BẠCH THOẠI PHẬT PHÁP
(Bộ 12 Quyển)
(Quyển 3)
Chủ giảng: Lư
Quân Hoành
Ghi chép, chỉnh lý và biên tập: Dương Kim Mai
Hiệu đính: Ban
Thư ký Đài Phát thanh Đông phương Hoa ngữ Úc châu
Biên tập Mỹ thuật: Ban Thư ký Đài Phát thanh Đông phương Hoa ngữ Úc châu
Kế hoạch: Ban
Thư ký Đài Phát thanh Đông phương Hoa ngữ Úc châu
Xuất bản: Trung
tâm Văn hóa Đài Phát thanh Đông phương Hoa ngữ Úc châu (2OR)
Địa chỉ: 54
Meagher St, Chippendale Sydney NSW 2008 Australia
Điện thoại: (+61-2)
9283 2758
Địa chỉ Blog của Đài trưởng Lư Quân Hoành:
Lần xuất bản: Tháng 2 năm 2012, Xuất bản lần 1, In lần 1
Số xuất bản: AORP100110
Số lượng in: 10.000
cuốn
PDF File -
Google Ebook đọc trên điện thoại
Địa chỉ Pháp Môn Tâm
Linh Việt Nam:
LỜI TỰA
Các
bài viết trong "Bạch Thoại Phật Pháp" đều được chỉnh lý dựa trên các
bản ghi âm và ghi chép văn bản sau khi Sư phụ Lư Quân Hoành của chúng tôi
thuyết giảng và khai thị cho các đệ tử tại Quan Âm Đường thuộc Đài Phát thanh
Đông phương Hoa ngữ Úc châu. Sư phụ dùng ngôn ngữ đời sống để giảng giải Phật
pháp cao thâm, vừa giải thích trên phương diện triết lý nhân sinh, vừa sử dụng
những ví dụ đơn giản dễ hiểu trong cuộc sống thường nhật, giúp chúng ta lĩnh hội
được những lý luận Phật học sâu sắc, cao thâm qua những lời Phật pháp bình dị
(bạch thoại). Sư phụ dùng trí tuệ phương tiện, thuyết pháp phương tiện, dẫn dắt
chúng đệ tử phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui, đạt đến giải thoát rốt ráo.
Sư
phụ dạy chúng tôi làm sao để học Phật, làm sao để tu tâm, làm sao để tu hành,
làm sao để tu sửa những tập khí vô minh trên thân mình, cũng như vì sao phải
trì giới thủ pháp, v.v... Mục đích là để khơi dậy Phật tính trong hàng chúng
sinh chúng ta, khai mở trí tuệ, nâng cao giác ngộ, sửa đổi những hành vi sai
lầm, thay đổi vận mệnh, để thế giới tràn ngập tình yêu thương từ bi của Quán
Thế Âm Bồ Tát.
Sư
phụ còn dạy các đệ tử cách vận dụng lý luận Phật pháp trong cuộc sống hàng ngày
để giải quyết các vấn đề gặp phải trong sinh hoạt, học tập, sức khỏe, công
việc...; cách vận dụng từ bi và trí tuệ của Phật Bồ Tát để giúp chúng ta tiêu
tai cát tường trong xã hội hiện đại, có được cuộc sống thanh tịnh và an vui.
Các
bài viết trong cuốn "Bạch Thoại Phật Pháp" này, Sư phụ đều vận dụng
trí tuệ viên dung của Bồ Tát, dùng ngôn ngữ giản dị dễ hiểu để trình bày sâu
sắc về định luật nhân quả ở thế gian. Sau khi các bài viết được đăng tải, đã
khiến hàng vạn chúng sinh hữu duyên như tỉnh cơn mê, thức tỉnh chúng sinh bước
lên đại đạo học Phật tu tâm tu hành thay đổi vận mệnh, và nhận được sự chào đón
nồng nhiệt của mọi giới nhân sĩ trên toàn thế giới. Để nhiều người học Phật
lương thiện được lợi lạc hơn nữa, nay chúng tôi chỉnh lý lại và in ấn xuất bản,
lưu thông miễn phí, quảng kết thiện duyên với chúng sinh.
Sydney, tháng 12 năm 2011
I.
BẠCH THOẠI GIẢNG GIẢI PHẬT PHÁP
1. Dùng tâm bình
đẳng, tích phước điền, gieo nhân quả
Về vấn đề ngày tận thế:
Tận thế là một đại kiếp nạn, đại kiếp nạn này nhất định sẽ đến. Khi nào đến?
Không biết. Bởi vì khí số của kiếp nạn vẫn chưa hình thành. Điều này chứng tỏ vẫn
còn rất nhiều người đang làm người tốt, làm việc tốt, làm việc thiện, đang tu
tâm, niệm Kinh và cứu người. Đã từng có nhiều dự đoán rằng ngày tận thế là năm
2000, nhưng bây giờ đã là năm 2010 rồi, ít nhất đã trì hoãn được 10 năm. Sư phụ
từng giảng cho các bạn nghe, cái lớn gọi là đại tai nạn, cái nhỏ là tiểu tai nạn.
Tiểu tai nạn đối với một người mà nói, chỉ cần họ chết tại nơi đó, hoặc họ bị
tai nạn vây khốn, thì đối với cá nhân họ đó chính là ngày tận thế. Ví dụ một
chiếc máy bay sắp rơi, đối với hành khách trong máy bay đó thì chính là ngày tận
thế. Chúng ta nhất định phải cố gắng tu tâm cho tốt, đợi khi kiếp nạn đến, hãy
để những người tốt chúng ta đều được sống sót. Những người ra đi trong kiếp nạn,
về cơ bản không thuộc về người đại thiện hoặc người có tu hành. Lấy ví dụ: Những
người chết trong trận động đất có những người là người tốt, những người này
cùng lắm là oan tử quỷ (ma chết oan), chứ không thể tính là người tốt thực sự,
người tốt tuyệt đối sẽ không chết trong kiếp nạn. Ví dụ trong trận động đất có
hơn 20 đứa trẻ lúc đó không đến trường, liền tránh được một kiếp. Máy bay gặp nạn,
vẫn có một đứa bé sống sót, điều này nói lên cái gì? Còn có người vì đột nhiên
sức khỏe không tốt không lên được máy bay, kết quả máy bay xảy ra chuyện. Người
như vậy có tính là người tốt không? Đây chính là người có phước khí. Phước lớn,
lượng lớn, công đức lớn. Sư phụ cũng không khuyên các bạn, các bạn hãy tận dụng
khả năng của mình làm cho tốt, đợi đến khi thời gian tai kiếp ập đến, mọi người
hãy tự lo lấy thân. Sư phụ không dọa các bạn, cho dù các bạn ở bên cạnh Sư phụ,
Sư phụ cũng chưa chắc cứu được các bạn. Khi tai kiếp ập đến, chỉ có thể dựa vào
công lực và công đức của chính mình. Lúc đó, Bồ Tát cứu được ai thì cứu, không
cứu được thì đành chịu, bất kể nam nữ già trẻ. Các bạn hãy nhìn xem những việc
mình đã làm, bản thân có tu hành, tu tâm hay không, tu đến trình độ nào, còn
đang cầu xin điều gì, các bạn sẽ hiểu rõ. Nếu các bạn quỳ ở đây mà còn liều mạng
cầu cho người nhà mình tốt, hoặc cầu cho mình kiếm tiền, công việc thuận lợi,
phát tài... thì cái này chính là đang tu Tiểu thừa Phật pháp nhân gian. Lát nữa
Sư phụ sẽ giảng cụ thể những vấn đề này cho các bạn, bây giờ là phần dẫn nhập.
Trước tiên Sư phụ giảng
cho các bạn "Đa dục vi khổ" (Nhiều ham muốn là khổ). Ham muốn càng
nhiều, người đó sẽ càng khổ. Hôm nay tôi muốn cái này, không đòi được; ngày mai
tôi muốn có cái kia, lại không có được. Ví dụ, ham muốn của Sư phụ là gì? Tôi
muốn cứu nhiều người hơn, tôi không cứu được, tôi sẽ rất buồn. Ham muốn của các
bạn là gì? Đơn vị công tác tốt hơn một chút, đừng bị sa thải. Thực tế khi có
cái ham muốn này, con người sẽ cảm thấy khổ. Nếu một người có thể loại bỏ ham
muốn, họ sẽ không khổ như vậy nữa. Đời người có thể gọi là "Sinh tử phiền
lao", nghĩa là sống cũng mệt mỏi, chết cũng mệt mỏi. Khi con người chết đi
rất đau đớn, rất khó chịu. Khi một người sắp chết, họ cảm thấy cả đời mình thế
là hết, rất mệt mỏi. Nhiều tiểu thuyết, phim ảnh đều có miêu tả như vậy, một
người cuối cùng nằm trên giường nói: "Tôi ở nhân gian đã rất mệt rồi, tôi
phải đi đây".
Mặt khác, "Thiểu dục
vô vi". Nghĩa là một người phải ít ham muốn đi một chút, coi bản thân mình
như không làm gì cả (vô vi), cái gì cũng không cần nữa, như vậy thân tâm sẽ tự
tại. Con người đừng để mỗi ngày đều bị những chuyện vụn vặt làm phiền não, gọi
là "Tâm vô yếm túc". Nghĩa là lòng người vĩnh viễn không biết đủ, cũng
vĩnh viễn không chán ghét sự thỏa mãn của mình. Bạn có chán ghét khi bạn có được
một món đồ nào đó không? Các bạn xem, một người làm kinh doanh, hàng về làm
không xuể, vẫn liều mạng đi làm, đợi đến khi không có hàng, thì bắt đầu ngày
ngày cầu khấn -- "Duy đắc đa cầu" (Chỉ muốn cầu được nhiều). Người cầu
nhiều việc tư lợi, sẽ làm tăng trưởng tội ác của chính mình. Khi một người muốn
cầu việc riêng, thì trong tâm linh của mình liền cầu ra tội ác, tội ác này
chính là "Tham". Một người một khi đã có tâm tham và tâm sân hận, thì
chuyện gì cũng có thể làm ra được. Mọi người phải tôn sư trọng đạo, tôn kính Sư
phụ, coi trọng pháp môn, nhất định phải tu luyện cho tốt.
Các bạn có biết công đức
của một người từ đâu mà đến không? Ví dụ: Chỉ cần đăng một bài viết trên blog của
Sư phụ, có người nhấn vào xem, người viết bài, đăng blog liền có công đức. Hai
cuốn sách "Nhất mệnh nhị vận tam phong thủy" và "Thiên Địa
Nhân" do ông Lương Tiêu viết, công đức lớn đến mức không cần phải nói. Chỉ
cần có người xem sách của ông Lương Tiêu, công đức, phúc phận của ông ấy tự động
tăng lên. Một người chỉ cần độ nhân, viết tâm đắc thể hội đăng lên, phúc phận của
người đó sẽ tự động tăng lên. Đây gọi là nhân duyên của phúc phận. Phúc phận
chính là dựa vào việc bản thân gieo trồng bình thường. Viết ra kinh nghiệm niệm
kinh cứu người của mình, cũng giống như dựng một tấm biển chỉ đường tại ngã tư
phức tạp, có thể chỉ dẫn phương hướng cho người lạc lối, như vậy liền có phước
đức. Đồng thời, người nhìn thấy, đọc được bài tâm đắc này, liền kết với bạn một
thiện duyên. Xem sách của Sư phụ, liền kết duyên với Sư phụ; xem bài thể hội
các bạn viết, liền kết duyên với các bạn.
Rất nhiều người đều muốn
có quý nhân giúp đỡ. Sư phụ giảng cho các bạn, quý nhân từ đâu mà đến? Quý nhân
có được từ trong bố thí. Khi một người đang bố thí, chính là đang gieo trồng
duyên quý nhân. Khi một người giúp đỡ người khác có thể không nghĩ đến, nhưng sẽ
có một ngày người đó cũng sẽ giúp lại bạn. Một người giúp đỡ người khác càng
nhiều, đồng thời nhận được sự giúp đỡ cũng càng nhiều. Đợi đến khi bạn nhận được
sự giúp đỡ của người khác, có phải là bạn đã gặp được quý nhân không? Quý nhân
chính là thông qua việc làm người của bản thân mà có được. Tôi từng quen một
người khi ra nước ngoài, không làm được hộ chiếu, không ngờ rằng một đứa trẻ
anh ta từng giúp đỡ, bây giờ làm việc ở phòng quản lý xuất nhập cảnh, đã giúp
anh ta, đây gọi là duyên quý nhân, nghĩ cũng không nghĩ tới. Sư phụ giảng cho
các bạn, giao tiếp với bất kỳ ai, đừng coi thường người ta, biết đâu một ngày
nào đó họ sẽ trở thành ông này bà kia. Thói hợm hĩnh là không nên, đối với ai
cũng phải tốt. Mọi người nói xem, đây có phải là Phật pháp không? Đây cũng là
Phật pháp. Đây chính là Duyên, làm sao để kết duyên quý nhân.
Tiếp theo Sư phụ giảng
cho các bạn, cúng dường Phật và cúng dường người nghèo phúc phận có giống nhau
không? Có người nói không giống, có người nói giống. Kỳ thực các bạn chưa tách
bạch sự việc này ra để nhìn. Nếu bạn là tâm Phật lời Phật, nếu bạn tu tâm tu
hành đến một cảnh giới nhất định, thì đi cúng dường Phật và cúng dường người
nghèo là như nhau. Tâm bình đẳng thể hiện ở chỗ này. Hôm nay bạn lạy Quan Thế
Âm Bồ Tát, bạn mua hoa quả, và bạn mua hoa quả cho người nghèo ăn, tâm của bạn
là bình đẳng. Học Phật tại nhân gian, tâm bình đẳng rất quan trọng. Tại sao nhiều
người gọi trẻ con là tiểu Bồ Tát? Người lớn tuổi gọi là lão Bồ Tát? Bởi vì bạn
không biết ngày nào đó họ sẽ tu thành Bồ Tát. Chẳng lẽ khi họ chưa tu thành Bồ
Tát, thì bạn có thể đối xử không tốt với họ sao? Phải dùng tư duy chân chính (chánh
tư duy) để đối đãi sự việc, hơn nữa phúc phận là vô lượng. Cúng dường Phật,
cúng dường Bồ Tát và cúng dường người tốt, phúc phận đều rất lớn.
Có một số người chỉ tu
trí tuệ mà không tu phước. Tu trí tuệ là niệm Kinh, không chịu dùng hành động để
làm. Ngày ngày niệm Kinh, không chịu ra ngoài giúp đỡ người khác, chỉ có thể tu
thành A La Hán, đây là Tiểu thừa Phật pháp. Tôi thấy rất nhiều người trong các
bạn chính là như vậy, bản thân niệm Kinh rất tốt, nhưng lại không độ người.
Thính giả gọi điện thoại hỏi vấn đề, chính là cơ hội tốt nhất để độ người làm
công đức. Nắm bắt một cơ hội, liền đạt được một phần công đức. Mọi người phải
biết gieo ruộng phước (trồng phúc điền), chính là gieo phước khí của mình vào
trong tâm điền. Nếu không biết gieo ruộng phước, sẽ không có phước khí, trong
tâm bạn sẽ rất trống rỗng. Không chịu làm việc thiện, không chịu giúp đỡ người
khác, chỉ biết niệm Kinh, cũng giống như lên núi tu hành muốn thanh tịnh, muốn
tránh xa phiền não nhân gian, không muốn tiếp xúc với phàm nhân. Cho nên duyên
của A La Hán và chúng sinh rất mỏng, không thể chỉ biết tu cho mình. Một loại
khác, chính là liều mạng cứu độ chúng sinh, bản thân không tu trí tuệ. Giống
như rất nhiều pháp môn, liều mạng làm việc thiện, không có trí tuệ, không biết
làm nhiều như vậy là vì cái gì. Như vậy cũng không được.
Có một phương pháp tu
hành vô cùng tốt, gọi là "Dĩ quả tướng nhân" (Lấy quả soi nhân),
chính là dùng quả của bạn để biết nhân của bạn, nghĩa là trước khi làm việc
này, hãy nghĩ đến kết quả trước. Ví dụ, hôm nay tôi đối tốt với các bạn, tôi có
thể biết được quả các bạn đối với tôi. Có câu nói " Bồ Tát sợ nhân, chúng
sinh sợ quả”. Bồ Tát sợ gieo nhân không tốt. Kỳ thực Bồ Tát đã sớm biết quả là
gì rồi. Còn con người thì sao, cứ làm việc trước đã, đợi ác quả đến rồi mới sợ
chết khiếp. Khi bạn tin Phật, làm bất cứ việc thiện nào, làm công đức, bạn phải
nghĩ đến quả của bạn trước, sau đó mới nghĩ xem có nên gieo cái nhân này hay
không. Đây là một phương pháp tốt. Bởi vì khi gieo nhân, bạn không biết quả sẽ
như thế nào. Đợi bạn biết quả sẽ như thế nào rồi mới đi gieo nhân thì sẽ khác.
Ví dụ bạn ngày ngày bị chồng mắng, anh ta gieo cái nhân này, sẽ có một ngày bạn
mắng lại anh ta hoặc phản kháng lại. Hãy nghĩ xem, nếu bạn ngày ngày mắng anh
ta, cứ mắng mãi, sẽ có một ngày có thể anh ta xách túi bỏ đi. Nghĩ đến việc có
thể sẽ có cái quả này, bạn cũng sẽ không mắng anh ta nữa. Sẽ không đi gieo cái
nhân này. Hôm nay khi tôi nói xấu anh ta, nhất định phải hiểu rằng đợi khi anh
ta biết được, tôi sẽ nhận quả gì, như vậy sẽ không đi nói xấu anh ta nữa.
Sư phụ từng giảng cho
các bạn sự khác biệt giữa việc thiện và công đức. Hôm nay nói cho các bạn biết,
"Kiến tánh thị công, bình đẳng thị đức" (Thấy được bản tánh là công,
bình đẳng là đức). Làm bất cứ việc gì thấy được bản tánh của mình, làm ra chính
là công đức. Dụng tâm đi làm chính là công đức. Học Phật phải bình đẳng, sự
bình đẳng này không đơn thuần là bình đẳng ở nhân gian, mà bình đẳng trong tâm
mới là quan trọng nhất. Phải dùng tâm bình đẳng để đối đãi với người khác. Nếu
hôm nay người gọi điện cho Sư phụ có giọng nói hay, Sư phụ nói nhiều một chút;
nếu là bà cụ, Sư phụ nói ít một chút, đây gọi là bất bình đẳng. Nếu là bà lão gọi
điện đến, nói năng không rõ ràng, Sư phụ cũng phải giúp đỡ người ta thật tốt. Mọi
người đối với mỗi người, đối với mỗi việc đều phải phát ra sự bình đẳng từ
trong tâm, đây chính là có đức hạnh.
2. Thực tu là cảnh
giới, nghiệp lực là tăng thượng duyên
Sư phụ tiếp tục giảng cho mọi người, hãy ghi nhớ:
Theo đuổi Phật tánh, nhìn thấy Phật tánh, chứng kiến Phật tánh. Phật tánh chính
là phải nhìn thấy bản tánh của Phật, theo đuổi được rồi mới có thể nhìn thấy,
sau đó chứng kiến Phật tánh. Lấy một ví dụ không thích hợp lắm: Theo đuổi bạn
trai bạn gái cũng như vậy. Trước tiên nghe nói cô gái này lương tâm rất tốt, liền
gọi điện hẹn cô ấy ra, chẳng phải là theo đuổi sao? Đợi khi gặp rồi thấy thật sự
rất lương thiện. Đợi đến khi tốt với cô ấy, nhận được sự giúp đỡ của cô ấy, vui
vẻ rồi, chính là chứng kiến (thấy và kiểm chứng).
Tiếp theo giảng cho mọi
người về có công đức và không có công đức. Rất nhiều người thích nói, bạn làm
việc này công đức vô lượng. Sư phụ đã giảng cho các bạn, thế nào gọi là có công
đức. Bạn nói bạn có công đức, bạn chính là không có công đức. Bạn nói bạn không
có công đức, bạn chính là có công đức. Được người ta nói một câu "Ui chao,
công đức vô lượng", vui quá đi. Xong rồi, công đức mất tiêu. Có công đức
chính là không công đức, không công đức chính là có công đức. Sư phụ nói cho
các bạn biết: Công đức không thể tùy tiện nói, đồ thật đều không thể nói nhiều.
Phải tôn kính Sư phụ, phải kính sư trọng đạo chăm chỉ tu luyện, những cái này đều
là có công đức.
Sinh tức là khổ. Bởi vì
sinh ra chính là sự bắt đầu của khổ. Âm thanh đầu tiên của con người đến thế giới
này là tiếng khóc. Đời người là nền tảng của khổ nạn. Con người đến nhân gian
chính là để chịu khổ. Ví dụ: Chỉ là trên mặt mọc cái mụn cũng sẽ cảm thấy khổ.
Người lính khi đứng nghiêm, sau lưng ngứa ngáy, mồ hôi đầm đìa, lại không được
cử động, bạn nói có khổ không? Bây giờ rất nhiều điểm du lịch có người hóa
trang thành tượng đứng bất động ở đó, chỉ vì một chút tiền boa, bạn nói có khổ
không? Công việc nào mà không khổ? Ở nhân gian đâu mà không có khổ? Đời người
chính là sinh ly tử biệt. Người sống chính là Không. Khổ tương đương với Không,
Vô thường. Nghĩa là thế giới này khi bạn đến là tay trắng (không), khi đi cũng
là tay trắng. Chịu nhiều khổ sở như vậy nhận lại được một chữ Không. Cái gì
cũng là vô thường, là không vĩnh cửu.
Sinh mệnh là sự luân hồi
thay phiên của sinh lão bệnh tử. Ví dụ người sinh ra rồi già, bệnh, chết, luân
hồi. Bất cứ sự việc gì thực tế chính là một sự thay phiên. Hôm nay sinh, ngày
mai già, ngày kia lại bị bệnh, vài ngày nữa chết xuống âm phủ rồi lại đầu thai
thành người khác, một vòng luân hồi mới lại bắt đầu. Đời người chính là luân hồi
chuyển động như vậy. Cho nên đừng tưởng rằng tôi đầu thai làm người là có thể
hưởng thụ. Thực ra là sự bắt đầu của phiền não, khổ nạn, hơn nữa thế giới này
không có thứ gì vĩnh hằng.
Hôm nay Sư phụ giảng
cho các bạn một đạo lý rất đơn giản, nhưng phải phân tích thấu đáo cho các bạn
nghe, gọi là "Dĩ khổ vi lạc" (Lấy khổ làm vui). Lấy khổ làm vui là một
loại cảnh giới của thực tu. Thực tu là tu tâm một cách chân thực. Làm thế nào mới
có thể chuyển khổ thành vui? Ít ham muốn mới có thể thanh tịnh tâm hồn, lạc
thiên tri mệnh vô sở cầu (vui với mệnh trời không cầu mong gì). Một người ham
muốn ít đi thì tâm mới có thể đạt được thanh tịnh, phải hiểu biết đủ thường vui
(tri túc thường lạc) thì sẽ không khổ như vậy nữa. Thật ra khi chúng ta cầu xin
sự nghiệp, sức khỏe, gia đình tốt đẹp là đang dùng công đức của chúng ta để cầu,
là sẽ tiêu hao công đức. Giống như chúng ta niệm Kinh, niệm Ngôi Nhà Nhỏ (kinh)
là đang trả nợ vậy. Dùng công đức để cầu tiền tài nhân gian, cầu phước báo là
ngốc nghếch nhất, sẽ làm mất đi công đức. Dùng công đức để cầu tài cũng chưa chắc
đã phát tài. Bởi vì tiền tài là do kiếp trước tu mà có.
Giữa trời đất vũ trụ có
một đạo lý. Đạo lý gì? Sư phụ dùng bạch thoại (lời nói thường ngày) giảng cho
các bạn nghe: Khi con người chịu khổ thì nghiệp lực sẽ được chuyển hóa, nghiệp
chướng của chúng ta sẽ được tiêu trừ. Chịu khổ có thể tiêu trừ nghiệp lực của
chúng ta. Đây chính là nguyên nhân tại sao Sư phụ bảo các bạn phải chuyển khổ
thành vui. Khi nghiệp lực của bạn được tiêu trừ rồi chẳng phải bạn sẽ vui vẻ
sao? Người chịu khổ càng nhiều nghiệp lực tiêu càng nhanh. Nghiệp lực tiêu trừ
rồi thì phúc phận tự nhiên sẽ đến. Cho nên có câu nói "Khổ tận cam
lai". Chịu khổ sợ gì, con người đến nhân gian chính là để chịu khổ. Mỗi
ngày chịu chút khổ thì có sao đâu? Rất nhiều người chính là không chịu nổi, người
không chịu nổi chính là không có định lực. Nếu mọi người có thể cắn răng chịu
khổ nhiều hơn chút, đồng thời liều mạng làm công đức, cầu xin Bồ Tát sẽ rất
linh nghiệm. Sư phụ xuống đây là mang theo sứ mệnh, ở nhân gian cũng là đang tu
tâm. Tôi đang giúp đỡ người khác cũng chính là đang giúp đỡ chính mình. Rất nhiều
người khi cứu người, khi giảng pháp cho người khác, bản thân họ cũng đang học tập
và tiến bộ.
Khi con người hưởng
phúc chính là đang hưởng dùng phúc phận của mình. Một khi phúc phận dùng hết mà
trong thời gian đó lại không chịu khổ, hành thiện, còn tạo nghiệp, thì tiếp
theo chính là xui xẻo và tai nạn. Phải ghi nhớ, chịu khổ thực tế là đang chuyển
cái tâm của bạn. Con người chỉ khi chịu khổ mới nghĩ đến việc thay đổi vận mệnh
của mình, mới nghĩ đến việc cầu Bồ Tát phù hộ. Chuyển tâm tương đương với chuyển
nghiệp. Hãy chuyển hóa tất cả nỗi khổ trong cuộc sống thành niềm vui. Có câu
nói "Khổ trung hữu lạc, kỳ lạc vô cùng" (Trong khổ có vui, niềm vui
đó là vô cùng). Lấy khổ làm vui là một cảnh giới rất cao. Khổ là nhân của vui,
vui là quả của khổ. Đi làm rất vất vả đúng không, nhưng khi bạn nhận được lương
thì vui rồi, số tiền này có thể trả tiền nhà, có thể đi nghỉ mát. Gieo cái nhân
khổ này mới nghĩ đến cầu xin Bồ Tát, cầu Bồ Tát linh nghiệm rồi, vui rồi, quả
chẳng phải đã trổ ra rồi sao?
Học Phật là Lý và Sự.
Lý là học Phật pháp trên lý thuyết. Sự là tâm, là dùng hành động để làm. Sự là
một loại cảnh giới của thực tu. Chúng ta bây giờ học là lý thuyết, vậy làm sao
thể hiện trên hành động? Làm sao thể hiện trên việc hoằng pháp cứu người? Mọi
người phải hiểu Lý Sự phải viên dung, nghĩa là suy nghĩ trong tâm và hành động
thực tế phải viên dung, tâm và miệng phải hợp nhất. Người tu tâm cái trong lòng
nghĩ và cái miệng nói ra, hành vi làm ra phải hợp nhất. Những cái này đều là những
thứ của nhân gian, nói đơn giản một chút là ngôn hành phải nhất trí. Sự kết hợp
giữa miệng và tâm rất quan trọng.
Pháp môn Sư phụ dạy các
bạn bây giờ không phải là nói suông, phải tu sửa vũ trụ trời đất trong tâm
mình. Trong tâm mỗi người đều có một vũ trụ, chính là cái mà chúng ta thường
nói là ôm ấp chí lớn, ôm ấp tổ quốc, phóng tầm mắt ra thế giới. Sư phụ bảo các
bạn tu là cái vũ trụ trong tâm các bạn, phải làm một người dám bước ra ngoài
phóng tầm mắt ra toàn thế giới. Hôm qua có vị thính giả, Đài trưởng bảo anh ta
hứa nguyện, anh ta nói: "Đài trưởng à, nếu tôi hứa nguyện rồi mà làm không
được thì sao?" Người như vậy bản thân không có nền tảng hứa nguyện tốt. Nếu
bạn hứa nguyện trong lòng nghĩ "Con nhất định có thể làm được", bạn
có thể hứa. Địa Tạng Vương Bồ Tát nói: "Địa ngục bất không, thệ bất thành
Phật" (Địa ngục chưa trống, thề không thành Phật). Bây giờ địa ngục đã trống
chưa? Nhưng chính vì Bồ Tát có nguyện lực lớn như vậy khiến bao nhiêu người có
thể đầu thai. Nhưng Ngài thật sự đã hứa cái nguyện này, Ngài đã thành Phật. Nếu
các bạn hứa nguyện trong lòng nhất định phải nghĩ "Con nhất định phải làm
như thế nào, phải đi cứu người như thế nào", đương nhiên phải thật sự đi
làm. Nếu làm không thành đó là chuyện khác. Bạn dùng hành động thực tế đi làm
thì bạn chính là Bồ Tát.
Sư phụ đã nói:
"Trong những năm tháng còn sống chỉ cần sống một ngày, tôi nhất định phải
hoằng dương Phật pháp, cứu độ người hữu duyên trên toàn thế giới". Đây
chính là nguyện lực của tôi. Các bạn có dám ngày ngày trước mặt Quan Thế Âm Bồ
Tát nói như vậy không? Sư phụ ngày ngày nói với Quan Thế Âm Bồ Tát như vậy
"Con muốn cứu người hữu duyên trên toàn thế giới". Tôi có thể dùng
sinh mệnh của mình để hứa nguyện hoằng pháp. Nguyện lực càng lớn công đức nhận
được càng lớn; nguyện lực càng lớn phản hồi nhận được càng lớn. Pháp lực của Sư
phụ hiện nay lớn như vậy các bạn biết do đâu mà có không? Đây chính là do công
đức tạo thành. Cứu người càng nhiều, nguyện lực càng lớn thì pháp lực và công đức
của bạn đều tăng trưởng theo tỷ lệ thuận.
Tu tâm tu hành chính là
phải tu cái vũ trụ trong tâm mình. Nếu bạn không trải qua thực tu và thực chứng,
nghĩa là nếu bạn không trải qua việc tu tâm một cách thực tế và kiểm chứng cái
quả nhận được sau khi tu tâm, bạn cảm thấy bạn tu thành công rồi, thì bạn vẫn
chỉ giới hạn ở một chữ "Lý", giới hạn ở đạo lý trên miệng, mà không
có cái thực tiễn.
Người chỉ tu pháp môn
mà không tu tâm thì càng tu càng chấp trước nhập ma mà không biết. Ví dụ có người
thường nói: Người này có thể nhìn thấy rồi, người kia cũng có thể nhìn thấy rồi,
tôi tốt nhất cũng có thể nhìn thấy. Pháp có hai loại: Một loại là Phật pháp;
còn có một loại là Ma pháp. Người chỉ tu pháp bạn có thể biết là Phật pháp hay
Ma pháp không? Nếu tu không được Phật pháp chẳng phải là Ma pháp sao? Bạn tu Ma
pháp rồi chẳng phải không đạt được Phật pháp sao? Chánh và Ma chỉ khác nhau một
chút xíu thôi. Giống như đồng hồ chạy không chuẩn giờ thì không phải là đồng hồ
tốt. Cho nên nhất định phải tu tâm chứ không thể chỉ tu pháp.
Vị đạt cứu cánh. Nếu tu
tâm vẫn chưa đạt đến cứu cánh, nghĩa là vẫn chưa tu đến Chánh, chưa tu đến
cùng, tâm của bạn đã biến dị, thậm chí đã tu đến mức đánh mất tâm của mình. Bạn
phải tìm lại cái tâm đã lạc lối, nếu không bạn sẽ mãi mãi luân hồi trong lục đạo.
Tại sao một người lại rất thích một người cụ thể nào đó, chính là có một loại
si mê ở trong đó. Mê không sao, nhưng mê quá mức chính là si mê, thì không tìm
thấy chính mình thực sự nữa. Sư phụ bảo các bạn đừng đánh mất cái tâm đã lạc lối
của mình.
Thực tế tu tâm quan trọng
hơn tu pháp. Tu pháp là cái bề ngoài. Ví dụ miệng nói Phật pháp thao thao bất
tuyệt, nói pháp môn này tốt pháp môn kia không tốt. Hôm nay đi chùa này lạy,
ngày mai đến kia thắp hương v.v... Nếu không tu tâm thì ngay cả đạo lý làm người
cơ bản nhất cũng không hiểu, có thể thực sự hiểu pháp sao? Sư phụ thà các bạn
tu tâm tốt hơn một chút, cũng đừng chỉ làm những thứ bề ngoài cho Sư phụ xem.
Tu pháp không bằng tu tâm, bởi vì vạn pháp duy tâm tạo. Tất cả những thứ của
nhân gian có thể gọi là nhân gian pháp, đều do tâm tạo thành. Tâm đang nghĩ gì
thì thế giới này sẽ biến thành hình dáng đó. Ví dụ: Trước đây có một số người
trước khi họp sẽ nghĩ: Hôm nay sẽ bị lãnh đạo phê bình rồi. Vừa vào hội trường
nhìn thấy mặt người khác liền cảm thấy người khác sắp đấu tố mình. Tất cả mọi
thứ trên thế giới đều là do trong tâm bạn tưởng tượng ra. Hôm nay bạn nghĩ việc
làm ăn rất tốt, thực tế việc làm ăn hôm nay sẽ tốt. Có một số người cảm thấy
phong thủy không tốt cứ chuyển đồ đạc trong nhà đi chuyển lại, vẫn cảm thấy
không tốt, họ chính là không hiểu việc đi niệm Kinh, điều tiết và thay đổi vấn
đề phong thủy. Tâm của con người cũng rất quan trọng. Có câu "Phước nhân
trú phước địa" (Người có phước ở đất có phước) chính là đạo lý này. Tâm
người không tốt thì ở nơi phong thủy tốt đến mấy, cũng là vô dụng. Tâm tức là
pháp, pháp tức là tâm.
Người học pháp cứ nghĩ
phải tu ra đủ thứ hoa hòe hoa sói. Thực tế tu ra đủ thứ hoa hòe không phải là
chuyện tốt. Chỉ có Phật Bồ Tát là Tiên thiên vô cực chánh pháp, tu ra chính là
chánh pháp. Cái này đã nhảy ra khỏi tam giới không còn trong ngũ hành rồi. Người
học pháp muốn học những thứ này thì biến thành ma rồi. Bởi vì thứ này đối với họ
mà nói quá cao siêu. Ví dụ, học sinh trung học muốn học chương trình tiến sĩ là
không học được. Nhưng tôi cứ đòi học, có học được không? Có thể học. Học lệch rồi.
Cuối cùng nói với mọi người, một ý niệm, tâm thanh tịnh. Hãy để tâm của bạn
bình lặng, thì chuyện gì cũng không còn nữa.
Tu tâm đắc thành tựu
hoàn toàn nằm ở một tấm lòng (tâm địa). Người tâm địa lương thiện mới có thể tu
chính (tu sửa cho đúng); người tâm địa không lương thiện thì dù có tu, cái tu
ra cũng là thứ lệch lạc. Tại sao có người tu lương thiện vẫn sinh ra tà ác?
Công phu nằm ở tâm. Người tu tâm phải biết dùng tâm để kiểm soát sự lương thiện,
ngăn cản tà ác, dùng trí tuệ của Phật để quán chiếu lương tâm của mình. Quán
chiếu chính là dùng mắt nhìn vào lương tâm của mình, xem xem hôm nay mình đang
làm việc thiện hay đang làm việc ác? Có tràn đầy sợ hãi hay không? v.v... Dựa
theo pháp ý của Phật đà để thâm nhập Phật thức của chính thân bạn. Bản thân bạn
phải thường xuyên nghĩ xem, ý thức của Phật Bồ Tát mà tôi học có còn đó không?
Việc tôi làm hôm nay có ý thức của Phật Bồ Tát ở trong đó không?
Ý thức chính là ý niệm.
Nếu hôm nay bạn làm một việc mà ý thức của bạn cho rằng "Tôi làm như vậy
là tốt, là tu tâm, là làm công đức". Thì đó là có ý thức của Phật Bồ Tát,
gọi là Phật thức. Phải chú ý trạng thái động của tâm mình, làm bất cứ việc gì
tâm đều đang động. Ý thức của con người điều khiển xác thịt của con người. Cho
nên phải ghi nhớ: Ý thức của Phật luôn ở trong tâm bạn. Bạn phải kiểm soát được
ý thức trong tâm và hành vi của tâm, trạng thái động của tâm, phải biết điều
tâm, chế tâm, thì bạn mới có thể tịnh hóa, chuyển hóa và độ hóa tâm của mình. Độ
hóa chính là từ từ loại bỏ những thứ không tốt của bản thân. Trên thân mỗi người
đều có ma, giống như trên thân mỗi người đều có tế bào ung thư vậy. Chỉ có chiến
thắng ma trên thân mình, mới có thể khiến mình trở thành Phật.
3. Dùng tư duy chân
chính bàn về "Quán tưởng"
Rất nhiều người hỏi Sư
phụ, quán tưởng nghĩa là gì? Quán tưởng chính là vừa nghĩ, vừa dùng mắt nhìn. Mọi
người biết, "Quán" chính là dùng mắt nhìn. "Tưởng" chính là
dùng não nghĩ. "Quán tưởng" chính là thường quán thường tưởng, là thường
xuyên nhìn, thường xuyên nghĩ. Nghĩ cái gì? Không phải bảo các bạn nghĩ về bản
thân, cũng không phải bảo các bạn nghĩ làm sao phát tài, cũng không phải bảo
các bạn nghĩ cuộc sống tốt đẹp thế nào, mà là bảo các bạn nghĩ về Quan Thế Âm Bồ
Tát. Thường quán thường tưởng, nuôi dưỡng năng lực quán tưởng rất quan trọng.
Thế nào gọi là nuôi dưỡng năng lực quán tưởng? Chính là phải nuôi dưỡng một loại
[thói quen] hễ động một chút là sẽ nghĩ đến Quan Thế Âm Bồ Tát, cái này đã trở
thành một loại năng lực rồi. Sư phụ có thể vừa nghĩ đến Quan Thế Âm Bồ Tát,
Quan Thế Âm Bồ Tát liền hiện ra trước mắt. Đây chính là do nuôi dưỡng mà thành.
Sư phụ hy vọng các bạn thường xuyên quán tưởng.
Sư phụ dưới sự gia trì
của Quan Thế Âm Bồ Tát hiện tại năng lực đã rất lớn. Rất nhiều người trong mơ bị
quỷ bắt, họ kêu "Lư Đài trưởng cứu con", lập tức sẽ tỉnh lại. Các trường
hợp trong chương trình phát thanh rất nhiều. Sư phụ không cần các bạn quán tưởng
tôi, nên quán tưởng chính các bạn. Thế nào là quán tưởng bản thân? Chính là
quán tưởng Pháp thân của mình. Pháp thân của các bạn là gì, các bạn biết không?
Pháp thân chính là thân Bồ Tát. Trên thân mỗi người đều có Pháp thân của mình.
Pháp thân rất quan trọng. Soi gương xem, đây có phải là bạn không? Đây có phải
là tôi không? Tôi là như thế này sao? Rồi nhìn gương nghĩ một chút: Tôi là Bồ
Tát. Sau đó tiếp theo thì đừng nhìn gương nữa. Hãy dùng con mắt bên trong của
mình để nhìn Pháp thân của mình -- Tôi là Bồ Tát. Sau một thời gian nhất định,
sẽ nhìn thấy bên cạnh có rất nhiều Hộ pháp thần.
Hôm nay Sư phụ dạy các
bạn đều là phương pháp, kỳ thực Thiền định cũng là như vậy. Bạn phải nghĩ đến,
vị Bồ Tát mà tôi tin tưởng, vị Bồ Tát mà tôi nhìn thấy bây giờ là chân thật.
Các bạn nhìn chằm chằm vào tượng Phật Quan Thế Âm Bồ Tát, các bạn nhìn thấy bên
cạnh chẳng phải có hào quang sao, bao gồm cả phía sau núi có một vòng tròn lớn,
các bạn nhìn ra không? Trên núi có một vòng tròn lớn, vòng hào quang lớn. Cho
dù mắt thịt của các bạn không nhìn thấy, các bạn cũng phải dùng con mắt bên
trong của mình nói "Con nhìn thấy rồi". Sư phụ dạy các bạn phương
pháp này ngay tại chỗ. Nhìn thấy chưa? Vòng hào quang này có động không? Có động.
Bạn liền nhìn thấy Bồ Tát rồi. Đây chính là niềm tin. Tôi phải tin Ngài, tôi mới
có thể đạt được những thứ này. Bạn phải nghĩ đến, vòng hào quang của Bồ Tát biết
động. Tôi tin, Bồ Tát là chân thật, sau đó liền nghĩ đến Bồ Tát đang ở trên đỉnh
đầu bạn. Nhất định phải nhớ kỹ, giống như phàm nhân mắt thịt chúng ta, đừng in
thẳng Bồ Tát vào trong thân thể mình, Bồ Tát sẽ không vào đâu, bởi vì thân thể
các bạn rất bẩn thỉu. Hiểu chưa? Nếu là một người rất sạch sẽ thì có thể in
hoàn toàn Bồ Tát vào thân thể họ. Nhưng giống như các bạn trong đầu Tham Sân
Si, nghĩ lung tung beng những thứ lộn xộn nhiều, tuyệt đối đừng nói in hoàn
toàn hình tượng Bồ Tát vào thân thể mình, chỉ có thể nghĩ Bồ Tát đang ở trên đỉnh
đầu bạn.
Các bạn thường nghe nhiều
người nói "Hạ giáng đầu" (bùa ngải/trù ếm), trong Huyền học nên gọi
là "Giáng đầu", thứ giáng xuống. Giáng xuống đầu bạn là rắc rối rồi.
Nhưng ở trên đầu bạn, tự bản thân bạn quán tưởng Bồ Tát, đó chính là thứ chân
thật của bạn. Người ta giáng cái gì xuống cho bạn, chính là "giáng đầu".
Không biết các bạn có nghe hiểu không? Phải nhớ, khi người ta muốn đặt thứ gì
đó lên đầu bạn, thực tế thứ này đã là rắc rối rồi. Vị Bồ Tát do tự mình tu luyện
ra, ở trên đầu bạn, đó là thứ thật, thì có thể chống lại những "giáng đầu"
không tốt này, khiến nó tiêu trừ.
Chỉ ở trên đầu có Phật,
ma nạn mới không thể giáng xuống thân bạn được. Bạn phải nghĩ như vậy, ma nạn sẽ
không giáng xuống thân bạn. Mọi người hiểu không? Bởi vì Ma và Nạn vốn dĩ là
hai thứ không tốt. Ma lên thân bạn, có tốt không? Nạn lên thân bạn, có tốt không?
Cộng lại với nhau, Ma Nạn đến rồi, bạn liền xui xẻo rồi. Cho nên phải nghĩ đến,
ma nạn rời xa thân tôi. Bởi vì tôi sạch sẽ, cho nên ma nạn sẽ không làm gì được
thân tôi. Mọi người hiểu chưa? Các bạn phải tưởng tượng, bạn chính là Bồ Tát.
Tuy Bồ Tát ở trên đỉnh đầu bạn, nhưng bạn hãy tưởng tượng bạn chính là Bồ Tát.
Hơn nữa bạn phải tưởng tượng, xung quanh tôi có rất nhiều Bồ Tát và Hộ pháp thần.
Đương nhiên, cái này tốt nhất là nghĩ vào ban ngày, ban đêm đừng nghĩ. Còn có ở
Quan Âm Đường có thể nghĩ, ở những nơi khác tôi không biết. Nếu ở trong bất kỳ
ngôi chùa nào, trong ni cô am, nếu có Bồ Tát ở đó, bạn có thể nghĩ. Vấn đề là nếu
không có Bồ Tát ở đó, bạn sẽ gặp rắc rối. Hoặc đôi khi lạy loại nhân nào, sẽ
mang đến cho bạn loại quả đó.
Phải không ngừng nhìn
vào pháp tướng của chính mình. Sư phụ giảng sơ qua cho các bạn: Các bạn bắt đầu
có thể nhìn hình tượng vô cùng lương thiện của mình trong gương, rồi từ từ nghĩ
đến khuôn mặt của mình, lại nghĩ đến Quan Thế Âm Bồ Tát trên đầu mình, nghĩ mãi
nghĩ mãi thì đừng nghĩ đến mặt mình nữa, phải nghĩ đến Pháp thân của mình, nghĩ
đến Pháp tướng của mình, chính là rất đoan trang. Khuôn mặt của mỗi người đều sẽ
rất đoan trang. Khuôn mặt dù hay đùa giỡn cũng sẽ trở nên đoan trang. Một người
khi nghiêm túc lên, cái đó gọi là Pháp tướng. Một người điên điên khùng khùng,
hi hi ha ha, thì người đó không phải là anh ta vốn có. Khi một người có Pháp tướng,
họ sẽ không cười, họ rất trang nghiêm. Các bạn nhìn Bồ Tát xem, mắt mở ba phần,
nhắm bảy phần -- Bồ Tát vĩnh viễn nhìn thế giới như vậy. Thực tế chúng ta gọi
là mắt Từ bi nhìn thế giới, bởi vì thế giới này thật sự quá đáng thương.
Vừa rồi dạy các bạn
cách nhìn Pháp tướng của mình, giảng đến cuối cùng mục đích là gì? Bách độc bất
xâm. Xung quanh chúng ta có rất nhiều độc. Ví dụ, trong cuộc sống của chúng ta,
người bình thường muốn lừa bạn, trước tiên phải làm bạn vui vẻ, kể chuyện cười
cho bạn vui, mời bạn ăn cơm, tặng đồ, để bạn bỏ tâm cảnh giác đi trước, sau đó
hắn mới có thể lừa bạn. Thường đều là như vậy. Kể chuyện cười làm bạn vui vẻ,
chọc cười, sau đó hắn mới dùng phương pháp của hắn nói chuyện với bạn. Nếu bạn
dùng Pháp tướng của bạn, ví dụ, hắn nói với bạn thế này thế kia, xem bạn có bị
mắc lừa không. Cái này chính là cái bạn cần duy trì, nhân gian gọi là "Tôn
nghiêm". Pháp tướng chính là Pháp thân của bạn. Nếu một người không muốn bị
người ta lừa, trước tiên dung mạo của họ phải trang nghiêm, người ta liền không
dám lừa họ. Nếu bạn điên điên khùng khùng, hồ đồ lơ mơ, người ta sẽ đến lừa bạn.
Kẻ lừa đảo đều biết nhìn: Xem người này có dễ bị lừa hay không? Cho nên Pháp tướng
này rất quan trọng. Hiểu chưa? Nếu Pháp tướng của một người không trang nghiêm,
sẽ cho người khác cảm giác dễ bị lừa. Nếu một người phụ nữ ít cười, rất trang
nghiêm, người ta sẽ không đến lừa cô ấy.
Nếu bạn quán tưởng, sẽ
nghĩ ra một số hình tượng, bao gồm nghĩ đến hình tượng của mình, nghĩ đến Bồ
Tát trên đầu mình, nghĩ mãi nghĩ mãi sẽ hiện ra một số thứ. Nếu nhìn một cái là
Quan Thế Âm Bồ Tát, nhiều người sẽ rất vui: "Ui cha, tôi nhìn thấy Quan Thế
Âm Bồ Tát rồi." Đúng không? Hiện nay có rất nhiều thính giả niệm Kinh thường
nói: "Tôi vừa nhắm mắt, nhìn thấy Bồ Tát rồi." Vậy, nếu vị Bồ Tát này
không phải là Quan Thế Âm Bồ Tát thì sao? Mà là do ma biến thành thì sao? Các bạn
làm sao để phân biệt? Nếu trước mắt các bạn xuất hiện những cảnh tượng này, mà
không phải Bồ Tát thật, giống như rất nhiều người bên tai nói với bạn "Ta
là Quan Thế Âm Bồ Tát, ta bảo con làm thế nào, con hãy làm thế đó", thì bạn
có tin không? Việc này phải dựa vào hai phương pháp. Phương pháp thứ nhất,
chính là phải dựa vào Sư phụ của các bạn. Sư phụ làm gì? Thực tế pháp danh của
Sư phụ rất quan trọng. Các bạn có thể gọi pháp danh của Sư phụ. Sư phụ thường đều
sẽ có Tâm chú, nếu có thể gọi Tâm chú thì khá tốt. Nhưng Sư phụ hôm nay nghĩ một
chút, có nên nói Tâm chú cho các bạn không, Sư phụ nghĩ vẫn là không truyền ra
ngoài. Bởi vì Sư phụ vẫn còn ở nhân gian, nếu Sư phụ nói Tâm chú cho các bạn,
người tốt sẽ dùng, kẻ xấu cũng sẽ hại Sư phụ. Các bạn vẫn có thể gọi Sư phụ, nếu
các bạn là người đã bái Sư phụ bạn gọi Sư phụ, trên trời dưới đất lập tức sẽ biết
bạn là đồ đệ của Sư phụ. Nếu chưa dập đầu bái sư, bạn gọi Sư phụ, tiếng Sư phụ
này biến thành một loại tôn xưng, các bạn có thể làm thí nghiệm. Sư phụ nói một
câu rất quan trọng cho các bạn nghe: Nếu nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát, bạn muốn
biết là thật hay giả, nếu bạn gọi tên Sư phụ xong, bạn xem hình tượng này có đi
hay không? Nếu "Quan Thế Âm Bồ Tát" này đi mất, thì đó là giả; nếu
Quan Thế Âm Bồ Tát này vẫn chưa đi, thì đó là thật. Bởi vì các bạn là học Pháp
môn Tâm Linh do Sư phụ truyền dạy, cũng chính là Pháp môn Tâm Linh của Quan Thế
Âm Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát đương nhiên sẽ không đi, cho nên Sư phụ dạy các bạn
phương pháp này. Hiểu chưa?
Phương pháp thứ hai,
chính là dùng tư duy chân chính (chánh tư duy) của các bạn. Chánh tư duy thực tế
chính là chánh trí tuệ. Dùng trí tuệ để phân biệt xem vị đó nói gì với bạn. Ví
dụ, thính giả Mai-khao (Maikao) lúc đó trong tai có một giọng nói bảo cô ấy
"Ta là XXX". Cũng thường có rất nhiều thính giả nói với Sư phụ,
"Quan Thế Âm Bồ Tát nói chuyện với con rồi". Vậy Quan Thế Âm Bồ Tát
nói gì với bạn? Có một người nói với Sư phụ rằng, Quan Thế Âm Bồ Tát bảo anh ta
xuống dưới lầu chơi, có rất nhiều người, rất vui. Bạn nói xem bạn có trí tuệ để
phân biệt câu nói này không? Bạn nghe câu này, bạn cho rằng đây là Quan Thế Âm
Bồ Tát sao? Nếu bạn ngốc nghếch, lúc đó bị nó khống chế, bạn cũng sẽ nhảy xuống.
Đây chính là lý do tại sao bây giờ tu tâm tu đến về sau rất nhiều người bị tẩu
hỏa nhập ma. Bởi vì họ không biết cái gì là Phật pháp chân chính, cái gì là Phật
pháp giả. Đây chính là điều Sư phụ thường giảng Mê tín không phải là Chánh tín.
Thực tế Phật pháp thật sự không thể mê tín. Phật pháp là Chánh tín, nó là Phật
pháp chân chính giáo dục con người, giúp đỡ con người. Tịnh Không Pháp sư đề xướng
Phật pháp là giáo dục, là có đạo lý. Phải nhớ, những thứ tốt nhất định mang
theo thành phần giáo dục. Muốn con người tốt lên, có cần giáo dục không? Muốn
chữa lành vết thương tâm hồn bạn, có cần giáo dục bạn không? Đứa trẻ phạm lỗi,
nghĩ không thông, trong quá trình Sư phụ giúp tâm hồn nó phản bổn quy chân
(quay về sự thuần khiết ban đầu), có cần giáo dục nó không? Thực tế, tôn giáo
còn có thể gọi là giáo dục, cũng là liều thuốc chữa lành tâm hồn. Rất nhiều người
nói, "Đài trưởng à, ngài còn lợi hại hơn bác sĩ tâm lý". Bởi vì một
người muốn tự sát, một người bị ung thư xong tuyệt vọng, khi vào gặp Sư phụ rất
đau khổ, chỉ cần nói chuyện với Sư phụ nửa tiếng hoặc một tiếng, khi rời đi họ
sẽ vui vẻ. Đây là bởi vì trong thân tâm mỗi người đều có một loại năng lượng đặc
biệt, năng lượng này thực tế chính là Nguyên linh của Bồ Tát. Sư phụ có thể khởi
động cái Nguyên linh này của họ ra, để họ có thể chống lại bệnh tật thân tâm của
mình, buông bỏ tất cả những thứ bẩn thỉu và không tốt, quên hết tất cả. Ai
trong các bạn nếu có thể làm như vậy, các bạn chính là Bồ Tát.
Vừa rồi đã giảng dùng
trí tuệ để phân biệt thật giả của hình tượng này. Nếu nó bảo bạn đi hành hạ xác
thịt của mình, những điều phi lý thì đừng làm. Mai-khao lúc đó cái vong linh
(linh tánh) kia bảo cô ấy "Ngươi đừng đứng lên", cô ấy liền cứ ngồi xổm,
ôm bụng đau. Cô ấy lúc đó ở trong văn phòng Sư phụ nói một câu, Sư phụ vừa nghe
câu này liền biết không phải Mai-khao nói. Sư phụ liền dùng ý niệm nói với vong
linh đó: "Ngươi đừng hành hạ cô ấy nữa. Ngươi rời khỏi cô ấy đi, tha thứ
cho cô ấy làm sai rồi. Ta sẽ bảo cô ấy niệm kinh siêu độ cho ngươi thật tốt."
Miệng Mai-khao lập tức nói: "Đài trưởng, ông ấy nói không đơn giản như vậy.
Ông ấy vĩnh viễn sẽ không rời khỏi tôi." Bạn của Mai-khao lúc đó cũng ở
bên cạnh. Sư phụ bảo các bạn hãy tin tưởng những chuyện này.
Sư phụ tiếp theo giảng
với mọi người là, nếu hình tượng này bảo bạn đi làm chuyện gì, hợp với đạo đức
thì làm. Bởi vì Phật Bồ Tát sẽ không bảo các bạn đi làm những chuyện không hợp
đạo lý. Nếu bảo bạn đi làm việc xấu, khẳng định không phải là Bồ Tát. Phải dùng
trí tuệ để chống lại những việc này, điểm này rất quan trọng. Ngoài ra, phải
quán tưởng bạn và Bồ Tát là nhất trí. Vậy quán tưởng nhất trí với Bồ Tát, có
phương pháp tốt nào không? Thực tế lúc này bạn chính là đang trì chú. Dùng bạch
thoại mà nói, trì chú chính là niệm Kinh. Khi bạn niệm Kinh, trong lòng nghĩ giống
như Bồ Tát, bạn gọi là trì chú. Lại giống như Bồ Tát, bạn lại đang niệm Kinh,
thì tâm của bạn nhất định sẽ bình tĩnh lại, bạn sẽ Định lại. Sau khi bạn tu tâm
nhập Định, thì không còn suy nghĩ gì nữa, đầu óc trống rỗng. Sư phụ hỏi các bạn:
Trong cái "Định" này, có cái "Niệm" này không? Nhân không
(người trống rỗng) thực tế là một loại Giả không. Sau khi tu luyện đến mức
trong đầu trống rỗng hoàn toàn, bề mặt họ có ý niệm không? Thực tế họ vẫn có.
Ý niệm sinh ra sau khi
tâm Định và ý niệm sinh ra trước khi tâm Định là hai khái niệm. Ví dụ: Mẹ biết
con muốn làm gì, bạn nói bà ấy có cần giao tiếp với con không? Mẹ nhất định biết
con muốn làm gì, con thì sẽ không biết mẹ muốn làm gì, đúng không? Phương pháp
tốt nhất chính là đừng nghĩ. Vấn đề là sau khi đừng nghĩ, có nghĩ không? Không
nghĩ nữa. Có niệm không? Có niệm. Vô tưởng hữu niệm (Không nghĩ nhưng có niệm).
Rất nhiều người không đi nghĩ, ý niệm của họ tự nhiên xuất hiện, thì gọi là Niệm.
Ví dụ như rất nhiều người trong các bạn muốn ngồi thiền, muốn yên tĩnh, cái gì
cũng không nghĩ. Nhưng vừa mới ngồi thiền, không nghĩ nhé, trong đầu nói
"Đừng nghĩ, không, không, không (rỗng không)", nhưng ý niệm cứ từng
cái từng cái nhảy ra.
4. Cắt bỏ nghiệp lực,
tư duy sau Định
Sư phụ tiếp theo giảng
cho mọi người, Tư duy sau Định (Định hậu tư duy) và Tư duy trước Định (Định tiền
tư duy). Tư duy trước Định là khi tôi chưa an định, ví dụ xảy ra một chuyện tôi
sẽ rất lo lắng, tôi sẽ rất buồn, tôi sẽ liên tưởng rất nhiều, sau đó sự việc mà
tư tưởng này lóe lên, nó nhất định là chưa chín chắn, và sẽ tạo thành ác quả nhất
định. Nếu sau khi Định cái gì cũng nghĩ thông suốt rồi, cái gì cũng nghĩ đúng rồi,
cái gì cũng nghĩ thông rồi, nhìn thấu rồi, buông bỏ rồi, về bản chất khác với
tư duy trước Định, lúc này bạn lại đi nghĩ vấn đề, ý niệm của bạn xuất hiện gọi
là Tư duy sau Định. Tư duy là âm thanh phát ra dựa vào trí tuệ, trí tuệ của bạn
lớn bao nhiêu, tư duy của bạn sẽ lớn bấy nhiêu. Ví dụ: Nếu bạn là một con ngựa,
tư duy của bạn không có trí tuệ, bạn chỉ biết người ta huýt sáo một cái, biết
là chủ nhân đến rồi, bất kể ông ấy ở đâu, sẽ liều chết chạy tới. Bởi vì nó không
có trí tuệ. Còn con người là có trí tuệ. Tư duy là âm thanh phát ra dựa vào trí
tuệ, âm thanh này chính là tâm niệm, âm thanh trong lòng. Các bạn nói xem, ai
trong lòng không biết chửi người, không biết nói chuyện? Khi người ta chửi bạn,
trong lòng bạn nhất định sẽ nói chuyện. Ví dụ chồng bạn bắt nạt bạn, trong lòng
bạn sẽ chửi anh ta, bạn không hề sợ hãi. Bởi vì bạn dùng trí tuệ của tâm, bạn
dùng tư duy sau Định để đối đãi với nhân sinh, cho nên bạn không hề sợ hãi, bạn
tùy ý mọi sự vô ngại (không chướng ngại). Mọi sự vô ngại, nghĩa là bạn đã nhổ bỏ
hòn đá cản đường của mình, bạn loại bỏ toàn bộ chướng ngại, thì mới có thể Định
lại được. Sau khi Định lại, ý niệm vọt ra gọi là Chánh niệm. Còn sau khi không
Định được, ý niệm vọt ra gọi là Tạp niệm.
Nếu coi tất cả mọi thứ
trên thế giới là Không (rỗng không), nhìn thấu rồi, tôi hiểu đạo lý này rồi, thực
tế bạn sẽ Định lại được, bạn liền tiến vào cảnh giới "Do như thực tướng"
(Giống như thực tướng). Thế nào gọi là Do như thực tướng? Thực tướng là thực sự
có cái tướng của thế giới này. Thêm chữ "Do như" (giống như) vào, cái
thực tướng này đều không phải là thật nữa. "Do như" chính là dường
như là thế giới thực thực tại tại này, thực tế thế giới này có phải là thực thực
tại tại không? Khẳng định không phải, thế giới này là Không.
Phải nắm bắt tính chân
thực của Chân pháp giới. Pháp giới là thật, thế giới là giả, thực tướng cũng là
giả. Sư phụ từng giảng cho các bạn, các bạn phải nắm bắt cái Pháp giới này tại
thế giới này, tuy bạn ở nhân gian, bạn cũng có thể nói cái Pháp giới và sự tu
hành mà bạn nắm bắt, cái Pháp giới mà bạn tu là Không. Thực tế Pháp giới này tồn
tại chân thực trên thế giới này, cũng nói lên bạn đã tu đến một giai đoạn rồi.
Nhưng bạn thật sự muốn tu ra khỏi Tam giới, bạn có thể nói ngay cả cái Pháp này
cũng là Không. Ví dụ Sư phụ hiện tại có một Pháp thân, Sư phụ đem Pháp thân của
mình đứng ở đây, các bạn nhìn thấy Sư phụ không? Nhìn thấy. Vậy tôi thật sự ở
đây, Pháp thân ở đây. Các bạn nhìn thấy cái này là giả sao? Là Pháp thân sao? Ở
nhân gian, có thể nói cái này đã là rất tốt rồi. Nhưng thực sự siêu thoát ra khỏi
Tam giới, ngay cả cái Thân này cũng là giả, cái gì cũng không có nữa. Cho nên
Phật pháp là Chân pháp lý giải chân tướng vạn vật vũ trụ. Nếu bạn nắm bắt được
tính chân thực của nó, bạn kiên trì lý niệm không buông, chính là kiên trì tu
tâm cho tốt, gặp bất cứ vấn đề gì đều có thể giải thoát. Ví dụ trước khi bạn
chưa biết Sư phụ, bạn đối với tất cả mọi thứ trên thế giới đều rất sợ, trong
nhà không ngừng xảy ra chuyện, bạn không biết ngày mai còn xảy ra chuyện gì. Vậy
hôm nay bạn biết Sư phụ, biết pháp môn này của Sư phụ, thì bây giờ bạn rất vui
vẻ, bạn nói bạn còn sợ hay không sợ? Bạn bây giờ bất kể gặp chuyện gì, cái đầu
tiên nghĩ đến là đi tìm Sư phụ, Sư phụ sẽ giúp tôi giải quyết. Sư phụ nói ví dụ
này không phải là nói các bạn phải tìm Sư phụ, mà là nói các bạn sau khi nhận
thức được tính chân thực của thế giới này các bạn cái gì cũng không sợ nữa. Bởi
vì các bạn đã nắm được pháp môn chân chính, chỉ cần kiên trì tiếp tục chẳng phải
vấn đề gì cũng giải quyết được sao? Cho nên kiên trì lý niệm rất quan trọng, gặp
bất cứ vấn đề gì đều có thể giải thoát, không sợ hãi, hơn nữa còn tự tại.
