán Thế Âm Bồ Tát lương thiện như vậy, tâm của chúng ta cũng lương thiện như vậy, bạn và Quán Thế Âm Bồ Tát tâm liên tâm, là có thể tiếp nhận khí trường của Quán Thế Âm Bồ Tát. Nếu tâm của bạn dơ bẩn biết bao, lương tâm xấu xa biết bao, thì bạn có thể tiếp nhận khí trường tốt của Quán Thế Âm Bồ Tát không? Cho nên ánh sáng và ánh sáng phải tương hỗ đối xứng mới càng tụ càng sáng. Người làm sân khấu đều biết, một luồng ánh sáng trắng chiếu trên sân khấu, nếu một luồng ánh sáng màu tối khác, chiếu vào cùng vị trí, vị trí này lập tức ảm đạm vô quang, không có ánh sáng nữa.

Mọi người nhất định phải nhớ, ánh sáng này chính là đem Phật quang tu luyện từ trong tâm này của mình hợp lại với ánh sáng vũ trụ, tiếp theo sẽ xuất hiện hiện tượng kỳ diệu, tất cả Phật Bồ Tát sẽ hiển hiện trên trời, mà cái trời này ở ngay trong tâm bạn, bởi vì khi ánh sáng tự tánh, ánh sáng Phật của bạn và ánh sáng vũ trụ trên trời hợp lại với nhau, mắt của bạn, tâm của bạn sẽ có thể nhìn thấy Phật Bồ Tát trên trời, vì ánh sáng của các Ngài đang chiếu rọi tâm bạn.

Lấy ví dụ Sư phụ thường lấy cho các bạn, bạn bây giờ là trình độ tiểu học, làm sao có thể gặp giáo sư? Đợi sau khi bạn tốt nghiệp đại học, học lên học vị cao hơn, tự nhiên là ngày ngày ở cùng giáo sư. Tức là đợi khi bạn tu đến cảnh giới của Bồ Tát, bạn tự nhiên có thể nhìn thấy Bồ Tát. Đạo lý rất đơn giản, nếu ngày ngày ở cùng người có cảnh giới tư tưởng rất cao, cảnh giới tư tưởng của bạn cũng sẽ theo đó nâng cao. Ngược lại, nếu ở cùng người cái gì cũng không hiểu, cái gì cũng học không biết, bạn có thể học được gì?

Truyền ánh sáng của Phật Bồ Tát vào cơ thể bạn, khi ánh sáng của bạn và ánh sáng của Phật Bồ Tát trên trời hợp lại với nhau, chính là đã truyền Phật Bồ Tát vào cơ thể bạn, giống như sao băng đi vào nội linh của bạn. Thế nào là nội linh? Tư duy tiềm ẩn trong nội tâm gọi là nội linh. Thế nào là ngoại linh? Ngoại linh là tư duy hiện tượng bề mặt. Từng chùm từng chùm ánh sáng giống như sao băng đi vào cơ thể bạn, đi vào nội linh của bạn, nội tâm của bạn mới sáng, chỉ khi nội linh sáng rồi, ngoại linh mới sáng. Ví dụ, một cái bấc đèn nhỏ, khi bạn mới châm, chính là nội linh, khi lửa cháy lên, chính là ngoại linh, đèn thắp sáng rồi, bên ngoài nhìn thấy đều là ánh lửa. Cho nên đợi Phật quang đi vào nội linh của bạn, bạn liền biến thành ánh sáng hư không, cơ thể bạn biến thành Không, đây chính là cảnh giới ánh sáng Vô sắc giới.

Sư phụ bây giờ giảng cho các bạn chẳng qua là cái mang tính vật chất của Vô sắc giới thiên, vẫn chưa giảng cho các bạn cái mang tính nội hàm. Nếu khi cảnh giới của bạn tu đến Vô sắc giới thiên, có nền tảng này rồi, bạn có thể tu hướng về Thanh Văn, Duyên Giác đạo, sau đó siêu xuất lục đạo luân hồi, chính là Niết bàn. Phật Bồ Tát cảnh giới rất cao mới có thể Niết bàn. Niết bàn là trực tiếp tiến vào thế giới của Phật, cũng chính là Pháp giới thứ 10, tức Phật giới.

Học Phật Bồ Tát, là học Phật Bồ Tát ở các quả vị khác nhau. Nếu các bạn chuyên tu Tam địa Bồ Tát, thì sau này khi bạn đi có thể trực tiếp đắc quả vị Tam địa Bồ Tát. Không phải là bạn muốn đắc quả vị Thập địa Bồ Tát, mà là nhất định phải tu lên từng địa từng địa một. Nếu bạn ở nhân gian tu là Tam địa Bồ Tát, đợi khi bạn đi, nếu cảnh giới đến Tam địa Bồ Tát, thì có thể trực tiếp đắc quả vị Tam địa Bồ Tát. Giống như trường lính và trường sĩ quan ở nhân gian chúng ta vậy, bạn học sĩ quan, tốt nghiệp xong là sĩ quan, bạn học lính, tốt nghiệp xong là lính, là xem tu vi của bạn ở nhân gian, phải xem các bạn tu thế nào.

Lần trước giảng cho mọi người Nhị địa Bồ Tát, hôm nay bổ sung thêm một chút, Nhị địa Bồ Tát là Thanh tịnh và Giới hành thành tựu, Nhị địa Bồ Tát rất an tĩnh, rất sạch sẽ, nghiêm trì giới luật. Giới hành, các bạn đã giữ giới chưa? Việc không thể làm các bạn đã làm chưa? Không phải tôi không phạm tội là tốt, không phạm tội là điều kiện cơ bản nhất, từng giảng cho các bạn Thập thiện nghiệp đạo và Thập ác nghiệp đạo, cái ác nghiệp đạo này vốn dĩ không nên có, các bạn không những không được làm ác nghiệp, còn phải làm Thập thiện nghiệp.

Nhị địa Bồ Tát là dùng Thập thiện nghiệp tự lợi lợi tha. Chúng thiện phụng hành, chư ác mạc tác. Mà chư ác mạc tác đã không phải là giữ Bồ Tát giới nữa (ý nói là mức thấp hơn), chư ác mạc tác là điều kiện cơ bản con người vốn dĩ nên có, lẽ nào làm người thì có thể làm ác sao? Tuyệt đối không thể làm. Nhị địa Bồ Tát là Giới hành thành tựu, chính là giới rồi, giới đến cuối cùng thành công rồi. Bạn muốn trở thành Nhị địa Bồ Tát còn phải có một cái tâm Thanh tịnh, chính là tâm của bạn, lương tâm và bản tính của bạn đều là thanh tịnh.

Nếu bạn muốn làm Nhị địa Bồ Tát, trước tiên phải Tịch tĩnh, rất tịch tĩnh, còn phải Lương thiện, hãy nhớ trước chữ "Thiện" phải thêm một chữ "Thuần", tức Thuần thiện, cái thiện này là thuần khiết. Nhiều chàng trai hay cô gái, muốn theo đuổi người ta, khi người ta ốm giả vờ rất quan tâm chăm sóc, các bạn nói xem cái này có phải thuần thiện không? Đây là cái thiện có mục đích, nhưng khi đang giúp đỡ người ta, giúp mua thuốc, giúp làm việc v.v... anh ta có phải Thiện không? Phải, nhưng không phải Thuần.

"Chất trực nhu nhuyễn cập kham năng, điều phục tịch tĩnh dữ thuần thiện, tốc xuất sinh tử quảng đại ý, dĩ thử thập tâm nhập nhị địa", chính là nói bản chất con người phải nhu nhuyễn (mềm mại), nhưng phải Chính, gọi là Chất trực nhu nhuyễn. Các bạn bây giờ học đều là Bồ Tát đạo, bản chất Bồ Tát phải rất Trực (thẳng), phải Chính trực, tính cách phải nhu nhuyễn, điều phục. Do nguyện lực, niệm lực của Nhị địa Bồ Tát, còn có Trí lực, trí tuệ phải có sức mạnh. Nếu bạn có niệm lực, mà trí lực không đủ, cũng không đạt đến cảnh giới Nhị địa Bồ Tát. Sau đó phải có Phúc đức lực, phúc đức lực chính là người này phải có phúc đức, phải có phúc khí còn phải có đạo đức, đây cũng là một loại sức mạnh.

Học Phật Bồ Tát, trước tiên phải có thể an tĩnh lại, các bạn tuy tiếp nhận khai thị của Sư phụ thời gian không bao lâu, nhưng khí chất của các bạn đều đang thay đổi, cảnh giới cũng đang nâng cao. Thứ nhất, nói rất ít; thứ hai, người rất bình tĩnh, an tĩnh. Bởi vì tham ít, sẽ bình tĩnh, người tham càng nhiều, tâm càng không tịnh. Bồ Tát là vô sở cầu, Nhị địa Bồ Tát ngày càng trưởng thành, niềm tin là hướng đến Tịch tĩnh và Thuần thiện, sau đó thoát ly con đường sinh tử.

Nhị địa Bồ Tát có thể tu ở nhân gian không? Đương nhiên có thể tu ở nhân gian, các bạn bây giờ tất cả mọi người đều có thể tu. Ví dụ, các bạn hôm nay làm bất cứ việc gì cũng không nghĩ (không vọng tưởng), rất tịch tĩnh, trong lòng rất lương thiện, hơn nữa là thuần thiện, yêu cầu gì cũng không có, bạn đã tiến vào cảnh giới của Nhị địa Bồ Tát. Duy nhất đáng tiếc là bạn chỉ tiến vào cảnh giới Nhị địa Bồ Tát được 15 phút, nửa tiếng, một tiếng, mà không thể kéo dài, chỉ cần các bạn rời khỏi đây lập tức lại tiến vào nhân gian, đúng không? Bạn có thể duy trì, bạn chính là Bồ Tát, bạn có thể duy trì những thuần thiện này, bạn chính là Nhị địa Bồ Tát, đạo lý rất đơn giản. Siêu thoát sinh tử, chính là sau khi bạn hoàn toàn hiểu đạo lý, sẽ không đi nghĩ tôi sinh ra thế nào, cũng sẽ không sợ hãi tương lai chết thế nào. Khai ngộ rồi, là Bồ Tát; không khai ngộ, là một phàm nhân.

37. Buông bỏ tâm phiền, tìm thấy Chánh giác

+

Thiên hữu bất trắc phong vân, nhân hữu đán tịch họa phúc (Trời có gió mây khó lường, người có họa phúc sớm chiều). Con người sống trên đời, kiếp nạn sẽ không rời khỏi thân bạn. Người thực sự hoằng pháp cứu độ chúng sinh, không phải trang điểm cho mình giống như Bồ Tát, mà là làm một con người có xương có thịt có linh hồn thực sự. Nếu linh hồn không chiến thắng được nhục thể, người đó là Người. Nếu linh hồn người đó rất thuần khiết, có thể chiến thắng nhục thể của mình, người đó là một vị Thần. Bởi vì người đó không bị dục vọng cơ thể mình khống chế, ngược lại có thể khống chế dục vọng của mình, đây là tu tâm đến cảnh giới nhất định mới có thể làm được. Nếu bạn bị dục vọng của bản thân khống chế, thì bạn không thể khống chế cơ thể mình. Ví dụ, khi bạn rất đói, nhìn thấy hải sản, nhưng biết mình ăn chay, lúc này có thể khống chế được mình không động tâm, không ăn hay không. Lại như, rõ ràng sức khỏe bạn không tốt, bạn có thể khống chế không ăn những thức ăn không tốt cho sức khỏe không nên ăn hay không, đạo lý đều như nhau.

Học Phật rất quan trọng, học là cái Tâm, học là Tinh thần. Tu tâm chính là sửa đổi những thói quen không tốt, tham sân si trên người, tu tâm chính là phải quên hết tất cả những chuyện đã làm trong quá khứ, quên lãng là điều tốt nhất, giống như một cái máy tính, phải xóa bỏ virus và tập tin không tốt vậy. Nếu thực sự có thể quên hết tất cả những gì đã làm trong quá khứ, bạn đã thành công rồi. Tật xấu của con người là: người ta không tốt với bạn, bạn không quên được; người ta tốt với bạn, lại không nhớ được. Nếu con người sống trên đời không biết tu tâm, không biết làm người, thì giống như một cái máy — mặc cho vận mệnh bày bố. Nếu một người không biết tu tâm, là một người rất thô tục.

Hôm nay giảng cho mọi người về Giác tính. Giác tính chính là bản tính của con người, cái tính vốn có của con người gọi là bản tính. Nhìn thấy Phật tính vốn có của tất cả chúng sinh, chính là Giác tính. Tức là bạn nhìn thấy bản tính vốn có trên người này, chính là bản tính giác ngộ.

Giảng cho mọi người về "Căn bản trí". Căn bản trí chính là trí tuệ của người này là cái anh ta vốn có, trí tuệ này là trí tuệ của Bồ Tát. Căn bản trí cần phải Vô niệm, nếu không có tạp niệm sẽ đạt được sự an tĩnh thực sự. Một người thực sự an tĩnh, không phải là bạn ngồi đó là có thể an tĩnh. Bạn ngồi đó niệm Kinh, tâm bạn có thể tĩnh lại không? Nếu định không lại, thì không phải thực sự an tĩnh. An tĩnh thực sự là sau khi ngồi xuống không có vọng tưởng, gọi là Vô niệm, Vô niệm mới gọi là Tĩnh thực sự. Nếu có thể thực sự an tĩnh lại, chính là nền tảng của Niết bàn. Niết bàn chính là bất sinh bất diệt, chính là minh tâm kiến tánh. Niết bàn là tiếng Phạn, là diệt độ, diệt phiền não, diệt sinh tử, chỉ có thoát ly phiền não và liễu thoát sinh tử mới có thể đạt được sự tịch tĩnh chân chính, chúng khổ vĩnh tịch (mọi khổ đau vĩnh viễn vắng lặng), có được bất sinh bất diệt, chính là người này không có sinh cũng không có chết, vĩnh viễn không có diệt độ, tức thành Phật.

Tại sao phải bế quan (nhập thất)? Bế quan là để người hoằng pháp này an tĩnh, không chịu sự xâm lấn của thế tục. Người thực sự cứu độ chúng sinh mới được gọi là Bồ Tát, Bồ Tát là không sợ mình chịu khổ đi cứu độ chúng sinh, Bồ Tát chân chính là đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn phổ độ chúng sinh; nếu bản thân chỉ biết bảo vệ mình, không chịu đi cứu người ta, người này vĩnh viễn không thành Bồ Tát được.

Phải xả bỏ tất cả những cái tâm phù động (nổi trôi dao động). Nếu là người thực sự an tĩnh, tất cả tâm phù động đều phải xả bỏ. Tâm phù động là tâm dao động bất an, giống như khi công việc chưa ổn định, bạn nói tâm bạn có phù (nổi) không, tâm có định lại được không? Lo lắng con mình có thi đỗ trường tốt không, tâm này có phù không?... Cho nên phải loại bỏ tất cả tâm phù động, mới có thể thực sự tĩnh lại. Tâm không an định là vì không có trí tuệ, không biết mình đang học Quán Thế Âm Bồ Tát, đang học Phật. Học Phật có thể thay đổi tất cả của bản thân, chỉ cần kiên định niềm tin sẽ không có tâm phù động. Phải làm cho tâm bạn an định lại, chỉ có thực sự tin tưởng mới có thể an định, tin tưởng Quán Thế Âm Bồ Tát nhất định có thể cứu tôi, mới có thể khắc chế cái tâm phù động của mình.

Niết bàn là cái Thể của tính chân thực, khi một người có thể làm được Niết bàn, người đó là cái Thể an tĩnh thực sự. Niết bàn là trong đầu hoàn toàn là Không, cái Niết bàn này chính là cái Thể chân tĩnh của bạn. Chân tĩnh chính là phải xả bỏ tất cả tâm phù động, loại bỏ Ngạo tâm, Mạn tâm trên thân, tức tâm ngạo mạn; phải loại bỏ tôn quý tâm (tâm cho mình là tôn quý), phân biệt tâm. Tôn quý tâm là tự cảm thấy mình rất tôn quý, phân biệt tâm là thấy người ta không bằng mình, liền coi thường người ta. Ví dụ, người ta kinh tế không bằng bạn, liền coi thường người ta; nếu người ta có tiền hơn bạn, liền đố kỵ người ta v.v... Các bạn không được có bất kỳ tâm phân biệt nào, không được có tâm đố kỵ. Tâm đố kỵ cũng là một chất độc, bởi vì tâm đố kỵ của con người là bẩm sinh (dữ sinh câu lai), là sinh ra đã có, là sản phẩm của lục đạo luân hồi. Bởi vì có tâm đố kỵ, mới có lục đạo luân hồi. Nếu bạn đến Bồ Tát giới, thoát ly lục đạo luân hồi, bạn sẽ không có tâm đố kỵ. Còn có tranh đấu tâm cũng phải loại bỏ.

Tại sao phải sám hối? Bởi vì sám hối có thể tiêu trừ nghiệp chướng. Người tu tâm phải "không có lý lẽ, mới là lý lẽ", còn "có lý lẽ rồi, thì không có lý lẽ", đây gọi là phép biện chứng. Người thường xuyên nói mình sai, người này vĩnh viễn sẽ không sai; người thường xuyên nói mình đúng, người này sẽ thường xuyên có lỗi. Là người thì sẽ có lỗi, làm sai việc không sao cả, phải biết sám hối, phải biết xin lỗi, sau đó sửa đổi, như vậy sẽ sửa đổi thói xấu bản thân, cảnh giới nâng cao. Con người chính là không chịu thừa nhận lỗi lầm của mình, luôn tìm một đống lý do, để che đậy lỗi lầm của mình. Làm sai việc chính là do không tu tâm tốt gây ra, bây giờ học Phật tu tâm rồi, thì bắt buộc phải sửa đổi. Cái gì đã qua hãy để nó qua đi, đừng sống chết kéo nó trên người, còn nghiến răng nói: không đúng, bởi vì tôi thế này thế này... chính vì không muốn thừa nhận lỗi lầm của mình, mới mang mãi những thứ không tốt này trên người, sau đó gây ra thất bại vĩnh viễn của chính mình.

Có một bà lão chính là như vậy, đem tất cả những chuyện quá khứ của mình đều mang trên người, nghĩ đến là hận, cái "hận" này đem lại cho bà một thân đầy bệnh. Những bệnh này từ đâu mà đến? 80% đến từ con cái của bà, bởi vì bà có một đứa con bất hiếu, nghĩ đến đứa con bất hiếu này liền vô cùng tức giận, vô cùng đau lòng, vô cùng hận, cuối cùng tạo thành một thân đau bệnh của bà lão này. Nhưng, 80% đau bệnh trên người bà cũng là do tự bà tạo ra, là bà tự mình cõng không chịu buông xuống, nếu có thể vứt bỏ cái gánh nặng này sớm một chút, thân thể bà có như vậy không? Phải biết tức giận hại thân a, hơn nữa là đang hại cái mạng của mình a. Ngàn vạn lần đừng tức giận, tất cả đều là nợ, đều là nhân quả, kiếp trước bạn nợ con cái, kiếp này phải trả, hơn nữa phải trả không điều kiện, phải trả một cách vui vẻ, phải cởi trói cho mình, phải hạ cái gánh nặng của mình xuống triệt để.

Cho nên phải đem Hoan hỷ tâm, Ai thương tâm (tâm bi thương), Cầu tài tâm, Tranh đấu tâm, Đố kỵ tâm, Phân biệt tâm, Tôn quý tâm, Ngạo mạn tâm v.v... gần như tất cả phiền tâm (tâm phiền não) toàn bộ đều phải bỏ đi, bạn không cần tất cả những cái tâm này nữa, để chúng toàn bộ đổ xuống. Có một vị Phật Bồ Tát gọi là Ngọa Phật (Phật nằm), các bạn biết một động tác của Phật đại biểu cho rất nhiều tầng ý nghĩa không? Chính là vị Phật Bồ Tát này, đã vứt bỏ tất cả các tâm rồi. Khi tất cả các tâm của bạn đều còn, bạn không thể Niết bàn. Tư thế này của Ngọa Phật chính là đạt đến Chính Định Niết Bàn, khai ngộ, tỉnh ngộ, đạt đến Diệu Giác Định. Diệu chính là Giác cuối cùng, chính là đạt đến sự giác ngộ cuối cùng.

Giác có 4 loại: Loại thứ nhất là Thủy giác, Thủy giác là vừa mới bắt đầu giác ngộ; Loại thứ hai là Tương tự giác, Tương tự giác là dường như đã giác ngộ rồi; Loại thứ ba là Tùy phân giác, Tùy phân giác là tùy theo duyên phận mà từ từ giác ngộ; Loại thứ tư là Cứu cánh giác, Cứu cánh giác là bạn cuối cùng sau khi hiểu ra mới giác ngộ.

Bốn loại Giác này cũng là bốn sự chuyển biến của con người:

  1. Thủy giác: Cảm giác vừa mới bắt đầu, giống như chúng ta khi còn nhỏ chưa bao giờ nghĩ cha mẹ sẽ chết, đợi đến khi mẹ qua đời, mới biết thì ra mẹ cũng sẽ chết, cái này gọi là Thủy giác.
  2. Tương tự giác: Tôi và bạn chịu khổ giống nhau, tôi và bạn phúc khí cũng giống nhau, từ từ thông qua giao lưu tình cảm, giác ngộ rồi, dường như hai ta có duyên phận. Tương tự giác là một loại duyên phận quá khứ.
  3. Tùy phân giác: Chính là tùy theo duyên phận mà từ từ giác ngộ. Theo sự gia tăng không ngừng của duyên phận, từ từ giác ngộ. Sư phụ nói cái này cũng gọi là Mạn giác (giác ngộ chậm), bởi vì bạn gặp được Sư phụ của các bạn, bạn mới bắt đầu giác ngộ. Nên chủ động đi nắm bắt sự giác ngộ này, đi theo đuổi cái Giác này, chứ không phải từ từ Giác.
  4. Cứu cánh giác: Chính là cuối cùng rốt ráo giác ngộ rồi. Cuối cùng rốt ráo giác ngộ có người trẻ, có người già, không phải cuối cùng rốt ráo giác ngộ thì nhất định là người già. Giác ngộ không nằm ở tuổi tác lớn nhỏ, bạn chỉ cần hiểu đạo lý nhân sinh, chân tướng vũ trụ, bạn liền giác ngộ. Nếu một người rất trẻ, bỗng nhiên giác ngộ, người đó chính là một vị Bồ Tát. Tại sao xuất gia gọi là Độn (Đốn) nhập không môn? Chính là đốn ngộ (hiểu ngay lập tức), tiến vào cửa Không này. Cửa Không là cửa không có gì cả, vì thế giới hữu sắc này vốn dĩ là Không.

38. Học phải có Giác trước, mới có thể biết Ngộ

+

Sau khi linh hồn tiến vào thể xác con người, tất cả cảm tri gọi là Sơ phát tâm, tức cái tâm vừa mới bắt đầu gọi là Sơ phát tâm. Phật tính bắt đầu vận chuyển, sau khi bắt đầu vận chuyển chính là Thủy (Bắt đầu). Thủy giác bắt đầu có sự đệ định (lần lượt xác định) của Cảnh ngoại giác, Nội giác và Trực giác. Cảnh ngoại giác là cảm giác của bạn đối với bên ngoài; Nội giác là cảm giác linh hồn của bạn; Trực giác là cảm giác mà linh hồn và nhục thể của chính bạn trực tiếp cảm nhận được gọi là giác. Người khác nói chuyện với bạn, một động tác có thể khiến bạn có một cảm giác trực tiếp, cái này gọi là trực giác. Tương ứng đến bản sơ (cái gốc ban đầu) của vũ trụ, tức là khi Cảnh ngoại giác và Nội giác của bạn, cộng thêm cảm giác Chánh giác của bạn, tương ứng đến bản sơ của vũ trụ, chính là bản sơ của trái đất này, lương tâm bản tính của con người thích hợp với vũ trụ này, sẽ sinh ra một loại bản tính nguyên thủy nhất, cuối cùng đạt đến Viên mãn Vô thượng Chánh đẳng Giác.

Sư phụ từng giảng cho các bạn phải có Giác trước, mới có thể Ngộ. Khi bạn không Giác (cảm giác/nhận biết), sẽ vĩnh viễn không ngộ ra đạo lý. Khi bạn cảm giác được người này tốt, bạn mới ngộ ra đây là một người tốt. Khi bạn cảm giác người này là người xấu, là Giác trước, sau đó mới Ngộ, cho nên gọi là Giác Ngộ. Mà tướng của người thường, là Bất giác. Thứ người thường cảm giác gọi là Nhân tướng (tướng người), mà người thường là Bất giác. Người tướng thế nào là bất giác ngộ? Ví dụ, chúng ta nói con người đều phải theo đuổi hòa bình, mà trên thế giới ngày nào cũng có đánh nhau, các bạn nói những người này có giác ngộ không? Con người theo đuổi sự hòa ái dễ gần, phải lấy thiện đãi người, có người nhìn thấy người khác là ghét, nếu ngày nào cũng làm người như vậy, con người sẽ biến chất. Nếu ngày nào cũng đi làm những việc vô nghĩa, biết hút thuốc hại phổi, mà vẫn liều mạng hút, đây gọi là Bất giác. Cho nên người thực sự có giác ngộ, mới xứng gọi là Giác ngộ giả.

Hôm nay giảng cho mọi người Tam địa Bồ Tát. Sư phụ trước tiên nói cho mọi người biết cảnh giới của Tam địa Bồ Tát. Tam địa Bồ Tát cũng gọi là Minh Địa (Phát Quang Địa).

Minh Địa, "Tùy văn tư tu chiếu pháp hiển hiện, cố danh minh địa, dĩ gia hành trí đoạn tâm trì khổ văn tư tu vong thất vô minh tận, chứng thắng lưu công đức nhẫn ba la mật vi tăng thượng".

(Nhờ theo sự nghe, suy nghĩ và tu tập mà soi chiếu Chánh pháp khiến trí huệ hiển lộ, nên gọi là Minh Địa. Dùng trí huệ gia hạnh để đoạn trừ vô minh khiến tâm chấp giữ khổ đau do nghe – nghĩ – tu bị mất mát, chứng đắc công đức thù thắng của Nhẫn Ba-la-mật, lấy đó làm sự tăng thượng.)

"Tùy văn tư tu", là tùy theo kiến văn, nhĩ văn, tỷ văn của bạn... Bồ Tát ở địa này là chỉ cần nhìn thấy thứ gì sẽ suy nghĩ, sau đó Phật pháp tự nhiên hiển hiện, sau đó cái gì cũng hiểu. Tam địa Bồ Tát là Văn-Giác-Tri, là sau khi nghe (văn) trước tiên sẽ cảm giác. Các bạn có thể sẽ hỏi Sư phụ không phải là phải Không sao? Còn phải đi cảm giác ư? Các bạn nhầm rồi, đây là cảnh giới khác nhau, cái Không kia là bảo các bạn ở nhân gian học Phật phải Không, còn bây giờ giảng cho các bạn là Tam địa Bồ Tát. "Tùy văn tư tu chiếu pháp hiển hiện", chính là khi Chánh tư duy của bạn đã sinh ra, hiểu làm thế nào để tu sửa (tu chính). Chính là tất cả thiện pháp, cách làm ở nhân gian, toàn bộ đều có thể hiển hiện và đối chiếu, tự nhiên sẽ biết cái gì là tốt, cái gì là xấu.