Tiếp theo Sư phụ giảng
cho mọi người cảnh giới Nhất thiết vô ngại (Tất cả không chướng ngại). Tất cả
chúng sinh, tất cả vạn vật thế giới, đều là "hữu ngại", chính là có sự
ngăn trở, có chướng ngại. Ví dụ bạn ở nhân gian sẽ sức khỏe không tốt, đồ đạc của
bạn sẽ hỏng, bạn muốn làm bất cứ việc gì đều có chướng ngại. Nếu bạn bây giờ biến
thành cảnh giới vô ngại, nghĩa là bạn làm việc gì cũng không có chướng ngại,
dùng ngôn ngữ nhân gian nói gọi là "thuận buồm xuôi gió". Đợi đến khi
bạn thuận buồm xuôi gió, không có chướng ngại, bạn chính là học Đại thừa Phật
pháp. Tiểu thừa Phật pháp là cứu độ chính mình, Đại thừa Phật pháp là cứu độ
chúng sinh. Ví dụ: Hôm nay tôi giúp người này, giúp người kia, tất cả bạn bè
tôi đều tận lực đi giúp, những người bạn này ở rất nhiều cương vị khác nhau, có
người là bác sĩ, có người là luật sư, có người là quan chức..., bạn nói tôi muốn
làm việc gì có chướng ngại không? Tôi cứu nhiều người như vậy, nhiều người như
vậy phản hồi lại giúp đỡ tôi, bạn nói xem, tôi còn có chướng ngại gì khi làm bất
cứ việc gì không? Đây chính là Đại thừa Phật pháp. Bạn cứu độ chúng sinh càng
nhiều, công đức của bạn càng lớn, phước báo nhân thiên (người trời) của bạn
cũng lớn, bạn làm tất cả mọi việc đều không có chướng ngại.
Sư phụ nói cho các bạn
biết, nhất định phải nhớ: Nếu bạn có trí tuệ thì sẽ đạt đến vô ngại. Vô vi,
chính là không có làm gì (không có tác ý), chuyện gì cũng đừng đi làm (với tâm
mong cầu), vô vi mà đạt đến một cảnh giới khác. Đó là cái gì? Gọi là "Khai
giải". Khai giải nghĩa là gì? Khai giải chính là gặp một vấn đề bạn liền
giải mở được, bạn gặp sự việc bạn liền giải mở được. Vậy bạn còn vấn đề gì nữa?
Thường xuyên gặp vấn đề khai giải rồi, sau đó vô ngại rồi, có trí tuệ rồi, từ từ
toàn bộ linh hồn của bạn liền chuyển hóa. Chuyển hóa xong đạt đến một cảnh giới
thô thiển cuối cùng, gọi là Lý ngộ, tức là ngộ ra đạo lý này về mặt lý thuyết.
Chính là khai ngộ về lý, chứ không phải khai ngộ thực sự, khai ngộ thực sự còn
khó hơn. Từ một góc độ khác mà nói, các bạn từ trên lý luận đã hiểu nó, bạn ngộ
ra đạo lý này. Nhưng các bạn vẫn chưa "Hành" (làm), cho nên tu tâm và
tu hành có hai loại.
Tiếp theo Sư phụ giảng
giải cho mọi người Thần thông lực của nhân gian. Nhân gian chẳng phải đều có thần
thông sao? Sư phụ có thần thông, mọi người đều biết. Vậy các bạn có thần thông
không? Thần thông lực mỗi người đều có. Có thể biết người khác nghĩ gì, chính
là thần thông. Có thể biết con mình muốn ăn gì, cũng là thần thông. Nếu có thể
biết hôm nay tôi nói chuyện bên dưới có người nghe hay không, người ta có đứng
dậy đi hay không, cũng là thần thông. Thần thông lực còn gọi là Đạo bối xả (con
đường buông bỏ). "Bối xả" là gì? Chính là bất kể bạn là ác duyên hay
thiện duyên, bạn đều có thể được giải thoát. Việc tốt đến rồi, thiện duyên đến
rồi, tôi có thể giải thoát. Việc xấu đến rồi, ác duyên đến rồi, tôi cũng có thể
giải thoát. Thực tế thiện duyên cũng không phải là chuyện tốt, bởi vì thiện
duyên đến rồi thì theo sau đó chính là ác duyên. Ví dụ khi yêu đương, thì gọi
là thiện duyên, hai người thề non hẹn biển rất vui vẻ. Sau khi kết hôn, từ từ
liền biến thành ác duyên, hai người đánh nhau, cãi nhau, làm loạn. Thiện duyên
và ác duyên đều phải được giải thoát, con người bạn mới có thể thực sự giải
thoát ra được.
Thần thông lực phải có
thể cắt bỏ (cát xả). Thần thông này của Sư phụ và thần thông bây giờ giảng cho
các bạn là không giống nhau. Thần thông của các bạn chính là nói bạn có năng lực
này, có thần lực này, có thông lực này, muốn làm sự việc ở thế gian con người
thuận lợi một chút. Sư phụ bây giờ chỉ cái thần thông này. Các bạn có thể cắt bỏ
phiền não của mình không? Phiền não vừa mới đến liền luống cuống tay chân, đều
không biết ứng phó thế nào, hoặc là rơi nước mắt. Sư phụ từng nói với thính giả
một câu: "Bạn muốn hiểu chân tướng của thế giới này không? Nước mắt của bạn
chính là đang để cho bạn hiểu chân tướng của thế giới này. Bởi vì khi bạn rơi một
lần nước mắt, thực tế không phải bạn bị lừa thì là mắc bẫy, hoặc là đau khổ buồn
bã, bạn liền biết hóa ra thế giới này bẩn thỉu như thế, thế giới này bất lực
như thế, thế giới này trói buộc tôi bắt tôi đi, đây chính là bạn đang từ từ hiểu
tính chân thực của thế giới Ta Bà này."
Bây giờ Sư phụ giảng
cho các bạn cũng là đạo lý này. Phải giải thoát, phải cắt bỏ phiền não của
mình, phải cắt bỏ sự quấn lấy của nghiệp lực. Sự quấn lấy của nghiệp lực rất
phiền phức, ví dụ rõ ràng không muốn, lại cứ bắt phải lấy; rõ ràng không muốn
nhìn, cứ bắt phải nhìn; người rõ ràng yêu, lại muốn rời xa bạn; tiền rõ ràng có
thể cầm trong tay, lại không lấy được. Các bạn biết đấy, có rất nhiều câu chuyện
nói về xổ số. Có một người mua hai tờ vé số, trong đó một tờ tặng cho hàng xóm,
không ngờ sau khi mở thưởng hai nhà liền coi nhau như kẻ thù, bởi vì hàng xóm
trúng thưởng xong một đồng cũng không cho anh ta. Từ đó về sau anh ta không còn
nụ cười nữa. Chính là những người các bạn, nếu mua vé số xong tặng cho người
ta, người ta trúng mười triệu bạn cũng sẽ không vui vẻ cả nửa tháng. Người có
công lực đến mấy, ít nhất cũng phải một tuần không ngừng nói về chuyện này. Gặp
người là nói, chính là một loại phát tiết, chính là giãi bày, đem phiền não
trong lòng nói ra, đây cũng là một loại phiền não.
Con người bây giờ, chuyện
không vui của mình cũng làm cho người khác không vui theo. Cái này gọi là sức
lan tỏa. Tôi hôm nay không vui rồi, tôi phải nói cho từng người một, nói đến mức
mọi người đều vì tôi mà không vui. Các bạn xem, tư tâm (lòng ích kỷ) của con
người bây giờ đã đến mức độ nào rồi? Sư phụ giảng cho các bạn đều là Phật pháp
nhân gian. Mọi người phải nhớ, bất luận thế nào cũng đừng bị nghiệp lực của
mình quấn lấy, phải được giải thoát. Nghiệp lực là gì? Hôm nay tai nạn đến, thực
tế chính là nghiệp chướng của bạn đến. Bây giờ các bạn thông minh rồi, có thể
niệm kinh rồi, có thể tu tâm rồi, có thể giải thoát một chút phiền não nhân
gian. Vấn đề là các bạn vẫn phải cắt bỏ đi. Khi bạn đang niệm Kinh, vẫn còn
đang nghĩ những chuyện đau khổ này. Khi bạn muốn cắt bỏ những chuyện này, bạn
phải cắt bỏ hoàn toàn, bạn cộng thêm niệm Kinh trả nợ, bạn liền thành công. Vấn
đề là bạn vừa đang niệm Kinh, trong đầu bạn vẫn cắt bỏ không được.
5. Chuyển hóa pháp
hỷ, chiến thắng ham muốn
Sư phụ bây giờ dạy mọi
người vài phương pháp cắt bỏ quên lãng. Thứ nhất là tu hành. Dùng tu hành để
khiến bạn quên đi, cắt bỏ những vướng mắc và phiền não nhân gian này. Sư phụ giảng
cho các bạn đều là vấn đề thực tế, vấn đề cần giải quyết ngay. Thứ hai gọi là
Bái sám. Chính là lạy Bồ Tát, sám hối. Thực tế bái sám rất tốt, "Quan Thế
Âm Bồ Tát, tha thứ cho con, con làm sai rồi. Xin Ngài cứu con, con sau này
không bao giờ làm nữa." Thứ ba, Gia trì. Gia trì rất đơn giản. Sư phụ
thích chúng sinh hữu duyên các bạn, Sư phụ có pháp lực này gia trì cho các bạn.
Còn có là cầu Quan Thế Âm Bồ Tát gia trì cho các bạn. Thứ tư, Trí tuệ. Chỉ trí
tuệ tu được mà có, sau khi Định mới có thể xuất hiện những trí tuệ này. Phải tu
bỏ nghiệp chướng, nghiệp chướng càng ít bạn cắt bỏ sự quấn lấy của nghiệp lực
càng nhanh. Khi trên người bạn có nghiệp chướng, bạn rất khó cắt bỏ những thứ
này. Thứ năm, Tu hành tu đến nhân duyên nhất định, nghĩa là tu hành đã tu đến một
mức độ nhất định, một tầng thứ nhất định, bạn mới có thể cắt bỏ những vướng mắc
không tốt này. Cảm ứng Bồ Tát, Hộ pháp khác nhau, khi bạn muốn cắt bỏ những
nghiệp chướng trên người mình, cắt bỏ những chuyện mình không buông bỏ được, bạn
phải cảm ứng Quan Thế Âm Bồ Tát. Khi bạn cầu Bồ Tát, cầu Hộ pháp thần giúp đỡ bạn,
bạn nhất định phải sạch sẽ, nhất định không được mang theo tơ hào tạp niệm và
tơ hào tâm hại người.
Thực sự tiếp xúc với Đại
Phật, Đại Bồ Tát là tốt. Rất nhiều người nói, tôi mơ thấy Quan Thế Âm Bồ Tát có
tốt không? Tốt. Rất nhiều người đến Quan Âm Đường nhìn thấy Lư Đài trưởng, ở cửa
liền sẽ vui vẻ nhảy cẫng lên. Khi bạn thực sự tiếp xúc với Phật pháp, bạn sẽ rất
vui vẻ. Sư phụ nói tiếp cho các bạn, nếu các bạn tiếp xúc với Chân Phật, Đại Phật,
Đại Bồ Tát, Cao tăng đại đức, thì cảnh giới tu tâm của các bạn sẽ thăng tiến rất
nhanh. Giống như các bạn hôm nay đang tu tâm, Sư phụ gia trì cho các bạn, giảng
pháp, giảng Phật cho các bạn, các bạn sẽ tu trì rất nhanh, đúng không? Nếu người
bình thường gặp phải thần linh, cảnh giới không cao, vậy bạn đi cầu họ rồi, họ
sẽ chuyển hóa thành Bồ Tát mà bạn thích để cho bạn nhìn thấy, sau đó sẽ khống
chế bạn, vạn nhất gặp phải tà linh sẽ bị dựa xác (nhập vào). Các bạn tìm được một
người thầy tốt, các bạn phải trân trọng. Linh tính có thể biến thành đủ loại
hình dáng Bồ Tát để lừa các bạn. Bởi vì trí tuệ của bạn không đủ, cho nên bạn mới
tin. Bởi vì bạn không thể phân biệt thật giả, mới khiến bạn bước vào đường mê.
Ví dụ bạn bây giờ sức
khỏe xảy ra chuyện, có bệnh thì vái tứ phương (bệnh cấp loạn đầu y), khi bạn
không phân biệt thật giả, đi vào đường mê, cái bạn làm chính là tà sự, học tà
pháp, sau đó bạn nhập tà đạo. Mọi người biết rất nhiều đạo, rất nhiều người vào
đó mê ở trong đó, có người thì tẩu hỏa nhập ma. Chuyện của linh giới, một khi
làm sai rất nguy hiểm. Các bạn đừng có làm bừa. Tự cho rằng học được chút đồ,
đi khắp nơi nghe nghe xem xem. Không có Sư phụ là rất đáng thương. Các bạn bây
giờ sạch sẽ, Sư phụ đem Pháp môn Tâm Linh của Quan Thế Âm Bồ Tát tốt nhất trực
tiếp dạy cho các bạn, điều này tốt biết bao! Nếu một người trước đây từng học rất
nhiều thứ, bây giờ bảo họ sửa, họ cũng mệt. Có lúc đầu óc họ chuyển không nổi,
phải hỏi rất nhiều vấn đề. Cùng nghĩ một sự việc, nếu các bạn đi theo Sư phụ học,
Sư phụ giảng một sự việc các bạn sẽ thuận theo mạch suy nghĩ của Sư phụ mà nghĩ
tiếp. Còn họ chắc chắn vừa phải nghĩ vấn đề của Sư phụ, vừa phải nghĩ vấn đề họ
từng học qua.
Bạn xem, họ liền có
thêm hai con đường. Nếu một người từng học ba nơi, họ liền đem ba thứ toàn bộ đặt
cùng một chỗ phải suy nghĩ, chính là ngã ba đường. Họ sẽ nghĩ "Tây phương
giáo không phải giảng như vậy chứ? Tịnh Độ tông không phải giảng như vậy chứ?
Thiền tông không phải giảng như vậy chứ?". Bạn học pháp môn càng nhiều, thứ
bạn nghĩ càng nhiều. Sư phụ lấy ví dụ: Giống như bây giờ làm quan quá nhiều, bộ
phận quá nhiều, hơn một trăm con dấu đóng xong rồi, cuối cùng vẫn không thể bắt
đầu làm việc. Đúng không? Trong tư duy của bạn xoay a xoay, ngày nào bạn mới có
thể xoay ra được? Cho nên đừng làm tà sự, học tà pháp. Nhất định phải Chánh!
Cho nên Sư phụ dạy các bạn đừng đi theo đuổi thần thông. Cái gì cũng không nhìn
thấy, cái gì cũng không nghe thấy, không sao cả. Tôi tu tâm tu đến hôm nay, Sư
phụ của tôi có thể nhìn thấy có thể nghe thấy, tôi cái gì cũng không nhìn thấy
không nghe thấy, mất mặt sao? Các bạn là đồ đệ của Sư phụ, đều là hộ pháp, người
ta rất tôn trọng các bạn. Đừng đi theo đuổi, chỉ cần trong lòng bình lặng, an
ninh là được rồi. Sau khi trong lòng bình lặng, an ninh, bạn có thể chuyển hóa
pháp hỷ, bạn có thể đạt được thành tựu chuyển hóa pháp hỷ. Một người đạt được sự
bình lặng và an ninh trong tâm, là không dễ dàng biết bao. Bất kể gặp chuyện
gì, đều không sao cả, nghĩ thông rồi thì ngủ ngon rồi.
Tu hành chủ yếu nhất là
tu cái tâm của bạn. Phải thường nói, tu hành chính là tu tâm, phải tu bản thân
đến mức ninh tịnh (yên bình), tường hòa, không tham và không chấp trước. Chúng
ta đến nhân gian chính là để chịu khổ, chịu chút khổ tính là gì. Nghĩ như vậy,
tâm liền tường hòa, không có liệt căn tính (tính xấu) nữa. Đừng đi tham thì
không có phiền não. Chấp trước chính là, tôi nhất định phải làm cái gì, cái này
không làm không được. Bạn nghĩ xem, bạn thật sự không làm thì sẽ thế nào? Con
người khi sắp chết sẽ nói: "Tôi không thể chết", nhưng chết rồi thì
thế nào? Chết rồi chính là chết rồi. Đừng chấp trước vào tất cả những gì của
nhân gian, tất cả những gì của nhân gian toàn bộ là giả. Tại sao cứ phải chui
vào trong đó không ra được? Tại sao cứ phải chui đầu vào ngõ cụt không chịu ra?
Tiếp theo giảng với mọi
người Pháp hỷ và Giải thoát. Pháp hỷ là nghe được Phật pháp rồi, vô cùng hoan hỷ.
Ngoài ra, trong thế giới Ta Bà có thể tìm được Chân pháp, cũng là rất thích.
Pháp hỷ chỉ một loại vui sướng sinh ra sau khi trong lòng bạn hiểu rõ đạo lý.
Hiểu đạo lý chính là Phật tánh lộ ra, sau khi bạn hiểu đạo lý, cái loại vui sướng
lộ ra đó mới gọi là pháp hỷ. Pháp hỷ là cảm ứng tốt nhất tại thế gian con người.
Nếu dùng thứ bản tánh nhất của con người chúng ta để cảm ứng tất cả sự vật trên
thế giới này, bạn sẽ pháp hỷ sung mãn. Nghĩa là nếu bạn dùng tâm Bồ Tát để đối
đãi với tất cả sự vật, cái bạn nhận được sẽ toàn bộ là những thứ của Bồ Tát.
Tôi hôm nay dùng tâm từ bi đối tốt với bạn, bạn chắc chắn sẽ đối tốt với tôi,
vui không? Đây chính là pháp hỷ. Cái này chính là cho đi và nhận lại.
Giải thoát là chỉ có thể
giải thoát phiền não ở mức độ nhất định và trong phạm vi nhất định tại thế gian
con người. Các bạn nói có đại phiền não không, ví dụ, mất việc, chân bị đè gãy
hoặc người chết. Giải cũng giải không được, thoát cũng thoát không xong. Rất
nhiều người nói "Tôi nghĩ thông rồi, tôi giải thoát rồi." Nói nhảm.
Khẳng định là nói sai rồi. Bạn có thể giải thoát sao? Về đến nhà, chuyện không
nên nhìn thấy lại nhìn thấy, phiền não lại đến. Các bạn khi nghe Sư phụ giảng
bài tại Quan Âm Đường có thể tạm thời buông bỏ, tạm thời giải thoát, nhưng khi
các bạn về nhà nhìn thấy những hoàn cảnh đó, phiền não của các bạn lại xuất hiện,
các bạn giải thoát thế nào? Cho nên giải thoát gọi là giải thoát ở mức độ nhất
định và trong phạm vi nhất định.
Sư phụ hỏi các bạn, có
thần thông có phải là chuyện tốt không? Có thần thông là chuyện tốt, nhưng phải
đạt được thần thông của Phật chân chính. Nếu không phải thần thông của Phật Bồ
Tát chân chính, loại thần thông này lại có tác dụng gì? Kỳ thực bạn chính là bị
quỷ dựa (quỷ nhập). Sư phụ trước đây từng giảng cho các bạn 90% thần thông đều
không phải là thật. Nếu là quỷ nhập các bạn nói loại thần thông này có tốt
không? Kỳ thực sau khi tu hành thành tựu, bạn liền có thể biết đủ. Sau khi bạn
tu hành, bạn liền có thể tự mình làm chủ. Khi phiền não, nghiệp chướng của bạn
tiêu trừ sẽ có thần thông tự nhiên, cái đó mới gần với thần thông của Phật. Bởi
vì Bồ Tát là không có nghiệp chướng, là không có phiền não, là vô ngại. Giải
thoát nghiệp chướng, giải thoát phiền não, giải thoát vô minh, chánh niệm tu
hành, cuối cùng có thể chứng đắc lục đại thần thông. Thực tế thần thông chẳng
qua là thành tựu đi kèm của tu hành mà thôi, đừng đi theo đuổi thần thông. Sau
khi bạn chánh niệm tu hành, bạn sẽ có thần thông xuất hiện.
Sư phụ giảng thêm cho mọi
người một chút, bốn chữ "Từ, Bi, Hỷ, Xả". Sư phụ là ngày ngày giảng,
tháng tháng giảng, năm năm giảng. Từ bi hỷ xả trong giới Phật pháp gọi là Tứ vô
lượng tâm. Trong lòng nghĩ đến nỗi khổ của người khác, đây gọi là Từ; Bi chính
là cảm ứng khổ nạn của người khác; đi cho người ta sức mạnh, sinh ra tâm hoan hỷ
đi giúp đỡ người khác, đây gọi là Hỷ; Xả chính là xả bỏ thời gian, tiền bạc thậm
chí sinh mệnh của mình. Sư phụ xem Totem (đồ đằng) điên cuồng cho người ta,
thuyết pháp điên cuồng, liều mạng đi cứu người, các bạn nói Sư phụ có cần mạng
không? Sư phụ có phải đang xả bỏ sinh mệnh không? Rất nhiều người nói Sư phụ mấy
năm nay già đi nhanh như vậy, đây có phải là cái "Xả" của "Từ bi
hỷ xả" không? Xả tiền, có quảng cáo không đi nhận, có tiền không đi kiếm,
thời gian toàn bộ dùng vào việc cứu người, thậm chí ngay cả sinh mệnh cũng có
thể xả bỏ, đây gọi là Tứ vô lượng tâm. Đắc được Tứ vô lượng tâm này, có thể đến
nơi rất cao trên trời, đó là cảnh giới của Phật. Tứ vô lượng tâm này chúng ta nhất
định phải kiên trì tu tiếp.
Sư phụ tiếp theo giảng
cho mọi người một chút về trí tuệ nhân gian. Chiến thắng ham muốn, mới có thể
trở thành người tự do. Bạn muốn trở thành người tự do, bạn phải chiến thắng ham
muốn của mình. Bởi vì bạn bị ham muốn khống chế, bạn vĩnh viễn không thể trở
thành người tự do. Bởi vì bạn muốn trả góp xong căn nhà, cho nên bạn phải ngày
ngày đi làm thuê, đem toàn bộ thời gian dùng vào việc làm thuê kiếm tiền, bạn
nói bạn còn có thể có tự do không? Bạn bị cái ham muốn trả nợ nhà sai khiến, thử
nghĩ xem, bạn có thể tự do không? Nếu hôm nay bạn bị một người bạn trai khống
chế, người bạn trai này bảo bạn làm gì bạn liền làm đó, bạn còn có thời gian,
còn có tự do không? Muốn làm một người tự do, nhất định phải loại bỏ ham muốn của
mình.
Trong tâm sinh ra cáu bẩn,
con đường đi sẽ không bằng phẳng. Tâm bạn có cáu bẩn, con đường bạn đi đều sẽ
không chính, không bằng phẳng. Bởi vì tâm bạn có cáu bẩn, việc bạn nghĩ, việc bạn
làm vĩnh viễn sẽ không bằng phẳng, do đó mà vấp ngã. Tâm của bạn nếu thanh tịnh,
con đường đi bằng phẳng, do đó mà an lạc. Mệnh do mình tạo, phúc tự mình cầu. Mệnh
của bạn là do tự bạn tạo ra, phúc khí của bạn đừng đi đòi người ta, phải đòi
phúc khí ở chính mình. Bạn có phúc khí hay không, thực tế là do tự bạn cầu được
ở chính mình. Người này tốt, người này mệnh không tốt, bạn nói có phải do tự
mình làm ra không? Cho dù người này mệnh rất khổ, nếu họ đi tu tâm, làm việc tốt,
học từ bi, họ vừa niệm Kinh vận mệnh của họ liền thay đổi. Rất nhiều người
chính là chấp trước, tôi chính là không sửa. Sư phụ thường nói một câu: Tính
cách của một người quyết định vận mệnh cả đời họ. Có người thường nói "Tôi
chính là cái tính cách này". Vậy bạn chính là cái mệnh này. Trước đây có
bao nhiêu đại tướng quân không phải chết trên chiến trường, mà là chết trên
tính cách của mình. Trên chiến trường ông ấy vô cùng dũng cảm, nhưng lại vì một
câu nói, chết không cúi đầu, cuối cùng có thể bị người ta đánh chết.
Cảnh giới cao nhất là
gì? Chúng ta ngày ngày nói cảnh giới của con người: Cao, thấp, sạch sẽ, thanh tịnh
v.v... Mỗi người đều có cảnh giới, mọi người nói xem cảnh giới cao nhất là gì?
Cảnh giới cao nhất chính là không có cảnh giới. Mọi người phải học cho tốt nhé,
những cái này đều là ngôn ngữ trí tuệ. Còn có một câu Sư phụ muốn nói cho mọi
người: Phật là điểm thăng hoa cao nhất của cảm tính và lý tính. Các bạn thử
nghĩ xem, tại sao Phật trở thành Phật? Bởi vì lý tính của Ngài vô cùng sạch sẽ,
vô cùng minh bạch, mà tình cảm của Ngài lại từ bi nhất, cảm động nhất, nhìn thấy
người ta chịu khổ, Ngài buồn hơn bất cứ ai. Cho nên Phật là sự kết hợp giữa cảm
tính và lý tính đến điểm cao nhất, không vì bản thân mình mà đi cứu người. Ngài
lại có thể dùng lý tính nhất, dùng Đại thừa Phật pháp đi cứu độ người hữu duyên
trên toàn thế giới. Người căn bản không vì mình, mới có thể trở thành Phật. Sư
phụ dùng bạch thoại giảng cho các bạn, một người ích kỷ, một người chỉ biết
nghĩ cho mình, người đó vĩnh viễn không thành Phật được. Tôi thế nào, nhà tôi
thế nào, quốc gia tôi thế nào, đều không được. Chỉ nói nhân loại toàn thế giới
khổ như vậy phải làm sao, cũng không được. Phật là gì? Tất cả chúng sinh, tất cả
chúng sinh hữu tình trên thế giới, ngay cả quỷ cũng phải cứu, đó mới gọi là Phật.
Địa Tạng Vương Bồ Tát đến địa ngục cứu ác quỷ, đó mới gọi là cảnh giới cao nhất,
đó mới gọi là Phật.
Các bạn thì, trước tiên
cứu mình, cứu người nhà, cứu bạn bè, cứu người thân. Sư phụ hôm nay nói cứu
thính giả của Đài Đông Phương, đều không phải là Phật. Cứu độ một quốc gia, cứu
độ toàn thế giới, đó cũng không phải là Phật. Sư phụ bây giờ đã bước ra khỏi nước
Úc đi cứu người hữu duyên rồi, tuy cứu chưa nhiều, nhưng trên hành vi đã là Phật
rồi. Các bạn đi theo Sư phụ đi khắp thế giới, có phải đang cứu người không?
Trong chương trình, có con của một nữ thính giả rơi xuống vực sâu thăm thẳm,
người mẹ lo lắng nói: "Làm sao bây giờ?" Đột nhiên Sư phụ đỡ được đứa
bé đó, bế lên. Các bạn nghe thấy chưa? Đó mới gọi là Phật, đó mới gọi là Đại thừa
Phật pháp. Bây giờ bảo các bạn hy sinh một chút lợi ích cá nhân, ví dụ thời
gian, danh dự, địa vị, tiền tài, sinh mệnh thì không bàn nữa, các bạn có chịu
giống như Bồ Tát hy sinh không?
Sư phụ nói cho các bạn
biết, Sư phụ hôm nay bước ra cái gì cũng chuẩn bị xong rồi. Các bạn ai chuẩn bị
xong rồi? Phải học Phật, học Phật chân chính, học tinh thần đại vô úy của Phật.
Mà bạn ở trong thế giới này cái gì cũng muốn, ở trong cái thế giới cái gì cũng
không có này, các bạn cái gì cũng muốn, có ngốc không? Tưởng rằng mình cái gì
cũng muốn, bạn còn có thể muốn mấy năm? Cho dù bạn trúng xổ số, cho bạn mười
triệu, bạn còn dùng được mấy năm? Bạn có thể mang toàn bộ tiền đi không? Đây gọi
là học Phật. Phải học lý niệm của Phật, phải học cảnh giới cao nhất của Phật. Cảnh
giới cao nhất là cái gì cũng không có nữa, đó mới gọi là cảnh giới.
Sư phụ vì độ chúng sinh
rất động tình cảm, Sư phụ đã chuẩn bị xong tư tưởng rồi. Sư phụ trước mặt Quan
Thế Âm Bồ Tát mỗi lần dập đầu, Sư phụ đều hứa nguyện: Sư phụ muốn cứu độ chúng
sinh hữu duyên trên toàn thế giới. Sư phụ có thể làm bao nhiêu thì làm bấy
nhiêu, Sư phụ không nhất định làm được, nhưng nỗ lực đi làm. Sư phụ hy vọng các
đồ đệ học tập theo Sư phụ, nỗ lực nhiều hơn đi cứu người trên toàn thế giới.
Các
bạn biết không? Sư phụ bây giờ khi khuyên người ta tu tâm, đã bảo tất cả thính
giả, bảo tất cả cư dân mạng, muốn họ đi cứu độ chúng sinh. Yêu cầu của Sư phụ đối
với họ bắt đầu cao rồi, không phải nói tự bạn tốt là được rồi. Tự bạn tốt rồi,
bạn phải đem pháp môn tốt như vậy nói cho người ta. Tu cho tốt nhé, bao nhiêu
người mê mang trong xã hội này, đừng đợi đến khi tai nạn ập đến mới hiểu ra.
Khi Bồ Tát cứu các bạn, phải nhìn thấy trên người các bạn có ánh sáng mới cứu
các bạn. Tối thứ bảy có một vị thính giả đã nói rồi, anh ta nói anh ta nhìn thấy
mây trên trời giống như bàn tay hạ xuống cứu người. Ánh sáng trên người các bạn
càng sáng, khi có tai nạn đến, Bồ Tát liền cứu các bạn ra khỏi vòng tai nạn. Tu
cho tốt vào!
6. Danh lợi là khổ,
khổ vui là không
Hôm nay Sư phụ giảng
cho mọi người về tu hành – khổ hạnh và lạc hạnh (tu vui vẻ). Các con cảm thấy
tu tâm có khổ không? Các con cảm thấy có vui không? Thế nào gọi là khổ? Thế nào
gọi là vui? Sư phụ yêu cầu nghiêm khắc với các con, các con có thể sẽ cảm thấy
rất khổ, nhưng cuối cùng cái đạt được là niềm vui, là khoái lạc, là hoan hỷ.
Đầu tiên nói cho mọi
người biết, niềm vui trong mắt Phật Bồ Tát là "Không" (rỗng không/hư
không). Bởi vì tất cả niềm vui của các con đều là tạm thời, đều không chắc chắn.
Lấy một ví dụ đơn giản: Hôm nay con tổ chức tiệc, con là nữ chủ nhân, con vui mừng
khôn xiết. Mọi người đều tặng quà, chúc mừng, ca ngợi con, nhưng vài tiếng sau
buổi tiệc kết thúc, con vẫn là chính con. Niềm vui đó đã đi đâu rồi? Có giữ lại
được không? Trong mắt Phật Bồ Tát, niềm vui ấy là Không, bởi vì tất cả mọi niềm
vui ở nhân gian đều là thứ hư không. Hôm nay con đi xem phim, con rất vui. Đợi
đến khi phim kết thúc, chẳng còn gì cả, tất cả đều là Không, tiếp theo đi kèm với
con là nỗi khổ thực thực tại tại. Trong mắt Phật Bồ Tát, tất cả niềm vui chốn
nhân gian đều là Không. Sư phụ hiện tại giảng cho các con đều là khái niệm.
Thứ hai, cái khổ trong
mắt Phật Bồ Tát cũng là Không. Một người ở nhân gian chịu bao nhiêu đau khổ, bị
người ta bắt nạt, bị người ta lừa gạt, hoặc cảm thấy tiền bạc không đủ, danh tiếng
không đủ, sức khỏe không tốt…, tất cả những nỗi khổ này trong mắt Phật Bồ Tát đều
được xem là Không. Bởi vì tất cả những thứ này đều là tạm thời. Con có khổ cả đời
không? Khổ đến bao giờ thì dứt? Đợi đến khi chết đi rồi không chừng con sẽ được
siêu thoát, siêu thoát khỏi lục đạo luân hồi. Con hôm nay 60 tuổi, 70 tuổi… con
đã khổ bao nhiêu năm nay, con nói xem những chuyện con từng khổ lúc còn trẻ bây
giờ còn không? Ví dụ hồi nhỏ con không cẩn thận bị gãy xương chân, lúc đó đau đớn
vô cùng, nhưng bây giờ con còn nhớ nỗi đau lúc đó không? Không nhớ nổi nữa, còn
cảm nhận được nỗi đau lúc đó không? Không cảm nhận được nữa. Cho nên Phật Bồ
Tát cho rằng niềm vui ở nhân gian là Không, khổ nạn ở nhân gian cũng là Không.
Sư phụ bây giờ chỉ giảng
cho các con một số khái niệm học Phật cơ bản, là để giúp các con giải quyết các
vấn đề trong cuộc sống. Tôi cảm thấy mỗi lần giảng cho các con về cảnh giới của
Phật Bồ Tát, không mấy người có thể nghe hiểu hoàn toàn, tôi chỉ có thể kéo Phật
pháp về với nhân gian để giảng cho các con, các con mới có thể hiểu, mới có thể
tiến bộ. Sư phụ đưa những bài giảng về cảnh giới của Nhị địa Bồ Tát, Tam địa Bồ
Tát lên blog trên mạng, rất nhiều cư dân mạng phản hồi là xem không hiểu lắm. Nếu
có thể thực sự nói ra chân lý của Phật Bồ Tát, có thể hóa giải oán khí trong
lòng mình, người đó chính là Bồ Tát. Sư phụ giảng cho các con về Khổ và Vui (Lạc),
là để các con xem chúng như những khái niệm tương đương, tức là Khổ chính là
Vui, Vui chính là Khổ. Bởi vì khi con quá vui sướng, thực tế sẽ kéo theo một loại
khổ. Hiểu không? Các con đều xem chương trình Xuân Vãn (Gala cuối năm), tại sao
đạo diễn luôn phải đưa vào chương trình vài cảnh thiên tai? Ví dụ, đột nhiên
nơi nào đó bị lụt, nơi nào đó động đất…, sau đó hướng về họ mặc niệm tri ân. Đó
là một trong những lý do tại sao không để cho cả chương trình đều chỉ toàn vui
vẻ.
Ở nhân gian, niềm vui của
con được xây dựng trên cơ sở nào? Rất nhiều cơ sở đều là cơ sở của cái khổ. Bởi
vì con có cái khổ làm nền, con mới biết thế nào là vui sướng. Người không hiểu
đau khổ, họ sẽ không hiểu được vui sướng. Nếu một đứa trẻ vừa sinh ra đã được
đãi ngộ như hoàng đế, chưa từng chịu bất cứ khổ cực nào, nó sẽ không biết thế
nào là vui sướng. Người từng nghèo khó đợi đến khi có tiền, họ sẽ cảm thấy vui
sướng biết bao. Cảm giác khổ và vui ở nhân gian là gì? Rất nhiều người tưởng
mình rất vui vẻ, cũng có nhiều người tưởng mình rất khổ. Ví dụ khi các con đi
du lịch, có vui không? Có. Nhưng khi các con ngồi xe hoặc lái xe đi du lịch, ngồi
xe 5, 6 tiếng đồng hồ, có đau khổ không? Ngồi đến mức toàn thân đau nhức, các
con nói có khổ không? Trong cái khổ nào mà không có niềm vui? Trong niềm vui
nào mà không có cái khổ? Tu tâm cũng như vậy, khi con chưa tu thành, sẽ cảm thấy
rất đau khổ; khi con một khi đã tu thành rồi, con sẽ cảm thấy rất vui sướng. Có
phải như vậy không? Lúc con niệm Kinh cảm thấy rất đau khổ, nhưng sau khi con
niệm Kinh xong, khó khăn và vấn đề của con được giải quyết, con nói xem con có
vui hay không?
Khi ở nhân gian mà chưa
ngộ đạo, tức là khi chưa cảm thấy vui vẻ, người đó mới có sự phân biệt khổ vui.
Nhưng một khi con thật sự ngộ ra đạo lý, con đã không còn phân biệt khổ vui nữa.
Sư phụ ở phần trước đã giảng cho các con chịu khổ chính là vui sướng, khi vui
sướng cũng đồng nghĩa với việc con đang chịu khổ, cho nên có câu "Trong khổ
có vui, niềm vui đó là vô cùng" (Khổ trung hữu lạc, kỳ lạc vô cùng). Chịu
khổ nhiều một chút, con mới biết niềm vui đến không dễ dàng. Con chịu khổ nhiều
một chút, con mới biết giá trị của sự ngọt ngào. Hôm nay con không niệm kinh,
con lấy đâu ra niềm vui? Cho nên phải nhìn nhận đúng đắn về cái khổ và cái vui
của bản thân, đó là một căn cơ rất quan trọng của việc học Phật.
Tiếp theo giảng thêm
cho mọi người vài câu: Khổ không phải là phải xem nó là Không sao? Thực tế gọi
là "Khổ Không", tức là khổ là hư không. Vui cũng là hư không, gọi là
"Lạc Không". Khổ là không, vui cũng là không. Con sống trên thế giới
này vốn dĩ đã là Không (hư không/ rỗng không), có gì mà đáng để vui mừng? Có gì
mà đáng để oán trách? Tất cả đau khổ hôm nay của con đều là Không, vậy con còn
oán trách cái gì? Niềm vui mang đến cho con hôm nay là tạm thời, con có gì mà
đáng để vui mừng? Cho nên trong Phật pháp nói, Khổ Không và Lạc Không đều chỉ
là hiện tượng mà thôi.
Tất cả niềm vui trên thế
gian đều là dục vọng của nhân gian. Vui cái gì chứ, chẳng phải là một chút dục
vọng đó của con sao, ăn uống vui vẻ, miệng tham khẩu phúc, đây gọi là Thực dục
(ham muốn ăn uống). Tài, Sắc, Danh, Thực, Thùy gọi là Ngũ dục. Tiền nhiều thì
vui, gọi là Tài dục. Vậy tiền ít thì không vui, cũng gọi là Tài dục, đây đều là
dục vọng. Muốn ăn ngon, chính là Thực dục đến rồi. Danh chính là tôi muốn làm
quan to, tôi muốn làm người nổi tiếng, đây chính là Danh dục. Sắc ở đây chỉ nam
nữ chi sắc, dục vọng này đến, con bắt đầu có Sắc dục. Ngủ (Thùy) cũng là có dục
vọng, có người không yêu tiền không yêu danh, chỉ yêu ngủ. Ngủ cũng là một loại
dục vọng, cái này cũng là không tốt, người suốt ngày muốn ngủ, không muốn động
đậy, chính là Tham – tham lam hưởng thụ, tham lam thân tâm mình được an ổn, cái
tham này khiến con sống trên thế giới này lãng phí rất nhiều thời gian quý báu
của bản thân. Bởi vì khi con ngủ, con có thể ngủ mất cả thời gian quý báu, thời
gian làm công đức, thời gian cứu độ chúng sinh. Về y học, người lớn tuổi buổi tối
ngủ đủ 6-7 tiếng là đủ rồi. Nếu một người lớn tuổi suốt ngày ngủ, thì gọi là
hôn trầm (ngủ mê). Sư phụ hiện tại giảng cho các con là Phật pháp, các con đừng
tưởng là đang giảng kiến thức y học. Tài, Sắc, Danh, Thực, Thùy, những cái này
đều là dục vọng của nhân gian. Niềm vui nhân gian cũng là một loại dục vọng, loại
dục vọng này hôm nay có thể có, ngày mai có thể không, mang lại cho các con đều
là niềm vui mang tính tạm thời. Những niềm vui này đều là niềm vui thế tục, mà
niềm vui thế tục đều mang tính tạm thời và hạn hẹp nhất định. Hạn hẹp là kiến
thức ngắn ngủi, tâm địa, khí lượng không rộng lớn. "Ếch ngồi đáy giếng"
chính là nói về sự hạn hẹp. Bởi vì ở dưới đáy giếng, người ta hỏi nó:
"Ngươi có nhìn thấy trời không?" Nó nói: "Thấy rồi, trời chính
là một cái lỗ tròn như thế này", cái này gọi là ếch ngồi đáy giếng. Các
con bây giờ học Phật học được cái gì? Phải học tấm lòng rộng lớn bao la như biển
khói của Phật, phải học trí tuệ của Phật. Sư phụ thường giảng cho các con phải
học trí tuệ của Phật Bồ Tát, mà các con không học được chân lý thực sự của Phật
Bồ Tát. Cho nên tôi bắt buộc phải dùng một chút kiến thức Phật học thông thường
để điểm hóa các con, để các con có thể thực sự hiểu rõ. Nếu không tôi giảng
hoài công, vô dụng.
Đầu tiên, người học Phật
phải giảm bớt niềm vui thế tục. Nghĩa là con ngủ ít đi một chút; đồ ngon ăn ít
đi một chút; đối với tình cảm nam nữ ít đi một chút, gọi là thanh tâm quả dục;
đối với danh lợi đạm bạc một chút, đừng theo đuổi danh lợi. Tiền tài đủ dùng là
được. Một người phải biết tiền tài là cái động không đáy, đồ ăn cũng là cái động
không đáy, có danh rồi còn muốn danh nữa, có quan rồi còn muốn làm quan to hơn
một chút… Những dục vọng này ngày nào có thể dừng lại? Hôm nay có người phụ nữ
(hoặc đàn ông) này, ngày mai lại nghĩ đến người phụ nữ (hoặc đàn ông) kia, loại
dục vọng này là sự bành trướng ác tính vĩnh viễn. Cho nên Phật Bồ Tát bảo chúng
ta học Phật trước tiên phải khống chế được dục vọng của con người, đừng có những
dục vọng thế tục này. Bởi vì sau khi con giảm bớt niềm vui thế tục, con mới có
thể có một loại cảm ứng, mới có thể cảm ứng được niềm vui trong lòng mình.
Thế nào là niềm vui
trong lòng? Chính là niềm vui phát ra từ nội tâm. Hôm nay tôi không tham cái việc
này nữa, trong lòng tôi tri túc thường lạc (biết đủ thường vui), trong lòng tôi
vui vẻ. Hôm nay được bầu làm chủ tịch gì đó cũng được, không được bầu cũng được,
tôi không sao cả, trong lòng yên ổn, lúc này mới là hạnh phúc vui vẻ thực sự.
Tôi hôm nay có tiền cũng được, không có tiền cũng được, tôi cứ tu tâm cho tốt
như vậy, thế thì con chính là một người học Phật có đáy lòng vô cùng vui vẻ. Phải
nhớ giảm bớt dục vọng, điều này vô cùng quan trọng. Chúng ta phải cảm ứng niềm
vui trong lòng. Thế nào là cảm ứng niềm vui trong lòng? Trong lòng con thêm một
chút vui vẻ, sau đó xác thịt của con, tinh thần của con, tất cả mọi thứ của
con, môi trường bên ngoài đều sẽ thay đổi theo. Tinh thần của một người chỉ khi
phát ra từ nội tâm thì đó mới là tinh thần. Nếu ngược lại thì là thần kinh. Người
trong lòng vui vẻ, đầu tiên là có thể cười được, đều là nụ cười phát ra từ nội
tâm. Tôi biết đủ rồi, tôi thường vui rồi, tôi không vướng bận gì rồi, tôi buông
bỏ được rồi. Mà trong ngũ dục này cho dù con buông được tiền tài, danh cũng
buông được, cho dù sắc con buông được, cho dù thực con buông được, con vẫn còn
một cái Thùy (ngủ) không buông được.
Rất nhiều người chính
là thích ngủ, ngủ cũng là không tốt, các con có hiểu không? Ngủ quá giờ người sẽ
hôn trầm đấy. Các con nếu không tin, ở nhà ngủ liên tục 5 ngày, sau khi dậy con
đến Đông Tây Nam Bắc cũng không nhận ra nữa (không tìm thấy phương hướng), có
thể cái gì cũng không nhớ nổi. Đây cũng là một cái khổ đấy. Ngủ cũng là dục vọng,
dục vọng này cũng phải loại bỏ đi. Cứ muốn ngủ, thế thời gian đâu mà niệm Kinh?
Cứ muốn ngủ, thời gian đâu mà cứu độ người? Phải nhớ rằng, người quá tham chấp
vào ngũ dục sẽ không nghĩ đến việc tu tâm cho tốt đâu. Con ngày ngày bận rộn
tham những dục vọng này, con nói xem có thể có tâm thái tốt để tu tâm không? Phải
nhớ con người phải tự kỷ luật. Thế nào là tự kỷ luật? Chính là bản thân phải biết
nghiêm khắc với chính mình. Rất nhiều người đều cho rằng mình làm những việc
này ở nhân gian không có làm sai. Đúng, con không sai, bởi vì con là con người.
Tôi bây giờ muốn biến các con thành Bồ Tát. Yêu cầu của bản thân các con chưa đủ,
hoàn toàn chưa đủ, phải nỗ lực làm công đức. Lấy một ví dụ đơn giản: Khi con
đang leo núi có phải cần tăng tốc nỗ lực không? Đã tăng tốc nỗ lực rồi, nhưng vẫn
cảm thấy rất chậm, đây chính là đạo lý. Con không tiến lên, xem xem bản thân có
bị thụt lùi không? Đây chính là "không tiến ắt lùi". Người học Phật
đã bước lên con đường này, nếu không tiến về phía trước chính là đang lùi lại.
Người quá tham chấp niềm
vui thế tục, họ không có thời gian để tu tâm. Các con đối với yêu cầu của bản
thân nhất định phải cao, không được có bất kỳ tham niệm nào. Sinh mệnh là hữu hạn,
tinh thần cũng là hữu hạn, chỉ có biến những sinh mệnh hữu hạn này hòa vào
trong việc độ người vô hạn thì sinh mệnh của con mới là vô hạn. Lấy cho các con
một ví dụ đơn giản sẽ hiểu: Một cô giáo nhà trẻ tuổi đã rất cao, nhưng khi cô
nhìn thấy bọn trẻ, khi chơi cùng bọn trẻ, cô sẽ không cảm thấy mệt, chỉ thấy
vui vẻ. Đây chính là cô ấy dùng sinh mệnh tuổi già hữu hạn hóa thành tâm hồn trẻ
thơ giống như bọn trẻ, lúc đó thời gian của cô ấy không cảm thấy rất dài. Chúng
ta bây giờ học Bồ Tát cứu người, sinh mệnh của con sẽ tự động kéo dài. Sư phụ
bình thường nói các con chính là tốt cho các con, giống như phụ huynh đối với
con cái vậy, không nói các con là không tốt với các con, không có trách nhiệm với
các con.
Nếu không có ai nói các
con, các con học Phật thế nào? Con lạy Quan Thế Âm Bồ Tát, các con có thể ngộ
ra được không? Quan Thế Âm Bồ Tát hiện tại chính là dùng Sư phụ ở nhân gian để
nói cho các con biết, dạy các con tu tâm tu hành như thế nào. Cho nên người
tham đồ niềm vui thế tục, hoàn toàn không có thời gian để tu hành, vậy tại sao
chúng ta phải khổ tu hành? Chúng ta không thể tu hành một cách vui vẻ sao? Khổ
tu hành chính là để thúc đẩy con bước vào con đường tu hành, bởi vì con biết khổ
rồi, bởi vì con tiết chế rồi, con mới tìm thấy ánh sáng, mới tìm thấy phương hướng.
Lấy một ví dụ đơn giản: Rất nhiều người uống rượu trong quán bar, uống say rồi
có vui không? Cười ha ha. Vừa ra khỏi quán bar, đường ở đâu nhỉ? Không tìm thấy
phương hướng rồi, không tìm thấy đường về nhà rồi, đúng không? Nếu trong quán
bar không uống bao nhiêu rượu, bản thân tiết chế rồi, đầu óc tỉnh táo bước ra,
sẽ biết mình đang ở đâu, biết mình nên đi về đâu. Uống rượu quá đà, vui quá mức
rồi, sẽ không tìm thấy con đường của mình nữa.
7. Tiết chế dục vọng,
nhẫn điều người không thể nhẫn
Tại sao chúng ta phải
khổ tu hành? Bởi vì khổ tu hành có thể nâng cao cảnh giới của con, khiến cảnh
giới của con ngày càng thăng tiến. Miệng các con nói nâng cao cảnh giới, vậy cảnh
giới nâng cao như thế nào? Thế nào gọi là cảnh giới? Cảnh giới là không nhìn thấy,
không sờ được, giống như một số người vừa mới đến nước Úc không có cảnh giới,
vào nhà vệ sinh công cộng lấy giấy vệ sinh của người ta mang về nhà, đổ xăng
xong không trả tiền rồi bỏ đi, khạc nhổ bừa bãi…, cái này gọi là không có cảnh
giới. Ở Úc thời gian lâu rồi, cảnh giới tự nhiên nâng cao theo. Bây giờ còn lấy
giấy vệ sinh của người ta không? Đổ xăng không trả tiền không? Còn khạc nhổ bừa
bãi không? Cái này gọi là cảnh giới không nhìn thấy, bởi vì họ biết bảo vệ vệ
sinh môi trường là trách nhiệm của mỗi người, cho nên cảnh giới của họ theo sự
thay đổi của môi trường tự nhiên cũng nâng cao lên. Nơi sạch sẽ thế này không
ai khạc nhổ bừa bãi, con tự nhiên sẽ không khạc nhổ bừa bãi, đây gọi là cảnh giới.
Bởi vì các con biết, hiện nay có rất nhiều người đang chịu khổ, chúng ta bắt buộc
phải cứu độ họ. Khi cái cảnh giới này của con nâng cao rồi, con mới có cảnh giới
của Bồ Tát. Đạo lý rất đơn giản. Nhưng bắt buộc phải nâng cao cảnh giới của bản
thân trước. Đừng để tâm đến bất kỳ sự hưởng thụ vật chất nào. Hôm nay lái xe tốt
rồi, còn muốn tốt hơn nữa; hôm nay có cái ăn rồi, còn muốn có nhiều hơn; hôm
nay ngủ rồi, còn muốn ngủ thêm một lát. Rất nhiều người khi bò dậy không nổi,
nghĩ rằng có thể nằm thêm một lát thì tốt biết bao. Những cái này đều thuộc về
tham dục.
Thời gian vui vẻ trôi
qua nhanh, thời gian khổ cực trôi qua chậm, đây là lý do tại sao thời gian ở địa
phủ trôi qua chậm, còn thời gian trên trời trôi qua nhanh. Kỳ thực nhân gian
cũng có thiên đường và địa ngục. Người bị nhốt trong tù, ngày ngày sống một
ngày bằng một năm. Còn người ngày ngày vui vẻ, ăn uống vui chơi, thời gian của
họ trôi qua nhanh, đây chính là thiên đường và địa ngục ở nhân gian. Khổ tu
hành thực tế nói đến một vấn đề quan trọng chính là ước thúc (kiềm chế/ràng buộc)
bản thân. Khổ tu hành chính là phải ước thúc bản thân lại, khiến tinh thần mình
có thể chuyên nhất. Giống như hôm nay tôi là một học sinh ở nhà làm bài tập,
tôi vì để thi đỗ đại học đã tự trói buộc mình lại. Sự trói buộc này là đóng cửa
lại, mang tivi ra ngoài, tắt máy chơi game, cắt đứt tất cả điện thoại, mục đích
là để bản thân học tập được chuyên nhất, tinh thần được tập trung. Sư phụ kể
cho các con một câu chuyện có thật: Có một người vì để con mình thi đỗ trường đại
học tốt nhất Sydney, ông ấy 4 năm không xem tivi, chỉ đọc báo. Ông ấy cất hết
tivi trong nhà đi, ai cũng không được phép xem tivi, cái này gọi là ước thúc bản
thân. Các con đi theo Sư phụ học Phật, Sư phụ có cần ước thúc các con không? Nếu
Sư phụ không ước thúc các con, các con sẽ nhìn ngó lung tung, tư tưởng sẽ không
chuyên nhất, sẽ không thể "nhất môn tinh tấn" (chuyên tâm vào một
pháp môn) tu học. Ước thúc bản thân khiến tinh thần mình chuyên nhất mới có thể
đạt được Định, nghĩa là người có thể ước thúc bản thân, người này mới có thể đạt
được Định lực. "Tôi muốn học Phật, tôi phải ước thúc bản thân, tôi không
được nhìn lung tung, không được nghĩ lung tung, không được nói lung tung, không
được có tạp niệm, cầu xin Quan Thế Âm Bồ Tát giúp con xua đuổi tạp niệm của
con." Quan Thế Âm Bồ Tát nhất định sẽ giúp con. Phải nhớ: Ước thúc bản
thân khổ tu hành chính là đắc được trí tuệ Như Lai, chính là đắc được trí tuệ của
Phật Bồ Tát. Khi một người định lại được mới có thể nảy sinh trí tuệ.
Bất cứ lúc nào cũng phải
ước thúc bản thân. Con là Bồ Tát, con là có hình tượng, cười cũng không được cười
loạn. Phải học cách khắc chế bản thân, đó mới gọi là ước thúc bản thân, đó mới
gọi là học Phật. Con người phải có tôn nghiêm, ước thúc là vô cùng quan trọng,
định lực chính là dựa vào ước thúc mà có được, muốn làm không được làm bừa, muốn
ăn không được ăn bừa. Đi theo Sư phụ học Phật pháp chính là phải ước thúc bản
thân, muốn tu thành chính quả thì phải ước thúc bản thân, khắc chế bản thân, mới
có thể mang lại niềm Pháp hỷ trong tâm. Bởi vì sau khi con khắc chế rồi, niềm
vui đó là niềm vui từ nội tâm, chứ không phải là niềm vui kiểu bắt mắt bề
ngoài. Ví dụ con ăn được món gì đó, niềm vui đó là tạm thời, bởi vì chỉ ở nơi mấy
tấc ống họng này, khi ăn vào thì có cảm giác, nuốt xuống rồi thì không còn cảm
giác nữa, đúng không nào? Vậy con chỉ vì mấy tấc ống họng, con hưởng thụ, niềm
vui này có ý nghĩa gì chứ? Trong lòng vui vẻ rồi, gọi là Tĩnh An vui vẻ (vui vẻ
trong sự yên tĩnh, bình an), bởi vì tâm rất yên tĩnh, rất bình an, niềm vui đó
có thể duy trì được một thời gian nhất định. Phải học những thứ này. Sư phụ hôm
nay xứng đáng với Quan Thế Âm Bồ Tát. Người trên toàn thế giới chỉ cần gọi Sư
phụ là Bồ Tát, thì Sư phụ chính là làm đúng, tôi đã xứng đáng với Quan Thế Âm Bồ
Tát rồi. Nếu người trên toàn thế giới đều đang mắng tôi, thì tôi chính là làm
sai rồi. Sư phụ bây giờ bỏ ra là sinh mệnh, đổi lại mọi người sùng kính Bồ Tát,
yêu Quan Thế Âm Bồ Tát, là đang cứu người.
Chúng ta tu là Lạc hạnh.
Thế nào là Lạc hạnh? Chính là sự tu hành vui vẻ. Chúng ta bắt buộc phải dùng niềm
vui để tu hành, tu hành vui vẻ người ngoài nhìn chúng ta là khổ tu hành, thực tế
bản thân chúng ta rất vui vẻ, đó mới là Lạc tu, Lạc hạnh. Hôm nay khi con giúp
đỡ người khác, có vui không? Giống như có người nói với tôi: "Lư Đài trưởng,
ông ăn chay bao nhiêu năm nay, ông khổ quá, ông đến hải sản cũng không được ăn,
ông uổng công đến nhân gian sống một lần." Các con nói tôi sống có vui
không? Đương nhiên vui rồi. Người ta nói tôi gầy, tôi còn nói đây là vẻ đẹp khỏe
mạnh đấy, người ta muốn gầy còn không gầy được đây này. Chúng ta sống rất vui vẻ,
người ta nhìn chúng ta không quan trọng, quan trọng là bản thân cảm thấy vui vẻ
đó mới là vui vẻ, hiểu chưa? Cứu độ chúng sinh là việc vui vẻ nhất, là việc vĩ
đại nhất. Hôm nay có thể cứu được mạng một người, đó là "Thắng tạo thất cấp
phù đồ" (hơn xây tòa tháp 7 tầng). Phải sống có ý nghĩa, khi sống người ta
tôn trọng con, sùng bái con; sau khi chết người ta tưởng niệm con.
Năm loại dục vọng trên
thế giới chúng ta phải có thể khống chế, có thể tiết chế, tu hành một cách có
quy luật, chúng ta chính là Lạc hạnh (hạnh vui). Năm loại dục vọng mọi người đều
biết, phía trước đã giảng rồi. Chúng ta đừng tham danh lợi, chúng ta phải tiết
chế nó, khống chế nó. Ví dụ tôi rõ ràng không được ăn mặn (thịt cá), nhưng tôi
không khống chế được, thế thì tôi tiết chế, ăn ít đi một chút. Không được nữa
thì chúng ta có quy luật để khống chế nó, có quy luật chính là có tiết chế để
khống chế nó. Để bản thân cố gắng mùng 1, hôm rằm ăn chay, đây chính là tiết chế
có quy luật, khống chế bản thân hai ngày này ăn chay, sau đó tôi 10 ngày ăn
chay, lại nữa tôi một tháng ăn chay, cuối cùng có thể ăn chay trường (toàn
chay) rồi. Tu tâm tự nhiên mà đến, chính là tu tâm đến rất tự nhiên. Tôi rất tự
nhiên chấp nhận rồi, như ăn chay, rất tự nhiên tiết chế được tham dục, thực dục...
của bản thân, đây gọi là Lạc hạnh, chính là hành vi vui vẻ, sự tu hành vui vẻ.
Mỗi ngày ngủ tự nhiên tỉnh
dậy, có thoải mái không? Nếu ngủ mà không tự nhiên tỉnh, đồng hồ báo thức vừa
reo, con có khó chịu không? Tu tâm chính là phải tu những thứ tự nhiên. Đối với
người cũng phải như vậy, phải tự nhiên. Ăn chay cũng phải tự nhiên. Tôi không
tham tiền, tôi cũng rất tự nhiên. Tôi không tham ngủ, tôi cũng rất tự nhiên. Đó
mới gọi là tu tâm, đó mới gọi là dưỡng tính. Người không biết còn tưởng Sư phụ
đang giảng cho các con về đạo dưỡng sinh, kỳ thực tu tâm và đạo dưỡng sinh là
giống nhau. Người tu tâm sống thọ đấy, cái sống thọ này là nói ở dương gian
(nhân gian). Nếu đối với ngũ dục lục trần trên thế giới con không chui vào
trong đó, con sẽ sống thọ. Thường nói: Sau bữa cơm đi trăm bước, sống đến chín
mươi chín. Đây đều là đạo dưỡng sinh. Gặp chuyện không giận, nói đến cũng là đạo
dưỡng sinh vậy. Cho nên chúng ta phải theo đuổi niềm vui trên tinh thần, chứ
không phải niềm vui trên xác thịt. Niềm vui trên xác thịt rất nhanh sẽ kết
thúc, còn niềm vui trên tinh thần là vĩnh viễn. Chúng ta theo đuổi là một loại
tình yêu trên tinh thần, chứ không phải trên xác thịt, không phải sự ngắn ngủi
của nhân gian, càng không phải một loại tình yêu mang theo nỗi khổ.
Niềm vui thực sự ở đâu?
Phải hiểu niềm vui thực sự nằm trong tinh thần của con người, bởi vì tinh thần
của con thỏa mãn rồi, con sẽ có niềm vui. Tất cả đau khổ của con chính là vì
tinh thần của con không thỏa mãn, mới mang lại đau khổ. Phải tự nhiên nảy sinh
niềm vui, một người khi "khí" rất đầy đủ sẽ nảy sinh niềm vui. Khí đủ
chính là vì tôi rất sạch sẽ, vì tôi rất vui vẻ, cho nên tôi khí đủ. Người này
khi khí đủ, sẽ không bị bệnh, sẽ rất vui vẻ. Các con đi nghe thử xem, giọng nói
của người bệnh đều là hữu khí vô lực (thều thào), khí không đủ nữa. Khí không đủ
là do đâu mà ra? Chính là vì đau khổ, nghĩ không thông, khí sẽ không đủ. Cho
nên người học Phật phải biết làm cho khí đầy đủ. Khí đủ mang lại sự vui vẻ trên
tinh thần, chính là cảm giác hoan khoái, bởi vì khí đủ là một biểu hiện bên
trong. Sư phụ giảng cho các con nghe: Hình thức biểu hiện bên trong của nó là
"Khinh An" (nhẹ nhàng an ổn). Vừa rồi giảng cho các con một cái gọi
là Tĩnh An, bây giờ giảng cho các con một cái gọi là Khinh An, chính là khi một
người rất vui vẻ, họ là một loại khinh an, chính là nhẹ nhõm, không có phiền
não thì nhẹ nhõm rồi. Miệng sao lại ngâm nga điệu hát nhỏ? Chính là vì không có
phiền não rồi, vui vẻ mà.
Người không biết chữ
không sao cả, nhưng không thể không hiểu đạo lý, không hiểu đạo lý người này sống
uổng phí rồi, cho nên, niềm vui của người thế tục là dựa vào tiếp xúc, còn người
tu hành là dựa vào sự biết đủ của nội tâm. Chúng ta là người tu hành, trong
lòng biết đủ rồi thì sẽ rất vui vẻ; trong lòng không biết đủ thì cảm thấy rất
khó chịu, rất khổ.
Tiếp theo giảng cho mọi
người một chữ "Thông", chúng ta thường nói phải nghĩ cho thông, thế
nào là nghĩ thông? Nghĩ không thông? Thông là do con nghĩ, chuyện gì cũng là do
con nghĩ, cuối cùng là một chữ Thông. Con đi mà nghĩ, nếu phía sau con không có
chữ Thông này, con là đang nghĩ, mãi mãi là con đang nghĩ. Chữ
"Thông" chính là con nghĩ thông rồi. Thế nào là Thông? Thông kinh lạc.
Đầu óc con thông rồi, tâm thông rồi, thân thể cũng thông rồi, cái vận trình (vận
may) của con cũng sẽ tốt. Người nghĩ thông suốt sẽ không sinh bệnh, bởi vì khí
mạch của họ đã thông rồi (toàn bộ mở ra rồi).
Nói cho mọi người biết
phải triệt để nhận biết chính mình, một người phải triệt để nhận biết chính
mình. Rất nhiều người không nhận biết mình, còn tưởng mình rất giỏi, ghê gớm lắm,
"Tôi chính là cái dạng này đấy", con là ai chứ? Phải triệt để nhận biết
chính mình, thực tế chính là nhận biết Phật Bồ Tát. Bởi vì khi con thực sự hiểu
rõ bản tính của mình, hiểu rõ cái gốc nguyên thủy nhất của con, con chính là nhận
biết Phật Bồ Tát.
Người thường trách cứ bản
thân, thường sẽ nhận được sự lượng thứ của người khác. "Ái chà, tôi làm
sai rồi, xin lỗi nhé." Người ta sẽ tha thứ cho con. "Tôi không sai,
tôi chính là như vậy đấy." Ai tha thứ cho con? Nếu không hiểu rõ bản thân,
lại thường đi trách cứ người khác, cuối cùng làm cho bản thân đau khổ không chịu
nổi, bản thân cũng không biết mình làm đúng hay không. Thường nói người này
không tốt, người kia không tốt, cuối cùng mọi người đều nói con không tốt, làm
cho bản thân đau khổ không chịu nổi. Đừng đi nói người ta, nói người ta nhất định
sẽ nói đến mình, kết quả bản thân sẽ rất đau khổ. Con sao lại bị người ta nói?
Chính là miệng con nói người ta, người ta mới nói con, đây là đạo lý tối thiểu ở
nhân gian, cũng là Phật lý. Một người thực sự làm người làm đến mức thường
trách cứ bản thân, tha thứ cho người khác, người này chính là Bồ Tát.
Nhẫn điều người khác
không thể nhẫn, làm điều người khác không thể làm, trong Phật pháp gọi là
"Đại Hùng" (Đại Hùng Bửu Điện). Người ta không thể làm tôi đi làm;
người ta nói tôi, tôi không thể dung nhẫn tôi nhất định phải dung nhẫn. Rất nhiều
ngôi chùa đều có "Đại Hùng Bảo Điện", bên trong đều có rất nhiều Phật
Bồ Tát, một điểm cơ bản của Phật Bồ Tát là gì? Chính là nhẫn điều người khác
không thể nhẫn, làm (hành) điều người khác không thể làm. Con người sau khi học
Phật, nếu con tránh xa được thói xấu, không đi làm việc xấu, không đi động não
xấu, con sẽ đến gần với hạnh phúc. Con muốn hạnh phúc không? Con muốn ngày càng
tốt đẹp không? Vậy hãy sửa bỏ thói xấu trên người con, con sẽ hạnh phúc.
Phật Bồ Tát chính là
chúng sinh đã giác ngộ. Bởi vì chúng sinh này sau khi giác ngộ rồi, con liền biến
thành Phật Bồ Tát, còn chúng sinh chính là Bồ Tát vẫn chưa giác ngộ. Các con có
phải là chúng sinh không? Trong tâm các con có Phật không? Trong tâm các con có
Bồ Tát không? Nhưng các con chưa giác ngộ, cho nên các con không thể được gọi
là Bồ Tát, chỉ có thể gọi là phàm nhân.
Người tâm lượng hẹp hòi
phiền não nhiều. Khí lượng càng nhỏ, phiền não càng nhiều. Người tâm lượng rộng
lớn, trí tuệ vô cùng phong nhiêu (dồi dào). Nghĩa là khi một người có khí lượng
rất lớn, người này là vô cùng có trí tuệ. Có người thích cãi nhau, đối phương
không cãi với con, người này chính là người có trí tuệ, tâm lượng lớn. Nếu hùa
theo cùng cãi nhau, vậy người này cũng là tiểu nhân. Nếu hai vợ chồng cùng cãi
nhau, vậy cả hai đều là tiểu nhân.
Phật Bồ Tát nói:
"Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý" (Không làm các
việc ác, làm tất cả việc thiện, tự làm sạch ý mình). Tất cả điều thiện tôi đều
đi làm, tất cả điều ác tôi toàn bộ không làm, phải đem tất cả ý niệm của mình
chuyển biến thật tốt thành ý niệm sạch sẽ, đó mới gọi là Bồ Tát. Nếu người người
đều có thể tích cực hành thiện, không làm việc ác, nhân gian đâu còn tà ác?
Nhân gian sẽ nơi nơi đều tràn ngập tình yêu thương và niềm vui.
Người ngu si cứ luôn muốn
người khác đến hiểu mình. Đây chính là người ngu si. "Anh biết không? Tôi
rất tốt, tôi trước đây thế này thế nọ..." Chỉ có người ngu si mới làm như
vậy, nói như vậy. Người ngu si luôn muốn người ta hiểu mình; còn người có trí
tuệ luôn nỗ lực hiểu chính mình. Người thường xuyên hiểu chính mình mới là một
người có trí tuệ, bởi vì khi họ hiểu chính mình, họ sẽ biết mình nên làm thế nào,
họ sẽ biết tất cả những gì mình làm là đúng hay sai, đây chính là người có trí
tuệ. Người không có trí tuệ ngốc nghếch, luôn muốn người ta đến hiểu mình. Có bản
lĩnh thì tự hiểu chính mình, hiểu mình cho rõ ràng. Tưởng rằng mình rất thông
minh, chạy ra ngoài nói với người ta không ngừng. Trên đời này không có ai ngốc
hơn con đâu, con nói ra, con chính là người ngu xuẩn nhất thế gian này, Bồ Tát
sẽ không cần một người không chịu thừa nhận lỗi lầm của mình, mà tạo ra nhân quả.
Nhân quả là đảm đương, gánh chịu, cho nên học Phật phải học yếu lĩnh, học tinh
thần.
8. Khai mở Căn bản
trí, phá Vô minh phiền não
Tu tâm tu Phật, thật
không dễ dàng. Tu tâm như thế nào đây? Hành vi của mình sửa đổi như thế nào
đây? Tu tâm, chính là sửa đổi những thói hư tật xấu trong lòng mình. Tu hành,
chính là sửa đổi hành vi của mình. Hành vi của rất nhiều người trong chúng ta đều
rất tệ, rất nhiều người những thứ nghĩ trong lòng đều rất bẩn thỉu. Vậy làm sao
để tu? Đầu tiên tu tâm phải có lòng tin, nếu một người tu tâm ngay cả lòng tin
cũng không có, sẽ không có hiệu quả. Con ngày ngày đang niệm Kinh, ngày ngày
đang cầu Quan Thế Âm Bồ Tát, nếu còn đang nghĩ: Mình có làm được không, có linh
không, có gặp ma chướng không, sẽ thế nào đây. Sư phụ nói cho các con biết, như
vậy là tu không tốt đâu. Rất nhiều người tu đến bây giờ không linh nghiệm chính
là đạo lý này. Không có gì để nói cả. Một người không thể khống chế dục vọng của
mình, không thể khống chế một số suy nghĩ của mình, rất đơn giản, người này gọi
là chưa tu.
Tu tâm là gì? Tu tâm
chính là đào sâu vào bản tính nguyên thủy nhất trong lòng mình, và lau rửa nó
thật sạch sẽ. Mọi người nhất định phải hiểu một đạo lý: Chúng ta làm người cũng
vậy, làm việc cũng vậy, thường nói một câu là "làm việc bằng lương
tâm". Vậy lương tâm của con ở đâu? Tại sao lương tâm của một số người lại
xấu như vậy, còn lương tâm của một số người lại rất tốt? Chính là cái lương
tâm, lương tri, bản tính này của con đã bị bụi trần thế gian phá hoại rồi. Con
đã không phải là bản tính vốn có của con nữa rồi.
Hôm nay giảng cho mọi
người "Căn bản trí". Một người phải đào sâu trí tuệ của họ từ căn bản,
gọi là Căn bản trí. Căn bản trí chính là trí tuệ Bát Nhã. Bởi vì chỉ có tự mình
biết đã hoàn toàn khai thác được trí tuệ nơi sâu nhất của mình chưa? Đó là trí
tuệ của Bồ Tát, con mới có thể đoạn Vô minh phiền não. Phiền não là gì? Bồ Tát
nói "Phiền não tức Bồ đề". Con chỉ có dùng trí tuệ của con để hóa giải
phiền não, phiền não liền trở thành Bồ đề. Rất nhiều người miệng rất biết nói,
họ có thể giải thích vạn vật thế giới, hiện tượng vạn hữu, cái này cũng nói được,
cái kia cũng nói được, người này có phải là trí tuệ Bát Nhã không? Hoàn toàn
không. Đây gọi là "Hậu đắc trí" (trí tuệ có được về sau). Nghĩa là sự
việc này đã tồn tại rồi, họ mới biết, trí tuệ này gọi là Hậu đắc trí. Hậu đắc
trí cũng là không dễ dàng. Giống như trong "Tam Quốc Diễn Nghĩa" nói,
Gia Cát Lượng là chưa bói đã biết, Tào Tháo là sau sự việc mới biết, đây chính
là trí tuệ khác nhau. Một người là có thể dự đoán, một người là thời gian sắp đến
rồi mới có cảm giác. Hậu đắc trí là từ Căn bản trí sinh ra, chính là trí tuệ tỏa
ra từ thiện linh nguyên thủy, từ bản tính căn bản nhất nguyên thủy.
Thực tế, theo đuổi Bát
Nhã chính là một tác dụng của trí tuệ tuyệt đỉnh, hơn nữa sau khi có trí tuệ
Bát Nhã con là không gì không thể, vấn đề gì cũng đều có thể được giải quyết.
Hai chữ "Trí tuệ", thực tế là vô tri (đối với người phàm). Bởi vì cái
họ theo đuổi là loại trí tuệ của nhân gian, cái họ hưởng thụ và cái họ đạt được
là trí tuệ nhân gian. Bởi vì trí tuệ nhân gian là hữu hạn, chỉ có trí tuệ tỏa
ra từ bản tính con người mới là vô hạn. Trí tuệ nhân gian là bị người ta theo
đuổi mà ra, rất nhiều người theo đuổi thông minh, theo đuổi trí tuệ, tưởng rằng
cái thông minh này, cái trí tuệ này đối với họ rất quan trọng. Thế nào là thông
minh? Thế nào là trí tuệ? Sư phụ thường nói với các con: "Thông minh không
đại diện cho việc có trí tuệ, trong trí tuệ nhất định bao hàm thông minh."
Nhưng trí tuệ này vẫn có đẳng cấp, nó không phải là cảnh giới cao nhất, trí tuệ
thực sự gọi là trí tuệ Bát Nhã. Trí tuệ nhân gian là trí tuệ của người bình thường,
không phải là trí tuệ cao nhất.
Các con tu tâm giống
như theo đuổi ánh mặt trời vậy, chỉ cần men theo phương hướng chính xác đuổi
theo ánh mặt trời, cả đời này con sẽ không nhìn thấy bóng tối. Bởi vì cái con
đuổi theo là ánh mặt trời, đó là quang minh, đó là đại đạo. Nếu con đuổi theo
bóng tối, thì con sẽ mãi mãi không nhìn thấy ánh mặt trời. Khi một người tu
tâm, tu pháp, tu Phật đi sai đường, họ sẽ mãi mãi không nhìn thấy những thứ tu
tâm chính xác, quang minh.
Phải thường xuyên nhìn
sâu vào tâm của mình. Phải nhìn thấy tâm của mình, thực tế chính là nhìn thấy
tư duy của mình. Bởi vì tâm con nghĩ rồi, tư duy của con mới xuất hiện. Ví dụ
hôm nay tôi muốn đi làm một việc, con xem xem mình nghĩ có đúng không, làm có
đúng không. "Tôi rất hận người này", con phải xem xem bản thân tại
sao hận họ, tôi tại sao phải đối xử không tốt với họ. Đây chính là đang dùng
lương tâm để cân bằng. Nhìn sâu vào tâm mình, chính là phải nhìn thấy bản tính của
tâm con, sau đó phát giác mọi kỳ tích sẽ xuất hiện trên người con. Nhìn tâm con
một cách bình thường, không có kỳ tích sẽ xảy ra, nhìn vào chỗ sâu kỳ tích liền
xảy ra. Lấy ví dụ: Khi người ta cãi nhau rất hận người ta. Không dùng tâm sâu để
nhìn, tôi đơn thuần nhìn cái tâm này của mình, vừa nhìn: "Người này lừa tiền
tôi, tôi tức giận rồi, tôi rất hận hắn, ngày mai tôi phải đi kiện hắn. Hắn lại
dám lừa tiền của tôi, hắn lại dám làm hại tôi như vậy." Nhưng nếu con nhìn
vào tâm sâu, sau khi nhìn thấy bản tính của mình, sẽ nghĩ: "Thôi bỏ đi, chẳng
phải chỉ là mấy ngàn đồng sao, người này cũng khá đáng thương. Hôm nay hắn lừa
tôi, sau này hắn sẽ có báo ứng. Hơn nữa là vì nhà hắn bây giờ nghèo như vậy, hắn
mới ra ngoài lừa tiền. Bất kể thế nào, tôi bị hắn lừa tôi vẫn có thể sống, hắn
tiếp tục như vậy, sẽ có một ngày bị người ta bắt lại. Thôi bỏ đi, loại người
này cũng thật đáng thương, coi như của đi thay người (tiêu tai) vậy." Nhìn
thấy bản tính của con chưa? Kỳ tích xuất hiện chưa? Con lại có thể tha thứ cho một
người không tốt với con, con lại có thể tha thứ cho một người lừa con và làm hại
con. Đây gọi là kỳ tích. Thường xuyên nhìn xem những thứ tiềm ẩn nhất nơi sâu
thẳm nội tâm mình, con sẽ hiểu, con phải tha thứ cho người này.
Con người phải làm việc
bằng lương tâm. Thường xuyên nhìn trộm vào nội tâm của mình một chút, con sẽ
phát hiện, rất nhiều kỳ tích sẽ xảy ra. Rõ ràng họ không tốt với tôi, tôi tốt với
họ. Họ hận tôi như vậy, tôi cũng tốt với họ. Rất nhiều lúc, ví tiền của vợ bị
người ta trộm mất, đàn ông nếu keo kiệt sẽ lải nhải không ngừng. Nếu con dùng bản
tính, lương tâm của mình nghĩ một chút: Tiền của vợ bị trộm, cô ấy còn buồn hơn
tôi nữa, cô ấy không biết buồn sao? Nếu lúc đó cho cô ấy một chút an ủi thì tốt
biết bao. Đây chính là làm người lúc bình thường. Con muốn một người thật lòng
tốt với con, con phải bỏ ra chân tâm tốt với người ta. Tại sao con phải khiến
người đã làm sai chuyện càng thêm buồn bã? Học Phật chính là đừng khiến người
ta quá buồn bã. Khiến người ta đau lại càng thêm đau, thì không phải là Bồ Tát
nữa.
Hôm nay có hẹn một cặp
vợ chồng đến, người chồng ngày nào cũng mắng vợ. Đài trưởng nói con gái ông ấy
rất đáng thương, con gái khóc rồi. Đài trưởng nói với người chồng đó, một người
phụ nữ gả cho ông không dễ dàng gì. Nhà họ sao lại xuất hiện những mâu thuẫn
này? Đã xui xẻo hai năm rồi. Nguyên nhân là vì đụng xe, sau đó đi bệnh viện
khám bệnh, bác sĩ nói có thể giúp ông ấy tìm người kiện tụng, có thể đòi bồi
thường bao nhiêu đó. Ông ấy nhất niệm tham tâm khởi lên, vợ ông ấy đã sắp bị trầm
cảm rồi. Luật sư bây giờ nói với ông ấy, "Tốt, vì bà ấy đã bị trầm cảm rồi,
có thể cùng nhau đòi bồi thường." Con người không thể tham lam. Đài trưởng
nói với người chồng đó, ông có tiền hay không có tiền tự ông biết. Vợ ông là một
bác sĩ chuyên khoa, hai năm có thể kiếm bao nhiêu tiền, cuối cùng ông thắng rồi,
tiền cũng toàn bộ vào vụ kiện tụng. Đài trưởng nói như vậy, trong lòng họ hoàn
toàn hiểu ra. Đài trưởng hỏi họ, nếu không kiện tụng các vị sẽ tổn thất gì? Họ
nói cái gì cũng không tổn thất. Đài trưởng bảo họ từ hôm nay bắt đầu đừng kiện
tụng nữa, từ hôm nay bắt đầu là giải phóng rồi, không phiền não nữa. Đài trưởng
chính là cứu người như vậy đấy. Hai vợ chồng khi rời đi rất vui vẻ. Bởi vì khi
họ kiện tụng cần phải kiểm tra sức khỏe, bác sĩ không ngừng bắt họ kể lại quá
trình, kể đến là tức giận, họ về mặt tinh thần đã không chịu nổi nữa rồi.
Sư phụ nói cho các con
biết, phải nhìn về phía trước, chỉ có vạch mây mù mới thấy trời xanh. Rất nhiều
người bị mây mù che phủ, mãi mãi không nhìn thấy trời xanh. Học Phật trong cuộc
sống, mãi mãi phải vạch mây mù. Miệng phụ nữ đừng có lải nhải không ngừng, nói
quá nhiều giống như một con thuyền bị rò nước. Người ta ngồi trên thuyền của bà
kết bạn với bà, nhìn thấy nước ngày nào cũng rò rỉ, con thuyền đó sớm muộn gì
cũng chìm, người ta đều sẽ bỏ chạy hết. Cho nên người miệng mồm lải nhải không
ngừng, người ta mãi mãi sẽ không làm bạn tốt với con đâu. Đàn ông và đàn bà đều
như vậy, đừng nói nhiều, có thời gian thì niệm Kinh nhiều vào. Sư phụ giảng đều
là triết lý cao thâm, hy vọng các con nghe cho kỹ.
Mọi người đều nghe nói
về "Thiền định". Thiền định là một phương pháp tu hành cao thâm khôn
lường. Trong Phật pháp nói, Thiền định gọi là Đại Tam Muội Quang Minh Vân. Thế
nào là Quang Minh Vân? Tầng mây sáng có hào quang, thực tế chính là tu lên trời
rồi. Ngồi thiền có thể tu hồn phách của mình lên trời, nhưng trời này chưa nhảy
ra khỏi Tam giới. Tam muội là tiếng Phạn, gọi là Chánh Thọ. Con phải chịu đựng
tất cả mọi thứ ở nhân gian, hơn nữa phải dùng tư tưởng đúng đắn, lý niệm đúng đắn
và phương pháp đúng đắn để chịu đựng, cái này gọi là Tam muội. Thiền định là một
phương pháp tu hành, nhưng, nếu con không có công lực nhất định thì rất dễ xảy
ra sai lệch. Khi con ngồi thiền, khi con nhập thiền, con đều không biết giữ ở
đâu. Phụ nữ giữ Đản Trung, đàn ông giữ Đan Điền. Đản Trung là vị trí giữa hai bầu
ngực, khi ngồi thiền ý niệm phải tập trung tại nơi này. Đan Điền là dưới rốn ba
ngón tay. Sư phụ không chủ trương các con học Thiền định, nhưng phải lý giải,
hiểu biết. Cảnh giới cao nhất của Thiền định gọi là Nhất tâm bất loạn. Rất nhiều
người ngồi đó thiền định, nhưng tâm còn loạn hơn lúc bình thường không ngồi.
Người thường xuyên tham ngủ, ngủ mê không phải là người tu hành tốt. Người tu
hành thực sự ngủ không thể quá 8 tiếng, hòa thượng trong chùa cơ bản không thể
quá 6 tiếng. Trí tuệ của con người sẽ dần dần bị tiêu mòn trong giấc ngủ. Người
thường xuyên ngủ mê là không có trí tuệ. Người béo cũng là người khá không có
trí tuệ. Cái "Tinh khôn" của nhân gian là vô dụng. Tam muội là đầu mối
then chốt của tu tâm tu hành.
Học Phật phải có giới
luật, giới luật có thể khiến người ta đoạn phiền não. Bởi vì nghe nhiều, xem
nhiều, thì nhiều phiền não. Không nghe, không xem, không nói, đoạn phiền não. Học
Phật tu tâm phải lượng thân độ tạo (đo người may áo - tùy theo căn cơ mà chọn
pháp môn). Rốt cuộc pháp môn nào phù hợp với con, con hãy tu cho tốt pháp môn
đó. Đây là việc Sư phụ tiếp theo muốn nói với các con. Thứ nhất, pháp môn bình
đẳng. Tám vạn bốn ngàn pháp môn bình đẳng, đây là Sư phụ nói với các con, thực
tế chính là Bồ Tát nói. Thứ hai, trăm sông đổ về một biển, không phân cao thấp.
Tám vạn bốn ngàn pháp môn đều là muốn lên trời, đều là muốn thành chính quả,
nhưng pháp môn nào nhanh, pháp môn nào phù hợp với con, pháp môn nào có thể cứu
con, pháp môn nào dùng được ngay, pháp môn nào tu không lên. Con tưởng rằng mỗi
pháp môn đều có thể tu lên sao? Con tưởng rằng mỗi bác sĩ đều có thể chữa khỏi
bệnh sao? Đừng đem tám vạn bốn ngàn pháp môn ra so sánh tới lui. Giống như thi
hoa hậu vậy, mỗi người có ưu điểm của mỗi người, có người ngọt ngào, có người
hào phóng, có người xinh đẹp, hơn nữa quan điểm thẩm mỹ còn không giống nhau.
Quan niệm thẩm mỹ thay đổi theo thời đại, giống như kiểu dáng xe hơi không ngừng
thay đổi vậy.
Làm sao biết pháp môn
nào phù hợp với mình? Thứ nhất, phải dùng thấy quen thuộc. Thứ hai, phải dùng
thấy có hiệu quả. Thứ ba, phải dùng thấy tự tại. Thứ tư, phải dùng thấy thuận lợi.
Vậy con hãy "nhất môn thâm nhập" (đi sâu vào một môn), đây chính là
pháp môn con cần học. Hiện nay rất nhiều thính giả nếu ngày nào không niệm Kinh,
liền cảm thấy như có việc gì chưa làm, sống không thoải mái. Chính là vì đã
quen với việc niệm kinh, vừa tự tại, lại vừa có hiệu quả -- gia đình tốt lên, sự
nghiệp thuận lợi, con cái nghe lời.
Tiếp theo giảng cho mọi
người Độ chúng sinh. Thế nào là độ chúng sinh? Bản thân tu tâm xong làm thế nào
để độ người ta, độ chúng sinh. Độ chúng sinh là học Đại thừa, là Pháp thí. Độ
chúng sinh rất quan trọng. Một người phải học cách độ chúng sinh. Độ chúng sinh
là có điều kiện: Đầu tiên, người độ chúng sinh bắt buộc phải đoạn phiền não.
Sau đó, giới tham tâm (cai bỏ tâm tham). Thứ ba, phát bi tâm (lòng từ bi). Thứ
tư, viên thành Phật đạo.
Gần đây có một vị thính
giả nói với Sư phụ anh ta mơ thấy ngày tận thế, giống như trong phim vậy. Lốc
xoáy, núi lở đất nứt, mọi người toàn bộ bị cuốn vào trong, không một ai sống
sót. Anh ta cũng bị cuốn vào, anh ta sau khi vào lại còn nghĩ đến Đài trưởng,
anh ta gọi "Lư Đài trưởng", kết quả Lư Đài trưởng lại xuất hiện, còn
nói với anh ta rất nhiều lời, cứu anh ta. Anh ta sau khi tỉnh lại nhớ rõ ràng
những lời Đài trưởng nói với anh ta. Đợi đến khi Đài trưởng hỏi anh ta, anh ta
lại quên mất. Trong thời kỳ Mạt pháp, tai nạn thường xuyên xảy ra càng nên đoạn
phiền não. Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn. Phiền não là không có điểm dừng,
chỉ cần là con người, thì mãi mãi có phiền não. Người học Phật nhất định phải
đoạn bỏ phiền não. Sau khi đoạn phiền não có thể tu học Giới Định Tuệ. Đoạn phiền
não là cơ sở của Giới Định Tuệ. Phiền não là kẻ tầm thường tự làm khổ mình, học
Phật chính là phải học trí tuệ.
Tất cả duyên khởi trên
thế gian không có cái nào là không muốn gợi mở giác tính (tính giác ngộ) của
chúng ta. Đừng sợ sự việc đến, sự việc đến con phải dũng cảm đối mặt, con sẽ
khai ngộ rất nhiều. Cho nên trên thế giới khi gặp rất nhiều duyên đến, đừng sợ.
Nhưng thà gặp thiện duyên, ít gặp ác duyên, vì ác duyên sẽ làm tổn thương con.
Cho nên Sư phụ thường nói với các con, cái gì không nên đụng thì đừng đi đụng,
cái gì không nên nhìn thì đừng đi nhìn, cái gì không nên nghe thì đừng nghe,
cái gì không nên làm thì đừng đi làm. Nếu cái không nên làm mà con đi làm, phiền
não khởi lên rồi chứ, rắc rối đến rồi chứ. Một người sống trên đời phải dựa vào
chính mình, không thể dựa vào người khác, dựa vào người khác là không chắc chắn.
Tu tâm cũng như vậy.
9. Niệm Lễ Phật Đại
Sám Hối Văn, tiêu trừ nghiệp chướng của chính mình
Hôm nay Đài trưởng nói
với mọi người về tác dụng của "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn". Tại sao niệm
"Lễ Phật Đại Sám Hối Văn" hiệu quả lại tốt như vậy? Còn có người hỏi
Đài trưởng, tại sao trong Thập Chú còn có mấy bài Kinh văn Đài trưởng không dạy
chúng con niệm? Các con đoán xem tại sao? Đây là vì Quan Thế Âm Bồ Tát chưa bảo
Đài trưởng, Đài trưởng không dám dạy các con. Trước đây Đài trưởng không dạy
các con niệm "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn", bây giờ Bồ Tát bảo Đài trưởng
dạy các con niệm "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn", nên Đài trưởng bắt đầu dạy
các con niệm. Các con niệm có linh không? Sức mạnh của "Lễ Phật Đại Sám Hối
Văn" vô cùng to lớn.
Rất nhiều người hỏi niệm
"Lễ Phật Đại Sám Hối Văn" có lợi ích gì? Đài trưởng lấy cho mọi người
một ví dụ. Ví dụ như hôm nay tôi trộm của người ta một món đồ, đây có phải là
làm việc xấu không? Sau khi làm việc xấu, trong tâm linh con người, trong đầu
óc con người sẽ hình thành một khối khí đen. Trộm đồ có thể là một khối khí đen
nhỏ, nếu là giết một con chó hoặc một con người, sẽ hình thành một đám sương mù
đen. Sau khi sương mù đen lên thân thể con, quỷ hồn có thể tùy thời tùy chỗ đi
vào thân thể con, bởi vì sương mù đen là nơi chứa âm khí của quỷ hồn trên thân
thể. Mỗi khi làm một việc xấu sẽ có một khối khí đen đi vào thân thể con người.
Khi Đài trưởng xem Đồ đằng (Totem), thường nhìn thấy trên người rất nhiều người
đều là khí đen, chứng tỏ người này đã làm rất nhiều việc xấu, bao gồm cả việc xấu
làm từ kiếp trước. Người khí đen càng nhiều, sức khỏe càng không tốt.
Mọi người biết đấy, thuốc
súng chẳng phải màu đen sao, cứ lấy thuốc súng ví von với nghiệp chướng, thuốc
súng tích tụ trên cơ thể càng nhiều, đợi đến khi tích tụ đầy rồi, chính là việc
xấu làm quá nhiều rồi, xong rồi, lúc chịu báo ứng đến rồi. Đến lúc này, nghiệp
chướng bị kích hoạt thành Linh tính (vong linh), toàn bộ cơ thể sẽ phát nổ.
Tương đương với việc một người vừa kiểm tra ra là bị ung thư, hoặc là bị ô tô
đâm chết, hoặc bị người ta giết chết, hoặc là trong nhà gặp đại họa, tóm lại là
chuyện gì cũng đến. Đài trưởng hiện tại xem rất nhiều Đồ đằng, không nhìn thấy
mấy thính giả trên người rất sạch sẽ. Các con từng nghe chương trình của Đài
trưởng chưa? Khi Đài trưởng nhìn thấy trên người ai đó rất sáng, Đài trưởng rất
kinh ngạc. Điều này chứng tỏ trên người con người hiện nay có rất nhiều nghiệp
chướng, não xấu của con người động quá nhiều, suốt ngày chỉ biết làm sao để
chơi người ta, kiếm tiền của người ta, chiếm hời của người ta, không biết bố
thí, không biết đối tốt với người ta một chút, đây là vấn đề lớn nhất. Cho nên
nghiệp chướng kiếp trước và kiếp này sẽ giống như thuốc súng tích trữ trong cơ
thể. Ví dụ lúc mười mấy tuổi làm vài chuyện xấu, đáng lẽ đến lúc hơn năm mươi
tuổi báo ứng đến, ví dụ đau lưng mỏi eo, đây chính là cái chúng ta thường gọi
là thời kỳ mãn kinh đến.
Thời kỳ mãn kinh thực tế
chính là một thời kỳ báo ứng. Thông thường trong khoảng thời gian từ 45 tuổi đến
55 tuổi, sự nghiệp, sức khỏe... đều bắt đầu xuống dốc. Khi thuốc súng của một
người tích tụ ngày càng nhiều, chỉ cần có một Linh tính lên thân, Linh tính lớn
nhất chính là Hắc Bạch Vô Thường, vừa nhìn thấy con toàn là màu đen, dương thọ
của con đã hết, hai vị Linh tính này châm lửa một chút thuốc súng là con nổ
tung. Đài trưởng muốn các con niệm "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn", chính
là để giúp các con tiêu trừ từng khối từng khối khí đen trên người các con,
chính là muốn xóa bỏ thuốc súng đi. Phải nhớ, các con xóa bỏ thuốc súng càng
nhiều, cho dù tuổi già còn một chút ít thuốc súng, nhưng châm một cái cũng rất
nhẹ, cũng có thể qua cửa. Nếu thuốc súng trên người các con quá nhiều, châm lửa
một cái toàn thân sẽ nổ tan tành. Đạo lý nhân gian chính là như vậy. Đài trưởng
có lúc nhìn thấy trên người các con toàn bộ là màu đen, chỉ có cách bảo các con
niệm "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn".
Khi niệm "Lễ Phật
Đại Sám Hối Văn", nhất định phải nói: "Xin Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm
Bồ Tát phù hộ cho con XXX tiêu trừ nghiệp chướng trên gan của con", hoặc
tiêu trừ nghiệp chướng trên phổi của con, hoặc tiêu trừ nghiệp chướng trên eo của
con. Nếu chỉ nói tiêu trừ nghiệp chướng trên người con thì tốc độ chậm, hơn nữa
rất khó tiêu trừ. Trên người các con đã có nhiều nghiệp chướng như vậy rồi, nếu
không chỉ rõ bộ phận cụ thể, con nói xem có chút thuốc đó dán ở đâu đây. Ví dụ
như con ngã từ trên lầu xuống, toàn thân đều là vết thương, cầm một miếng cao
dán, con nói xem dán ở đâu? Khi các con niệm "Lễ Phật Đại Sám Hối
Văn", hãy nhắm vào một chỗ mà niệm trước, tiêu khí đen từng khối từng khối
một. Đây là lý do tại sao hiện nay nhiều thính giả gọi điện đến, họ rất thông
minh, rất biết hỏi, câu hỏi đầu tiên chính là: "Lư Đài trưởng, nghiệp chướng
của con có nhiều không?" "Rất nhiều". "Lư Đài trưởng, ngài
có thể cho con biết ở bộ phận nào không?" Đài trưởng liền nói cho họ biết
bộ phận nào. Họ liền niệm "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn" có tính đối nhắm
(nhắm vào mục tiêu cụ thể), tiêu trừ nghiệp chướng từng bộ phận một. Một vấn đề
khác: Tại sao một chỗ vốn dĩ không đau, tiêu đến lúc sau chỗ này lại đau? Đó
chính là nghiệp chướng bị kích hoạt sớm. Ví dụ đợi đến khi nghiệp chướng ở gan
đang tiêu, thì tương đương với bác sĩ chữa bệnh cho bệnh nhân, bệnh nhân chắc
chắn sẽ đau mà, giống như một chút thuốc súng còn sót lại, nổ một cái là hết,
chỗ này của con liền sạch sẽ, gan của con lúc tuổi già được giữ lại. Đạo lý
chính là như vậy.
Gần đây, có một thính
giả ở Canada gọi điện hẹn Đài trưởng, nói với Đài trưởng Kinh văn trong Thập
Chú anh ta niệm toàn bộ. Đài trưởng nói với anh ta, con cứ đi uống hết các loại
thuốc đi, xem bệnh nào của con sẽ khỏi. Giống như một người đến tiệm thuốc bắc
thuốc gì cũng bốc vậy. Phải nhớ thành phần của thuốc và liều lượng dùng thuốc,
thuốc gì trị bệnh gì. "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn" chính là chuyên môn
tiêu nghiệp chướng và tiêu Linh tính. Nghĩa là khi con đang niệm "Lễ Phật
Đại Sám Hối Văn", Kinh văn này đã có thể chữa lành khí đen, thì nghiệp chướng
sẽ bùng phát sớm hơn. Ví dụ hôm nay tôi không cẩn thận, trộm một món đồ, vừa niệm
"Lễ Phật Đại Sám Hối Văn", khối khí đen này liền mất, cũng không đau,
xong rồi, kết thúc. Nếu người này giết một người, chỉ niệm "Lễ Phật Đại
Sám Hối Văn" thì không thể giải quyết vấn đề, bởi vì nghiệp chướng như vậy
quá lớn. Nghiệp chướng kích hoạt sớm đều là không có sức mạnh. Ví dụ một đứa trẻ
chưa đủ tháng đã sinh non, đứa trẻ này có sức mạnh không? Nghiệp chướng kích hoạt
sớm như vậy cần phải mau chóng niệm Ngôi Nhà Nhỏ, số lượng Ngôi Nhà Nhỏ cần niệm
ít hơn rất nhiều so với số lượng cần thiết khi thời kỳ báo ứng đến. Đợi đến khi
thời kỳ báo ứng đến, có lúc niệm rất nhiều Ngôi Nhà Nhỏ cũng chưa chắc có thể
tiêu tai. Đây là lý do tại sao bệnh phải khám sớm. Những đạo lý Đài trưởng giảng
cho các con toàn bộ là đạo lý thông suốt trong Phật học nhân gian.
Khí đen của một số người
rất đậm, khí đen của một số người rất nhạt. Đài trưởng còn nhìn thấy khí đen của
một số người giống như mây đen cuồn cuộn, vừa hỏi, bị ung thư rồi. Đài trưởng
nhìn thấy chính là rõ ràng như vậy. Các con bây giờ gọi được điện thoại vào, nhất
định phải trân trọng. Nếu niệm "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn" đến một lúc
nào đó, bộ phận đó đau, chính là nghiệp chướng ở bộ phận đó bị kích hoạt. Kích
hoạt là một chuyện tốt. Nghiệp chướng sau khi kích hoạt, niệm thêm vài tấm Ngôi
Nhà Nhỏ, nghiệp chướng này liền có thể tiêu đi. Nghĩa là trước khi cái (quả)
này, cái nghiệp chướng này chưa chín muồi, mau chóng diệt nó đi. Giống như mọc
u xơ tử cung, vừa mới mọc liền cắt nó đi, có phải dễ dàng hơn là đợi nó lớn lên
rồi mới đi cắt không? Đạo lý là giống nhau.
Đài trưởng nhìn thấy rất
nhiều người trên cổ mọc khối u, to đến mức đầu không cử động được, khi ngủ đầu
cũng không thể nghiêng qua. Tế Công Bồ Tát năm xưa khi ở nhân gian nhìn thấy rất
nhiều người bị bệnh này, Ngài dùng tay chỉ một cái, bệnh của người này liền hết.
Đây chính là Bồ Tát đang cứu người. Đài trưởng bây giờ dạy các con tự cứu mình,
một mình Đài trưởng cứu các con mọi người lo không xuể, quá mệt rồi. Các con tự
gieo nhân, các con tự đi nhận cái quả này. Các con sửa đổi cái nhân không tốt,
quả của các con cũng sẽ tốt. Nếu để Đài trưởng động vào nhân của các con, chẳng
phải gọi là động nhân quả của người sao? Cho nên Đài trưởng dạy phương pháp này
cho các con. Đài trưởng không cho các con quả dưa hấu, mà là dạy các con phương
pháp trồng dưa hấu, ví dụ chọn hạt giống thế nào, chọn đất thế nào, bón phân thế
nào. Dưa hấu các con trồng ra là của các con, nếu Đài trưởng trực tiếp ôm dưa hấu
tặng các con, bản thân Đài trưởng sẽ xảy ra vấn đề.
Trong "Lễ Phật Đại
Sám Hối Văn", có tên của rất nhiều vị Bồ Tát. Các con biết trên trời có
bao nhiêu Bồ Tát không? Rất nhiều người tò mò, muốn biết trên trời trông như thế
nào? Địa phủ trông như thế nào? Hôm nay có một vị thính giả nói với Đài trưởng:
"Lư Đài trưởng, con đã xuống địa phủ rồi, địa phủ còn có thiết bị hiện đại
hóa." Các con nghe thấy buồn cười nhỉ? Hiện đại hóa gì chứ? Giống như những
thứ hiện đại hóa ở nhân gian bây giờ, bên dưới đã có từ lâu rồi. Ví dụ máy vi
tính, ở địa phủ chính là một chùm tia sáng, tùy tiện dùng tay chạm chạm hình ảnh
liền hiện ra, trong đầu vừa nghĩ liền sẽ xuất hiện thứ con cần, hoàn toàn không
cần dùng đến gõ bàn phím v.v. Từng có một thính giả làm về máy tính rất nổi tiếng,
anh ta gọi điện hỏi Đài trưởng: "Lư Đài trưởng, tại sao chúng tôi tìm dữ
liệu của một người trong cơ sở dữ liệu phải mất nhiều thời gian như vậy, mà
ngài vừa ngẩng đầu lên cái gì cũng có thể nhìn thấy?" Đài trưởng bảo anh
ta đừng vội, Đài trưởng lập tức nói cho anh biết: Anh bây giờ trong đầu nghĩ một
chút về người thân ở nhà tại Trung Quốc, tình hình trong nhà, chẳng phải chỉ
trong một giây là nghĩ đến rồi sao? Cái này gọi là thông tin. Đài trưởng dựa
vào chính là loại thông tin này. Kỳ thực loại công năng này mỗi người trong các
con đều nên có, chẳng qua là bị những thứ bẩn thỉu của nghiệp chướng nhiều đời
che lấp mất, ví dụ như tài, danh, lợi, sắc...
Tất cả các vị Bồ Tát
trong "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn" đều là các vị Bồ Tát ở các bộ phận quản
lý việc chúng ta sau khi phạm tội ở nhân gian cần phải để cho trên trời biết. Rất
nhiều lúc chúng ta gieo nhân mà còn không biết, sau khi niệm tên của nhiều vị Bồ
Tát như vậy một lượt, để Bồ Tát tha thứ cho tội nghiệp của chúng ta, sám hối thật
tốt tội nghiệt trong những kiếp sống quá khứ của mình. Ai mà chưa từng làm sai
chuyện gì? Đài trưởng nói với mọi người, một người trong cuộc sống từng làm sai
chuyện không sao cả, nhưng nhất định phải thành tâm sửa đổi. Con người phải học
cách nói "Xin lỗi". Con người nếu thực sự nói ra ba chữ "Xin lỗi"
này, cảnh giới chính là đã nâng cao. Người không biết hối cải rất dễ bị người
ta coi thường. Nghiệp chướng, khí đen trên người càng ít, mắt sẽ càng sáng. Gân
mạch không thông chính là vì trường khí không tốt. Niệm Kinh chính là để tiêu
trừ nghiệp chướng trên người chúng ta. Làm người phải có lương tâm. Khi một người
nghiệp chướng càng nhiều, cái hỏng đầu tiên chính là tim. Người bùng phát bệnh
tim là người có bệnh nghiệp chướng khá sâu, vì giận quá, nghĩ không thông, rất
hận một người nào đó mà ra. Một người kết thiện duyên, kết ác duyên đều là xem ở
chính mình, làm sai chuyện rồi, phải có đạo đức con người, chính là phải nói
"Xin lỗi", biết sai thì sửa. Tương tự, không biết hối ngộ thì trường
khí sẽ không tốt, Linh tính dễ lên thân. Một người sống trên thế giới này, phải
học cách quan sát. Niệm "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn" càng nhiều, trong
lòng càng ngày càng bình tĩnh, càng ngày càng vui vẻ. Kinh văn niệm đến sau này
chính là chùm tia sáng sóng âm, chính là kết nối với Bồ Tát.
Nếu trong nhà các con
có người không tin, hãy lấy tờ giấy này (Khuyên đạo thăng văn - tờ sớ khuyên bảo
tin Phật) điền tên và ngày tháng năm sinh của họ vào, sau đó đặt bên cạnh bàn
thờ Quan Thế Âm Bồ Tát, quỳ niệm 7 biến "Tâm Kinh". Thời gian lâu dần,
các con xem người này có tin Phật không, hiệu quả này tốt hơn rất nhiều so với
việc bình thường các con ở nhà niệm "Tâm Kinh" cho họ. Cái này có một
chút pháp lực. Nhưng khi mới bắt đầu đừng dùng cái này. Nếu chồng con có chút
tin rồi, lại không tin lắm, lúc này hãy trực tiếp mỗi ngày niệm 3 biến hoặc 7
biến "Tâm Kinh" cho anh ấy, cầu xin Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát
phù hộ cho chồng con khai mở trí tuệ, có thể tin tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nhưng có những ông chồng tính tình ngang bướng, miệng nói lung tung, hoặc con cảm
thấy có ảnh hưởng đến việc tu tâm của con, lúc này hãy dùng tờ Khuyên đạo thăng
văn này. Cái này không phải trừng phạt anh ấy, cũng không phải không tốt với
anh ấy, là dùng một chút pháp lực để khiến anh ấy tin tưởng. Pháp lực này thực
tế chính là sức mạnh của Hộ pháp thần. Tờ Thăng văn (sớ) này đừng đốt, mỗi ngày
niệm xong thì cất đi, khi niệm lại lấy ra.
Hiện nay rất nhiều gia
đình một người niệm Kinh, cả nhà đều tốt. Nhưng nếu có một người không tin, miệng
nói năng lung tung, cái nhà này sẽ không tốt được. Ví dụ: Một nồi cháo trắng sạch
sẽ, nếu nhỏ một chút đồ đen vào trong, cả nồi cháo sẽ hỏng hết. Cách tốt nhất
là trước tiên giúp họ niệm, nếu người này thực sự không nghe, con hãy dùng
phương pháp này. Rất nhiều người hỏi, làm như vậy có làm tổn thương cơ thể đối
phương không? Không đâu, nhưng họ sẽ có một chút áp lực. Áp lực này đến từ việc,
nếu họ nói lời xấu quá nhiều, báo ứng của họ sẽ lớn. Niệm Kinh để họ tin tưởng
chính là cho họ một chút lực chuyển niệm, hoặc là để họ nhìn thấy một số thứ, vặn
chuyển cái niệm lực linh hồn trong đầu não họ lại, hoặc cho họ một loại thông
tin mãnh liệt.
10. Lễ Phật phải làm
từ trong tâm, Sám hối phải sửa từ tư duy
Sư phụ hôm nay giảng
cho mọi người về "Giác thụ". Trước đây cũng từng giảng cho mọi người,
nhưng giảng không sâu, chỉ giải thích một chút mà thôi. Giác thụ chính là ngộ đạo,
chính là con có thể cảm giác và ngộ ra đạo lý này. Đọc Kinh là lý thuyết. Mỗi
người ngày ngày đều đang niệm Kinh, đây là lý thuyết, tuy biết ý nghĩa, biết
đang làm gì, nghĩa là hôm nay tuy con đang đọc Kinh, con muốn ngộ ra đạo lý
này, con muốn cảm giác thứ tiếp nhận được, nhưng con phải biết ý nghĩa thực sự
là gì. Thực tế con không đi làm, không đi ngộ, con chỉ niệm Kinh mà không ứng dụng
thực tế, không ứng dụng trong cuộc sống thường ngày thì con không có Giác thụ.
Nghĩa là các con mỗi thứ tư đến nghe Sư phụ giảng bài, nghe nửa ngày, sau khi về
hoàn toàn không đem pháp môn Sư phụ dạy các con, đem Phật pháp và đạo lý tốt
như vậy dạy các con dùng vào trong cuộc sống, nghĩa là các con không có Giác thụ,
các con không có cảm giác và thụ dụng (nhận dùng) Kinh điển này. Nếu không dùng
trong tu hành, kinh điển này đối với các con mà nói là hư vọng. Đạo lý rất đơn
giản, những Kinh văn này truyền lại mấy ngàn năm, nếu đều để trong Tạng Kinh
Các, mãi mãi không đi lấy, không đi niệm, thì mãi mãi không đạt được Giác thụ.
Con không có cái cảm
giác này, không có cái cảm thụ này, con không biết những Kinh văn này dùng để
làm gì, cũng không biết những Kinh văn này có thể dùng trong cuộc sống. Con giống
như thưởng thức một bài văn ngôn (văn cổ) vậy, giống như thưởng thức tác phẩm của
đại văn hào vậy, con đến xem cũng chưa xem, hoặc sau khi xem xong con coi nó
như người ngoài cuộc, người ngoài lề, con nói xem con có thể hưởng lợi ích
không? Có người học văn hóa, xem rất nhiều sách, xem rất nhiều tiểu thuyết, họ
là từ trong đó hấp thụ chất dinh dưỡng, hy vọng những chuyện trong tiểu thuyết
đừng tái hiện trong cuộc sống của chính họ. Tương tự khi nghe người khác nói
chuyện, họ cũng có thể học được rất nhiều thứ. Còn có người suốt ngày tán gẫu,
tán gẫu xong hỏi họ tán gẫu cái gì? Họ không nhớ nữa, quên hết rồi, không có một
loại cảm thụ thực tế. Cho nên người thực sự biết học tập, họ bắt buộc phải từ
trong lời nói của người khác, từ trong cử chỉ lời nói của người khác, từ trong
việc làm của người khác, hấp thụ rất nhiều thứ tốt của người ta. Tại sao người
này có thể nhẫn nhục? Tại sao người kia lại nổi trận lôi đình? Tại sao người
này là như vậy? Mà người kia là như thế? Có thể từ đó rút ra rất nhiều bài học.
Các con mỗi thứ tư đến nghe Sư phụ giảng bài, nghe xong về nhà vẫn là bộ dạng
cũ, cần tức giận thì vẫn cứ tức giận, cần không vui thì vẫn cứ không vui, con
nói xem các con đến có tác dụng gì? Các con bắt buộc phải học vào trong tâm, bắt
buộc phải thụ dụng trong hành động và trong thực tế.
Nếu học Kinh điển nhiều
đến mấy, thuộc lòng nhiều kinh văn đến mấy, lại biết niệm "Lễ Phật Đại Sám
Hối Văn", đằng này đang niệm "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn", mà đằng
kia lại đang làm việc xấu, con nói xem Kinh văn này niệm có hiệu quả không? Đó
là không thể có hiệu quả. "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn" là đối với một
người trong tình huống có chỗ không biết mà lại có chỗ cảm biết (nhận thức được)
họ mới làm ra những hành vi (sự việc) này, lúc này họ niệm "Lễ Phật Đại
Sám Hối Văn" mới thụ dụng. Bởi vì con không biết mình phạm tội rồi, niệm
"Lễ Phật Đại Sám Hối Văn" có thể tiêu trừ nghiệp chướng của con. Chẳng
lẽ ngày mai con muốn đi cướp ngân hàng, hôm nay niệm niệm "Lễ Phật Đại Sám
Hối Văn" tiêu trừ tội nghiệt của con, ngày mai muốn đi làm việc xấu, niệm
niệm "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn" tiêu trừ nghiệp chướng của con, đây là
khái niệm kiểu gì vậy? Con phải có chỗ cảm biết, cảm giác biết mình đã làm chuyện
gì. Nếu không biết, con sẽ không có tội nghiệp quá lớn. Người ta thường nói:
"Không biết không có tội" chính là đạo lý này. Mà con biết việc này
không tốt rồi, ví dụ rõ ràng muốn khoác lác rồi, còn nói "Quan Thế Âm Bồ
Tát con bây giờ bắt đầu niệm 'Lễ Phật Đại Sám Hối Văn' đây", con nói xem
có thể có tác dụng không? Niệm "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn" không phải
là bản thân con đã hiểu đạo lý rồi lại đi làm sai chuyện, sau đó lại đi sám hối
đem tội nghiệp của con sám hối đi, cái đó là không thể sám hối được. Đừng tưởng
rằng làm sai chuyện, hết lần này đến lần khác đều có thể niệm "Lễ Phật Đại
Sám Hối Văn" tiêu trừ được. Tôi hôm nay chạy ra ngoài trộm đồ của người
ta, niệm "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn"; ngày mai nhìn thấy đồ lại muốn trộm,
lại đi niệm "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn", đây là vấn đề khái niệm gì vậy?
Đây là ngu si.
"Lễ Phật Đại Sám Hối
Văn" nói về những việc con làm sai trong quá khứ, những việc con làm sai ở
kiếp trước, con có thể niệm những kinh này để tiêu đi nghiệp chướng của con,
hoàn toàn không đồng nghĩa với việc con sau này lại làm sai chuyện, lại làm rất
nhiều việc xấu, con lại niệm kinh, lại có thể tiêu đi tội chướng rồi, cái đó là
không tiêu được. Lấy cho các con một ví dụ đơn giản các con sẽ hiểu. Tôi thường
nói với mọi người, một tờ giấy trắng rất sạch sẽ, khi con dùng bút chì đen viết
lên lần đầu tiên, con dùng tẩy có thể tẩy sạch. Con viết lần thứ hai, viết lần
thứ ba, con tẩy đến cuối cùng tờ giấy này thành hình dạng gì rồi? Tờ giấy này
còn sạch sẽ như lúc ban đầu không? Đây chính là lý do Sư phụ dạy các con tại
sao niệm "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn" phải niệm từ trong tâm. Khi con
đang niệm "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn", trong lòng phải thực sự đau đớn:
"Con không thể sai nữa, con không thể làm nữa, con không thể lại có những
chuyện này nữa, con thật sự hiểu rồi, Quan Thế Âm Bồ Tát Ngài cứu con với!"
Như vậy mới linh nghiệm. Đây không phải là cao dán, chỗ này bong gân dán một miếng
cao, ngày mai chỗ kia bong gân lại dán một miếng cao. Bản thân không cẩn thận
giữ gìn cơ thể, ngày ngày làm những việc tổn hại gân cốt mình, con dán đến sau
cùng miếng cao này còn linh hay không? Đạo lý là giống nhau. Con người bây giờ
chính là như vậy, hôm nay làm sai chuyện tưởng rằng niệm niệm kinh có thể tiêu
đi, ngày mai lại đi làm. Biết không? Đây là đang phạm tội. Con hôm nay làm sai
một việc bị người ta bắt được, người ta nói niệm tình con vi phạm lần đầu, hôm
nay không trừng phạt nữa, không phạt tiền con nữa. Con về nhà xong nên đau đáu
nhớ đời (thống định tư thống), không nên tái phạm những tội này nữa. Nhưng qua
vài ngày con lại phạm, lần này sau khi bị người ta bắt được, xin lỗi nhé, phạt
tiền hoặc ngồi tù. Cho nên phải hiểu những đạo lý này, học Phật phải vận dụng
vào trong cuộc sống thực tế, nếu những kinh văn này con niệm nửa ngày không vận
dụng vào cuộc sống thực tế, con chính là hư vọng. Thế nào là hư vọng? Hư là trống
rỗng, Vọng là vọng tưởng (tưởng tượng) ra, là không có, không có cách nào giải
quyết những vấn đề này.
Khi dùng kinh điển tu
Phật, nếu con thực tu sẽ nảy sinh một loại cảm giác, cái này gọi là Giác thụ.
Nghĩa là khi con niệm Kinh tu tâm một cách tử tế, nghĩa là con học kinh điển của
Phật Bồ Tát, kinh văn của Phật Bồ Tát, dùng những thứ này để tu tâm, con sẽ nảy
sinh một loại cảm giác rất đặc biệt, đó gọi là Giác thụ. Giác thụ chính là niệm
kinh niệm linh rồi, sẽ cảm giác thấy linh rồi, Thụ là thụ dụng (nhận dùng/được
ích), con cảm giác được rồi thì con thụ dụng rồi. Ví dụ trong lòng con vốn có một
chuyện rất buồn, sau khi con niệm kinh con cảm giác được, nghĩ thông rồi, thụ dụng
rồi, trong lòng không buồn nữa.
Cơ thể một người được cấu
thành bởi hai phần: Một là thân thể, tức là xác thịt; một là linh thể, tức là
linh hồn, cũng chính là tinh thần. Nếu một người thân thể tốt đến mấy, tinh thần
của họ chết rồi họ sẽ tự sát, cho dù có một thân thể vô cùng tốt đối với họ mà
nói cũng là vô dụng. Nếu một người thân thể họ không tốt thế nào, tinh thần họ
rất tốt, họ sẽ có thể chiến thắng ung thư, có thể chiến thắng bệnh tật của bản
thân, họ có thể chiến thắng tất cả khốn khổ của nhân gian. Đó chính là linh hồn
chiến thắng xác thịt. Cho nên linh thể và xác thịt phải song tu. Thân thể phải
làm việc thiện, giúp đỡ người khác làm tất cả mọi việc, cái này gọi là thụ dụng.
Còn có một loại chính là trên tinh thần, phải cứu độ người ta, khuyên hóa người
ta v.v. Cảm tri (cảm nhận biết) và Cảm quan (cảm nhận quan sát), chính là con cảm
giác được, biết được một số chuyện và những chuyện con nhìn thấy. Cảm tri cảm
quan bằng với cảm giác Giác thụ cuối cùng. Khi niệm kinh không vui, sau khi niệm
kinh xong nghĩ thông rồi, cảm giác được rồi, "Ái chà, tôi nên buông bỏ,
tôi bây giờ vui rồi, sẽ không có phiền não nữa." Thế thì con có tiến bộ rồi.
Tiếp theo Sư phụ nói với
mọi người cảm giác có rất nhiều cảm giác, có những cảm giác không được tốt lắm,
như phù táo (nóng nảy bồn chồn). Một người rất phù táo, "Ái chà, việc này
làm sao đây? Ái chà, tiền của tôi đều đầu tư ra ngoài rồi. Ái chà, việc này tôi
làm không xong thì làm sao đây?" Đây chính là phù táo. Còn có an tường, nhẹ
nhõm, bình an, vui vẻ v.v., những cái này đều là cảm giác của con. Khi con cảm
giác thấy bình an, thực tế con rất bình an. Khi con cảm thấy vui vẻ, con chính
là đang ở trong vui vẻ. Khi một người ở trong phiền não, thực tế chính là đang
phiền não. Khi con nghĩ không thông, thực tế con chính là một người thần kinh
có bệnh. Vạn vật, vạn tri, vạn năng trên thế giới này, thực tế đều là do duyên
phận, con nghĩ không thông chẳng phải là một người thần kinh sao? Con nhìn
không thấu chân lý nhân sinh, cho nên con mới cảm thấy "Tại sao tôi lại
như thế này? Tại sao tôi lại như thế kia?" Đừng hỏi tại sao, không có tại
sao gì cả. Thế giới này không có tại sao, chỉ có một chữ Duyên. Người không hiểu
đạo lý mới nói, "Tại sao anh ta lại bắt nạt tôi? Tại sao tôi tốt với anh
ta như vậy, anh ta đối với tôi tệ như vậy?" Không có tại sao. Đợi đến khi
con hiểu rõ tại sao, hai chân con đã bước vào quan tài rồi, có người đạp vào
trong quan tài rồi vẫn chưa biết đây là tại sao.
Sư phụ vừa rồi giảng
cho mọi người về cảm giác, nhiều cảm giác như vậy – vui vẻ, phiền não v.v., nó
đều là một loại Giác thụ. Giác thụ chính là cảm giác thụ dụng, cảm giác một loại
thứ nhận được. Cho nên tu tâm tu đến Giác thụ, cảm giác này liền đi vào trong
tâm của con rồi, nghĩa là tu tâm tu đến mức có thể khiến con vui vẻ, khiến con
quên đi phiền não, khiến con ngày ngày rất vui, thực tế cái cảm giác này của
con đã đi vào trong tâm con. Ví dụ các con khi đến có rất nhiều phiền não, nghe
giảng xong rất vui vẻ, cảm giác này liền đi vào trong tâm con. Lại lấy một ví dụ
đơn giản: Nếu người đến nghe giảng ngủ gật, sau khi ngủ xong cảm thấy rất hôn
trầm, cái này cũng đi vào trong Bát thức điền (tàng thức) của con, đi vào trong
tâm con. Khi con cảm thấy hôn trầm mờ mịt, cái gì cũng không rõ ràng, con về
nhà tiếp tục hôn trầm mờ mịt. Khi con cảm thấy mình rất vui, rất thụ dụng, Phật
pháp con học này có thể giúp con giải quyết khó khăn trong nhà, thì con sẽ luôn
mang theo loại cảm xúc này về nhà. Thực tế chính là lưu lại trong tâm con chưa
tan đi, chỉ có điều không biết trong tâm con có thể lưu lại bao lâu. Giống như
một chai nước hoa vậy, nước hoa hàng hiệu chấm vài giọt mùi thơm sẽ rất nồng,
mùi thơm lưu lại cũng lâu; còn nước hoa tạp nham xịt lên cả một mảng lớn, chưa
ra khỏi cửa mùi đã không còn nữa.
Các
con hôm nay nghe Sư phụ giảng bài có thể đi vào trong tâm hay không đó là quan
trọng nhất. Người ngồi ở đây đầu óc không biết bay đi đâu rồi? Nếu tâm con có
thể tiếp nhận những Kinh văn, Kinh điển này, phụ đạo cho nhân sinh của con, tâm
con liền khai phóng ra. Thế nào là tâm khai phóng? Khai tâm (vui vẻ) khai tâm
chính là mở cái tâm của con ra. Nhíu chặt đôi mày, phiền não quấn quanh bên người
con, con có vui nổi không? Cái tâm này của con đã đóng lại rồi, mở không ra nữa,
sẽ luôn u uất. Trẻ con bây giờ tại sao bị bệnh trầm cảm (u uất)? Chính là vì từ
nhỏ chịu ảnh hưởng của gia đình, bố mẹ không vui ngày ngày cãi nhau, con nói
xem đứa trẻ có thể không u uất không? Đợi đến khi đứa trẻ lớn hơn một chút,
"Hóa ra bố mẹ sinh ra mình đều như vậy, mình cảm thấy thế giới này chẳng
có hy vọng gì." Cho nên hình thành hai thái cực: Một loại là "bát mẻ
lại sứt" (đã nát cho nát luôn - bất cần đời), còn một loại chính là bệnh
trầm cảm.
Phải
nhớ không phải là sự tồn tại của sự việc này có thể thay đổi con, mà là con phải
làm thế nào để thay đổi quan niệm của con, thay đổi tư duy của con, làm thế nào
để con cảm giác được sức mạnh của Bồ Tát. Khi con niệm Kinh rồi thay đổi ý niệm
của con, lúc này con chính là đang đi về phương hướng của Bồ Tát. Bởi vì sau
khi con cảm nhận được Phật Bồ Tát đang cứu con, tâm con mở ra rồi, con mới có
thể ngộ ra cảnh giới và con đường này. Lấy một ví dụ đơn giản: Nhiều nhà khoa học,
nghiên cứu sinh họ luôn nghiên cứu, có thể một năm 365 ngày đều đang nghiên cứu
một đề tài mà không ra. Đợi đến một ngày, "Ái chà, tôi hiểu rồi, tôi cuối
cùng thành công rồi!" Niềm vui đó của họ các con có cảm nhận được không? Họ
đến cảnh giới này, họ phát minh ra thứ này. Cảnh giới của họ đến vị trí này rồi,
họ mới vui vẻ được. Nếu con không học Phật, con làm sao có thể vui vẻ? Con
không thể đạt đến cảnh giới này của Bồ Tát, con cảm thấy con giúp đỡ người ta
là con bỏ ra, mà con không cảm thấy con giúp đỡ người ta là đang nhận được.
11. Giác thụ là Ngộ, Ngộ đạo là Giác
Khi
Sư phụ giúp đỡ người khác, tôi cảm thấy mình đang nhận được, chứ không phải
đang cho đi. Còn quan niệm của người thường là tôi giúp bạn, tôi mua đồ cho bạn
ăn là tôi tốt với bạn, đó là tôi đang cho đi. Con người bây giờ đều muốn được
đền đáp. Đây chính là cảnh giới. Khi cảnh giới khác nhau, con giúp đỡ người
khác mà trong lòng con cũng sẽ không vui vẻ. Bởi vì khi con giúp đỡ người khác,
con nghĩ: "Ái chà, mình làm nhiều như vậy mà họ cũng không hiểu mình. Này,
tôi làm miễn phí cho bạn đấy nhé", lời nói ra rồi, mặt mày khó coi, đúng
không nào? Phải hiểu rằng giúp đỡ người khác là bản thân mình nhận được. Con có
biết khi giúp đỡ người khác con nhận được bao nhiêu không? Cái con nhận được là
trí tuệ vô hạn. Bởi vì khi một người giúp đỡ người khác, cái họ nhận lại là trí
tuệ, là ngộ tính. Con có biết khi một người giúp đỡ người khác, người ta cảm
kích con biết bao nhiêu, khi con cần người giúp đỡ, chính là "một người
gặp nạn, tám phương hỗ trợ". Sư phụ nói cho các con biết, sau khi có cảnh
giới cao hơn này, con sẽ tìm thấy con đường Từ bi này, chính là con đường này,
Tu đạo chính là tu con đường này. Con hiểu được đạo lý này, con mới có con
đường này; con không hiểu cái Đạo này, con sẽ không có con đường này, hiểu
chưa? Rất nhiều người mất việc thì rất buồn bã, nhưng họ không biết rằng đang
thai nghén một công việc tốt hơn đang đợi họ. Rất nhiều người gia đình tan vỡ,
họ không biết rằng đang thai nghén một gia đình tốt hơn đang đợi họ. Nhưng phải
xem con có phúc khí này không, phải xem con có đức hạnh này không, phải xem con
có phải là chân tu (tu thật sự) hay không, nếu là chân tu, Bồ Tát sẽ giúp con
giải quyết vấn đề.
Lý
thuyết và cảnh giới phải nhất quán. Nghĩa là, con học Phật học cả nửa ngày, con
học nhiều lý thuyết như vậy, con không có cảnh giới này thì con không học tốt
được Bồ Tát. Cho nên rất nhiều người bận rộn cả nửa ngày, ngày nào cũng học lý
thuyết, miệng nói ra một tràng lý thuyết Phật học, nào là vị Phật Bồ Tát này
thế này thế kia, vị Phật Bồ Tát kia thế này thế kia, Kinh điển này, Kinh điển
kia... Vậy là con đang học lý thuyết Phật học, chứ không phải đang học Phật.
Cảnh giới của con không đạt được cảnh giới của Bồ Tát, con nói con học thì có
tác dụng gì? Phải hiểu một đạo lý: Chúng ta học Phật, học Bồ Tát, không đơn
thuần là đọc Kinh, chúng ta phải học cảnh giới của Phật Bồ Tát – lý thuyết của
Phật Bồ Tát là nằm trên cái cảnh giới này. Thế nào là cảnh giới? Cảnh giới là
thứ không nhìn thấy không sờ được, là thông qua lý thuyết làm cơ sở, sau đó do
tư duy của con không ngừng trưởng thành, mới có thể trở thành một cảnh giới.
Phải nhớ nhất định phải học đi đôi với hành (học nhi kiêm dụng), học mà không
dùng thì bằng không học. Cho nên Giác thụ sẽ rất vi tế, giống như cảm giác của
một người vậy.