Tam địa Bồ Tát có thể nhìn ra tất cả tốt và xấu ở nhân gian (đây không phải chỉ tốt xấu theo quan niệm nhân gian, mà là nâng lên dùng lý niệm trí tuệ Phật), sẽ lập tức hiển hiện và minh bạch, cho nên gọi là Minh Địa. "Trí đoạn tâm trì", để trí tuệ có thể phán đoán và lý giải tâm của bạn. Chữ "Trì" (chậm/trì trệ) ở đây nói về tâm địa hơi có chút bất chính, trí tuệ của bạn sẽ lập tức đoán định cái chính và bất chính trong tâm bạn, tức là bất kỳ sự việc và đạo lý nào trong không gian vũ trụ Bồ Tát đều biết.

"Tu vong thất vô minh tận", tu vong chính là tu bỏ đi tất cả những việc không tốt của bạn. Tam địa Bồ Tát có thể đem tất cả mọi thứ ở nhân gian, thông qua đại trí tuệ của Ngài, nhìn thấu toàn bộ, hoàn toàn hiểu đạo lý. Chứng minh đã "thắng hữu" (sở hữu vượt trội) công đức, chữ "Thắng" ở đây chỉ ý nghĩa sở hữu. "Chứng thắng lưu công đức", chính là công đức của bạn toàn bộ đã có rồi, giống như một người khi không mắc nợ, tiền kiếm được toàn bộ đều là do mình sở hữu. Khi bạn nợ tiền người ta, tiền bạn kiếm được phải trả cho người ta trước, mà bạn không thể sở hữu.

Bồ Tát vì "Nhẫn ba la mật vi tăng thượng", chính là vì đến được bờ bên kia, vì có thể nâng cao cảnh giới, cái gì cũng có thể nhẫn nại. "Tăng thượng" chính là xem bất cứ thứ gì không tốt, đều là một loại duyên phận tăng tiến sự đi lên của bạn. Người ta mắng bạn, bạn rất vui vẻ, rèn luyện sự kiên nhẫn của bạn; người ta đánh bạn, bạn cũng rất vui vẻ là đang tiêu nghiệp chướng, chuyển biến toàn diện tư duy của mình thành Tăng thượng duyên.

"Tự thử dĩ tiền tam địa, tổng tu đại thừa Tam ma đề". Cứu độ chúng sinh chính là tu đại thừa Phật pháp, bởi vì 3 địa Bồ Tát đầu (Sơ địa, Nhị địa, Tam địa) là tu Tam ma đề của đại thừa. Tam ma đề là đoạn Xiển đề bất tín tập khí (đoạn trừ tập khí không tin của nhất khiến đề).

Một người có thể định lại chính là Thiền định. Chính là khi thiền định, phải loại bỏ tất cả vọng niệm, tạp niệm. Nhưng khi tọa thiền đầu óc bạn có thể Không được không? Rất khó làm được Không. Mà 3 địa Bồ Tát đầu, ngay cả thiền định cũng phải đoạn trừ (ý nói vượt qua chấp vào thiền định hoặc đạt đến cảnh giới cao hơn thiền định thông thường).

Ví dụ, trong lòng bạn có một chuyện rất buồn, tự răn mình đừng buồn, nghĩ đến lời Sư phụ dạy tôi, để tâm mình định lại, định, định, định... Thực tế khi bạn đang Định, chính vì trong đầu có những việc này, bạn mới không định lại được. Giống như có người nói tôi phải nhẫn nại, tôi phải nhẫn nại, thực ra, người trong lòng càng muốn nhẫn nại, là người càng không thể nhẫn nại. Người thực sự có thể nhẫn nại, không cần nghĩ, là có thể nhẫn nại, không cần khắc chế, tự nhiên có thể khắc chế, đây là do tu luyện bình thường mà thành, Thiền định chân chính là ngay cả Thiền định cũng không cần, đều là Không.

"Chướng phương tiện sinh tử quả báo", Chướng là chướng ngại, ngăn trở. Phương tiện sinh tử quả báo chính là có sinh tử quả báo. Chướng sinh tử quả báo, chính là ngăn trở lại, chướng ngại lại sinh tử quả báo, chính là không có sinh tử quả báo nữa. Sinh tử quả báo là bình thường, bây giờ thêm một chữ "Chướng" ở phía trước, chính là chặn nó lại, không còn nữa. "Đắc đại tịnh quả dã", chính là đắc được quả báo sạch sẽ lớn nhất. Sinh tử quả báo này không còn nữa, chính là thoát ly lục trần, đổi lại được Đại tịnh quả. Loại bỏ những quả báo thấp kém kia, tu sửa những sai lầm trong tư duy, hành vi, mà đạt được một quả báo sạch sẽ nhất, gọi là Đại tịnh quả.

Vì thời gian có hạn hôm nay chỉ có thể giảng cho mọi người cảnh giới ban đầu của Tam địa Bồ Tát, cụ thể về Tam địa Bồ Tát lần sau sẽ tiếp tục giảng giải cho mọi người.

39. Học cách Vô ngã, khởi dụng Tự tin

+

Hôm nay giảng cho mọi người niệm kinh phải Dụng tâm niệm, phải Chân tín (tin thật), phải Thiết nguyện (nguyện tha thiết), phải có nguyện vọng chân thiết, hơn nữa còn phải có duyên phận niệm Phật. Khi niệm Kinh, niệm là cái tâm của mình. Khi niệm Phật là cái Nhân của sức mạnh tự thân, bạn niệm Phật Bồ Tát cũng bằng như niệm chính mình, bởi vì bạn vốn dĩ chính là Bồ Tát, cho nên Dụng tâm cộng với Nhân, tức là bạn có thể dùng cái tâm niệm, niệm vị Phật đó, tức dùng chân tâm để niệm Kinh văn bạn niệm. "Nhân" có thể hiển hiện bởi vì cái tâm niệm, tức là sau khi tự bạn niệm Phật, bởi vì bạn dùng chân tâm đi niệm rồi, vị Phật Bồ Tát này sẽ hiển hiện trong tâm bạn, chính là Phật tính chân chính trong tâm bạn hiển hiện ra. Phải dùng cái tâm hay niệm (năng niệm chi tâm), để tiếp cận vị Phật mà bạn niệm (sở niệm chi Phật). Những lời này tuy hơi khó đọc, nhưng các bạn nghĩ một chút sẽ biết. Bạn dụng tâm niệm Kinh cho tốt cho nghiêm túc, niệm đến sau này trong tâm bạn sẽ xuất hiện Phật, thực tế sản sinh trong tâm bạn là một loại Phật quang, là ánh sáng của Phật hoặc độ sáng của Phật, tâm bạn sẽ thanh tịnh.

Sức mạnh niệm Kinh của chính bạn cộng với bởi vì bạn niệm Kinh hình thành sự giao nhau cảm ứng với Phật (cảm ứng tương giao), nhân duyên hòa hợp, tức là khi bạn niệm Kinh có thể niệm đến Phật Bồ Tát đều đến, nhân duyên của bạn liền hòa hợp, bạn sau này có thể lên Tây Phương Cực Lạc thế giới hoặc siêu thoát lục đạo luân hồi, đi Bồ Tát giới. Phải liều mạng dụng tâm niệm Kinh, niệm đến mức niệm ra Phật tính của mình, tức là niệm ra đóa hoa sen này của bạn, tâm của chính bạn và Phật Bồ Tát cảm ứng rồi, bạn có thể lên trời. Nếu bạn niệm nửa ngày, không thể có cảm ứng với Phật Bồ Tát, bạn sẽ không lên được. Muốn lên Tây Phương Cực Lạc thế giới, lúc lâm chung, phải nhân duyên cụ túc. Cái "Nhân" này là cái tâm bạn dùng, phải Chân tín, phải Thiết nguyện (nguyện lực chân thiết). "Duyên" là Phật duyên, bạn có thể dùng cái tâm ân cần nhất của mình để gieo xuống cái duyên của Phật Bồ Tát, hòa hợp làm một với bạn, bạn có thể vãng sinh Tây Phương Cực Lạc thế giới hoặc Pháp giới trên lục đạo, Phật Bồ Tát sẽ cảm ứng, sẽ đến tiếp dẫn bạn.

Vô ngã, chính là không có bản thân cái tôi. Vô ngã có hai loại:

  1. Nhân vô ngã: Chính là người ta không có tôi, người ta coi thường tôi, người ta không coi tôi ra gì, người ta chính là không có bạn, kết quả sẽ loại bỏ phiền não của bạn. Vô ngã, phá phiền não chướng (phá trừ chướng ngại phiền não). Giải thích cho các bạn nghe, tại sao vô ngã có thể phá trừ phiền não chướng? Bởi vì người ta không coi bạn ra gì, bạn sẽ tùy duyên, người ta không nhớ đến bạn, bạn sẽ không vướng bận người ta, bạn sẽ không có phiền não. Ví dụ, con cái không để ý đến bạn nữa, bạn dứt khoát không để ý đến nó nữa, bạn sẽ không có phiền não. Nếu con cái cứ nhớ mong bạn, trong lòng bạn sẽ cứ nhớ mong con cái, sẽ có phiền não chướng. Đừng có cái Tôi, bạn sẽ không sao cả (vô sở vị), sẽ không có phiền não gì.
  2. Pháp vô ngã: Pháp chính là pháp của nhân gian, tất cả sự việc ở nhân gian đều gọi là Pháp. Pháp vô ngã, phá sở tri chướng, chính là phá tất cả chướng ngại trên trí tuệ. Trên bất kỳ sự vật nào, có thể giữ mình không có cái Tôi, chính là Pháp vô ngã. Phật pháp nói Vạn pháp giai không, chính là nói không có Pháp, không có Tôi. Tất cả mọi chuyện xảy ra trên thế giới, đều không có bạn, con người bạn mới thực sự là người có trí tuệ. Tất cả chướng ngại trí tuệ phải phá trừ, chính là phải đem cái trí năng (sự thông minh) nhân gian này, coi như một loại nghiệp chướng phải phá trừ toàn bộ, không có cái gì là thông minh hay không thông minh, không có cái gì là trí lực hay không trí lực. Tôi chỉ số IQ rất cao a, tôi có thể làm cái gì cái gì... toàn bộ là giả, bạn chỉ cần hiểu Vạn pháp giai không, cái gì cũng là Không, sẽ không nảy sinh những ý nghĩ này.

Tại sao nhiều người tu tốt sẽ có cảm ứng, mà bạn không có cảm ứng? Cảm ứng đến từ đâu? Cảm ứng đến từ thiện nghiệp của một người. Nhiều người đến Quan Âm Đường lạy Phật Bồ Tát, khi cầu, trong đầu có rất nhiều tạp niệm, còn tưởng rằng Phật Bồ Tát không nhìn thấy, không biết. Nếu ác niệm của bạn lớn hơn hoặc nhiều hơn thiện niệm bạn đang cầu, khẳng định không linh, nói không chừng còn có chút báo ứng. Nhưng báo ứng cũng có thể vì bạn cầu Phật xong sẽ từ lớn biến nhỏ, nhưng cái lớn nhỏ này là căn cứ vào nghiệp bạn làm kiếp trước và kiếp này để phân biệt. Tuy không nói ra được nghiệp này lớn bao nhiêu, nhưng đợi sau khi báo ứng rồi, tự nhiên sẽ biết lớn nhỏ. Ví dụ, người già sức khỏe không tốt, ngã một cái, gãy chân. Có người trên người mọc ra khối u gì đó, có đứa trẻ đột nhiên mắc bệnh nặng gì đó v.v... những cái này toàn bộ đều thuộc về báo ứng, nhưng báo ứng lớn nhỏ toàn bộ bắt nguồn từ nghiệp mình tự làm. Thiện tâm của một người nhiều rồi, chuyện gì cũng sẽ có cảm ứng.

Thế nào là Nhiễm duyên?

Hãy ví dụ thế này: Tôi dùng khái niệm "Nhiễm duyên" để nói về việc một người bị môi trường tác động và thay đổi như thế nào (giống như tấm vải bị nhuộm màu vậy). Giả sử có một người khi còn nhỏ, duyên phận và bản chất rất tốt (Thiện duyên). Nhưng nếu người này chơi cùng những đứa trẻ hư hỏng, cái duyên lành của cậu ta sẽ bị môi trường xấu làm ô nhiễm. Do đó, thiện duyên ban đầu dần dần chuyển thành xấu. Một khi đã bị ô nhiễm (có Nhiễm duyên), thì thiện duyên vốn có sẽ rời bỏ người này. Nghĩa là: Hễ nhiễm phải thói xấu (duyên không tốt), thì điều tốt đẹp sẽ bỏ đi; còn nếu nhiễm được điều tốt (gặp thầy tốt bạn hiền), thì điều tốt đẹp sẽ đến. Trong trường hợp bị nhiễm phải thói xấu, thì đó chính là lúc Ác duyên quay trở lại ngự trị. Phật pháp nói rất rõ ràng: "Nhiễm duyên" chính là một duyên phận tốt của bạn, nhưng duyên tốt đã bị ô nhiễm, vì vậy, chúng ta cần phải gột rửa cái "Nhiễm duyên" (sự ô nhiễm) này đi để quay về bản chất tốt đẹp.

(Việt dịch chú thích tham khảo: Việt nam có câu “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”, có ý nghĩa giống đoạn này miêu tả)

Phật pháp nói nghe Kinh, nghe học Phật pháp phải cẩn thận. Bởi vì trong thời mạt pháp, có đủ loại tôn giáo khác nhau, pháp môn khác nhau, người thông linh khác nhau, đại pháp sư khác nhau, đều sẽ ra cứu người. Nhưng tất cả các Duyên khi đến cứu người, họ nhất định sẽ bọc lên một lớp vỏ, khiến bạn không nhìn ra cái Duyên chân chính. Ví dụ, nhiều cặp vợ chồng là ác duyên, nhưng khi yêu đương, tại sao lại yêu đến chết đi sống lại, bởi vì bên ngoài ác duyên của họ bọc một lớp nhiễm duyên, lớp nhiễm duyên này khiến bạn không nhìn rõ duyên phận chân chính. Trước khi kết hôn không ai nghĩ đến sau này sẽ cãi nhau hay ly hôn, đến sau này đều sẽ thay đổi (duyên phận biến chất).

Sư phụ thường giảng cho các bạn một điều quan trọng nhất chính là cảm ứng, cảm ứng của một người rất quan trọng, cảm ứng này đến từ thiện duyên, thiện sự của bạn, nếu bạn không có thiện tâm, sao có cảm giác này? Giảng cho mọi người nghe văn Phật pháp phải cẩn thận. Nhân duyên muộn, chính là nhân duyên của bạn đến rất muộn, còn có học Phật học chậm, những cái này đều không sao cả, sợ nhất là đi nhầm đường. Sinh mệnh con người vô cùng hữu hạn, nếu bạn đi nhầm một con đường mà lạc vào lối rẽ, bạn thực sự không kịp nữa rồi, muốn học lại Phật pháp chân chính sẽ không còn nhiều thời gian. Ví dụ, bạn bị người khác dẫn dụ đến nơi không tốt như cờ bạc, nếu muốn quay đầu đi đến nơi tốt, sẽ rất khó.

Tu Phật phải Nhẫn nhân sở bất năng nhẫn, Hành nhân sở bất năng hành, chính là người học Phật, phải có tâm nhẫn nại, phải có thể nhẫn chịu những việc người thường không thể nhẫn chịu, phải làm những hành vi người thường không thể làm. Phải học cách Tĩnh tọa thường tư kỷ quá, ngồi tĩnh lặng phải thường nghĩ về lỗi lầm của mình, xem mình có chỗ nào làm sai; dù là nói chuyện phiếm cũng mạc đàm nhân phi (chớ nói chuyện thị phi của người), tức là đừng đi nói chuyện đúng sai của người ta, đừng đi nói cái xấu của người ta. Người học Phật Bồ đề tâm ưng cai thường thường phát xuất (tâm Bồ đề nên thường xuyên phát ra), chính là thường xuyên phải phát tâm Bồ đề; Trí tuệ đăng yếu thường gia du (đèn trí tuệ phải thường châm dầu), trí tuệ của bạn không thường xuyên châm dầu, sẽ không có trí tuệ, không có trí tuệ thì không có cách nào tu tâm cho tốt. Người không có trí tuệ, mới thấy người ta tốt thì họ buồn, thấy người ta không tốt thì họ vui. Cái "châm dầu" này là bảo bạn niệm Kinh nhiều, phát tâm Bồ đề nhiều, làm việc thiện nhiều, làm công đức nhiều.

Niềm tin là ngọn đèn sáng, niềm tin này chính là bản thân bạn, không phải người khác. Niềm tin có gì tốt? Bởi vì sau khi bạn có niềm tin, cảm thấy mình là đáng tin cậy nhất. Các bạn xem nhiều bộ phim, khi một người không rõ ràng, sẽ xuất hiện hai nhân vật, một là chính anh ta, một là anh ta trong tâm, sau đó anh ta sẽ hỏi anh ta trong tâm: "Tôi có thể làm việc này không?" Sau đó nhận được một câu trả lời: "Bạn không thể làm việc này." Đây chính là đối thoại của tâm linh. Tâm linh này chính là sự tự tin của các bạn, chính là bản thân các bạn, phải nắm bắt cái tâm này, sự tự tin của chính các bạn vô cùng quan trọng.

Một bà lão nói: "Tôi tin tưởng Quán Thế Âm Bồ Tát nhất định sẽ không để tôi đi (chết/đọa lạc), tôi phải trả sạch nợ nần đã thiếu, tôi phải đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, tôi tin tưởng Quán Thế Âm Bồ Tát nhất định sẽ đến tiếp dẫn tôi." Các bạn nói xem niềm tin này đối với bà lão quan trọng hay không quan trọng? Một ý niệm, một niềm tin, có thể thay đổi vận mệnh cả đời người. Chỉ cần có sự tự tin, cảm thấy mình có thứ đáng tin cậy nhất, đáng tin cậy nhất là Quán Thế Âm Bồ Tát, tin tưởng Quán Thế Âm Bồ Tát nhất định sẽ giúp tôi, bạn có phải có chỗ dựa rồi không? Không cần dựa vào người khác, dựa vào niềm tin của chính mình, cầu người không bằng cầu mình.

Sự tự tin của một người tàng chứa kho báu phong phú, phải khai quật kho báu tâm linh, đem những thứ tốt đẹp, thứ lương thiện, toàn bộ khai quật ra, dùng vào cuộc đời bạn sẽ vui sướng vô cùng.

40. Phát tâm Bồ Đề, viên phát Tam tâm

+

Tiếp theo giảng cho mọi người làm thế nào để phát tâm Bồ Đề? Nhiều người chỉ biết tôi muốn phát tâm Bồ Đề, vậy nên phát thế nào?

Thứ nhất, học tập quan tâm tất cả chúng sinh, phải học cách quan tâm mỗi một người. "Nhân nịch ngã nịch", chính là nhìn thấy người ta rơi xuống nước, phải cảm giác như chính mình rơi xuống nước vậy; "Nhân cơ kỷ cơ", chính là người ta đói khát, đói kém, giống như chính mình đói kém vậy; Lợi mình lợi người, đạt mình đạt người (đạt kỷ đạt nhân), chính là bất kể làm việc gì đều có thể thông đạt, có thể thấu tình đạt lý, có thể giúp đỡ người khác, giúp mình chính là giúp người, giúp người chính là giúp mình.

Thứ hai, bao dung tất cả chúng sinh, chính là người ta làm sai, phải có thể bao dung người ta, đừng đi hận người ta; "Dĩ trách nhân chi tâm trách kỷ" (Lấy tâm trách người để trách mình), chính là khi nói người ta, trước tiên dùng tâm này để trách mình, trách người trước tiên phải trách mình; "Dĩ thứ kỷ chi tâm thứ nhân" (Lấy tâm tha thứ mình để tha thứ người), dùng tâm khoan thứ cho mình để khoan thứ cho người khác, dùng lời hiện đại nói chính là hoán vị suy nghĩ (đặt mình vào vị trí người khác). Một người phải biết khoan thứ cho người ta, nếu không biết khoan thứ cho người ta là không có trí tuệ, phải biết tha thứ cho người ta, khoan dung người ta, con người đều sẽ làm sai việc, đợi khi bạn khoan dung người ta, người ta mới khoan dung bạn, đây gọi là hồi báo (báo ứng).

Thứ ba, học tập Khắc kỷ (khắc chế bản thân), thường tư kỷ quá (thường nghĩ lỗi mình), học tập Vong ngã (quên mình), học tập khắc chế bản thân, thường xuyên nghĩ về những việc mình làm sai, bạn sẽ không buồn khổ. Học tập vong ngã, chính là học quên đi bản thân, thường xuyên nghĩ mình không có bản lĩnh gì, tôi rất yếu kém, tôi chủ yếu dựa vào mọi người, không có mọi người tôi cũng không làm tốt được; "Bất niệm nhân phi" (không nhớ lỗi người), đừng đi nhớ những việc sai trái người ta làm trong quá khứ; "Vật ý vật tất" (Đừng ức đoán, đừng khẳng định tuyệt đối), nghĩa là đừng ép buộc mình nhất định phải làm việc này, đừng dùng ý niệm này, ý niệm không nên có thì đừng có; "Vật cố vật ngã" (Đừng cố chấp, đừng tự cho mình là đúng), chính là đừng cố chấp, đừng có cái Tôi.

Thứ tư, làm một người tu tâm, người phát tâm Bồ Đề, nên cho người niềm tin, cho người niềm vui. Phải cho người ta tâm hoan hỷ, cho người ta niềm tin bạn chính là Bồ Tát. Ngôn ngữ bố thí cho người ta niềm tin, pháp hỷ sung mãn, đây chính là học Bồ Tát, nói nhiều lời hay, nói ít lời xấu, có thể nói nhiều một câu tốt, thì có thể nói ít đi một câu xấu. Thành tâm đãi người, thiện pháp dư nhân (đưa thiện pháp cho người), nhiệt tâm giúp người, thành nhân chi mỹ (giúp người hoàn thành việc tốt), thường xuyên thành tâm đi giúp đỡ người khác, thành nhân chi mỹ.

Viên phát Tam tâm (Phát ba tâm viên mãn), một người học Phật, phải từ trong tâm phát ra ba loại tâm: 1. Chí thành tâm. 2. Thâm tâm. 3. Hồi hướng phát nguyện tâm.

Chí thành tâm chính là chân thực vô ngụy (chân thật không giả dối), cái tâm chân chân thực thực không có hư giả, nói chuyện đều là chân thực, không có bất kỳ sự ngụy trang nào. Phải dùng cái tâm chân thành không giả dối đối đãi với tất cả chúng sinh.

Thâm tâm là dùng tâm từ bi vô duyên quan tâm tất cả chúng sinh, dùng thâm tâm (tâm sâu sắc/hết lòng) để giúp đỡ người khác.

Hồi hướng phát nguyện tâm, tâm này là một cái tâm học Phật, là tâm tương đối cao thượng. Hồi hướng phát nguyện tâm phải nhớ hai điểm: Một là "Vạn thiện đồng quy", tất cả việc thiện đã làm, quy về cùng một nơi. Lời của Sư phụ chính là quy về công đức, đem tất cả việc lương thiện toàn bộ quy về công đức. Hai là "Phổ nguyện hữu tình", tâm của mình phát nguyện phải độ tất cả chúng sinh hữu tình, chúng sinh hữu tình chính là chúng sinh có tình nghĩa (tình cảm/cảm xúc).

Ở nhân gian thế nào gọi là cát tường? Phàm là những thứ ở nhân gian nên có được chính là cát tường; vốn dĩ bạn không nên có được, nhưng trải qua nỗ lực của bạn mà có được, chính là không cát tường. Ở nhân gian thứ bạn nên sở hữu, thứ bạn nên có được, gọi là cát tường, nhưng thứ không nên có được, bạn đi cầu lấy về, chính là không cát tường rồi. Ví dụ, xổ số, bạn ngày nào cũng cầu, ngày nào cũng bỏ tiền mua, mấy chục năm trôi qua tiền bạn bỏ vào không nói, cuối cùng cho dù trúng rồi, có thể sẽ bị người ta truy sát, hoặc bị người ta bắt cóc, đây chính là cái không nên có được mà có được, chính là không cát tường, đây là khái niệm, đây là lý niệm, là trí tuệ của Bồ Tát. Mọi người nhất định phải nhớ làm người thứ không nên có được, đừng đi theo đuổi.

Thế nào gọi là đại cát tường thực sự? Thụ dụng của tất cả vạn sự vạn vật gọi là đại cát tường. Có thể thụ dụng chính là thứ có thể vì bạn sử dụng, là thứ bạn sở hữu chính là đại cát tường. Giống như rõ ràng tiền không nên bạn có được, bạn đi cướp, đi lừa, đi trộm, tiếp theo bị cảnh sát bắt, các bạn nói xem cát tường hay không cát tường?

Bàn cho mọi người về yếu quyết niệm "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn":

Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp, giai do vô thủy tham sân si,

Tùng thân ngữ ý chi sở sinh, nhất thiết ngã kim giai sám hối.

(Xưa kia con tạo bao ác nghiệp, Đều do vô thủy tham sân si,

Từ thân miệng ý phát sinh ra, Tất cả nay con đều sám hối.)

Trước mặt Phật Bồ Tát cầu sám hối, trước khi sám hối một việc nào đó, niệm bốn câu này 7 lần, sau đó niệm "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn".

Bốn câu kinh văn này nghĩa là, "Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp, giai do vô thủy tham sân si", Từ bi Quán Thế Âm Bồ Tát, chư vị Phật Bồ Tát, tội nghiệp con tạo trong quá khứ là do tham sân si từ vô thủy. Bởi vì tham sân si từ vô thủy này, Bồ Tát tha thứ cho chúng ta, tham sân si hễ đầu thai làm người nó sẽ có. "Tùng thân ngữ ý chi sở sinh", chính là nói con đời quá khứ, ngôn ngữ của con, ý thức của con sinh ra, hôm nay con đối trước mặt Phật Bồ Tát cầu sám hối, cầu Quán Thế Âm Bồ Tát tha thứ cho con các ác nghiệp đã tạo trong quá khứ, sau khi niệm 7 lần bốn câu này, lại niệm "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn" hiệu quả sẽ tốt hơn.

Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp, giai do vô thủy tham sân si, tùng thân ngữ ý chi sở sinh, nhất thiết ngã kim giai sám hối. (7 lần chư thắng - ý nói niệm 7 lần là tốt nhất)

Hôm nay đến đây lần sau lại giảng.

41. Cảnh giới học Phật, hiểu rõ nhân quả, năng xả tức không (xả được tức là Không)

+

Một người ngay cả lòng kiên trì cơ bản cũng không có thì tu không tốt được, phải có trí tuệ, phải có trí tuệ để phân biệt con đường này đúng hay không? Pháp môn này tốt hay không? Phải dùng trí tuệ để phân biệt. Không có trí tuệ nghe cái này, nghe cái kia, người như vậy có thể làm Bồ Tát không? Có thể tu thành không? Ngay cả một người bình thường cũng làm không tốt.

Phải ở trong Thanh tịnh Giới hành, dưới sự điều phục của Thập thiện nghiệp mà giữ giới. Giới chính là giới luật, học Phật phải lấy Giới làm gốc, trong giới hành dựa vào thập thiện nghiệp để điều phục, tức là trong quá trình không ngừng "Giới" (giữ giới), phải làm nhiều việc thiện hơn, làm nhiều công đức hơn để điều phục tâm thanh tịnh của mình, như vậy bạn mới có thể trở nên viên mãn. Sau khi Giới rồi, mới có thể dùng thập thiện nghiệp để điều phục. Sư phụ vừa giảng qua "Tịch tĩnh" và "Thuần thiện", các bạn chỉ cần chiếu theo giới hành Sư phụ dạy các bạn đi điều phục, sẽ ngày càng tịch tĩnh, ngày càng sạch sẽ và thuần thiện. Trong lòng không có nghiệp chướng dơ bẩn, không có thứ không tốt, tâm tự nhiên sẽ bình tĩnh. Khi một người có ý niệm xấu, có tham sân si, tâm không thể bình tĩnh, thì không thể đạt đến sự tịch tĩnh của Bồ Tát.

Phải tịnh hóa định lực đích tu trì (làm sạch sự tu trì của định lực), chính là sau khi Giới rồi phải có Định lực, phải dùng định lực để tu trì. Ví dụ, hôm nay người ta mắng bạn, bạn định lại, tuy tôi tức giận, nhưng tôi không mắng bạn, cái này không gọi là sự thuần tịnh sạch sẽ, là trong lòng tạm thời định lại thôi — tôi không mắng bạn, bạn mắng tôi đi; còn định lực thuần tịnh, định sạch sẽ rồi, chính là sau khi bạn mắng tôi, tôi sẽ cảm thấy: người này sao đáng thương thế, không chịu niệm Kinh cho tốt, miệng còn mắng người, cầu xin Quán Thế Âm Bồ Tát tha thứ cho anh ấy nhiều hơn, anh ấy thực sự rất đáng thương, từ bi với anh ấy, hy vọng anh ấy sau này đừng vô trí (thiếu trí tuệ) như vậy nữa, có thể niệm Kinh tu tâm cho tốt, thay đổi bản thân, đây gọi là định lực thuần tịnh sạch sẽ. Không phải bảo bạn nén ở trong lòng, nếu không định lực nén ở trong lòng này sẽ có ngày bùng nổ.

Học Bồ Tát phải khai phát một chút Thần thông lực, khi bạn ở nhân gian tu đến cảnh giới Bồ Tát, sẽ có thần thông lực. Hiện tại là thời mạt pháp phải dùng thần thông lực để cứu độ chúng sinh, bởi vì tư tưởng con người hiện nay ngày càng dơ bẩn (nhiễm trọc), không dùng chút thần thông lực để họ biết một số nhân quả, họ sẽ không tin ngay, sẽ không tin Phật, đó là lý do tại sao còn nhiều người như vậy vẫn đang làm ác, không tin Phật. Khi có thể tu đến cảnh giới Bồ Tát, sẽ có thần thông lực, tuy người ở nhân gian, mà cảnh giới của bạn đã đến cảnh giới Bồ Tát, chỉ cần cảnh giới ở nơi Bồ Tát, bạn chính là Bồ Tát, sẽ có thần thông lực. Ví dụ, bạn ở nhà ăn mặc không cầu kỳ, người cũng tương đối lười biếng. Nếu đi tham gia yến tiệc nào đó, sẽ ăn mặc chỉnh tề, người cũng quy củ, vô cùng có lễ tiết, lúc này bạn là một người có tu dưỡng, cảnh giới cũng tiến vào tầng bậc cao, lúc này bạn còn nói lời hạ lưu không? Cử chỉ của bạn, cảnh giới của bạn đạt đến mức độ nhất định, người ta sẽ coi trọng bạn.

Phải biết khai phát thâm quảng thần thông lực (thần thông lực sâu rộng) của Bồ Tát, hơn nữa phải tiếp dẫn vô số chúng sinh tin Phật và nghe Pháp (văn pháp), cho bạn thần thông lực là để bạn tiếp dẫn vô số chúng sinh học Phật, tin Phật và nghe pháp. Sư phụ hiện nay có phải đang cứu độ chúng sinh dạy họ học Phật, tin Phật và nghe Phật không? Nếu công năng này cứ ích kỷ dùng trên người mình, mà không dùng trên người chúng sinh, công năng này sẽ từ từ biến mất. Công năng của Sư phụ hiện nay ngày càng lớn, là vì từ bi tâm của Sư phụ, tâm cứu độ chúng sinh tha thiết, hơn nữa ngày càng lớn. Mọi người hãy suy nghĩ cho kỹ, nếu các bạn làm càng nhiều, cũng sẽ nhận được càng nhiều, đây là thiên lý, là định luật nhân quả. Bồ Tát hôm nay có thể biến thành một người như thế nào đó để cứu độ chúng sinh, cũng có thể đến trong giấc mơ của bạn cứu độ bạn v.v... tất cả năng lượng đều có thể hiển hiện ra, đều là do nguyện lực làm nên. Nguyện lực rất quan trọng, nhiều người bị ung thư nói tôi nhất định phải sống, là có thể sống sót. Thực ra ung thư cũng là một con ma, là bệnh ma, ma chính là nghiệp chướng.

Vô lượng tự tại độ chúng sinh, chính là bạn phải có sự tự tại vô lượng vô biên, có một vị Phật Bồ Tát gọi là Tự Tại Phật, tự tại chính là tôi muốn cứu người thế nào, thì cứu thế nấy, tôi có thể cứu bao nhiêu, thì dốc hết sức mình cứu bấy nhiêu, chỉ cần cảm nhận được duyên phận của bạn và duyên phận của tôi chưa đến, tôi có thể không cứu bạn. Ở nhân gian học Phật phải văn tán nhi bất hỷ (nghe khen mà không vui), nghe người ta khen ngợi đừng vui, phải không ngừng cố gắng (tái tiếp tái lệ); văn báng nhi bất ưu (nghe phỉ báng mà không lo), người ta nói bạn không tốt, một chút cũng không lo âu; hủy dự nhi bất động (hủy hoại danh dự mà không động tâm), muốn hủy hoại danh dự của bạn, giống như không có chuyện gì xảy ra vậy. Ví dụ có người nói bạn ăn trộm đồ, bạn không động, bởi vì bạn không ăn trộm, bạn trong ngoài như một (nội ngoại nhất như).

Mạc hành tâm thượng quá bất khứ chi sự, chính là dùng lương tâm của bạn để làm việc, trước khi làm việc gì cũng tự hỏi lương tâm mình xem, có qua được không? Việc lương tâm bạn không qua được thì đừng làm. Mạc man sự thượng hành bất khứ chi tâm (Chớ nuôi cái tâm không làm được trên sự việc), đừng nảy sinh những việc thế gian không qua được. Nếu việc này làm không được, cái tâm này đừng đi nghĩ nữa (những việc trên thế giới này không qua được, làm không được thì nghĩ cũng đừng nghĩ). Học Phật tu tâm nhất định phải hạ thấp mình xuống, đừng cho rằng mình rất tài giỏi, hãy nhớ núi cao còn có núi cao hơn (sơn ngoại hữu sơn, thiên ngoại hữu thiên).

Phải biết người bóp méo ý kiến của người khác là hết thuốc chữa, người ta nói với bạn một câu bạn cứ mãi bóp méo ý kiến người ta, thì con người bạn hết thuốc chữa rồi. Ví dụ, người ta nói: "Bạn cẩn thận sức khỏe chút", anh ta lập tức nói: "Ý gì đây, mày muốn hại tao à?" — Đây chính là bóp méo ý kiến người ta. Người ta muốn tốt cho anh ta, anh ta đi nghi ngờ người ta, người này hết thuốc chữa rồi. Dùng một phép phản chứng, trước tiên ép buộc bản thân khẳng định ý kiến của người khác, sau đó hãy suy nghĩ, đây gọi là làm người, khi bạn nghi ngờ người ta đối xử không tốt với bạn, sau khi người ta nói một câu, bạn hãy dùng phép phản chứng, trước tiên ép buộc bản thân tin tưởng, khẳng định cách nói của người ta là đúng, sau đó hãy suy nghĩ, đừng dùng tư duy của mình để phán đoán đúng sai của người ta. Học Phật và làm người, là một không phải hai, không thể tách rời, bình thường làm người rất xấu, ngày ngày miệng niệm "A Di Đà Phật", đợi khi đi có thể lên Tây Phương Cực Lạc thế giới không? Đó là điều không thể.

Ở nhân gian phải học cách làm cho mình Không, thế nào là Không? Có thể xả (bỏ) thì xả, khó xả cũng phải xả, nhìn cho thủng, buông cho xuống, chính là Không. Không là tự tại an tường. Nhiều việc một câu "xin lỗi" là giải quyết xong, nhưng có người chính là không bỏ được thể diện, không nói. Thực ra sau khi Không rồi chính là sự an tường tự tại, là bình an tường hòa. Bình an là Phúc, tường hòa là Đức. Tường hòa có thể đạt được khoái lạc, đạt được hoan hỷ. Học Phật phải học sự bình an tường hòa trong lòng, đây chính là tố chất tâm lý, một người không có tố chất tâm lý thì không học Phật tốt được.

Nhân gian có Bồ Tát, có thể thoát ly sinh tử, nhìn thấu nhân gian, không tham danh lợi, chính là Bồ Tát.

Nhân gian này đạo nào cũng có, xem bạn đi đạo nào thôi.

42. Vận dụng trí tuệ đức năng, điều tiết điều nhu tịch tĩnh

+

Nếu không trân trọng sinh mệnh, chính là đang lãng phí sinh mệnh. Rất đơn giản, nếu bạn không trân trọng công đức, chính là lãng phí công đức. Đợi khi bạn cần công đức, sẽ không có công đức, giống như nhiều người trong nhà không có tiền, chính là vì bình thường không tích lũy.

Hôm nay tiếp tục giảng cho mọi người về Thần thông lực, con người hiện nay, không phải bạn đơn giản kể cho họ nghe một việc có thật, thần kỳ xảy ra trong cuộc sống, là họ sẽ lập tức chấp nhận sự tồn tại của sự thật này, bởi vì hiện nay trên đời đồ giả quá nhiều, lời nói dối đã ngập tràn, cho nên bắt buộc phải dùng thần thông lực để khuyên bảo chúng sinh học Phật niệm kinh. Một người có thần thông lực, sẽ hiển hiện Bách chủng thân tướng (trăm loại thân tướng) trên chính mình, tức là khi một người thừa nguyện tái lai có thần thông lực, người đó có thể hiển hiện ra rất nhiều pháp thân.

Đương nhiên thần thông lực cũng chia làm nhiều loại, ví dụ, có người là âm dương nhãn, thông quỷ thần, thông hai đạo địa phủ và nhân gian. Còn Sư phụ có pháp thân, là thần thông lực của Bồ Tát, có thể thông Thiên, Địa, Nhân, cũng có thể biết nhân quả ba đời. Loại thần thông lực này có bách chủng thân tướng, chính là sự khác biệt về thân thể và tướng mạo, giống như Sư phụ thường đến trong giấc mơ của người ta để cứu độ, Sư phụ có khi mặc đạo bào, có khi mặc âu phục (vest), có khi mặc pháp y hòa thượng v.v... đây chính là bách chủng thân tướng. Xung quanh mỗi hóa thân có một trăm loại thân tướng, tức là mỗi một pháp thân đi ra, có gần trăm đệ tử trang nghiêm vây quanh hộ pháp, nhưng những đệ tử này không nhất định đều là các bạn, bởi vì bất kỳ hộ pháp nào, bất kỳ người nào có duyên phận với Sư phụ, hoặc bất kỳ người nào từ trên trời xuống hộ pháp, toàn bộ đều có công năng này đến hộ pháp, mà là Bồ Tát Ma Ha Tát tự hiển (tự hiển hiện). Pháp thân này đi ra xong, khi cứu độ chúng sinh, có gần trăm đệ tử (đệ tử này bao gồm kiếp này và trong những kiếp quá khứ) tất cả các vị đệ tử, và người có duyên với Sư phụ toàn bộ tụ tập bên cạnh Sư phụ hộ pháp, hơn nữa những cái này không phải tự họ muốn đi hộ pháp, bản thân họ căn bản không biết, là nguyện lực của Bồ Tát tự hiển, chư Bồ Tát Ma Ha Tát. Thực tế khi pháp thân của Sư phụ đi ra cứu người, gần trăm đệ tử đó đều biến thành Bồ Tát, ví dụ, khi Sư phụ mở pháp hội giảng pháp, tất cả các đệ tử các bạn ở cửa, ở bên cạnh Sư phụ, toàn bộ đều là Bồ Tát đang hộ pháp.

Nếu muốn tu thành thân Bồ Tát, đạt được pháp thân hoặc thần thông lực (tức pháp lực), phải nhớ kỹ mấy điểm cốt yếu cơ bản:

1. Bồ Tát bất kiến nhân quá (Bồ Tát không nhìn lỗi người), Bồ Tát vĩnh viễn không nhìn thấy sai sót và lỗi lầm của người ta. Trước tiên, lấy điểm này để đo lường bản thân một chút, các bạn ai có thể không nhìn thấy khuyết điểm và lỗi lầm của người ta? Bồ Tát là vĩnh viễn không nhìn lỗi lầm và khuyết điểm của người ta. Còn Sư phụ khi giúp các bạn khai ngộ thì không giống như vậy, bởi vì Sư phụ là để cứu độ các bạn, bắt buộc phải chỉ ra tất cả khuyết điểm và lỗi lầm của các bạn, để các bạn biết và hiểu đạo lý, sau đó sửa chữa và thay đổi cho tốt. Học Bồ Tát là không được nhìn thấy cái sai của người (nhân phi), bất kiến nhân quá, đãn kiến kỷ quá (không thấy lỗi người, chỉ thấy lỗi mình), tức là dùng yêu cầu của Bồ Tát để yêu cầu bản thân, vĩnh viễn không nhìn thấy lỗi lầm của người ta, mà vĩnh viễn nhìn thấy lỗi lầm của mình, đều là mình sai. Ở nhân gian đừng bàn đúng sai của người ta, tự mình làm sai chính là làm sai, vĩnh viễn là tôi sai, người ta đều đúng, bởi vì thế gian này đều là Không, đều là Giả, là Vô thường, không có đúng và sai, chỉ có Nhân và Quả. Tôi không có đúng, chỉ có sai, như vậy mới tiếp cận cảnh giới của Bồ Tát.

2. Chỉ quản canh vân, bất kế thu hoạch (Chỉ quản cày cấy, không tính thu hoạch), đây mới là cảnh giới của Bồ Tát. Bồ Tát là chỉ quản cày cấy, chỉ quản làm công đức, chưa bao giờ cân nhắc hôm nay gieo thiện nhân này, sau này có thể nhận được quả báo gì? Bạn chỉ cần niệm Kinh cho tốt, liều mạng làm công đức, lẽ nào có đạo lý không báo sao? Bởi vì định luật nhân quả là vĩnh viễn không đổi, bạn hôm nay làm việc tốt, gieo thiện nhân, tương lai nhất định sẽ có quả báo tốt. Hôm nay bỏ ra lập tức muốn hồi báo, người này chính là tiểu nhân. Làm gì có đạo lý bản thân chưa bỏ ra đã muốn nhận được. Giống như một số người hỏi tôi: "Lư Đài trưởng tôi theo ông tu hành niệm Kinh rồi, tôi có tốt lên không?" Chỉ dựa vào câu này, đừng tu nữa, vì ngay cả niềm tin cơ bản nhất cũng không có, làm sao tu tâm tốt được?

3. Vô tâm, học Bồ Tát một trong những điểm cơ bản là Vô tâm, Vô tâm chính là Bồ Tát vĩnh viễn không có tâm (tâm riêng tư/tâm phân biệt). Vô tâm nghĩa là bạn không sân hận, không có phiền não, vô chướng ngại, bởi vì bạn ngay cả tâm cũng không có rồi, giống như người ta thường nói: người này không tim, không phổi (vô tâm vô phế - ý nói vô tư lự). Bạn ngay cả tâm cũng không có rồi, thử nghĩ xem bạn vui vẻ biết bao, nhưng, Bồ Tát không phải thực sự vô tâm, mà là dĩ chúng sinh chi tâm vi tâm (lấy tâm chúng sinh làm tâm mình), tâm của chúng sinh chính là tâm của Bồ Tát, mọi người hiểu chưa? Khổ của chúng sinh, chính là khổ của Sư phụ, Sư phụ hiện tại là niệm niệm nghĩ làm sao cứu độ chúng sinh trong biển khổ. Bồ Tát chính là lấy tâm chúng sinh làm tâm mình, vĩnh viễn nghĩ cho người ta, Ngài bản thân là không có tâm, cho nên Bồ Tát là Vô ngại, là không có chướng ngại, cái tâm này vĩnh viễn không có chướng ngại.

Mục đích chúng ta học tập Bồ Tát rất đơn giản, chính là phải từng bước một hiểu khoảng cách giữa Bồ Tát và con người chúng ta ở đâu? Tại sao chúng ta là người, mà sau khi cảnh giới nâng cao lại là Bồ Tát rồi? Tại sao chúng ta không đạt được cảnh giới Bồ Tát? Cho nên chúng ta phải hiểu cảnh giới của mỗi địa Bồ Tát, như vậy mới có thể chiếu theo mỗi cảnh giới để tu vi, để học tập, để leo lên.

Trước tiên phải Chính tu cảnh giới, học cảnh giới của Bồ Tát, phải thanh tịnh tâm địa. Trước khi học Bồ Tát, trước tiên phải làm thanh tịnh tâm địa của mình, chính là trước tiên phải làm sạch địa tâm của mình, tâm phải an tĩnh, sau đó khai phát trí tuệ, tâm tĩnh mới có thể khai phát trí tuệ. Xã hội hiện đại là thời đại photon (quang tử), quá khứ là thời đại nguyên tử, Bồ Tát dùng ánh sáng chiếu rọi chúng ta, cho chúng ta linh cảm, ý niệm của Bồ Tát toàn bộ đều dùng tốc độ ánh sáng để truyền đi. Mọi người đều biết, chỉ có ánh sáng mới có thể chiếu đến tâm chúng ta sáng lên, chỉ có ánh sáng mới có thể khiến bạn hiểu, chỉ có ánh sáng mới có thể khiến bạn minh tâm kiến tánh, giống như khi mặt trời mọc, trong lòng chúng ta vui vẻ biết bao, khi bóng tối buông xuống, tâm chúng ta chìm đắm trong bóng tối. Tại sao chúng ta phải bật đèn sáng như vậy, chính là vì muốn chúng ta nhìn thấy thế giới này vĩnh viễn là tươi sáng. Bồ Tát khi theo đuổi cảnh giới quang minh, sẽ vận dụng các loại diệu pháp và pháp môn, để phổ độ chúng sinh.

Bồ Tát muốn đạt đến cảnh giới quang minh, cần có diệu pháp và pháp môn, thời mạt pháp cần có pháp lực mới có thể cứu độ chúng sinh, phải khai phát trí tuệ viên mãn, phải vận dụng các loại pháp môn và phương pháp để phổ độ chúng sinh, để khai phát trí tuệ viên mãn của chúng sinh.

Tiếp theo giảng cho mọi người tu tâm tu hành phải dùng các loại phương pháp và trí năng (trí tuệ năng lực), tu tâm và tu hành bắt buộc dùng các loại phương pháp, chính là bạn hôm nay tu tâm rồi, bạn ngày mai tu hành rồi, phương pháp và trí năng tốt nhất là dùng hết trí tuệ và năng lực của mình để điều tiết, điều nhu (điều hòa nhu thuận), đến tịch tĩnh, đem một cái tâm vọng động của mình dùng trí tuệ và năng lực để điều tiết, điều nhu, đến tịch tĩnh.

Cái tâm này thực sự rất đáng ghét, nhìn thấy một chút thứ không thoải mái liền vọng động, vọng động chính là loạn động tùy tiện, vọng động chi tâm chính là bất luận nhìn thấy thứ gì tâm đều loạn động, ví dụ, nhìn thấy trên đất người ta đánh rơi một trăm đồng, tâm động một cái: mình có nên nhặt không? Đây chính là vọng động. Thứ không nên nhìn tại sao phải nhìn? Không nên nghĩ tại sao phải nghĩ? Không nên làm tại sao phải làm? Phiền não của con người chính là đến như vậy, nghe cái này, nhìn cái kia. Nếu người ta nói xấu sau lưng bạn, bạn không nghe thấy, bạn rất vui vẻ, nếu nghe thấy rồi, phiền não liền sinh ra. Người ta nói sau lưng, chứng tỏ là không nên để bạn nghe thấy. Khổng Tử nói: Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động (Không hợp lễ chớ nhìn, không hợp lễ chớ nghe, không hợp lễ chớ nói, không hợp lễ chớ làm). Không nên nghe, tại sao phải nghe? Bạn vốn dĩ rất vui vẻ, tai bạn nghe thấy lời không nên nghe, phiền não liền sinh ra.

Mọi người nên suy nghĩ thật kỹ, chúng ta ở trên thế giới này nên học Phật, học Pháp như thế nào? Nên làm thế nào để điều tiết nhu thuận trái tim này của mình? Trái tim này đừng vọng động nữa, trái tim này phải giữ cho được mới có thể tu tâm tốt, tâm bạn giữ không được, vọng động rồi, làm sao đây? Chính là phải Điều nhu Điều thuận, còn có Tịch tĩnh, chính là phải làm cho tâm mình an tĩnh lại, chuyện gì cũng không coi là chuyện gì (không để trong lòng). Sư phụ nói với các bạn trong xã hội này, phải giữ giây giây an tường (từng giây từng giây an tường), nếu mỗi giây đều có thể rất an tường, bạn có thể giữ được cái tâm tịch tĩnh này. Người mỗi giây đều có thể an tường, người này là một người vô cùng vô cùng có tu vi, ý niệm của họ vô cùng cao thượng, quan niệm của họ cũng vô cùng cao thượng, bởi vì họ nhìn thấu mọi sự rồi, tâm rất bình tĩnh, trên đời không có bất kỳ việc gì có thể làm tâm hồn họ dao động. Chỉ khi tâm an tĩnh lại, mới có thể khắc phục thói xấu tham sân si trên người mình. Phải khắc phục vọng động chi tâm của mình, phải loại bỏ lý tưởng "phi nguyện" (không đúng nguyện vọng/ảo tưởng), nguyện vọng không thể đạt được chính là lý tưởng phi nguyện.

Từ bi tâm chính là nhu hòa tâm, người có tâm từ bi, tâm mới có thể nhu hòa. Khi một người nói chuyện rất nhu nhuyễn, người này nhất định sẽ có tâm từ bi. Từ bi tâm phải nhu hòa, sau đó từ từ thăng hoa, chính là thăng hoa tâm từ bi, phải ngày càng rộng lớn. Tâm lượng rộng lớn, thì có thể tha thứ cho người ta, chính là mở rộng tấm lòng hẹp hòi của bạn, người cả ngày chỉ biết nghĩ cho mình chính là người hẹp hòi. Người tu tâm chính là tu tâm địa, tâm địa phải Lương thiện; tâm địa phải Nhu nhuyễn, Khiêm tốn, Khiêm cung, chính là tự đặt mình thấp một chút; phải Tùy thuận, chính là tùy ngộ nhi an, bất luận chuyện gì chỉ cần đến tôi đều thuận theo mà đi; phải Bất trọc (không vẩn đục), chính là tâm bạn không bị ô trọc, bị nhiễm trọc; phải Thuần thiện, lương thiện chưa đủ, còn phải thuần thiện, tức là phải vô cùng sạch sẽ, lương thiện thuần khiết, chứ không phải lương thiện bề ngoài; phải Nhuận trạch, phải viên nhuận, phải có thể bao dung người ta, cơ thể chúng ta có 80% là nước, cho nên chúng ta nhất định phải có lượng nước, phải nhuận trạch; sau đó phải Tịch tĩnh, vừa giảng cho các bạn tâm phải an tĩnh lại, sau đó đừng đi vọng động; Tâm lượng phải khoan khoát (rộng rãi), phải Quảng đại, phải Kiên cố, tâm không thể không kiên cố (tâm dao động bất định); phải Minh thịnh, chính là phải minh bạch (sáng tỏ), phải thịnh đại (to lớn), phải khoan quảng (rộng rãi), ý nghĩa là sau khi hiểu rõ, mới khoan quảng, chứ không phải nói tâm lượng bạn rất lớn, minh thịnh là sau khi bạn hiểu rõ, sự khoan quảng, thịnh đại mà bạn cảm ứng ra, đó mới có ý nghĩa; còn có là phải Thanh tịnh, phải Bình đẳng, phải Vô tướng.

43. Ngôn ngữ trí tuệ của Lư Đài trưởng

+

Phải nhận thức Sinh là bắt đầu của trách nhiệm, Tử là kết thúc của nhiệm vụ. Chúng ta đến nhân gian, khi chết là không còn gì cả, nhiệm vụ của chúng ta đều hoàn thành rồi. Vậy nhiệm vụ này của bạn rốt cuộc hoàn thành có tốt không, bạn tu có tốt không?

Trí tuệ tuy là vô hình, nhưng có thể làm phong phú sinh mệnh của bạn. Trí tuệ tuy không nhìn thấy, không sờ được, vô hình vô tướng, nhưng sinh mệnh của bạn là dựa vào trí tuệ mà sống. Người không có trí tuệ, sinh mệnh là khô khan và vô lực. Việc gì cũng nghĩ không thông, người này còn sống làm gì? Không có cách (biện pháp), chính là không có trí tuệ. Người nghĩ ra cách, chính là có trí tuệ.

Đài trưởng thường giảng, người dùng sự tổn thương người khác để che đậy khuyết điểm của mình, là đáng xấu hổ. Bởi vì bản thân bạn có khuyết điểm, bạn liền làm tổn thương người ta, đây là việc người tu tâm tuyệt đối không thể dung thứ.

Cho nên một người đừng quá khẳng định cách nhìn của mình. Một người đừng quá khẳng định cách nhìn của mình, đừng cho rằng việc này tôi làm là đúng, tôi cho rằng thế nào, tắc thiểu hối (thì ít hối hận), như vậy sẽ ít hối lỗi hơn một chút. Bởi vì sau khi bạn quá chú trọng quan điểm của mình, bạn nhất định sẽ hối hận.

Đạo ở chung với người nằm ở sự dung nhẫn (bao dung nhẫn nại) vô hạn, nếu không thể dung nhẫn, thì không thể ở chung, nhất định phải biết dung nhẫn a. Phật pháp giảng chính là một loại dung nhẫn, chính là một loại nhẫn nại. Nhẫn nhục tinh tấn là một loại công đức tiến bộ rất nhanh, khi một người có thể nhẫn nhục, công đức của họ rất lớn. Đương nhiên, nếu trên người một người có ma, có chướng, cứ ép phải dung nhẫn tiếp, cũng không được. Sư phụ đến nhân gian, cũng không phải một mực dung nhẫn người ta. Tu tâm vẫn phải có một số hạn chế, quá khứ giới luật của Tỳ kheo và Tỳ kheo ni có hơn ba trăm điều, thử nghĩ xem, vị hòa thượng và ni cô này còn có thể động đậy không? Nhiều giới luật như vậy, đi cũng không phải, ngồi cũng không phải, làm gì cũng không phải. Chỉ có niệm Kinh, thành thành thật thật tu tâm, giới luật lợi hại như vậy đấy.

Mà chúng ta bây giờ là tu hành tại gia phải học cách “Tòng tha báng, Nhậm tha phỉ, Bá hỏa thiêu thiên đồ tự bì, Ngã văn kháp như ẩm cam lộ, Yếu tiêu dung đốn nhập bất tư nghị”. 

(Mặc người chê bai, Mặc người phỉ báng, [Như] cầm lửa đốt trời chỉ tự làm mình mệt, Ta nghe giống như uống nước cam lộ, Phải tiêu dung [hòa tan] đốn nhập cảnh giới không thể nghĩ bàn).