Lấy
một ví dụ đơn giản: Các con đều từng có kinh nghiệm yêu đương, khi một người
thích con, họ đứng sau lưng con con sẽ cảm nhận được hơi thở của họ, con sẽ cảm
nhận được họ đang nhìn con từ phía sau. Cái này gọi là rất vi tế, có thể hiểu
không? Con có thể cảm nhận ra, cảm thấy hôm nay mình quỳ trước mặt Quan Thế Âm
Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát đang nhìn mình, cảm thấy Quan Thế Âm Bồ Tát đang
quan tâm mình, đây gọi là Giác thụ. Cảm nhận mãnh liệt ánh sáng trong tim,
nghĩa là khi một người sau khi học Phật tu tâm, họ sẽ có một loại ánh sáng mãnh
liệt, chính là tôi bây giờ hiểu rồi. Giống như một số người trông có vẻ hơi
ngốc nghếch, nhưng họ nói: "Tôi học Phật xong bây giờ hiểu rồi, chỉ có
Quan Thế Âm Bồ Tát mới có thể cứu gia đình tôi. Tôi bây giờ có lòng tin. Bất kể
trong nhà xảy ra chuyện gì, tôi nhất định niệm Kinh cho tốt, tôi nhất định phải
kiên trì." Đây chính là ánh sáng trong tâm họ. Nếu không có ánh sáng này
trong tâm họ, họ sẽ thất vọng, sẽ tuyệt vọng, sẽ không tìm thấy phương hướng,
sẽ mất đi mục tiêu nhân sinh. Sau khi mất đi mục tiêu nhân sinh, giống như con
lái xe đến một con đường dốc núi, phía trước không còn đường nữa, phía trước
dựng một tấm biển chỉ đường: "Phía trước không có đường". Nếu con cứ
lái về phía trước con sẽ rơi xuống, hiểu chưa? Một người học Phật phải có mục
tiêu, phải có thể cảm nhận được Quan Thế Âm Bồ Tát đang quan tâm chúng ta. Nếu
con có thể cảm nhận được ánh sáng mãnh liệt trong tâm con, "Tôi hiểu
rồi", thực tế cái này gọi là Ngộ cảnh, Ngộ đạo, chính là con ngộ ra cảnh
giới này, con liền đạt được con đường này. Con có thể biết Bồ Tát nghĩ gì, con
chính là Bồ Tát. Giống như con biết con cái mình đang nghĩ gì, đây chính là một
nhân tố rất quan trọng để con có thể hiểu con cái. Giống như rất nhiều người mẹ
bà ấy biết con cái đang nghĩ gì, đây chính là con ngộ ra đạo lý này: "Bởi
vì đứa trẻ này tôi không thể quá hung dữ với nó, tôi không thể quá nghiêm khắc
với nó, bởi vì đứa trẻ này thế này thế kia." Con liền ngộ ra đạo lý này,
đây gọi là Ngộ đạo. Sau khi con hiểu đạo lý này, con sẽ tha thứ cho nó, sẽ đối
tốt với nó.
Giác
thụ sẽ thay đổi, còn Ngộ đạo thì rất không dễ thay đổi. Hôm nay tôi niệm Kinh
cảm thấy tốt hoặc cảm thấy không tốt, đây chính là đang thay đổi. Nhưng, Ngộ
đạo là không dễ thay đổi. Thế nào là Ngộ đạo? Chính là sau khi tôi ngộ ra đạo
lý này, con đường này tôi chuẩn bị đi tiếp, tôi cảm thấy con đường này là chánh
(đúng đắn) thì sẽ không dễ thay đổi nữa. Hiểu chưa? Ngộ đạo chính là Khai ngộ.
Phải biến lý thuyết thâm sâu của Phật giáo thành thực tiễn. Học lý thuyết thâm
sâu của Phật Bồ Tát, phải ứng dụng nó vào trong cuộc sống hiện thực, miệng nói
hay đến mấy, tôi mọi thứ đều không sao cả (vô sở úy), nhưng khi thực sự gặp
chuyện thì sẽ nhảy dựng lên. Giống như các con ở nhà thấy con cái quấy khóc với
con, con có thể nhẫn nại được không? Nhẫn nại là xuất phát từ nội tâm, là dựa
vào việc con ngộ ra đạo lý này rồi con mới biết nhẫn nại; con không biết đạo lý
này, con không cách nào nhẫn nại được. Nếu không ngộ ra đạo lý mà khắc chế bản
thân, đến cuối cùng cơ thể sẽ sinh bệnh, nào là bệnh tim, cao huyết áp đều sẽ
xuất hiện.
Sư
phụ thích nói cho các con những ví dụ trong cuộc sống thực tế, giống như một
người khi ho trong lòng nghĩ: "Tôi không được ho, tôi phải nhịn, nín,
nín," cuối cùng vẫn nín không nổi "khụ, khụ, khụ..." Con nín
không nổi đâu, là bởi vì con không hiểu nguyên lý y học trong đó, mới làm như
vậy. Làm người cũng như vậy, phải hiểu đạo lý mới có thể khắc chế được bản
thân, nếu không hiểu đạo lý này, con bảo họ khắc chế, họ làm sao có thể khắc
chế được? Đây gọi là Ngộ. Sau đó trong ngoài có thể dẫn đường cho nhau đạt được
chứng ngộ. Nghĩa là chúng ta học Phật, học Bồ Tát, học Phật pháp, trong ngoài
phải tương ứng, nghĩa là bề ngoài và nội hàm phải hòa nhập vào nhau, cũng có
nghĩa là bề ngoài của tôi rất khiêm tốn, nội tâm cũng phải thật sự khiêm tốn.
Các con nhìn xem con người bây giờ giả tạo biết bao, bên ngoài nhìn thấy người
ta trên mặt cười hi hi nói: "Ái chà, bạn khỏe không? Lâu rồi không gặp,
nhớ bạn quá..." Quay người đi cái mặt liền biến sắc ngay. Mặt này biến đổi
nhanh thật, tâm và hành vi của người này là không nhất quán. Thật sự nhìn thấy
một người mình thích, tâm và hành vi phải nhất quán, chuyện bề ngoài (giả tạo)
con thà đừng làm còn hơn. Tôi nói như vậy người bên dưới trong lòng có thể sẽ
nghĩ: Đúng vậy, tôi chính là như vậy đấy, tôi không thích anh ta chính là không
thích. Sư phụ nói cho các con biết: Không thích anh ta con cũng phải thích anh
ta. Bởi vì anh ta là chúng sinh, chúng sinh chính là cha mẹ của chúng ta, chính
là con cái của chúng ta, chính là tất cả mọi thứ của chúng ta, chúng ta chính
là một trong những chúng sinh đó, tại sao con không thích anh ta? Bản thân con
không thích anh ta, con chính là có tâm phân biệt, chính là học Phật chưa học
tốt. Hiểu chưa?
Thế
nào là Chứng ngộ? Chính là tôi chứng thực rồi, tôi ngộ ra rồi. Tôi chứng thực
Pháp môn Tâm Linh của Đài trưởng thật sự tốt, tôi ngộ ra đạo lý này rồi, tôi
phải học cho tốt, tu cho tốt, đây gọi là chứng ngộ. Cho nên Ngộ đạo không ở
ngoài, trong, lý (bên trong), trung gian. Tại sao phải Ngộ đạo? Tôi ngộ ra rồi,
hóa ra là đạo lý này à, hóa ra là đạo lý kia à, toàn bộ không đúng. Không ở trong,
không ở ngoài, không ở lý, cũng không ở trung gian, Ngộ đạo nằm trong chân lý
vĩnh viễn không thay đổi. Nghĩa là con có thể hiểu đạo lý này là vĩnh viễn sẽ
không thay đổi, đó mới gọi là Ngộ đạo. Ví dụ vì Quan Thế Âm Bồ Tát vĩnh viễn
đang cứu độ chúng ta, chúng ta sau khi niệm kinh Bồ Tát sẽ quan tâm chúng ta,
cái này là chân lý vĩnh viễn không thay đổi, đúng không nào? Con người chúng ta
sống trên đời phải hiểu một đạo lý vĩnh viễn không thay đổi, đó là Thành Trụ
Hoại Không, Sinh Lão Bệnh Tử. Con hiểu những đạo lý này, con liền đạt được chân
lý, đó mới gọi là Ngộ đạo.
Năm
xưa Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi còn là thái tử, Ngài ngồi xe nhìn thấy trong
thành có những người già sắp cận kề cái chết, có người đói khát, có người bệnh
tật. Nhìn thấy họ rất khổ, trong lòng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni rất buồn. Phật
tổ nói: "Ta nhìn thấy những người này sao mà đáng thương như vậy, ta phải
tìm một con đường, con đường này chính là con đường khiến người ta vĩnh viễn
không chết, bởi vì nhìn thấy họ sinh lão bệnh tử, ta quá đau lòng." Kết
quả Phật tổ tìm thấy một con đường, chính là con người vĩnh viễn sẽ không chết
đi, bởi vì xác thịt con người có thể chết đi, nhưng tinh thần linh hồn của họ
là vĩnh viễn sẽ không chết đi. Đây chính là con đường tu linh hồn siêu sinh liễu
tử (siêu thoát khỏi sự sống chết) mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni phát hiện ra,
cũng chính là sự vĩ đại của Phật tổ. Sư phụ bây giờ dạy các con đang làm gì?
Chính là dạy các con làm sự nghiệp vĩ đại, chính là dạy các con ngộ ra một đạo
lý, hơn nữa đạo lý ngộ ra là chân lý vĩnh viễn không thể phá vỡ, là chân lý
vĩnh viễn sẽ không thay đổi. Sinh lão bệnh tử có thay đổi không? Thành trụ hoại
không có thay đổi không? Những bà lão, ông lão kia từ nhỏ sinh ra đã già như
vậy sao? Cho nên khi còn nhỏ phải nghĩ đến lúc già, khi già rồi phải quan tâm
người nhỏ. Vấn đề nằm ở chỗ: Khi già thường nghĩ đến lúc mình còn nhỏ đã tốt
với người ta thế nào; còn lớp người nhỏ tuổi lại nghĩ: "Được thôi, ông/bà
già như vậy rồi còn đối xử với tôi như thế này à?" Thử nghĩ xem những mâu
thuẫn này, cái hố sâu ngăn cách thế hệ này làm sao để vượt qua đây? Bận rộn cả
đời chẳng đạt được gì, cái gì cũng trắng tay, cứ thế đến cũng vội vàng đi cũng
vội vàng. Nhìn xem tuổi tác mình đã lớn, sức khỏe lại không tốt, có buồn hay
không? Nghĩ thử xem buổi tối khi ngủ cảm thấy buồn bã, thì biết con người này
là giả rồi.
Giác
thụ càng là cảm giác thân tâm hài hòa trong thực tu, cảm giác và tiếp nhận là
cảm giác thân tâm hài hòa trong thực tu. Con người sống trên đời thường nói mấy
câu: "Con người chúng ta sống chính là một hơi thở, tôi phải tranh cái hơi
này." "Tôi tức giận đến mức không nói nên lời (khí bất đả nhất xử
lai). Tôi sinh khí (tức giận) rồi." Đến cuối cùng người này nói: "Tôi
không còn hơi (khí) nữa rồi." Kỳ thực chính là một trường khí. Vui vẻ có
phải là một luồng khí không? Bi thương có phải là một luồng khí không? Đau lòng
có phải là khí không? Con người chính là sống trong cái trường khí này. Dùng
lời của thầy bói mà nói, con người sống trong Khí số. Khí có số, khí đến một
con số nhất định thì nó sẽ hết, cho nên gọi là khí số đã tận. Rất nhiều nhà
chiêm tinh học đều sẽ xem cho hoàng đế, xem đến cuối cùng nói: "Hoàng
thượng, khí số quốc gia này đã tận." Năm xưa Từ Hy Thái Hậu liền nói:
"Đại Thanh quốc chúng ta khí số đã tận". Khí số là sẽ thay đổi. Vừa
rồi còn đang tức giận, giận điên người, nhưng khi người khác nói: "Tôi
không phải nói anh, là nói anh tốt đấy, anh nhầm rồi." "A, thật
sao?" Khí này lập tức thay đổi. Có người vui mừng khôn xiết: "Tôi
trúng xổ số rồi". Một người đến nói: "Xin lỗi, báo nhầm số rồi."
"Hả?" Thất vọng rồi. Khí lập tức chuyển biến. Cho nên cái Khí này rất
quan trọng.
12. Tu trí tuệ của Cảnh giới Bồ Tát
Hôm
nay Sư phụ giảng chi tiết cho mọi người về giới Bồ Tát (cảnh giới Bồ Tát), giải
thích từng câu từng câu về cảnh giới của giới Bồ Tát cho các con nghe. Bồ Tát
là sự tu trì nhập vào thậm thâm thiền định (thiền định rất sâu), nghĩa là Bồ
Tát khi nhập vào cảnh giới cao đã hoàn toàn có thể định lại rồi, đã thiền tu
đến cảnh giới nhất định rồi, hơn nữa là sự tu trì thiền định rất sâu, có cảnh
giới rất cao, là vượt qua cảnh giới của Sơ địa Bồ Tát. Thiền định không phải là
tu trì bình thường, Thiền định là cái Định mang theo trí tuệ. Thiền định là có
trí tuệ. Tu trì chính là biết tu thế nào, biết giữ gìn thế nào.
Phải lấy Văn Tư Tu Huệ
của Phật pháp làm cơ sở, phải học cảnh giới cao nhất của Phật, phải lấy Phật
pháp cao nhất để đối chiếu với sự tu vi của bản thân. "Văn Tư Tu Huệ"
chính là dùng sự nghe, suy nghĩ của mình để tu tuệ căn của mình, lấy đạo lý cơ
bản nhất của Phật pháp làm cơ sở để tu tâm. Quảng tích (tích lũy rộng rãi) tư
lương phúc đức lợi ích chúng sinh. Đã đến giới Bồ Tát rồi, tại sao còn phải
quảng tích tư lương lợi ích chúng sinh? Chính là con đã là Bồ Tát rồi, con có
thể không xuống dưới cứu độ chúng sinh, nhưng đến cảnh giới cao Bồ Tát giới, Bồ
Tát không phải trong ý cảnh của mình, không chỉ quản mình là Bồ Tát, mà là phải
xuống dưới cứu độ chúng sinh, giống như chúng ta chuẩn bị đồ đạc trên người
mình vậy. Cái này gọi là quảng tích tư lương lợi ích chúng sinh. Sư phụ từ giới
Phật Bồ Tát xuống cứu độ chúng sinh, Sư phụ bắt buộc phải chuẩn bị tốt tư
tưởng: "Tôi đến nhân gian phải tu vi như thế nào, đến nhân gian phải có
thể Kham nhẫn (chịu đựng), năng vi nan sự (làm được việc khó), bi tâm mẫn niệm
chúng sinh." Sư phụ đến nhân gian đã chịu bao nhiêu khổ, để tôi từ nhỏ đã
thấu hiểu sự vô thường của nhân sinh. Đến nhân gian bắt buộc phải chuẩn bị tốt
tư tưởng, chuẩn bị tốt tư lương. Tư lương chính là tư nguyên (tài nguyên),
chính là một loại năng lượng, giống như lương thực dùng ở nhân gian.
Quảng tích phúc đức lợi ích chúng sinh, chính
là phải đem món quà của Bồ Tát tặng cho chúng sinh. Là món quà gì? Chính là
phúc đức, đem phúc đức tặng cho chúng sinh. Sư phụ mang xuống là để sức khỏe
của mỗi người tốt lên, gia đình hòa thuận, bệnh nặng hồi phục sức khỏe v.v.,
đây chính là quảng tích phúc đức chúng sinh. Là Bồ Tát xuống đây thì bắt buộc
phải mang theo phúc đức của Phật Bồ Tát, để làm lợi ích cho chúng sinh, đem
năng lượng phúc đức tặng cho chúng sinh, mới có thể đi thẳng vào chứng cảnh
chính quy mà không có chướng ngại (trực nhập chính quy đích chứng cảnh nhi vô
chướng ngại). Bởi vì con đã chuẩn bị tốt tư tưởng, bởi vì con là Bồ Tát, con
không những tự tu sẽ không rơi vào lục đạo luân hồi, mà cái con nghĩ đến là lợi
ích của chúng sinh, cảnh giới của con là đi về hướng cảnh giới của Phật, cho
nên con đã chuẩn bị xong tư lương, chuẩn bị xong tư lương phúc đức lợi ích
chúng sinh để đến nhân gian cứu độ chúng sinh.
Bồ Tát cảnh giới cao
đã là có loại ý niệm này, hoàn toàn là xuống cứu độ chúng sinh, cho nên cảnh
giới mới có thể nâng cao. Nếu nghĩ đến việc phải giúp đỡ chúng sinh bên dưới
(lục đạo), nghĩ càng nhiều càng từ bi, năng lượng càng cao, quả vị cũng càng
cao, thì có thể trực tiếp đi vào chứng cảnh của thiền tu mà không có chướng
ngại. Chứng cảnh chính là ý cảnh. Khi cảnh giới của một người cao, sẽ không có
chướng ngại. Ví dụ vợ chồng một người niệm Kinh một người không niệm Kinh,
người niệm Kinh cảnh giới sẽ cao, hay làm việc tốt, làm công đức; còn người
không niệm Kinh kia sẽ tạo ra rất nhiều chướng ngại để ngăn cản người khác làm
việc thiện, làm công đức. Khi cảnh giới của Bồ Tát đến cảnh giới chứng tu này,
thì có thể trực tiếp phá trừ chướng ngại đi vào cảnh giới chứng tu. Chướng ngại
phá trừ như thế nào? Nếu con đứng trên một ngôi nhà nhỏ, ngôi nhà phía trước
cao hơn con thì con sẽ không nhìn thấy bất cứ thứ gì phía trước, cái này gọi là
chướng ngại, không nhìn thấy chính là chướng ngại. Khi con leo lên đỉnh một
ngọn núi rất cao, phía trước con không có chướng ngại nữa. Nghĩa là khi cảnh
giới của con thăng lên vị trí rất cao, phía trước con toàn bộ đều là bằng
phẳng, tất cả chướng ngại đều không còn nữa. Nếu cái gì cũng buông bỏ rồi,
phiền não gì cũng không còn, cảnh giới của con tự nhiên sẽ nâng cao, chướng
ngại cũng sẽ không còn. Phá trừ chướng ngại, đứng càng cao chướng ngại càng ít,
cảnh giới càng cao, chướng ngại trong cuộc sống con người sẽ ngày càng ít đi,
cái gì cũng nghĩ thông rồi, nhìn thấu rồi -- ồ, con người hóa ra nhỏ bé như
vậy. Các con từ trên máy bay nhìn nhà cửa, ô tô dưới mặt đất có giống con gián,
con kiến không? Nhà cửa có giống bao diêm không? Con người nhỏ bé biết bao. Bởi
vì con ở trên cao không mới có thể nhìn thấy con người nhỏ bé biết bao. Nếu bản
thân ở nhà còn tưởng nhà mình rất to, rất ghê gớm, nhưng từ trên cao nhìn xuống
giống như một bao diêm, có gì mà ghê gớm. Phải nghĩ như vậy, nhìn như vậy, hiểu
chưa?
Bồ Tát cảnh giới cao
là Minh địa, Minh địa chính là quang minh, phóng quang (tỏa sáng). Cảnh giới
của Bồ Tát rất cao, mắt của Ngài rất rõ ràng, rất sáng, cái gì cũng nhìn rõ
ràng rành mạch, bất luận các con nói gì, trong lòng Ngài rất sáng tỏ, đều rất
rõ ràng. Đang thính văn chánh pháp (nghe chánh pháp), "Văn" ở đây là
Văn của Thanh Văn Duyên Giác. Văn và Thính (nghe) là hai khái niệm. Văn là mở
tất cả trí tuệ của con ra, mắt thấy, tai nghe v.v. Chính là mở toàn bộ thất
khiếu của con ra, trí tuệ của con toàn bộ có thể phóng ra. Văn là có trí tuệ.
Đã có thể hiểu đạo lý con nói, mới gọi là Văn. Sư phụ hôm nay giảng pháp cho các
con, nếu các con nghe không hiểu, thì gọi là "Thính"; nếu hiểu pháp
Sư phụ nói, thì gọi là "Văn", đây là hai khái niệm khác nhau. Thanh
Văn, Duyên Giác Bồ Tát nói về cái đạo này. Văn là về cơ bản hiểu đạo lý rồi,
mới gọi là Văn.
"Tư duy pháp
nghĩa" chính là tâm tư duy của Bồ Tát nghĩ về pháp giới. Pháp giới chính
là Nhân giới (cõi người) mà chúng ta nói hiện nay, chúng ta đang ở trong Nhân
đạo, cái Pháp này là cái nhân gian mà Bồ Tát đặc biệt chỉ định, gọi là Pháp
giới. Còn chúng ta gọi là Thế giới. Thế nào là Pháp ý? Chữ "Ý" thực
tế chính là cảnh giới. Tất cả những thứ con nghĩ, tất cả những thứ con tư duy
gọi là Pháp ý. Nghĩa là những thứ vượt ra khỏi tư duy pháp giới này, dùng để
chỉ đạo tư duy pháp giới của con. "Giải ngộ phân ly", ngộ ra những
thứ mình cho là chân lý. Bồ Tát phải hóa giải là: Con cho là chân lý, nhưng
chưa chắc là chân lý. Bồ Tát có trách nhiệm này để hóa giải và khai ngộ. Ví dụ
có những người tu hành rất chấp trước, con nói với họ pháp môn của Đài trưởng
tốt thế nào thế nào, họ cho rằng mình đã tu pháp môn này rồi, tôi đã niệm Kinh
này rồi, tôi thế này thế nọ, nếu họ nói tôi cái này tốt thế nào thế nào, chứng
tỏ họ đã ở trong cái này rồi, họ cho rằng cái này là chính xác, là chân lý, cho
nên họ mới chấp trước đi theo đuổi. Một người làm việc sai trái đều là vì bản
thân cho là đúng, mới dám đi làm. Hôm nay dù là không vui, có ý kiến với người
này, cũng là vì bản thân cho là đúng. Đúng không? Họ cho rằng đây là chân lý,
nhưng Bồ Tát chính là muốn giúp con hóa giải, giúp con khai ngộ, để con hiểu
việc mình làm có phải là chân lý hay không. Tại sao học Phật học đến sau này
lại đi lệch lạc? Chính là vì tưởng mình là đúng, tưởng mình học là chân lý,
chính là vì bản thân cho là đều đúng, nếu thật sự là đúng thì có công đức, nếu
đi lệch rồi sẽ tạo nghiệp. Đây chính là Sư phụ giảng cho các con cảnh giới của
Bồ Tát là giải ngộ nhân sinh, giúp đỡ hóa giải, để các con khai ngộ.
"Vị pháp vong
khu" (vì pháp quên thân), vì hoằng dương Phật pháp quên đi thân xác của
mình, xả thân cứu người. Sau đó y pháp tu hành (dựa vào pháp để tu hành), phải
dựa vào Phật pháp này để tu hành, quảng tu phúc đức. Bồ Tát làm sao cũng phải
quảng tu phúc đức? Phúc đức không phải là thứ của nhân gian sao? Tại sao lên
trời rồi còn phải tu phúc đức? Phúc đức này đến từ nhân gian, con ở nhân gian
tu Bồ Tát đạo giống như chúng ta ở nhân gian muốn học học vị tầng thứ nào vậy,
đều là có cấp bậc. Ở nhân gian con vẫn có thể tu Bồ Tát đạo, vấn đề là con tu
được không? Tu có tốt không? Nếu học tu Bồ Tát không tu tốt, nói không chừng
kiếp sau lại đầu thai làm người. Bởi vì cảnh giới không giống nhau. Cảnh giới
con yêu cầu quá cao, lỡ như tu không thành công rơi xuống, con ngay cả học vị
cơ bản cũng không có.
Rất nhiều người niệm A
Di Đà Phật muốn đi Tây Phương Cực Lạc thế giới, niệm đến cuối cùng tưởng rằng
mình có thể đi Tây Phương Cực Lạc thế giới, tưởng rằng lúc lâm chung nhất niệm
A Di Đà Phật, A Di Đà Phật sẽ đến tiếp dẫn. Nếu trước lúc lâm chung hồn phách
xuất ra, lời nói không ra, ngay cả ý niệm cũng không có, trực giác cũng mất đi,
còn có thể niệm A Di Đà Phật không? Đây chính là nghiệp chướng của con chướng
ngại con niệm A Di Đà Phật. Loại nghiệp chướng này chính là chướng ngại trong
quá khứ của con, ngăn cản con đi Tây Phương Cực Lạc thế giới. Bởi vì con ở nhân
gian chưa tiêu trừ toàn bộ những nghiệp chướng này, cho nên không thể đạt được
lúc con đi nhất niệm thánh hiệu A Di Đà Phật, Phật Bồ Tát liền đến tiếp dẫn
con. Phật Bồ Tát nói khi con lâm mệnh chung (sắp chết) niệm A Di Đà Phật là có
tư cách (điều kiện). Con lúc lâm mệnh chung vui vẻ, không nợ không bệnh, lúc đó
con niệm A Di Đà Phật mới có thể lên Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nếu làm rất
nhiều việc xấu, nghiệp chướng sâu nặng, trong lòng nghĩ khi tôi lâm mệnh chung
chỉ cần nhất niệm A Di Đà Phật là có thể vãng sinh, đó là không thể nào. Thế
thì không còn nhân quả đáng nói nữa rồi. Nghiệp chướng sâu, nợ chưa trả hết có
thể lên được không? Ví dụ con ở Sydney nợ người ta một triệu, con bỏ trốn,
nhưng bất luận con trốn đi đâu cũng khó thoát lưới pháp luật. Sư phụ bây giờ
truyền thụ Pháp môn Tâm Linh cho các con chính là muốn các con tự tiêu trừ
nghiệp chướng, trả hết nợ nần, mới có thể quy "Gia" (cái nhà này
chính là Phật quốc). Cho nên trong "Kinh A Di Đà" nói: "Bất khả
dĩ thiểu thiện căn phúc đức nhân duyên, đắc sinh bỉ quốc." (Không thể lấy
ít thiện căn phúc đức nhân duyên mà được sinh về nước kia).
13. Học - Phật tư Phật kiến, Hành - Từ bi chi đạo
Phổ
độ chúng sinh. Một người có thể phổ độ chúng sinh đã có được trí tuệ của Phật,
nghĩa là không chỉ cứu mình, mà còn cứu người, đây chính là sự thể hiện trí tuệ
của Phật trên người họ, chính là tinh thần của Phật thể nghiệm trên người họ.
Phổ độ chúng sinh còn phải có thực tiễn. Học Tam địa Bồ Tát phải biết thực
tiễn. Con ở nhân gian học làm Bồ Tát, phải không ngừng thực tiễn. Phải nhớ thực
tiễn chính là cứu độ chúng sinh, thực tiễn sinh ra hiểu biết chân chính (thực
tiễn xuất chân tri). Kiến thức chân chính, thứ thực sự tốt đều là dựa vào thực
tiễn mà có được, cho nên phải biết thực tiễn. Ở nhân gian tu Bồ Tát đạo, phải
nghĩ làm thế nào thực tiễn nhiều hơn, học Bồ Tát cứu độ chúng sinh nhiều hơn.
Hôm nay tôi đi cứu người vấp phải đinh (gặp khó khăn/bị từ chối) rồi, không
sao, ngày mai tôi lại nghĩ cách làm thế nào đi cứu độ. Trong trải nghiệm độ
người mới có thể tự độ. Chỉ khi con trong thực tiễn học mọi thứ thật thấu đáo,
con mới có thể lĩnh ngộ sâu sắc, hoàn toàn giải thoát, mới có thể trở thành Bồ
Tát, mới có thể độ người. Đây gọi là tự độ độ tha.
"Dục
căn trị vô lượng chúng sinh đích phiền não tâm bệnh" (Muốn trị tận gốc tâm
bệnh phiền não của vô lượng chúng sinh), nghĩa là Bồ Tát bắt buộc phải có một
niềm tin: Tôi nhất định phải trị tận gốc tâm bệnh phiền não của tất cả chúng
sinh. Bởi vì trong tâm bệnh của chúng sinh, khó khắc phục nhất chính là tâm
bệnh phiền não. Thế giới này ai không có phiền não? Đều có phiền não, bởi vì
Nhân đạo chính là Phiền não đạo. Bồ Tát muốn cứu độ chúng sinh, bắt buộc phải
có niềm tin, phải trị tận gốc tâm bệnh phiền não của chúng sinh. Phàm là những
thứ gây tổn thương cho người khác, những thứ không tốt cho bản thân toàn bộ
phải loại bỏ. Người không biết sám hối, người không biết kiểm soát bản thân,
không biết giác ngộ, người này không thể gọi là con người thực sự. Muốn trị tận
gốc tâm bệnh phiền não của vô lượng chúng sinh, duy chỉ có cứu vớt tâm bệnh
phiền não của chính mình trước. Con muốn cứu độ người ta, trước tiên phải cứu
độ chính mình, chữa khỏi tâm bệnh của mình trước. Tâm bệnh của mình còn chưa
chữa khỏi, làm sao đi trị tận gốc tâm bệnh của người ta? Bắt buộc phải cứu vớt
tâm bệnh phiền não của chính mình trước, đưa thân tâm vượt ra khỏi sự trói buộc
của ái dục sinh tử thế gian, đưa thân thể và tâm linh học Phật của mình vượt ra
khỏi ái dục của nhân thế gian, phải siêu thoát tất cả ái dục, phải chinh phục
sự trói buộc của sinh tử. Bởi vì ái dục mới khiến con có sinh có tử, nếu không
có ái dục thì không có sinh tử. Nếu người này trên thế giới không có ái dục,
thực tế người này đã siêu thoát sinh tử. Ở nhân gian thứ gì có thể trói buộc
con nhất? Trói buộc con nhất là Ái dục. Muốn cởi trói? Trước tiên hãy xua đuổi
dục vọng trên người mình, loại bỏ ái dục. Bất cứ tình yêu nào ở nhân gian chẳng
qua chỉ là một loại nhân duyên hòa hợp mà thành. Đứa con con yêu, người con yêu
hôm nay, thực tế chính là duyên phận kiếp trước của con kiếp này lại đến tụ
duyên. Giống như con tổ chức tiệc. Có những người bạn đã lâu không gặp, có
những người con rất thích, con có thể giữ họ lại hết không? Tiệc tan rồi mọi
người đều rời đi. Phải học cách buông ra. Những cái này đều là đồ giả, con có
thể giữ lại được không? Nói đi là đi rồi, đều là một giấc mộng không (trống
rỗng). Dục vọng nhân gian toàn là giả. Ái biệt ly khổ (khổ vì yêu mà phải chia
ly) toàn bộ là để con nếm trải. Giảng giải như vậy các con rất dễ hiểu rồi.
Toàn bộ là nhân duyên hòa hợp mà thành. Phải học cách giải thoát, phải loại bỏ
toàn bộ dục vọng của mình. Tất cả đều là giả. Nghĩ thông rồi, sự trói buộc tự
nhiên sẽ không còn.
Đừng cảm thấy mình rất
ghê gớm, cũng đừng cảm thấy mình rất bất lực, không có gì cả. Con người đến thế
giới này chính là mượn cái đài tảng này đi một vòng, phải đi cho tốt hết đoạn
đường này của mình. Cuộc đời giống như một bữa tiệc, từ sáng đến tối, một ngày
chính là một đời của con. Buổi sáng khi đến, com-lê cà vạt, ra dáng ra hình,
lịch sự nho nhã -- đó là lúc con còn trẻ; đến buổi chiều mệt rồi, mệt mỏi rã
rời -- đó là lúc con về già; đến buổi tối, bò không dậy nổi nữa, ngủ một giấc
đi luôn, đi rồi -- cuộc đời này kết thúc rồi. Đều là giả, đừng coi là thật. Học
Phật phải học Chân lý (chân đế). Chỉ có Phật Bồ Tát mới có thể giải thích đạo
lý của không gian vũ trụ này, Phật pháp là nói đến nguồn gốc rồi. Cho nên phải
đưa thân tâm vượt ra khỏi sự trói buộc của ái dục sinh tử thế gian, sau đó nhất
tâm chuyên chú vào việc theo đuổi trí năng của Phật đạo.
Kỳ thực Sư phụ có thể
giảng mỗi câu rất dài, nhưng do quan hệ thời gian, chỉ có thể giảng nhanh cho
các con. Chính là phải nhất tâm chuyên chú vào việc theo đuổi trí năng của Phật
đạo, nghĩa là khi con học Bồ Tát, con phải nhất tâm chuyên chú dùng trí tuệ và
đức năng để xem Bồ Tát cứu độ chúng sinh như thế nào, phải theo đuổi đức năng
và trí tuệ của Phật Bồ Tát. Nói đơn giản chính là phải chú ý cái Đức của Phật
Bồ Tát, các Ngài cứu độ chúng sinh như thế nào, mới có thể tu chứng Bi Trí (Từ
bi và Trí tuệ) rộng lớn như hư không. Bi Trí rộng lớn, nghĩa là tuy con trong
không gian này cái gì cũng không có, cái gì cũng không nhìn thấy (Sư phụ từng
giảng cho các con cái này là Không, cái kia cũng là Không), nhưng trong cái hư
không này con phải tu thành một Đức năng. "Bi Trí" nghĩa là con phải
có lòng bi mẫn phải có trí tuệ. Cũng có nghĩa là tuy là hư không, cũng phải
trong cái Không này tìm kiếm một loại trí tuệ và bi mẫn có thể cứu độ chúng
sinh. Sư phụ từng giảng cho các con, Giả đến lúc Chân thì Chân cũng Giả, Chân
đến lúc Giả thì Giả cũng Chân. Thứ gì cũng có thật thật giả giả, trong thứ hư
không có thứ hư giả. Ví dụ nó muốn lừa con, nó có đưa thứ thật cho con trước
không? Phải mượn Giả tu Chân.
"Tu
chứng như hư không ban đích quảng đại bi trí, triệt để đối trị chúng sinh vô
lượng phiền não bệnh chứng" (Tu chứng Bi Trí rộng lớn như hư không, triệt
để đối trị chứng bệnh phiền não vô lượng của chúng sinh). Nghĩa là đến chữa trị
chứng bệnh phiền não của chúng sinh, bởi vì con dùng những bi mẫn và trí tuệ
này, mới có thể cứu vớt và trị liệu (chữa trị) phiền não vô lượng của chúng
sinh. Phiền não vô lượng của chúng sinh dựa vào cái gì để giải quyết? Là dựa
vào lòng bi mẫn của Bồ Tát. Chỉ có từ bi mới có thể cứu độ chúng sinh, hơn nữa
phải có trí tuệ. Sư phụ bây giờ cứu người có trí tuệ không? Sư phụ đối với
người có căn tính khác nhau thì dùng tầng thứ khác nhau để khai thị. Tâm ai mẫn
(tâm bi mẫn) lợi ích chúng sinh vô lượng, nghĩa là dùng tâm từ bi vô lượng để
làm lợi ích cho chúng sinh. Bồ Tát đến nhân gian là muốn cứu độ chúng sinh, một
người cũng phải cứu, một trăm người cũng phải cứu, một ngàn người cũng phải
cứu... Không thể một người đến rồi, tôi không cứu nữa. Không phải vậy. Cứu được
bao nhiêu thì cứu bấy nhiêu, là lợi ích chúng sinh vô lượng.
"Tại
tịch tĩnh an tĩnh đích hoàn cảnh lý thu nhiếp thân tâm" (Thu nhiếp thân
tâm trong hoàn cảnh tịch tĩnh yên tĩnh), chính là thu nhiếp sáu căn trong hoàn
cảnh bản thân cảm thấy rất yên tĩnh, rất ninh tĩnh. Sự yên tĩnh này không phải
con nhất định phải đến một nơi không có tiếng ồn ào, là để tâm của con tự có
thể yên tĩnh lại. Tại sao có người đến nơi rất náo nhiệt vẫn có thể niệm Kinh?
Tại sao có người có một chút tiếng động tâm liền không thể tĩnh rồi? Yên tĩnh
là yên tĩnh cái tâm của con, Tịch tĩnh là tâm con tĩnh, hiểu không? Có câu nói:
Tâm tĩnh tự nhiên lương (mát). "Tư duy Phật pháp", chính là trong đầu
chỉ có Phật Bồ Tát, y giáo tu hành, dựa theo lời dạy của Sư phụ để tu hành, dựa
theo lời dạy của Phật giáo để tu hành. Dùng Nhẫn lực, Nại lực, Nghị lực, dùng
ba cái lực này tập hợp thành sức mạnh tinh thần chuyên chú. Các con phải dung
hội quán thông cảnh giới của Bồ Tát. Con muốn làm Bồ Tát, bây giờ có mục tiêu
rồi, phải dùng Nại lực, Nhẫn lực, Nghị lực tập hợp thành sức mạnh tinh thần
chuyên chú. Một người khi bị người ta mắng mà không trả miệng, đây chính là có
Nhẫn nại lực. Người ta nói con không tốt, con càng phải tốt; nói con không
được, con càng phải được, đây chính là Nghị lực. "Siêu xuất dục giới chúng
sinh đích tán địa giới hạn" (Vượt ra khỏi giới hạn tán địa (tản mát) của
chúng sinh dục giới), bởi vì con có nại lực, dùng nhẫn lực, có nghị lực; bởi vì
con tư duy Phật pháp, y giáo phụng hành; bởi vì con thu nhiếp thân tâm, trong
hoàn cảnh yên tĩnh có tâm từ bi vô lượng; bởi vì con có tâm Bi Trí, con có thể
chữa lành phiền não như hư không của nhân gian, ái dục sinh tử của con được cởi
trói rồi. Sau khi rời khỏi những sự trói buộc này, con liền rời khỏi Dục giới
thiên, tiến vào cảnh giới Tứ Thánh Đạo. Hiểu chưa? Tại nhân gian có thể tiến
vào cảnh giới Tứ Thánh Đạo. Các con phải học cảnh giới của Phật Bồ Tát.
Sư
phụ đặt cho thế giới này một cái tên khác gọi là "Hiển Tướng Giới",
tức là Hiển Duyên Phận Tướng (Tướng hiển lộ duyên phận). Người ta thường nói:
"Hiện nguyên hình", cũng chính là hiện ra cái tướng ban đầu. Tại sao
gọi là Hiển Tướng Giới? Bởi vì tất cả những gì con làm trong kiếp sống quá khứ
đều sẽ hiện ra bản tướng của con trong thế giới này. Phải mang cái tâm như vũ
trụ — tâm như vũ trụ chính là tâm của Bồ Tát, là cái tâm có thể dung nạp trăm
sông. Dùng cái tâm như vũ trụ để sống từng phút từng giây trong Hiển Tướng Giới
này (trong thế giới hiển lộ bản tướng này).
Các
con phải biết trong sự sở hữu, chỉ có "Tri túc" (biết đủ) Phật Bồ Tát
cho là tốt nhất, ưu tú nhất. Ví dụ sở hữu thế giới này, sở hữu nhân gian, sở
hữu tài phú, sở hữu tất cả mọi thứ... chỉ có "Tri túc" Phật Bồ Tát
cho là tốt nhất, ưu tú nhất. Nghĩa là trong tất cả tài phú (vật chất) chúng ta
sở hữu ở nhân gian, chỉ có "Tri túc" là thứ tốt nhất, ưu tú nhất,
hiểu chưa? Phật Bồ Tát giảng chính là Phật pháp nhân gian. Sau khi biết đủ cái
nhận được là sự sở hữu. Khi con người chỉ có sau khi biết đủ, mới có thể đạt
được sự sở hữu thực sự. Bởi vì con biết đủ rồi, con liền yêu quý nó, liền vui
vẻ rồi. Con hôm nay sở hữu chồng của con, nếu biết đủ rồi, sẽ cảm thấy đối
phương thật tốt, chuyện gì cũng sẽ nghĩ cho anh ấy. Biết đủ rồi, con liền sở
hữu anh ấy. Nếu không biết đủ, sẽ cảm thấy đối phương thật đáng ghét, chuyện gì
cũng không hài lòng, cuối cùng liền mất đi anh ấy. Cho nên phải biết đủ mới có
thể đạt được sự sở hữu, đây chính là Phật ngôn Phật ngữ của Sư phụ.
Các
con phải học cho tốt, đây đều là đạo lý làm người cơ bản. Biết đủ mới có thể
vui vẻ, mới có thể thường lạc; biết đủ mới có thể sở hữu. Tuy con không có tài
phú, nhưng con sở hữu pháp bảo, pháp bảo này chính là cái người ta gọi là
"Như Ý". Thế nào là Như Ý? Hướng về Như Ý gọi một tiếng, muốn gì có
nấy. Sau khi con biết đủ hãy hướng về chính mình nói: "Tôi biết đủ rồi,
tôi biết đủ rồi, tôi biết đủ rồi." Nói ba lần. Ví dụ ngôi nhà này của tôi,
tôi biết đủ rồi, tôi biết đủ rồi, tôi biết đủ rồi. Phiền não của con sẽ không
còn nữa, con liền sở hữu ngôi nhà này. Bởi vì con cảm thấy con không cần đổi
ngôi nhà này nữa, có ngôi nhà này tôi biết đủ rồi, con ở trong nhà sẽ rất vui
vẻ, cảm thấy cái gì cũng là của con, con liền sở hữu nó. Nếu đối với ngôi nhà
không biết đủ, đem đi bán rồi, ngôi nhà này sẽ không còn là của con nữa, con
liền mất đi ngôi nhà này.
Tương
tự, khi cái chết đến, cái con đối mặt là gánh nặng của tà ác tạo ra trong cả
đời. Chính là lúc con sắp chết, tà ác con tạo ra cả đời toàn bộ đều xuất hiện.
Như gỉ của sắt sinh ra từ sắt mà ăn mòn sắt. Bởi vì gỉ sắt sinh ra là đến từ sự
ăn mòn của sắt. Ác xuất tự nhân nhi xâm thực ư nhân (Ác xuất phát từ người mà
xâm thực người). Cái ác trên người một người là đến từ việc bản thân con người
tự tạo ra, để chướng ngại chính mình. Ví dụ, một người thích hút thuốc, thói
quen này là do tự mình tạo ra, sau đó bị bệnh phổi là tự mình ăn mòn cơ thể
mình. Chính là cái ác trên người toàn bộ đều do tự mình tạo ra, sau đó lại làm
tổn thương chính mình.
14. Diệu ngộ Diệu pháp — Viên giác Diệu tâm
Chúng
ta học Phật thực tế chính là phải làm cho cái "Khí" của mình thuận,
làm cho khí tốt thuận hơn, làm cho khí không tốt thuận thành tốt, đó mới gọi là
Lý khí (điều chỉnh khí). Cho nên, khi Thân, Tâm và Khí hoàn toàn không đổi (bất
biến/kiên định), đó mới gọi là Bồ Tát. Nghĩa là thân thể con tốt rồi, trong
lòng con nghĩ thông rồi, khí của con cũng điều chỉnh thông rồi, nhuận thuận
rồi, lúc đó con mới thực sự hiểu đạo lý này rồi, sẽ không tức giận nữa, bởi vì
thế giới này đều là giả. Hôm nay người bạn trai này rời bỏ tôi, tình cảm khí số
của hai chúng tôi đã tận, cho nên tôi có lỗi với anh ấy, anh ấy cũng có lỗi với
tôi, thôi bỏ đi. Khí nghĩ thuận rồi, cũng liền nghĩ thông rồi, sau khi nghĩ
thông rồi sự việc này liền giải quyết. Nếu con rất hận anh ta, rất buồn bã,
thực tế chính là cái khí này của con chưa lý thuận. Hiểu chưa? Cái này không
gọi là khai ngộ. Khai ngộ chính là tôi hôm nay mất tiền rồi, trong lòng nghĩ
"biết đâu số tiền này không mất cũng bị người ta phạt tiền". Cười một
cái, như vậy khí của con liền thuận. Còn rất nhiều người sẽ rất buồn bã. Tại
sao có người cả đời vì Tài? Mà có người cả đời vì Tình? Tại sao có người lại
Si? Chính là vì họ lý không rõ (không làm cho thuận được). Có câu nói "Cắt
không đứt, gỡ càng rối." Nghĩa là một người bất kể làm việc gì, nếu không
đi nghĩ đến nó, có thể sẽ qua đi; con càng nghĩ càng không rõ ràng, con nghĩ
càng nhiều sẽ càng buồn, càng gỡ không ra. Đây chính là không khai ngộ. Nghĩ
thông rồi, khí thuận rồi, việc này liền giải quyết.
Giác thụ là thăng lên
từng tầng một, nghĩa là cảm giác của con và một loại cảm giác con nhận được là
thăng lên từng tầng một, thăng đến cuối cùng là cảm nhận hoàn toàn không thay
đổi. Nghĩa là chúng ta khi vừa bắt đầu lạy Quan Thế Âm Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ
Tát chăm sóc con một chút, nhưng qua một thời gian niệm niệm sao không linh
nữa, Bồ Tát sao không quan tâm con nữa? Lại niệm. Không phải Quan Thế Âm Bồ Tát
không giúp con, mà là nghiệp chướng của bản thân quá sâu, tôi phải tiếp tục
tĩnh tâm niệm, đợi đến một thời điểm nhất định, bản thân ngày càng sạch sẽ rồi,
con sẽ ngày càng thuận lợi. "Ái chà, Quan Thế Âm Bồ Tát lại đến giúp con
rồi." Không phải lại đến giúp con, mà là vẫn luôn đang giúp con, khi con có
khó khăn là Quan Thế Âm Bồ Tát giúp con tiêu trừ kiếp nạn, chẳng qua là con
không cảm nhận được sự tồn tại của sức mạnh Bồ Tát mà thôi.
Tôi lấy một ví dụ: Ở Trung Quốc chúng ta chẳng
phải có xe ba bánh sao? Khi con kéo xe lên dốc cảm thấy rất mệt, đột nhiên một
người ở phía sau giúp con đẩy, con sẽ cảm thấy nhẹ nhõm hơn một chút, điều này
giống như là Quan Thế Âm Bồ Tát đang giúp con. Khi con vừa mới cảm giác được,
đây chính là Giác thụ. Đẩy đến sau này cảm thấy người ta không dùng sức, thực
ra người ta vẫn đang dùng sức giúp con, chỉ là vì ngày càng cao, ngày càng mệt,
người ta đang giúp con đẩy con cũng không cảm thấy có sức mạnh, đây chính là
cảm giác thứ hai của con. Đợi đến khi đẩy đến đỉnh cao nhất, thực tế chính là
con tu thành rồi, lúc này Quan Thế Âm Bồ Tát tùy tiện điểm hóa một cái, xe của
con liền rất nhẹ nhàng đi xuống. Bây giờ hiểu chưa? Đây gọi là Bạch Thoại Phật
Pháp. Đây chính là con có thể cảm giác, giác thụ được Bồ Tát. Đây là cảm giác
rất quan trọng, hơn nữa là thâm nhập từng tầng một, đến cuối cùng hoàn toàn đều
thay đổi. Nghĩa là tôi hoàn toàn có niềm tin vào Bồ Tát: "Quan Thế Âm Bồ
Tát nhất định sẽ cứu tôi, đã không có bất kỳ suy nghĩ nào có thể thay đổi tôi
nữa." Lúc đó con chính là Giác thụ.
Nếu con dùng cảm giác
hoàn toàn không thay đổi cộng với sự hòa nhập của lý thuyết Phật giáo, nghĩa là
khi con có thể hiểu Bồ Tát đang cứu con, khi con đang niệm Kinh cảm thấy Bồ Tát
ban cho con tình yêu thương vô hạn, lúc đó con lại học thêm một chút lý thuyết
Phật giáo. Rất nhiều người nói: Sư phụ ngài chẳng phải không cho chúng con học
lý thuyết Phật giáo sao? Vậy con bây giờ học lý thuyết Phật giáo thế nào đây?
Nghĩ thử xem, Sư phụ bây giờ có phải đang giảng lý thuyết Phật giáo cho các con
không? Các con phải đem lý thuyết Phật giáo dung hội quán thông vào trong cuộc
sống hiện thực. Ngộ đạo chính là giác ngộ được bản thân sẽ không dễ dàng thay
đổi, đó chính là Ngộ đạo. Còn các con đôi khi tư duy thường xuyên thay đổi,
thực tế cái này không gọi là Ngộ đạo. Thật sự Ngộ đạo thì, tôi chính là tin
tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát. Tôi cảm thấy người này tốt, tôi liền kiên định niềm
tin. Tôi cảm thấy Phật pháp này đối với tôi là lợi ích cả đời, tôi sẽ vĩnh viễn
tu tiếp. Cái này gọi là Khai ngộ.
Sư phụ bây giờ bổ sung
thêm một chút những gì lần trước chưa giảng hết cho các con. "Viên Giác
Diệu Hạnh", chính là con xem tất cả mọi việc trên thế giới đều là rất viên
mãn, con liền giác ngộ rồi. Chỉ mấy chữ này thôi, Bồ Tát điểm hóa cuộc đời thấu
đáo biết bao. Chuyện gì cũng rất viên mãn rồi, con liền giác ngộ rồi. Nhà con
hôm nay bị người ta trộm, con vốn dĩ nên buồn bã, nên rất đau thương, nhưng con
dùng Viên giác, dùng sự giác ngộ tròn đầy để cảm giác nó, con liền cảm thấy:
"Ồ, là tôi không tốt, bình thường quá phô trương, để người ta đến trộm. Là
tôi không khóa cửa kỹ, có thể người này có oan kết với tôi từ kiếp trước. Tôi
tiêu tiền tiêu tai (của đi thay người), phá tài miễn tai." Con nghĩ như
vậy, chẳng phải đã làm tròn (viên) sự việc này rồi sao? Viên rồi con liền giác
ngộ rồi, sau khi giác ngộ con sẽ không tức giận nữa.
Viên Giác Diệu Tâm là
gì? Dùng cái tâm tốt đẹp (diệu tâm) của con biến thành rất nhiều chuyện tốt
đẹp, đem rất nhiều chuyện biến qua biến lại để giải quyết những vấn đề này,
chính là Diệu pháp. Ví dụ vợ của con không tốt, có thói quen cờ bạc, con liền
dùng phương pháp để cô ấy hiểu cờ bạc không tốt, cái này chính là Diệu tâm.
Quan Thế Âm Bồ Tát đến nhân gian cứu độ chúng sinh, chính là thường dựa vào
thân của rất nhiều người để hiện thân thuyết pháp, cho nên gọi là Diệu tâm --
chính là cái tâm này rất vi diệu, cứ không ngừng xoay chuyển, dùng hàng ngàn
hàng vạn cách thức để cứu độ các con. Tám vạn bốn ngàn pháp môn, thực tế chính
là tám vạn bốn ngàn phiền não, có một phiền não sẽ sinh ra một pháp môn. Bởi vì
phiền não của con người vô số, hàng ngàn hàng vạn, cho nên mới sinh ra hàng
ngàn hàng vạn diệu pháp, pháp môn vô cùng vi diệu. Hiểu chưa? Có loại Viên Giác
Diệu Tâm này, bất luận con gặp chuyện gì con sẽ bỗng nhiên khai ngộ.
"Tịch
Quang Chân Cảnh", chính là gom ánh sáng lại (tịch quang), cảnh giới chân
chính của con mới dần dần hiển hiện. Khi một người yên tĩnh lại, giống như một
chiếc đèn pin vậy, con có thể điều chỉnh ánh đèn, ánh đèn sẽ tán ra. Cũng cùng
một ánh sáng này, con có thể điều chỉnh ánh sáng đèn pin tụ vào một điểm, cái
này gọi là Tịch quang. Khi con tụ ánh sáng vào một điểm, liền tạo thành cảnh
giới của con hiển hiện; khi con làm ánh sáng tán đi, con soi đâu cũng nhìn
không rõ. Cho nên khi tụ tâm vào một điểm, cảnh giới chân chính của con mới
xuất hiện. Con cứ đi theo Quan Thế Âm Bồ Tát, con mới đạt được cảnh giới của
Phật chân chính. Cho nên Tịch quang chính là yên tĩnh, sau đó niệm Kinh, loại
cảnh giới này mới thường hiển tiền, chính là cảnh giới này thường sẽ đến trước
mắt con cho con nhìn thấy, nhưng, không phải lập tức có thể làm được. Bởi vì
khi rất nhiều người muốn tịch tĩnh (tụ tập) tâm mình vào một điểm, liền dùng đủ
mọi phương pháp, ví dụ ngồi thiền, suy nghĩ nát óc, trong đầu cứ muốn giữ Đan
Điền. Xong rồi, "Bốp" đột nhiên một thứ nhảy vào con liền tẩu hỏa
nhập ma. Cho nên cái Tịch quang này càng không dễ dàng. Nhớ kỹ bản thân ngàn
vạn lần đừng làm bừa. Khi con trúng ma phát cuồng, Sư phụ nói cho các con biết
Bồ Tát cũng không cứu được con.
Dục
vọng của nhân gian bay lượn khắp nơi, hôm nay tôi muốn thế này, ngày mai tôi
muốn thế kia, giống như mây đen trên trời từng đám từng đám che khuất ánh sáng
trước mắt con. Nghĩa là khi dục vọng của một người bay tán loạn khắp nơi, hôm
nay nghĩ cái này, ngày mai nghĩ cái kia, loại dục vọng này là không có điểm
dừng, giống như mùi hôi thối phát tán không ngừng tỏa ra từ trên người, con
không thể nào cầu được vãng sinh. Nghĩa là con không thể cầu được cảnh giới mà
con muốn đến sau này. Con cầu không được cảnh giới này, con liền không liễu
thoát được sinh tử. Nếu cảnh giới của người này không tốt, vĩnh viễn sẽ không
đến Tây Phương Cực Lạc thế giới hoặc Tứ Thánh Đạo. Con không lên được đâu, bởi
vì con chưa liễu thoát. Phải ngộ ra "Tâm tiệm thứ cảnh" (Cảnh giới
tâm dần dần thay đổi), nghĩa là cái tâm này của con phải ngộ ra đạo lý này: Tâm
tôi nhìn thấy hoàn cảnh này sẽ thay đổi, hoàn cảnh vừa thay đổi tâm cũng thay
đổi theo, cái này là không được. Sau khi biết cái tật xấu này, phải biết tâm
con người tôi là đang dần dần thay đổi, cho nên phải dần dần khắc chế bản thân
trước đừng để nó thay đổi. Hiểu chưa? Phải Tiệm tu (tu dần dần) cộng với chứng
ngộ thì đạt đến cảnh giới của Phật.
Sư
phụ tiếp theo tiếp tục giảng cho mọi người, nếu một người lòng tham quá lớn, họ
nhìn vấn đề vĩnh viễn đều sẽ không sạch sẽ. Con hôm nay nhìn tất cả vấn đề, làm
tất cả mọi việc, chỉ cần có lòng tham ở trong đó, tâm con nhất định không sạch
sẽ. Rất nhiều người tham gia hoạt động hội đoàn, chính là mang theo lòng tham,
có người là làm băng rôn, có người là làm du lịch, có người là làm in ấn, họ
đến trong hội đoàn chính là hy vọng tổ chức hoạt động, thực tế chính là muốn
kiếm tiền trong hoạt động hội đoàn. Nếu một người có lòng tham, ý niệm không
thuần, họ vĩnh viễn sẽ không sạch sẽ. Sư phụ nói cho các con: Người bi quan
nhất định sẽ xuất hiện Sân niệm (ý niệm giận hờn). Bởi vì khi một người rất bi
quan, chuyện gì cũng nghĩ không thông, sân niệm, ý niệm hận của họ sẽ sinh ra.
Ví dụ: "Việc này tôi không làm được, việc kia cũng không làm được, haizz!
Con người tôi thật là một phế vật, tôi rất hận, nhiều người như vậy đều đang
chèn ép tôi, họ chính là không cho tôi cơ hội." Tâm hận liền đến. Cho nên
phải nhớ: Phải khắc chế bản thân bất luận thế nào cũng không được bi quan, như
vậy hận niệm của con sẽ ít đi một chút.
15. Dục vọng lớn, ý niệm tán loạn, học khắc chế,
kiểm soát cuộc đời
Người
ý niệm tán loạn nhất định sẽ có "Thán Tức Quán" (Quan niệm hay than
thở). Ý niệm của người này càng tán loạn càng không đạt được đồ tốt. Ví dụ:
"Tôi mua cái này được không? Không được không được, tôi mua cái kia
đi." Giống như một người vào cửa hàng quần áo chọn quần áo vậy, thử rất
nhiều bộ, nhìn đến cuối cùng, "Haizz! Không có bộ nào hợp với tôi
cả." Cái Thán Tức Quán này liền đến, đúng không nào? Cho nên ý niệm của
một người tán loạn sẽ hình thành thán tức quán của họ.
Người
nhân duyên không tốt sẽ bị ngu si. Bởi vì nhân duyên của một người không tốt
rồi, nhất định sẽ ngày càng ngốc. Lấy một ví dụ đơn giản: Một người phụ nữ yêu
đương luôn thất bại, tuổi tác ngày càng lớn, đến sau này liền ngốc nghếch, nhìn
thấy người là nói: "Haizz, giúp tôi giới thiệu với, có ai tốt không? Kém
một chút cũng không sao, tôi đều chịu." Ngốc rồi chứ, ngu si rồi chứ. Nhân
duyên không tốt rồi, cái gì cũng chịu rồi, đúng không nào? Nhân duyên của một
người không tốt sẽ bị ngu si. Nhân duyên không chỉ đại diện cho nhân duyên vợ
chồng, còn có con cái, thầy cô, bạn học v.v. Người học Phật các con tại sao có
người hận người này, có người hận người kia? Những cái này đều là do nhân
duyên. Nhân duyên không tốt rồi, bắt đầu tăng ngu si. Không vui rồi, cãi nhau
rồi, chính là nhân duyên không tốt rồi; đồ bị người ta trộm, bị người ta phạt
tiền, tăng ngu si rồi. Có một người chính là thường xuyên bị người ta ghi vé
phạt, ông ta hận chết người ghi vé phạt rồi. Có một hôm trời mưa, ông ta nhìn
thấy người kia đang ghi vé phạt. Ông ta đội cái mũ, đeo cái khẩu trang to xông
đến trước mặt người ghi vé phạt, kéo khẩu trang xuống, "phù" nhổ một
bãi đờm vào mặt người ta, sau đó nhanh chân bỏ chạy. Ngu si rồi chứ, các con
nói ông ta có ngốc không? Nhân duyên không tốt cứ bị người ta bắt được phạt
tiền, ông ta không đi trách mình không tốt, cứ trách người ta không phải, phải
hiểu nhân duyên, Sân hận làm người ta ngu si đấy.
Người
chướng ngại nhiều, thực ra là thiếu tâm niệm Phật. Bởi vì tâm con không có tâm
niệm Phật, cho nên chướng ngại sẽ ngày càng nhiều. Ở nhân gian ai không có
phiền não? Nên đề phòng trước lúc bình thường. Phải biết nhân gian ai không có
phiền não, trước khi phiền não phải đề phòng trước, trước khi chưa phát hiện
tôi đã phải cẩn thận rồi, đừng đợi đến khi sự việc xảy ra rồi mới ảo não, mới
đau khổ, mới oán trách "Tôi làm sao lại xảy ra chuyện như vậy chứ?"
Thực ra đã cho con rất nhiều thông tin mà con không biết. Giống như một người
ngửi ngửi món này có chút thiu rồi, nhìn xem người bên cạnh có ăn không? Nhìn
thấy người ta ăn xong bụng đau ngay, con sẽ không ăn nữa, đây gọi là cảm giác
dự phòng. Cảnh giới tự nhiên gặp phải sẽ phùng duyên (duyên gặp duyên - Duyên lành (sự chuẩn bị) gặp Cảnh ngộ (sự việc) để
tạo ra sự Hóa giải suôn sẻ). Bởi vì con đề phòng trước rồi, khi gặp cảnh
giới sẽ phùng duyên rồi, hiểu chưa? Ví dụ sức khỏe tôi không tốt, tôi chuẩn bị
sẵn thuốc trước, chỉ cần vừa phát bệnh tôi liền uống thuốc, lập tức sẽ khỏi, sẽ
không cần đưa đi bệnh viện nữa. Cho nên phải biết sự kiện đột phát, cho dù là
đột phát, con lập tức biết đây là linh tính, nghiệp chướng kích hoạt, con đốn
khởi giác chiếu (lập tức khởi sự soi chiếu giác ngộ). Thế nào là giác chiếu?
Chính là con lập tức sẽ cảm giác được và chăm sóc nó, chăm sóc nó chính là giải
quyết nó, đi giúp nó, con liền rất nhanh tiêu trừ nghiệp chướng và linh tính.
Phải
loại bỏ vật dục của con, tức là năm loại dục vọng, diệt trừ sự hưởng thụ lục
trần của con. "Ngũ dục" và "Lục trần" Sư phụ trước đây đều
đã giảng cho các con rồi, hôm nay không giảng nhiều nữa. Nhân sinh tại phàm
trần, sự hưởng thụ này chính là con người bắt buộc hưởng thụ cảnh giới phàm
trần, và tưởng rằng rất vui vẻ. Hôm nay có đồ ăn rồi, ngày mai có chút tiền
rồi, đây chính là hưởng thụ phàm trần, phải khắc chế bản thân. Rất nhiều ông
lão nhìn thấy nhiều cô gái trẻ liền vui vẻ, cái này cũng gọi là phàm trần. Cảnh
giới lục trần bắt buộc phải khắc phục. Rất nhiều người nhìn thấy đồ ăn là thèm
không chịu nổi, cái đó cũng phải khắc chế. Những thứ này ở nhân gian tất cả đều
là đồ lục trần, đều bắt buộc phải khắc chế, hiểu chưa? Lục trần đối với Lục
cảnh, cảnh giới là căn cứ vào rất nhiều cảnh giới sinh ra từ dục vọng trần thế
của con. Cũng là ở phàm trần, nếu cảnh giới của con rất cao, con có thể đến
cảnh giới của Bồ Tát. Cảnh giới khác nhau ở giới khác nhau, có thể ở cảnh giới
A Tu La, có thể ở cảnh giới phàm nhân. Cùng ở trong Nhân đạo, có thể tiến vào
cảnh giới của một thánh nhân, cũng có thể tiến vào cảnh giới của một tên cường
đạo hung ác cùng cực. Đúng không?
“Động ư dục, dục mê tắc hôn. Nhiệm hồ khí, khí
thiên tắc lệ”.
"Động ư dục", chính là một người vừa
động là do dục vọng, dục vọng của một người thúc đẩy họ đang động. Con người
bây giờ không có dục vọng sẽ không động. Bởi vì tôi muốn đi mua đồ, người tôi
mới động. Bởi vì tôi muốn đi yêu đương, con người tôi mới động. Bởi vì tôi muốn
đi kiếm tiền, tôi mới động v.v. Đều là dục vọng, không có dục vọng họ có động
không? Các con bây giờ đến học Phật pháp với Sư phụ, đều là động ư dục, các con
động là vì cái dục vọng này mà đến. Các con là dục vọng gì? Học Phật xong sức
khỏe tốt lên, công việc tốt lên v.v. "
Dục mê tắc hôn", dục vọng khiến con mê
hoặc rồi, khiến con hôn hôn trầm trầm. Rất nhiều hoàng đế xung quanh đều là phụ
nữ, đến cuối cùng liền hôn hôn trầm trầm, không màng triều chính. Người nhiều
dục vọng họ sẽ mê hoặc, sau khi mê hoặc thì sẽ hôn (tối tăm/mê muội), hôn hôn
trầm trầm không biết mình đang làm gì. Cho nên các con đừng có nhiều dục vọng,
dục vọng phải ít một chút.