Mặc kệ người khác nói bạn tốt xấu, cũng bằng như dùng lửa đi đốt trời, chỉ uổng công mệt mỏi. Người ta mắng bạn, người ta nói bạn không tốt, bạn cứ như là uống nước cam tuyền vậy. Khi trên người bạn có thói xấu, không ai nói bạn, bạn không biết. Đợi khi có người mắng bạn, bạn sẽ đột nhiên nghĩ, mình là như vậy sao? Mình phải cẩn thận một chút rồi. Bạn sửa rồi, chẳng phải giống như uống nước cam lộ sao? Bạn đừng đi nghĩ, họ nói đúng hay không, có thì sửa, không thì cố gắng (hữu tắc cải chi, vô tắc gia miển), phải đột nhiên minh bạch, thì băng tiêu dung hóa (băng tan chảy). Tôi không đi nghĩ việc này, tôi có thể cho qua. Giống như nhiều người trước khi cãi nhau, chất chứa trong lòng, luôn không vui. Đợi đến một ngày, mắng rồi, cãi rồi, thì thôi. Đây chẳng phải là băng tiêu dung hóa sao?

Cho dù ác ngôn đối với bạn mà nói cũng là công đức. Người ta mắng bạn, bạn phải coi đó là công đức a. Bạn phải cảm ơn người mắng bạn. Họ đang giúp bạn chỉ ra khuyết điểm, giống như Sư phụ nói các đồ đệ các bạn vậy, Sư phụ không phải đang giúp các bạn chỉ ra khuyết điểm sao? Đây không phải là Sư phụ đang cộng công đức lên người các bạn sao? Bạn sửa đi cái thói xấu này, có phải có công đức rồi không? Bạn không sửa thói xấu này, việc làm ra có phải không có công đức không? 

Bất nhân phỉ báng khởi oán hận, chính là đừng vì người khác nói bạn không tốt mà khởi tâm oán hận. 

Hà biểu vô sinh từ nhẫn lực, nghĩa là, bị người ta mắng, thì có thể sinh ra sức mạnh từ bi nhẫn nhục. Người không bị người ta mắng, không sinh ra được sức mạnh này, càng bị người ta mắng, từ nhẫn lực này càng mạnh. Sức nhẫn nại của một người là từ từ tích lũy mà thành.

44. Tâm như nước, Tính như gương

+

Sư phụ hôm nay giảng cho mọi người làm thế nào đoạn trừ phiền não. Con người có một tật xấu, cái gì cũng muốn, đều muốn thu hết vào, đồ ăn gì cũng muốn ăn vào, đồ chơi gì cũng muốn chơi, cho nên đã tạo thành, phiền não gì cũng nhận hết. Bởi vì con người có thói quen cái gì cũng "chiếu đơn toàn thu" (nhận hết theo đơn), cho nên mới sinh ra phiền não. Phiền não từ đâu mà đến? Đều là tự mình tìm đến, giống như trăng trong nước (thủy trung nguyệt), trong nước vốn dĩ không có mặt trăng, nhưng, tại sao lại nhìn thấy mặt trăng trong nước? Đó là vì bạn tìm mặt trăng trong nước, đó là vì mặt trăng đi qua, mới khiến nước này không bình lặng, thêm một thứ, một lát sau mặt trăng đi rồi, nước liền bình lặng. Nước này giống như tâm của các bạn vậy. Giống như gương chiếu vào hoa vậy, nếu không có hoa, gương sẽ không chiếu ra hoa. Cái tâm này của chúng ta giống như tấm gương là trong suốt, nếu chúng ta không nhìn thấy cái gì của nhân thế gian, chúng ta sẽ không khởi phiền não. Chúng ta không nhìn thấy hoa, tâm chúng ta giống như tấm gương sạch sẽ, bởi vì chúng ta nhìn thấy hoa, chiếu thấy bông hoa trong gương này (kính trung hoa), cho nên tâm chúng ta mới không bình lặng.

Tiếp theo Sư phụ giảng cho các bạn loại bỏ phiền não cần phải hiểu một cảnh giới, tâm của các bạn chính là một cảnh giới, các bạn hôm nay tu đến trình độ nào rồi, cảnh giới của bạn đến trình độ đó. Bạn hôm nay làm công đức, không mang bất kỳ tư tâm tạp niệm nào, đó chính là công đức. Bạn hôm nay giúp đỡ người ta, bạn không dụng tâm làm, mà là có mục đích, hoặc mang theo tình cảm để làm việc, chính là chưa tu tốt, không có cảnh giới. Học Phật tu tâm thực sự không dễ dàng, nếu làm bất cứ việc gì, đều mang tư tâm tạp niệm, cảnh giới của bạn sẽ không thể nâng cao, tâm bạn sẽ không thể bình tĩnh, sẽ khởi phiền não. Rõ ràng là làm công đức, cũng sẽ khởi phiền não.

Khi phiền não của bạn ở trong đầu bạn, khi cảnh giới tâm của bạn không cao, khi bạn đem những thứ yêu thích toàn bộ lấy vào trên thân, trên tâm, khi bạn đem tất cả mọi thứ toàn bộ nhận hết, đem đồ ăn toàn bộ ăn vào (vì đồ ngon mọi người đều thích ăn), lúc đó bạn nhận được một thứ, đó là Bệnh. Ví dụ, đem tất cả mọi thứ nhân gian đều thu vào não, não sẽ sinh bệnh. Đem cái gì cũng muốn ăn vào cơ thể, thì cơ thể bạn sẽ mắc bệnh.

Cho nên phải đoạn trừ phiền não, phải loại bỏ toàn bộ phiền não trong tâm. Nói thì dễ, các bạn ai có thể loại bỏ phiền não của mình? Hôm nay các bạn người nào không có phiền não? Trên mặt đều có thể nhìn ra phiền não, đừng nói hành vi, ngôn ngữ rồi. Chốc thì vì hôn nhân, chốc thì vì con cái, chốc thì vì tiền, chốc thì vì công việc, chốc thì vì sức khỏe v.v... các bạn có phiền không? Các bạn học đến hôm nay có buông xuống được không? Sư phụ thường giảng cho các bạn phiền não nên buông xuống thế nào? Chính là phải nghĩ cho thoáng, chính là phải nghĩ cho thông. Khi nghĩ không thông, chính là phải cầu Phật Bồ Tát, phải có hằng tâm niệm Kinh, cầu Phật Bồ Tát có thể giúp con nghĩ thông, loại bỏ phiền não.

Hôm nay có một gia đình ba người cất công đến từ Trung Quốc đến gặp Đài trưởng, hai đứa con của ông ấy đều bị đần độn, cha mẹ vô cùng đau khổ. Sư phụ giúp họ xem xem nguyên nhân gì gây ra. Mẹ vốn tưởng rằng do mình phá thai gây ra, thực tế không chỉ là vấn đề phá thai, chủ yếu là nghiệp tích lũy từ kiếp trước. Nghiệp chướng kiếp trước quá sâu, sau đó cộng thêm phá thai, cho nên đứa trẻ vừa sinh ra, giống như gói thuốc nổ lập tức bị châm ngòi, thuốc nổ này chính là nghiệp kiếp trước nó tạo. Sư phụ hỏi ông ấy: "Trong gia tộc ông có ai từng làm sát nghiệp không?" Ông ấy lúc đó nói: "Không có, không nhớ ra", cuối cùng nhớ ra rồi, mẹ của ông ấy là người bán ốc, xuống nước bắt ốc, rồi đem đi bán, mẹ ông ấy cứ như vậy dựa vào bán ốc nuôi ông ấy lớn, hơn nữa chu cấp cho ông ấy học đại học, chính vì nghề nghiệp này của mẹ ông ấy, khiến ông ấy vừa sinh ra đã có bệnh về máu, hơn nữa liên lụy đến con cái ông ấy đều là chứng thiểu năng, cho nên ông ấy vô cùng đau khổ. Sư phụ giúp ông ấy tìm ra gốc bệnh, giúp họ tìm ra phương hướng điều trị, cũng cho họ hy vọng và niềm tin.

Ông ấy hỏi Sư phụ: "Đài trưởng, nếu, mẹ con lúc đó không đi bắt ốc, đi bán ốc, làm sao có thể nuôi con lớn? Con lại làm sao có thể đi học đại học?" Ông ấy nói có lý không? Có a. Về mặt cảnh giới, nếu mẹ ông ấy có cảnh giới thì đã khác rồi, bởi vì mẹ ông ấy ở nhân gian, bà cho rằng nuôi con cái là thiên chức, cho nên bán ốc cũng được, hay làm việc gì cũng được, đều là để nuôi con lớn, nhưng bà không hiểu a, nghiệp tự mình tạo tương lai nhất định sẽ báo ứng lên hậu thế. Mẹ ông ấy đi bán ốc rồi, cho nên tạo thành đứa trẻ vừa sinh ra đã có bệnh về máu, hơn nữa cháu nội, cháu ngoại bà đều có bệnh, bây giờ tai nạn mang lại cho bà, vượt xa khổ nạn và tai nạn bà nuôi con lúc đó. Sư phụ bây giờ giảng cho các bạn sự việc trong cuộc sống thực tế này, là để các bạn hiểu đạo lý, hiểu định luật nhân quả, gieo nhân gì, tương lai nhất định sẽ có quả báo nấy.

Học Phật phải Vô sở đắc tâm, tôi đâu có cái tâm gì a, tôi không có cái tâm phiền não này. Vô sở trụ tâm, không có bất cứ thứ gì có thể để ở trong tâm tôi, trên đời không có bất cứ việc gì, có thể khiến tôi đạt được, đặt nó ở trong tâm. Phải hiểu tâm của mình, nhận thức tâm của mình, bạn mới có thể nhìn thấy Phật tâm chân chính, các bạn quên mất Phật tâm rồi, cho nên mới tham sân si.

Nếu một người ngôn ngữ chua ngoa khắc nghiệt, suốt đời là người bạc phúc (phúc mỏng). Các bạn bây giờ đi theo Sư phụ học Phật pháp, ngàn vạn lần không được châm chọc người ta, người thường xuyên nói lời châm chọc người ta, họ là bạc phúc, không có phúc khí, ngay cả ý niệm châm chọc người ta cũng không được có, người này chỉ cần có loại ý niệm này, phúc khí của họ rất mỏng.

Phải nhớ tất cả sẽ trở thành quá khứ, nếu không vứt bỏ phiền não, tất cả của bạn sẽ không còn, bởi vì bạn sẽ trải qua cả đời mình trong phiền não. Bây giờ các bạn nghĩ thử xem, các bạn đã qua nửa đời rồi, có người sắp qua cả đời rồi, đến nhân gian đi một chuyến, được cái gì? Cái gì cũng không được, cái nhận được là phiền não cả đời, và tức giận cả một kiếp. Các bạn bây giờ tổng kết lại cuộc đời mình đã qua, là vui vẻ nhiều, hay phiền não nhiều? Một đời người cứ thế trôi qua trong phiền não. Bồ Tát từng nói, nhân đạo chính là phiền não đạo. Con người rất đáng thương, hãy nghĩ xem, nhân loại bây giờ đang làm gì? Ô nhiễm phá hoại cân bằng sinh thái, trái đất này ngày ngày đang bị tổn hại, nếu không dựa vào mọi người bảo vệ, trái đất sớm muộn sẽ hủy diệt.

Nếu tư tưởng cảnh giới của mỗi người đều dừng lại ở việc làm vì bản thân mình, vì tôi mới cãi nhau, vì tôi mới đi tranh đấu, vì tôi có thể tàn sát lẫn nhau, đều là vì chữ "Tôi" (Ngã) này, cái này là Tiểu ngã, không phải Đại ngã. Con người đáng thương biết bao, nhỏ bé biết bao, chính vì một chữ "Tôi". Sư phụ hôm nay làm tấm gương cho các bạn, tôi đối tốt với người toàn thế giới, tôi nhận được sự ủng hộ của người toàn thế giới, mọi người đều yêu mến Sư phụ như vậy, ai đến yêu mến các bạn? Chỉ cần bỏ ra nhất định có thể nhận lại, khi bạn giúp đỡ mọi người (đại gia), có thể giải quyết vấn đề của gia đình nhỏ (tiểu gia), bạn nghĩ đến tiểu gia, bạn sẽ không giải quyết được vấn đề của đại gia, nếu mọi người đều không đi làm việc thiện, trái đất này thành cái dạng gì rồi? Rất đơn giản chỉ là một cảnh giới, các bạn ngồi đây là phải có cảnh giới cao, nếu các bạn ngồi đây không có cảnh giới hoặc cảnh giới thấp, chỉ là không làm việc xấu, vậy các bạn chỉ phù hợp tiêu chuẩn con người, nhưng, không phù hợp tiêu chuẩn của Sư phụ, không phù hợp tiêu chuẩn của Bồ Tát.

Con người phải biết Vạn niệm quy nhất, quy một vạn ý niệm về một ý niệm, chính là quy về học Phật học Pháp, tôi hôm nay ý niệm gì cũng không cần, tôi cứ tu học Phật cho tốt, như vậy sẽ không có phiền não. Hiện tại là thời mạt pháp, thu người (bắt người chết) nhanh như thế, lợi hại như thế, các bạn còn muốn có tư tâm tạp niệm, buông xuống đi, buông phiền não xuống, đừng nghĩ nữa, phải Vạn niệm quy nhất. Vạn niệm quy nhất niệm, chính là một niệm cũng không được có, nhiều người nói: tôi có rất nhiều vọng niệm, quy về một niệm đầu có được không? Học Phật, phải ngay cả cái vọng niệm học Phật này cũng không được có, cảnh giới các bạn mới cao hơn, khởi (vọng) niệm này vô cùng quan trọng, vạn niệm quy nhất, thực tế chính là nói một người không được có vọng niệm.

Khi chúng ta học Vạn niệm quy nhất niệm, Sư phụ nói với các bạn, ba loại tâm không được có: 1. Hiện tại tâm. 2. Quá khứ tâm. 3. Vị lai tâm. Ba loại tâm này bất khả đắc.

Quá khứ tâm, quá khứ tôi thế nào thế nào, quá khứ tôi đối với nó tốt bao nhiêu bao nhiêu, bởi vì có quá khứ tâm, sẽ không vui, phiền não liền sinh ra, sẽ tức giận, cuối cùng tức ra bệnh.

Hiện tại tâm, tôi hiện tại phải thế nào thế nào, cái tâm này của tôi phải thế nào thế nào, có thể thế nào chứ? Bạn là ai a? Cái gì cũng không có, đến nhân gian đi một chuyến, bản thân chính là một giấc mộng. Đến nhân gian chính là một giấc mộng, nếu có một ngày ngủ không tỉnh lại nữa, trong mơ biết mình chết rồi, lúc đó xem xem mình đang ở đâu? Đó chính là cái Quả do tu vi trong cả đời bạn tạo ra, hiểu không?

Vị lai tâm, tôi sau này tương lai phải thế nào thế nào, con cái tôi lớn lên thế nào thế nào, cái gì mà thế nào thế nào, trước tiên hãy tu tâm mình cho tốt đi đã, tích chút đức cho con cháu, tích chút phúc. Sư phụ thường dạy các bạn bình thường phải biết tạo phúc, đến tuổi già mới có phúc, bình thường làm ác, đến tuổi già chính là ác báo.

Sư phụ tiếp theo giảng cho các bạn lý luận Phật pháp, Kinh Phật nói: Sở vị Pháp, kỳ thực tựu thị Vô Pháp. (Cái gọi là Pháp, thực ra chính là Vô Pháp / Không có Pháp). Lý luận và Pháp nói trên miệng, không đi thực hiện trong hành vi, cái này là Pháp sao? Thực tế chính là bằng như không có Pháp, Sư phụ giảng cho các bạn trước, sau đó giải thích cho các bạn. Bởi vì Vô Pháp, chính là Hữu Pháp. Bởi vì không có Pháp, thực tế Pháp này tồn tại không? Nó tồn tại, nhưng bạn nói bạn nhìn thấy Pháp này chưa? Không có, chính là không có Pháp (Vô Pháp).

Lấy một ví dụ đơn giản cho các bạn, vì có không khí, bạn mới có thể sống, nhưng bạn không nhìn thấy không khí, bạn có thể rời khỏi không khí không? Trên thực tế không khí này tồn tại, nhưng, lại khiến bạn không có cảm giác, cho nên cái Pháp học Phật này nằm ở trong tâm. Nhiều người học Phật, học Pháp, tưởng rằng ăn mặc sạch sẽ, tưởng rằng quy y pháp môn nào đó, bởi vì tôi ở đây dáng vẻ tốt vô cùng, giống như một số người cầm hương và khi lạy Phật làm rất nhiều động tác cho người ta xem, để người ta học, bạn đây là đang học Pháp (theo nghĩa hình thức), chứ không phải đang học Phật. Người thực sự học Phật, là Vô vi nhi Hữu vi (Không làm mà là Có làm), bạn dường như không làm, thực tế bạn đã làm rồi. Nhưng thực tế bạn là không làm, lại giống như đã làm.

45. Vô niệm chính là Hữu niệm, Vô đức tức là Hữu đức

+

Phải biết rằng, tự mình nghĩ tôi có công đức, chính là không có công đức. Bạn hôm nay ở đây làm công đức rồi, mà thực tế là không có công đức (trong tâm không chấp). Bởi vì không có công đức (tâm không chấp công đức), đó mới gọi là công đức. Bởi vì bạn không có tâm hại người, bạn chính là một người tốt, bởi vì bạn muốn đi giúp đỡ người khác, bạn ngoài mặt đừng đi nói tôi có công đức, mà trên thực tế giúp đỡ người khác, bạn khẳng định sẽ nhận được sự hồi báo này, bạn giúp đỡ người ta, người ta chưa chắc sẽ cảm ơn bạn ngay. Nếu bạn muốn người ta cảm ơn bạn, vậy việc tốt bạn làm này không đáng nhắc tới. Bạn giúp đỡ người ta, người ta nhất định sẽ cảm ơn bạn, bạn chính là có công đức. Cho nên công đức cũng như vậy, bạn không nghĩ có công đức, ngược lại có công đức; bạn nghĩ có công đức, bạn liền không có công đức. Làm công đức đừng nghĩ, làm một chút việc tốt, tự mình cảm thấy ghê gớm lắm, chỉ sợ người ta không biết. Hữu vi nhi Vô vi, Vô vi tài thị Hữu vi (Làm mà như không làm, tự nhiên mới là chân thật), người thực sự làm thì không nói, người nói thì không làm, vừa nói vừa làm thì công đức không còn nữa, có hiểu không?

Phật pháp thâm sâu vô cùng, Einstein nói: Phật pháp là tôn giáo duy nhất của thế giới, không gian vũ trụ sau này, có thể khiến tư duy con người khai thông. Những Phật pháp Sư phụ giảng giải này đối với các bạn đều có sự giúp đỡ rất lớn. Nếu bạn thực sự đối tốt với người ta, tâm cảm ơn của người ta đều ở trong lòng, đây gọi là Vô vi. Việc bạn làm dường như là Vô vi, thực tế là Hữu vi. Bạn cho rằng mình là Hữu vi, thực tế chính là Vô vi. Nhiều người phát tâm dễ, làm được khó a, thói xấu của con người là phát tâm rất dễ dàng, mà không có hằng tâm kiên trì đi làm.

Khởi niệm (tạp niệm) thực tế là lúc có lúc không, khởi niệm của con người, thực tế là không có, là trống rỗng, gọi là trên thực tế là Vô (Không), nhưng bạn nói khởi niệm là Vô, nó có tồn tại không? Nó tồn tại, một vạn ý niệm, một ngàn vạn ý niệm, xoay chuyển trong đầu, nhưng xoay xong rồi, dừng lại rồi, thì không còn nữa, cho nên bạn phải đem những ý niệm này Vạn niệm quy nhất, tập trung nó lại. Tu tâm tu Phật, tu đến cảnh giới nhất định, phải quên đi ý niệm này, tôi không có ý niệm.

Phải hiểu chính mình, đời người chính là một giấc mộng, nếu nói đời người là một giấc mộng, cũng là sau khi bạn khai ngộ, mới dám nói đây là một giấc mộng, nếu bạn ngay cả ngộ tính này cũng không có, ngay cả đời người là một giấc mộng cũng không biết, thì bạn ở nhân gian sống uổng phí rồi. Phải vì lợi ích của mọi người mà bỏ ra tất cả, vì lợi ích của mình (tư dục) toàn bộ chặt đứt, đây gọi là học Phật. Phải thường xuyên nghĩ đến một câu Sư phụ thường nói với các bạn: Vô dục tự nhiên tâm như thủy (Không ham muốn tự nhiên tâm như nước). Ngàn vạn lần đừng có dục vọng, bởi vì dục vọng đem lại cho bạn là thất vọng, dục vọng càng nhiều, thất vọng càng lớn, thất vọng càng lớn, phiền não nối gót kéo đến, phiền não có thể làm tổn thương tâm bạn.

Sư phụ nói đối đãi với dục vọng của người đời phải nhẫn tâm chặt đứt, bởi vì dục vọng của người đời Sư phụ ví dụ cho các bạn nghe, dục vọng của con người giống như một mũi tên, cái gì cũng muốn đạt được mục đích của mình, nhưng dục vọng lớn nhất của con người là bắn lên trời, nó là vô tỷ (không thể so sánh/với tới), cho nên dục vọng của con người là không đạt được, giống như cây cung bắn tên lên trời, bạn có thể bắn cao bao nhiêu a, bắn đến mức độ nhất định tự nhiên rơi xuống, bận rộn một hồi uổng công. Tất cả đều là Vô sở đắc (không đạt được gì), cái gì cũng không đạt được, dục vọng của con người chính là để bạn cái gì cũng không đạt được, cho dù đạt được, cũng là tạm thời đạt được, cuối cùng lại mất đi, vẫn là không đạt được. Hiểu chưa? Trên thế giới này không có đúng sai, chỉ có nhân quả, toàn bộ đều là một giấc mộng.

Vô niệm chính là Chánh giác Phật bảo, chính là đừng có ý niệm, vậy bạn chính là học Phật học được Chánh, chính là Chánh giác Phật bảo, gọi là Chánh giác Chánh niệm. Bạn là giác ngộ chân chính, ý niệm chân chính, vậy bạn đã tiếp cận quả vị Phật Bồ Tát.

Tiếp theo tiếp tục giảng cho mọi người, thế nào là Vô niệm? Vọng niệm gì cũng không còn nữa, không có Vọng niệm thì không có phiền não. Tôi bây giờ dạy các bạn một phương pháp Vạn niệm quy nhất, đừng có vọng niệm, nếu không làm được, vậy trước tiên quy Nhất niệm. Quy nhất niệm giống như xem tivi, khi xem tivi cái gì cũng quên hết, trong đầu nhập vào phim, trong tivi đánh nhau bạn liền đánh nhau theo, ý niệm khác không còn nữa, nhưng phải chuyển ý niệm này từ từ sang tin Phật, thế thì Nhất niệm Nhất Phật, chuyển sang tin Phật xong, từ từ lại chuyển thành Vô niệm, ngay cả ý niệm tôi tin Phật cũng không còn nữa, thực tế bạn chính là đang tin Phật, lạy Phật.

Tôi giảng một cái Vô niệm cho các bạn nghe, các bạn ở đây quỳ xuống lạy Phật, trong đầu các bạn có ý niệm không? Nhưng thân thể và tâm của các bạn có phải đang lạy Phật không? Tâm các bạn khi lạy Phật, có phải cảm giác tự mình đang làm, sau đó động tác của bạn, ý niệm của bạn đang làm, bạn nói xem có ý niệm không? Là không có ý niệm, không có ý niệm sao bạn lại lạy Phật a? Chính là Hữu niệm a. Nhưng ý niệm này khiến bạn chỉ biết lạy Phật, bạn liền không có ý niệm (tạp niệm) nữa. Giống như một người làm quen một động tác, anh ta cũng không biết mình đang làm gì, đó chính là Vô niệm. Niệm Phật phải niệm đến niệm niệm hữu niệm, niệm niệm vô niệm, tự mình đang niệm, dường như tôi có niệm, niệm a niệm a đến sau này thì không có ý niệm nữa. Các bạn bây giờ niệm Kinh chẳng phải như vậy sao? Lúc bắt đầu niệm, còn biết chữ bên trong, niệm a niệm a nhanh rồi, niệm đến cuối cùng không biết đang niệm gì nữa, đây gọi là Vô niệm học Phật a, học đến cuối cùng phải Niệm niệm vô niệm, không có ý niệm nữa. Phật Bồ Tát bảo chúng ta không có ý niệm đi lạy Phật, chính là Hữu niệm chân chính, giao tâm hoàn toàn cho Phật Bồ Tát rồi, niệm đầu của tôi toàn bộ ở trên người Bồ Tát, đó mới gọi là Hữu niệm, hiểu chưa?

Phải nhớ đoạn tận phiền não của mình, bởi vì bạn không đoạn tận phiền não, phiền não sẽ tích tụ càng nhiều, phiền não càng nhiều, khuôn mặt này của bạn sẽ biến thành khuôn mặt phiền não, cho nên phiền não đến bao nhiêu phải loại bỏ bấy nhiêu. Nếu đem phiền não quá khứ cộng lên người, lại cộng thêm phiền não hiện tại đến không ngừng, tinh thần của bạn sẽ chịu không nổi, sẽ trở thành bệnh thần kinh; cơ thể bạn chống đỡ không nổi, bạn sẽ ngã xuống, cuối cùng bạn xong đời. Phải nhớ phiền não càng lưu càng nhiều, càng tích càng nhiều, thời gian lâu, bạn sẽ bị phiền não quấn lấy, giống như một sợi dây thừng, bị quấn chặt. Bởi vì phiền não là của nhân đạo, cho nên bạn sẽ bị phiền não của nhân đạo quấn chặt, càng quấn càng nhiều, quấn đến cuối cùng bạn thoát không khỏi lục đạo luân hồi, rơi vào trong nhân thế, không ra khỏi lục đạo. Cho nên niệm Phật ngay cả ý niệm thành Phật cũng không cần, khi niệm Kinh, ngay cả ý niệm thành Phật cũng không cần, bạn sẽ có thể trở thành Cục bộ Phật, chính là bạn cục bộ trở thành Phật rồi. Giống như tôi hôm nay giúp người ta, tôi không đi cầu sự hồi báo của người ta, người ta sẽ có hồi báo với bạn; bạn hôm nay giúp đỡ người ta muốn nhận được sự hồi báo của người ta, bạn sẽ không nhận được hồi báo.

Đem những việc tồn trong lòng toàn bộ móc rỗng, biến thành không có việc gì, Sư phụ dạy các bạn một cách móc rỗng: buổi tối khi không ngủ được, hãy viết hết phiền não trong lòng bạn ra, đặt bên giường, bạn móc rỗng tất cả sự việc rồi, bạn sẽ ngủ được, nhưng đây là biện pháp nhân gian. Tôi muốn các bạn dùng phương pháp niệm kinh, đem tất cả phiền não của mình hóa giải và loại bỏ toàn bộ, bạn không có phiền não nữa, bạn sẽ có thể ngủ được.

Sư phụ mỗi lần lên lớp cho các bạn đều là đang giúp các bạn làm sao loại bỏ phiền não, đương nhiên rồi, phương pháp tốt nhất là các bạn tự mình loại bỏ phiền não, tốt hơn nhiều so với Sư phụ giúp các bạn loại bỏ phiền não. Ví dụ, một đứa trẻ ngoan, ngồi bên dưới nghe giảng không nói chuyện, luôn tốt hơn nhiều so với Sư phụ nói "con đừng nói chuyện". Bây giờ trên người các bạn có nghiệp chướng, có tật xấu, tôi nói bạn không tốt, nói anh ta không tốt, các bạn nói xem tôi có mệt không? Các bạn tự tu, còn tốt hơn Sư phụ bảo các bạn tu, đây gọi là Giác ngộ. Các bạn không có giác ngộ, cho nên sẽ có tâm sự, cộng thêm phiền não, khiến bạn càng ngày càng phiền. Nếu trong lòng bạn không có việc riêng, buông chuyện của mình ra, quên đi, đem chuyện của chúng sinh đặt trong lòng, lúc này bạn mới vui vẻ. Bạn đặt tâm lên người mọi người, bạn sẽ nhận được rất nhiều niềm vui. Mọi người vui, mọi người cười, so với một người vui, một người cười, không biết tốt hơn bao nhiêu lần. Đặt tâm lên người mọi người, bạn sẽ nhận được niềm vui chân chính.

Cho nên phải loại bỏ phiền não, loại bỏ toàn bộ phiền não, cái gì cũng không có, sau đó bạn sẽ không mất ngủ, sẽ không nghĩ nhiều việc; ngược lại vì bạn không có phiền não, bạn sẽ không mất ngủ, sẽ không nghĩ nhiều như vậy nữa, lúc đó bạn sẽ có nhiều niềm vui hơn. Nếu bạn mất ngủ rồi, còn đang nghĩ chuyện phiền não, cuối cùng sẽ có nhiều chuyện hơn, nhiều phiền não hơn. Cho nên phải đoạn tận tất cả phiền não, Phiền não tức Bồ Đề, Bồ Đề chính là bạn đoạn trừ phiền não, bạn sẽ có trí tuệ, nếu phiền não ở trên người bạn, bạn sẽ không có trí tuệ. Người có trí tuệ, cho dù có phiền não đến, tự mình cũng có thể giải quyết. Nếu như vậy, bạn có thể nhìn thấy tâm của mình rồi — ồ, thì ra Phật tính ở ngay đây a, ở trong tâm tôi a. Bởi vì không có phiền não bạn mới có thể nhìn thấy tâm của mình, người có phiền não không nhìn thấy tâm của mình. Người có phiền não nhìn việc gì, đều tưởng mình là đúng.

Bây giờ có một số người tưởng rằng mình học được chút Phật pháp, tự mình đọc được vài cuốn Kinh Phật, liền tự cho là giỏi lắm rồi. Sư phụ ở đây nói cho mọi người một đạo lý, làm người thà kết bạn với một Đoan nhân (người đoan chính), đoan nhân không biết chữ cũng được, cũng không kết bạn với một Tà nhân (người tà vậy) đọc nát vạn cuốn sách. Tưởng mình cái gì cũng hiểu, lấy Kinh Phật để công kích người ta, bản thân điều này chính là phạm tội. Lấy lý luận thuyết pháp của Kinh Phật ở thời kỳ khác nhau, để công kích pháp môn chỉ có ở thời mạt pháp, giống như nhà toán học quá khứ nói nhà toán học hiện tại không hiểu toán học vậy, làm chuyện này chính là khinh nhờn Kinh Phật, ngu si a, cho nên Sư phụ nói thà kết bạn với một người đoan chính không biết chữ, cũng đừng kết bạn với một người tà vậy đọc nát vạn cuốn sách.

Viễn ly tội ác đích vị đạo (Xa rời mùi vị của tội ác), nhân sinh khổ vị (mùi vị đời người là khổ). Đời người là nếm mùi vị, chúng ta phải xa rời khổ vị của tội ác, chính là phải xa rời tội ác, ngửi thấy chút mùi vị liền rời đi: ồ, họ sắp làm chuyện xấu rồi, tôi rời xa họ. Người này tư duy có sai lệch rồi, tôi phải rời xa, phải xa rời mùi vị tội ác. Phải biết Tịch tĩnh đích vị đạo (Mùi vị của sự tịch tĩnh), chính là người này rất an tĩnh, có thể trầm ổn. Mùi vị của tịch tĩnh, đó là mùi vị của Pháp lạc, mùi vị của pháp hỷ sung mãn, gọi là Pháp lạc. Người nếm được mùi vị này, sẽ không có khủng bố, chính là Vô khủng bố cố (Vì không có sự sợ hãi). Bởi vì bạn xa rời sợ hãi rồi, xa rời tội ác rồi, bạn chính là chính nhân (người chính trực). Con người vừa tiếp xúc tội ác, lập tức sẽ không vui. Ví dụ một người chơi xấu bạn một cái, tiếp theo bạn lập tức không vui, không cao hứng rồi, liền nghĩ muốn báo thù anh ta, tiếp theo bạn liền tiếp cận “khủng bố”, bởi vì thủ đoạn của bạn là báo thù người ta, tiếp theo bạn sẽ có “khủng bố”, sợ người ta đến báo thù bạn. Xa rời khủng bố bạn mới Vô khủng bố cố.

Cầu chân bất cầu tự (Cầu cái chân thật không cầu cái tương tự), cái gì cũng phải tìm thứ thật, không cầu thứ tương tự (giống như thật). Thật tăng trí tuệ, giả tăng ngu si.

46. Sử dụng năng lượng trí tuệ, nhận thức ý thức cái tôi giả dối

+

Trí năng chứng lượng, Trí năng chính là trí tuệ và năng lượng của con người, Chứng lượng là đức năng trí tuệ của bạn có thể chứng minh năng lượng học Phật của bạn. Người càng có trí tuệ, Bồ Tát cách người đó càng gần. Cách gì cũng có thể nghĩ ra, đều là tư duy chân chính, hơn nữa làm được viên mãn, người này chính là rất có trí tuệ, Bồ Tát sẽ ở trên người họ. Nếu tư duy bất chính, ý tưởng xấu xa gì cũng nghĩ ra được, người này chính là ma. Nếu trí năng ngày càng có năng lượng, hơn nữa ngày càng thâm quảng (sâu rộng), càng cứu cánh, ngộ tính của người đó đã đạt đến Cứu cánh Chánh giác. Làm sao biết mình khai ngộ rồi? Là chỉ trên một điểm nào đó, bạn nghĩ thông rồi, hơn nữa cái này là nghĩ theo chánh niệm, sau đó hiểu rồi, đây chính là khai ngộ, khai ngộ là một từ ngữ Phật học. Nhưng nếu trên một sự việc nào đó hiểu rồi, điều này không có nghĩa là bạn việc gì cũng hiểu rồi.

Kinh Phật nói, Nhất thiết hiền thánh giai dĩ vô vi pháp nhi hữu sai biệt (Tất cả hiền thánh đều do pháp vô vi mà có sai biệt). Vô vi pháp, chính là tôi chuyện gì cũng không có tác vi (làm), cái gì cũng không biết, cái gì cũng không có. Vô vi, chính là tôi không có tư duy, không có hành vi, cái gì cũng không có, mà Bồ Tát và nó có sự khác biệt gì? Bồ Tát ở nhân gian không đi "hữu tác vi" (có làm/có tác động), cảnh giới của Ngài vượt qua nhân gian, nhìn bề ngoài Vô vi pháp là cái gì cũng không làm, thực tế là dùng trí tuệ đang xử lý việc thế gian, xử lý xong rồi, không có việc gì, giống như cái gì cũng chưa làm thực ra chính là cảnh giới của Bồ Tát. Sự khác biệt của Vô vi pháp, chính là sự khác biệt giữa người và Bồ Tát.

Lương tâm của mỗi người, là quan tòa công chính nhất của chính mỗi người, bởi vì lương tâm rất công chính, bạn lừa được người khác, không lừa được lương tâm của mình. Bạn có thể nói với người khác, tôi không làm, tôi không nói, tôi không có thế này thế kia, nhưng bạn có lừa được lương tâm của mình không? Cho nên khi một người làm sai việc, đủ loại biểu cảm đều sẽ lộ ra, phải nhớ lương tâm của một người là công chính nhất. Phải Tự giác tự ngộ, tự mình đến cảm giác, tự mình đến học, tự mình đến ngộ. Muốn biết việc mình làm đúng hay không, trước tiên tự mình cảm ngộ một chút Phật ở trong tâm, sau đó tự giác tự ngộ.

Phải học cách có thể buông bỏ bản thân, người có thể buông bỏ phiền não, mới có thể nhận được niềm vui chân chính, một người chỉ khi thực sự buông bỏ phiền não rồi, mới có thể nhận được niềm vui chân chính. Muốn đạt được sự giải thoát của tâm linh, phải có thể bất vi vật sở khiên (không bị vật lôi kéo), tâm linh bạn muốn đạt được giải thoát, ngàn vạn lần đừng bị sự vật nhân thế gian lôi kéo, chính là chuyện gì cũng đừng bị lôi kéo (vướng bận). Ví dụ, bị Tình lôi kéo, bị Danh Lợi lôi kéo, bị tất cả những thứ không tốt lôi kéo, bị con cái lôi kéo v.v... Phải thực sự thoát khỏi, thực sự buông bỏ, phải đối mặt hiện thực. Chúng ta học Phật chính là phải đối mặt hiện thực, sau đó phải vượt qua hiện thực, bởi vì bạn không đối mặt hiện thực, thì không thể vượt qua hiện thực. Ví dụ, con cái đối với tôi không tốt, tôi phải đối mặt hiện thực con cái đối với mình không tốt, tôi đến vượt qua nó, không coi nó là chuyện gì to tát, cảm thấy đây là kiếp trước mình nợ, đây là nghiệp nợ của mình, không phải nó không tốt, mà là tôi không tốt, kiếp trước mình tại sao không làm nhiều việc tốt một chút? Tại sao không giống như Sư phụ của tôi cứu độ người nhiều hơn? Nếu có thể nghĩ như vậy, sẽ có thể buông bỏ bản thân, sẽ có thể giải thoát phiền não, tâm linh sẽ có được niềm vui chân chính.

Nếu một người nỗ lực vì cái giá phải trả (đại giới), thường sẽ thất bại, khi bạn theo đuổi một việc nào đó, nên biết là phải trả giá, hơn nữa rất dễ thất bại. Sư phụ vừa rồi giảng cho các bạn điểm cơ bản thứ hai của học Phật "Chỉ quản cày cấy, không quản thu hoạch", chính là dạy các bạn đừng đi theo đuổi những thứ có cái giá phải trả. Một người nhất định phải hiểu, đừng đi theo đuổi những thứ có cái giá phải trả, thực tế những thứ theo đuổi đều là thứ trống rỗng, là thứ không đạt được. Đi theo đuổi thứ có cái giá phải trả, người này chính là người ngốc nhất.

Ý thức cái tôi (tự ngã ý thức) có hai loại, một loại là ý thức cái tôi chân thực, còn một loại là ý thức cái tôi giả dối (hư giả). Nếu chỉ giảng giải như vậy cho các bạn, các bạn sẽ cảm thấy rất trừu tượng, khó hiểu, Sư phụ bây giờ dùng thực tế để giảng giải cho các bạn, để các bạn hiểu thế nào là ý thức cái tôi. Ví dụ, tôi hôm nay đến thư viện nhìn thấy một quyển sách mình thích, nhưng tôi không có tiền, có nên lấy không? Lúc này nhớ tới một câu người xưa nói: "Trộm sách không gọi là trộm." Tức là bạn lấy sách không coi là trộm cắp, lúc này trong đầu bạn sẽ nghĩ: đúng rồi, mình lấy quyển sách này không tính là trộm, người xưa đều nói vậy rồi, đây chính là ý thức cái tôi giả dối đang khống chế bạn, tưởng rằng mình có thể tìm ra một lý do, để che đậy ý thức trộm sách của mình. Hôm nay làm sai việc, cho dù tìm ra ngàn loại lý do, vạn loại lý do, mục đích chính là để bản thân chứng thực việc sai mình làm là một vật giả (không thật/không sai). Rõ ràng là một thứ giả, bạn nhất định phải gói nó thành thứ thật. Lấy một ví dụ không tốt, bạn đến nhà hàng ăn đồ, con cá này để mấy ngày rồi, đã có mùi thối, rõ ràng là đồ thối, đầu bếp lại đem cá bỏ vào dầu chiên lên, sau đó thêm gia vị đậm đà, bưng lên cho bạn ăn, khi bạn ăn vào miệng có phải là thối không?

Ý thức giả dối sinh ra hành vi ảo (hư nghĩ), con người chính là muốn sĩ diện, lột bỏ cái sĩ diện này, chính là tước đoạt ý thức cái tôi giả dối. Học Phật chính là phải loại bỏ toàn bộ những thứ giả dối này trên người mình. Tại sao phải niệm Lễ Phật Đại Sám Hối Văn? Chính là phải dốc sức đào gốc rễ ác trên người mình, đào gốc ác đi rồi, sau này mới không mọc ra cỏ ác mới. Không chịu đào gốc ác trên người mình, cho dù giữ được nó, thời gian lâu vẫn sẽ mọc ra cỏ độc. Học Phật chính là phải sửa đổi thói xấu trên người mình, học Phật chính là phải triệt để đào ra gốc ác trên người mình. Ý thức giả dối, muốn sĩ diện, toàn là đồ rỗng tuếch, kiên quyết phải sửa đổi.

Học Phật, trước tiên phải triệt để buông bỏ cái Tôi, phải Vô ngã, bởi vì sau khi có ý thức cái tôi giả dối, tất nhiên sẽ nảy sinh lòng hư vinh. Bởi vì con người có mắt thấy, tai nghe, còn có mê hoặc và giả tướng, cho nên mỗi ngày đều bị những giả tướng này mê hoặc, ngày ngày đang làm việc sai, sống trong sai lầm, mới không ngừng nảy sinh ra vô tận phiền não. Nếu chúng ta không làm việc sai, chúng ta sẽ không có phiền não, sẽ có thể duy trì từng phút từng giây an tường.

Phải nhớ một câu: Hữu dụng chi nhân, hữu sở bất dụng. (Người hữu dụng, có chỗ không dùng). Nếu là một người rất hữu dụng, tức là người rất có năng lực, đối với rất nhiều việc anh ta giả vờ không làm, anh ta nghe, học, không phải việc gì cũng làm, việc này rõ ràng biết làm được, chính là khiêm tốn không làm, việc gì cũng giữ lại ba phần. Còn Vô dụng chi nhân, vô sở bất dụng (Người vô dụng, không chỗ nào không dùng), mà người vô dụng cảm thấy mình cái gì cũng có thể làm, "ấy, tìm tôi, tôi làm được, đảm bảo làm được", đến lúc đó thì làm không được, giống như một số người làm ăn, nói lời đầy miệng làm đến cuối cùng, nợ một đống tiền, chạy mất dép. Cơm đầy miệng thì ngon, lời đầy miệng nói không được (Mãn khẩu phạn hảo cật, mãn khẩu thoại giảng bất đắc - ý nói không được nói khoác/nói quá), học Phật chính là đừng nói lời quá đầy (mãn thoại).

Mỗi người trên thân có bao nhiêu thói hư tật xấu? Đã làm bao nhiêu việc sai? Bây giờ nghĩ lại xem, có xấu hổ không? Các bạn nhất định phải tu tâm cho tốt sửa đổi tập khí vô minh của bản thân, phải làm người cho tốt. Trước tiên, phải làm một người tốt, Sư phụ mới có thể cứu bạn, mới có thể giúp được bạn, nếu bạn không phải là một người tốt, cho dù bạn cầu Bồ Tát cứu bạn, Bồ Tát cũng chưa chắc cứu được bạn a.

Các bạn nhất định phải tu tâm cho tốt, phải tạo điều kiện để tu tâm, phải để tất cả đức năng, đạo đức và trí năng của mình, toàn bộ phát huy ra, để hoằng pháp lợi sinh. Nếu không sẽ có lỗi với Quán Thế Âm Bồ Tát, có lỗi với Sư phụ, có lỗi với lương tâm của chính mình.

II. Giải đáp về mối quan hệ giữa Pháp Môn Tâm Linh và các pháp môn khác

[Lời Ban Thư ký]: Gần đây, Ban Thư ký nhận được một bức thư từ cư dân mạng, trình bày rất nhiều thắc mắc của bản thân, rất mang tính đại diện. Do đó, Ban Thư ký đã trích lục từng câu hỏi của cư dân mạng này cùng câu trả lời của Ban Thư ký để mọi người tham khảo, thấu hiểu và xóa bỏ nghi ngờ.

Câu hỏi 1 từ thư cư dân mạng: Chào Ban Thư ký, trước đây tôi từng tu các pháp môn khác, đã tiếp xúc với vài pháp môn như Tịnh Độ tông v.v... và vẫn luôn in ấn kinh sách của các pháp môn để kết duyên. Cuối năm 2009 bắt đầu tiếp xúc với Pháp Môn Tâm Linh của ông Lư, và năm ngoái bắt đầu đọc Ngôi Nhà Nhỏ. Tuy nhiên, không lâu sau khi bắt đầu tiếp xúc với Pháp Môn Tâm Linh, tôi gặp rất nhiều chuyện không suôn sẻ, ví dụ: ví tiền bị trộm, hàng xóm gây sự cãi nhau, sức khỏe không tốt... Không biết những việc này có liên quan đến việc tu Pháp Môn Tâm Linh không?

Ban Thư ký trả lời: Rất cảm ơn thư của bạn. Đầu tiên, việc bạn sau khi niệm kinh liên tiếp gặp chuyện ví tiền bị trộm, hàng xóm gây sự cãi nhau, sức khỏe không tốt... thực ra chuyện này rất đơn giản. Bởi vì trước đây bạn đã tu qua rất nhiều pháp môn khác, càng tu nhiều pháp môn thì càng dễ gây ra một số rắc rối, cho nên Phật pháp dạy phải "Nhất môn thâm nhập" (chuyên sâu một môn). Giữa các pháp môn tuy có sự tương thông nhưng rốt cuộc vẫn có những sự khác biệt nhất định, giống như cùng là đi đến Bắc Kinh, nhưng đi tàu hỏa, đi xe ngựa, đi tàu thủy, đi máy bay đều có những quy tắc nhất định, nếu vi phạm quy tắc thì tàu hỏa, tàu thủy, máy bay đều không lên được. Còn về những vấn đề này, lẽ ra chỉ là tạm thời. Pháp Môn Tâm Linh có thể khiến hàng triệu người chuyển họa thành phúc, có thể tiêu tai cát tường, không thể nào khiến một người làm công đức như bạn sức khỏe lại không tốt, cho nên những vấn đề này không liên quan đến Pháp Môn Tâm Linh. Đây là vấn đề do trước kia bạn tu quá nhiều pháp môn; hoặc bản thân còn có linh tính (vong linh), những linh tính này khiến bạn có những phản ứng đó; hoặc sau khi mới tiếp xúc Pháp Môn Tâm Linh, Ngôi Nhà Nhỏ niệm chưa đủ hoặc niệm niệm dừng dừng, khiến cho "oan gia trái chủ" (người đòi kinh) của mình đặc biệt nôn nóng, cũng sẽ thúc đẩy những việc này xảy ra; còn một khả năng nữa là khi mới bắt đầu chuyển đổi pháp môn, giữa linh giới có sự bài xích nhất định, và những tình huống này thông thường sau khi chấp nhận một pháp môn mới từ 3 đến 6 tháng nhất định sẽ không còn nữa.

Câu hỏi 2 từ thư cư dân mạng: Khi tu Pháp Môn Tâm Linh có thể đồng thời tu Tịnh Độ tông không?

Ban Thư ký trả lời: Thực ra Tịnh Độ tông cũng là một pháp môn tốt, Tịnh Độ tông mong muốn xem nhẹ thế gian một chút, để lúc lâm chung nhất niệm A Di Đà Phật là có thể vãng sinh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nhưng cần hiểu một điểm, nếu bất kỳ ai chỉ cần nhất niệm A Di Đà Phật đều có thể vãng sinh Tây Phương Cực Lạc thế giới thì không còn nhân quả để nói nữa rồi.

Đài trưởng đã nhiều lần giảng giải với mọi người, trên người con người có rất nhiều nghiệp chướng và cũng có rất nhiều linh tính, chúng ta cần làm cho cơ thể mình sạch sẽ, giống như một người rất bẩn sẽ không được người khác chấp nhận vậy, cần phải rửa sạch những thứ bẩn thỉu này, dựa vào việc tự mình tu tâm, tu hành, niệm Kinh, làm công đức. Lấy một ví dụ, một người chỉ đơn thuần cầu xin một hiệu trưởng: "Em muốn vào đại học", mà không chịu dụng công nỗ lực học tập, người đó có thể vào đại học không? Nếu có một người chỉ đơn thuần cầu A Di Đà Phật muốn đi Tây Phương Cực Lạc thế giới, mà không tu tâm, tu hành, làm công đức, làm việc thiện, căn cơ rất kém, còn mang theo nghiệp chướng rất sâu, người này có thể đi Tây Phương Cực Lạc thế giới không? Đây chính là điểm khác biệt và cũng có điểm tương đồng giữa Pháp Môn Tâm Linh và các pháp môn khác.

Thực tế Tịnh Độ tông có thể tu, Pháp Môn Tâm Linh cũng có thể tu. Pháp Môn Tâm Linh có thể nói là sự tu vi tổng thể từ cơ bản đến cảnh giới cao, giống như một người khi mới học tiểu học, trung học sẽ không đi học chương trình đại học, đợi đến khi nền tảng tiểu học, trung học của họ vững chắc rồi, lúc đó họ học các môn đại học là có thể thông qua. Cho nên Đài trưởng luôn dạy mọi người, sau này cũng hy vọng mọi người có thể tu đến Tây Phương Cực Lạc thế giới và siêu thoát lục đạo tiến vào Tứ Thánh Đạo, nhưng trong trường hợp căn cơ còn rất nông, nghiệp chướng còn rất sâu, linh tính còn rất nhiều, vẫn hy vọng họ giải quyết rõ ràng phiền não, nghiệp chướng của bản thân trước, mới có thể đến Tây Phương Cực Lạc thế giới hoặc Tứ Thánh Đạo.

Thử hỏi nếu một người trước khi lâm chung đã mắc chứng mất trí nhớ, mắc hội chứng Meniere, hôn mê trên giường bệnh, trên người cắm ống, ý thức đều không rõ ràng, người như vậy có thể đến Tây Phương Cực Lạc thế giới không? Đó là lý do tại sao Lư Đài trưởng luôn dạy mọi người phải loại bỏ phiền não chướng của thế gian, mới có thể là một nền tảng quan trọng để sau này đến được Tây Phương Cực Lạc thế giới. Cho nên Pháp Môn Tâm Linh và Tịnh Độ tông không có mâu thuẫn, chỉ có điều muốn đi cõi nước Tây Phương Cực Lạc thì bản thân phải loại bỏ nghiệp chướng trước, và có thiện căn, sau khi tu hành tu tâm thì tiếp tục tu Tịnh Độ. Nhưng nói ngược lại, Quán Thế Âm Bồ Tát là một trong Tây Phương Tam Thánh, nếu chúng ta ở nhân gian đã tu tốt rồi, Quán Thế Âm Bồ Tát cũng sẽ tiếp dẫn chúng ta đi Tây Phương Cực Lạc thế giới. Cho nên hãy nhớ, vấn đề là phải hiểu cái gì trước cái gì sau, căn cơ thế nào thì làm việc thế nấy trước. Lấy ví dụ, phải trả hết nợ nần mới có thể kiếm tiền (tích lũy), cũng như một người trước tiên phải tiêu trừ sạch nghiệp chướng thì họ mới có thể có công đức, nếu không công đức người này làm đều bị nghiệp chướng và linh tính của họ lấy mất, người này lấy đâu ra công đức? Kinh A Di Đà viết rất rõ ràng: "Bất khả dĩ thiểu thiện căn phúc đức nhân duyên, đắc sinh bỉ quốc" (Không thể dùng chút ít thiện căn phúc đức nhân duyên mà được sinh về nước đó).

Câu hỏi 3 từ thư cư dân mạng: Tu Pháp Môn Tâm Linh, chỉ là đọc Ngôi Nhà Nhỏ siêu độ thôi sao, tu tâm như thế nào, chỉ xem khai thị là không đủ.

Ban Thư ký trả lời: Xin hỏi các pháp môn khác dùng phương pháp gì dạy mọi người tu tâm? Chẳng phải cũng dùng khai thị sao? Chẳng phải cũng đọc Kinh văn sao? Đài trưởng không chỉ dạy mọi người niệm Ngôi Nhà Nhỏ trả nợ, bản thân còn phải làm công khóa (bài tập hàng ngày), cộng thêm nghe ghi âm chương trình, ghi âm buổi giải đáp, xem khai thị trên blog, kết hợp phóng sinh, hứa nguyện. Xin hỏi các pháp môn khác còn có phương pháp nào nhiều hơn thế này để tu tâm, tu hành không?

Phải hiểu một đạo lý, bất kỳ pháp môn mới nào xuất hiện đều sẽ đối mặt với sự bài xích mang tính chủ quan của một số rất ít cá nhân học pháp môn truyền thống, đây là việc không thể tránh khỏi. Người học Phật chúng ta đều phải hiểu, tám vạn bốn ngàn pháp môn có trước có sau, bất kỳ pháp môn nào ra đời sau đều sẽ chịu sự bài xích mang tính chủ quan thiện ý hoặc ác ý của pháp môn trước đó. Đây chính là Pháp Môn Tâm Linh sau khi đến nhân gian, hiện tại mới vừa bắt đầu, một số người học pháp môn truyền thống có thể bắt đầu có ý kiến. Thực ra không phải là sự bài xích của pháp môn, mà là sự bài xích của cá nhân thực hành pháp môn truyền thống, điều đó rất bình thường, Đài trưởng cũng rất hiểu họ. Nhưng sau vài năm nữa những điều này còn là vấn đề không? Pháp Môn Tâm Linh này là do Quán Thế Âm Bồ Tát mang đến nhân gian, pháp môn này trong hai, ba năm đã được gần 7 triệu người đón nhận, sau khi niệm Kinh hiệu quả rõ rệt, gần như không có một ai không linh nghiệm, cho nên pháp môn này sau này nhất định có thể kiên trì tiếp tục. Người thông linh trên đời rất nhiều, chúng ta cũng có thể thông qua họ hỏi Quán Thế Âm Bồ Tát, chứng thực pháp môn này.

Câu hỏi 4 từ thư cư dân mạng: Mục tiêu học Phật của tôi chính là muốn thành Phật, nhưng không biết Pháp Môn Tâm Linh làm sao có thể giúp tôi thành Phật?

Ban Thư ký trả lời: Xin hãy nhớ thành Phật là dựa vào việc làm từng bước từng bước một, cơ bản nhất của thành Phật chính là căn cơ. Căn cơ của người này bắt buộc không có nghiệp chướng, tâm linh phải sạch sẽ, thuần khiết, phải không bị nghiệp chướng kiếp trước lôi kéo, phải không có linh tính, mới có thể thành Phật. Thành Phật là đi từng bước một, chưa bao giờ có chuyện một bước lên trời.

Cho nên nếu tu theo Lư Đài trưởng, muốn thành Phật, Đài trưởng trước tiên dạy mọi người phải loại bỏ nghiệp chướng trên người, phải loại bỏ tính xấu (l căn tính) trong quá khứ của bản thân, loại bỏ tham sân si, tu ngũ giới thập thiện, thay đổi cuộc đời nâng cao cảnh giới. Nhân thành tức Phật thành (làm người thành công tức là thành Phật), đây là lời của Thái Hư Đại Sư nói, cho nên muốn thành Phật phải dựa vào việc tu lên từng bước chân vững chắc, chứ không phải một bước lên trời mà thành Phật.