"Nhiệm hồ khí" (Tùy thuộc vào khí),
chính là con tùy tiện để ý một việc và không để ý một việc đều phụ thuộc vào
khí của con. Con hôm nay khí thuận rồi, vui vẻ rồi, việc này liền không coi là
việc gì nữa. Giống như các con nhìn thấy Sư phụ vui vẻ, các con liền vui vẻ.
Tất cả mọi việc đều là ở chỗ trường khí của con.
"Khí thiên tắc
lệ" (Khí lệch thì hung bạo/trái lẽ), nếu khí lệch đi chính là nghĩ không
thông, sẽ mang bộ mặt đưa đám. Khí không được lệch, tức giận chính là lệch rồi.
Khí phải chính (ngay thẳng), khí chính là nghĩ thông suốt.
Sư phụ thường nói: Người thường xuyên tha thứ cho bản thân sẽ
không nhận được sự tha thứ của ông trời. Chỉ có tự mình yêu cầu rất nghiêm khắc
với bản thân, "Mình sao lại làm sai nữa rồi, mình thật có lỗi với Quan Thế
Âm Bồ Tát", như vậy ông trời mới tha thứ cho con. Giống như con đi xe buýt
vậy, không cẩn thận giẫm vào chân người ta. "Xin lỗi, xin lỗi, tôi không
cố ý." Người ta sẽ tha thứ cho con. Nếu con giẫm vào chân người ta xong,
nói: "Không phải tôi không cẩn thận, là trên xe đông người thế này, ai bảo
anh để chân ở chỗ tôi?" Con nghĩ xem, tiếp theo sẽ là kết quả gì? Có lẽ
người ta sẽ đấm cho con một cái. Một người hễ chút là tha thứ cho bản thân, thì
vĩnh viễn không nhận được sự tha thứ của Bồ Tát. Nếu một người không tha thứ
cho người khác từ nội tâm, tâm của họ sẽ vĩnh viễn không tâm an lý đắc (lòng
thanh thản). Phải thật sự tha thứ cho người ta, nếu không tâm bất an lý bất
đắc. Không tha thứ cho người ta trong lòng mình sẽ rất buồn, tâm sẽ không bình
an.
Thực
ra bình phàm (bình thường) là diện mạo chân thực của sinh mệnh. Nếu một người
nói "Tôi rất bình phàm, tôi không sao cả", thực tế người này chính là
người thực sự sở hữu sinh mệnh. Phải hiểu một đạo lý: Con người phải bình phàm.
Ở một cương vị phải âm thầm làm việc, đừng lòe thiên hạ (hoa chúng thủ sủng).
Việc làm bình phàm một chút. Sinh mệnh vô thường, sát na sinh diệt. Hiểu chưa?
Trong một sát na sinh mệnh không còn nữa, một sát na một sinh mệnh nhỏ bé ra
đời, đừng bị những ảo cảnh ảo ảnh con tiếp xúc lừa gạt. Bao nhiêu người bị bệnh
ba tháng liền chết. Vào bệnh viện, ra bệnh viện, vào vào ra ra, mắt vừa chớp
cái ba tháng đã đi rồi, một người lớn sờ sờ đã không còn nữa. Chẳng lẽ đây
không phải là ảo cảnh sao? Người biết chế phục bản thân sẽ có tự do, cũng là
đang làm chủ nhân của chính mình. Nếu con có thể chế phục bản thân, khắc chế
bản thân, con chính là chủ nhân của mình. Khi con thèm ăn, "Tôi cứ muốn
ăn, tôi không nhịn được", con chính là không thể chế phục bản thân, thì
không làm chủ nhân của mình được. Phải cắn răng khắc chế bản thân. Người không
khắc chế được bản thân, người này chính là nô lệ của bản thân, là nô lệ của xác
thịt; nếu có thể khắc chế bản thân, có thể kiểm soát bản thân chính là chủ nhân
của mình.
Trong "Kinh Kim Cang" nói: "Hiện tại tâm bất khả
đắc, vị lai tâm bất khả đắc, quá khứ tâm bất khả đắc." Tam tâm bất khả đắc
(Ba tâm không thể được). Hãy buông bỏ toàn bộ quá khứ, hiện tại, tương lai. Tâm
buông xuống rồi tâm sân nộ của con sẽ rời khỏi con, bởi vì tâm con không buông
xuống được, tâm hận của con sẽ vĩnh viễn ở trong tim con; con buông tâm xuống
rồi, "tôi không hận nữa", tâm hận sẽ không còn. Một cơn sân nộ đôi
khi sẽ biến thành một tai họa lớn. Vứt bỏ phiền não chính là một người tu tâm
thực sự. Nhiều phiền não như vậy để trong đầu làm gì? Đồ trong đầu còn chưa đủ
nhiều sao? Cả đời chứa đến bây giờ, lấy đồ trong đầu ra xem, toàn bộ là cơm
thừa canh cặn, toàn bộ là thứ bẩn thỉu. Thứ xấu thì nhớ hết, thứ tốt thì không
nhớ. Các con đem những thứ không tốt cả đời, hận này, thù dai người ta này,
toàn bộ chứa trong đầu, có thể là một người tốt không? Hiểu chưa? Làm người
thật sự phải nghĩ thoáng, buông được, có thể buông bỏ chính là một người học
Phật. Hôm nay giảng đến đây.
16. Giảng Phật lý — Ngộ nhân sinh, Bàn lục đạo —
Tích Phật tánh
Mỗi
lần nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát, trong lòng tôi rất buồn, bởi vì luôn cảm thấy
mình làm chưa đủ, khoảng cách với Quan Thế Âm Bồ Tát còn quá xa. Tuy nói
"Mỗi người hôm nay làm chuyện của Bồ Tát một phút, thì một phút đó con
chính là Bồ Tát". Kỳ thực không phải vậy. Lấy ví dụ: Giống như tế bào trên
cơ thể người vậy (hồng cầu, bạch cầu), nếu bạch cầu của con chỉ có một chút
xíu, hồng cầu sẽ ăn hết nó; nếu bạch cầu của con quá nhiều mà hồng cầu chỉ có
một chút xíu, bạch cầu sẽ nhấn chìm hồng cầu. Nghĩa là, một người nghiệp chướng
trên thân quá nhiều mà làm việc tốt rất ít, công đức làm rất ít, sau một khoảng
thời gian tội nhiều hơn công, người này hết cứu.
Con
người sống trên đời phải trân trọng từng phút từng giây. Tuy thời gian rất quý
báu, cũng phải xem con dùng như thế nào. Rất nhiều người tin Phật giống như
thầy bói xem voi, ngày ngày đi tìm pháp môn, rất nhiều người đợi đến lúc sắp ra
đi kiếp này vẫn chưa tìm được pháp môn phù hợp với mình, thế là họ chẳng có
pháp môn nào cả. Nếu con tìm được một pháp môn không phù hợp với con, tuổi tác
con đã đến, kiếp này của con cũng xong rồi. Mọi người biết đấy trên toàn thế
giới, có tôn giáo cực đoan không? Có tà giáo không? Khiến tín đồ của họ đốt
làng, tự sát tập thể, nếu bước vào loại tôn giáo này chính là đi nhầm đường lạc
lối. Nhưng con có trí tuệ gì để có thể biết đây là tà hay chính?
Sư
phụ chính là khuyên mọi người niệm Kinh cho tốt. Kinh văn một chữ không sửa,
một chữ không sót, toàn bộ là kinh văn do Phật truyền lại. Mọi người phải biết,
nếu một bài Kinh văn sửa một chữ, hai chữ, thì con phải cân nhắc xem xét. Bởi
vì bất kỳ Kinh văn nào đã bị sửa, tất cả tín đồ các con niệm ra, không phải đến
chỗ Quan Thế Âm Bồ Tát đâu, mà là đến chỗ sư phụ của các con, do ông ta bố thí
trả lại cho các con, công lực của bản thân ông ta sẽ ngày càng lớn. Các con đều
không biết những điều này. Cho nên niệm Kinh đừng niệm lung tung, cũng như uống
thuốc đừng uống lung tung. Sư phụ thường nói một câu: Một tờ giấy trắng có thể
tùy ý vẽ, đã vẽ thành hình rồi muốn xóa đi rất khó. Hơn nữa ấn tượng ban đầu là
chủ đạo (tiên nhập vi chủ), trong khái niệm của họ, trong tư duy của họ, họ đã
hình thành phong cách tôn giáo độc đáo của họ, con muốn đi thay đổi họ là rất
khó. Đây là vì họ không khai ngộ, họ tưởng rằng tất cả những gì họ làm đều là
đúng, những gì họ học đều là đúng.
Các
con biết không, có một trại giáo dưỡng thanh thiếu niên, chính quyền địa phương
tổ chức một nhóm nhân sĩ nổi tiếng và chuyên gia giáo dục đến nói chuyện với
những đứa trẻ phạm tội đó. Kết quả cuộc nói chuyện là, 80% số trẻ em cho rằng
việc chúng làm là đúng. 30% số trẻ em nói: "Bố mẹ tôi làm được, tại sao tôi
không làm được? Tại sao không bắt bố mẹ tôi, lại bắt tôi?" Rất đơn giản,
bố mẹ là tay lão luyện, không bị người ta phát hiện. Còn trẻ con làm những việc
này là tay mơ, không có kinh nghiệm, rất dễ bị người khác bắt được. Ví dụ:
Giống như các siêu thị lớn như Woolworth, Coles, mỗi ngày đều có rất nhiều
người trộm đồ bị bắt, đến cái bàn chải đánh răng cũng không muốn trả tiền. Đây
chính là liệt căn tính (tính xấu) của con người, thật đáng buồn. Cho nên tăng
trưởng trí tuệ là quan trọng nhất.
Học
Phật quý ở kiên trì, còn phải phá trừ Ngã chấp. Ngã chấp chính là cái tôi cho
là. Con cho là cái gì? Cái Phật tánh nguyên thủy nhất, lấp lánh ánh sáng, do
trời ban cho con đó (chính là câu Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói: "Người
người đều có Phật tánh") mà Phật tánh phát sáng đó của con đã rất bẩn thỉu
rồi, không còn chỗ nào có thể nhìn thấy nữa, loại người như con có tác dụng gì?
Con có thể nhìn ra thứ gì chứ? Còn tưởng mình ghê gớm lắm. "Tri giác danh
Phật Bồ Tát". Bởi vì con biết rồi, sau đó con giác ngộ rồi, thì gọi là Phật
Bồ Tát. Một người có thể hiểu đạo lý, chính là Bồ Tát. "Bất giác danh phàm
phu". Bởi vì con là kẻ ngu muội, con là người hồ đồ, cho nên gọi là phàm
phu. Thành Phật thành Bồ Tát rất khó. Chúng ta đừng làm phàm phu, chúng ta phải
làm Bồ Tát. Nhưng có mấy người một ngày có thể làm Bồ Tát được mấy tiếng đồng
hồ? Khi niệm Kinh là Bồ Tát, khi không mắng người, khi giúp đỡ người khác, khi
làm mọi việc thiện, họ là Bồ Tát.
Sư
phụ tiếp theo giảng cho các con, "Chư ác mạc tác" (Không làm các việc
ác) thực tế là một loại lý niệm của Tiểu thừa Phật pháp. Là tôi không phạm tội,
tất cả những thứ ác tôi không đi làm, chính là giữ mình, chính là đèn nhà ai
nấy rạng. Đây chẳng phải là tự cứu độ mình sao? Con người vốn dĩ không nên làm
việc xấu, các việc ác vốn dĩ không nên làm. "Chúng thiện phụng hành"
(Làm tất cả việc thiện) thực tế chính là một loại lý niệm của Đại thừa Phật
pháp, nói về việc sau khi trí tuệ con khai ngộ rồi đi làm tất cả việc thiện
trên thế giới. Mọi người biết việc thiện có thể chuyển hóa thành công đức, việc
thiện là nền tảng của công đức. Một người ngay cả việc thiện cũng không biết
làm, thì niệm kinh là vô dụng. Sư phụ hôm nay cho các con một khái niệm mới:
Đừng tưởng rằng một người chuyện tốt gì cũng không làm, lại không chịu giúp đỡ
người khác, chỉ niệm Kinh là họ có thể thành Phật sao? Họ có thể thành Bồ Tát
sao? Vô dụng thôi. Lấy ví dụ: Giống như nướng cái gì đó, thứ này vốn dĩ không
có mùi vị, nhưng nó thêm gia vị vào, thực ra thứ bên trong bản thân nó không có
mùi vị. Nếu một người niệm Kinh không có tâm lương thiện, không có việc thiện
làm nền tảng, Kinh văn họ niệm có nhiều đến mấy cũng không có mùi vị, cũng
không có công đức. Trong ngoài như một mới có thể phát huy tác dụng, mới có thể
có hiệu quả. Đây là lý do tại sao vừa phải tu tâm vừa phải tu hành.
Phật
Bồ Tát nói rất rõ ràng: Không chỉ phải tu tâm, còn phải tu hành vi của con;
hành vi của con tu tốt rồi, con còn phải tu tâm linh của con. Các con biết
không, có rất nhiều pháp môn chỉ tu hành vi không tu tâm. Họ chú trọng vào
Hành, làm việc thiện, niệm Kinh rất ít. Rất nhiều cư sĩ đèn nhà ai nấy rạng (tự
quét tuyết trước cửa), lên núi niệm Kinh, tự thắp hương tự lạy Phật. Đây là chỉ
tu cho mình, không độ người khác, là Tiểu thừa Phật pháp. Người tu tâm chỉ lo
cho mình, không lo cho gia đình mình, không lo cho con cái mình, không lo cho
cha mẹ mình, đây cũng gọi là vô trách nhiệm. Loại người này tu không tốt đâu,
cùng lắm tu lệch đầu thai vào một cõi A Tu La đạo. Các con biết không, A Tu La
cũng có gọi là Bồ Tát cõi A Tu La. Trong Nhân đạo có Bồ Tát không? Người học Bồ
Tát ở nhân gian chính là Bồ Tát cõi người. Phải tu cho tốt vào, thời gian không
còn nhiều nữa. Nghĩ đến lúc mình còn trẻ, nhìn lại lúc mình về già, không còn
bao nhiêu thời gian nữa đâu.
Lần
trước giảng cho mọi người về Thiên đạo, hôm nay giảng cho mọi người về A Tu La
đạo. A Tu La đạo là nơi những người có pháp lực đến. Người ở nhân gian có tu
vi, làm rất nhiều việc thiện, có công đức sau khi chết mới có thể đến A Tu La
đạo. Người tu bị lệch lạc cũng có thể đến A Tu La đạo. Trước đây nhiều tôn giáo
giải thích lục đạo mà đặt A Tu La đạo ở dưới Nhân đạo. Thực tế A Tu La đạo có
hai loại: Một loại là tầng từ trên trời xuống gọi là A Tu La đạo; một loại khác
là ở giữa địa phủ và ngạ quỷ đạo, là những loài tinh (yêu tinh) có chút pháp thuật,
tu bị lệch, ví dụ hồ ly tinh, xà tinh v.v., chúng có thể đi lại tự do ở địa
phủ. Bởi vì chúng có tu, có pháp lực, chúng rất dễ biến thành quan chức địa
phủ. Trong địa ngục có rất nhiều quỷ rất hung dữ là quan chấp hành của địa
ngục, Hắc Bạch Vô Thường cũng vậy, có thể chạy khắp nơi. Trong địa ngục nếu là
người có tội nam nam nữ nữ đều không mặc quần áo, chỉ có đau khổ. Nếu ở nhân
gian không tu hành tử tế hoặc tu bàng môn tà đạo, sẽ đến tầng A Tu La đạo này.
A Tu La đạo mà Sư phụ cho mọi người xem trong chương trình phát thanh chỉ là
Thượng A Tu La đạo, cao hơn Nhân đạo.
Người
A Tu La đạo cũng có tuổi thọ, dài hơn tuổi thọ con người, tính chất rất giống
thiên nhân cõi trời, cũng có ngũ suy (năm tướng suy hao). Sau khi họ đầu thai
xuống nhân gian, sẽ làm gì? Ví dụ bác sĩ chỉ biết kiếm tiền. Rất nhiều người
khôn vặt, làm quan, kiểu người tranh đấu, cũng có rất nhiều gian thương, đạo
tặc toàn bộ là những người này. Họ có địa vị trong tập đoàn của mình, họ ăn
ngon, uống ngon, còn có người hầu hạ. Người cõi nào xuống thì chịu nghiệp báo
cõi đó. Người trên trời xuống có thể làm con quan lớn, có thể là kiến trúc sư,
ca sĩ v.v., là chính đạo. Người từ A Tu La đạo xuống, phụ nữ đầu thai làm người
rất xinh đẹp; đàn ông A Tu La đạo thì chỉ muốn đánh nhau, đấu với người, đấu
với trời, đấu với đất. Rất nhiều mỹ nữ nhân gian là từ A Tu La đạo xuống. Ca
sĩ, diễn viên, xem xem hôn nhân cả đời họ có thể viên mãn không? Phiêu bạt bất
định đấy. Người A Tu La đạo mặc quần áo không đẹp như thiên nhân, màu sắc thiên
về màu tối, màu xanh lục nhiều. Tại sao trước mắt các con thường nhìn thấy một
đám ánh sáng màu xanh lục hoặc màu xanh lam? Rất nhiều người lấy tay đi bắt.
Không được bắt, con bắt một cái, tiếp theo con sẽ gặp rắc rối. Thế nào gọi là
chạm đến linh hồn? Họ chính là linh thể. Người gọi là nhục thể (xác thịt).
Chúng ta dùng tay chạm vào họ, không cảm giác được, nhưng họ sẽ bị thương.
Giống như trong phim khoa học viễn tưởng thường hình tượng hóa những linh thể
không nhìn thấy.
Người
A Tu La đạo có một tật xấu rất lớn, chính là sắc dục chưa đoạn. Bởi vì ở cõi
trời linh giới tầng thấp, sắc dục chưa đoạn. Ở nhân gian có những kẻ háo sắc,
nếu họ đến A Tu La đạo rồi không dễ đoạn tận gốc, tuy họ ở A Tu La, nhưng giống
như ở tiên cảnh nhân gian vậy, ý dâm chưa đoạn. Chỉ là một cái ở trên, một cái
ở dưới. Nhưng muốn lên cõi trời cao hơn nữa thì không lên được. Trên trời không
có khái niệm tiền bạc. Trong Dục giới thiên vẫn còn phân biệt nam nữ, nhưng sẽ
không phát sinh quan hệ nam nữ, chỉ đơn thuần là bắt tay thôi. Các con biết Sư
phụ lên trời như thế nào không? Sư phụ muốn lên là lên được, chỉ mất một giây
đồng hồ. Nhìn thấy trong thiên đường trẻ con đang chơi xích đu, tiếng cười đó
giống như tiếng vọng trong phim vậy. Sư phụ nhìn xuống dưới, chẳng có gì cả,
sao chúng lại đang chơi xích đu nhỉ? Nhìn một cái thấy mình đang đạp trên mây,
cảm giác đó, cảm thụ đó trong đầu chẳng còn gì nữa.
Sư
phụ nói cho các con biết, nếu các con có thể lên trời, tất cả phiền não nhân
gian toàn bộ biến mất, các con sẽ không buồn bã, không đau khổ. Khi ra đi chỉ
cần có thể lên trời, những thứ này toàn bộ không còn nữa. Lấy ví dụ: Các con đi
du lịch Quế Lâm, cảnh đẹp đó sẽ khiến đầu óc các con trống rỗng hoàn toàn, sự
trống rỗng liên tục này sẽ khiến con quên hết tất cả. Bởi vì con đến một môi
trường khác, môi trường có thể khiến các con quên đi tất cả. Con người lên đến
trời, cái gì cũng quên hết, không đau khổ nữa. Chỉ khi đến ngày sinh nhật, hoặc
bên dưới có người không ngừng gọi tên họ, họ mới nghĩ đến người và việc bên
dưới. Họ có thể nghe thấy, họ có cảm giác bị người ta gọi. Giống như chúng ta
bây giờ ở nhân gian, có thể cảm giác được một người khác luôn nhớ mong con vậy.
Thiên giới có một Vọng Hương Đài, ở tầng thứ ba có thể nhìn thấy nhân gian,
cảnh tượng nhân gian đều có thể nhìn thấy.
Các
con biết không, một con hổ mẹ cắn chết con hổ con của mình cũng sẽ xuống địa
ngục. Hổ dữ không ăn thịt con, đúng không? Hổ có trí thông minh không? Nó cũng
có. Lần trước có bài báo nói trí thông minh của chó tương đương với người hai
tuổi. Phạm lỗi vẫn xuống dưới như thường. Con người thật sự rất đáng thương,
ngày ngày ở bên ngoài uống rượu, tìm niềm vui hưởng lạc, không biết sống là vì
cái gì, giống như súc sinh vậy. Đều không biết giao cái mạng mình đi đâu nữa.
Có một bà lão kiểm tra ra ung thư, chịu sự đả kích rất lớn. Bình thường không
làm việc tốt, công đức không có, chỉ biết niệm Kinh. Bảo bà ấy làm nhiều việc
tốt, bà ấy nói "Không có thời gian, tôi lớn tuổi thế này rồi." Lớn
tuổi thế này thì không thể làm việc tốt sao? Sao bà lại biết làm việc xấu? Chia
rẽ gây xích mích, ác khẩu, hai lưỡi, sân hận... Một người sống trên đời phải
biết trân trọng bản thân, nếu ngay cả Phật tánh của mình cũng không biết trân
trọng, thì tính là người gì? Đến Nhân đạo đã rất đáng thương rồi. (Lần sau tiếp
tục giảng)
17. Mạn đàm "Thiên Địa Nhân"
Người
ở A Tu La đạo có phúc của trời, nhưng không có đạo đức của trời. A Tu La đạo là
thế giới linh thể, nhưng tư duy cũng rất thô tục. Nhìn xem đàn ông và phụ nữ từ
A Tu La đạo đến nhân gian làm những việc gì thì biết. Các con bây giờ siêu độ
cha mẹ đến A Tu La đạo, tưởng rằng rất tốt rồi, không muốn siêu độ nữa. Kỳ thực
có một số người oan kết với cha mẹ vẫn chưa kết thúc. Rất nhiều người nói, niệm
ít Ngôi Nhà Nhỏ một chút để họ đầu thai làm người được không? Các con chẳng
phải đều đang ở Nhân đạo sao? Có khổ không? Khổ không thể tả. Các con có mấy
người còn muốn đầu thai làm người nữa?
Sư
phụ nói cho các con biết, phạm nhân trong tù mười người thì chín người rất
thông minh. Nhưng Phật pháp nói, thông minh phản bị thông minh hại. Có bao nhiêu
người tự cho mình là thông minh, đây đều là tự mình buộc mình (tác kiển tự
phược). Tương tự, trong tu hành có bao nhiêu người tự cho rằng tu tốt, khi
người ta khuyên họ, họ có thể nói ra cả một tràng lý lẽ. Đây đều gọi là nghiệp
chướng đấy. Loại người này gọi là người không có trí tuệ. Nói một ví dụ nhân
gian cho các con nghe, con học máy tính ở Đại học Sydney, anh ta học y ở Đại
học Sydney. Con đi nói với người học y rằng, chúng ta đều cùng một trường đại
học, anh biết dùng ống nghe có thể giúp tôi sửa máy tính không? Tám vạn bốn
ngàn pháp môn, con có thể lấy một pháp môn đi va chạm với một pháp môn khác
không? Bất kỳ pháp môn nào cũng phải đợi thiên thời, địa lợi, nhân hòa pháp môn
đó mới có thể xuống. Nhưng trong các pháp môn, có những pháp môn đến nhân gian
độ hóa chúng sinh đến hơi sớm một chút. Không phải bất kỳ pháp môn nào cũng phù
hợp cho bản thân học tập, nhưng chúng ta phải tìm kiếm một pháp môn thực sự phù
hợp với mình.
Vậy
tiêu chuẩn của pháp môn chân chính là gì? Dùng một câu nói hiện đại, chính là
thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý. Nghĩa là, pháp môn này
bắt buộc phải linh nghiệm, lập tức có thể cứu độ chúng sinh. Tại sao có nhiều
người như vậy đi theo Sư phụ tu tâm niệm Kinh? Nếu không linh, tại sao nhà mỗi
người đều ngày càng tốt lên? Vốn dĩ sắp xảy ra vấn đề, sau khi niệm Kinh lại
ngày càng tốt lên. Nhưng cũng có rất nhiều người nói, tôi khi chưa niệm Kinh
thì không đau, sao vừa niệm Kinh lại đau? Vốn dĩ cái đau để dành cho sau này
đau, con niệm Kinh xong đau là để con kích hoạt linh tính trước, đau qua rồi
thì sau này không đau nữa. Nếu bây giờ không niệm Kinh tu hành, đợi sau này
chúng ta già rồi, năng lượng gì cũng không có, con sẽ chịu đựng cái chết một
cách rất đau khổ. Con bây giờ còn trẻ, còn sức lực, còn công lực, con bây giờ
đau, sẽ không chết đâu. Cho nên thà đau trước, có bệnh giải quyết trước, đừng
để đến tuổi già báo ứng một thể. Báo ứng một thể gọi là biến chứng, biến chứng
là không cấp cứu được đâu. Gan, phổi, tim v.v. chức năng đều hỏng rồi, cấp cứu
thế nào?
Người
A Tu La đạo, nam giới dung mạo rất hung dữ, khuôn mặt cơ bản hơi giống người
trên đĩa bay trong phim khoa học viễn tưởng, nhưng đẹp hơn họ. Kỳ thực đội ngũ
sáng tác những bộ phim khoa học viễn tưởng này đều có người thông linh làm tham
mưu. "Chiến tranh giữa các vì sao" nói về chuyện của A Tu La đạo.
Phương pháp tu hành truyền lại từ Ấn Độ hơn hai ngàn năm trước là rất tốt,
nhưng có thể thích ứng với người hiện đại tu hành không? Tu hành bất kể dùng
phương pháp gì, mục đích là con phải tu thành chính quả, con liền thành công.
Nếu các con còn muốn hiểu thêm về A Tu La đạo, các con hãy xem phim khoa học
viễn tưởng. Sư phụ khi xem phim khoa học viễn tưởng toàn thân dựng tóc gáy,
giống hệt như Sư phụ nhìn thấy trên trời. Người, dao, súng, tia laser v.v.,
thực tế những thứ lấp lánh ánh vàng đó trong phim khoa học viễn tưởng liền biến
thành đạn. Sư phụ nhìn thấy trên Đồ đằng (Totem) chính là chùm tia sáng, giống
như mắt người vậy, hai luồng ánh sáng sẽ bắn ra. Các con không nhìn thấy. Cho
nên con người sẽ nảy sinh rất nhiều tưởng tượng. Chúng ta bây giờ tưởng tượng
cho rằng khi đi sẽ rất đau khổ, thực tế đợi đến khi con đi, nếu con thực sự bay
lên trời, một chút đau khổ cũng không có. Tại sao? Lúc đó không có đau khổ, bởi
vì con sẽ không nghĩ đến bên dưới. Không phải nói con không có lương tâm, vì
con đã đến một thế giới khác rồi. Tâm trạng lúc đó không giống nhau, giống như
khi chúng ta đi du lịch vậy, sẽ quên đi rất nhiều phiền não, sẽ rất vui vẻ.
Quỷ
khi đầu thai làm người phải uống canh Mạnh Bà, quên đi chuyện quá khứ. Thực tế
con người sau khi lên trời họ cũng quên đi quá khứ. Trong "Kinh A Di
Đà" nói đến Liên Hoa Trì, nước Bát Công Đức, ao Thất Bảo, sau khi đến ao
này tắm rửa, con đem phiền não, những thứ bẩn thỉu trên người rửa sạch hết. Nghĩa
là, nếu con lên trời một cách tự nhiên cũng sẽ có một tầng như vậy, giống như
chúng ta bình thường ngồi máy bay đi qua tầng mây vậy, xuyên qua tầng mây cảnh
giới liền khác hẳn. Đợi tu lên trời, lúc đó con sẽ không có đau khổ, con cái gì
cũng sẽ không nghĩ nữa. Sư phụ và các con kiếp trước đều có duyên phận đấy. Sư
phụ rất đau khổ, vì Sư phụ nhìn thấy được mấy kiếp trước, các con trong quá khứ
có người nợ Sư phụ, cũng có rất nhiều người là học trò của Sư phụ. Mà bây giờ
(kiếp này) các con quên hết rồi, hoàn toàn không biết gì cả. Ví dụ con gặp một
người, người này mặt rất quen, "tôi cứ thích nói chuyện với anh ấy",
nhưng con có biết anh ấy trong quá khứ từng là ai của con không? Giống như các
con bây giờ không nhìn thấy vậy. Sư phụ bây giờ nhìn thấy kiếp trước của các
con, người này sắp đến trả nợ rồi, người kia là đồ đệ của tôi, quá khứ người
kia là học trò của tôi, Sư phụ thà không nhìn thấy, sẽ rất buồn. Hiểu chưa? Các
con bây giờ còn nhớ những thứ của kiếp trước không? Các con lên đến trời còn
nhớ những thứ của nhân gian không? Người chết đi lên trời thì chỉ nghĩ chuyện
trên trời thôi. Nhưng rất nhiều người không hiểu, tưởng rằng người chết rồi là
có thể lên trời. Rất nhiều tôn giáo đều cho rằng người chết nhất định có thể
lên trời hoặc lên thiên đàng, bất kể làm bao nhiêu việc xấu chết cũng có thể
lên thiên đàng. Điều này có thể sao? Người xấu thì phải xuống dưới, người tốt
thì phải lên trên, đây là định luật nhân quả.
Sư phụ nói cho các con biết: Con người sống trên đời chỉ có thể làm việc
tốt, không được làm việc xấu, tất cả mọi việc phải tùy duyên. Rất nhiều vấn đề
không thể phan duyên (leo duyên/cưỡng cầu), một người hễ phan duyên là xong
đời. Thứ không đáng là của con, liều mạng đi theo đuổi, có đáng thương không?
Con biết có bao nhiêu người muốn thi Trạng nguyên, nhưng tỷ lệ hy vọng chỉ có
một phần nghìn. Rất nhiều người muốn con mình nhất định phải thi đỗ trường
trung học chọn (trường chuyên), nhưng có mấy người thi đỗ được chứ? Các con bây
giờ đi theo Sư phụ, các con có phúc khí này. Phải nhớ, các con chỉ cần đi theo
Sư phụ tu, không những các con sẽ tốt, con cái các con cũng sẽ tốt. Các con nếu
muốn con cái mình tốt, niệm Kinh tu Phật nhiều vào các con sẽ có phúc khí. Sư
phụ lên lớp cho các con chính là gia trì cho các con. Học Phật bắt buộc phải có
trí tuệ.
Các
con phải nhớ kỹ vài vấn đề. Mọi người đều biết Quy y Tam Bảo -- Phật, Pháp,
Tăng. Tự tính Tam Bảo là gì? Giác, Chánh, Tịnh. Nghĩa là sau khi giác ngộ, đem
tất cả những việc mình làm đặt vào vị trí chánh (đúng đắn), gột rửa tâm linh
của con sạch sẽ, Phật tánh của bản thân con mới từ từ hiển hóa ra. Giác, Chánh,
Tịnh, mới từ từ khai hóa ra. Cái các con cần học chính là cái này. Bất cứ sự
nóng giận, không vui, tham lam, thích chiếm hời, si mê v.v. ở nhân gian, những
cái này đều là không giác ngộ. Người mê cờ bạc thường nói với người nhà, cờ bạc
nhỏ vui vẻ, cờ bạc lớn nuôi gia đình. Các con nói xem, có người mê cờ bạc nào
có thể nuôi gia đình rồi? Đây gọi là Bất Chánh. Ý niệm của con người không
chính sẽ Tà, hễ có tà niệm là xui xẻo rồi. Ý niệm của một người không chánh,
việc làm ra sẽ không có chánh. Lấy ví dụ: Con đường này là đi Canberra, con chỉ
cần đi dọc theo con đường này con chắc chắn có thể đến Canberra. Nếu con đường
này bắt đầu đã đi lệch, con tăng tốc lực đi về phía trước, có phải sẽ càng đi
càng lệch không? Học Phật cũng như vậy. Nếu một người cầu rất nhiều pháp môn,
họ sau khi vào một pháp môn nào đó tại sao càng tu càng tệ? Lạy Phật, niệm Kinh
đều ngày càng không linh? Đây là vì xảy ra sai lệch rồi, làm sao có thể linh
được?
Giống
như rất nhiều người sức khỏe không tốt uống thực phẩm chức năng vậy. Sức khỏe
không tốt nên uống thuốc, thực phẩm chức năng chỉ giúp con bảo vệ cơ thể khi cơ
thể con không bị bệnh. Sau khi bị bệnh uống thực phẩm chức năng mà không đi
uống thuốc, chẳng phải làm lỡ bệnh tình sao? Các con bây giờ toàn thân đều là
bệnh, nghiệp chướng sâu như vậy, còn đòi Sư phụ cho các con thực phẩm chức năng
à. Sư phụ phải cầm con dao lớn, bất kể con là 82 tuổi hay 28 tuổi, Sư phụ nhìn
thấy bệnh là chặt. Có đau không? Đau chính là sắp khỏi rồi, cái này gọi là
"Thống khoái" (đau mà sướng/nhanh chóng). Không đau thì sẽ cứ từ từ
đau mãi. Khi phẫu thuật đau một chút, tiếp theo sẽ không đau nữa. Rất nhiều
việc đều là như vậy, cắn răng kiên trì một chút, tiếp theo sẽ không đau khổ nữa.
Lấy ví dụ: Rất nhiều thanh niên yêu đương tan rồi hợp hợp rồi tan, mãi mãi đau
khổ. Không ngừng nói, "Tôi hạ quyết tâm chia tay, tại sao tôi còn phải đi
tìm anh ấy? Tại sao tôi không nhịn được?" Đã không còn duyên phận rồi,
nhưng vẫn phải đi tìm, đây chính là đau khổ. Nỗi khổ này là do tự con tìm đến,
con không chịu buông bỏ con sẽ mãi mãi đau khổ. Cái gì nên xả thì phải xả. Sư
phụ bây giờ ở thời đại này cứu người là mạnh tay dứt khoát (đại đao khoát phủ),
cứu được thì cứu, không cứu được thì đành phải buông bỏ.
"Tịnh"
chỉ tâm linh phải thuần tịnh. Một người bất luận thế nào phải tu tâm linh của
mình lương thiện một chút. Người muốn giác ngộ có một điều kiện: Nhất định phải
"Thượng căn lợi trí". Nghĩa là căn cơ của người này thuộc loại thượng
phẩm, người này là người thông minh, rất có trí tuệ. Nếu rất ngốc không khai
ngộ, Giác sẽ chậm. Người nhân phẩm tốt, phẩm chất tốt, người tâm địa lương
thiện mới có thể Giác. Người tâm địa rất ác thì không thể giác ngộ được. Các
con đi cứu người, nếu gặp lưu manh ác bá đừng đi cứu, trên người họ quá bẩn,
quá thối, không cứu được đâu. Tự độ độ người trước đã. Bản thân đều không tốt,
toàn thân là bệnh, có thể cứu người khác sao? Rất nhiều người tu hành niệm Kinh
cả đời, học là Đại thừa Phật pháp, cứu là Thiên Địa Nhân Quỷ, họ có công đức
không? Có, kiếp sau rồi. Nếu họ không loại bỏ nghiệp chướng trên người mình,
chỉ dựa vào công đức niệm Kinh, ngoài việc tiêu trừ nghiệp chướng, kiếp sau có
thể cũng không lên được trời. Cho nên ở nhân gian xuất hiện nhiều con cái quan
chức cấp cao, người có tiền có thế như vậy. Họ tu cả một đời rồi, họ đầu thai
vào nhà giàu có lạc mất phương hướng rồi, ăn uống chơi bời gái gú cờ bạc, kiếp
sau lại làm quỷ. Nói không chừng làm việc xấu nhiều hơn kiếp trước, sẽ luân hồi
xuống địa ngục, đầu thai súc sinh, ngay cả cơ hội làm người cũng không có. Tại
sao súc sinh không thể biến thành người? Bởi vì súc sinh, ví dụ con ngựa, nó
chỉ biết nó là ngựa, cái này gọi là không có trí tuệ. Các con gặp được Sư phụ
tốt như vậy, phải tu cho tốt vào.
Sư
phụ thích giảng Phật pháp thâm sâu thành nông cạn dễ hiểu. Sư phụ thích giảng
Phật pháp nhân gian. Phải giảng sao cho người khác có thể nghe hiểu. Giảng pháp
phải giảng sao cho người ta nghe hiểu mới có thể cứu người, đó mới gọi là Đại
thừa Phật pháp. Quan Thế Âm Bồ Tát vĩ đại cứu người đều là dùng thân phận nào
để đắc độ, thì hiện thân phận đó. Khi Sư phụ ở trên đài, có nhiều người như vậy
nhìn thấy pháp thân của Sư phụ là Bồ Tát. Cho nên cứu người phải hiển hiện chân
tâm của mình ra, đừng chỉ làm những thứ chủ nghĩa hình thức. Một số tổ chức từ
thiện chạy đến viện dưỡng lão, ví dụ Ngày của Mẹ, tiệc Giáng sinh v.v., những
người già đó rất nhiều người là bệnh nhân lẩm cẩm, ngồi ở đó. Những người này
nắm tay các cụ già hát hò, chơi trò chơi, sau đó chụp ảnh. Đây là làm gì vậy,
chẳng phải hành hạ người già sao? Làm màu (show) cái gì chứ? Người một số quốc
gia, người một số khu vực, quỳ xuống còn hôn đất đai nữa. Đem miệng hôn lên đất
một cái, thật là làm khó họ rồi. Sư phụ cứu người học tập Tế Công Bồ Tát, đi
đến đâu cứu đến đó. Trừng phạt kẻ ác, cứu giúp người tốt.
18. Lợi sinh thập giới
Tiếp
theo Sư phụ giảng cho mọi người Lợi sinh thập giới (Mười giới luật làm lợi ích
cho cuộc sống/chúng sinh).
Thứ
nhất, Cẩn ngôn hành dĩ quả quá (Cẩn trọng lời nói hành động để ít lỗi lầm).
Nghĩa là nói chuyện và hành vi phải đặc biệt cẩn trọng mới có thể ít làm sai
chuyện. Họa tòng khẩu xuất. Miệng nói lung tung, động tác làm lung tung, xảy ra
chuyện rồi chứ. Các con đi xem những cô gái bị bạo hành ở Úc, rất nhiều người đều
là nửa đêm ra ngoài mặc váy siêu ngắn khơi dậy người khác làm việc xấu. Những
vấn đề này đã được rất nhiều tôn giáo nói qua, sau này còn gây tranh luận. Sư
phụ hôm nay ở đây không nói tốt xấu, chỉ nói rất dễ khiến người ta phạm tội
trên ý thức trước, dẫn đến bản thân bị hại.
Thứ
hai, Tiết ẩm thực dĩ tôn tâm (Tiết chế ăn uống để tôn trọng cái tâm). Người ăn
ít là tôn trọng cái tâm của mình, sẽ không bị đầu óc không tốt. Bởi vì não và
tim là liền với nhau. Tại sao người béo não sẽ không động nhanh được? Các con
xem người béo có mấy ai thông minh? Ăn quá nhiều, người béo rồi não sẽ không
nghe sai bảo.
Thứ
ba, Tỉnh thị hảo dĩ dưỡng tâm (Giảm bớt sở thích để nuôi dưỡng cái tâm). Nghĩa
là sở thích của con càng ít, tâm của con càng bình tĩnh. Rất thích uống trà, sở
thích này không tính là xấu đi. Người một số nơi thích trà đạo, chén trà nhỏ có
thể uống cả ngày, đây cũng là lãng phí thời gian. Cho nên sở thích là càng ít
càng tốt, ví dụ uống rượu, hút thuốc, cờ bạc, háo sắc v.v. Trong lòng càng
không có sở thích thì càng không có dục vọng, tâm sẽ càng bình tĩnh. Tâm không
thể bình tĩnh, tu tâm thế nào?
Thứ
tư, Nại phiền lao dĩ tận tâm (Chịu đựng phiền nhiễu lao nhọc để tận tâm). Một
người nếu có thể nhẫn nại, chịu thương chịu khó, tâm của người này rất vững
chắc. Là tôi làm, tôi thực thực tại tại làm rồi, vui không? Phật ngôn Phật ngữ
của Bồ Tát đều là dạy chúng ta làm người thế nào. Người có dương thọ, cứ nhất
định phải liều mạng hút thuốc; bảo con đừng tham gia đua xe, cứ phải đi đua xe;
bảo con lái xe cẩn thận một chút, cứ phải lái xe sau khi uống rượu, mới sinh ra
ác quả. Bồ Tát dạy chúng ta lao động nhiều. Lao động chính là vận động, lao
động sinh ra cái đẹp. Tận tâm tận lực rồi con mới thấy thoải mái, con sẽ không
hối hận, con sẽ không buồn bã.
Thứ
năm, Thận hỷ nộ dĩ bình khí (Cẩn trọng vui giận để bình ổn khí). Nghĩa là khi
vui vẻ phải đặc biệt cẩn trọng, khi nổi giận cũng phải đặc biệt cẩn thận, Khí
quan hệ trực tiếp đến hỉ nộ ái ố của con. Tức giận rồi, nổi cáu rồi, vui vẻ
rồi, hỉ khí dương dương (vui vẻ hớn hở), đều là khí của con đang động. Một
người nếu không có khí nữa chẳng phải chết rồi sao? Con người sống chẳng phải
là một hơi (khẩu) khí sao? Cho nên phải nắm chắc một hơi khí này của mình. Rất
nhiều người tưởng mình trúng xổ số rồi, hóa ra là nhìn số 6 thành số 9, vui
mừng hụt. Cho nên vui và giận đều phải cẩn trọng. Hôm nay trước khi nổi cáu hãy
nghĩ cho kỹ: Tính khí này của tôi có nên phát ra không? Phát ra rồi có đáng
không? Có làm hại sức khỏe tôi không? Có làm tổn thương người trong lòng tôi
không? Tôi đừng nổi cáu nữa. Hôm nay khi tôi Hỷ (vui) tôi vui vẻ rồi, vui quá
đà cũng xảy ra chuyện như thường, bởi vì đi theo niềm vui sẽ có tai họa. Nó
chính là Âm Dương, Âm Dương là nối tiếp nhau. Một người cả đời sẽ không mãi mãi
thuận lợi, cũng sẽ không mãi mãi xui xẻo. Con người chính là khi hiểu về hỷ nộ
dễ quên đi chuyện vui, bởi vì khi họ vui họ không cảm thấy lắm là đang vui. Các
con đi thử xem, xem phim hài khi con cười, bản thân con không có cảm giác, chỉ
biết là vui. Nhưng khi một người tức giận, khi buồn bã, họ liền biết tôi đang
buồn, tôi thật sự không qua nổi. Hiểu chưa? Thực tế Bồ Tát cùng với chúng ta
chính là ở nhân gian. Nghĩ xem, những cái này đều là Bồ Tát dạy chúng ta làm
người thế nào, nhân thành tức Phật thành. Con làm người giống như Bồ Tát rồi,
con chẳng phải là Bồ Tát sao? Bình khí, chính là tâm bình khí hòa.
Thứ
sáu, Giới khoa trương dĩ tập sự (Cai bỏ khoa trương để tập trung sự việc/thành
sự). Một người khoác lác thì gọi là khoa trương. Rõ ràng một chút việc nhỏ, họ
nói thành rất lớn, cũng gọi là khuếch đại. Con người sống trên đời đừng khoa
trương. Sư phụ cứu người trên đài phát thanh rất khiêm tốn. Nhưng rất nhiều
thính giả không nhịn được, liền gọi Sư phụ là Bồ Tát. Sư phụ gọi mình là
"Lư Đài trưởng". Sống ở nhân gian hãy lấy pháp hiệu của mình ở nhân
gian ra, bình đẳng với người ta. Nếu các con gọi Sư phụ là Bồ Tát sống, Sư phụ
liền không bình đẳng với các con nữa, bản thân Sư phụ sẽ rất buồn. Bởi vì các
con đã kéo giãn khoảng cách và cảnh giới với Sư phụ. Hôm đó trong tiệc Giáng
sinh, một vị Phật hữu ngồi bên cạnh Sư phụ nói, "Lư Đài trưởng cũng ăn cơm
à?" Cô ấy liền cảm thấy kỳ lạ, Bồ Tát sao cũng biết ăn cơm? Không thể thần
thánh hóa. Làm người đừng khoa trương bản thân. Bởi vì con là đang dùng linh
hồn, là dùng trí tuệ của Bồ Tát để cứu người, những thứ xác thịt con thể hiện
ra chưa chắc giống hệt Bồ Tát. Nhưng khi thuyết pháp, khi cứu người, tuyệt đối
là một vị chân Bồ Tát. Con bình thường có thể kể chút chuyện cười. Sư phụ hôm
qua khi đang đi bộ còn tùy duyên cứu một người, nói cho anh ta tâm phục khẩu
phục, ngây người ra đó. Đây chính là đi đến đâu, cứu người đến đó, phải dùng đủ
mọi phương pháp để cứu người. Hiểu chưa? Người đến gặp Sư phụ là dạng người gì,
Sư phụ liền nói lời đó. Đừng trịch thượng (cư cao lâm hạ), phải Dĩ tập sự. Dĩ
tập sự nghĩa là bất cứ việc gì đều là mọi người cùng nhau làm tốt nó. Bất cứ
việc gì đều là dựa vào sức mạnh của mọi người, con có thể sai không? Nếu một
mình con làm, con sẽ có khả năng phạm sai lầm. Tập tư quảng ích (tập trung trí
tuệ rộng rãi) mà. Những ngôn ngữ tinh túy này là chuyển hóa Phật pháp thành
bạch thoại (lời thường) để cứu độ chúng sinh, các con phải học cho tốt.
Thứ
bảy, Sùng thối nhượng dĩ hợp chúng (Tôn sùng sự lùi bước nhường nhịn để hòa hợp
với mọi người). Nghĩa là con người trong xã hội phải học cách lùi bước nhường
nhịn. Một người không biết lùi bước nhường nhịn là không hòa đồng, là không thể
ở cùng với mọi người. Có gì đáng để ngạo mạn chứ? Con xem một số cường quốc
muốn làm cảnh sát quốc tế, muốn đánh ai thì đánh, kết quả cũng thường xuyên bị
người ta đánh, kinh tế suy thoái cũng là đứng đầu, rất nhiều quốc gia đều không
thích nó. Một con người cũng vậy, một quốc gia cũng vậy, nhất định phải khiêm
nhường. "Sùng" chính là ý nghĩa sùng thượng, tôn trọng, quảng bá. Lùi
một bước biển rộng trời cao, nhường một bước tiền đồ vô lượng. Rất nhiều người
càng nhường, tiền đồ càng tốt; càng xông lên, tiền đồ càng gian nan.
Thứ
tám, Thận nặc ngôn dĩ toàn tín (Cẩn trọng lời hứa để giữ trọn niềm tin). Nghĩa
là hứa hẹn phải cẩn trọng mới có thể khiến người ta tin tưởng con toàn diện.
Muốn có được độ tin cậy, cố gắng đừng đi phóng đại, cố gắng đừng nói dối. Yêu
cầu của Sư phụ đối với các con đã rất thấp rồi, Sư phụ muốn các con cố gắng
đừng đi khoác lác, cố gắng đừng đi nói dối. Một câu nói dối cần mười câu nói
dối để lấp liếm, hơn nữa rất nhiều người nói dối xong không nhớ nổi mình lại
nói ra rồi. Cho nên mọi người phải nhớ cho kỹ.
Thứ
chín, Giảm hao phí dĩ tích phúc (Giảm bớt hao phí để tích phúc). Cố gắng giảm
bớt sự lãng phí trong cuộc sống và sự hao phí trong nhà của con, phải trân
trọng phúc khí. Nhân đạo tại sao có thể tu lên trời, cũng có thể xuống địa
ngục? Thực tế Nhân đạo là một cõi rất kỳ lạ, cõi này chính là nơi mượn giả tu
chân. Nếu con ở Nhân đạo tu cuồng nhiệt (cuồng tu), con có lẽ vĩnh viễn sẽ
không xuống dưới nữa. Nếu con mượn nơi này làm việc xấu cuồng nhiệt, con có lẽ
vĩnh viễn không làm người được nữa. Nhân đạo giống như một trạm trung chuyển
vậy. Trong đài phát thanh rất nhiều thính giả hỏi Sư phụ, tại sao chỉ có Nhân
đạo mới có thể tu hành? Sư phụ không có thời gian trả lời, hôm nay nói cho các
con biết: Bởi vì Nhân đạo có linh thể và nhục thể (xác thịt), cho nên có thể
Song tu. Quỷ đạo có xác thịt không? A Tu La đạo có xác thịt không? Súc sinh có
linh thể bản tính trí tuệ không? Linh thể của súc sinh là cố định, không phải
linh thể loại trí tuệ của con người, không phải linh thể loại trí tuệ của Bồ
Tát, mà là loại đã qua xử lý giống như hàng second-hand (đồ cũ) vậy, không phải
linh thể nguyên mẫu nữa.
Thứ
mười, Tồn bi tâm dĩ dưỡng đức (Lưu giữ tâm từ bi để nuôi dưỡng đức). Đạo đức
của con người làm sao mà có? Bởi vì con từ bi người ta, con bi mẫn người ta,
con cảm thấy người này khổ, người kia khổ, đức tính của con liền xuất hiện. Sư
phụ giáo dục các con nhìn thấy ai cũng phải cảm thấy họ đáng thương. Con cảm
thấy người người đều đáng thương, con liền nuôi dưỡng được tâm từ bi, con sẽ
không hận người ta nữa, tích phúc đức đấy. Thế nào gọi là Dưỡng đức? Đức tính
của con là do nuôi dưỡng mà ra. Thế nào gọi là Dưỡng? Không phải cái Dưỡng của
nuôi con, là bồi dưỡng (nuôi lớn) ra. Cho nên làm người từ bi là cái Gốc của
việc làm người làm trời đất (vi nhân chi thiên địa chi bản). Học Phật tu tâm có
thể giữ được cái "Gốc" (Bản) này của con, mượn giả tu chân mới là
thực sự yêu quý cái "Gốc" này. Bồi dưỡng cảnh giới Phật, kiên trì độ
chúng sinh mới có thể khiến cái "Gốc" này đắc được Thanh Nguyên
(nguồn trong sạch), quay về Thiên giới, cùng chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác.
19. Thiện ác quả báo, duy nhân tự chiêu
Học
Phật, phải càng học càng tinh tấn; tu tâm, phải càng tu tâm càng sáng; làm
người, phải càng làm càng giống người; cảnh giới, phải càng tu càng giống Bồ
Tát. Các con nhất định phải xoay quanh những điều này mà làm, hơn nữa càng tu
cảnh giới càng cao. Tu đến mức độ nhất định, đủ loại cảnh giới đều sẽ hiển
hiện, phải có thể giữ vững bản thân, phải có thể khắc chế bản thân không bị
cảnh giới xoay chuyển, tinh tấn tu hành.
Phúc
khí là gì? Phúc của một người là do tu mà có, một người phải biết Tri phúc
(biết phúc), phải biết Tích phúc (tiếc phúc). Thế nào là Tri phúc? Kỳ thực mỗi
người bản thân đều có phúc khí, mà con làm thế nào để nó kéo dài tiếp đây?
Tương tự, trên người mỗi người đều có phúc khí vốn có của họ. Vậy tại sao con
lại có phúc khí? Mà người kia không có? Phúc khí của mỗi người là kết quả sinh
ra căn cứ vào sự tu vi của họ. Giống như đất đai vậy, con trồng cái gì trong
đất nó sẽ mọc cái đó. Con gieo nhân không tốt, cái nó mọc ra chính là quả không
tốt. Nếu con gieo xuống là một hạt dưa hấu tốt, nó mọc ra sẽ là một cây dưa hấu
tốt, tương lai kết trái sẽ là một quả dưa hấu tốt; nếu con gieo xuống là một
hạt dưa hấu không tốt, nó tương lai kết trái nhất định là một quả dưa hấu không
tốt. Cho nên đất đai là sẽ không thay đổi, nghĩa là phúc khí vốn có của con
người đều là có. Vậy tại sao có người có phúc khí? Mà có người không có phúc
khí? Là vì nghiệp chướng của họ quá lớn, che lấp mất phúc khí của chính họ. Tại
sao một số người có phúc khí? Là vì họ luôn không ngừng làm việc thiện, làm
công đức, làm việc tốt, cho nên phúc khí của họ sẽ luôn kéo dài tiếp. Đừng
trách người ta có phúc khí hay không, thực tế họa phúc đều là do mình tự tạo
thành.
Sư
phụ hôm nay giảng cho mọi người về sự chín muồi của hạt giống thiện ác từ vài
phương diện. Trong lòng mỗi người đều có hạt giống thiện, cũng có hạt giống ác.
Hạt giống thiện và hạt giống ác, giống như tế bào cơ thể người vậy, có cái tốt,
cũng có cái xấu (tế bào ung thư), nó quyết định ở một điểm cân bằng trong cơ
thể người. Bởi vì sự chín muồi của hạt giống thiện ác đã đẩy nhanh cái Duyên của
nó. Ví dụ con không ngừng tưới nước, bón phân trên hạt giống ác, hạt giống ác
này sẽ lớn rất nhanh. Giống như trên người con có tế bào ung thư, nếu con suốt
ngày hút thuốc, uống rượu, làm việc xấu, tế bào ung thư của con sẽ ác hóa nhanh
hơn người bình thường. Nếu con không ngừng tưới nước bón phân trên hạt giống
xấu, thì cái con nhận được chính là ác báo; nếu con không ngừng tưới nước bón
phân trên hạt giống lương thiện, thì cái con nhận được chính là thiện báo. Đúng
không? Hạt giống ác và hạt giống lương thiện là phải xem người gieo trồng. Nếu
con không làm việc xấu, hạt giống ác của con sẽ không động đậy, giống như ngủ
đông vậy. Lấy ví dụ đơn giản: Nếu con người tôi về tiền bạc là khó qua cửa
nhất, thế thì tôi không nhìn tiền, không chạm vào tiền, nó liền ngủ đông rồi,
hạt giống ác này của con sẽ không nảy mầm. Nếu người này háo sắc nhất, thì đừng
nhìn phụ nữ (hoặc đàn ông), cố gắng đừng nhìn đừng tiếp xúc, nếu nhìn rồi trong
lòng động một cái, hạt giống ác này của con coi như con đang tưới nước bón phân
cho nó rồi. Mọi người hiểu không? Mọi người nhất định phải loại bỏ tập khí trên
người mình, nghĩa là đừng tăng trưởng ác duyên, gieo trồng nhiều thiện duyên.
Điểm này rất quan trọng.
Tại
sao hòa thượng phải lên núi tu? Chính là để tránh xa một số phiền não nhân
gian, đừng nhìn thấy phàm nhân nhân gian. Cho nên nhiều ngôi chùa gọi phàm nhân
là "phiền nhân" (người gây phiền). Các con thử nghĩ xem, một ngôi
chùa rất tốt mọi người đều ở trong đó ngày ngày tu tâm niệm Kinh, thần chung mộ
cổ (chuông sớm trống chiều), chính là vì những phàm nhân này sau khi đến chùa
truyền lời, nói tam đạo tứ (bàn ra tán vào), hôm nay nói pháp sư này giảng cái
gì cái gì, ngày mai nói pháp sư kia giảng cái gì cái gì, nói qua nói lại cuối
cùng làm cho ngôi chùa của người ta lộn xộn bát nháo. Thực tế đây chính là một
loại nghiệp chướng. Tại sao phải lên núi tu tâm? Chính là sợ những "phiền
nhân" này làm phiền đấy, từ sáng phiền đến tối, đến tối mới có thể có được
một chút thanh tịnh, khi ngủ trên giường mới cảm thấy Bồ Tát ở bên cạnh.
Cho nên phải nhớ: Hạt giống hữu duyên phải đợi đến khi duyên
phận đến mới nảy mầm. Nếu là hạt giống tốt, đợi đến khi duyên phận của nó đến,
nó mới chín muồi. Lấy ví dụ đơn giản: Con hồi nhỏ thích trộm đồ, bây giờ con
luôn tránh né, kiểm soát bản thân không đi trộm đồ. Hạt giống ác này tuy ở
trong cơ thể con, nhưng nó không nảy mầm, không lớn lên, giống như không có
vậy. Nếu con tụ tập được một đám bạn xấu, chúng đều rất thích trộm đồ, thế thì
thói quen xấu hồi nhỏ của con đã nhận được từ trường trên người chúng, ác duyên
này liền chín muồi, con sẽ cùng chúng đi trộm đồ. Cho nên chúng ta đừng làm
việc xấu, đừng đi chạm vào những duyên phận không tốt đó, như tham, sân, si, đi
trộm, đi cướp v.v. Nếu chúng ta có thể đi chống lại nó, còn có một ưu điểm rất tốt,
chính là gia tốc sự chín muồi của thiện duyên. Bởi vì các con không có duyên
ác, thiện duyên của con sẽ chín muồi ngày càng nhanh. Tại sao có người khi cầu
Quan Thế Âm Bồ Tát lại không linh? Bởi vì trên người họ có rất nhiều ác duyên
chưa tiêu trừ, cho nên họ cầu Bồ Tát liền không linh; nếu ác duyên của họ ngày
càng ít, họ dập đầu trước mặt Quan Thế Âm Bồ Tát, vừa cầu liền linh. Chứng tỏ
họ là một người rất sạch sẽ, Bồ Tát vừa nhìn liền sẽ giúp đỡ, đúng không? Ngược
lại, nếu thiện duyên của con rất ít, không làm nhiều việc tốt, việc thiện,
không đi làm công đức, có phải đã gia tốc sự hình thành của ác duyên không?
Ví
dụ bác sĩ nói bảo con buổi tối ngủ sớm, ban ngày nên thế nào thế nào, con không
nghe lời bác sĩ, hơn nữa buổi tối ngủ rất muộn, thế thì thói quen xấu này của
con thời gian lâu dài có phải gia tốc sức khỏe con trở nên xấu đi không? Sư phụ
tuy không hiểu y học gì, nhưng Sư phụ là đang giảng đạo lý cho các con nghe.
Giống như một số sản phẩm nó chính là kích hoạt một số tế bào trên người con, kích
hoạt những tế bào nguyên thủy đó trên người con, mà những tế bào này đáng lẽ
phải đợi đến khi con cần dùng mới dùng, nói khó nghe chính là tương đương với
một số dự trữ và tích lũy trong kho, khi con chưa nên dùng con đã lấy ra dùng
sớm, đôi khi tác dụng sẽ ngược lại. Lấy ví dụ đơn giản: Hút thuốc phiện chính
là như vậy. Tại sao con người sau khi hút thuốc phiện chạy lên sân khấu lại
tinh thần tăng gấp bội? Tại sao ở trên đài lại giống như phát điên vừa hát vừa
nhảy? Bởi vì họ một mình trên đài sợ không có sự cuồng nhiệt, họ phải giống như
phát điên mới có thể đánh thức tinh thần của nhiều người như vậy đối với họ,
tương tự khiến nhiều người như vậy cũng giống như họ phát điên, cái này gọi là
sức lan tỏa, họ dựa vào những ma túy này khiến họ hưng phấn, mà khi hiệu quả
của ma túy qua đi, người lập tức giống như bị liệt vậy. Bởi vì họ đã dùng năng
lượng thể của bản thân và sự dự trữ, tích lũy của họ. Giống như Sư phụ khi mở
pháp hội, Sư phụ giảng giải cho người ta rất vui vẻ, giảng rất hăng say, đợi
đến khi đại hội kết thúc, người liền muốn ngồi xuống nghỉ ngơi. Đây là tại sao?
Bởi vì khi con tập trung tư tưởng, thực tế con đã huy động sự dự trữ của chính
con.
Các
con có thể hiểu Sư phụ nói những lời này là ý gì không? Bởi vì con người hạt
giống thiện và hạt giống ác đều có, con phải diệt hạt giống ác đi, đừng đi động
vào nó; mà phải không ngừng dùng nước tưới tắm cho hạt giống lương thiện, con
mới có thể khiến hạt giống lương thiện mọc ngày càng lớn, mới có thể khắc chế
thói xấu và hạt giống ác của bản thân. Những thứ lương thiện trong đầu càng
nhiều, ác niệm sẽ càng ít. Tương tự, ác niệm trong đầu càng nhiều, những thứ
lương thiện sẽ càng ít. Một số thực phẩm chức năng chính là kích thích một bộ
phận nào đó của con, khiến con kích thích nó lên, nhưng có thể kích thích một
số tế bào tốt, cũng có thể kích thích một số tế bào không tốt, như vậy ngược
lại tạo thành sinh lý con mất cân bằng, sẽ sinh ra đủ loại bệnh lạ. Cho nên con
người quan trọng nhất là phải điều tiết sự cân bằng của mình. Con người quan
trọng nhất chính là phải có điểm cân bằng tâm lý, mà điểm cân bằng này nằm ở
trong tim con. Học Phật chính là học cân bằng. Nghĩ thông suốt chính là cân
bằng, con nghĩ không thông chính là trong lòng mất cân bằng, đúng không?
Sư
phụ giảng cho mọi người hạt giống thiện ác chín muồi còn ở nhân quả. Bởi vì hạt
giống còn đó, nhân quả nhất định còn đó, tức là trên cơ thể con có hạt giống
ác, hạt giống thiện, có nhân ác và nhân thiện. Có thể hiểu không? Nếu cho hạt
giống thiện nhiều nước và dưỡng chất, thì hạt giống thiện này sẽ lớn nhanh. Nếu
con cho hạt giống ác nhiều nước và dưỡng chất, thì hạt giống ác sẽ ngày càng
lớn, sau khi ngày càng lớn liền biến thành tai nạn. Bởi vì quả ác lớn đến một
lúc nào đó, nó nhất định sẽ hình thành một tai nạn. Ví dụ con bắt đầu là tức
giận, sau khi tức giận trong lòng liền mất cân bằng, sẽ nảy sinh phẫn nộ, sau
khi nảy sinh phẫn nộ từ từ liền biến thành thù hận, sau khi biến thành thù hận
liền từ từ biến thành báo thù, sau khi biến thành báo thù thì bắt buộc phải có
hành vi, lúc này chính là tạo thành tai nạn của con. Đây là lý do tại sao trên
thế giới có nhiều quốc gia như vậy ngày ngày đánh nhau, mãi mãi đánh nhau, bởi
vì hạt giống thù hận của họ luôn được gieo trồng trong quốc gia này, con cái
của họ từ nhỏ sinh ra đã biết thù hận.