Câu hỏi 5 từ thư cư dân mạng: Chỗ tôi có một người thông linh, sau khi xem sách của Lư Đài trưởng thì nói: Người này không bình thường, ông ấy là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát. Nhưng còn nói pháp môn này của Lư Đài trưởng dễ chiêu cảm (trêu chọc) linh tính. Xin hỏi có phải Pháp Môn Tâm Linh dễ chiêu cảm linh tính không?

Ban Thư ký trả lời: Xin hãy nhìn xem Tịnh Độ tông, Mật tông v.v... pháp môn nào không giao thiệp với linh giới? Niệm Kinh Địa Tạng chính là đang siêu độ chúng sinh cõi quỷ, Địa Tạng Vương Bồ Tát cũng là ở địa phủ, địa ngục cứu độ chúng sinh, bạn nói xem cái nào không dễ chiêu cảm linh tính? Bất kỳ pháp môn nào cũng sẽ cứu quỷ, cứu chúng sinh, đều là đang siêu độ vong linh. Văn hóa và lịch sử mấy ngàn năm truyền lại trong chùa miếu mỗi ngày đều là đang giúp chúng sinh siêu độ vong linh làm pháp sự, lẽ nào nói họ đang chiêu cảm linh tính sao?

Câu hỏi 6 từ thư cư dân mạng: Tịnh Độ tông tu tập đều căn cứ vào một số kinh điển để thiết lập công khóa, nhưng tôi cảm thấy Pháp Môn Tâm Linh hiện tại thiếu một hệ thống lý luận hoàn chỉnh và căn cứ nền tảng.

Ban Thư ký trả lời: Thực ra sự khởi đầu của bất kỳ pháp môn nào cũng đều sẽ trải qua quá trình cần hoàn thiện rất nhiều. Quán Thế Âm Bồ Tát đem pháp môn này truyền xuống nhân gian, khi mới bắt đầu, về mặt lý luận không thể nào lập tức có ngay một bộ lý luận hệ thống, cũng như khi rất nhiều khoa học ở nhân gian chưa trưởng thành, các nhà khoa học vẫn chưa thể dùng một bộ lý thuyết để chứng thực các vấn đề không gian vũ trụ vậy. Trong không gian vũ trụ, Thích Ca Mâu Ni Phật từ hơn 2000 năm trước đã nói về Tam thiên đại thiên thế giới, mà khoa học không có một bộ lý thuyết để chứng thực lời của Thích Ca Mâu Ni Phật, mãi đến sau mấy nghìn năm mới dần dần có thể chứng thực lời Phật, mới hiểu về thái không, vũ trụ, tinh cầu, hệ mặt trời, ngân hà, mới có thể có một bộ lý thuyết hoàn chỉnh để phân tích.

Thực ra từ sau khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc, nhiều tông phái cũng không thể chấp nhận. Khi Phật giáo vào Trung Quốc lúc đó, Phật giáo cũng không có một bộ lý luận hoàn chỉnh, ngay cả Kinh Phật qua phiên dịch tiếng Hán cũng rất ít, huống hồ là hệ thống lý luận hoàn chỉnh, Phật giáo cũng từng bị người của nhiều học phái tôn giáo khác tẩy chay, gọi là ngoại đạo. Thực ra Pháp Môn Tâm Linh không phải không có lý luận, mà là cần dựa vào Phật tử chúng ta để chứng thực Pháp Môn Tâm Linh, không thể vì lý luận của pháp môn này chưa chín muồi mà phủ định pháp môn này. Pháp Môn Tâm Linh đã mang lại niềm vui cho chúng sinh, rời xa bi thương, đối với lý luận mà nói chỉ là công việc tiếp theo, cần chúng ta đúc kết. Cũng giống như ông Lương Tiêu (Liang Xiao) và đông đảo cư dân mạng khác đang đúc kết lý luận của Pháp Môn Tâm Linh vậy, những lý luận này sẽ do hậu thế của chúng ta từ từ hoàn thiện và cải thiện. Một pháp môn tốt, chính là có thể làm cho đông đảo chúng sinh được lợi ích, lìa khổ được vui, đó chính là một pháp môn tốt. Phải để cho nhiều chúng sinh biết rằng, đây chính là một Pháp Môn Tâm Linh sẽ đứng vững trong tám vạn bốn ngàn pháp môn sau này, đây là pháp môn của Quán Thế Âm Bồ Tát, đây chính là căn cứ. Cảm ơn sự tư vấn của bạn, gửi bạn tham khảo, cảm tạ Quán Thế Âm Bồ Tát.

III. Chân thành tu học theo Đài trưởng Lư Quân Hoành

Nhận thức, cảm ngộ, cùng những cảm ứng và phản hồi chân thực, thần kỳ sau khi niệm kinh theo Pháp Môn Tâm Linh của Quán Thế Âm Bồ Tát

Do khuôn khổ có hạn, ở đây chỉ liệt kê một vài bài viết về nhận thức, cảm ngộ, cùng những cảm ứng và phản hồi chân thực, thần kỳ của thính giả và cư dân mạng sau khi tu học niệm kinh theo Pháp Môn Tâm Linh của Quán Thế Âm Bồ Tát theo sự chỉ dẫn của Đài trưởng Lư. Nếu muốn tìm hiểu thêm nội dung, xin vui lòng truy cập blog của Đài trưởng Lư Quân Hoành.

Địa chỉ Blog của Đài trưởng Lư Quân Hoành:

http://lujunhong2or.com

Địa chỉ Pháp Môn Tâm Linh Việt Nam

https://phapmontamlinh.vn


1. Đài trưởng Lư đã chỉ cho tôi con đường học Phật

Cảm tạ Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát!

Cảm tạ Đại Từ Đại Bi Đài trưởng Lư Quân Hoành!

Cảm tạ toàn thể đồng tu Ban Thư ký Đài Đông Phương!

Tôi là một cán bộ nghỉ hưu thuộc cơ quan chính quyền cấp tỉnh, xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo khổ. Chính nước Trung Hoa mới do Đảng Cộng sản lãnh đạo đã cho tôi cơ duyên được đi học, lên thành phố và trở thành cán bộ nhà nước. Mang trong mình lòng biết ơn, tôi đã nỗ lực hết mình làm việc, học tập, tiến bộ, vào Đảng và thăng chức. Trong quá trình công tác, tôi dần phát hiện ra trong cuộc sống thực tế có rất nhiều vấn đề mà quan điểm khoa học hiện đại không thể giải thích được; đặc biệt là những căn bệnh mà bệnh viện không chữa khỏi, người dân thường gọi là "bệnh hư" (bệnh ảo/bệnh âm). Để giải đáp bí ẩn này, dưới sự khai sáng của một đồng nghiệp tin Phật, tôi bắt đầu dùng thời gian rảnh rỗi để học tập và nghiên cứu Phật pháp, từ đó biết được rằng "bệnh hư" mà mọi người mắc phải là do nghiệp chướng từ nhiều kiếp của họ gây ra. Từ đó tôi phát nguyện nỗ lực học tập Phật pháp, tìm kiếm con đường giải thoát khỏi nỗi khổ của "bệnh hư".

1.1. Phát nguyện kiếp này thề phải thành Phật, để giải cứu nỗi khổ bệnh hư (bệnh âm)

Trong những ngày thường, bên cạnh việc hoàn thành tốt công tác, tôi nỗ lực tìm đọc các tác phẩm kinh điển của các tông phái Phật giáo, tích cực tham gia ấn tống Kinh sách để bố thí cho mọi người, thành tâm tu hành, hy vọng sớm có được công năng giải cứu cho những bệnh nhân mắc "bệnh hư". Do tâm cầu công năng quá thiết tha, vào những năm phong trào khí công nở rộ, thấy nhiều "đại sư" khí công đều giương ngọn cờ "Phật tử" đi khắp nơi truyền công trị bệnh; thế là tôi bèn quên ăn quên ngủ "luyện công", mong cầu đạt được công năng, để có thể giống như các "đại sư" đó, giải thoát bệnh khổ cho người bệnh hư. Sau một phen khổ luyện gian khổ, cuối cùng đôi tay tôi cũng có chút "năng lượng". Thế là tôi thường xuyên phát công điều trị bệnh cho những người tìm đến tôi mà không nhận bất kỳ sự đền đáp nào, có người thì bệnh khỏi ngay, có người tuy có giảm nhưng không khỏi hẳn, có người thì hoàn toàn không có tác dụng.

Một thời gian sau, bản thân tôi cũng đầy bệnh tật, mắc bệnh thoái hóa đốt sống cổ nghiêm trọng, cột sống cong sang phải, phình đĩa đệm thắt lưng, khiến tôi từ một người cao lớn 1m82 bị rút ngắn mất 5cm. Ngoài ra còn bị viêm khớp dạng thấp, viêm dạ dày, viêm túi mật, block dẫn truyền thất trái, máu đặc, mỡ máu cao, xơ cứng động mạch cảnh, thiếu máu não v.v... Sau thời gian dài điều trị, rèn luyện, dưỡng sinh bảo vệ sức khỏe, tuy có khống chế và chuyển biến tốt, nhưng cuối cùng vẫn không thể trị tận gốc. Sau khi khổ tâm nghiên cứu, cuối cùng tôi cũng hiểu ra, những thứ này đều là nghiệp duyên của tôi; là do tôi chưa thực sự hiểu rõ luận giải về quan hệ nhân quả trong Phật pháp. Tôi chỉ nghĩ rằng tôi điều trị bệnh cho họ mà không nhận bất kỳ sự đền đáp nào, là đang làm việc tốt, làm việc thiện; không hiểu rằng tôi làm như vậy là phá hoại quy luật nhân quả báo ứng, là gây tổn thương cho các linh tính ẩn tàng đang thực thi báo ứng lên người bệnh. Tôi vì bệnh nhân "bệnh hư" mà làm tổn thương chúng sinh cõi âm, cho nên tôi phải gánh chịu sự trừng phạt nhất định của quy luật âm luật.

Để tiêu trừ tội chướng của mình, tôi đã bôn ba trong biển Phật pháp mênh mông suốt nhiều năm. Hôm kia nghe vị cao tăng pháp môn kia thuyết giảng, hôm qua đọc luận giải của vị đại đức pháp môn này, hôm nay lại có người giới thiệu Kinh điển của một pháp môn khác còn diệu hơn. Cứ thế, cái nào cũng tốt, cái nào cũng diệu, tôi loanh quanh suốt hai, ba mươi năm. Chỉ hiểu được rằng học Phật cần Tín, Nguyện, Hạnh; cần có tâm từ bi, cần biết nhẫn nhục; chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành (không làm việc ác, làm các việc thiện); cần nhiếp lục căn, trừ tam độc, khử lục tặc, mới có thể đạt được Giới Định Tuệ. Đối với tôi, Tín và Nguyện thì không vấn đề gì, nhưng rốt cuộc phải "Hạnh" (làm) như thế nào? Làm sao mới có thể tiêu trừ nghiệp chướng trên người tôi, giải trừ triệt để đau đớn bệnh tật? Thì cuối cùng vẫn không tìm được phương pháp giải quyết hiệu quả.

1.2. Đài trưởng Lư đã chỉ cho tôi con đường tiêu trừ nghiệp chướng, giải trừ bệnh tật, học Phật tu tâm

Vào một ngày cuối tháng 7 năm 2010, một người bạn đạo giới thiệu cho tôi cuốn sách "Nhất Mệnh Nhị Vận Tam Phong Thủy" của Đài trưởng Lư. Khi nhận được cuốn sách này, tôi lại như mọi khi tranh thủ thời gian đọc một lèo, chỉ dùng một ngày là đọc xong. Tâm trạng lúc đó thực sự khó dùng ngôn ngữ để diễn tả; giống như bao nhiêu ngày mưa dầm bỗng nhiên thấy ánh mặt trời, tim tôi như có hai cánh cửa đột ngột mở ra, sự sáng sủa đó không thể nào nói hết. Pháp môn mà tôi khổ sở tìm kiếm để giải cứu tôi cuối cùng cũng xuất hiện trước mặt. Tôi lập tức chạy đến Phật đường nhà mình quỳ trước tượng Phật Bồ Tát, cảm tạ Quán Thế Âm Bồ Tát đã rủ lòng thương xót tôi, cho tôi tìm được phương pháp tu hành phù hợp trong biển mê Phật học. Thông qua người bạn đạo đó, tôi liên hệ được với Cư sĩ Hạ đang hoằng dương Pháp Môn Tâm Linh tại thành phố Trường Xuân, và từ cô ấy thỉnh được các cuốn sách "Thiên Địa Nhân""Bạch Thoại Phật Pháp""Đồ Đằng Thế Giới" của Đài trưởng Lư, cùng các đĩa ghi âm chương trình "Huyền Nghệ Tổng Hợp""Huyền Nghệ Vấn Đáp""Trực Thoại Trực Thuyết""Bạch Thoại Phật Pháp" và "Hội giải đáp trực tiếp quy mô lớn"; còn có các tài liệu như "Ngôi Nhà Nhỏ", "Ngôi Nhà Lớn" v.v...

Ba pháp bảo lớn "Niệm kinh, Hứa nguyện, Phóng sinh" và dùng "Ngôi Nhà Nhỏ" để trả nợ, siêu độ linh tính, tiêu trừ nghiệp chướng, giải thoát bệnh khổ mà Đài trưởng Lư khai thị thật đơn giản, tiện lợi và thiết thực biết bao! Bạch Thoại Phật Pháp giảng giải thật dễ hiểu biết bao! Tôi thực sự không biết làm thế nào để cảm tạ sự thương xót của Quán Thế Âm Bồ Tát đối với tôi. Tôi vui mừng khôn xiết, gặp ai tôi cũng kể: Là Đài trưởng Lư đã dạy tôi cách học Phật, niệm Kinh, tiêu nghiệp, trị bệnh, rèn luyện thân thể, tu tâm, làm người. Bây giờ tôi cuối cùng cũng có thể dùng thời gian dư dả để tu tập Bạch Thoại Phật Pháp của Quán Thế Âm Bồ Tát do Đài trưởng Lư hoằng dương.

Tuân theo lời khai thị của Đài trưởng, tôi phát nguyện trước Quán Thế Âm Bồ Tát tại Phật đường trong nhà: Từ nay về sau, theo sát Đài trưởng Lư học tập Bạch Thoại Phật Pháp tu tâm.

  1. Thiết lập công khóa niệm kinh hàng ngày. Mỗi sáng niệm Đại Bi Chú, Tâm Kinh, Lễ Phật Đại Sám Hối Văn mỗi loại 7 biến, Chuẩn Đề Thần Chú 49 biến, Vãng Sinh Tịnh Độ Thần Chú 27 biến, Giải Kết Chú 21 biến (sau một thời gian tùy theo nhu cầu, tăng thêm Tiêu Tai Cát Tường Thần Chú hoặc Công Đức Bảo Sơn Thần Chú, các kinh chú khác; điều chỉnh số biến của các kinh chú). Và niệm 3 biến Đại Bi Chú cho Đài trưởng Lư.
  2. Ngoài công khóa, mỗi ngày niệm có mục tiêu Giải Kết Chú, Vãng Sinh Chú, mỗi loại 108 biến (đã niệm như vậy hàng ngày suốt 3 tháng, hiện đổi thành khi nào cần thì niệm).
  3. Cố gắng ăn chay, mỗi tháng ít nhất ăn chay hai ngày (cố gắng là mùng 1, 15).
  4. Mùng 1, 15 âm lịch hàng tháng ngoài công khóa hàng ngày, cố gắng niệm kinh nhiều hơn (Lễ Phật Đại Sám Hối Văn 18 biến, Đại Bi Chú, Tâm Kinh, Chuẩn Đề Thần Chú, Vãng Sinh Chú, Giải Kết Chú, Tiêu Tai Cát Tường Thần Chú, Công Đức Bảo Sơn Thần Chú v.v..., mỗi loại 49 biến).
  5. Hoằng dương Phật pháp mọi lúc mọi nơi, khuyên bảo những người có Phật duyên tu tâm niệm Kinh; cố gắng tùy duyên làm việc thiện, phóng sinh, chú ý tích lũy công đức.
  6. Tranh thủ thời gian niệm "Ngôi Nhà Nhỏ", bình quân mỗi ngày niệm ít nhất một tờ trở lên, ngoài việc trả nợ, cố gắng sớm thực hiện việc dự trữ nhiều "Ngôi Nhà Nhỏ" để cứu độ chúng sinh hữu duyên.

1.3. Hiệu ứng sau khi tu tập Pháp Môn Tâm Linh

Ngôi Nhà Nhỏ quả là bảo bối, các "oan gia trái chủ" (người đòi kinh) nườm nượp kéo đến đòi. Không lâu sau khi tôi niệm hơn 20 tờ Ngôi Nhà Nhỏ cho oan gia trái chủ của mình và vợ, hai người anh vợ lúc sinh thời không qua lại gì nhiều bỗng xuất hiện trong giấc mơ; tiếp đó là một đồng nghiệp đã qua đời từng vẽ cho tôi một bức tranh ở đơn vị tôi nghỉ hưu; rồi đến người giới thiệu tôi vào Đảng khi tôi mới đi làm đã qua đời hơn 20 năm; các bạn học tiểu học lớp 5-6 hơn 50 năm không tin tức cũng lần lượt xuất hiện trong mơ. Tôi biết họ đều là những người đến đòi kinh như Đài trưởng đã nói. Tôi bèn dựa theo con số xuất hiện trong mơ mà tôi hiểu để siêu độ Ngôi Nhà Nhỏ cho họ, trong mơ không xuất hiện con số thì siêu độ 7 tờ Ngôi Nhà Nhỏ theo lời Đài trưởng. Sau khi siêu độ Ngôi Nhà Nhỏ cho họ, tâm trạng tôi vô cùng sảng khoái.

Bây giờ tôi là "hộ chuyên niệm Kinh", mỗi ngày đều niệm Kinh vài tiếng đồng hồ. Nửa năm trôi qua, tôi đã niệm hơn 370 tờ Ngôi Nhà Nhỏ cho bản thân, người nhà và cha mẹ song thân, anh chị, đồng nghiệp, bạn học đã qua đời. Nhận được hiệu quả thần kỳ, nghiệp chướng trên người giảm đi nhanh chóng, các chứng bệnh kể trên rõ ràng đã khỏi hoặc thuyên giảm.

Niệm Giải Kết Chú để hóa giải chuyện cãi vã giữa tôi và bà nhà hiệu quả rõ rệt nhất. Trước đây thường xuyên nói chuyện không hợp, nói chưa được hai ba câu là cãi nhau. Sau khi tôi học Pháp Môn Tâm Linh, liên tục ba tháng mỗi ngày chuyên tâm niệm 108 biến Giải Kết Chú, bây giờ tôi và bà nhà không còn cãi nhau nữa, gặp chuyện gì cũng dễ thương lượng.

1.4. Học Phật tu tâm gánh nặng đường xa, như đi trên băng mỏng; phải bắt đầu từ những việc nhỏ trong cuộc sống hàng ngày

Là Đài trưởng Lư đã cho tôi hiểu rằng hiện tại tôi đang ở giai đoạn "trả nợ" của việc tu tập Pháp Môn Tâm Linh, chưa đạt đến giai đoạn "tu tâm", khoảng cách đến việc tu thành chánh tri, chánh kiến, chánh quả còn xa lắm. Tâm tôi chưa đạt đến tầng bậc "Định", định lực còn chưa đủ. Tham dục và Sân hận chỉ cần lơ là một chút là sẽ bùng phát.

Ví dụ, ngày 6 tháng 1 năm nay, ổ khóa cửa chống trộm của ba đơn nguyên khu nhà chúng tôi bị người ta nhét que gỗ vào, người ra ngoài muốn vào nhà chỉ có cách gọi điện thoại bảo người nhà xuống mở cửa. Tôi đi tìm thợ sửa khóa đến sửa khóa cửa chống trộm đơn nguyên của chúng tôi; lúc này tôi lại không khống chế tốt tâm sân hận của mình, trước mặt thợ sửa khóa tôi đã nguyền rủa người nhét que gỗ sẽ bị báo ứng, nguyền rủa tay hắn sẽ bị tàn phế, v.v... Tôi nguyền rủa người khác cũng bị trừng phạt rồi, kết quả là khi khóa sửa xong đóng cửa lại, tay tôi bị cửa kẹp một cái.

Sự việc này cho tôi hiểu rằng quy luật cân bằng của vũ trụ là chân thực không hư dối, ai ai cũng phải chịu sự chế ước của nó. Ở đây tôi cũng muốn nhắn nhủ đến những người bình thường hay tham món lợi nhỏ, tâm tham, ngu si, sân hận tương đối nặng, hãy mau chóng sám hối tu tâm đi! Khắc phục thói hư tật xấu của mình, sửa chữa sai lầm và tội lỗi của mình. Nếu không, rất khó thoát khỏi sự trừng phạt của nhân quả và quy luật vũ trụ, chỉ là vấn đề thời gian sớm hay muộn, đến lúc đó bạn sẽ mất đi rất nhiều rất nhiều...

Con đường học Phật thực sự gian nan như đi trên băng mỏng, phải luôn nắm chắc trái tim này của mình không bị tham, sân, si làm mê hoặc; phải bỏ công phu vào những việc nhỏ trong cuộc sống hàng ngày. Tôi sẽ kiên định không dời tu hành một cách thiết thực theo lời dạy của Đài trưởng. Khẩn cầu Đài trưởng Lư, Quán Thế Âm Bồ Tát từ bi nghĩ đến con, chứng biết cho con, nhớ nghĩ đến con.

Cảm tạ Quán Thế Âm Bồ Tát! Cảm tạ Đài trưởng Lư!

Tín đồ Pháp Môn Tâm Linh tại Trường Xuân, Trung Quốc: Châu Quốc Tài

Ngày 19 tháng 2 năm 2011


2. Những gì Đài trưởng Lư nhìn thấy đều là sự thật, tôi nhất định kiên định niềm tin tu tâm

Cảm tạ Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát!

Cảm tạ Đại Từ Đại Bi Đài trưởng Lư và nhân viên Đài Đông Phương!

Tôi sinh năm 1952, nguyên quán Chiết Giang, thiếu niên gia nhập hải quân, sau khi chuyển ngành vẫn luôn sống tại Thanh Đảo. Trong một năm rưỡi qua, cảm tạ pháp môn mà Đại Từ Đại Bi Đài trưởng Lư truyền dạy, đã giúp tôi vượt qua nhiều cửa ải khó khăn. Từ những kỳ tích do tiềm tâm tu Phật mang lại hết lần này đến lần khác, đến quả đắng nếm trải do ý chí không kiên định, rồi đến những gì Đài trưởng nhìn thấy qua việc xem Đồ Đằng (Totem), không gì là không ấn chứng sự huyền diệu của Pháp Môn Tâm Linh.

2.1. Chỉ số chức năng gan cao không hạ, trong lúc chạy chữa khắp nơi thì biết đến Pháp Môn Tâm Linh

Tháng 8 năm 2009, tôi nhập viện điều trị do chỉ số chức năng gan không bình thường, trong quá trình điều trị qua kiểm tra siêu âm B, CT v.v... phát hiện hàng loạt bệnh chứng như sỏi mật, nang ống mật, gan nhiễm mỡ, lần lượt điều trị tại Bệnh viện thành phố Thanh Đảo, Bệnh viện số 5 Thanh Đảo (Bệnh viện chuyên khoa Gan mật), Bệnh viện số 6 Thanh Đảo (Bệnh viện chuyên khoa Bệnh gan), trải qua các phương pháp điều trị như bài sỏi, tán sỏi, điều lý bằng thuốc Đông y nhưng vẫn không thấy chuyển biến tốt, đồng thời các chỉ số chức năng gan tăng vọt. Đầu năm 2010 xuất hiện vàng da nghiêm trọng, chán ăn, cân nặng từ 85kg sụt giảm nghiêm trọng xuống còn 61kg, tình trạng sức khỏe ngày càng sa sút.

Trong quá trình chạy chữa khắp nơi, tôi tiếp xúc với Pháp Môn Tâm Linh từ phía thông gia, dưới sự hướng dẫn của thông gia, tôi bắt đầu làm công khóa hàng ngày. Do đã kiểm tra nhiều lần vẫn chưa tìm ra nguyên nhân chính gây bất thường chức năng gan, nên coi như bệnh nan y tạp chứng, mỗi ngày niệm Đại Bi Chú 27 biến, cầu Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát phù hộ cho mình sớm ngày bình phục.

2.2. Chẩn đoán xác định ung thư gan mật, cả nhà dốc sức tụng Kinh cầu bình phục

Tháng 3 năm 2010, tôi lại vào khoa Ngoại Bệnh viện thành phố Thanh Đảo điều trị tắc ống mật, khi xét nghiệm chỉ số phát hiện ung thư ống mật, cả nhà lập tức như bị sét đánh ngang tai. Theo Pháp Môn Tâm Linh, bệnh nhân ung thư nên điên cuồng niệm Đại Bi Chú, hứa nguyện phóng sinh, niệm Ngôi Nhà Nhỏ siêu độ. Tôi ở trong bệnh viện hứa nguyện mùng 1, 15 ăn chay, mỗi tháng phóng sinh một lần, đồng thời điên cuồng niệm Đại Bi Chú, vì trong bệnh viện không tiện niệm Tâm Kinh, nên Ngôi Nhà Nhỏ do người nhà niệm thay, đồng thời con gái giúp niệm Lễ Phật Đại Sám Hối Văn.

Ngày 10 tháng 3, ngày phẫu thuật, bác sĩ kiểm tra theo quy định phát hiện tim có vấn đề, rủi ro gây mê rất lớn. Trong suốt quá trình phẫu thuật, thông gia và con gái liên tục niệm Đại Bi Chú cầu phẫu thuật thuận lợi, hơn ba tiếng sau, tôi cuối cùng cũng bình an hoàn thành ca mổ. Tuy nhiên, do giai đoạn đầu không ý thức được là ung thư ống mật, tụng Kinh ít, khối ung thư đã có quy mô khá lớn, không chỉ ống mật xuất hiện tắc nghẽn nhiều đoạn, mà trên gan cũng thấy ổ di căn, bác sĩ chỉ tiến hành phẫu thuật tạm thời, chưa cắt bỏ triệt để vùng bị bệnh.

2.3. Xuất viện tiềm tâm tu Phật, trong gian nan hiển lộ kỳ tích

Ung thư ống mật vùng rốn gan là vua của các loại ung thư, hơn nữa đã xuất hiện di căn gan. Theo cách nói của bác sĩ, tuổi thọ của tôi có thể chỉ còn 3 đến 6 tháng. Trong quá trình nằm viện, thông gia và con gái kiên trì không mệt mỏi niệm Ngôi Nhà Nhỏ siêu độ cho tôi, khi xuất viện, chức năng gan lại gần như bình thường, sau phẫu thuật tạm thời mà chức năng gan lại có thể phục hồi, có thể nói là một kỳ tích không nhỏ.

Ngày 10 tháng 6 sau khi xuất viện, tôi tiềm tâm tu Phật, mỗi ngày niệm Đại Bi Chú 3 biến, Tâm Kinh 7 biến, Lễ Phật Đại Sám Hối Văn 7 biến, đồng thời mỗi ngày 108 biến Đại Bi Chú, Ngôi Nhà Nhỏ cũng từ vài ngày một tờ dần dần tăng lên mỗi ngày một tờ (ngày mưa âm u không niệm). Trong quá trình này, mỗi dịp mùng 1 và ngày lễ đều đích thân đi phóng sinh, giữ nghiêm lời thề ăn chay mùng 1, 15. Tình trạng sức khỏe lại dần dần chuyển biến tốt, cân nặng từ 61kg từ từ tăng lên 79.5kg, bệnh nhân ung thư gan mật mà cân nặng có thể tăng, hơn nữa có thể tăng nhiều như vậy, lại là một kỳ tích nữa.