Chúng
ta học Phật chính là đừng kích hoạt nhân ác, để nó duy trì (trạng thái ngủ),
như vậy nguy hại gây ra cho cơ thể người là cực ít. Nếu trên cơ thể một người
không có một chút tế bào không tốt nào, người này sẽ không có hệ miễn dịch.
Giống như chúng ta ở Úc thời gian lâu rồi, sau khi đi du lịch quốc gia khác
liền dễ bị trúng gió cảm cúm. Vậy như các nước châu Phi điều kiện vệ sinh rất
kém, sống thời gian dài, tại sao họ không dễ bị bệnh? Bởi vì chúng ta quá sạch
sẽ rồi, liền không có hệ miễn dịch nữa, cho nên trong cơ thể người có thể sản
sinh một số tế bào không tốt, chính là nhân ác (chỉ cần con là người nó nhất
định sẽ có), nhưng con nhất định phải để nhân thiện lấn át nhân ác, như vậy con
mới có thể tạo ra điểm cân bằng thực sự. Lấy ví dụ đơn giản: Các con đều biết
nấu ăn, nếu các con nấu một món sườn xào chua ngọt, nếu các con không bỏ muối
vị ngọt của nó sẽ cực kỳ lạ. Các con nấu đồ chua ngọt bắt buộc phải bỏ muối,
sau đó mới bỏ đường, lại bỏ giấm, lúc đó mùi vị của nó sẽ khác với mùi vị con
chỉ bỏ đường và giấm. Giống như cánh tay của một người vậy, duỗi ra bắt buộc
phải co về. Mục đích con co về là để duỗi ra, nếu không co về con sẽ không duỗi
ra được, đúng không?
Con
hôm nay có nhân ác, con chống lại nó rồi, những thứ lương thiện của con liền đi
ra được; nếu con không kéo những thứ ác về, thứ chánh (tốt) sẽ không ra được.
Những thứ ác phải kiểm soát, phải sửa đổi, hoàn toàn không phải dạy các con làm
nó to ra, không phải để các con tưới nước và bón phân, mà là phải ngăn chặn nó,
chống lại khắc chế nó. Ác chủng ác quả, thiện chủng thiện quả, cho nên ác quả
thiện quả chính là bốn chữ "Họa phúc vô môn" (Họa phúc không có cửa).
Họa phúc là do đâu mà đến? Là vì con "Duy nhân tự chiêu" (Do người tự
chiêu cảm đến). Họa là do con tự chuốc lấy, phúc khí cũng là do con tự chuốc
lấy. Cái không tốt hôm nay của con là do con tự chuốc lấy, cái tốt hôm nay của
con cũng là do con tự tu được. Đau khổ hôm nay của con là do con thời gian dài
gieo nhân ác. Con thời gian dài không tốt, con thời gian dài hận người ta liền
tạo thành tim con có vấn đề, cuối cùng gây ra cái chết của con. Cho nên chúng
ta học Phật phải hiểu nhân quả. Hai chữ "Nhân quả" Sư phụ giảng cho
các con cả đời trước cũng giảng không hết. Nhân quả là một đề tài lớn nhất của
nhân sinh, cũng là một trách nhiệm lớn nhất Phật Bồ Tát giao cho chúng ta. Bởi
vì con ở nhân gian, con bắt buộc phải để mỗi người đều hiểu định luật nhân quả.
Sư phụ bây giờ đi khắp nơi hoằng pháp, thực tế chính là nói cho mọi người biết
hai chữ "Nhân quả".
20. Chuyển Định nghiệp, cải Cộng nghiệp
Người
hiểu nhân quả, họ sẽ không đi làm việc xấu, họ không dám làm việc ác, bởi vì họ
biết hôm nay làm việc xấu nhất định sẽ có quả báo. Giống như ở nhân gian bảo
các con phải hiểu pháp luật vậy. Nếu con không hiểu pháp luật, con không biết
thế giới này còn có pháp luật, con người này cái gì cũng không sợ, sẽ tạo ra
rất nhiều nhân ác. Cho nên điều quan trọng nhất Sư phụ giảng cho các con chính
là phải hiểu nhân quả. Bởi vì quả ác tai nạn con không để hạt giống quả ác của
nó lớn lên, nó sẽ không chín muồi, sẽ không có báo ứng. Cho nên chúng ta đừng
đi động não xấu, động não xấu thực tế chính là đang động nhân ác. Nếu chúng ta
lại đi làm việc xấu, chính là lại đang chạm vào nó. Giống như chúng ta chạm vào
tế bào ung thư vậy, đừng đi chạm vào, nó sẽ không lớn lên, đúng không? Con hôm
nay chạm chạm nó, ngày mai đi chạm chạm nó, sẽ càng chạm càng đau. Nếu trên
người mọc một cái u nhỏ, con lấy tay này không ngừng đi sờ nắn sẽ càng sờ càng
to, con đừng đi chạm vào nó, nó sẽ không lớn lên. Nếu tư tưởng của con thường
xuyên đi nghĩ "Nó có phải là ung thư không nhỉ?", cái u này nó sẽ từ
từ biến thành ung thư. Nếu ý niệm của một người xảy ra sai sót, thực tế sẽ
khiến hành vi của họ xảy ra sai sót, ý niệm kiểm soát hành vi. Nhân quả chính
là như vậy, con kiểm soát được Nhân, con liền ngăn chặn được Quả.
Cho nên phải nhớ: Chúng ta đừng đi chạm vào tế bào ung thư. Cơ
thể chúng ta chỗ nào đau, không vui, trước tiên đừng đi nghĩ đến việc mình có
bị ung thư không. Hiểu chưa? Ngoài ra, bất cứ việc gì đừng cố ý, dùng tác động
của con người (nhân vi) đi xúc động nó. Nghĩa là bất cứ thứ gì không tốt, đừng
cố ý dùng tác động con người đi tạo thành nó không tốt, ví dụ hôm nay người này
đến, nhìn con một cái, hơn nữa rất không vui. Sau khi con nhìn thấy ánh mắt của
họ, đừng cố ý dùng tác động con người đi xúc động việc này nữa. Người ta không
vui thực tế là nhà người ta không vui, con nhìn thấy xong dùng suy nghĩ nhân vi
của con đi nghĩ: "Ái chà, anh ta hôm nay có ý kiến với tôi rồi." Tiếp
theo tế bào não bắt đầu xoay chuyển: "Tôi có đắc tội anh ta không? Tôi có
nói gì anh ta không? Tôi thế này thế kia..." Cứ như vậy không ngừng xoay
chuyển. Thứ nhất, chết tế bào não; thứ hai, liền động nhân không tốt rồi. Con
đi nghĩ nó làm gì chứ? Con đi động cái nhân không tốt của nó làm gì chứ? Bởi vì
sau khi con động rồi con chắc chắn sẽ nghĩ ra một tư duy lệch lạc. Tư duy không
chính (thẳng) gọi là tư duy lệch. Tư duy này sau khi ra sẽ hại con. Con tưởng
là nguyên nhân này, con sẽ trả thù anh ta, hoặc giải thích, thực tế chính là
cái nhân không tốt này của con bắt đầu vận hành trong đầu con rồi. Cho nên đừng
cố ý dùng tác động con người đi xúc động những thứ không tốt đó. Rõ ràng biết
mình về quan hệ nam nữ không kiểm soát được, thì ngàn vạn lần đừng đi nhìn loạn
đi động loạn. Nếu là phương diện tiền bạc không kiểm soát được, thì đừng đi
tiếp xúc tiền bạc. Cho nên Sư phụ giảng cho các con, bởi vì con xúc động bất cứ
việc gì mới gia tốc sự phát triển của nó. Hôm nay con không ngừng đi chạm vào
nhân thiện, con sẽ có quả thiện không ngừng xuất hiện; hôm nay con không ngừng
đi chạm vào nhân ác, con sẽ có quả ác xuất hiện. Ví dụ tình cảm hai vợ chồng đã
không tốt rồi, ngày ngày cãi nhau, kỳ thực chính là ngày ngày đang xúc động cái
nhân ác không tốt đó, tai nạn gây ra cuối cùng chính là đánh nhau, ly hôn. Nếu
con ngày ngày đi xúc động nhân thiện tốt, tình cảm hai người sẽ ngày càng tốt.
Cái này chính là Thiện và Ác Sư phụ muốn giảng cho các con. Gieo nhân thiện
gieo nhân ác là cơ sở. Con người đều có thiện ác, con hôm nay chỉ cần trở thành
người, không thể nào không có quả ác. Giống như con chỉ cần là người, trên
người nhất định sẽ có bạch cầu và hồng cầu.
Sư
phụ tiếp theo giảng cho mọi người con người có thể thay đổi Định nghiệp của
mình không? Định nghiệp của con người dễ sửa, còn Cộng nghiệp mọi người cùng
làm ra thì rất khó sửa. Định nghiệp của cá nhân là nghiệp chướng đã định sẵn,
cũng có nghĩa là thời gian nhân ác gieo trồng kiếp trước kiếp này đến báo. Tuy
nhiên Cộng nghiệp rất khó sửa. Mọi người cùng nhau làm việc xấu, luồng ác khí
này khi báo ứng là mọi người cùng nhau chịu đựng. Tuy là mọi người cùng nhau
chịu đựng, nhưng tôi lấy một ví dụ đơn giản: Nếu trong một lớp học có 30 học
sinh cùng nhau làm việc xấu, duy chỉ có một đứa trẻ không cùng làm việc xấu.
Khi giáo viên bắt tất cả học sinh đứng lên phạt đứng, có một học sinh nói:
"Em không làm". Học sinh này liền có thể thoát khỏi liên can. Nghĩa
là, khi mọi người đều đang làm việc xấu con không đi tham gia, không đi làm,
tuy khi cộng nghiệp đến con sẽ chịu đựng tai nạn này, nhưng con có thể chết đi
sống lại (thoát chết). Nghe có hiểu không? Giống như trong trận động đất Đường
Sơn có rất nhiều người tốt, cũng có rất nhiều người xấu. Đợi đến khi động đất
đến, người xấu người tốt họ đều chịu cái cộng nghiệp này. Nhưng có một số người
chính là trốn dưới gầm bàn, có một số người nhà không đè sập xuống, có người
thì đi công tác, những người này chính là có thể tránh được cộng nghiệp. Những
người này chính là khi người ta đang tạo cộng nghiệp, họ không đi tạo cộng
nghiệp, họ sẽ không phải chịu đựng ác quả này.
Chúng
ta ở đây học Phật học Pháp, chúng ta đang cứu độ chúng sinh, vậy đợi đến khi có
tai nạn đến chúng ta sẽ không có việc gì, đúng không nào? Bồ Tát đã cài một cái
hộp trong tâm linh mỗi người chúng ta, giống như hộp đen trên máy bay vậy, cái
hộp này ghi lại việc thiện và việc ác cả đời con đã làm. Cái hộp đen này phải
đợi đến khi chiếc máy bay này hủy diệt, cũng chính là giống như khi con người
chúng ta chết đi vậy, cái hộp đen này của nó mới phát huy tác dụng. Có thể lấy
cái hộp đen này ra, từ đầu đến cuối biết được tất cả mọi việc xảy ra trong quá
trình bay, sau đó để phán đoán chiếc máy bay này tại sao lại gặp nạn. Nghĩa là
trong Bát thức điền (Tàng thức) của chúng ta có một chiếc máy quay phim tốt
nhất, ghi lại toàn bộ sự gập ghềnh trắc trở, làm người, làm việc thiện, làm
việc ác của cả đời chúng ta, đợi đến khi con bị phán xuống dưới, con rõ rõ ràng
ràng có thể nhìn thấy tất cả mọi việc bản thân con đã làm cả đời. Nghĩ xem con
có thể lừa ai? Con cho dù trên đầu ba thước không có thần linh, nhưng trong Bát
thức điền của con đã gieo nhân quả, cái tâm này của con sẽ nói cho con biết con
đã là một tội nhân rồi. Giống như rất nhiều người biết mình là một người xấu.
Rất nhiều người vào trong tù, con nói với họ: "Anh có thể trở thành người
tốt". Họ nói: "Tôi đã là một người xấu rồi". Bởi vì ý thức của
họ nói cho họ biết: "Mày có quá nhiều nghiệp chướng rồi, có quá nhiều ác
duyên rồi, vì vậy tạo thành nhân quả báo ứng của mày, cho nên mày chính là một
người xấu."
Nghe
có hiểu không? Cho nên nói hại người chính là hại mình, hại mình xong lại hại
người ta. Tốt nhất đừng đi hại, ngay cả não cũng đừng động, hành vi cũng đừng
có, miệng cũng đừng nói. Nói cho các con biết, nếu hôm nay con đau răng cũng
gọi là báo ứng. Con có thể sẽ nghĩ Sư phụ nói nghiêm trọng rồi, thực ra tôi nói
một chút cũng không nghiêm trọng. Nếu không phải linh tính báo ứng con, thì là
báo ứng của thói quen sinh hoạt lâu dài của con. Bởi vì con không đánh răng
hoặc đánh không sạch, hoặc lúc đánh lúc không, hoặc là con ăn đồ ngọt quá nhiều
v.v., một loạt nguyên nhân không tốt này tạo thành việc con hôm nay đau răng.
Hoặc con có thể nói răng là theo tuổi tác con người tăng lên sẽ từ từ thiếu
canxi, lỏng lẻo rụng đi. Điều này là đúng, nhưng tại sao có những người hơn bảy
mươi tuổi rồi răng vẫn tốt nguyên? Mà con bao nhiêu tuổi chứ? Răng lại tệ như
vậy? Đây chính là quả báo. Nghĩ thử xem, đều là do không tuân thủ thường thức
cuộc sống, không tuân thủ nếp sống tạo thành. Giống như con cái của chúng ta
vậy, bảo nó ngày ngày phải chú ý cái này, ngày ngày phải chú ý cái kia, nó cứ
không chú ý, đến lúc sinh bệnh là cá nhân nó khó chịu chứ không phải chúng ta
khó chịu. Giống như Sư phụ nhìn các con vậy, các con ngày ngày đang phạm tội,
tạo nghiệp, Sư phụ ngày ngày khuyên bảo các con, giảng đạo lý cho các con. Tôi
giảng đến khản cả giọng các con vẫn không nghe, tôi lại có cách gì chứ?
Cộng nghiệp, Định nghiệp tuy rất khó thay đổi, nhưng cộng nghiệp
có một điểm chung: Chính là Phật Bồ Tát tuy không thể thay đổi Định nghiệp,
nhưng Phật Bồ Tát có thể khiến nó chuyển biến. Mọi người nghe có hiểu không?
Định nghiệp không thể sửa, nhưng có thể chuyển. Thế nào là Chuyển? Chuyển biến
thực tế chính là tương đương với thay đổi, nhưng không thể nói là không có. Sư
phụ thường lấy cho các con một ví dụ: Khi viết sai chữ trên giấy, chữ trên tờ
giấy này có thể xóa bỏ nó không? Cái này gọi là Định nghiệp không thể sửa.
Nhưng con thông qua việc dùng tẩy để tẩy, dùng bút xóa để bôi, có phải đã thay
đổi rồi không? Định nghiệp của con không thể động, nhưng có thể thay đổi nó,
cho nên để nó chuyển hóa rất quan trọng. Cũng một thứ đó, nếu chuyển hóa nó rồi
nó sẽ không hại con nữa. Ví dụ một con dao, một con dao giết người, con nếu
chuyển hóa nó rồi, nó biến thành con dao thái đồ vật rồi. Một người xấu con uốn
nắn họ lại rồi, làm người tốt rồi, họ chính là một người tốt, chính là một
người có ích, một người có lợi cho nhân dân. Đúng không? Cho nên phải biết
chuyển hóa. Bồ Tát đến nhân gian không phải để trừng phạt con người, là để giúp
con người thoát khỏi khổ nạn, là để chuyển hóa tư duy cảnh giới của con người.
Cho nên phải hiểu những đạo lý này. Vậy làm thế nào để thay đổi
cái Nghiệp này? Thứ nhất, phải lạy Phật. Thứ hai, phải Lý sám (sám hối bên
trong). Lý sám chính là biết sám hối từ trong tâm. Người biết sám hối là một
người rất thông minh. Các con nhất định phải học cách biết Lý sám, người biết
sám hối mới có thể thay đổi Nghiệp; nếu một người không biết sám hối, người này
hết cứu rồi. Tôi nhắc nhở các con một lần nữa: Sau này bất kể làm sai chuyện
gì, câu đầu tiên chính là "Xin lỗi". Phải luôn để câu "Xin lỗi"
trên miệng, cho dù là đúng cũng phải nói với người ta "Xin lỗi"
trước. "Xin lỗi" hoàn toàn không đại biểu con nhất định là làm sai
rồi, "Xin lỗi" là đại biểu cho cảnh giới của con. Bởi vì ở nhân gian
bất cứ việc gì đều không có đúng và sai, cho nên bất kể một việc gì chỉ cần xảy
ra rồi, con hãy nói: "Là tôi không đúng, xin lỗi." Giống như rất
nhiều người khi họp phát biểu vậy, "Xin lỗi, tôi hôm nay không biết tôi
nói có đúng không, mong mọi người tha thứ, bao dung nhiều hơn. Tôi bây giờ nói
quan điểm của tôi..." Câu "Xin lỗi" này có hạ thấp nhân cách của
họ không? Không hề. Ngược lại là nâng cao nhân cách của họ. Người miệng ngày
ngày nói mình đúng, họ chưa chắc đã đúng. Thường xuyên nói "Xin lỗi, tôi
có thể sẽ làm sai, tôi có thể sẽ nói sai," người này mới là sẽ không làm sai.
Cho nên trong học Phật, trong học làm người, người thường xuyên chỉ trích người
khác, người này chắc chắn là sai. Chỉ trích người khác tưởng rằng mình đúng,
cái việc chỉ trích người ta này con đã là sai rồi.
Thứ ba, phải có lực gia trì. Các con biết Định nghiệp rất khó
thay đổi, nếu muốn thay đổi thì nhất định phải có lực gia trì, đây là một yếu
tố rất quan trọng. Nếu không có Sư phụ, không có sự gia trì của Phật Bồ Tát,
người này không chuyển được Định nghiệp của họ. Giống như vị bà lão kia ở nhà niệm
Kinh tốt đến mấy, bà ấy sẽ không kéo dài tuổi thọ đến hôm nay. Bởi vì bà ấy bắt
buộc phải có một người bảo lãnh, bắt buộc phải có một lực gia trì. Tại sao phải
có lực gia trì này? Giống như Sư phụ vừa tuyên bố muốn chiêu nhận đệ tử, họ đều
tới tấp báo danh, cảm thấy là vinh quang vô thượng, vui vẻ vô thượng. Bởi vì họ
bắt buộc phải có một người thầy, bắt buộc phải có một Minh sư chỉ điểm, người
này mới có thể đi lên chính đạo. Sư phụ từng giảng cho các con, nếu một sinh
viên đại học hệ tại chức (hàm thụ) không có thầy giáo dạy và một sinh viên đại
học chính quy có thầy giáo dạy, các con nói tầng thứ có giống nhau không? Nếu
là cùng một giáo trình, mà đưa tài liệu học tập cho học sinh mang về nhà ngày
ngày học coi như là tốt nghiệp rồi, trình độ của họ với việc có thầy giáo dạy
và không có thầy giáo dạy có giống nhau không? Các con có thể hiểu đạo lý trong
đó không? Đây là lý do tại sao có nhiều người như vậy trên toàn thế giới nỗ lực
hoằng dương Pháp môn Tâm Linh của Sư phụ, bởi vì họ biết có Quan Thế Âm Bồ Tát,
có một vị Đại Bồ Tát như vậy đang gia trì chúng ta, cho nên họ mới đặc biệt vui
vẻ. Hơn nữa lại có Lư Đài trưởng là đạo sư của họ, dạy họ tu học, hiểu đạo lý
nhân gian, dẫn dắt họ để họ trăm nghìn lần niềm tin tu Bồ Tát đạo.
21. Chạm vào bản tính, khai ngộ chánh đạo
Bất
kỳ một pháp môn nào, nếu pháp môn này không có một vị đạo sư (thầy dẫn đường)
thật tốt, thì pháp môn đó sẽ không hưng thịnh lắm. Nếu có một vị đạo sư thật
tốt, một vị đạo sư rất nổi tiếng và tu rất tốt, mọi người đều sùng bái, kính
ngưỡng, thì pháp môn này sẽ rất hưng thịnh. Sư phụ trong quá trình học Phật
"như đi trên băng mỏng" (cẩn trọng từng bước), tự biết mình nên đi
thế nào. Tôi có thể nhìn xuyên thấu dục vọng đối với nhân gian giống như một
lớp màn cửa, có thể nhìn thấy cảnh giới thực sự của Bồ Tát. Còn lớp rèm cửa này
của các con chắc chắn dày hơn lớp của Sư phụ rất nhiều, là không nhìn thấy phía
trước, các con chỉ nhìn thấy một chút xíu này thôi. Sư phụ hy vọng các con làm
cho cái rèm cửa trước mắt mình biến mất, cái gì cũng không cần có, lúc đó con
liền tu rất sạch sẽ rồi. Sư phụ càng giảng càng không nỡ bỏ các con, bởi vì
nhìn thấy các con thật sự rất đáng thương, những thứ các con hiểu quá ít, những
thứ các con cần học quá nhiều, mà các con ngày ngày còn đang bôn ba vì chuyện nhân
gian, các con không buông bỏ được như Sư phụ.
Sư
phụ nói cho các con biết: Các con hiểu đạo lý nhiều hơn một chút, sẽ bớt đi một
chút phiền phức; các con tu tâm nhiều hơn một chút, nhà các con sẽ nhận được
bình an nhiều hơn một chút; con niệm Kinh nhiều hơn một chút, đường đời của con
sẽ bằng phẳng hơn rất nhiều. Đáng thương là các con không hiểu, đem cái thật
coi là giả, đem cái giả coi là thật. Nhân gian này đều là giả, con tưởng là
thật, còn liều mạng lăn lộn trong sóng gió biển ác. Rõ ràng là nguyên linh của
Bồ Tát, rõ ràng là bản thiện của tâm linh, những thứ tốt đẹp này toàn bộ không
còn nữa, chỉ còn lại ác ngôn ác ngữ, ác khí tương gia (thêm thắt ác khí), lại
cộng thêm Tham Sân Si Mạn. Bên ngoài đồn đại Sư phụ hiện tại là pháp lực vô
biên. Pháp lực vô biên chứng tỏ đây là Chánh, là Phật pháp vô biên. Sư phụ lần
này thừa nguyện tái lai (thừa nguyện lực trở lại) các con nghe trên đài phát
thanh cũng biết rồi, rất đơn giản, không đơn thuần là đến để hoằng dương pháp
môn này, mà là đến để đấu tranh với Ma. Đầu tiên là đấu bỏ con Ma trong tâm đồ
đệ, sau đó đấu bỏ con Ma bên ngoài. Nhưng Sư phụ có tâm từ bi, vừa đấu tranh
với Ma, vừa vẫn từ bi khuyên bảo họ, giúp đỡ siêu độ họ, để họ đạt được cảnh
giới cao hơn. Sư phụ hy vọng những người đi theo tu học đều có thể đạt được
vĩnh sinh.
Sư
phụ tiếp theo giảng cho mọi người, tại sao mắt của Bồ Tát nhìn chúng sinh là mở
ba phần nhắm bảy phần? Sư phụ trước đây cũng từng giảng cho các con, bởi vì
nhân gian đều là giả, cho nên mắt Bồ Tát không muốn nhìn hư không pháp giới
nhân gian này. Thực tế trong này còn có một nguyên nhân khác, các con hãy tưởng
tượng xem, khi một người rất từ bi, mắt của họ tuyệt đối sẽ không mở rất to,
mắt cũng sẽ không nhắm lại. Khi một người rất từ bi, thực tế mắt của họ chính
là nhắm bảy phần, mở ba phần. Khi nhìn thấy người này rất đáng thương, trong
lòng nghĩ: "Haizz, đứa trẻ này sao lại như vậy chứ?" Đây là tâm từ bi
phát ra từ nội tâm, lúc này mắt tuyệt đối sẽ không mở rất to rất to, đúng
không? Bởi vì Bồ Tát nhìn chúng ta rất từ bi, cho nên mí mắt của Bồ Tát rủ
xuống, nhưng lại không nỡ từ bỏ chúng ta, ba phần này chính là không nỡ buông
bỏ chúng ta, bảy phần này có chút "hận sắt không thành thép" (tiếc
nuối vì không nên người). Từ bi thay, đây chính là đôi mắt của Bồ Tát. Sư phụ
nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát là muốn khóc, nhìn thấy Bồ Tát liền cảm thấy mình
làm quá ít. Đôi khi thật sự loại cảm giác đó giống như nhìn mẹ mình vậy. Mẹ đối
với chúng ta tốt biết bao, chúng ta nghĩ xem mẹ nuôi chúng ta khôn lớn không dễ
dàng gì, mà con cái bây giờ đối với mẹ còn đánh mắng kêu gào (ngược đãi mẹ). Mẹ
Sư phụ qua đời khá sớm, là Quan Thế Âm Bồ Tát khiến tôi từ nhỏ đã hiểu rằng
những gì con sở hữu trong nháy mắt có thể không còn; là Quan Thế Âm Bồ Tát để
Sư phụ nhìn rõ tất cả mọi thứ ở nhân gian đều không thể dài lâu, cái này gọi là
Vô thường. Quan Thế Âm Bồ Tát từ nhỏ đã để Sư phụ chấp nhận một thử thách -- Xả
(Buông bỏ). Phải xả được. Lúc đó Sư phụ liền nghĩ: Tại sao lại xảy ra trong nhà
tôi? Trong nhà cái gì cũng không thiếu, cái gì cũng có, điều kiện tốt như vậy,
tại sao chứ? Chính vì cái "tại sao" này đã tạo thành việc Sư phụ tại
sao phải đến hoằng pháp, đến cứu độ chúng sinh -- Tôi học theo Đức Phật Thích
Ca Mâu Ni. Học Đức Phật Thích Ca Mâu Ni năm xưa khi làm thái tử, vì Ngài nhìn
thấy khổ nạn nhân gian, nhìn thấy sinh lão bệnh tử của con người đáng thương
như vậy, cho nên Ngài mới phải tìm kiếm một con đường. Sư phụ cũng nhìn thấy
con người khổ như vậy, cho nên luôn nghĩ trong đầu: Tôi tốt nhất có thể khiến
mọi người vui vẻ, khiến mọi người đừng chết, khiến mọi người sống trên thế giới
mỗi ngày đều rất hạnh phúc. Mà hạnh phúc này chỉ có dùng Phật pháp mới có thể
khiến con hạnh phúc, nếu con rời xa Phật pháp con vĩnh viễn không đạt được hạnh
phúc. Đây đều là những gì Sư phụ cảm nhận được. Cả đời tôi cũng trải qua rất
nhiều trắc trở, nhưng Sư phụ đã vượt qua như thế nào? Chính là luôn dựa vào
niềm tin kiên định.
Tôi
từ nhỏ đã lạy Phật niệm Kinh, tuy lúc đó niệm Kinh rất ít, chủ yếu là niệm
"Tâm Kinh", nhưng Sư phụ chính là không ngừng lạy Phật, trong lòng có
một lý tưởng vĩ đại: Chỉ cần lạy Phật cái gì cũng có thể giải quyết. Sư phụ vừa
rồi giảng cho các con, mỗi người đều có phúc phận, bởi vì con làm ác quá nhiều,
ác nghiệp của con che lấp mất phúc của con, cho nên khiến phúc của con rời bỏ
con mà đi. Nhưng chúng ta đi theo Quan Thế Âm Bồ Tát tu tâm, tu hành, niệm Kinh
cho tốt, chúng ta nhận được là phúc phận lớn nhất. Con chỉ cần tin tưởng Quan
Thế Âm Bồ Tát một ngày, con liền kéo phúc phận về bên mình một ngày. Mọi người
hiểu chưa? Tu hành không phải là coi Phật như thần tượng để lạy. Rất nhiều
người tưởng rằng chúng ta tu tâm tu hành là coi Bồ Tát như một loại thần tượng
của mình, ngày ngày đến dập dập đầu, đến lạy lạy Bồ Tát: "Bồ Tát ơi Ngài
rất vĩ đại, Ngài cứu con với." Kiểu này là hiểu sai. Lạy Quan Thế Âm Bồ
Tát cũng vậy, lạy tất cả Phật Bồ Tát cũng vậy, là để các con lạy Phật tu tâm
niệm Kinh, là để các con khai ngộ, để các con lạy Phật tự thân (Phật trong
chính mình), để các con Quy y Phật Pháp Tăng. Sư phụ từng giảng cho các con:
Phật tại tâm trung, quy y Tự tánh Phật của chính mình; Pháp tại hành trung, con
trong hành vi chính là đang bảo vệ Phật pháp. Con quy y ai? Thực tế là quy y
chính con, bởi vì bản tính của con chính là Phật. Tăng tại giới trung, người
biết giới luật thực tế chính là một tăng nhân. Bởi vì tăng nhân có rất nhiều
giới luật, nếu chúng ta làm người có thể trì giới thủ pháp (giữ giới giữ pháp),
chúng ta chính là một tăng nhân tốt.
Sư
phụ tiếp tục giảng cho mọi người, phải dùng tâm của con để chạm vào bản tính và
lương tâm của chính mình. Thế nào là Chạm vào (xúc ma)? Con hãy sờ vào lương
tâm của con rồi hãy nói chuyện, con hãy sờ vào bản tính của con rồi hãy làm
việc. Con có xứng đáng với lương tâm của mình không? Các con làm bất cứ việc gì
có xứng đáng với Bồ Tát không? Các con hôm nay làm việc xấu có xứng đáng với
cha mẹ các con không? Cho nên học Phật phải Tịnh niệm. Thế nào là Tịnh niệm?
Tịnh là sạch sẽ, Niệm là ý niệm. Phải là ý niệm vô cùng sạch sẽ, con mới có thể
đắc được Chánh pháp; ý niệm của con không sạch sẽ, pháp môn con học nhất định
không phải là Chánh pháp. Nếu pháp môn này dạy con những thứ không sạch sẽ, thì
con phải nghi ngờ tính chân thực của nó. Nghe có hiểu không?
Sư
phụ chưa bao giờ bình luận bất kỳ pháp môn nào, không nói bất kỳ pháp môn nào
tốt hay xấu, nhưng Sư phụ có thể giảng đạo lý cho các con nghe, để các con tự
đi ngộ, tự đi đánh giá. Nếu một pháp môn dạy các con Tham Sân Si, các con nói
xem đây là pháp môn gì? Nếu một pháp môn dạy các con đánh bạc thế nào, niệm Kinh
gì có thể kiếm tiền, các con dám tu không? Các con nghe có hiểu không? Sư phụ
không muốn nói những việc này quá rõ ràng, muốn các con tự mình ngộ đạo, thế
nào là Chánh? Thế nào là Lệch (Thiên)? Cho nên Sư phụ luôn nói với các con phải
Chánh niệm và Chánh thời phối hợp lại, mới có thể đạt được Chánh niệm thực sự
của con. Thế nào là Chánh niệm? Chánh niệm cũng phải dựa vào thời gian. Ví dụ
con trong quá khứ làm việc này con là đúng, con cảm thấy là chính (đúng), nhưng
con ở thời đại hiện tại làm việc này rõ ràng là sai, con vẫn lấy việc quá khứ
này nói tôi là đúng, thực tế con chính là sai. Rất nhiều người già chẳng phải
như vậy sao? Tưởng rằng mình trong quá khứ là ghê gớm lắm hoặc mình thời trẻ
thế nào, mà bây giờ công việc của mình không còn, kinh tế cũng không còn, cái
gì cũng không còn, chạy đến nhà con trai con dâu còn muốn chỉ tay năm ngón, nói
đông nói tây. Con nói xem người già này làm có đúng không?
Học
Phật cũng như vậy, thời gian hiện tại phải lấy khái niệm hiện tại làm chuẩn để
hoằng dương Phật pháp, con không thể lấy cái quá khứ để nói cái hiện tại, cũng
không thể lấy cái hiện tại đi so với cái quá khứ, đó mới gọi là khai trí tuệ
thực sự. Sư phụ nói có đúng không? Không nói sai chứ? Có thể so sánh không?
Thiên thời này đang chuyển, con sao có thể cứ lấy quá khứ so với hiện tại? Các
con thời con gái tùy ý chọn lựa, ai cũng muốn con, bây giờ còn có nhiều người
muốn con như vậy không? Thời gian không đợi người, thời gian không giống nhau
rồi. Pháp môn cũng như vậy. Thiên thời hiện nay bởi vì khái niệm của con người
toàn bộ đều đang thay đổi, đang chuyển hóa, Sư phụ không có một câu nào nói là
để Phật pháp này chuyển biến, mà là phương pháp đang thay đổi, đang chuyển
biến. Cùng học trong một trường đại học này, phương pháp dạy học dùng trong quá
khứ và phương pháp dạy học dùng trong hiện tại có thể giống nhau không? Nhưng
điều này hoàn toàn không đại diện cho mục đích học tập là không giống nhau.
"Tôn
sư trọng đạo, y giáo phụng hành" nói về việc dựa vào đạo sư của con, dựa
vào nguyên tắc Phật pháp đã định để tu tâm. Nguyên tắc đều không thể thay đổi,
mà cái thay đổi chẳng qua là phương pháp của nó mà thôi. Nguyên tắc là gì? Là
cùng nhau xua đuổi Tham Sân Si. Tu cái gì? Tu thành Khai ngộ, tu thành Cực Lạc
thế giới, tu thành Tứ Thánh Đạo, tu thành Phật đạo, tu thành Đại Giác. Học cái
gì? Học Diệu pháp. Nếu pháp môn chỉ có một cái, Bồ Tát tại sao trong Kinh Phật
nói tám vạn bốn ngàn pháp môn? Vậy tại sao lại gọi là "Bất nhị pháp
môn"? Chỉ việc con đã học một pháp môn nào đó, thì đừng đi ngó trái ngó
phải nữa, đây gọi là Bất nhị pháp môn. Hoàn toàn không phải nói toàn bộ Phật
pháp, Phật giáo chỉ có một pháp môn này. Nghe có hiểu không? Ví dụ con hôm nay
ngồi tàu hỏa đi Bắc Kinh, thì cứ ngồi tàu hỏa cho tử tế. Con hôm nay ngồi xe
ngựa đi Bắc Kinh, thì cứ ngồi xe ngựa cho tử tế. Con hôm nay lên máy bay rồi,
đừng nói tôi vẫn muốn ngồi tàu hỏa, đến Thiên Tân xuống rồi đổi tàu hỏa. Rất
nhiều người ngồi tàu hỏa ngồi mệt rồi, "Ái chà, tôi sớm biết thế này thà
ngồi máy bay còn hơn." Cái này thì khá phiền phức rồi. Kỳ thực mục đích đều
là một cái đến Bắc Kinh, chỉ là phương pháp đi khác nhau mà thôi. Đây là lý do
tại sao học Phật phải chuyên nhất, phải giảng cứu một cái Diệu pháp.
22. Xả bỏ thói xấu nhân gian, chuyên chú tu vi nhân
gian
Nếu
suốt ngày treo Phật Bồ Tát bên miệng, mà không nghiêm túc đi tìm hiểu và thực
tiễn, công đức của người đó gần như là không có. Cho nên nhất định phải đi tìm
hiểu và thực tiễn. Thực tiễn là gì? Chính là tu hành. Tìm hiểu là gì? Chính là
tu tâm. Nếu một người đối với pháp môn không thể tìm hiểu một cách sâu sắc thấu
đáo, đối với Phật pháp nền tảng căn bản nhất không đi tìm hiểu, đi thực tiễn,
người này chính là không có công đức. Ví dụ có một người sắp ngã, nếu con dựa
vào nhân tính trong một sát na (chưa từng học Phật), con không mang theo một
loại tâm từ bi đi cảm nhận ông cụ này sắp ngã, mà là một động tác phản xạ đỡ
ông ấy dậy, con chẳng qua chỉ làm một việc thiện. Nếu con cảm thấy: "Ái
chà, ông cụ này sau khi ngã sẽ thế nào, mình nên đỡ ông ấy dậy như thế nào. Ông
ấy rất đáng thương, ông ấy giống như cha mẹ mình vậy. Ông ấy là Phật quá khứ
hoặc Phật tương lai." Nếu con có suy nghĩ này, khi cảnh giới của con nâng
cao, đi làm bất cứ việc gì, con liền đạt đến cảnh giới tầng thứ cao. Nếu con
dùng tâm để làm, nhận được chính là sự báo đáp của tâm linh: Nếu con chỉ làm
chuyện bề ngoài, con nhận được cũng chỉ là sự báo đáp bề ngoài.
Mọi
người đều biết, thiên hạ không có chuyện không làm mà hưởng, không lao động mà
muốn có được, đó là không thể nào. Đồ đệ Tiểu Vu hiện tại được mọi người gọi là
thầy giáo, bởi vì cậu ấy đã trả lời nhiều câu hỏi như vậy. Cậu ấy sao có thể
biết nhiều thứ như vậy? Bởi vì cậu ấy ngày ngày đi theo Sư phụ hỏi. Những thứ
cậu ấy học được từ Sư phụ thực tế chính là thứ của cậu ấy. Các con hôm nay nghe
lọt tai rồi chính là thứ của các con, còn các con để những thứ đã học trong
bụng không lấy ra, chính là không có thực tiễn. Các con bây giờ học được từ chỗ
Sư phụ chính là thứ của các con. Các con phải tranh nhau làm công đức đấy, các
con bình thường phải làm nhiều công đức, giúp đỡ người ta nhiều vào, giảng giải
nhiều vào. Nếu con không đi giảng, không cứu người ta, các con biết đây là tu
Tiểu thừa Phật pháp. Bởi vì trong thời kỳ Mạt pháp Tiểu thừa Phật pháp không
cứu được người, cũng không cứu được bản thân mình. Sư phụ nói cho các con một
câu rất rõ ràng: Nếu các con có thể đem những thứ Sư phụ dạy các con dùng vào
trong thực tiễn, thực tế chính là thứ của các con. Tôi hy vọng mỗi người trong
các con đều có thể giống như Sư phụ cứu độ chúng sinh. Mỗi người trong các con
đều có thể nói ra rất nhiều đạo lý cuộc sống. Sư phụ muốn các con lên con tàu
sân bay này của Sư phụ để cứu người, để cứu độ chúng sinh. Nếu không các con ở
trên con thuyền nhỏ của mình nhìn thấy nhiều người như vậy trong nước, ai cũng
nói: "Ái chà, đáng thương quá, xin Quan Thế Âm Bồ Tát cứu cứu họ", mà
bản thân lại không động đậy. Sư phụ là muốn các con tự mình phải đưa tay ra
kéo. Nếu ngày ngày ngồi đó niệm Kinh, đạo lý gì cũng không hiểu, việc gì cũng
không làm, chỉ biết niệm Kinh cho mình, hơn nữa không dụng tâm niệm, con nhất
định không nhận được sự cứu độ của Bồ Tát. Phải hiểu tự độ độ người. Cho nên
niệm Kinh nhất định phải dụng tâm mà niệm.
Khi
nghiệp lực hiện tiền, khi một người trên thân có nghiệp chướng, đầu tiên bắt
buộc phải tiêu trừ những nghiệp chướng đó trước. Sau khi tiêu diệt nghiệp
chướng con mới có thể tu tâm tốt, nếu không nghiệp lực quấy rối con, khiến tâm
con không định lại được. Nghiệp lực khi ở trên thân là chạy loạn xạ. Sư phụ lấy
cho các con một ví dụ các con sẽ hiểu: Khi một người rất phiền não, tâm không
định lại được, trong lòng nghĩ "Tôi phải niệm Kinh, tôi phải niệm Kinh".
Tuy miệng đang niệm, nhưng trong lòng buồn bã lại phiền não. Lúc đó tâm hoàn
toàn không định lại được, cứ muốn đứng lên làm chút chuyện gì khác, lúc đó bản
thân không khắc chế nổi tâm của mình. Cái này gọi là chạy loạn xạ. Giống như
nhà một số người có chút chuyện gì đó, người ngồi ở đây, "Tôi phải niệm Kinh,
tôi phải niệm Kinh", mà trong đầu toàn nghĩ chuyện trong nhà. Đây chính là
nghiệp lực của con người chạy loạn xạ. Sau đó con dùng cái tâm như thế nào để
tu tâm, sẽ nhận được sự báo đáp (quả báo) như thế đó. Nếu con dùng tâm rất từ
bi để tu tâm, con nhận được chính là sự báo đáp rất từ bi; nếu con dùng cái tâm
phiền toái bất an này để tu tâm, cái tâm con tu được cũng là phiền toái bất an.
Có
thể hiểu không? Con người làm thế nào mới có thể định lại? Phương pháp tốt nhất
có thể khiến người ta định lại chính là làm người phải nghĩ đến tri túc thường
lạc (biết đủ thường vui), nhưng đây là nói đối với nhân gian; đối với người học
Phật một câu chính là Giới Tham Sân Si Tam Độc (Cai bỏ ba chất độc Tham Sân
Si). Khi con nghĩ đến "Ở nhân gian tôi cái gì cũng thỏa mãn rồi, tuy việc
này khiến tôi rất phiền não, nhưng đối với tôi mà nói đã rất tốt rồi." Tâm
con sẽ bình tĩnh lại. Từ trong tâm mà đào, đó chính là giới Tham Sân Si. Bởi vì
khi con không tham, con liền không có phiền não này; khi con không hận người
ta, trong lòng con cũng không có phiền não; khi con không ngu si, không muốn
đạt được một số thứ bản thân không đạt được, tâm con cũng liền bình tĩnh rồi.
Nếu tâm con không tĩnh lại được, con chỉ có thể thuận theo tập tính. Thuận theo
tập tính chính là thuận theo thói quen, thuận theo thói xấu của con đọa lạc vào
lục đạo luân hồi. Lấy ví dụ đơn giản: Một người phụ nữ cưới ba lần, tại sao lại
cưới ba lần? Chẳng lẽ bản thân cô ta không có tật xấu sao? Trên người chắc chắn
là có tật xấu, lần đầu như vậy, lần hai vẫn như vậy, lần ba kết hôn rồi lại ly
hôn, cho nên cô ta chính là đang luân hồi đấy. Khổ cô ta từng chịu lại chịu
nữa, rắc rối cô ta từng tìm lại tìm nữa, cô ta không tiếp thu bài học, đúng
không nào? Con người sợ nhất là không có ngộ tính.
Một
người không tu tâm, giống như một ông già khi lên dốc tay muốn bám vào một cái
cột bên cạnh, vì hai chân không chống đỡ nổi bản thân, liền muốn bám một cái
lan can vịn. Nhưng khi ông ấy không bám được vào cái gì, sẽ nảy sinh cảm giác
sợ hãi. Giống như chúng ta đang đi trong nhân sinh vậy, chúng ta không có cái
lan can này, chúng ta sẽ đi lảo đảo, cũng có khả năng sẽ lăn xuống vách núi;
chúng ta chỉ có bám chặt lấy cái lan can này, mà cái lan can này chính là các
con phải học Phật cho tốt. Thử nghĩ xem, khi một người đang rơi xuống hai tay
của họ tốt nhất là có thể nắm được cái gì đó, đây chính là khi nhân gian gặp
tai nạn, khi trong nhà xuất hiện khó khăn, khi bản thân bị tuyên bố mắc ung
thư, hai tay con liền muốn nắm một chút gì đó, con nắm không được liền lăn
xuống núi, lật xuống. Mà cái thứ muốn nắm này từ đâu mà đến? Là dựa vào bình
thường con ngày ngày phải nắm được. Cho nên nhất định phải học Phật pháp. Không
học Phật pháp, hai tay trống trơn tâm con sẽ không tìm thấy phương hướng của
cuộc đời. Các con tuy chưa từng lăn từ trên vách núi xuống, nhưng tôi nghĩ rất
nhiều người đều từng có giấc mơ như vậy, khi ngã từ trên núi rất cao xuống sợ
hãi vô cùng. Hiểu chưa? Thật sự rất đáng thương. Cho nên nhất định phải học
Phật, kiên quyết không thể tam tâm nhị ý (ba lòng hai dạ), tâm nhất định phải
chuyên nhất, chọn một mục tiêu học Phật.
Cả
đời con người cuối cùng cái gì cũng không mang đi được, là vô sở đắc (không đắc
được gì). Nghĩ xem chúng ta cái gì cũng không đạt được. Lấy một ví dụ đơn giản:
Chúng ta chia nhân gian thành ba đoạn -- Thiếu niên, Thanh niên, Lão niên. Lúc
thiếu niên con nhận được khăn quàng đỏ, giấy khen, lúc nhận được con phấn khích
biết bao, giống như các con tốt nghiệp đại học đội cái mũ vui vẻ biết bao. Vậy
cảm giác lúc đó các con bây giờ còn bao nhiêu? Đợi đến khi con lên đại học, con
còn để ý những giấy khen nhận được hồi trung học không? Đợi đến khi con sắp
chết, con còn để ý chuyện tiểu học, trung học, đại học của con không? Con để ý
người nhà của con, con không muốn đi cũng phải rời xa họ. Tất cả tiền tài con
thích, con chỉ có thể buông tay. Tất cả những gì con sở hữu đều là tạm thời,
bởi vì con bắt buộc phải rời xa chúng, con không muốn rời xa cũng phải rời xa.
Con người sống bất lực biết bao, hơn nữa một khi rời khỏi xác thịt, con rốt
cuộc đi về đâu? Rất đáng thương. Cho nên nhất định phải xả cái nên xả, phải vứt
bỏ cái nên vứt bỏ.
Từ
trong tâm đi quan tâm họ, chứ không phải quan tâm trên hành vi. Con yêu một
người có thể dùng tâm để yêu họ, con không nhất định phải ngày ngày ở bên cạnh
họ. Rất nhiều người trong các con đến chỗ Sư phụ học Phật học Pháp, ngồi ở đây,
thực tế các con đang che chở cho người nhà các con. Chẳng lẽ không phải sao?
Các con làm đồ đệ của Sư phụ, nhà nhà bình an vô sự, chẳng lẽ không gọi là tu
vi sao? Chẳng lẽ không gọi là tu hành sao? Chẳng lẽ các con cho rằng ngồi ở đây
là lãng phí thời gian, nên ở cùng với người nhà sao? Nhưng vì các con học Phật
rồi, học Pháp rồi, niệm Kinh rồi, người nhà các con tự nhiên liền nhận được sự
che chở, chẳng lẽ không phải quan tâm họ sao? Con người muốn sống trên thế giới
dài hơn một chút, đừng lãng phí thời gian, phải niệm Kinh tu tâm, phải giúp đỡ
người ta, con mới sống có ý nghĩa. Con ngày ngày chạy ra bên ngoài chính là
đang làm chuyện không có ý nghĩa, con đi làm cái gì? Các con nghĩ xem, cùng là
làm một việc, các con đi theo Sư phụ ra ngoài, đó gọi là hoằng dương Phật pháp,
là có công đức. Nếu tự mình đi du lịch đó gọi là lãng phí thời gian. Tự con có
thể du lịch lên trời không? Những cảnh đẹp Sư phụ nhìn thấy trên trời là cả đời
các con chưa từng thấy qua, tiên cảnh đẹp đẽ đó giống như trong phim vậy, cảnh
giới hoàn toàn có thể siêu thoát. Các con nghĩ xem, du lịch thì đến một quốc
gia ngồi mười mấy tiếng máy bay đi xem xem, sau đó lại ngồi mười mấy tiếng máy
bay về, các con nói có mệt không? Nếu các con là đời sống linh thể, đợi sau khi
các con đi rồi, biết trên trời nhìn thấy cái gì không? Chỉ cần người từng đọc "Kinh
A Di Đà" đều biết Thất Bảo Trì, Bát Công Đức Thủy, Hoàng Kim Vi Địa (đất
bằng vàng). Con nghĩ xem trên trời đâu đâu cũng là vàng, con còn nhặt một cục
vàng giấu đi không? Giống như trên đường cái đâu đâu cũng là sỏi đá, con còn
nhặt một hòn sỏi giấu trong nhà không? Tưởng rằng nhân gian tốt vô cùng, toàn
là giả, là không. Nhân gian mang lại cho con cái gì? Không mang lại cho con
hạnh phúc, chỉ mang lại cho con đau thương, phiền não, đau khổ, mang lại cho
con là Sinh, Lão, Bệnh, Tử, hơn nữa mang lại cho con hiện thực khó chấp nhận
nhất, đó chính là con bắt buộc phải chết.
Khi
con nghĩ đến phải chết, cái này không nỡ, cái kia cũng không nỡ, khi con nằm
trên giường, đó là cảm giác gì? Đừng lãng phí thời gian nữa, phải tranh thủ
thời gian tu cho tốt. Sư phụ đưa ra cho các con một yêu cầu cao: Các con khi
làm mỗi một việc, trong đầu đều phải nghĩ: "Tôi có công đức không? Đây có
phải là đang học Phật không? Tôi làm việc này có đúng không?" Sư phụ chính
là như vậy, khi làm bất cứ việc gì đều đang nghĩ: "Tôi cái này có phải
đang học Phật, làm có đúng không?" Sư phụ bảo các con khi ăn cơm phải nghĩ
đến "Tôi ăn nhiều một bữa chay, là có thể ăn ít một bữa mặn." Nếu làm
mỗi một việc đều nghĩ như vậy một chút, Bồ Tát sẽ cảm ứng một cái -- con là một
đứa trẻ ngoan, là một đứa trẻ có tu vi. Hy vọng các con giữ gìn bảo bối gia truyền
này của Sư phụ, phải học làm bất cứ việc gì đều phải nghĩ đến người khác trước,
nghĩ đến mình sau. Sư phụ chính là như vậy. Bất cứ thứ gì đều phải nghĩ cho
thoáng. Con chỉ cần đối với danh lợi, con cái v.v. còn lưu luyến, quyến luyến,
con liền không thể tự tại, con liền không thể siêu thoát. Tương lai linh hồn
con chạy đi đâu thì không biết được. Hiểu chưa? Thật sự phải nghĩ cho thoáng,
thật sự phải siêu thoát rồi. Nếu trong đầu một người luôn quyến luyến những
chuyện quá khứ đó, bản thân sẽ vĩnh viễn không được an ninh. Phải học cách quên
đi. Sư phụ từng giảng trong Bạch Thoại Phật Pháp, con người phải có một tính
hay quên (trí nhớ kém). Có một tính hay quên thực tế cũng là một chuyện tốt. Ví
dụ khi một chuyện rất đau khổ xoay chuyển trong đầu, không thoát ra được, cách
tốt nhất chính là quên đi. Hôm nay giảng cho mọi người đến đây.
23. Lợi ích của Từ bi
Từ
bi có mười ba điều tốt (lợi ích).
Đầu tiên, người thường xuyên từ bi, người sẽ
càng lớn càng đẹp, sẽ không hung dữ, mặt sẽ không trông rất sân hận.
Thứ hai, Phúc khí thường tùy thân (Phúc khí
thường theo bên mình). Người thường xuyên từ bi, phúc khí là chạy theo con.
Càng từ bi, con người này càng có phúc khí; người không chịu từ bi, chính là
người không có phúc khí.
Thứ ba, Ngọa an (Nằm yên). Người thường xuyên
từ bi, ngủ ngủ được, rất bình an, sẽ không buồn bã, sợ hãi.
Thứ tư, Giác an (Tỉnh dậy/Cảm giác bình an).
Chính là cảm giác rất bình an. Chỉ có người từ bi, họ mới cảm thấy bình an. Lấy
ví dụ: Hôm nay con đối xử không tốt với người ta, con cảm thấy không bình an
rồi, con biết họ rồi sẽ phản kích con. Hôm nay tôi ở công ty mắng người này,
con lập tức sẽ nghĩ: Anh ta có đi nói xấu tôi với tổng giám đốc không? Con liền
không bình an rồi, liền không thoải mái, liền rất khó chịu rồi.
Thứ năm, chính là Bất kiến ác mộng (Không thấy
ác mộng). Người thường xuyên từ bi, họ sẽ không gặp ác mộng; người rất sân hận
mới gặp ác mộng.
Thứ sáu, Thiên hộ (Trời bảo vệ). Một người có
tâm từ bi, Bồ Tát trên trời, Hộ pháp thần trên trời đều sẽ bảo vệ con. Nếu
không có Bồ Tát phù hộ con, chứng tỏ con vẫn chưa từ bi. Hiện nay người thực sự
từ bi có mấy ai? Từ bi là không dễ dàng, người từ bi bắt buộc phải có độ lượng.
Lát nữa giảng cho các con về cái "Độ" (mức độ/độ lượng) này.
Thứ bảy, Nhân ái (Người yêu mến). Chính là
người gặp người yêu, người ta nhìn thấy con sẽ thích. "Ồ, anh người này
rất lương thiện, anh người này rất từ bi, tôi muốn kết bạn với anh."
Thứ tám, Bất độc (Không bị đầu độc). Nghĩa là
người từ bi sẽ không bị thuốc độc độc chết. Mọi người nói xem trong cuộc sống
của chúng ta có người bị người ta hại chết không?
Thứ chín, Bất binh (Không bị binh đao). Nghĩa
là người từ bi sẽ không bị binh khí và người đi lính làm bị thương, sẽ không bị
môi trường chiến tranh làm hại.
Thứ mười, Thủy bất yêm (Nước không dìm). Người
từ bi sẽ không bị nước dìm chết.
Mười một, Hỏa bất thiêu (Lửa không đốt). Người
từ bi cũng sẽ không bị lửa thiêu chết.
Mười hai, Tại sở đắc lợi (Ở đâu cũng đắc lợi).
Chỉ cần là người từ bi, tất cả những gì con làm đều sẽ nhận được lợi ích. Người
không hiểu từ bi, con cứ đi động não xấu đi, con đi chơi người ta đi, đến cuối
cùng không nhận được lợi ích đâu.
Mười ba, Tử hậu thăng
thiên, thăng Phạm thiên (Chết rồi lên trời, lên cõi Phạm thiên).
Người
thực sự tốt là người như thế nào? Là người hữu sở tác vi (người tích cực hành
động), là người chịu giúp đỡ người khác. Hữu sở vi nhi hữu sở bất vi (Có việc
làm có việc không làm). Thực tế hành động của một người là dựa vào lý tưởng và
cảnh giới của bản thân để nâng cao, để định vị. Có người nói, tôi cả đời không
muốn làm ông chủ. Cũng có người nói, tôi cả đời này âm thầm giúp đỡ người khác
là mãn nguyện rồi. Còn có người nói, tôi cả đời này cứ bình bình đạm đạm là
được rồi. Có một số người giàu nói, đời người chỉ có vậy, cái đáng ăn ăn rồi,
cái đáng chơi chơi rồi, chết thì chết thôi. Cái này cũng gọi là người sao? Con
người là có cảnh giới. Con rốt cuộc muốn làm người như thế nào? Muốn làm người
tầm thường, hay muốn làm thánh nhân?
Động
vật cũng có linh tính. Mọi người từng xem tin tức, một con chó khi nó bò dậy
hai chân trước biết lạy. Rất nhiều con chó đều biết tính người, kỳ thực chó dễ
đầu thai làm người nhất, mà con người làm chuyện xấu nhẹ một chút chính là đầu
thai thành chó, rất đáng thương. Con nhìn kỹ vào hai mắt con chó xem, có giống
người không? Con lại nhìn kỹ mắt ngựa, mắt trâu, mắt dê, có giống người không?
Con lại nhìn rất nhiều người, mặt trông giống như trâu, có người mặt trông
giống như khỉ, chính là cái cảm giác động vật vẫn chưa hoàn toàn tiến hóa hết.
Thực tế, con người nếu không tu thì xong đời. Đợi khi họ một khi đầu thai súc
sinh, họ chỉ biết chạy theo sau chủ nhân, họ chính là một con chó rồi.
Từ
bi có mười ba lợi ích. Nghĩ xem, một người từ bi quan trọng biết bao. Nếu một
người không biết từ bi, họ sẽ không biết tu tâm. Từ bi cũng là một trong những
nền tảng căn bản nhất của tu hành. Nếu một người không biết từ bi, họ sẽ không
biết tu hành. Hôm nay con thấy họ đáng thương, con sẽ cứu họ. Sư phụ hai tháng
nay gầy đi rất nhiều, thật sự rất vất vả. Hơn nữa bây giờ cấp cứu đến, trên
người quỷ rất nhiều, đều là lệ quỷ. Sư phụ phải có tâm từ bi, cái gì cũng có
thể buông bỏ. Hôm nay chúng ta đều đến làm công đức, hôm nay chúng ta đều vì
Quan Thế Âm Bồ Tát hoằng pháp, hôm nay con bảo tôi làm nhiều một chút tôi sẽ
làm nhiều một chút, hôm nay con bảo tôi xuống dưới cứu người tôi sẽ xuống, hôm
nay con bảo tôi lên, tôi cảm ơn Quan Thế Âm Bồ Tát.
Quan
Âm Đường là nơi đến tu tâm lạy Phật, không phải để các con đến gây chuyện thị
phi. Tưởng rằng Sư phụ cái gì cũng không nhìn thấy, đó mới là kẻ ngốc. Sư phụ
chẳng qua không nói mà thôi. Sư phụ trên đài phát thanh nói thần kỳ như vậy,
các con động chút não nhỏ tưởng Sư phụ không biết à? Đừng nói cái khác, chính
là các con có chút tạp niệm, suy nghĩ, Sư phụ đều nhìn ra được. Các con phải
biết các con hiện tại đang giao tiếp với ai. Chỉ có tu tâm cho tốt thôi. Bất kể
con có phải là đồ đệ của Sư phụ hay không, con làm giống đồ đệ của Sư phụ, con
chính là đồ đệ của Sư phụ; con làm không giống đồ đệ của Sư phụ, thì phải tu
cho tốt. Con người chính là như vậy, là dựa vào tự mình làm ra. Tu cho tốt vào.
Bồ Tát ở trên trời, ở trên đầu chúng ta, con còn dám làm việc xấu, con còn dám
miệng nói lung tung, con còn không trân trọng sinh mệnh của mình.
Chúng
ta kiếp trước đều là có duyên phận, điều này không có gì lạ. Kiếp này ai với ai
chẳng qua là cái duyên, chẳng qua là cái xưng hô mà thôi. Con kiếp này là vợ
tôi, là ai của tôi, thực tế toàn bộ là sự tiếp nối tình cảm kiếp trước. Năng
lượng của Sư phụ bây giờ đã lớn đến mức độ nào? Khi Sư phụ quỳ ở đây nhìn thấy
Quan Thế Âm Bồ Tát, Sư phụ giơ hai tay lên, Sư phụ giống như đang nâng cả vũ
trụ vậy, lực từ trường của đôi tay lớn vô cùng.
Tất
cả quả không tốt, đều là nhân con gieo. Hôm nay bất kỳ quả báo nào con phải
chịu toàn bộ là nhân do chính con gieo xuống. Hôm nay vợ cãi nhau với con,
chính là nhân con gieo; hôm nay con không có tiền, chính là nhân con gieo; hôm
nay con xui xẻo, chính là nhân con gieo... Ý niệm của Sư phụ hiện tại có thể
cứu người, cho nên Sư phụ bắt buộc phải tu tâm nghiêm túc hơn, càng không thể
đối xử không tốt với người ta, cắn răng không được tức giận, không được nổi
cáu. Mọi người phải tu cho tốt, nếu có thể tu đến tâm tưởng sự thành (muốn gì
được nấy), con còn sợ bị bệnh sao? Quan Thế Âm Bồ Tát nói với Sư phụ: Tự mình
làm cho sức khỏe mình tốt bao nhiêu, tự mình có thể sống lâu bấy nhiêu. Bồ Tát
sao có thể không từ bi Sư phụ? Tương tự Quan Thế Âm Bồ Tát cũng hy vọng các con
ở nhân gian sống tốt mỗi ngày.
Có
vị thính giả nói với Sư phụ: "Ngài bây giờ dạy mọi người niệm Kinh xong,
ngay cả chính phủ Úc cũng phải cảm ơn Ngài, bởi vì Ngài khiến rất nhiều người
không phải đi khám bệnh, tiết kiệm tiền cho chính phủ." Kỳ thực rất nhiều
bệnh niệm niệm Kinh là khỏi. Cho nên nhất định phải luôn kiên trì niệm Kinh sức
khỏe sẽ tốt hơn. Nếu chương trình của Sư phụ cứ làm tiếp như vậy, mười năm sau
sức khỏe của rất nhiều người đều sẽ tốt, ngay cả người ăn hải sản cũng sẽ ngày
càng ít.
Hoằng
pháp lợi sinh (Hoằng pháp lợi ích chúng sinh). Con hôm nay hoằng dương Phật
pháp, con chính là có lợi cho bản thân con, chính là lợi cho sức khỏe của con.
Sư phụ hôm nay đang hoằng pháp chính là lợi ích chúng sinh. Cho nên các con
thật sự phải học cho tốt. Làm đồ đệ càng phải tự trọng. Bất kỳ sự vật nào trên
thế giới, hôm nay có thể biến qua, ngày mai cũng có thể biến lại. Nếu con hôm
nay sức khỏe không tốt, ngày mai sẽ tốt. Nhưng con không làm việc tốt, tốt rồi
lại sẽ không tốt. Nếu con hôm nay làm ăn không tốt, ngày mai sẽ tốt. Nếu con
hôm nay biết làm việc thiện như vậy, ngày mai sẽ được thiện quả. Nhất định phải
nhớ: Người tu tâm nhất định phải khiêm tốn cẩn trọng, phải tốt với người ta.
Phải chân tu đấy! Làm việc phải âm thầm lặng lẽ, thực thực tại tại, đừng hám
danh hám lợi (hiếu đại hỉ công).
24. Phiền não rời thân, Lục căn thanh tịnh
Hôm
nay giảng với mọi người "Phiền não tức Bồ đề". Phiền não của con
người từ đâu mà đến? Thứ nhất, mắt con nhìn thấy; thứ hai, tai con nghe thấy;
thứ ba, mũi con ngửi thấy; thứ tư, lưỡi con có thể nếm được; thứ năm, cơ thể
con có thể tiếp xúc được; thứ sáu, trong ý thức con có thể nghĩ đến. Thực tế
cái này trong giới Phật pháp gọi là "Lục căn". Cho nên rất nhiều
người nói, người này lục căn bất tịnh. Sư phụ nói cho các con, mắt nhìn thấy
chuyện chướng mắt, phiền não đến rồi chứ? Tai nghe thấy người ta nói xấu con có
phải khởi phiền não không? Mũi con ngửi thấy mùi lạ người khác nấu cơm có phải
lại khởi phiền não không? Lưỡi con nếm phải vị đắng đó, ăn phải thứ không thích
ăn, có phiền não không? Cơ thể con tiếp xúc với vật thể không nên tiếp xúc, lại
có phiền não rồi chứ? Rất nhiều người đi qua bên cạnh con, hoặc có mùi gì đó,
con có phiền não không? Trong ý niệm con nghĩ đến một số chuyện không nên nghĩ,
lại khởi phiền não rồi. Nhớ đến người không muốn nhìn thấy này, lại bắt buộc
phải nhìn thấy... Đây gọi là lục căn bất tịnh. Nhưng nếu con có thể diệu dụng
(sử dụng khéo léo) lục căn này, thực tế lục căn này đều có thần thông.
Mọi
người biết đấy, trong số các vị Bồ Tát thờ trong nhiều ngôi chùa, có bao nhiêu
thần thông. Có Thiên Nhĩ Thông, chính là Thuận Phong Nhĩ; có Thiên Nhãn Thông
(Thiên Lý Nhãn). Nói từ các đạo khác, mũi của chó đặc biệt thính, có thể ngửi
thấy mùi người khác không ngửi thấy, cái này cũng gọi là thần thông. Ví dụ một
số người có thể uống ra mùi vị của loại trà nào đó khác với các loại trà khác.
Người thích uống cà phê có thể nếm ra mùi vị cà phê của quán này và quán kia
không giống nhau. Cái này chính là diệu dụng, là thần thông. Tai của con làm
sao có thần thông? Giống như thường xuyên có người bên tai nói với con,
"Con đừng tức giận, con đừng buồn bã". Thực tế thần thông này từ đâu
mà đến? Là tâm niệm, ý niệm của con chỉ huy lục căn của con. Tôi có phiền não
rồi, vừa chuyển đổi chính là Bồ đề. Bồ Tát chính là trí tuệ, cho nên chuyển
phiền não thành Bồ đề. Chủ yếu là nói, con có cái phiền não này con mới có tư
cách này để chuyển nó; nếu con ngay cả cái cảnh phiền não này cũng không có,
con sẽ không biết làm thế nào để chuyển thành trí tuệ của con.
Cơ
thể con người vốn dĩ là Không, bản thể là Không. Tinh thần của con không phải
là Không. Cơ thể con người là Không, bởi vì cơ thể sau trăm năm sẽ không còn
nữa, thịt biến thành nước, chỉ còn lại một chút xương. Có một người nói với Sư
phụ, anh hùng gì, hảo hán gì, từ xưa đến nay người có tiền đến mấy, người vĩ
đại đến mấy cuối cùng chính là một đống xương trắng. Điều này nói không sai. Có
điều nói hơi thô một chút. Con muốn bảo đảm cơ thể này sao? Cơ thể con là
Không, chỉ có thần thức của con, thần tình của con, ý thức của con là tồn tại.
Cho nên con phải bảo đảm sự tỉnh táo của ý thức con.
Lấy
ví dụ: Một hạt châu, hạt châu trắng trong suốt, vừa đặt lên bàn, chỉ cần có ánh
sáng chiếu vào, nó sẽ lóe lên ánh sáng ngũ sắc, đây là năng lượng của bản thân
hạt châu. Nhưng nếu ở nơi không có ánh sáng cầm hạt châu lên xem, nó vẫn là một
hạt châu trong suốt. Chỉ khi hạt châu này và thế giới bên ngoài của nó hợp
thành một thể, nó mới sinh ra sự biến đổi của một loại vật chất khác. Bởi vì nó
có nguyên mẫu, nó có ánh sáng màu, con nhìn vào là có màu sắc. Thực tế hạt châu
này không có màu sắc, nhưng bị ánh mặt trời chiếu vào, mới có thể lóe lên ánh
sáng ngũ sắc. Linh hồn con người chúng ta, màu sắc con người sẽ sinh ra sự phản
xạ của đủ loại năng lượng khác nhau. Cho nên đều là nhân duyên hòa hợp mà
thành. Chính là vì cái Nhân và Duyên này của con sau khi hợp thành, sẽ sinh ra
màu sắc; đợi đến khi nhân và duyên không còn, thì con sẽ không có màu sắc. Lại
lấy ví dụ: Trong tay con có một cây bút, con mới có thể vẽ tranh. Nhân và Duyên
của con nhất định phải hợp lại với nhau, mới có thể thành tựu một loại vật thể
khác. Hôm nay người phụ nữ này muốn kết hôn, cô ấy nhất định phải có một người
đàn ông mới có thể kết hôn, mới có thể làm thành cái duyên này. Con hôm nay tự
mình ở nhà tu luyện, không có một người thầy tốt, con làm sao có thể tu tốt
được? Hạt châu này là màu trắng, nó vẫn là màu trắng, không sinh ra được ánh
sáng ngũ sắc.
Dưới
đây giảng cho mọi người ba câu, vô cùng quan trọng. Rất nhiều người hỏi, mục
đích học Phật của con là gì? Sư phụ giảng cho các con nghe: Mục đích học Phật
của chúng ta là muốn thành Phật. Vậy mục đích thành Phật là gì? Mục đích thành
Phật là để cứu độ chúng sinh. Vậy mục đích cứu độ chúng sinh là gì? Là để thành
Phật. Lời nói lại quay trở lại rồi. Cho nên thành Phật chính là để cứu độ chúng
sinh, cứu độ chúng sinh chính là để thành Phật. Sư phụ xuống đây chính là để
cứu độ chúng sinh, sau khi độ xong chúng sinh, vị Phật này là Sư phụ lại đi
lên. Hơn nữa sau khi lên sẽ tốt hơn quá khứ, bởi vì có vô lượng công đức rồi.
Lấy ví dụ: Nếu con muốn làm lãnh đạo con nhất định phải nỗ lực, phải đến nơi
gian khổ nhất rèn luyện, giống như bí thư chi bộ vậy, con phải đi trường Đảng
học tập, con phải đi biệt phái (xuống cơ sở), con sau khi về có thể sẽ thăng
chức. Hiện tại Sư phụ từ bên trên biệt phái xuống, đến cứu độ chúng sinh rồi,
tôi sau khi hoàn thành nhiệm vụ tôi đi lên, cảnh giới của tôi cao hơn rồi. Tôi
chưa đi lên đã cao hơn ban đầu rồi. Sư phụ bây giờ tốc độ xem Đồ đằng nhanh hơn
trước kia nhiều. Thực tế sự thay đổi của bất kỳ cảnh giới nào đều là một loại
thử thách đối với con người. Con thông qua thử thách này, con liền thăng lên
một bước. Đây là phép biện chứng duy vật. Không phải nói ở nhân gian ngốc
nghếch, hôm nay con thử thách tôi rồi, tôi qua được cửa ải này tôi liền thăng
lên một bước. Công đức phải tự mình tìm, cho nên phải tu cho tốt.
Sư
phụ tiếp theo giảng với mọi người độ chúng sinh. Hôm nay các con học Phật, muốn
làm Bồ Tát, vậy các con độ chúng sinh như thế nào? Mục đích độ chúng sinh là
gì? Độ chúng sinh có hai loại: Một loại gọi là Hữu vi độ chúng sinh, loại kia
gọi là Vô vi độ chúng sinh. Hữu vi độ chúng sinh chính là có mục đích đi cứu
chúng sinh. Vô vi độ chúng sinh chính là không có mục đích đi cứu chúng sinh.
Hai loại độ chúng sinh này đều tốt. Sư phụ đề xướng Hữu vi độ chúng sinh và Vô
vi độ chúng sinh "song độ tịnh hành" (hai cách độ cùng đi đôi). Có
mục đích đi làm việc tốt và không có mục đích đi làm việc tốt, các con nói cái
nào tốt? Thực tế đều rất tốt. Chẳng qua từ một ý nghĩa nào đó mà nói, cứu
người, làm việc tốt một cách rất tự nhiên là cái tốt tự nhiên hơn. Còn có mục
đích đi làm việc tốt, đương nhiên là kém hơn một chút. Ví dụ tôi hôm nay để ý
cô này rồi, tôi liền liều mạng độ cô ấy, khi nói Phật pháp với cô ấy đều rất
thoải mái, tuy tôi không nghĩ làm chuyện xấu với cô ấy, nhưng tôi cứ thích nói
chuyện với cô ấy, cứ thích độ cô ấy. Cái này gọi là Hữu vi độ chúng sinh. Vô vi
độ chúng sinh, chính là bất kể bà là bà già hay ông già, cũng bất kể bà trông
xấu xí thế nào, tôi chính là một tấm lòng Bồ Tát muốn cứu bà. Đây chính là
không có mục đích độ chúng sinh. Hôm nay nhìn thấy cô gái nói nhiều vài câu,
nhìn thấy bà già nói ít vài câu, đây chính là Hữu vi và Vô vi. Chúng ta học
Phật chính là đừng để ý thức của mình phạm tội, đừng để miệng của mình phạm
tội, đừng để mắt của mình phạm tội.
Cơ
duyên chín muồi thì độ, cơ duyên không chín muồi thì không độ. Nhưng cơ duyên
không chín muồi cũng phải đợi đến khi cơ duyên chín muồi mới độ. Cho nên nói cơ
duyên không chín muồi tạm thời không độ. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng Kinh
thuyết pháp 49 năm, chịu biết bao nhiêu khổ, dưới cây Bồ đề Ngài và đồ đệ của
Ngài cùng nhau hoằng pháp, kết quả đồ đệ của Ngài toàn bộ thăng thiên làm Bồ
Tát. Phát tâm của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vĩ đại biết bao. Đức Phật Thích Ca
Mâu Ni chịu nhiều khổ như vậy là vì cái gì? Là để cứu độ chúng sinh. Vì mục
đích này, Ngài đã thành Phật. Sau khi thành Phật, vẫn là phải xuống cứu độ
chúng sinh. Sau khi cứu độ chúng sinh có năng lượng và công đức, Ngài lại biến
thành Phật. Giống như con làm việc tốt được bầu làm chiến sĩ thi đua, sau khi
làm chiến sĩ thi đua sẽ làm nhiều việc tốt hơn nữa, sau đó năm sau con lại là
chiến sĩ thi đua. Đạo lý giống nhau chứ?
25. Nghiệp chướng không che được bản tính, mây đen
không che được ánh mặt trời
Trong
"Kinh Kim Cang" có một câu: "Vô trước tướng bố thí" (Bố thí
không dính mắc vào tướng). Lấy ví dụ: Có người quyên góp ba ngàn đồng, sau khi
quyên xong cuối cùng viết là "Vô danh thị" (Người giấu tên). Bạn bè
đến nhà anh ta, anh ta đưa báo cho bạn xem. "Cậu xem, ba ngàn đồng, Vô
danh thị. Đó chính là tôi đấy." Con xem trong lòng người này muốn học vô
trước tướng bố thí, cuối cùng vẫn là tự mình nói ra. Cái này vẫn gọi là Trước
tướng bố thí (Bố thí dính mắc vào tướng). Con người đều có trước tướng. Ví dụ
con tặng một bó hoa cho một người bạn, lời đề tặng viết "Người yêu
bạn", thực ra người này vừa nhìn là biết ai tặng. Người tặng hoa vô trước
tướng, người được tặng có trước tướng. Phật pháp đều là biện chứng. Nếu các con
học tốt Phật pháp, ở nhân gian vận dụng tự nhiên, như đi trên đất bằng. Vô
trước tướng bố thí chính là tinh thần từ bi đại vô úy. Mọi người phải nhớ, từ
bi đại vô úy là sự hy sinh bất chấp tất cả, gọi là vô trước tướng bố thí. Ví dụ
tôi hôm nay quyên tiền, tôi làm việc tốt không để lại tên.
Sư
phụ mỗi lần đi chùa bố thí chưa bao giờ để lại tên trong sổ công đức. Vừa để
lại tên chính là trước tướng bố thí, công đức sẽ giảm đi rất nhiều. Lấy ví dụ:
Thầy giáo hỏi: "Hôm nay là ai quét dọn lớp học sạch sẽ thế này? Là ai lau
bảng sạch sẽ thế này?" Không ai nói. Thầy giáo nói tiếp: "Đứa trẻ này
thật tốt! Cảm ơn em ấy, tôi rất cảm kích em ấy." "Thưa thầy, là em
lau ạ. Có tốt không?" "Tốt lắm!" Công đức nói qua xong không còn
nữa. Cho nên làm công đức làm việc tốt đừng trước tướng. Trong "Lễ Phật
Đại Sám Hối Văn", có một vị "Thường Tinh Tấn Bồ Tát". Các con
biết Thường Tinh Tấn Bồ Tát là thế nào không? Thường Tinh Tấn Bồ Tát vì cứu độ
một người chuyển thế mấy lần, cứ đi theo họ mãi, cứu độ họ. Kiếp này không độ
được người này, Bồ Tát kiếp sau lại đi theo họ, lại cứu họ. Vẫn chưa cứu họ
thành Phật, kiếp sau nữa lại đi theo họ. Đây mới gọi là Thường Tinh Tấn Bồ Tát.
Thường Tinh Tấn Bồ Tát là một vị Bồ Tát vô cùng dũng cảm và có trí tuệ. Bồ Tát
phải có tinh thần này, phải không ngừng cứu người, phải có niềm tin, hôm nay
làm không tốt việc ngày mai vẫn phải làm, chính là phải đạt được mục đích, đây
mới gọi là Tinh tấn. Các con ai tinh tấn nào?
Sư
phụ nói cho các con biết, tiền ở nhân gian còn kiếm được nhiều lắm, nhưng mạng
người rất ngắn. Chỉ có tranh thủ thời gian tu tâm nhiều hơn, những việc khác ở
nhân gian đều có thể tạm thời đặt sang một bên. Nghĩ xem một người quá khứ có
vẻ vang đến mấy, đến bây giờ thì cái gì cũng không còn. Nếu quá khứ chức vị gì
cũng không có, chỉ nghiêm túc niệm kinh, cho đến hôm nay, khi con ra đi sẽ
không đau khổ. Bởi vì con không phiền não ưu sầu, không vướng bận, không có gì
để lưu luyến. "Vô tật nhi chung" (chết già không bệnh tật) là không
dễ làm được, cái này dựa vào công đức và công lực lúc bình thường. Sư phụ thấy
các con đều không dễ dàng gì. Mỗi một đồ đệ đều sẽ phạm lỗi, cũng có làm việc
tốt. Sư phụ nói tật xấu của các con thực tế là rèn luyện năng lực khắc chế bản
thân của các con, con có thể có cảnh giới này để người ta nói con, con mới có
thể rèn luyện ra loại tâm trí này. Mọi người phải nhớ: Học cách khắc chế bản
thân, để hoàn cảnh rèn luyện chính mình. Hoàn cảnh không tốt là rèn luyện con
người nhất. Càng là không tốt, càng là không vui, tôi càng phải vui, đối phương
liền không vui, tức giận rồi. Con càng không vui, đối phương càng vui. Đây là
cảnh giới sơ kỳ của học Phật.
Người
ngộ bản tính. Xem một người có phải là người ngộ bản tính hay không, thì xem
người này có chịu độ chúng sinh hay không. Người có thể độ chúng sinh gọi là
người khai ngộ. Nếu ở núi sâu, chính là người chưa khai ngộ. Ai ở núi sâu?
Chính là tự tu, nhốt mình trên núi, chỉ biết tu cho mình, những người này chính
là người chưa khai ngộ. Dựa vào bản thân để tu luyện bản thân, rất khó giác ngộ
Phật tánh. Chỉ khi đồng thời độ hóa chúng sinh, con mới nhận được nhiều trí tuệ
hơn, để viên mãn linh hồn của con. Nếu con không nhận được rất nhiều trí tuệ từ
trên người người khác, con người con không thể thành tài được. Lấy ví dụ: Con
tiếp xúc với rất nhiều người, con mới có thể học được rất nhiều bản lĩnh; con
nếu không tiếp xúc với người, từ nhỏ đã nhốt trên núi, con cuối cùng vẫn là một
người không có trí tuệ, bởi vì con cảnh giới gì cũng chưa tiếp xúc. Cho nên con
là một người cái gì cũng không hiểu con có thể đi đâu? Hiểu chưa?
Người
khai ngộ phải độ chúng sinh. Khi một người chưa khai ngộ, những lời họ nói,
những việc họ làm gần như không có một việc nào là đúng. Câu nói này của Sư phụ
các con có thể không thể hiểu. Chẳng lẽ người không khai ngộ thì không được
tích sự gì sao? Thế nào gọi là không được tích sự gì? Chính là không có một thứ
gì là đúng. Con người chúng ta sống trên thế giới này, khi con chưa học Phật
thì gọi là không được tích sự gì -- cái gì cũng không hiểu, cái gì cũng làm
sai. Tưởng rằng cãi nhau với người ta là đúng, tưởng rằng kiện tụng với người
ta là đúng. Rõ ràng bị bệnh rồi, bản thân không biết tại sao bị bệnh? Con người
sống trên thế giới cái gì cũng không hiểu gọi là không được tích sự gì, chính
là người không khai ngộ. Con người bây giờ keo kiệt đến mức cười với người ta
một cái cũng không muốn. Con người bây giờ có mấy ai chịu bố thí nụ cười của
mình? Ai nấy đều hung dữ vô cùng.
Khi
một người giác ngộ rồi, chính là họ nhìn hiểu thế giới này rồi, họ hiểu nhân
quả rồi. Nhưng có một số người hiểu được một chút Phật lý, họ nhìn thấu rồi, họ
cảm thấy cái gì cũng không cần làm nữa, thái độ này gọi là tiêu cực. Họ tưởng
rằng: "Bản thân giác ngộ rồi, bản thân cái gì cũng không cần làm nữa. Bản
thân hiểu đạo lý rồi, hóa ra nhân sinh khổ như vậy."Bởi vì họ nhìn thấy
bản tánh cuộc đời, hóa ra bản tánh là như thế này (là khổ, là giả), họ cảm thấy
không cần phải thực hiện công đức hay làm việc thiện gì nữa. Nghĩa là, sau khi
họ nhìn thấy bản tánh không có làm công đức. Họ cái này gọi là trước tướng bố
thí. Sau khi nhìn thấy bản tánh, họ cảm thấy người trên thế giới hóa ra khổ như
vậy rồi, đằng nào cũng phải chết, bèn cùng mọi người cùng ăn cùng uống. Cái này
gọi là trước tướng bố thí, bản tánh vị tịnh (bản tánh chưa sạch). Bản tánh của
một người chưa sạch sẽ, lên trời hưởng phúc là tạm thời. Khi bản tánh của một
người chưa sạch sẽ, cho dù lên trời, cũng chỉ là tạm thời. Khi một người không
có phát tâm xả sinh quên tử cứu độ chúng sinh, cho dù hôm nay làm một việc tốt,
niềm vui đó cũng chỉ là tạm thời. Đây chính là khai ngộ có giới hạn, hoặc có
thể gọi là Giác ngộ chứ không phải Khai ngộ. Giống như kéo một cây cung tên,
bắn tự do về phía bầu trời, lên trời rồi chứ? Nhưng cái lực độ này, khoảng cách
này, năng lượng này dùng hết rồi, cung tên sẽ từ trên trời rơi xuống. Bởi vì nó
không có hậu kinh (sức mạnh về sau), không hiểu bản tánh thực sự. Cho nên thiên
phúc hưởng hết rồi, vẫn là đến nhân gian làm người, khi lại đến làm người thì
cái gì cũng không biết nữa. Con cầm cây cung này, cái con bắn thực tế là vật hư
không, không phải thực thực tại tại. Cái con học con làm ở nhân gian đều là hư
không, bởi vì con sống trong hư không pháp giới. Chân như bản tánh, bản tánh
thực sự của nhân gian giống như mặt trời. Tội chướng của con giống như mây đen
trên trời, mây đen có thể che khuất mặt trời. Mặt trời là bản tánh của con, đợi
mây đen qua rồi bản tánh của con lại hiện ra. Con người có lúc rất lương thiện,
đây là ánh nắng. Nhưng khi con người tràn đầy thù hận, chính là mây đen che
khuất bản tánh của họ. Khi vợ chồng đánh nhau hận đối phương, có thể xông lên
đánh nhau. Khi nhìn thấy đối phương bị đánh chảy máu, tâm bỗng nhiên buồn bã.
Lúc này chính là mây đen trôi qua rồi, bản tánh của con lộ ra rồi.
Tu
tâm tu Phật tu đến hôm nay mới biết sám hối, mới biết nói câu xin lỗi. Con
người phải hiểu, người ta giúp đỡ con là muốn tốt cho con, thực tế là một sự
hưởng thụ. Người ta làm một số việc chính là đến giúp con. Con nghĩ như vậy
trong lòng sẽ rất vui vẻ. Mây che khuất mặt trời, thực ra mây nào từng che mặt
trời? Chúng ta ở nhân gian nhìn lên trời, dường như nhìn thấy mây che khuất mặt
trời, đây là vì vị trí và góc độ chúng ta đứng mây dường như che khuất mặt
trời. Nếu con đứng ở một nơi khác, nhìn từ một góc độ khác, mặt trời có bị mây
che khuất không? Chúng ta ở nhân gian thường nói một câu gọi là "bước ra
khỏi bóng tối", bước ra khỏi sự việc con không muốn nghĩ, bước ra khỏi sự
việc con buồn bã, mở toang cánh cửa lòng mình. Những cái này đều là ngôn ngữ
của Bồ Tát, đều là ngôn ngữ trí tuệ. Khi một người có khó khăn, nghĩ không
thông chính là mây che khuất mặt trời trong tim con. Nhưng nhìn từ góc độ khác,
vẫn là ánh nắng chan hòa.
Phải nhớ: Quan điểm khác nhau, giải quyết vấn đề khác nhau; phương vị
khác nhau, quan sát vấn đề khác nhau. Những ngôn ngữ này của Sư phụ đều là ngôn
ngữ trí tuệ của Bồ Tát, chúng ta ở nhân gian tại sao không dùng? Giống như con
muốn liên lạc với một người nào đó, con có thể gọi điện thoại, cũng có thể gửi
email v.v. Phương pháp giải quyết vấn đề rất nhiều, con cứ chui vào ngõ cụt,
nghĩ không thông, cái này gọi là Con người, con người mới nghĩ không thông. Bồ
Tát và Thần mãi mãi có phương pháp, mãi mãi có thể nghĩ thông. Cho dù hôm nay
gặp phải chuyện gian nan, khốn khổ đến đâu, ví dụ bị ung thư, chỉ cần nghĩ Quan
Thế Âm Bồ Tát nhất định sẽ cứu tôi, nhất định sẽ linh nghiệm, ung thư của con
không khỏi cũng sẽ khỏi. Nhân gian đôi khi chính là phải nửa tỉnh nửa mê, đôi
khi chính là phải không hiểu, bởi vì trong hư không pháp giới cái con hiểu cũng
là đồ giả. Nhưng đôi khi phải rất hiểu, dùng cảnh giới Bồ Tát để hiểu chuyện
nhân gian. Chuyện tốt phải hiểu toàn bộ, chuyện không tốt thì đừng đi hiểu. Sau
khi con hiểu chuyện xấu nó gây ra tổn thương cho con; con hiểu chuyện tốt nó
mang lại niềm vui cho con. Con rốt cuộc là thích niềm vui hay tổn thương? Sư
phụ cho các con ngôn ngữ trí tuệ tốt biết bao.
Cuối cùng nói với mọi người một câu, bản tánh là Vạn đức Vạn
năng. Bản tánh của một người là có một vạn cái đạo đức, một vạn cái năng lượng.
Ấn Độ có một dòng sông Hằng, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong rất nhiều Kinh văn
đều thích nói "Hằng hà sa số" (Số cát sông Hằng). Nghĩa là nếu con có
thể sử dụng tốt bản tánh, nếu con vận dụng bản tánh nguyên thủy nhất, con sẽ sở
hữu trí tuệ vô cùng vô tận giống như cát sông Hằng. Hỏng là hỏng ở chỗ bản tánh
này bị che lấp rồi, bẩn thỉu rồi, không nhìn thấy nữa. Nếu con có thể vận dụng
triệt để năng lượng này, làm việc gì cũng đều có thể thay đổi, căn bản không
cần lo lắng mắc bệnh ác tính. Tay người và não người giống như nhau rất khéo
léo, biết làm ảo thuật. Chúng ta phải khai thác tiềm năng của chính mình, lau
sạch tâm linh của mình. Không lau sạch tâm linh của mình, chính là một kẻ ngốc.
Giống như từ nhỏ không học tập chính là một kẻ ngu si. Mọi người phải nhớ, học
Phật phải học trí tuệ nhân gian, học bản lĩnh nhân gian. Thực tế ngôn ngữ của
Bồ Tát là tốt nhất để vận dụng ở nhân gian, nghe xong giống như tắm mình trong
ánh nắng của Phật pháp. Tốt biết bao. Con còn tức giận không? Còn buồn bã
không?
26. Để ánh nắng chiếu vào tâm phòng (cửa tâm), để
thiện tâm tìm thấy cội nguồn
Lần
trước Sư phụ đã giảng cho mọi người "Tam tâm bất khả đắc", chư vị
phải buông tâm xuống, đừng tức giận (sân nộ), bởi vì hễ con tức giận thì bản
tính chân chính của con sẽ rời khỏi tâm con. Người thường xuyên nổi cáu, bản
tính chân chính của họ sẽ rời bỏ họ, thứ còn sót lại chỉ có một cái "Hận
tâm". Bởi vì một cơn sân nộ sẽ biến thành một tai họa lớn, cho nên phải
vứt bỏ phiền não. Người tu tâm chân chính phải vứt bỏ phiền não, phiền não tức
Bồ đề. Từ một góc độ khác mà nói, phiền não tuy là rắc rối, phiền não là nghiệp
chướng, nhưng chính vì có nghiệp chướng mới có thể khiến nó chuyển hóa thành
trí tuệ, dùng trí tuệ mang lại Bồ đề.
Hôm
nay Sư phụ giảng cho các con: Tâm ở trong tự nhiên. Nếu các con đi hỏi người
khác "Tâm ở đâu?" Họ sẽ trả lời con: "Tâm ở trong cơ thể".
Tâm thực ra ở trong tự nhiên, trong tự nhiên mới thể hiện ra cái tâm này của
con. Lấy một ví dụ đơn giản: Khi nhìn thấy động đất ở Nhật Bản, tâm thái của
rất nhiều người bất bình, thế là bắt đầu chửi mắng: "Bọn quỷ Nhật Bản tạo
nghiệp, làm ác, đáng đời. Quốc gia này của chúng nó thế này thế kia..."
Thực ra đó đều là chuyện xấu do tổ tiên họ làm, cho nên mới báo ứng lên con
cháu đời sau của họ. Nhưng là một người học Phật nên hiểu, chẳng lẽ bố của con
trong quá khứ từng vào tù, thì con phải gánh nợ thay ông ấy cả đời sao? Con
người phải có lương tâm. Người Nhật cũng là người mà. Con người trên trái đất
này, nếu một con chó bị xe cán chết, con cũng nên buồn bã cả nửa ngày, huống hồ
họ là con người? Những người sống trên hòn đảo này hiện tại họ không phạm tội,
báo ứng mà họ đang chịu đựng bây giờ, người học Phật nên dùng tâm đồng cảm, tâm
từ bi để nhìn sự việc này, chứ không thể đi hận họ, nếu con hận họ thì tiếp
theo con sẽ có tội. Một người không thể hận người ta. Tổ tiên người ta làm sai
chuyện, tại sao phải hận con cháu đời sau của họ? Chúng ta cùng chung sống trên
trái đất này, phải biết bác ái, người học Phật chúng ta nhất định phải biết từ
ái.
Hôm
nay nhà người ta bị đập phá, nói không chừng ngày nào đó sẽ đến lượt nhà con;
hôm nay nhà hàng xóm người ta bị ngập nước, con có thể đảm bảo nhà con không bị
ngập nước không? Phải từ bi. Tại sao mỗi lần trước khi đại nạn ập đến Bồ Tát
lại khóc? Đều là do cộng nghiệp tạo thành. Bởi vì có quá nhiều người làm việc
xấu, Bồ Tát không thể thay đổi nó được. Hiểu chưa? Các con nói có đáng thương
không? Một vạn người trên một hòn đảo trong chốc lát không còn nữa, nhìn xem
con người bây giờ đáng thương biết bao, nhỏ bé yếu ớt biết bao. Tâm của con
trong phản ứng tự nhiên, con nhìn thấy người ta khổ thì bản tính của con liền
lộ ra. Nếu hôm nay con nói "Đáng đời, cho bọn Nhật chết đi", con
không phải là người học Phật tốt, con không phải là Bồ Tát, con là một người
không có tu dưỡng. Con vẫn chìm đắm trong hận thù của nhân gian, cảnh giới của
con chính là ở trong sân hận của nhân gian, kiếp sau con vẫn luân hồi trong lục
đạo. Nếu tâm sân hận của con quá nặng, nói không chừng kiếp sau con đầu thai
làm súc sinh. Cho nên làm người không được có quá nhiều tâm sân hận. Khi một
người tốt lên, tâm chuyển như thế nào? Khi một người không tốt, tâm lại chuyển
như thế nào? Là hả hê khi người khác gặp họa (hạnh tai lạc họa)? Hay là ôm lòng
đồng cảm? Khi người ta tốt, con có phải rất biết ơn, cảm tạ Quan Thế Âm Bồ Tát
không? Hay là con cảm thấy tại sao họ tốt mà tôi không tốt?
Cho
nên tâm ở trong tự nhiên, cái tâm phát ra tự nhiên đó mới là tâm bản tính của
con. Nếu không phải là tự nhiên, thì đó là cái tâm méo mó, tâm méo mó thì không
phải là tâm tự nhiên vốn có của con, không phải là tâm ban đầu của con. Giống
như một người chưa bao giờ nghĩ đến giết người, khi người nhà của họ bị người
ta giết chết họ muốn trả thù, họ bắt đầu học giết người. Thực tế trái tim này
của họ đã bị vặn vẹo rồi. Giống như rất nhiều cha mẹ bất hòa, con cái họ từ nhỏ
đã biết hận, liền không vui. Đạo lý đều giống nhau. Sự hận thù của đứa trẻ bây
giờ chính là do người lớn đã gây ra ảnh hưởng không tốt cho đứa trẻ, cho dù
người lớn của các con không có, nói không chừng là người lớn của người lớn các
con đã khiến con từ nhỏ gieo xuống cái tâm ấn này. Về mặt Huyền học mà nói báo
ứng thông thường là ba đời, cho nên gọi là "Không ai giàu ba họ" (Phú
bất xuất tam đại). Nghèo sẽ nghèo mãi, bởi vì đó là vòng tuần hoàn ác tính. Bởi
vì họ nghèo rồi, họ không tu tâm, tiếp tục không làm việc tốt, tham sân si mạn,
rồi tiếp theo kiếp sau lại làm người nghèo, lại làm người nghèo, cứ như vậy
nghèo mãi. Cho nên phải sinh ra "Bản nhiên thể" (thể vốn có tự
nhiên), nghĩa là chúng ta học Phật phải để tâm sinh ra một loại bản nhiên thể.
Thế nào là bản nhiên thể? Chính là một sự thể hiện rất tự nhiên vốn dĩ đã có.
Các
con nghĩ xem, bây giờ có mấy người có thể tha thứ cho người Nhật? Tâm sân hận
tạo thành một loại nghiệp, chính là chúng nghiệp (nghiệp của số đông), chúng
nghiệp chính là cộng nghiệp Sư phụ thường giảng cho các con. Nếu mọi người đều
hận người này, đều hận quốc gia này, quốc gia này sẽ có nghiệp chướng xuất
hiện, nghiệp chướng này chính là đánh nhau, chiến tranh. Giống như chiến tranh
Iran-Iraq, tại sao họ đánh đến bây giờ vẫn đánh không xong? Chính là vì họ có
cộng nghiệp, có một nghiệp lực chung ở đó, bởi vì họ không chịu buông bỏ hận
thù của họ, họ không chịu hóa giải hận thù của họ, họ không chịu thay đổi hận
thù do tổ tiên để lại, cho nên cái nghiệp này khiến con cháu đời sau của họ cứ
báo ứng mãi. Đây chính là tổ tiên họ không tích đức, mới khiến con cháu họ tiếp
tục tạo nghiệp, tiếp tục chịu khổ. Nếu hai bên họ có thể tha thứ cho nhau,
chiến tranh Iran-Iraq không đánh nữa, con cháu đời sau của họ chẳng phải hạnh
phúc muôn đời sao?
Đây
chính là Phật lý, cái chúng ta học chính là cái Phật lý này. Nhưng có mấy người
chịu tha thứ cho người khác? Đây chính là một loại liệt căn tính (tính xấu) của
con người tạo thành nghiệp chướng của họ. Cho nên hận người ta là phải trả giá,
là làm tổn thương chính mình, là sẽ di truyền cho đời sau. Đừng đi hận người ta,
chuyện tày trời cũng phải tha thứ cho người ta, đó mới gọi là Bồ Tát. Tại sao
các con làm nhiều việc xấu như vậy, các con niệm vài biến "Lễ Phật Đại Sám
Hối Văn" Bồ Tát liền tha thứ cho các con? Bởi vì là Bồ Tát. Còn các con có
thể tha thứ cho người ta không? Yêu đương thất bại rồi, miệng nói "Tôi
không hận", trong lòng có thể không hận không? Nghĩ đến là hận. Nghĩ xem
Sư phụ nói có đúng không? Phật pháp có đúng không? Thế nào là Bản nhiên thể,
chính là tâm là bản tính nguyên thủy nhất. Nhìn thấy người khác gặp tai nạn,
cảm thấy họ rất đáng thương, tình cảm đó xuất phát từ bản nhiên thể, chính là
cái Gốc của con người. Cái Gốc của con người là trái tim rất lương thiện, cái
Gốc của con người là trái tim rất đồng cảm, cái Gốc của con người là bạn tốt
tôi vui, bạn không tốt tôi buồn, đó mới gọi là tâm Bồ Tát. Đây chính là bản
nhiên thể, đây chính là cái Gốc của con người. Cái Gốc của con chính là tâm
con, tâm con vốn dĩ không có ma. Có người sẽ hỏi Đài trưởng: "Đài trưởng,
tâm không phải có ma sao? Tại sao ngài nói không có?" Bởi vì con ma này là
do chính tâm con trêu chọc nó đến. Ví dụ con muốn tiền rồi, Tài khiến con trúng
ma; con muốn đánh bạc rồi, Cờ bạc khiến con trúng ma. Đúng không? Nếu con hôm
nay muốn ăn, con cũng ăn thành ma rồi; con hôm nay muốn ngủ, người ta nói có ma
ngủ. Con hôm nay liều mạng đi theo đuổi một sự việc nào đó, áp lực trong lòng
con tăng lớn, con liền cộng thêm tâm ma rồi. Cho nên vốn dĩ cái tâm này là
không có ma, bởi vì nơi căn bản nhất của tâm con là không có ma, mà là do tự
các con thêm vào. Cho nên phải nhớ tâm ở trong tự nhiên, trong tâm phải không
có ma.
Các
con tu tâm tu đến sau này trong tâm ngay cả chúng sinh cũng không có, nghe có
hiểu không? Các con có thể sẽ hỏi: Sư phụ chẳng phải bảo chúng con trong tâm
nghĩ đến chúng sinh sao? Sao tu đến sau này ngay cả chúng sinh cũng không có
rồi? Bởi vì chúng sinh đã ở trong Bát thức điền (Tàng thức) của con rồi, đã ẩn
chứa sâu trong tâm con rồi, cho nên con không nhìn thấy nữa. Ví dụ một hạt cơm
dính trước mắt con, con có thể nhìn thấy hạt cơm, khi dính trên miệng con, con
sẽ không nhìn thấy hạt cơm này nữa. Cái "ngay cả chúng sinh cũng không
có" này nghĩa là gì? Nói là nói bề ngoài, mà nội tâm căn bản của con là có
chúng sinh.
Lấy ví dụ đơn giản:
Hôm nay con đưa con cái đến trường, con rất yêu đứa trẻ này. Con cái vào trường
nói với mẹ: "Chào mẹ con đi", con cái đi mất rồi. Còn con cái nữa
không? Không còn rồi chứ? Nhưng con cái có ở trong tâm con không? Có. Con sẽ lo
lắng con cái hôm nay sẽ thế này thế kia, đúng không nào? Bây giờ hiểu rồi chứ.
Đây gọi là bề mặt không nhìn thấy chúng sinh, nhưng trong tâm con hoàn toàn là
chúng sinh. Giống như Sư phụ vậy, mỗi khi làm một việc gì đầu tiên nghĩ đến đều
là chúng sinh, còn các con là nghĩ đến mình trước, đây chính là sự khác biệt
giữa Bồ Tát và phàm nhân. Sư phụ chuyện gì cũng nghĩ cho người ta trước, đây
gọi là trong tâm có chúng sinh, là trong cái Gốc có chúng sinh, chứ không phải
trên bề mặt. Nếu ở nơi có ma mà có chúng sinh, chúng sinh này chỉ có thể đem
lại gánh nặng cho con.
Lấy ví dụ đơn giản: Chúng sinh của các con là
gì? Là con cái, vợ chồng, cha mẹ v.v. đều là chúng sinh của các con, là gánh
nặng của các con đấy, bởi vì các con không buông bỏ được. Kỳ thực mối quan hệ
giữa họ và con, con chỉ có thể tận khả năng của mình ở nhân gian, mà con thật
sự là không cứu được họ -- điều này phải xem căn cơ của chính họ. Giống như rất
nhiều đứa trẻ lớn lên không nghe lời cha mẹ, đợi mẹ tu tâm rồi con mới tu. Cho
nên đối với chúng sinh phải có thể buông bỏ, phải có thể cứu, như vậy sẽ không trở
thành nghiệp chướng của con. Các con biết con cái cũng là nghiệp chướng, cha mẹ
cũng là nghiệp chướng. Vô duyên bất lai, vô nghiệp bất lai (không duyên không
đến, không nghiệp không đến), là nghiệp chướng và nghiệp lực kiếp trước, cho
nên kiếp này mới ở cùng nhau.
Tiếp
theo giảng cho mọi người, Tâm là Tạng thế giới quang minh Không (Tạng thế giới
chứa ánh sáng của Không). Tâm chỉ có Không, con mới có thể tiếp nhận ánh sáng.
Hôm nay tôi nhìn thấy một bức ảnh, bức ảnh này là trong một hang núi có một
vũng nước trong, nước này vô cùng trong vắt, nhưng cả hang núi chỉ có một cửa
hang ánh mặt trời có thể chiếu vào. Các con biết ý nghĩa là gì không? Bởi vì có
ánh mặt trời chiếu vào, cả cái hang trở nên sáng sủa. Bởi vì nó là hang trống
(không động), cho nên ánh mặt trời này mới có thể chiếu vào; nếu cái hang này
có tảng đá gì chặn lại, các con nói xem ánh sáng này còn có thể chiếu vào
không? Trong tâm các con hôm nay chỗ này ngu si, chỗ này hận người ta, chỗ này
tham lam, tâm này của con bị tất cả tham sân si che lấp, con nói xem ánh sáng
của Bồ Tát làm sao có thể chiếu vào? Con chỉ có Không rồi, sạch sẽ rồi, cái gì
cũng không nghĩ nữa, khi con sạch sẽ ánh sáng của Bồ Tát mới có thể chiếu vào.
Cái này gọi là Quang Minh Tạng (Kho tàng ánh sáng). Giấu ánh sáng trong tâm
con, thì tâm con tràn đầy ánh sáng; con giấu tà ác trong tâm con, tâm con tràn
đầy tà ác; con giấu thù hận trong tâm con, tâm con tràn đầy hận. Đúng không?
Rất nhiều người không vui vẻ với người ta chính là vì giấu cái hận của đối
phương, giấu những việc làm sai của người ta trong tâm mình, cho nên tâm con sẽ
sinh ra hận, sinh ra những thứ tà ác. Phải nhẫn nhục tinh tấn, phải học cách
nhẫn nại, phải nghĩ thông suốt, trong tâm con mới quang minh, ác khí của người
ta mới không vào được. Nếu trong tâm con mãi mãi quang minh, tâm con có thể
trường tồn thế gian, hơn nữa có thể dài lâu vạn năm; nếu tâm con rất bẩn thỉu,
rất hôi thối, suốt ngày nghĩ cái xấu của người ta, hận người ta, tâm con chính
là để tiếng xấu muôn đời (di xú vạn niên). Phải biết buông ra, chỉ có Không mới
có thể chứa được ánh sáng, hơn nữa có thể chứa cả thế giới vào trong, cảnh giới
này chính là cảnh giới của Bồ Tát. Khi tâm con có thể chứa được ánh sáng, có
thể chứa được mặt trời, cái gì cũng có thể chứa được, con có ánh sáng rồi, con chính
là cảnh giới của Bồ Tát.
27. Phản phác quy chân, chuyển thức thành trí
Trong
Pháp giới tâm các con có vọng động, chúng ta ở nhân gian có phải đang ở trong
Pháp giới không? Ở Pháp giới tâm con sẽ thường xuyên vọng động. Vọng động chính
là tâm suốt ngày không ngừng động loạn, cái không nên động lại đi động niệm
chính là vọng động, cho nên mới có nhân quả. Sư phụ giảng cho các con nghe nhân
quả từ đâu mà đến, rất nhiều người trong các con hỏi: "Sư phụ, nhân quả từ
đâu mà đến?" Nói cho các con biết: Là bởi vì tâm các con ở Pháp giới, ở
nhân gian thường xuyên nghĩ những thứ không nên nghĩ, đây chính là nhân quả đến
rồi. Ví dụ con của con vốn dĩ thi không đỗ trường tốt gì, con liều mạng bắt nó
đi thi, nhân quả của con đến rồi. Nhân đầu tiên là con liều mạng so bì với
người ta, thứ hai là đánh con, thứ ba bản thân không có tiền liều mạng đi kiếm,
sau đó cho con đi học trường bổ túc, cuối cùng con thi không đỗ con liều mạng
đánh con, đánh con bị thương. Xong rồi, đợi con lớn lên con cứ đợi ăn quả đi --
con cái sẽ hận con cả đời. Hiểu chưa?
Vọng
động, vọng niệm sinh ra nhân quả, bởi vì có nhân quả nên mới có thiện ác, cho
nên nhân quả sinh ra thiện ác. Thiện ác ra rồi, làm việc thiện, được thiện quả;
làm việc ác, được ác quả. Sau đó Âm Dương liền phân minh (rõ ràng) khác thường,
phân minh khác thường chính là phân chia rõ ràng rành mạch, Âm Dương liền phân
rõ rồi. Âm, Dương chính là Của con, Của tôi. Của tôi chính là Dương, của con
chính là Âm. Mọi việc trên thế giới đều có thể chia thành hai loại Âm Dương.
Tiền của tôi thuộc Dương, tiền của con thuộc Âm, tôi dùng tiền của con tôi vui,
dùng cũng là tiền Âm. Thực tế tiền Âm chính là tiền địa phủ, dùng của người ta
là dùng không công thì vui. Việc gì cũng phân thành hai cực Âm Dương. Thành
công là Dương, thất bại là Âm. Kỳ thực Dương và Âm là tương trợ tương thành (hỗ
trợ lẫn nhau). Đây là lý do tại sao có nam và nữ, có mặt trời và mặt trăng, tại
sao có tay phải và tay trái -- tay phải thuộc Dương, tay trái thuộc Âm, bởi vì
tay phải là chủ yếu (tôi nói là Âm Dương trên cơ thể người). Sau đó Sinh Diệt
cũng không ngừng biến hóa. Thế nào là Sinh Diệt? Sinh sinh diệt diệt bởi vì có
nhân quả nó sẽ không ngừng biến hóa. Hôm nay đứa trẻ sinh ra, nhìn nó lớn lên,
đến một lúc nào đó chết đi là Diệt rồi, sau khi diệt lại đầu thai, lại đầu thai
một đứa trẻ nhỏ ra đời, lại bắt đầu cuộc sống mới, sinh sinh tử tử cứ luân hồi
như vậy. Hiểu chưa? Sư phụ đây là đang giảng đạo lý cho các con, đời người tại
sao có sinh diệt? Tại sao có nhân quả? Cho nên Vạn tượng đang không ngừng vận
chuyển. Vạn tượng là gì? Vạn tượng chính là hàng ức vạn loại hiện tượng, đủ các
loại tình huống đều sẽ có, đều đang biến hóa. Đây là lý do tại sao hôm nay con
tốt, ngày mai con không tốt; hôm nay anh ta có tiền, ngày mai anh ta không có
tiền. Các con nghĩ xem, rất nhiều việc đều là có quy luật, chính là một loại
vạn tượng biến đổi đều đang biến hóa, đang không ngừng biến đổi. Bởi vì có nhân
quả sẽ biến hóa. Con gieo nhân tốt, sẽ có quả tốt ra, liền biến thành thiện
quả. Con hôm nay gieo ác nhân, vậy cái con đợi chính là ác quả. Bởi vì vạn
tượng không ngừng biến hóa và vận động, cho nên có Thành, Trụ, Hoại, Không. Bởi
vì đang biến đổi nhất định sẽ Thành Trụ Hoại Không, đây là Thiên luật, là quy
luật, là vĩnh viễn không trốn thoát được.
Thành Phật chính là Phản vọng quy chân (quay
lưng với cái vọng trở về với cái chân thật), chính là con phải bỏ vọng niệm đi,
phải quay về trong bản tính thực sự của con. Nhưng Sư phụ nói cho các con biết,
học Phật là Phản phác quy chân (quay về sự mộc mạc trở về với chân thật), Phản vọng
quy chân là để các con loại bỏ vọng niệm, chữ "Phản" (quay ngược/trả
lại) này là để các con quên đi (quên lãng), không phải chữ "Phản"
(trở về) trong quay trở về. Là phải quên vọng niệm đi, phải quy chân. Sư phụ để
các con phản phác quy chân, đây cũng là Quan Thế Âm Bồ Tát bảo tôi giảng cho
các con nghe. Quan Thế Âm Bồ Tát thường xuyên nói với Sư phụ, bảo Sư phụ phản
phác quy chân. "Phác" là gì? Là thuần phác (mộc mạc), phác tố (giản
dị). Phác bản thân chính là quay trở lại nơi ban đầu của con, quay về ngôi nhà
cũ thực sự của con. Ngôi nhà cũ thực sự của chúng ta ở trên trời. Do quan hệ
thời gian Sư phụ bây giờ chỉ có thể giảng đơn giản một chút về phản phác quy
chân cho các con, Sư phụ chia làm ba loại lớn để giảng cho các con.
Thứ nhất, Phản phác quy chân. Chính là làm thế
nào để hiểu chữ "Phác" này? Cái Phác này còn hay không? Cái Phác này
thực tế chính là cái Nhân con tạo ra từ muôn đời muôn kiếp (lũy thế lũy kiếp),
con muốn đưa cái "Phác" này quay về cái "Chân" này, nếu cái
Nhân con tạo ra từ muôn đời muôn kiếp không tốt, con nói xem quy về Chân thế
nào?
Thứ hai, Chân. Cái Chân này trong lòng con còn
hay không? Còn có thể tìm thấy nhà cũ của con không? Con cho dù muốn tìm nhà
cũ, nếu con đã không biết địa chỉ nhà cũ rồi, cho dù con muốn tìm cũng không
tìm được nhà của con nữa.
Thứ ba, cái này quan trọng nhất, chính là tất
cả những gì con có hiện tại phải kết hợp với tất cả những gì trong kiếp sống
quá khứ của con mới có thể phản phác quy chân. Nghĩa là Nhân con gieo trong quá
khứ, Quả tạo thành, đã đến kiếp này báo rồi, con kiếp này nên kết hợp nó như
thế nào mới có thể khiến nó đạt được phản phác quy chân? Pháp môn hiện tại của
Sư phụ chính là để các con tìm lại quá khứ của các con để sám hối, sau đó kết
hợp với thiện nhân gieo trồng trong kiếp này, con có thể tìm lại nhà cũ của con
rồi. Nghĩ lại toàn bộ con đường con đã đi qua trong quá khứ, toàn bộ con đường
đi sai trong quá khứ đều không cần nữa, phải tìm một con đường mới, sau đó quy
chân rồi. Làm rõ đầu óc, tôi tìm thấy một con đường chân chính rồi, sau khi tìm
thấy thì nai nịt gọn gàng lên đường.
Tiếp
theo Sư phụ giảng cho mọi người "Chuyển thức thành trí". Chính là
chuyển biến ý thức của con, trở thành trí tuệ của con. Chuyển thức thành trí
chính là chuyển biến ý thức của con. Ý thức của con vốn dĩ cho rằng việc này là
không tốt, nhưng con bây giờ ý thức chuyển biến rồi, xem nó là tốt rồi. Ví dụ
chuyện không vui giữa các con và con cái, vốn dĩ là một chuyện rất không tốt,
khiến con rất không vui. Hôm nay các con học Phật rồi, các con không tức giận
nữa, nghĩ thông rồi, ý thức chuyển biến rồi, cảm thấy "Tôi chính là phải
trả nợ cho chúng, cái này không có cách nào thay đổi. Cái tôi đáng trả tôi phải
trả, hơn nữa tôi niệm Kinh trả cho chúng, chúng sẽ thay đổi." Con sẽ không
tức giận nữa, liền nghĩ thông rồi, ý thức liền thay đổi rồi, ý thức vừa chuyển
biến liền trở thành trí tuệ rồi. Đây gọi là chuyển thức thành trí. Hôm nay con
cái ở bên cạnh con, qua vài ngày con cái nói muốn đi rồi, con liều mạng nắm
chặt không buông, đến lúc đó tiền đồ của con cái bị con làm lỡ dở. Con nói xem
cái này của con có tính là có ý thức không? Cái ý thức này của con là "Mẹ
nhất định phải giữ con ở bên cạnh", không cho nó rời xa con; nếu ý thức
này của con vừa chuyển biến, "Con cái nên có bầu trời riêng của nó, nên có
tương lai của riêng nó." Con nghĩ như vậy chẳng phải có trí tuệ rồi sao?
Loại chuyện này còn cần Sư phụ lấy ví dụ sao? Ở nhân gian nhiều không kể xiết.
Sắc
Không vô ngại. Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc. Sắc Không vô ngại chính là
bay lượn giữa trời đất. Không chính là giả, không có. Trong không trung con có
nhìn thấy Bồ Tát không? Không nhìn thấy. Nhưng có hay không? Có chứ, sắc tức
thị không mà. Chúng ta ở nhân gian Sắc giới cái gì cũng có thể nhìn thấy. Người
các con nhìn thấy hôm nay qua vài ngày chết rồi, không còn nữa, đây chính là
Sắc tức thị Không. Khi chúng ta không còn nữa, chúng ta ở nhân gian Không rồi,
chúng ta lên trời lại gặp mặt rồi, vậy có hay không? Có chứ. Không tức thị Sắc,
Sắc tức thị Không. Các con hôm nay cầu Quan Thế Âm Bồ Tát là Không (vô hình),
là không nhìn thấy, nhưng vừa cầu Bồ Tát cuộc sống các con thay đổi rồi, linh
nghiệm rồi, vận mệnh chuyển rồi, chẳng phải có Sinh có Sắc (có hình tướng/hiện
thực) sao? Vừa cầu linh rồi, chẳng phải chuyển biến Sắc giới của con rồi sao?
Cầu Bồ Tát là không nhìn thấy. Có hay không? Các con không nhìn thấy, nhưng tại
sao con vừa cầu liền linh? Đây chính là Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc.
Sư
phụ mở rộng ra giảng cho các con, người từng đọc "Lễ Phật Đại Sám Hối
Văn" trong lòng đều sẽ run rẩy. Bởi vì khi con niệm "Lễ Phật Đại Sám
Hối Văn" là có hai loại tâm thái: Một loại là sám hối, còn có một loại là
chịu trừng phạt. Sự trừng phạt này là sự tự trừng phạt trong tâm linh. Bởi vì
con làm sai chuyện rồi, bởi vì con nói sai lời rồi, tâm con mới sám hối, tâm
con mới chịu sự dằn vặt của lương tâm, thực tế chính là hai loại trừng phạt.
Con hôm nay hại chết người rồi, con nói lương tâm con có chịu trừng phạt không?
Con hôm nay khi đang niệm "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn", con có phải nhớ
lại một số việc con làm sai trong quá khứ không? Con ở nơi Thiên đình cầu xin
nhiều Phật Bồ Tát tha thứ cho con như vậy, con phải buông bỏ cái Tôi, đừng đi
nghĩ mình rất nhiều sĩ diện. Con báo danh hiệu của nhiều Phật Bồ Tát như vậy,
Phật Bồ Tát sẽ không biết chuyện xấu con từng làm sao? Nghĩ xem, phải hiểu đấy!
Cho nên khi niệm "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn" thực tế là đang chấn động,
gột rửa tâm linh của chính mình, chính là đang gột rửa tâm linh của con. Bởi vì
sau mỗi lần chấn động, tâm con sẽ sạch sẽ hơn một chút. Khi con cảm thấy con
làm sai chuyện, cảm thấy buồn bã, trái tim này của con có phải sẽ run rẩy
không? Bởi vì khi một người đang niệm "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn",
giống như là trộm đồ của người khác, giống như làm sai chuyện chờ đợi phán xét
vậy, khi niệm có sợ không? Niệm ba lần rồi trong lòng nghĩ có thể vẫn chưa đủ,
vẫn chưa tiêu, niệm thêm vài lần nữa đi, tội nghiệp sâu nặng mà. Hiểu chưa?
Cho
nên nói phải quy nhập chính đạo, phải tìm được một Chánh pháp, Chánh đạo, Chánh
tín niệm, thật sự là không dễ dàng. Ngày ngày nói Chánh, có mấy người tìm được
Chánh? Tại sao có người sau khi xem blog của Sư phụ nói: "Tôi sau khi xem
blog này vui mừng khôn xiết lập tức tu học pháp môn này rồi." Tại sao lại
vui mừng khôn xiết? Là vì tìm thấy pháp môn vốn có của tâm linh họ, pháp môn
sâu thẳm nhất của tâm linh, tìm thấy cửa nhà của mình rồi. Khi con quy nhập
chính đạo rồi, thì bắt buộc phải Chánh mà không được Tà, cho nên phải sửa chữa
tất cả lỗi lầm của mình. Con người có một tật xấu là học cái xấu rất nhanh, học
cái tốt rất chậm. Sư phụ nói với các con những lời này chính là coi các con như
con cái để giáo dục các con, giống như cha mẹ dạy dỗ con cái vậy. Bởi vì các
con học thứ xấu rất dễ, con người vốn dĩ có cái liệt căn tính này. Giống như
đứa trẻ rất nhỏ đã biết trêu chọc người khác vậy, thứ xấu học một cái là biết,
rất nhiều đứa trẻ thứ tốt dạy nửa ngày cũng không biết, đây chính là liệt căn
tính của con người. Cho nên tu tâm rất khó. Con người vốn dĩ nên học tốt, vì
tâm lệch rồi, vì lương tâm lệch rồi, cho nên học cái xấu thì nhanh, học cái tốt
thì chậm. Giống như một cái đồng hồ tốt đến mấy, chỉ cần chạy không chuẩn thì
không phải là đồng hồ tốt; một người tốt đến mấy, con nói họ tốt đến mấy, nếu
bản tính của họ không tốt thì không phải là người tốt; họ học Phật, học Pháp nhiều
đến mấy, không học được Chánh đạo, không học Chánh pháp, cái họ học là Thiên
pháp (pháp lệch).
Giảng
cho mọi người Nhậm lao nhậm oán (Chịu thương chịu khó/Chịu làm chịu trách). Rất
nhiều người đều nói tôi cả đời này là nhậm lao nhậm oán. Nhậm lao (chịu làm)
thì dễ, giao cho tôi việc gì tôi cũng làm, công việc gì tôi cũng làm. Nhưng
Nhậm oán (chịu trách/chịu oán trách) không dễ đâu. Có bao nhiêu người oán khí
đầy mình, làm nhiều đến mấy không sao, chỉ cần một câu nghe không thuận, lập
tức nhảy dựng lên. Có mấy người làm được nhậm lao nhậm oán? Miệng nói thì hay,
"tôi nhậm lao nhậm oán", kỳ thực oán khí đầy mình.
Rất
nhiều người nói: Bạn có phúc báo, bạn có phúc khí. Phúc báo từ đâu mà đến? Phúc
báo đến từ một trái tim biết bố thí. Người biết bố thí mới có phúc khí, người
không biết bố thí mãi mãi không có phúc khí.
Sư
phụ hy vọng mỗi một người tu tâm niệm Kinh đều có thể tu đến mức quốc gia mình
đang cư trú đừng có tai nạn, sau đó lại đi cầu nguyện quốc gia khác bình an,
đây cũng gọi là tự độ độ người. Nếu các con bây giờ còn không biết tu tâm cho
tốt, tai nạn cách các con không xa đâu.
28. Trang nghiêm Phật Tịnh độ, Nghiêm sư xuất cao
đồ (1)
Có
nhớ tuần trước Sư phụ nói với các con nước Úc sẽ có động đất không. Gần
Newcastle vùng Central Coast nước Úc vừa động đất xong, hôm nay Los Angeles lại
động đất, hơn 4 độ. Các nhà địa chất học đã họp khẩn cấp mấy lần. Thực tế vỏ
trái đất này đã xảy ra thay đổi rồi. Thế giới này vốn dĩ đã lộn xộn bát nháo,
còn những người theo chủ nghĩa ngày tận thế, rất nhiều tà giáo v.v., đều ra
tuyên truyền, thế giới này thảm rồi. Mọi người biết đấy, Thiên thời hiện tại đã
không khách khí nữa rồi. Động đất cũng vậy, đầu tiên là nhỏ, từ từ sẽ là động
đất lớn. Tứ Xuyên lại có động đất rồi. Nơi này có cái bệnh này rồi, nó nhất
định sẽ lại có. Điều này giống đạo lý bệnh trên cơ thể người vậy. Nếu một người
trên cơ thể có bệnh rồi, lần sau nhất định sẽ tái phát.
Sư
phụ bây giờ rất không vui. Các con từng người một vẫn không tu tốt, không nghe
lời, "Ngã chấp" (chấp tôi), cái gì tôi cũng là nhất. Bản thân các con
sau này không nỡ cũng nhất định phải đi thôi, trên đời bao nhiêu chuyện bất
lực. Không nỡ, không nỡ vẫn đi như thường. Sinh ly tử biệt chưa nghe qua sao?
Các con có người thầy tốt như vậy ở bên cạnh, còn không biết trân trọng, các đồ
đệ các con ngày ngày cứ không nỗ lực tu như vậy, báo ứng trong nháy mắt là đến.
Các con biết hai ngày nay pháp hội mở xong, khai ngộ bao nhiêu người không. Sư
phụ mở một lần pháp hội là cứu rất nhiều người mới, đây là công đức. Sư phụ
thật sự vô cùng đáng thương, Sư phụ không từ bỏ bất kỳ một người nào có thể
cứu. Người đến gặp Sư phụ, Sư phụ cố gắng hiển hóa cho họ xem. Hiển hóa rất
mệt. Phải nhìn xem phòng nhà họ trông thế nào, ghế sofa màu gì, phải tốn rất
nhiều Khí. Sư phụ chính là muốn để những người không tin đó tin tưởng.
Đồ
đệ các con thật sự phải suy nghĩ cho kỹ, các con đã làm được gì? Các con làm
được bao nhiêu công đức? Công đức hiện tại các con làm và những gì các con phải
trả giá sau này có tỷ lệ thuận được không? Tự mình phải hiểu, làm công đức là
tự các con được, không phải người ta được. Các con nếu không tu cho tốt, một
tai nạn đến chạy không thoát là chết. Sư phụ nói cho các con nghe, số lượng
người bị ung thư bây giờ có so được với quá khứ không? Bây giờ người bị ung thư
nhiều bao nhiêu. Trước đây có một người bị ung thư là chuyện tày trời, bây giờ
đã thấy nhiều như chuyện thường rồi. Sư phụ bây giờ là chỉ cứu người tốt, không
cứu người xấu. Quan Thế Âm Bồ Tát đều là độ chúng sinh hữu duyên. Quan Thế Âm
Bồ Tát tại sao cứu các con? Các con đã làm gì? Bây giờ nhà ai cũng tốt lên rồi,
các con đã bỏ ra cái gì? Những thứ này đều là các con đáng được nhận sao? Sư
phụ đã rất lâu không nói các con như vậy rồi. Sư phụ nói cho các con biết, các
con không tu cho tốt, đến Sư phụ cũng không cứu được các con.
Nhẫn
nhục công đức. Một người nhẫn nhục không dễ dàng gì. Trì giới và khổ hạnh đều
không bằng nhẫn nhục công đức. Trì giới đã rất lợi hại rồi chứ, tu khổ hạnh
cũng rất lợi hại chứ, nhưng đều không bằng nhẫn nhục. Bởi vì nhẫn nhục có thể
tiêu nghiệp chướng của con, khổ hạnh chưa chắc có thể tiêu nghiệp chướng của
con. Mỗi ngày có rất nhiều đơn cấp cứu tìm Sư phụ, chỉ những đơn cấp cứu đó đặt
trên bàn Sư phụ đầu Sư phụ đã đau rồi. Nhưng Sư phụ phải cứu người. Các con đã
làm bao nhiêu công đức? Hôm pháp hội Sư phụ vì để người ta tin, đã dùng bao
nhiêu Khí. Các con tưởng Sư phụ đang đùa giỡn, đang tìm niềm vui sao? Phải tin
sâu nhân quả, tất cả mọi việc của chúng ta đều là nhân quả. Đừng tức giận, đừng
chấp trước. Giở trò, giở khôn vặt, múa mép khua môi thì đừng đến đây tu. Sư phụ
đã nói với các con, Quan Âm Đường rất chính khí. Các con xem Quan Thế Âm Bồ Tát
linh hay không thì biết.
Hôm
đó nghe nói có một vị pháp sư đến Sydney, còn có rất nhiều người đi. Có người
hỏi Sư phụ nghĩ thế nào? Thật tốt, đến hoằng pháp rồi, Sư phụ rất vui. Thực ra
người nói cho Sư phụ nghe là muốn xem phản ứng của Sư phụ thế nào. Sư phụ có
phản ứng gì chứ? Ai hoằng pháp, người đó chính là Bồ Tát. Phương pháp hoằng
pháp không giống nhau, ví dụ con là đồ Đông y, vậy Đông y bây giờ khám bệnh có
phải dùng thiết bị tiên tiến nhất để kiểm tra không? Kiểm tra xong rồi bốc
thuốc chẳng phải đạo lý giống nhau sao? Cho dù là lão Đông y, nếu không có
thiết bị hiện đại kiểm tra không ra bệnh, làm sao bốc thuốc cho bệnh nhân? Dựa
vào bắt mạch ngày xưa? Mà bây giờ là dùng siêu âm, CT, xét nghiệm máu v.v. Phải
nhớ, bây giờ người chết ngày càng nhiều, thế giới này bây giờ là báo ứng ngày
càng nhanh. Sư phụ nói cho các con biết, sau năm 2010, các con xem bây giờ gần
như tháng nào cũng có động đất. Giống như cãi nhau ly hôn, đầu tiên là cãi nhỏ,
tiếp theo cãi vừa, cuối cùng cãi lớn, rồi đến ly hôn. Đầu tiên là động đất nhỏ,
các con xem có dừng lại không. Ác khí quá nặng, ai nấy đều ích kỷ tự lợi, ai
nấy đều nghĩ chuyện của mình. Sư phụ nói cho các con, bất kể trẻ hay già, đừng
dùng tư duy ích kỷ tự lợi vào trong Phật pháp. Nếu vì lợi ích của mình mà bỏ đi
lợi ích của người ta, là có tội.