Mỗi lần tôi đến bệnh viện tái khám, bác sĩ luôn rất ngạc nhiên, nói sắc mặt tôi khá tốt, tôi đã sớm vượt qua thời hạn sự sống mà bác sĩ đưa ra, và từ các kiểm tra như CT cho thấy, ung thư không hề khuếch tán nhanh chóng như bác sĩ nói, kỳ tích lại xuất hiện một lần nữa.

2.4. Tâm thần hơi lơ là, lại gặp bệnh chứng nan y

Có thể do nhiều lần kiểm tra thấy ung thư được kiểm soát khá tốt, tâm lý tôi nảy sinh sự lơ là, tuy hàng ngày làm công khóa, nhưng không cầu hiểu sâu, công khóa dừng lại ở tâm lý "bảo tôi làm thì tôi làm", vẫn chưa thực sự, phát xuất từ đáy lòng đi nghiên cứu Pháp Môn Tâm Linh. Bắt đầu từ tháng 11 năm 2010, xuất hiện tình trạng chướng bụng, khó tiêu, mà tôi cũng không coi trọng hiện tượng này, đầu năm 2011 tình trạng dần nghiêm trọng, ăn uống khó khăn, cân nặng sụt giảm nhanh chóng xuống 57kg, qua kiểm tra nội soi dạ dày, phát hiện môn vị phù nề hẹp, nằm viện tiêu viêm hơn 20 ngày vẫn không thấy chuyển biến tốt, hiện chuẩn bị phẫu thuật.

Bác sĩ nói, môn vị phù nề hẹp thông thường chỉ cần tiêu viêm là có thể chữa khỏi, nhưng trường hợp của tôi khá hiếm gặp, hơn nữa phần hẹp nằm gần tá tràng, không thể đặt stent trong cơ thể bằng cách nội soi dạ dày, chỉ có thể tiến hành phẫu thuật ngoại khoa để chuyển hướng ruột. Đây lại là một căn bệnh hiếm gặp, tôi nghĩ có lẽ là do tâm thần lễ Phật của tôi lơ là gây ra.

2.5. Cảm ân Đài trưởng Lư chỉ đường, lập chí truyền bá rộng rãi pháp môn

Bác sĩ nói, do chỗ hẹp khá đặc biệt, cho dù phẫu thuật cũng rất khó đảm bảo tỷ lệ thành công, tôi biết, một khi tình trạng không thể ăn uống kéo dài, sức đề kháng sẽ giảm sút nghiêm trọng, ung thư sẽ càng khó kiểm soát. Ngay lúc cả nhà gần như tuyệt vọng, dưới sự giúp đỡ của các vị đại đức Đài Đông Phương, tôi vô cùng may mắn liên lạc được với Đại Từ Đại Bi Đài trưởng Lư. Đài trưởng Lư đã xem Đồ Đằng cho tôi. Trên Đồ Đằng hiển thị một chiếc tàu ngầm, người trên đó đều đã chết, điều này khiến tôi nhớ đến lúc đi lính quả thực từng tham quan một chiếc tàu ngầm gặp nạn và đến nay ký ức vẫn còn mới mẻ; Đài trưởng Lư còn bảo tôi có một linh tính nhất quyết đòi đưa tôi đi, điều này khiến tôi nhớ đến người vợ qua đời vì tai nạn xe hơi, khi tôi bị bệnh bà ấy qua đời chưa đầy ba năm; ngoài ra, Đài trưởng Lư còn đặc biệt nói với tôi, Bồ Tát đã cứu tôi rồi, điều này lại khiến tôi nhớ đến sau phẫu thuật quả thực sức khỏe có chuyển biến tốt, cân nặng dần hồi phục. Tôi hoàn toàn tin phục, bởi vì bất luận là trải nghiệm cá nhân hay tình hình hồi phục sau khi mắc bệnh, tôi chưa từng nhắc với Đài trưởng Lư nửa lời, qua đó đủ chứng minh sự huyền diệu của Pháp Môn Tâm Linh. Đài trưởng Lư đồng thời chỉ ra sự thiếu sót trong công khóa của tôi: phóng sinh chưa đủ, tâm lễ Phật chưa đủ thành kính, chưa truyền bá rộng rãi pháp môn đã làm lợi ích cho mình, từ đó khiến tôi càng kiên định niềm tin lễ Phật và hiểu rõ phương hướng nỗ lực sau này.

Từ khi mắc bệnh đến nay, Ngôi Nhà Nhỏ do tự tôi niệm đã hơn 130 tờ, Ngôi Nhà Nhỏ do người nhà giúp niệm càng vượt xa 700 tờ, nhưng tôi biết rõ, do hồi trẻ đi hải quân ăn quá nhiều hải sản sống, cộng thêm trên Đồ Đằng hiển thị nghiệp của tôi còn rất lớn, những gì tôi làm còn chưa đủ.

Hôm nay, tôi viết ra từng bước trải nghiệm kể từ khi biết mình mắc ung thư, hy vọng có thể đem lại chút gợi mở cho nhiều người hơn. Có thể nói hơn một năm qua, là Pháp Môn Tâm Linh đã cùng tôi đi qua từng cửa ải khó khăn, khiến tôi có thể trở thành một "kỳ tích" không nhỏ trong y học. Cảm tạ sự chỉ dẫn của Đài trưởng Lư, cảm ân Đài trưởng Lư đã mang đến cho tôi pháp môn huyền diệu như vậy, khiến tôi không còn sợ hãi lo âu, tràn đầy hy vọng vào tương lai. Khẩn cầu Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát phù hộ cho con có thể vượt qua khó khăn lần nữa, cho con có thêm thời gian, dùng trải nghiệm chân thực của chính mình, giúp Đài trưởng hoằng pháp cứu người!

Đồng tu họ Trần tại Thanh Đảo

Ngày 1 tháng 4 năm 2011


3. Là Pháp Môn Tâm Linh đã cứu tôi từ cõi chết trở về

Kính thưa Đài trưởng Lư, các vị khách quý, các vị đồng tu, xin chào!

Trước tiên cảm tạ Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát và sự cứu chữa của Đài trưởng Lư, khiến tôi hôm nay có thể đứng đây báo cáo. Trong gia tộc của tôi, rất nhiều người chết vì ung thư, tôi di truyền gen gây ung thư. Tháng 3 năm 2009, tôi 79 tuổi. Đài trưởng Lư nhìn ra tôi bị ung thư gan, và giải thích bệnh có hai loại, một là bệnh sinh lý, một là bệnh linh tính. Ung thư khối u ác tính đều là bệnh linh tính, khiến tôi hiểu ra khi tôi về già chức năng miễn dịch suy giảm, nghiệp chướng tiền kiếp và kiếp này sẽ chuyển hóa thành linh tính, khiến gen gây ung thư gan của tôi ác hóa, biến tế bào gan tốt thành tế bào ung thư gan xấu.

Ngày 6 tháng 3, kiểm tra siêu âm có 3 nốt ung thư gan. Đài trưởng Lư nói có thể giúp tôi, mà bản thân tôi cũng phải niệm Kinh. Nhưng tôi nghĩ, tôi niệm Kinh và uống thuốc có thể giải quyết vấn đề, không làm phiền Đài trưởng Lư. Thực tế là quá tự tin, không hiểu tầm quan trọng của sự giúp đỡ.

Ngày 6 tháng 4, kiểm tra siêu âm, thể tích nốt ung thư ổn định.

Ngày 21 tháng 5, kiểm tra cộng hưởng từ (MRI), chỉ còn một nốt ung thư thể tích nhỏ đi, những cái khác nghi là u nang.

Tôi liền lạc quan mù quáng. Đài trưởng Lư nhìn ra tôi sẽ không niệm Kinh nghiêm túc, chỉ thị sau này sẽ tái phát.

Sau kiểm tra siêu âm vào tháng 9, tháng 11, một bác sĩ đưa ra quyết định có thể một năm sau kiểm tra lại.

Ngày 24 tháng 5 năm 2010, Bác sĩ Đường ở phòng khám Khang Bình cho rằng làm sao có thể để một năm sau mới kiểm tra, yêu cầu kiểm tra siêu âm ngay lập tức. Phát hiện ba nốt ung thư gan. Cái lớn nhất là 2.22.92.4CM. Sự lơ là của tôi, không ngoài dự đoán của Đài trưởng Lư, chức năng gan suy giảm cực độ. Đầu tháng 6 năm 2010 xuất hiện vàng da. Ngày 10 tháng 6, sau khi Bác sĩ chuyên khoa Thiệu ở phòng khám Khang Bình kiểm tra, ngày 11 viết giấy giới thiệu yêu cầu tôi lập tức đến Bệnh viện St George nhập viện điều trị. Sự biến đổi ung thư thực tế này buộc tôi phải cầu cứu Đài trưởng Lư.

Thế là có 2 chuyện lạ:

  1. Ngày 12 tháng 6, Đài trưởng Lư xem Đồ Đằng nói: "Ông vẫn đang làm Business (kinh doanh), muốn kiếm tiền?"
  2. Tôi đáp: "Đúng vậy." Đó là chuyện mới xảy ra mà bà nhà tôi cũng không biết. Ngày 7 tháng 5, một người phụ nữ không biết tiếng Nga muốn triển khai BUSINESS bán hàng đa cấp qua mạng sang Nga. Vậy mà bị Đài trưởng Lư nhìn ra.
  3. Đài trưởng Lư nói: Bồ Tát cái gì cũng nhìn thấy. Ông không giấu được Bồ Tát đâu. Ông lớn tuổi thế này rồi, đừng nghĩ chuyện kiếm tiền nữa, hãy an tâm dưỡng lão, tận dụng tài lực có thể để phóng sinh, tiêu tai diên thọ.
  4. Về việc nhập viện, tôi nói tinh thần và cuộc sống của bà nhà tôi sẽ xảy ra vấn đề. Đài trưởng Lư trầm ngâm giây lát nói vậy thì hoãn lại nửa tháng. Từ đài phát thanh về nhà gọi điện đến phòng khám Khang Bình hẹn Bác sĩ Thiệu ngày 17 tháng 6. Câu trả lời là Bác sĩ Thiệu mỗi hai tuần đến Khang Bình làm việc một lần, chỉ có thể hẹn ngày 24 tháng 6. Vừa đúng như lời Đài trưởng Lư nói hoãn lại 2 tuần.

Thời gian này tôi niệm Kinh nghiêm túc rồi. Bởi vì Đài trưởng Lư nói, ông phải hứa đại nguyện (tôi nói niệm Kinh, ăn chay, phóng sinh). Đại nguyện chính là phải đem trải nghiệm bệnh tình phục hồi của mình nói cho nhiều người biết hơn. Cho nên tôi niệm Kinh nghiêm túc, mỗi ngày 7 biến Lễ Phật Đại Sám Hối Văn, 49 biến Đại Bi Chú, 7 biến Tâm Kinh, 21 biến Tiêu Tai Cát Tường Thần Chú, đồng thời ăn chay, phóng sinh. Quả thực dưới sự giúp đỡ của Quán Thế Âm Bồ Tát, chức năng gan dần phục hồi, khí vàng nhanh chóng tan đi. Tế bào ung thư tăng sinh cực nhanh dần chuyển thành tế bào tốt. Đây là điều thuốc men tuyệt đối không làm được trong thời gian ngắn.

Ngày 24 tháng 6, Bác sĩ Thiệu nhìn sắc mặt tôi, cho rằng không cần nhập viện điều trị nữa.

Thật là thần kỳ a. Tối ngày 12 tháng 6, trong mơ tôi ngồi bên bàn, trên bàn có một đống giấy lớn, không nhìn rõ là ai. Dùng tay đẩy giấy đến trước mặt tôi nói, hãy viết chuyện của ông ra.

Ngày 13 tháng 6, Chủ nhật, con trai cùng tôi đi phóng sinh hai con cá lớn.

Ngày 14 tháng 6, ông chủ phòng khám của tôi gọi điện nói, tối qua mơ thấy ông khỏi bệnh đến đi làm. Nhìn kỹ ông, khí vàng trên mặt tan hết rồi.

Tối 14 tháng 6, con trai đến nhà thăm tôi, cũng nói tối qua mơ thấy bố mặt một nửa còn vàng, nửa kia đã trắng hồng. Nhìn lại mắt cũng không vàng nữa.

Ngày 15 tháng 6, rạng sáng tỉnh dậy, cảm thấy một luồng khí mát từ trên xuống dưới đi thẳng vào dạ dày, vô cùng dễ chịu.

Những điều này đều xảy ra sau khi Đài trưởng Lư nói Bồ Tát sẽ giúp tôi.

Trước đây, tôi niệm Kinh không nghiêm túc. Phát thanh và blog cũng không thường xuyên nghe và xem. Bây giờ tôi nghiêm túc rồi, mỗi ngày niệm Kinh không nghỉ. Nếu không kịp niệm, hôm sau nhất định bù đủ.

Ngoài ra, mỗi ngày một tờ Ngôi Nhà Nhỏ, tuyệt đối không nợ.

Chủ nhật ngày 20 phóng sinh xong, bên bờ sông, khi hứa nguyện với Quán Thế Âm Bồ Tát, tai trái vang lên giọng Thượng Hải "Đúng rồi". Sau đó nhiều lần mơ thấy Đài trưởng Lư: một lần là ở trong lớp học, Đài trưởng Lư bưng một bát cơm gạo lứt cho tôi nếm. Tôi bốc vài hạt nếm thử nói, rất thô; một lần là đến nhà Đài trưởng Lư, khi vào cửa Đài trưởng Lư đang dạy trẻ con đọc sách. Đài trưởng Lư đứng dậy đón tôi, tôi nói gì đó. Tiếng ồn từ tivi nhà hàng xóm phát trận bóng đá Đức - Argentina làm tôi tỉnh giấc.

Một lần khác, phòng ngủ của tôi ngập tràn mùi đàn hương, bà nhà nói, thơm quá. Quán Thế Âm Bồ Tát đến cứu tôi rồi.

Ngày 18 tháng 11, trong mơ có tiếng nói có thể đổi Tiêu Tai Cát Tường Thần Chú thành 108 biến Chuẩn Đề Thần Chú rồi. Từ ngày 19 tháng 11, công khóa của tôi đã đổi thành cái sau.

Dưới sự gia trì của Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát và Đài trưởng Lư, bệnh của tôi nhanh chóng chuyển biến tốt.

Ngày 24 tháng 5 năm 2010 siêu âm kiểm tra có 3 nốt ung thư lớn nhất 2.22.92.4CM.

Ngày 22 tháng 6 kiểm tra cộng hưởng từ chỉ còn hai nốt đều chưa đến 1CM.

Ngày 8 tháng 7 kiểm tra CT chỉ còn một nốt đường kính 1.2CM.

Ngày 10 tháng 12 kiểm tra CT chỉ có một nốt 1.0CM không chắc chắn là lành tính hay ác tính.

Ngày 11 tháng 6 năm 2010 Alpha-fetoprotein huyết thanh AFP 169 (bình thường 0-8).

Ngày 30 tháng 7 là 52.

Ngày 29 tháng 9 là 10.

Ngày 29 tháng 9 HBV-DNA (DNA virus viêm gan B) ≤2.00E+1.

Ngày 23 tháng 12 HBV-DNA (DNA virus viêm gan B) ≤2.00E+1.

Báo đưa tin ông Tư Đồ Hoa ở Hồng Kông chiến đấu với ung thư tại Bệnh viện Prince of Wales ở Shatin hơn một năm, cuối cùng qua đời vào ngày 2 tháng 1 năm 2011, hưởng thọ 79 tuổi. Không phải nguyên nhân nào khác, chỉ là tế bào ung thư tăng sinh quá nhanh, sức phá hoại quá mạnh. Bác sĩ hàng đầu và thiết bị tiên tiến nhất cũng đành bó tay. Tôi mắc bệnh năm 2009, tháng 6 năm 2010 chuyển biến, chỉ nửa năm đã hoàn toàn bình phục. Là Quán Thế Âm Bồ Tát pháp lực vô biên và Đài trưởng Lư đã chiến thắng ung thư, cứu vớt tôi. Đài trưởng Lư là thầy của tôi, là ân nhân cứu mạng của tôi.

Một ngày là thầy, mãi là ngọn đèn sáng. Ơn một giọt nước, báo đáp một dòng suối.

Tôi muốn chia sẻ trường hợp của mình với càng nhiều người càng tốt. Hôm qua (7 tháng 1) tôi viết thư cho ông Lý ở Hồng Kông, nói với ông ấy:

1. Đài trưởng Lư sẽ thăm Hồng Kông diễn thuyết và trả lời câu hỏi vào tháng 4 năm nay.

2. Đài trưởng Lư không phải bác sĩ mà hơn cả bác sĩ.

3. Đài trưởng Lư là cao nhân có thể trị bệnh đã phát và bệnh chưa phát. Đề nghị ông Lý tham gia buổi diễn thuyết. Bởi vì những người giống như ông Tư Đồ, người chịu áp lực tinh thần lớn ở Hồng Kông rất nhiều, họ hay mắc bệnh linh tính, chỉ có cầu Đài trưởng Lư mới được cứu.

Ông Lưu

16-1-2011

Hội giải đáp Hurstville

(Ông Lưu hiện tại không những bao nhiêu khối u và tế bào ung thư trước đây một cái cũng không tìm thấy nữa, mà ngay cả virus gây ung thư cũng không còn, dưới đây là báo cáo y học bệnh viện cấp cho ông Lưu, một lần nữa chứng minh Pháp Môn Tâm Linh là thù thắng).


4. Bảo vật "Ngôi Nhà Nhỏ" của Pháp Môn Tâm Linh đã chữa khỏi bệnh "tâm thần" cho con gái tôi

Kính thưa Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát!

Kính thưa Đại Từ Đại Bi Đài trưởng Lư!

Kính thưa các vị đồng tu!

Cảm tạ Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quảng Đại Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ Tát, cảm tạ Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Đài trưởng Lư Quân Hoành!

Tôi đến từ Trường Xuân, năm nay 74 tuổi. Ông nhà tôi đã qua đời cách đây vài năm, tôi và cô con gái mắc bệnh tâm thần phân liệt suốt 23 năm nương tựa vào nhau mà sống. Hôm nay tôi đưa con gái đến Hồng Kông tham gia pháp hội của Đài trưởng, tôi muốn xin mọi người tận mắt làm chứng cho tôi, sau khi tôi học pháp môn của Đài trưởng và niệm Ngôi Nhà Nhỏ, bệnh tâm thần phân liệt 23 năm của con gái tôi đã hoàn toàn khỏi hẳn. Là Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, là Đại Từ Đại Bi Đài trưởng Lư đã cứu cả gia đình tôi và con gái tôi. Tôi chân thành cảm tạ Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quảng Đại Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ Tát, cảm tạ Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Đài trưởng Lư Quân Hoành!

Con gái tôi tên Mã Tinh, vào năm 1988, khi còn hai tháng nữa là tốt nghiệp cấp hai, một hôm trên đường đi học về bị cướp chặn đường cướp cặp sách, cháu bị hoảng sợ, về nhà vừa khóc vừa làm loạn, ôm đầu nói: "Đầu bị người ta giật đi mất rồi." Đầu đau đến mức đập vào tường. Tốt nghiệp cấp hai xong không thể thi vào cấp ba. Ở nhà, cả ngày hồn xiêu phách lạc, nửa đêm canh ba chạy ra ngoài, chạy vào rừng cây tối đen như mực, cảnh sát đi tuần tra phát hiện đưa về. Bệnh tình ngày một nặng hơn. Ban ngày đối diện cửa sổ, tay luôn múa may, miệng lẩm bẩm không biết đang nói gì. Đồ đạc trong nhà nói ném là ném, nói đập là đập, buổi tối thức trắng đêm không ngủ.

Tôi dẫn cháu đến Bệnh viện Đại học Y khoa số 1 Trường Xuân khám bệnh, kết quả chẩn đoán là tâm thần phân liệt, lại nói là bệnh Hysteria (bệnh cuồng loạn). Thế là tôi bắt đầu tìm thần y, tìm thầy thuốc Đông y, tìm thầy thuốc Tây y, điều trị một thời gian nhưng chẳng có hiệu quả gì.

Có người khuyên chúng tôi lên chùa quy y cửa Phật. Năm 1992, tại một ngôi chùa ở Trường Xuân, chúng tôi làm lễ Tam quy y. Lạy Phật, niệm Phật, cầu xin Phật Bồ Tát phù hộ. Cứ đến mùng 1, 15 âm lịch tôi lại dẫn cháu lên chùa, tham gia pháp hội, viết sớ siêu độ, lập bài vị, cúng dường vong linh.

Tháng 6 năm 2002, ông nhà tôi bệnh nặng, tôi vừa chăm sóc ông ấy, vừa chăm sóc Mã Tinh, có một Phật hữu thấy tôi một mình quá khó khăn, lo không xuể, bèn giới thiệu chúng tôi đến một viện an dưỡng ở huyện Huy Nam. Tháng 10 năm 2002, cha của Mã Tinh qua đời. Các cư sĩ, lãnh đạo ở đó rất quan tâm và chăm sóc mẹ con tôi, giúp tôi trông nom con gái, sợ cháu chạy ra ngoài, họ dùng dây trói tay chân cháu lại, thay phiên nhau trông nom ngày đêm. Tôi ở đó suốt 6 năm trời, không dám về nhà, một mình tôi không chăm sóc nổi cháu, một bước cũng không dám rời. Tết năm 2007, tôi muốn dẫn con gái về nhà ở Trường Xuân ăn tết. 26 tháng Chạp về đến nhà, 27 tháng Chạp cháu bắt đầu đập phá. Tôi thấy cái tết này ở nhà không xong rồi, 28 tháng Chạp tôi dẫn cháu đến Viện an dưỡng Quảng Thiện ở Trường Xuân ăn tết. Sau tết, một đoàn tổ chức từ Cáp Nhĩ Tân đến Viện an dưỡng Quảng Thiện làm đại pháp hội Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm, tôi và mọi người đều bận rộn viết sớ, vừa buông tay ra, cháu lại bỏ đi, cháu đi đến khu vực gần xưởng ô tô, được em gái của Tổng giám đốc Ninh viện an dưỡng Quảng Thiện nhận ra, liền gọi xe đưa cháu về, nếu không thì đã đi lạc rồi.

3 giờ rưỡi chiều ngày 28 tháng 3 năm 2008, tại Viện an dưỡng Cực Lạc thị trấn Triều Dương, huyện Huy Nam, vừa buông tay ra cháu lại bỏ đi, đi hơn 100 dặm, đến ngày thứ 5 mới tìm thấy.

Tháng 7 năm 2008, Mã Tinh nói gì cũng đòi về nhà, không ăn cơm canh, tuyệt thực. Nói: "Về nhà mẹ khám bệnh cho con." Ngày 30 tháng 8, chúng tôi trở về nhà ở Trường Xuân.

Mùng 1 tháng 6 âm lịch năm 2010, tôi dẫn con đến đạo tràng Dương Gia tham dự pháp hội Tam quy y siêu độ cho linh tính. Sau khi pháp hội kết thúc, một cư sĩ ở Cát Lâm hỏi trụ trì đạo tràng: "Chỗ thầy còn Ngôi Nhà Nhỏ không?" Trụ trì nói: "Để tôi tìm xem", rồi tìm được hai tờ Ngôi Nhà Nhỏ, tôi lần đầu tiên nhìn thấy Ngôi Nhà Nhỏ như vậy. Tôi từ đạo tràng đi ra đến Thế giới Hòa Bình để sao đĩa, thấy một người phụ nữ cũng đang sao đĩa ở đó. Tôi thầm nghĩ người phụ nữ này đẹp quá, chắc chắn kiếp trước đã cúng hoa trước Phật, cô ấy tình cờ đang nói chuyện về Ngôi Nhà Nhỏ, tôi liền hỏi cô ấy niệm "Ngôi Nhà Nhỏ" là như thế nào? Người phụ nữ này nói: "Tôi thấy trên người con gái bác là bệnh linh tính điển hình," lúc đó tôi không hiểu, hỏi cô ấy bệnh linh tính là gì, cô ấy nói: "Chính là ma quỷ nhập vào đó!" Cô ấy nói: "Chỉ có niệm 'Ngôi Nhà Nhỏ' là cách duy nhất chữa khỏi bệnh cho con gái bác." Tôi nghe cô ấy nói chắc chắn như vậy, bèn nói: "Ngôi Nhà Nhỏ tôi có thể niệm a." Cô ấy nói: "Nếu bác muốn niệm, muốn con gái bác khỏi bệnh, tôi một hai câu nói không rõ, tôi cho bác một số điện thoại, nếu bác đến tìm tôi, con gái bác thực sự được cứu rồi." Vừa chia tay người đó, Mã Tinh trên đường lại dở chứng với tôi, khó khăn lắm mới đưa được cháu về nhà. Về nhà tôi nghĩ, người này tôi không quen không biết, cô ấy nói chắc chắn như vậy tôi nhất định phải thử xem. Hôm sau tôi đến nhà vị cư sĩ đó, cô ấy giới thiệu chi tiết cho tôi về Pháp Môn Tâm Linh, và dạy tôi cách niệm Ngôi Nhà Nhỏ, khi về tôi mang theo sách, đĩa, Ngôi Nhà Nhỏ. Hôm sau tôi điền vào 108 tờ Ngôi Nhà Nhỏ, bắt đầu niệm "Ngôi Nhà Nhỏ" cho oan gia trái chủ của Mã Tinh. Niệm được nửa tháng hiệu quả không rõ rệt lắm, Mã Tinh vẫn nổi nóng, đập phá đồ đạc, tôi gọi điện cho cư sĩ kia, cô ấy bảo tôi "phải gọi hồn cho Mã Tinh, bảo tôi cầu Bồ Tát giao tiếp với linh tính trên người Mã Tinh khuyên họ rời khỏi cơ thể Mã Tinh đi đến nơi tốt đẹp." Tôi làm theo lời cô ấy, lập tức hiệu quả khác hẳn, mỗi ngày một chuyển biến. Mấy hôm trước khi quen biết cư sĩ kia, tôi dẫn Mã Tinh đến nhà một cư sĩ xem bệnh ngoại khoa, lúc đó linh tính trên người Mã Tinh xuống nhập vào người đó, nói bà ta là cô của Mã Tinh tên Mã Tiểu Thúy chết sớm (nghe người nhà nói Mã Tiểu Thúy chết từ khi còn rất nhỏ), lúc đó tôi không hiểu, cũng không nói với cư sĩ kia, sau này cô ấy biết được, bảo tôi lập tức điền 21 tờ Ngôi Nhà Nhỏ, "Kính tặng cô của Mã Tinh là Mã Tiểu Thúy." Cô ấy nói: "Viết tên linh tính trả nợ một đổi một hiệu quả tốt hơn." Lần này sau khi tôi hóa (đốt) xong Ngôi Nhà Nhỏ, hiệu quả trên người Mã Tinh đặc biệt rõ rệt. Uống 3 viên thuốc giảm đi 1 viên, ban ngày không cần uống thuốc nữa, buổi tối trước khi ngủ uống 2 viên. Người cũng vui vẻ, tâm trạng tốt hơn nhiều, mỗi ngày còn cười ha hả. Tôi mỗi ngày làm công khóa sáng không gián đoạn, Đại Bi Chú 7 biến, Lễ Phật Đại Sám Hối Văn 7 biến, Tâm Kinh 7 biến, Chuẩn Đề Thần Chú 21 biến, Giải Kết Chú 21 biến, Vãng Sinh Tịnh Độ Thần Chú 21 biến, đây là công khóa hàng ngày của tôi; sau đó tôi tiếp tục niệm cho con gái Lễ Phật Đại Sám Hối Văn 7 biến, Tâm Kinh 7 biến, Đại Bi Chú 7 biến, Giải Kết Chú 21 biến, thời gian sau bữa ăn niệm Ngôi Nhà Nhỏ.

Từ tháng 6 năm 2010 đến nay, tôi đã niệm tổng cộng 433 tờ Ngôi Nhà Nhỏ cho Mã Tinh, Ngôi Nhà Nhỏ niệm đến đâu con vui vẻ đến đó, cũng không nổi nóng nữa, ra phố biết nắm tay tôi, sợ tôi ngã, còn có thể giúp tôi xách đồ. Biết tiêu tiền, biết mua đồ, biết xới cơm cho tôi, nhường chỗ cho tôi, đây là điều chưa từng có trong suốt 23 năm qua, tôi nhìn con ngày một tốt lên, khiến tôi càng tăng thêm niềm tin niệm Ngôi Nhà Nhỏ. Ngôi Nhà Nhỏ thật linh nghiệm, Pháp Môn Tâm Linh quá tốt, tôi muốn niệm mãi không ngừng, niệm đến khi tim tôi ngừng đập không thể niệm được nữa mới thôi. Từ đó, tôi chấm dứt những ngày tháng 23 năm có nhà không thể về, sống cuộc sống của một người bình thường. Là Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát đã cứu con gái tôi, là Đại Từ Đại Bi Đài trưởng Lư Quân Hoành đã cứu cả nhà tôi. Năm 2011 tôi sẽ tiếp tục phóng sinh, và hứa nguyện vào thời điểm thích hợp sẽ trở lại Viện an dưỡng Cực Lạc thị trấn Triều Dương, huyện Huy Nam, bởi vì họ hiểu rõ Mã Tinh trước đây, tôi sẽ cho họ thấy Mã Tinh bây giờ, tôi giới thiệu pháp môn của Đài trưởng cho họ, để cứu độ những bệnh nhi ở đó (ở đó có hơn mười bệnh nhân tâm thần), giúp họ sớm ngày lìa khổ được vui, sớm ngày bình phục. Tôi đi đến đâu, sẽ mang Pháp Môn Tâm Linh đến đó, để cứu độ nhiều chúng sinh hữu duyên hơn nữa.

Tết năm 2011 là năm tôi vui vẻ nhất trong hơn hai mươi năm qua. Đêm 30 Tết con dâu đến đón chúng tôi về nhà con trai ăn tết đoàn viên, con gái tôi cũng rất vui, cháu nói, xem chị dâu con biết vun vén cuộc sống chưa kìa, nhà cửa dọn dẹp tốt biết bao, cái gì cũng không thiếu, nhìn thấy con gái giống như người bình thường, tảng đá lớn treo trong lòng tôi suốt 23 năm cuối cùng cũng rơi xuống đất, lòng tôi cuối cùng cũng yên tâm rồi. Bây giờ tôi không đi đâu nữa, ở nhà tu Pháp Môn Tâm Linh, niệm Kinh, niệm Ngôi Nhà Nhỏ. Trên đây là trải nghiệm bản thân của tôi, một bệnh nhân tâm thần 23 năm đã khỏi bệnh, đây chính là quá trình tôi học tập Pháp Môn Tâm Linh, niệm Ngôi Nhà Nhỏ, nói ra để chia sẻ với mọi người, hy vọng có thể khơi dậy niềm tin cứu độ con cái của các bậc phụ huynh có con bị bệnh tâm thần. Hãy kiên định niềm tin, đừng bỏ cuộc, đừng lo âu, đừng hoang mang, cũng đừng bất lực, bởi vì chúng ta có Đài trưởng Lư cứu mạng a! Bạn chỉ cần đi theo Đài trưởng Lư tu hành cho tốt, bất luận chuyện gì Quán Thế Âm Bồ Tát, Đài trưởng Lư Quân Hoành đều có thể cứu chúng ta. Tôi cảm tạ Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát, cảm tạ Đại Từ Đại Bi Đài trưởng Lư Quân Hoành, cũng cảm tạ Cư sĩ Hạ đã đưa tôi vào pháp môn này. Đồng thời cũng cảm tạ những đồng tu và người tốt bụng đã giúp đỡ tôi trong hơn hai mươi năm qua.

Quán Âm Bồ Tát diệu phương hảo, (Phương thuốc diệu kỳ của Bồ Tát Quán Âm thật tốt,)

Thiên khổ vạn khổ đô giải liễu. (Ngàn vạn nỗi khổ đều được giải trừ.)

Ngôi Nhà Nhỏ yếu niệm đắc hảo, (Ngôi Nhà Nhỏ phải niệm cho tốt,)

Linh tính siêu độ bệnh tựu hảo. (Linh tính được siêu độ bệnh sẽ khỏi.)

Ngã đích oan lộ tẩu bất thiếu, (Tôi đã đi đường vòng không ít,)

Tựu nhân diệu phương một trảo đáo. (Chỉ vì chưa tìm được phương thuốc diệu kỳ.)

Bồ Tát diệu phương đối chứng hảo, (Phương thuốc diệu kỳ của Bồ Tát chữa đúng bệnh,)

Bất dụng bào miếu khứ trảo dược. (Không cần chạy đôn chạy đáo tìm thuốc.)

Niệm Ngôi Nhà Nhỏ thị lương dược, (Niệm Ngôi Nhà Nhỏ là thuốc hay,)

Chân tâm tín tâm bất năng thiếu. (Chân tâm và niềm tin không thể thiếu.)

Nghiệp chướng tiêu trừ tâm hoan hỷ, (Nghiệp chướng tiêu trừ lòng hoan hỷ,)

Bồ Tát bảo hựu Tây Phương khứ. (Bồ Tát phù hộ về Tây Phương.)

Hội giải đáp Hồng Kông ngày 9 tháng 4 năm 2011


5. Kết hôn bảy năm niệm Kinh bốn tháng sau mang thai

Chào Đài trưởng Lư và các sư huynh Ban Thư ký Đài Đông Phương!

Tôi chính là cư dân mạng SUSAN mà Đài trưởng Lư đã mấy lần nhắc đến trong chương trình phát thanh: kết hôn bảy năm, niệm Kinh bốn tháng mang thai. Trong buổi giải đáp ngày 16 tháng 1 năm 2011, khi Đài trưởng Lư tiếp khí với Quán Thế Âm Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát đã nói với Đài trưởng hai chữ: Phát tâm. Trong khoảng thời gian sau khi tôi niệm Kinh có nhiều cảm ứng như vậy, cuộc sống của tôi và gia đình ngày càng tốt đẹp, tuyệt đối có liên quan đến việc phát tâm tu tâm niệm Kinh cho tốt.

Tôi tiếp xúc với Pháp Môn Tâm Linh vào cuối tháng 7 năm 2010. Khi đó cô tôi bệnh nguy kịch, tôi đăng tin cầu cứu trong một nhóm Đông y, cư dân mạng tên "Tông Tông Lưu Thủy" đã giới thiệu Pháp Môn Tâm Linh cho tôi. Vì mười mấy tuổi tôi đã theo mẹ quy y, trong nhà có thờ Phật, nên lập tức nảy sinh hứng thú với pháp môn này. Trước đó tôi không niệm Kinh, cũng không biết niệm, nhưng sau khi xem blog của Đài trưởng Lư, tôi dùng ba ngày tìm trên mạng và đọc thuộc bốn loại Kinh văn trên Ngôi Nhà Nhỏ, mua giấy vàng, đến ngày thứ ba thì bắt đầu niệm Ngôi Nhà Nhỏ.

Ngày 1 tháng 8 năm 2010, tôi niệm tờ Ngôi Nhà Nhỏ đầu tiên cho oan gia trái chủ của cô tôi. Kể từ ngày đó, về cơ bản ngoài ăn uống, ngủ nghỉ, vệ sinh cá nhân, tôi đều niệm Kinh. Cũng chính từ ngày đầu tiên niệm Kinh, tôi không còn lo âu bất an, không còn bi thương sầu não, tôi tràn đầy niềm tin vào cuộc sống.

Sau khi niệm xong ba tờ Ngôi Nhà Nhỏ, gọi điện về nhà, mẹ nói bệnh tình của cô chuyển biến tốt, đã có thể xuống giường. Buổi tối tôi gọi điện cho cô, nói với cô tôi giúp cô niệm Kinh cầu nguyện, xin cô thề sau này không ăn hải sản sống, cô liền đồng ý ngay.

Ngày 12 tháng 8, tôi về quê, bỏ hành lý xuống là đến bệnh viện cô nằm, trạng thái của cô không tốt lắm, tóc rụng rất nhiều, hai bên má vì xạ trị nên giống như bị cháy nắng, ăn gì nôn nấy, một ngày nôn rất nhiều lần. Mỗi ngày đều phải tiêm mấy mũi Mannitol, nếu không đầu đau như búa bổ. Tôi nói với cô: Đau đầu thì niệm Đại Bi Chú đi, thực sự niệm không nổi thì nghe máy MP3 hát Đại Bi Chú, ở nơi như bệnh viện, niệm Đại Bi Chú cũng có thể bảo vệ bản thân. Thế là cô bắt đầu nghe Đại Bi Chú, thỉnh thoảng cũng hát theo. Từ ngày tôi về nhà, bệnh tình của cô mỗi ngày một tốt lên, vốn dĩ bác sĩ điều trị quyết định cho cô làm 30 lần xạ trị, nhưng làm đến lần thứ mười mấy, cơn đau đầu đã giảm rõ rệt, làm đến lần thứ 20, đầu không còn đau nữa, khi làm xong 25 lần xạ trị, chụp cộng hưởng từ não tăng cường một lần, khối u trong não đã biến mất. Bác sĩ điều trị quyết định 5 liệu trình còn lại không cần làm nữa, cho cô xuất viện về nhà điều dưỡng.

Cô vừa thoát khỏi nguy hiểm, nhà ngoại lại gọi điện đến, nói ông ngoại bệnh rất nặng, tôi và mẹ vội vàng về nhà ngoại. Ông ngoại đã nằm viện rồi, triệu chứng là sốt cao, đau bụng, tôi xem phim chụp CT vùng bụng của ông, có mấy đốm trắng nhỏ, bác sĩ nói là bọng nước, tôi nghi ngờ chính là nghiệp chướng mà Đài trưởng nói, tôi liền lập tức bắt đầu giúp ông niệm Ngôi Nhà Nhỏ, không ngờ vừa niệm được một tờ, có thể là nghiệp chướng bị kích hoạt, ông ngoại vốn đã xuất viện lại sốt cao nhập viện, tôi vội vàng giúp ông niệm thêm hai tờ Ngôi Nhà Nhỏ, rất nhanh cơn sốt đã lui. Mẹ tôi đã gần sáu mươi tuổi thấy sự thần kỳ của Ngôi Nhà Nhỏ, cũng bắt đầu nỗ lực học Đại Bi Chú, muốn nhanh chóng giúp ông ngoại niệm Ngôi Nhà Nhỏ.

Lại nói về cô tôi, sau khi xuất viện, bà không ở nhà niệm Kinh đàng hoàng. Tôi khuyên bà mấy lần, nhưng có thể lúc đó cơ thể bà rất yếu, cộng thêm những người xung quanh đều không ủng hộ bà niệm Kinh, chỉ dựa vào sức của một mình bà thì không có cách nào. Tôi thử khuyên nhủ người khác, người khác cũng không để ý đến tôi, thế là tôi một mình giúp bà niệm Ngôi Nhà Nhỏ.

Các sư huynh đã niệm qua Đại Bi Chú và Ngôi Nhà Nhỏ đều có thể cảm nhận được hiệu quả rất rõ rệt, thậm chí nói là vô cùng thần kỳ. Thực sự không niệm không biết. Khi tôi giúp cô mát-xa cánh tay bị sưng phù do tác dụng phụ của xạ trị, đều thầm niệm Đại Bi Chú trong lòng, cánh tay đó mắt thường cũng thấy tiêu sưng rất nhanh, cô tôi đều rất lạ, cùng là mát-xa, tại sao tôi ấn thì tiêu sưng, người khác ấn lại càng đau.

Một hôm, tôi nói chuyện với dượng về bệnh tình của cô, nói có thể linh tính trên người cô cần tiền, chúng ta hay là đốt thêm chút tiền cho họ. Dượng hôm đó liền mua một đống tiền giấy đốt. Tối hôm đó, tôi và em gái ngủ ở nhà cô, hơn một giờ đêm, tôi đột nhiên mơ thấy một người đứng trước mặt tôi, nói chuyện với một người sau lưng tôi: "Cho mày bao nhiêu tiền a?" Người kia rất tức giận nói: "#%*!! Mới cho tao ba mươi đồng!" Sau đó tôi hỏi dượng tổng cộng đốt bao nhiêu tiền giấy cho oan gia trái chủ, dượng nói mua ba mươi đồng tiền giấy. Tôi đột nhiên hiểu ra, số tiền đốt giấy thực sự quá ít. Muốn họ có thể đi đến chỗ tốt (thiện xứ), bắt buộc phải niệm Ngôi Nhà Nhỏ, chỉ có Ngôi Nhà Nhỏ mới là tiền mệnh giá lớn.

Cuối tháng 9, bạn bè giới thiệu tôi đi làm ở nơi khác, mới vào làm, thời gian giúp cô niệm Ngôi Nhà Nhỏ cũng ít đi, sinh mệnh của cô cũng đi đến hồi kết, sau đó bệnh nặng, qua đời vào cuối tháng 10. Trước khi cô qua đời, tôi đã gửi cho oan gia trái chủ của cô 13 tờ Ngôi Nhà Nhỏ, phóng sinh hai lần. Bây giờ nghĩ lại, tôi làm quá ít. Bản thân công đức không đủ, cho nên khi giúp cô niệm Ngôi Nhà Nhỏ, luôn có oan gia trái chủ đòi kinh tôi, tôi còn phải niệm Ngôi Nhà Nhỏ cho oan gia trái chủ của mình. Người khác trong nhà sinh bệnh, tôi lại phải giúp niệm Ngôi Nhà Nhỏ, cả ngày cảm thấy không đủ thời gian.

Sau khi cô qua đời, mẹ và em gái tôi dưới sự động viên của tôi cũng bắt đầu niệm Ngôi Nhà Nhỏ, ba người chúng tôi cùng niệm Ngôi Nhà Nhỏ giúp cô siêu độ, trong 49 ngày sau khi cô mất, ba người chúng tôi tổng cộng giúp cô niệm 51 tờ Ngôi Nhà Nhỏ. Vì đều là người mới học, đều không có công lực gì, thường thường niệm cho cô vài tờ Ngôi Nhà Nhỏ, thì có oan gia trái chủ đòi kinh chúng tôi, chúng tôi còn phải siêu độ cho oan gia trái chủ của mình trước.

May mà gặp được Đài trưởng Lư, chúng tôi có pháp bảo siêu độ người thân, chúng tôi cũng có pháp bảo giải quyết vấn đề của chính mình.

Tôi mỗi ngày kiên trì làm công khóa, có thời gian thì đi mua cá phóng sinh, hoặc nhờ bạn bè thân thích giúp phóng sinh. Mỗi lần phóng sinh xong, hương phổ (hình dáng tàn hương) trong nhà đều hiển thị Bồ Tát có đến qua.

Trước khi tiếp xúc Pháp Môn Tâm Linh, sức khỏe tôi đặc biệt không tốt, luôn có bệnh vặt không dứt, sau đó còn mắc bệnh trầm cảm, uống thuốc vào thì như người gỗ, ngừng thuốc thì khó chịu, cảm giác bệnh có thể tái phát bất cứ lúc nào. Thuốc tây, thuốc bắc, liệu pháp vận động đều thử qua rồi, hiệu quả không lớn, mấu chốt là toàn trị ngọn không trị gốc. Cuộc sống của tôi, cũng vì bệnh tật, trở nên ngày càng tồi tệ.

Phải cảm ơn Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát! Cảm ơn Đài trưởng Lư! Cảm ơn các sư huynh Ban Thư ký Đài Đông Phương! Cảm ơn sư huynh Tông Tông Lưu Thủy! Cũng phải cảm ơn cô của tôi! Từ khi tôi phát tâm tu tâm niệm Kinh cho tốt, bệnh trầm cảm của tôi hoàn toàn khỏi hẳn, hơn nữa cũng không vì bệnh khác mà phải đi bệnh viện. Niệm Kinh hai tháng, tôi đã có được công việc khiến tôi hài lòng hiện tại, càng thần kỳ hơn là: Niệm Kinh bốn tháng, tôi vậy mà lại mang thai. Kết hôn bảy năm, tôi vẫn luôn không mang thai, tuy không giống người khác chạy khắp nơi tìm bệnh viện cầu sinh con, nhưng trong lòng cũng khá sốt ruột. Đau khổ nhất là, tôi trước kia sợ mang thai, sợ sinh con, lo lắng không thể giáo dục tốt con mình, không thể cho nó cuộc sống hài lòng. Bây giờ không có gì có thể làm tôi sợ hãi nữa, tất cả mọi việc đều có nhân quả, chúng ta gieo nhân, thì phải dùng tâm bình thường để gánh chịu quả của nó, bất kể là tốt hay xấu. Hơn nữa, chúng ta phải gieo nhiều nhân thiện, như vậy mới có thể kết nhiều quả thiện. Nghĩ đến Bồ Tát trên trời đang phù hộ chúng ta, lòng tôi vô cùng bình hòa an tường.

Điều khiến tôi vui nhất là, nửa năm qua, ông ngoại, mẹ, dì hai, mợ, em gái, bạn thân, đồng nghiệp, chồng tôi đều bắt đầu niệm Kinh rồi. Mọi người đều cảm thấy sức khỏe ngày càng tốt, tâm trạng ngày càng tốt, làm việc ngày càng thuận lợi.

Các bạn hiện còn đang do dự chưa quyết, là một Phật tử, những gì tôi nói đều chân thực không hư dối. Cuối cùng tôi chỉ muốn nói một câu: Sớm ngày phát tâm, sớm được an tường.

Cư dân mạng Susan - Ngày 27 tháng 2 năm 2011


6. Sự thay đổi của bệnh tình trước và sau khi niệm kinh

Kính gửi Đài trưởng Lư!

Cảm tạ sự từ bi của Quán Thế Âm Bồ Tát, cảm tạ sự từ bi cứu độ của Ngài, để người cha già gần 90 tuổi của con lại được tái sinh; để đại gia đình chúng con lại khôi phục sự tường hòa và yên bình ngày xưa. Con thay mặt gia đình bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Ngài!

17 ngày trước, con nhận được điện thoại của chị gái sống cùng cha, chị gái trong điện thoại không còn giọng nói tự tin ngày thường, chị run rẩy nói: Bệnh của cha có chút... ý kiến bác sĩ: con cái không ở bên cạnh có thể về thăm. Trước đó con có niệm cho cha mỗi tuần 2 tờ Ngôi Nhà Nhỏ, 49 biến "Đại Bi Chú", không biết vấn đề nằm ở đâu? May mắn gọi được điện thoại cho Đài trưởng Lư, đây cũng là Bồ Tát đang phù hộ cha con, để ông kéo dài tuổi thọ. Đài trưởng Lư nói: Cha con gặp vấn đề rồi, người thân của con đang "kéo ông đi", hơi gấp, nhưng niệm Kinh cho tốt chắc không vấn đề gì, ông vẫn còn thọ. Vì mục đích để người nhà an tâm, ngày hôm sau con vẫn vội vã về bên cha.

Cách nhau 5 tháng, gặp lại cha: ánh mắt đờ đẫn, không thể nói năng, không thể tự lo liệu, hoàn toàn biến thành một người khác. Tối hôm gặp cha, cô hộ lý nói cha con nói mớ: Các người đều không lo cho tôi nữa, tôi muốn cái màu đỏ... con biết câu này không phải xuất phát từ bản thân cha. Con biết việc cấp bách là tranh thủ thời gian niệm kinh văn Ngôi Nhà Nhỏ. Cách ba ngày, lại xảy ra tình huống, sáng sớm từ bệnh viện vừa về đến nhà, còn chưa kịp thở, nhận được điện thoại: Cha ở bệnh viện làm loạn rồi, mau về đi. Trong lúc vội vã, đốt một tờ Ngôi Nhà Nhỏ. Đến bệnh viện thấy cha ngồi trên ghế, vẻ mặt cứng đờ, trong mắt lộ ra ánh nhìn hung dữ, không còn vẻ hòa ái từ tường ngày xưa. Một tay nắm chặt ống truyền dịch, sức của con không thể di chuyển ống truyền, hộ lý giữ chặt kim tiêm, giống như một chiến trường nồng nặc mùi thuốc súng.

Ý của cha là muốn kết thúc: không muốn sống tiếp nữa. Nhìn thấy cảnh này, trong lòng có chút chua xót, con biết là lực độ Kinh văn con niệm chưa đủ, "oan gia trái chủ" - người thân của con sốt ruột rồi. Con vội vàng nói với cha: Xin đừng vội, cho con chút thời gian con sẽ tranh thủ thời gian niệm Kinh văn Ngôi Nhà Nhỏ. Ngoài ra, qua việc này cho con biết: Chúng ta phải thiện đãi linh tính, không được đùa giỡn với linh giới, giúp đỡ họ cũng là giúp đỡ chính mình. Tiếp theo, con cố gắng mỗi ngày niệm 3-4 tờ Ngôi Nhà Nhỏ, còn đảm bảo niệm 49 biến "Đại Bi Chú" cho vùng phổi của cha, còn nhờ người nhà phóng sinh diên thọ cho cha.

Chưa đến 20 ngày, giống như Đài trưởng Lư đã nói: Cha con mỗi ngày một khác, sẽ khỏe lại. Thật sự phải cảm tạ ơn cứu mạng của Bồ Tát sống Đài trưởng Lư. Từ hôm qua, cha con lại cầm tờ báo ông thích xem nhất, một ngày đọc hai lần: còn ngồi bên giường, nói chuyện đĩnh đạc, kể chuyện quá trình trưởng thành của chúng con với hộ lý v.v...; ra ngoài hoạt động cũng có thể tự đi lại. Người nhà nhìn thấy sự thay đổi của cha đều thở phào nhẹ nhõm, chỉ biết kinh ngạc trước sự thay đổi trước và sau khi cha bị bệnh. Trong lòng con hiểu rõ: Là Pháp Môn Tâm Linh: Hứa nguyện, Phóng sinh, Ngôi Nhà Nhỏ đã cứu mạng sống của cha con. Chỉ có Đài trưởng Lư Ngài mới có thể đưa chúng con ra khỏi biển khổ nhân gian. Gặp được Ngài là phúc khí của con và cha con cùng gia đình.

Ngoài ra, con còn có một cảm xúc, chúng con có Bồ Tát sống Đài trưởng Lư phù hộ và giúp đỡ, vô cùng có cảm giác an toàn. Tuy nhiên, còn rất nhiều người hoàn toàn không tìm thấy phương hướng, vẫn đang giãy giụa trong biển khổ. Mỗi lần đến bệnh viện thăm cha, bệnh nhân trong bệnh viện không chỉ là người già, hiện nay nhiều hơn là người trẻ, những chàng trai tuấn tú, cô gái xinh đẹp, thậm chí là trẻ em. Có một người trẻ nói: Không biết tôi phạm tội gì, khiến tôi mắc bệnh. Theo báo chí đưa tin: Mỗi sáng 6 giờ, cầu vượt trước cổng Bệnh viện Nhi Bắc Kinh đã xếp hàng, xe cộ cũng tắc nghẽn.

Bồ Tát sống Đài trưởng Lư Ngài một lần nữa giúp đỡ con, cứu gia đình con, con sẽ trân trọng tất cả những gì hiện tại. Vì hoằng dương pháp môn của Ngài tận tâm tận lực giúp đỡ người cần giúp. Một lần nữa cảm tạ Ngài!

Lý Lợi - Ngày 6 tháng 8 năm 2010

HẬU TỰA

+

Pháp Môn Tâm Linh có thể trừ diệt mọi khổ đau, chân thực không hư dối. Phàm là tín chúng học tập Pháp Môn Tâm Linh, đều cảm nhận được Đài trưởng Lư dùng tâm từ bi vô duyên đại từ để hoằng dương pháp môn của Quán Thế Âm Bồ Tát cứu độ chúng sinh. Pháp Môn Tâm Linh là thần y lương dược cứu độ những bệnh nhân mắc bệnh hư hóa giải oan kết, trả nợ nhiều đời nhiều kiếp của chính mình, tiêu trừ nghiệp chướng nhiều đời nhiều kiếp của chính mình, thoát khỏi biển khổ; là ngọn đèn chỉ đường đến bờ bên kia cho những người tu hành học Phật nhiều năm vẫn còn trong sương mù. Chỉ cần nghiêm túc chiếu theo sự chỉ dẫn của Đài trưởng Lư đi tu niệm kinh, phóng sinh, hứa nguyện, đều có sự thụ ích và trải nghiệm ở các mức độ khác nhau.

Tại sao lại xuất hiện sự khác biệt về mức độ thụ ích? Chúng tôi cho rằng ngoài sự khác biệt về gien cá thể của tín chúng, nguyên nhân chủ yếu là đa số mọi người chỉ chú ý học "phương pháp", mà không nắm bắt chân lý của "tu tâm"; đặc biệt là sự thanh lọc "tam độc" Tham, Sân, Si của bản thân chưa đủ, năng lượng bản thân không cao. Biện pháp giải quyết, chỉ có bỏ công phu vào việc tu tâm, phải theo sát Đài trưởng Lư cùng tiến với thời đại, học tốt Pháp Môn Tâm Linh của Đài trưởng, kiếp này sống có ý vị, tương lai ra đi không vướng bận.

Nếu muốn tìm hiểu chi tiết hơn về tình hình Pháp Môn Tâm Linh của Đài trưởng Lư, vui lòng truy cập "Địa chỉ Blog của Đài trưởng Lư Quân Hoành" http://lujunhong2or.com, tra cứu các bài viết "Bạch Thoại Phật Pháp""Huyền Nghệ Tổng Hợp""Huyền Học Vấn Đáp""Cảm Ngộ Thính Giả""Phản Hồi Cư Dân Mạng" v.v..., nghe ghi âm các chương trình "Huyền Nghệ Tổng Hợp" 3 tiếng mỗi tuần, "Huyền Nghệ Vấn Đáp" 2 tiếng mỗi tuần, "Trực Thoại Trực Thuyết" nửa tiếng mỗi tuần, "Bạch Thoại Phật Pháp" nửa tiếng mỗi tuần và các buổi giải đáp trực tiếp quy mô lớn do Đài trưởng Lư Quân Hoành chủ trì trên Đài Phát thanh Đông Phương Hoa ngữ Úc Châu.

Ở đây cũng muốn nhắc nhở những người còn có chút nghi ngờ, hoài nghi đối với Pháp Môn Tâm Linh của Đài trưởng Lư, hãy mau chóng tìm nguyên nhân từ chính mình, buông bỏ nghi ngờ, hạ quyết tâm chiếu theo khai thị của Đài trưởng Lư, tranh thủ tu tâm, thời gian thực sự không đợi người đâu!

Tháng 12 năm 2011 tại Sydney

 

Mới hơn Cũ hơn