Trên
thế giới này phải tin sâu nhân quả. Nếu con tin không sâu, trong lòng nghĩ
"Tôi chẳng phải cũng ăn chay rồi sao? Tôi chẳng phải cũng quy y rồi sao?
Tôi chẳng phải cũng thọ giới rồi sao?" Sau đó nghịch cảnh đến một cái
không tốt rồi, trong đầu lập tức nghĩ: "Có linh không? Những Kinh văn tôi
niệm này có được không?" Lại nghi ngờ rồi, Phật pháp linh không? Lại gieo
một cái nhân quả. Cái này gọi là nhân quả gì? Gọi là "Bất minh nhân
quả" (Không hiểu nhân quả). Không có trí tuệ. Tưởng rằng mình tu tu tâm là
tốt rồi. Phải hiểu quả báo của con chỉ là vấn đề thời gian. Các con hứa hẹn
việc gì phải giữ chữ tín, không giữ chữ tín có tính là người không? Làm công
đức là tự giác, toàn bộ thuộc về nhân quả của chính mình. Sư phụ nói cho các
con biết: Không hiểu cũng gọi là nhân quả, gọi là Bất minh nhân quả. Ví dụ cứ
hành thiện mãi, đợi đến khi nghịch cảnh đến, con bắt buộc phải hiểu đây là sự chiêu
cảm của ác hành con đã làm hình thành từ kiếp trước hoặc kiếp này, kiếp này tu
hành chưa đủ cho nên không thể loại bỏ những nghiệp lực này. Cho nên tu tâm
không được thoái tâm (lui sụt). Người tu tâm thoái tâm chịu quả báo còn lớn hơn
người không tu tâm, bởi vì con đã nhận được sự phù hộ của Bồ Tát rồi.
Một
pháp hội lớn như thế này không dễ dàng đâu. Xem xem lần trước phóng sinh bao
nhiêu người? Mười mấy chiếc xe lớn đấy. Không phải công đức của Quan Thế Âm Bồ
Tát, có thể có nhiều người đi như vậy không? Các con không trân trọng những
sinh linh đó. Hôm pháp hội đó, Sư phụ giảng xong cứ bị người ta vây ở đó, để
cho họ một cơ hội, để cho họ có niềm tin, để cho họ biết có người sẽ cứu họ. Tự
mình nghĩ xem, các con đã làm bao nhiêu công đức? Sư phụ cứu người như vậy vẫn
cảm thấy công đức chưa đủ. Sư phụ không cứu nổi nhiều người như vậy, Sư phụ mỗi
người chỉ có thể trả lời họ một câu. Các con phải học tinh thần này của Sư phụ,
đừng chỉ lo cho mình. Trong nhà tốt hơn một chút, con cái tốt rồi, nhà mua rồi,
chồng tốt rồi là cái gì cũng không quản nữa. Các con đến tu hành đều là vì gia
đình mình mà đến, hôm nay nỗ lực một chút, ngày mai không nỗ lực, ngày kia nỗ
lực một chút, ngày kìa lại không nỗ lực... Mãi mãi có tư tâm (lòng ích kỷ) tác
quái trên người. Các con tu thế nào đây? Đồ đệ vừa có chuyện, Sư phụ đau lòng
không? Cũng đau. Đồ đệ bái Sư phụ rồi, Sư phụ phải lo lắng. Ai không có chuyện?
Nhà ai không có chuyện? Rất nhiều người bản thân ban đầu không tu tử tế, trong
nhà xảy ra chuyện chính là cho họ một Tăng thượng duyên. Tự mình phải dụng tâm,
phải sám hối thật tốt. Đừng đợi gặp chuyện rồi mới sửa, không gặp chuyện cũng
phải sửa đổi. Đừng đợi đến động đất rồi mới biết phải chạy, khi không có động
đất phải để bản thân tu tâm cho tốt, để tai nạn đừng đến.
Sư
phụ nói cho các con, sinh mệnh chính là phải chạy đua với vô thường, tu hành
chính là phải chạy đua với vô thường. Vô thường là gì? Chúng ta sống trên thế
giới này thời gian không dài, chuyện gì cũng không có dài lâu. Hôm nay là vợ
chồng, ngày mai liền không còn; hôm nay con cái tốt với con, ngày mai con cái
bị đè chết. Bi kịch nhân gian các con phải hiểu chứ! Các con nghĩ xem, vật lộn
với sinh mệnh của mình, chạy đua với vô thường, điều này có ý nghĩa gì? Thực tế
chính là phải chuẩn bị tốt trước khi Đại hạn (cái chết) của các con đến. Rất
nhiều người không tu, chỉ biết đánh mạt chược, đi chơi khắp nơi, sinh mệnh ngắn
ngủi, sau khi chết đi sẽ đi về đâu? Các con là đồ đệ của Sư phụ, thân tại phúc
trung bất tri phúc (sống trong phúc mà không biết phúc), Sư phụ nói chuyện các
con còn không nghe cho kỹ. Cho nên "Nhân duyên hội ngộ thời, quả báo hoàn
tự thọ" (Khi nhân duyên gặp gỡ, quả báo mình tự chịu). Nhân duyên gặp nhau
rồi, quả báo liền đến. Nhân duyên và quả báo như hình với bóng, ngay bên cạnh
con, ngày ngày bên cạnh con. Nói không còn là không còn. Các con ngày ngày đang
làm gì vậy? Vì tài, vì danh, vì lợi, vì nhà, vì con... Các con không biết, nếu
các con vì chúng sinh, con cái của con, gia đình của con chẳng phải bao gồm hết
trong đó sao? Các con có mấy người vì chúng sinh? Sư phụ hôm nay muốn hỏi thử,
pháp hội này của Sư phụ có mấy người là người nhà của tôi?
Sư
phụ từng giảng cho các con, rất nhiều Hộ pháp thần đều là từ A Tu La đạo xuống,
rất lợi hại. Khi ăn cơm cầu nguyện một chút, nói "Cảm ơn Quan Thế Âm Bồ
Tát", đây cũng là có công đức. Ăn cơm ăn ngon, chính là một công đức; ăn
không ngon, chính là một nghiệp chướng. Cho nên khi ăn cơm không được cãi nhau,
đặc biệt không được gõ bát. Trước đây từng nghe người già nói chưa? Gõ bát là mắng
trời đấy. Lương thực, cơm gạo đều là trời cho. Trước khi ăn cơm trong lòng
nghĩ: "Cảm ơn Quan Thế Âm Bồ Tát từ bi", là có công đức rồi. Phát tâm
Bồ đề có thể tăng trưởng Pháp thân Huệ mạng của con. Pháp thân chính là nhục
thân hiện tại của chúng ta, thế giới này gọi là Pháp giới. Huệ mạng chính là có
trí tuệ, khai ngộ. Nếu có người bỏ độc vào cơm của các con, nếu con mỗi ngày
khi cầm bát cơm nói "Cảm ơn Quan Thế Âm Bồ Tát từ bi", con đều sẽ
không ăn phải cơm độc, độc không chết con đâu. Trước đây có hòa thượng từng bị
người ta đầu độc đấy. Cơm đến cổ họng, thuốc độc liền tan biến, lạ vô cùng.
Giống như Tế Công Bồ Tát ăn thịt vậy. Rất nhiều người nhìn thấy Ngài miệng ăn
thịt, thực tế Ngài là cười người thế gian, thịt đến cổ họng Ngài toàn bộ không
còn nữa, bởi vì Ngài là thân Bồ Tát. Cho nên nếu có người hạ độc, Long Thiên sẽ
thay con loại bỏ, bao (đảm bảo) con vô sự. Thần Long trên trời đều là Đại Hộ
pháp.
Muốn
người không biết, trừ phi mình đừng làm (Yếu tưởng nhân bất tri, trừ phi kỷ mạc
vi). Các con nghĩ xem quá khứ của các con đã làm bao nhiêu việc xấu. Sư phụ cho
các con cơ hội làm lại cuộc đời (tái tạo con người), để các con tu tâm cho tốt,
các con còn không nắm bắt cơ hội à? Còn muốn đem tật xấu cũ quá khứ ra? Phải
biết khuyết điểm mang lại nghiệp chướng.
Chỉ
cần người chuyên tâm niệm Phật, tâm sẽ phát sáng, quỷ thần cung kính. Các con
có ai tâm phát sáng rồi? Địa phủ có Quỷ, có Thần. Thần là quản Quỷ, giống như
lãnh đạo vậy. Rất nhiều người sau khi xuống địa phủ rất lâu không muốn ra. Sư
phụ không muốn nói, thực tế những người đó đã là Thần rồi, nhưng họ là Thần
trong địa phủ, họ ăn thịt, ăn những đồ cúng tế.
Sư
phụ nói, trong tư tưởng các con có một tên trộm là "Vọng tưởng". Tất
cả vọng tưởng của các con đều là trộm. Các con đừng nhận giặc làm cha, đừng
tưởng rằng vọng tưởng của mình là rất tốt. Lấy ví dụ: Muốn mua xổ số, còn mỹ
danh nói rằng nếu trúng lấy ra một vạn cho Quan Âm Đường. Con coi vọng tưởng là
trộm, con chẳng phải là nhận giặc làm cha sao? Phải mặc kệ nó, phải đề khởi
Chánh niệm, vọng tưởng sẽ tự nhiên chạy mất. Sư phụ dùng những ngôn ngữ khá đời
thường này để nói với các đồ đệ các con. Đã không còn cách nào nữa rồi, cầu xin
các con đấy. Các con sau này còn muốn tốt hay không? Vậy các con làm thêm chút
công đức đi. Vì sau này tốt mới đến làm công đức, có mất mặt không? Nâng cao
một chút, thường xuyên nghĩ những điều Chánh, tạp niệm sẽ chạy mất.
29. Trang nghiêm Phật Tịnh độ, Nghiêm sư xuất cao
đồ (2)
Giải
Hành tịnh trọng (Giải và Hành cùng coi trọng). Chính là lý giải, hóa giải, cộng
thêm hành vi cùng nhau làm. Nghĩa là tu hành, tu tâm đều rất quan trọng, cả hai
đều phải có. Nếu không lý giải, chỉ đơn thuần làm việc thiện thì chỉ có một
chút công đức. Giống như một số người học Phật, ngày ngày đến viện dưỡng lão
bón cơm, còn đến trung tâm ung thư nói chuyện với bệnh nhân ung thư, làm cho họ
vui vẻ. Cuối cùng bản thân đều bị ung thư. Anh ta tưởng rằng làm việc thiện như
vậy là có thể cứu người rồi. Làm cho họ vui, khi họ chết sẽ không đau khổ. Đầu
tiên con có thể giải thoát đau khổ cho người ta không? Bản thân con cũng bị lây
nhiễm ung thư rồi. Con không có năng lượng và công đức này, con làm sao cứu
người? Họ không hiểu, họ rất đáng thương. Còn có rất nhiều người tu hành chỉ
niệm Kinh, không chịu làm công đức. Như vậy cũng không được. Niệm Kinh đến sau
này tự mình niệm tốt rồi, không muốn giúp đỡ người khác. Sư phụ bây giờ dạy các
con không những phải lý giải, còn phải làm trên hành vi. Các con trong pháp hội
có phải đã làm công đức không? Các con mỗi người đều làm chưa? Nhưng khi làm
không được có tư tâm (lòng riêng), nếu không sẽ khiến các con tổn công lụy đức
(tổn hại công đức). Lại như các con ở bên ngoài làm ăn là việc của các con, nếu
các con chạy đến Quan Âm Đường đối với người sùng kính Bồ Tát đến tu tâm, kéo
họ vào trong việc làm ăn của các con, con chính là phạm nghiệp. Nghe có hiểu
không? Là có nghiệp chướng đấy, sau này sẽ có báo ứng. Lý giải và hành vi cùng
đi, thì bằng sức mạnh. Các con muốn sức mạnh không? Vậy hãy lý giải cho tốt, tu
hành cho tốt.
Sư
phụ nói cho các con, tham tâm phải đoạn tận (cắt đứt hoàn toàn). Tôi tham, tôi
muốn cái này tôi muốn cái kia, tôi hôm nay có cái này, tôi ngày mai còn muốn
cái kia. Con muốn cái này con muốn cái kia, đến cuối cùng con chẳng có gì cả.
Con có cái gì? Con trần truồng mà đến, con trần truồng mà về, chỉ còn lại một
đống xương trắng. Cho dù con có tiền, con có thể mang đi không? Cho nên phải
đoạn tận phiền não và tham tâm. Phiền não, là chướng ngại rất lớn cho con
người, bắt buộc phải khắc phục nó. Phiền não đến, dùng Trí tuệ; Tham tâm đến, dùng
Bố thí. Con càng bố thí, con càng không tham. Sư phụ sống ở nhân gian thích
không ngừng tặng quà cho chúng sinh. Bất kể ai đến chỗ Sư phụ, Sư phụ đều sẽ để
họ vui vẻ ra về, như vậy là để họ học Phật, học bố thí, học Pháp tốt hơn, những
cái này đều là công đức. Phải Xả (cho đi) đấy! Sư phụ bây giờ dùng phương pháp
này cứu người, độ người. Dĩ thân thuyết pháp (Lấy thân mình thuyết pháp). Con
người rất đáng thương, không có trí tuệ mới tham. Chỉ niệm Kinh không tu tâm sẽ
không có trí tuệ. Sư phụ muốn mỗi đồ đệ các con đều giúp đỡ lẫn nhau, yêu
thương lẫn nhau, biết bố thí, giống như anh chị em vậy.
Tâm
lực chính là Định lực. Một người nhất định phải có tâm lực. Tâm lực là gì?
Chính là trong lòng phải có sức mạnh. Trong lòng không có sức mạnh, người này
sẽ không định lại được. Sư phụ nhắc đi nhắc lại với các con một câu: Tu tâm là
tuyệt đối thuần khiết, không có một ly một lai vết nhơ; bất kỳ sự tu tâm, tu vi
nào mang theo tư tâm tạp niệm, toàn bộ uổng phí hoặc công đức hữu lậu (bị rò
rỉ). Trong pháp hội Sư phụ giảng mệt như vậy, bị thính giả vây quanh người cũng
mềm nhũn ra. Mỗi lần xem Đồ đằng hoặc khai thị xong, tại sao Sư phụ phải đứng ở
đó? Chính là để cho mọi người một cơ hội, chính là muốn áp sát cứu người (tiếp
cận gần nhất để cứu), chính là muốn tiếp cận thính giả như vậy, chính là muốn
cứu khổ cứu nạn như vậy! Quan Thế Âm Bồ Tát để Sư phụ làm sứ giả của Ngài đến
cứu mọi người, Sư phụ có thể trốn ra phía sau không? Sư phụ có thể giống như
rất nhiều diễn giả lớn, giảng xong vỗ tay cái là bỏ đi? Ra vẻ cái gì chứ? Phật
pháp chính là ở nhân gian, phải để họ cảm nhận được Bồ Tát chính là ở nhân
gian. Con phải để họ có hy vọng, con phải để họ tin tưởng thế giới này thực sự
có Bồ Tát! Bởi vì họ không nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát, cho nên Bồ Tát mới để
Sư phụ hiển hóa cho mọi người xem. Các con còn đem Sư phụ giấu đi. Sư phụ bây
giờ ngay cả mạng cũng không cần đang cứu người, hy vọng các con có thể hiểu,
nếu không sau này các con sẽ hối hận. Phải hiểu không biết yêu quý Sư phụ chính
là không yêu quý chúng sinh. Các con phải bố thí thời gian cứu người ra, phải
liều mạng đi làm. Giúp đỡ người ta phải giúp từ trong tâm. Các con không có
pháp lực, không có năng lực, thì giúp người ta khai ngộ nhiều hơn, khuyên chúng
sinh niệm Kinh nhiều hơn.
Các
con biết không, trí tuệ thực tế là một đám ánh sáng trên đầu. Nếu đám ánh sáng
này tan đi, người này không còn trí tuệ nữa; đám ánh sáng này tụ lại, người này
rất có trí tuệ. Loại trí tuệ này cần rất nhiều trí tuệ hợp lại với nhau mới
hình thành hình dạng này, giống như Linh tính Sư phụ nói với các con vậy. Ví dụ
giết một con muỗi là một điểm, giết thêm một con muỗi nữa là một điểm, nếu giết
một đống muỗi, linh tính của muỗi hợp lại với nhau chính là một linh tính lớn,
chuyển thế nữa có thể biến thành lợn, gà v.v. Một con lợn phải bị giết ba trăm
lần mới có thể đầu thai một con người, chó cũng như vậy bị giết bao nhiêu lần
mới có thể đầu thai người. Đây gọi là Lũy kiếp. Cho nên phải để ánh sáng trí
tuệ tụ tập lại mới trở thành trí tuệ. Người không có trí tuệ trên người không có
ánh sáng (hào quang). Các con xem, bức tranh Bồ Tát nào trên đầu không có hào
quang? Tượng Thần nào không có hào quang? Các con xem Chúa Jesus trên đầu có
hào quang không? Các con phải học cho tốt. Con người hễ lo lắng, đám ánh sáng
này sẽ tan ra. Con người hễ nóng nảy, đám ánh sáng trí tuệ này sẽ mất. Đừng
thường xuyên lo âu. Ưu tắc thiên địa giai trách (Lo âu thì trời đất đều chật
hẹp), oán tắc đáo xử vi cừu (oán trách thì đi đâu cũng là thù địch), ai tắc tự
kỷ thúc phược tự kỷ (bi ai thì tự mình trói buộc mình), nộ tắc dẫn lai cừu gia
(giận dữ thì dẫn kẻ thù đến). Người tốt Sư phụ sẽ cứu, người xấu thì không cứu.
Chính là Tế Công Bồ Tát xuống Ngài cũng nói như vậy, trừng ác cứu thiện. Các
con làm đồ đệ phải vì Sư phụ chia sẻ lo âu giải quyết khó khăn, phải cứu người.
Nếu ánh sáng của các con tan đi các con sẽ không có trí tuệ nữa. Ánh sáng của
một người vô cùng quan trọng.
Sư
phụ giảng cho mọi người "Kinh" chúng ta niệm là gì? Thực tế
"Kinh" là Xá lợi tử Pháp thân của Phật, là Kinh văn Pháp thân chiếm
hữu đang phát huy tác dụng trên người con, là vàng óng ánh. Xá lợi tử là một
loại vật chất con người tu luyện thành, trong suốt phát sáng. Sư phụ không phải
nhìn thấy ở nhân gian, Sư phụ nhìn thấy trên trời. Ngoài ra, người không cung
kính với Kinh văn, vứt bỏ Kinh văn lung tung, rất nhiều Bồ Tát đều sẽ thở dài,
gọi là Chư Phật thán tức. Bồ Tát sẽ không trừng phạt con người, chỉ biết thở
dài, "Haizz--". Tiếp theo Hộ pháp thần đến, gọi là Kim Cang nộ mục --
Kim Cang Bồ Tát mắt đều trừng lên rồi. Cho nên nếu các con vứt bỏ Kinh văn lung
tung tuyệt đối là có nghiệp chướng. Các con nghe thấy chưa? Có một kỳ chương
trình, có một thính giả để sách của Sư phụ ở đầu giường, thường xuyên nằm mơ
lên trời.
Các
con phải biết, không tìm thấy Chánh đạo là hại chết người đấy. Nếu các con ở
bên ngoài tu loạn, học loạn, bái sư loạn, về nhà là hại chết người đấy. Hôm nay
có một người tu pháp môn khác đến, lúc đầu rất vênh váo, nói Phật pháp với Sư
phụ. Nói đến cuối cùng, anh ta nói: "Lư Đài trưởng, tôi phục ông rồi, tôi
muốn học tập nghiêm túc với ông." Sư phụ nói, học với ai cũng giống nhau.
Anh ta ở nhà có thể bị vợ đánh, trên người chỗ xanh chỗ tím. Sư phụ nói với anh
ta: Học Phật cũng giống như khám bác sĩ, cầu y phải cầu một bác sĩ vừa vặn phù
hợp với bệnh tình của con. Bác sĩ đều là tốt, có người là bác sĩ lâu năm rất
nổi tiếng, nhưng ông ấy là khám tim mạch, con là gãy xương, không đúng đường
(lệch pha). Nghe có hiểu không? Học Phật phải tìm pháp môn phù hợp nhất với
mình để học mới có thể thực sự cứu độ chính mình. Các con là người sống, cảm
xúc ngày ngày đều sẽ thay đổi, phải uốn nắn cái tâm này của mình cho tốt. Các
con đều nhớ kỹ cho Sư phụ: Người không tu tử tế, Sư phụ sẽ không cần. Phải để
mọi người đều nói "Đồ đệ ai nấy đều tốt" Sư phụ mới vui. Nếu các con bây
giờ tốt, người ta sẽ không lôi nghiệp chướng quá khứ của các con ra nói chuyện;
các con bây giờ không tốt, người ta sẽ lôi cả vốn lẫn lãi quá khứ của con ra
nói một thể. Các con ai quá khứ không có một đoạn lịch sử thiện ác? Cho nên
phải Chân tu. Làm công đức phải âm thầm lặng lẽ, thận trọng cẩn thận (căng căng
nghiệp nghiệp).
30. Nhẫn nhục mới có thể Tinh tấn
Sư
phụ từng nói với mọi người, năm Dần năm mới vừa qua có rất nhiều vấn đề. Tại
sao? Đây gọi là Thiên thời. Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa thực tế chính là nói
Thiên Địa Nhân. Đồ đằng của Hổ rất hung dữ, cho nên rất nhiều đàn ông và phụ nữ
tuổi Hổ mệnh căn (gốc mạng) đều rất cứng. Năm Dần nhân loại sẽ có rất nhiều rắc
rối. Sư phụ mấy buổi học trước đã giảng những vấn đề này rồi. Nhưng con người
chúng ta phải nhẫn nại trong môi trường xấu (ác hoàn cảnh), phải tu cho tốt.
Thiên thời bất kể yếu tố con người tiếp tục đi về phía trước, khi luân hồi đến
một năm tốt, mọi người đều vui vẻ; luân đến một năm không tốt, mọi người đều
không vui. Rất nhiều người trong chương trình hỏi Sư phụ: "Lư Đài trưởng,
sống ở một nơi xui xẻo, mỗi người đều xui xẻo sao?" Cơ bản là như vậy.
"Vậy người cùng tuổi (cầm tinh), họ có phải có cùng vận mệnh không?"
Cơ bản là vậy, chỉ có điều có vấn đề tỷ lệ phần trăm. Động đất Tứ Xuyên Văn
Xuyên mấy trăm ngàn người chết, nhưng cũng có rất nhiều người may mắn sống sót,
ngay tại nơi xui xẻo này. Cùng là người các loại cầm tinh, con đi xem xem, rất
nhiều người cầm tinh con giáp không tốt mệnh sẽ khổ hơn một chút. Đây là chuyện
không có cách nào. Tuy bây giờ y học tiên tiến, không muốn sinh con tuổi không
tốt có thể sinh mổ, còn có thể chọn giờ. Các con tưởng rằng có thể thay đổi vận
mệnh tổng thể của nó sao? Thực tế cho dù sinh mổ sinh sớm thay đổi con giáp,
nhưng người này vẫn là mệnh khá khổ. Trong này có vấn đề giờ giấc (thời thần),
cũng có vấn đề tội nghiệp quá khứ của linh tính, Đài trưởng chỉ là lấy một ví
dụ. Các con phải tu cho tốt.
Tướng
mạo của một người rất quan trọng. Mọi người xem, trong các đồ đệ của Sư phụ
trước đây tu tâm tu càng ngày càng lương thiện, người này liền càng ngày càng
tốt. Tu không tốt, tướng mặt sẽ thay đổi. Sư phụ nói cho các con: Tu tâm bổ
tướng, tướng tùy tâm biến. Rất đơn giản. Người xấu là tướng xấu, người tốt là
tướng tốt. Có hai trường hợp không thể phán đoán chắc chắn: Một loại là vốn dĩ
là người xấu, nhưng họ bắt đầu học Phật rồi, bắt đầu tốt rồi, mặt họ vẫn chưa
hoàn toàn biến thành tốt. Con nhìn họ là cái mặt xấu, thực ra người ta đã bắt
đầu biến thành tốt rồi. Còn có một loại người họ là mặt người tốt, nhưng họ bắt
đầu biến thành xấu, mặt họ vẫn chưa hoàn toàn biến thành xấu, lúc này họ dễ mê
hoặc người ta nhất, họ liền lợi dụng cái mặt sạch sẽ này của họ đi lừa người
ta. Cho nên Tướng của con người rất quan trọng. Người thực sự hiểu đạo lý phải
học cách xem tướng. Lấy ví dụ: Một người mỗi ngày có ba tiếng đồng hồ lo âu,
một năm trôi qua họ có bao nhiêu tiếng lo âu? Nhìn thoáng qua mặt họ chính là
một khuôn mặt ưu sầu. Người ngày ngày mắng người, nhìn một cái là một khuôn mặt
mắng người. Tướng tùy tâm biến. Người lương tâm tốt, tướng cũng biến thành tốt;
người lương tâm không tốt, tướng cũng không tốt.
Rất
nhiều đồ đệ các con tu đến sau này đều biết xem tướng. Người phụ nữ này bước
vào, người đàn ông này bước vào, con xem dáng vẻ của họ giống người tốt hay
người xấu. Sư phụ không dạy các con cái này là sợ các con có tâm phân biệt, khi
đi cứu người vì tướng của họ kém một chút, khó coi một chút con liền không đi
cứu họ nữa, con liền mất đi cơ hội cứu họ. Đừng lấy tướng đi nhìn người, phải
thực thực tại tại nhìn bản tính của người ta thế nào. Sư phụ bây giờ dạy các
con là phải nhìn Lòng người, chứ không phải nhìn Tướng người. Vừa qua năm mới,
rất nhiều chuyện sắp xảy ra, rắc rối xuất hiện. Tai nạn này, rắc rối kia chuẩn
hay không, không cần Sư phụ nói; linh hay không, cũng không cần Sư phụ nói. Các
con tự lo lấy thân (hảo tự vi chi). Sư phụ nhắc đi nhắc lại với các con, Thiên
thời không đúng rồi, lòng người quá ác. Bây giờ cứu người chỉ có thể nhanh, hơn
nữa phải bỏ ra nhiều (trả giá nhiều), không thể giống như quá khứ nữa.
Con
muốn tiến bộ, con bắt buộc phải xả bỏ rất nhiều thứ; con nếu không thể xả bỏ
rất nhiều thứ, con tiến bộ chậm, con có sự kéo lôi (trì trệ), tinh tấn tu tâm
sẽ chậm. Lấy ví dụ: Con muốn thi vào đại học, con phải ngủ ít đi. Tu tâm cũng
như vậy. Con không bỏ ra, con làm sao có thể tiến bộ. Mỗi năm Sư phụ đem toàn
bộ tinh lực đặt vào việc tu tâm cứu người, cho đến hôm nay. Sư phụ mỗi ngày làm
việc, mỗi ngày giảng, có bao nhiêu người đau lòng cho Sư phụ, còn có bao nhiêu
người nói, "Ngài đừng đi cứu người như thế nữa. Ngài sức khỏe không tốt,
cơm cũng không được ăn tử tế, Ngài cứu người thế nào?" Nếu một người tu
sớm một chút, đến tuổi già nợ đều trả hết rồi sẽ không sinh bệnh đau khổ nữa.
Một người muốn tốt, thực sự vì người nhà tốt, thì đừng chỉ nhìn thấy chút lợi
ích nhỏ trước mắt. Hòa thượng, ni cô khi xuất gia đều từng hứa đại nguyện, đều
có tinh thần hy sinh đại vô úy, họ đều là vứt bỏ gia đình và rất nhiều thứ. Tại
sao Pháp sư Tịnh Không nhận được sự tôn trọng của nhiều người như vậy. Ngài vốn
dĩ cũng có gia đình, xem xem Ngài bây giờ cái gì cũng không có, chính là một vị
đại hòa thượng. Ngài đem tiền cúng dường của người khác quyên cho người cần
giúp đỡ hơn. Người nào muốn cứu độ chúng sinh mà không cần bỏ ra chứ? Không bỏ
ra, gọi là Con người. Con bỏ ra rồi, con nhận được, chính là Bồ Tát. Nhưng phải
nhớ, con bỏ ra phải đúng đường, bỏ ra không đúng đường thì vô dụng. Trước đây
Sư phụ đều là đi sớm về khuya làm công tác hội đoàn, nhận được đều là hư danh,
lợi ích nhận được toàn là giả. Bây giờ Sư phụ cứu người, vui lắm. Sư phụ cứ đến
lúc làm chương trình là hưng phấn lên. Nhìn thấy các con những "hiền
đồ" này, Sư phụ cũng rất vui. Nhà ai cũng có đau khổ, nhưng chỉ có thể nén
đau khổ xuống trước, vì một mục đích nào đó mà làm. Trước đây rất nhiều thanh
niên nông thôn ban ngày xuống ruộng làm việc, buổi tối làm bài tập, đến cuối
cùng thi đỗ đại học đi rồi. Tuy họ những năm đó đau khổ vô cùng, nhưng họ có sở
đắc (có cái đạt được), hơn nữa thành công rồi. Bao nhiêu người xông pha trận
mạc lấy tính mạng đổi lấy quan vị của họ, cuối cùng lại lấy danh dự và địa vị
của mình vào tù. Tất cả mọi thứ của đời người toàn bộ là do tự mình làm ra.
Chính phản đều giống nhau, đâu có chuyện không bỏ ra (trả giá)?
Bồ
Tát nói, Nhân đạo là Phiền não đạo. Con khi đầu thai khóc oa oa đến nhân gian,
phiền não liền bắt đầu, mãi đến khi chết. Ai có thể thoát ly phiền não? Đợi con
tôi lớn rồi, tôi sẽ thế này thế kia; đợi tôi có việc làm rồi, tôi thế này; đợi
tôi kết hôn rồi, tôi thế này; đợi tôi bình yên một chút, tôi thế này... Các con
nói cho tôi biết, ngày nào các con sẽ bình yên? Vừa mới cái gì cũng tốt lên một
chút, tiếp theo sức khỏe lại không tốt. Con cái vừa lớn một chút, có thể thở
phào nhẹ nhõm rồi, tiếp theo thì sao, con cái lại phải thi học hành rồi. Con
ngày nào bận cho xong? Đợi đến khi biến thành bà lão sắp chết, con còn phải
giúp trông cháu. Bao nhiêu người già đến Úc nhìn mặt con trai con dâu ăn cơm,
cuối cùng còn phải trông cháu. Cả đời người bận không hết. Cả đời người lao cực
(vất vả), cả đời khổ. Hôm nay vận tình cảm không tốt, ngày mai trong nhà làm
loạn, ngày kia không có tiền bị người ta kiện, ngày nào con người sẽ bình an.
Chúng ta sống trong một thế giới như thế nào. Còn có người nói với Sư phụ, kiếp
sau còn muốn đầu thai làm người. Nói kiếp này người nghèo, nói kiếp sau có thể
đầu thai vào một nhà có tiền là được rồi. Vẫn là không khai ngộ.
Các
con là đồ đệ của Sư phụ cũng vậy, là học sinh dự thính của Sư phụ cũng vậy, yêu
cầu của Sư phụ đối với các con là tương đối nghiêm khắc. Các con toàn bộ không
tu cũng không sao, không được tổn hại một chút công đức nào của Sư phụ, là các
con mất đi cơ hội. Một người trưởng thành bắt buộc phải nói đạo lý. Đạo lý
không phải đánh mà ra, cũng không phải nói ra trong miệng, đạo lý nằm trong
trái tim thành thật của con. Có đạo lý gì để nói? Miệng nói hoa rơi tán loạn
cũng vô dụng, người thực sự lương thiện dùng trái tim thành thật để lý giải đạo
lý, đó mới gọi là chân lý.
Sư
phụ hôm nay giảng cho các con Nhất thiết pháp (Tất cả pháp). Nếu chúng ta tu
tâm tu pháp, học Phật pháp, muốn thành công phải dựa vào Nhẫn nại. Một người có
thể Nhẫn mới có thể thành công. Nếu con không có nhẫn nại, con sống trên thế
giới này con làm cái gì cũng không thành công. Hôm nay con nghĩ không thông,
tôi ngày mai lại nói chuyện với con, ngày mai con nghĩ không thông, tôi ngày
kia lại nói chuyện với con. Năm xưa trong chiến tranh giải phóng Trung Quốc,
rất nhiều nơi để tránh cho dân chúng gặp tai ương đã tự động đầu hàng. Rất
nhiều tướng lĩnh để bảo vệ dân chúng không bị bom đạn tàn phá, rất nhiều nhân
viên ngầm hôm nay đi đàm phán, ngày mai đi đàm phán, ngày kia lại đi đàm phán,
đàm phán mãi đến khi đối phương không còn ngoan cố kháng cự, nguyện ý hòa bình
giải phóng, như vậy thương vong của dân chúng giảm đi rất nhiều, những tướng
quan này cũng tránh được tai họa, những công tác khuyên giải này mới có thể
thành công. Cho nên phải có kiên nhẫn, không ngừng nói, không ngừng giải thích,
không ngừng giao tiếp, điều này rất quan trọng.
Mọi
người biết đấy, Bồ Tát thường xuyên giảng cho chúng ta Lục Độ. Trong Lục Độ có
một Độ rất quan trọng, gọi là Nhẫn nhục. Hôm nay Sư phụ lấy Nhẫn nhục ra giảng,
có một số đồ đệ chính là không thể nhẫn nại. Việc nhỏ không nhẫn ắt làm hỏng
việc lớn. Khi Bồ Tát giảng Lục Độ đặc biệt nhấn mạnh lại một vấn đề chính là
phải Nhẫn nại. Bồ Tát giảng là Bố thí và Nhẫn nhục. Nhất định phải hiểu Bố thí
và Nhẫn nhục. Then chốt của thành bại trong tu tâm nằm ở Nhẫn nhục. Nhưng Bồ
Tát chân chính coi nhẫn nhục không phải là nhẫn nhục, tu đến cuối cùng trở
thành tự nhiên không cảm thấy mình đang nhẫn nhục. Nếu cảm thấy mình vẫn đang
nhẫn nhục, đó gọi là Trước tướng. Nhẫn nhục thực sự là không coi nó là nhẫn
nhục nữa, tức phi nhục (đã không phải nhục), hà lai nhẫn (sao phải nhẫn)? Người
có thể nhẫn nhục mới có thể Tinh tấn. Nếu không thể nhẫn nhục thì không tinh
tấn được.
Tiếp
theo, Sư phụ nói cho các con biết Nhẫn nhục có ba loại lớn. Hôm nay các con đều
là đồ đệ của Sư phụ, yêu cầu của Sư phụ đối với các con vô cùng cao, không cho
phép trong tư duy của các con có một ly một lai tạp niệm. Một người tu tốt hay
tu xấu không phải tự con có thể kiểm soát. Bởi vì con không phải bác sĩ, con
hoàn toàn không biết mình mắc bệnh gì. Sư phụ giúp các con chỉ ra tật xấu, chỉ
ra khuyết điểm, chính là để các con biết sửa như thế nào. Sư phụ mỗi ngày, mỗi
ngày, mỗi giờ đều đang uốn nắn tật xấu trên người các con, không dễ dàng đâu.
Sư phụ đã nói, chỉ cần người muốn học Phật, Sư phụ nhất định sẽ quan tâm. Nhà
nhà có bản Kinh khó niệm, hãy niệm bản Kinh này cho tốt, tùy duyên. Chẳng lẽ
người ngồi ở đây không cãi nhau, trong lòng không có khí (tức giận) sao? Chẳng
lẽ người ngồi ở đây không mắng người, trong lòng không muốn mắng người sao?
Nhất định phải triệt để thay đổi tập tính của bản thân, quy y Phật pháp.
Phải nhớ người học Phật không giống người ta, con bắt buộc phải
nhẫn nại, nếu không thì không phải người học Phật. Muốn làm gì thì làm, không
nhẫn nại được là ý chí không kiên, Phật tánh không mạnh, tu rất kém, nhìn không
thấu. Lời người ta mắng con, tai nghe vào hết sẽ khởi sân niệm. Sư phụ dạy đi
dạy lại các con Chướng Nhĩ Pháp (pháp che tai), đừng để tai nghe thấy. Ở nhân
gian cái gì cũng không nghe thấy chẳng phải rất tốt sao? Muốn nghe thấy làm gì?
Nghe thấy rồi, nhìn thấy rồi sẽ sinh ra phiền não. Mũi ngửi thấy sẽ sinh phiền
não, miệng nói chuyện sẽ sinh phiền não. Phiền não đều là do tự mình làm ra.
Chuyện gì có thể ảnh hưởng tôi tu tâm, niệm Kinh chứ? Nhận chuẩn một con đường,
tu tiếp cho tốt, tu đến sau này Bồ Tát đều sẽ phù hộ con, cho con khai trí tuệ,
cho con công việc thuận lợi, cho con cái gì cũng tốt. Tu tâm giống như gieo
nhân. Nếu nhân gieo không tốt, con mới có cái ác quả này. Tại sao tôi trồng dưa
hấu không ra? Tự con đi tra nguyên nhân xem. Người ta sao lại trồng ra dưa hấu?
Tại sao dạ dày đường ruột người ta rất tốt, dạ dày đường ruột con không tốt?
Chính là vì con ăn uống lung tung. Tại sao người ta đều hận con? Chính là vì
con nói năng lung tung, mắng chửi lung tung.
31. Từ nhẫn nhục bắt đầu chuyển cảnh giới
Nhẫn
nại chia làm ba loại. Loại thứ nhất là sự gia hại của con người phải biết nhẫn
chịu. Đối với những lời đặt điều của người khác, phải nhẫn nại sự gia hại, sỉ
nhục của người ta đối với con. Người ta nói con không tốt, hãy cắn răng, đừng
tin, đừng đi chịu đựng. Chịu đựng sự gia hại của người khác đối với con, thực
tế là có lỗi với chính mình. Rõ ràng người này nói những lời sỉ nhục con, những
lời không tốt với con, con nghe lọt tai rồi, chẳng phải con đang gia hại chính
mình sao? Các bạn trẻ phải nhớ, vợ chồng trẻ cãi nhau mắng vài câu, đừng nghe
lọt tai. Có gì mà hay ho đâu? Sư phụ nói đi nói lại với các con, nghe lọt tai
chính là phiền não. Phật pháp tốt như vậy, ngôn ngữ trí tuệ nhân gian tốt như
vậy, tại sao các con không dùng vào cuộc sống? Cho dù các con học sống (học
thuộc) rồi cũng không thể dùng sống (vận dụng linh hoạt).
Sau
khi nhẫn nại sẽ đắc được tâm thanh tịnh, dễ dàng đắc Định. Bởi vì sau khi con
nhẫn nại, con liền định lại rồi. Ví dụ vợ chồng cãi nhau, vừa nhẫn nại tâm liền
định lại. Bởi vì con không cãi với anh ấy, anh ấy nói con thế nào con cũng
không nghĩ, con là Định. Anh ấy là đang nhảy dựng lên. Không thể nhẫn nại sẽ
nhảy dựng lên, nhảy dựng lên rồi sẽ có hậu quả. Tu đạo có thể thành, dựa vào
chính là nhẫn nại. Có thể nhẫn nại sẽ nhận được phúc báo lớn nhất. Sư phụ kể
một phúc báo nhỏ cho các con nghe: Trên xe buýt người đông đúc, một người đàn
ông giẫm vào chân một người phụ nữ, đáng lẽ bị người ta mắng chứ gì. Người phụ
nữ không ngừng kể lể mắng mỏ người đàn ông, người đàn ông liên tục nói
"Xin lỗi", người phụ nữ vẫn không buông tha. Lúc này hành khách bên
cạnh lên tiếng: "Cái cô này sao lại như vậy, người ta đã nói xin lỗi rồi,
cô vẫn không buông tha người ta." Mọi người đều nói người phụ nữ không
tốt, người đàn ông chính là nhận được phúc báo rồi. Vốn dĩ là việc anh ta sai,
bây giờ anh ta nhận được phúc báo rồi. Cho nên chúng ta đắc lý phải nhường
người (có lý cũng phải nhường người), người có lý mà không nhường người là
không được lòng người. Có đạo lý càng phải khiêm nhường người ta, không có đạo
lý cũng phải nhường người ta.
Thứ
hai, nhẫn nại phải có thể nhẫn sự biến hóa của tự nhiên. Biến hóa của tự nhiên
là gì? Biến hóa của khí hậu, trời lạnh rồi, trời nóng rồi không thể nhẫn nại,
đây cũng là tu chưa tốt. Hòa thượng, ni cô khi ngồi thiền không ai cảm thấy
lạnh mà đứng dậy mặc áo cả. Các con làm được không? Còn phải nhẫn nại khát
nước, khô miệng, còn phải nhẫn nại thiên tai. Thiên tai đến, nhà không còn, có
người không nhẫn nại nổi liền tự sát. Có một nhà đối diện là một nhà máy, máy
móc mở từ 8 giờ sáng đến 5 giờ chiều, tiếng ồn rất lớn, thực sự không thể nhẫn
nại nổi liền tự sát. Đây chính là kết quả của việc không thể nhẫn nại. Con
người phải trải qua đủ loại nhẫn nại. Bây giờ các đồ đệ ngồi ở đây, thành thành
thật thật, quy quy củ củ, Sư phụ nhìn thấy rất tốt, các con là đang nghe Phật
pháp đấy. Nếu chốc lát khát nước, chốc lát lại có việc khác, cái này chính là
không thể nhẫn nại. Các con biết sự kiên nhẫn của hòa thượng được tu luyện như
thế nào không? Các con từng xem Thiếu Lâm Tự chứ, gánh nước đứng đó không được
cử động, những cái này đều là sự tu luyện nhẫn nại đối với xác thịt của con.
Còn có nhẫn nại về tinh thần. Thực tế những vị pháp sư, đại hòa thượng đó mắng
con, nói con, không phải là hung dữ đâu, ngài ấy là để con có thể chấp nhận một
sự biến hóa của môi trường tự nhiên, là cho con một loại cảnh giới, để sau khi
con có thể nhẫn nại con mới có thể định lại được.
Con
người không thể nhẫn nại mới tức giận. Người ta bắt nạt con, sỉ nhục con, lừa
gạt con, cắn răng nhẫn nại một chút sẽ có định lực. Con ngồi không yên, tức
giận rồi, đi kiểm tra, cơ thể xảy ra vấn đề. Phải nhớ: Cắn chặt răng, nóng lạnh
của môi trường tự nhiên, môi trường bên ngoài tôi đều phải có thể nhẫn nại, bạn
mắng tôi tôi cũng phải có thể nhẫn nại. Rất nhiều người trẻ tại sao cãi nhau
trong nhà? Chính là vì không thể nhẫn nại. Khi có người mắng con, con tạm thời
coi cô ấy là người điên cũng không sao cả. Như vậy con tạm thời sẽ không tức
giận, sau đó lại dùng Phật pháp để hóa giải. Ý của Sư phụ là, đừng đem môi
trường bên ngoài đưa vào trong nội tâm của mình. Bây giờ bất kể đối với ai cũng
phải như vậy, đừng nói. Con dùng chân tâm để tu, con có thể quên đi tất cả
phiền não trên thế giới. Nếu con coi thế giới giả là thật, con mới không thể
quên đi. Ở nhân gian này con có thể viên mãn không? Từ nhỏ đến lớn, các con có
việc nào là viên mãn tròn đầy? Ở nhân gian con mãi mãi sẽ có sự tiếc nuối để
lại cho nhân gian.
Trong
cái đạo Nhân đạo này vốn dĩ không có chuyện viên mãn. Tại sao? Lấy ví dụ:
"Đại hội kết thúc viên mãn" thực tế đây là sự viên mãn ngắn ngủi, đối
với cả cuộc đời con mà nói con vẫn là không viên mãn. Hiểu chưa? Có những người
trên bục diễn thuyết vẫy tay chào hàng vạn người, nói ra đạo lý rõ ràng, về đến
nhà bị vợ tát tai, có tính là viên mãn không? Sư phụ nói cho các con, đời người
không có viên mãn. Viên mãn là lúc ra đi, đó mới thực sự gọi là viên mãn. Bởi
vì ở nơi Nhân đạo này tôi đã đặt dấu chấm hết, tôi đi rồi, tôi lên trời rồi. Sư
phụ giảng cho các con rất nhiều, Sư phụ không thể thường xuyên tức giận. Hiểu
chưa? Các con cũng không thể thường xuyên tức giận. Thường xuyên tức giận thì
nơi các con đi sau này sẽ không tốt.
Sư
phụ rất trân trọng tình cảm. Sư phụ đôi khi phát chút bực dọc, nói với đồ đệ.
Nhìn thấy các con thực sự quá kém, Sư phụ trong lòng cũng buồn bực, nói hết rồi
thì thôi. Sư phụ thường nghĩ mình có lỗi với rất nhiều người, bởi vì Sư phụ
không cứu được họ. Sư phụ thường nhớ lại một số bạn học, bạn bè trong quá khứ,
họ rõ ràng rất có Phật căn, nhưng lúc đó Sư phụ chưa có thần lực lớn như vậy,
Sư phụ chưa có Quan Thế Âm Bồ Tát dựa thân. Nếu bây giờ họ ở cùng Sư phụ, thì
hoàn toàn khác rồi, Sư phụ nhất định sẽ cứu họ. Một người phải có lương tâm,
phải hiểu đạo lý, phải chịu bỏ ra (hy sinh/cống hiến). Thế giới này không bao
giờ có bữa tiệc không tàn.
Thứ
ba, tu tâm, tu Phật cũng phải nhẫn nại. Thành công bất cứ lúc nào cũng không
muộn, chỉ cần tu cho tốt. Các con ngồi ở đây có phải đang nghe không? Khó chịu
không? Muốn đứng lên động đậy một chút, không được động, cái này gọi là nhẫn
nại không? Ngồi thời gian lâu rồi, có muốn uống nước không? Đôi khi nghe Sư phụ
nói một câu mình nhịn không nổi nữa, có phải mình cũng muốn nói một chút? Sư
phụ nói đồ đệ nói sai cũng có đấy, con xem đồ đệ có tức giận không. Cho dù Sư
phụ nói sai, con đã bái sư như vậy, trong lòng cho dù không có chuyện này cũng
phải nghĩ đến: "Đúng vậy, mình phải cẩn thận." Đó mới gọi là có Tu.
Hễ động một chút là nói lý với người ta, hễ động một chút là cãi lại, hễ động
một chút là nói người ta nói sai, đây chính là không Tu. Các con tu tâm chính
là phải tu bỏ những thói xấu trên người mình đi. Có gì mà giải thích? Nhân gian
này toàn là hư không, là âm dương ngũ hành giả hợp mà thành, cái gì cũng sẽ qua
đi. Cho dù Sư phụ hôm nay nói con nói sai, con hãy học nhẫn nhục. Sư phụ có đi
nói tất cả thính giả đài phát thanh không? Sư phụ sẽ không nói, Sư phụ cũng
không muốn đi nói, bởi vì rất nhiều người trong số họ vẫn chưa tu.
Mọi
người đến chính là muốn tu cho tốt, tu đến một mức độ nhất định có thể làm cho
gia đình tốt lên, gia đình tốt lên con chẳng phải cũng tốt lên sao? Tu tâm khổ
lắm, cũng phải nhẫn nhục. Rất nhiều ông chồng nói "Em đừng đi nữa, nghe
cái gì chứ? Có tác dụng gì đâu?" Anh ta tạo khẩu nghiệp rồi, con có cần
nhẫn nhục không? Nhẫn nhục chính là phải nhẫn cái nhục toàn phương diện. Ví dụ
khó khăn gặp phải trong tu Phật, người ta nói con, mắng con... người ta nói con
không tốt, con đều phải nhẫn nại. Trong lòng con biết tôi có đạo lý, có Quan
Thế Âm Bồ Tát cứu tôi, tôi đã nhận được lợi ích rồi, tôi tốt rồi. Người ta nói
lời xấu con cũng đừng cãi lại, con phải nhẫn nại. Một số người trong các con, chồng
chưa khai ngộ, vợ chưa khai ngộ, đây gọi là Quả. Bởi vì Nhân các con gieo không
tốt, bởi vì lời nói cử chỉ của bản thân không giống một người tu tâm tu Phật,
khiến họ không tin các con sẽ tu tốt. Người khác sẽ từ trên người các con mà
nhìn ra, hóa ra học Phật chính là cái dạng này à. Rất nhiều người khi cãi nhau
sẽ nói: "Cô là người học Phật, còn niệm kinh đấy, cô suốt ngày mắng
tôi." Rất nhiều người đàn ông tu tâm, vợ sẽ nói "Anh đừng như vậy,
anh là người tu tâm mà." Chồng vừa nghe, đúng rồi, tôi không thể như vậy,
bởi vì tôi là người học Phật.
Con
người phải tự kỷ luật, phải tu cho tốt. Tu tâm phải nhẫn nại. Nếu trước khi con
đạt được pháp hỷ (niềm vui trong pháp), con rất mê mang, con rất đau khổ. Thế
nào là pháp hỷ? Ví dụ cầu một việc, sức khỏe tốt rồi, tinh thần tốt rồi, tìm
được việc làm rồi, đây gọi là pháp hỷ. Giống như con lái xe vậy, hôm nay tôi
muốn lái đến Canberra, nhưng tôi không tìm thấy phương hướng. Tu tâm cũng như
vậy, tại sao tôi niệm Kinh không linh? Là tu tâm chưa đến nơi đến chốn. Giống
như không tìm thấy phương hướng? Nhưng nếu con có thể nhẫn nại, tìm được con
đường này rồi, lên đường cao tốc đi Canberra rồi, con còn có chướng ngại không?
Trước khi tìm thấy con đường lớn này là đau khổ nhất. Cho nên khi các con mới
bắt đầu tu tâm, lại không có lòng tin, không biết có được không, thử xem sao,
chính là vẫn chưa tìm thấy con đường. Niệm Kinh, thắp hương không linh, bởi vì
con không có lòng tin, con sẽ mãi mãi không tìm thấy con đường quang minh này,
con sẽ mãi mãi không thể thuận theo con đường quang minh này tiến về phía trước
mà không có chướng ngại. Những ví dụ Sư phụ nói đều có đạo lý cả. Tu tâm chính
là như vậy, khổ trước sướng sau. Phải bỏ ra (trả giá). Người có thể nhẫn nhục
mới có thể học Phật thành công. Người không thể nhẫn nại không thể tinh tấn.
32. Đời người mê mang, Pháp môn chánh tín
Chúng
ta đôi khi sẽ mê mang, đối diện với nhiều tông phái, tôn giáo như vậy, chúng ta
rốt cuộc học cái gì? Hôm nay người ta nói pháp môn này tốt, liền đi học cái
này; ngày mai người ta nói pháp môn kia tốt, liền đi học cái kia. Trước khi
pháp môn này của Sư phụ ra đời, rất nhiều người đã học pháp môn khác rồi. Tiếp
theo Sư phụ giảng cho mọi người, con rốt cuộc học pháp môn nào? Con rốt cuộc
muốn học cái gì? Nếu muốn phân biệt con học pháp môn nào, tông phái này tốt hay
không, trước tiên phụ thuộc vào thiện căn và phúc đức của chính con. Người có
phúc người có thiện căn mới gặp được Pháp môn Tâm Linh. Sư phụ bây giờ dạy các
con tu hành tại gia, vừa có thể chăm sóc gia đình lại có thể tu hành, tương lai
còn có thể lên Tây Phương Cực Lạc thế giới hoặc Tứ Thánh Đạo, đây là pháp môn
tốt biết bao. Kỳ thực con người rất đáng thương. Một người nghĩ không thông sẽ
rất buồn bã, bởi vì các con hễ mê hoặc điên đảo, gặp nhiều chuyện sẽ nghĩ không
thông, liền buồn bã. Thực ra chúng ta sống ở nhân gian có gì mà nghĩ không
thông? Sư phụ luôn nói với các con buông bỏ, buông bỏ. Buông không được thì
phải dùng sức mạnh của Quan Thế Âm Bồ Tát giúp các con buông bỏ.
Thứ
hai, phải nhân duyên cụ túc (đầy đủ). Nghĩa là các con và Sư phụ phải có cái
nhân duyên này. Rất nhiều người sẽ mơ thấy Sư phụ, rất nhiều người nhìn thấy Sư
phụ sẽ khóc, còn có người nhìn thấy Sư phụ rất thân thiết, những cái này đều
gọi là duyên phận. Phải kết thiện duyên. Sư phụ giảng là có lễ có tiết, có nông
có sâu, Phật pháp chính là ở nhân gian. Còn có một yếu tố chính là phụ thuộc
vào sự gia trì của Bồ Tát. Hôm nay các con có thể tìm thấy Sư phụ, tại sao con
lại cảm thấy tốt? Thứ nhất, các con có phúc đức. Thứ hai, các con có thiện căn,
rất lương thiện. Thứ ba, nhân duyên. Các con có duyên phận này với Sư phụ. Sau
khi có những thứ này, phải có sự gia trì của Bồ Tát mới có thiện duyên. Gia trì
của Bồ Tát có hai loại: Một loại là quỳ ở đó cầu Quan Thế Âm Bồ Tát gia trì,
niệm Kinh, tu tâm. Còn một loại các con bây giờ đã nhận được rồi, chính là sự
gia trì của Sư phụ. Các con phải biết tất cả những người ở đây bây giờ hoằng
dương là Chánh pháp, cứu là chúng sinh hữu duyên. Các con học Phật phải có nghị
lực. Các con cho dù đều không cùng tôi đi Mỹ hoằng pháp, Sư phụ một mình cũng
có thể ngồi máy bay đi. Đây chính là ý chí kiên định. Năm xưa Đường Tăng đi Tây
Thiên thỉnh kinh, có khổ không? Giám Chân hòa thượng đông du Nhật Bản, có khổ
không? Có vị Bồ Tát nào xuống cứu người mà không khổ? Đâu có chuyện gặp chút
chuyện liền lùi bước?
Trong
cửa Phật không có thủ xả (lấy bỏ). Nghĩa là gì? Các con đều là người học Phật,
trong quá trình chúng ta học Phật, Sư phụ là không có thủ xả. Sư phụ không nói
con đặc biệt tốt, mời con vào; nói con đặc biệt không tốt, đuổi con ra ngoài,
là tự các con đuổi các con ra ngoài. Bồ Tát đối với tất cả mọi người đều từ bi
như vậy, quan tâm các con, yêu thương các con như vậy. Con nói con hôm nay
không đến lạy Phật nữa, là Quan Thế Âm Bồ Tát bỏ con hay là tự con không đến?
Bồ Tát thường xuyên điểm hóa chúng ta, chẳng qua các con không tiếp nhận được.
Khi một pháp môn truyền đến, tuy quá khứ con đã học pháp môn khác, con cũng nên
dùng trí tuệ của mình để phán đoán pháp môn mới, phải dùng phương pháp bản thân
đã tu học được để hỏi Bồ Tát. Ví dụ, Quan Thế Âm Bồ Tát nếu muốn cứu người này,
tuy con đã vào một pháp môn nào đó, nhất định sẽ do Bồ Tát của pháp môn này
giúp đỡ con, báo mộng cho con, cho con cái duyên này để biết pháp môn mới. Sư
phụ nói cho các con biết, rất nhiều người bao gồm cả người phương Tây (theo đạo
Thiên Chúa/Tin Lành) đều như vậy. Một nữ tín đồ Thiên Chúa giáo mơ thấy Sư phụ
giống như Chúa Jesus đang cứu cô ấy.
Thực
tế, người thực sự chuyên nhất học một pháp môn, Bồ Tát sẽ giúp con. Lấy ví dụ:
Khi bác sĩ gia đình khám bệnh cho con, con đã là bệnh nhân của bác sĩ này. Bây
giờ có một bác sĩ chuyên khoa xuất hiện hoặc một phương pháp điều trị mới xuất
hiện, bác sĩ gia đình này sẽ giới thiệu con đến chỗ bác sĩ chuyên khoa, ông ấy
sẽ không ghen tị với bác sĩ chuyên khoa. Sư phụ là bác sĩ, là đến cứu người.
Ông ấy cũng là bác sĩ mà, ông ấy cũng cứu người. Con là bệnh nhân của ông ấy,
ông ấy không nỡ để con bị bệnh, đương nhiên ông ấy sẽ giới thiệu con cho bác sĩ
chuyên khoa. Tuy con từng cầu pháp môn khác, kỳ thực bất kỳ pháp môn nào đều là
một mục đích, đều là cứu độ chúng sinh, con nhất định sẽ tìm được một pháp môn
phù hợp nhất với con. Nếu con tìm được Sư phụ cũng là Bồ Tát của con giới thiệu
con đến, con phải cảm ơn Bồ Tát của con. Sư phụ mấy hôm trước gặp vài vị trụ trì
của pháp môn khác, họ nghe Sư phụ giảng xong đều gật đầu khen phải, sau đó ai
nấy đều đồng ý niệm Kinh. Họ cũng có Bồ Tát, Bồ Tát của họ tại sao để họ tìm
thấy Sư phụ? Hiểu chưa? Phải tìm, phải phát hiện, đừng từ bỏ, phải dũng cảm
tiến lên. Nếu là người đã đi theo Sư phụ tu tâm học Phật, nếu con đã đạt được
pháp hỷ, chính là con đã được lợi ích, con nên kiên trì. Bởi vì con đã đạt được
pháp hỷ rồi, con đã linh nghiệm rồi.
Tu
tâm phải có sự kiên nhẫn rất lớn, nếu không có kiên nhẫn thì không thể thành
tựu. Nếu một người có thể định lại được, bắt buộc phải có kiên nhẫn, phải có
tâm nhẫn nại. Nếu không có nhẫn nại, con sẽ không tiến vào được cảnh giới của
tầng khác, nghĩa là con không thể đi lên trên nữa. Người tu tâm nhất định phải
học biết nhẫn nại, không có kiên nhẫn thì không thể thành tựu, hơn nữa kiên
nhẫn là sự chuẩn bị của tinh tấn. Nghĩa là, kiên nhẫn giống như cái thang vậy,
là cảnh giới chuẩn bị để đi lên từng tầng một. Có nhẫn nại, mới có thể nói đến
chuyện tinh tấn; người không có nhẫn nại, ngay cả tinh tấn cũng không nói đến
được. "Tôi không được rồi, tôi không chịu nổi nữa, tôi không kìm được hỏa
khí (cơn giận) nữa." Không kìm được chính là không tốt, bởi vì khi một
luồng khí không kìm được sẽ làm hại cơ thể. Mọi người đừng tức giận, tức giận
rất hại cơ thể. Sư phụ bảo các con đừng tức giận. Rất nhiều người tiếp xúc với
người dễ tức giận, bản thân cũng sẽ thường xuyên tức giận, giống như bác sĩ
khám bệnh tâm thần cuối cùng bản thân cũng trở thành bệnh nhân tâm thần.
Sư
phụ dạy mọi người ba con đường, ba con đường này để các con khai mở trí tuệ
nhiều hơn. Con đường thứ nhất là con đường tư duy (suy ngẫm). Nếu một người
muốn có trí tuệ, nghĩ nhiều, nói ít, suy ngẫm nhiều. Đây là con đường cao quý
nhất. Con đường thứ hai là con đường mô phỏng (bắt chước). Người này học Phật
như thế này, tôi bắt chước họ, cũng có thể thành công. Đây là con đường khai
trí tuệ dễ dàng nhất. Còn có một con đường là con đường kinh nghiệm. Nếu con
muốn khai trí tuệ, con đường kinh nghiệm là một con đường gian khổ nhất, bởi vì
con dùng kinh nghiệm của chính mình để học Phật, để khai trí tuệ, đây là ngốc
nhất. Chỉ dựa vào kinh nghiệm rất mệt người, phải dùng trí tuệ. Ví dụ con hôm
nay đi con đường này bị người ta cướp, con ngày mai đi con đường khác, kết quả
lại bị người ta cướp. Nếu dùng cách mô phỏng hoặc suy ngẫm, con sẽ nghĩ:
"Con đường này dễ bị cướp, có thể khu vực này đều không an toàn, tôi sau
này không đi khu vực này nữa, đổi khu vực khác đi." Đây gọi là suy ngẫm.
Trí tuệ đều ở trong đầu các con các con cứ không đào ra được. Sư phụ bây giờ
giúp các con khai trí tuệ, cho nên có rất nhiều khó khăn.
Sư
phụ cuối cùng nói với mọi người vài câu: "Bất nhu thuyết nhi ngôn"
(Không cần nói mà nói), việc không cần nói thì đừng nói, nói nhiều thì kết oán.
Miệng nói chuyện càng nhiều càng kết oan cừu. "Bất đương ngôn nhi
thuyết" (Không đáng nói mà nói), chính là lời không đáng nói con đi nói,
chính là nói bậy, nói bậy sẽ rước họa. Lời không nên nói thì đừng nói, lời
không đáng nói thì đừng giảng. Môi trường của tất cả thế giới vốn dĩ đều là
rảnh rang vô sự, đều là yên tĩnh, gọi là Vạn cảnh bản nhàn. Giống như cái cửa
lớn này đóng lại, trong phòng rất yên tĩnh có thể có chuyện gì chứ? "Vạn
cảnh bản nhàn, duy nhân tự náo" (Vạn cảnh vốn nhàn, chỉ người tự làm náo
loạn). "Tâm nhược bất sinh", nếu tâm con không sinh phiền não, thì
không đi lý giải nó; "Cảnh tự như như", hoàn cảnh vẫn giống như quá
khứ. Bệnh lớn của tôi, là vì tôi có cái thân này mới làm ra rất nhiều chuyện
không tốt, gọi là "Ngô chi đại hoạn, vi ngô hữu thân" (Cái lo lớn của
ta, là vì ta có thân) a!
33. Khổ tu hành thành tâm, Cảnh giới tăng ích chúng
sinh
Hôm
nay Quan Thế Âm Bồ Tát nói với Sư phụ, cho dù đại tai nạn không đến hoặc đến
muộn một chút, thực tế đại tai nạn thực sự của con người là tai nạn trong tâm
mình. Thế nào là tai nạn trong tâm? Chính là tự mình làm khó mình. Ví dụ tự
sát, ngày ngày nghĩ không thông, u uất, phiền não, buồn bã. Một người đang yên
đang lành, đột nhiên bị ung thư, chính là bản thân gặp tai nạn rồi. Không phải
nói lũ lụt chưa đến, động đất chưa đến thì cảm thấy rất vui vẻ, thực tế con
không biết tai nạn trên người con đã đến rồi. Thực ra các con u uất lâu dài,
chướng ngại tâm lý đã là gặp nạn rồi. Sư phụ ngày ngày xem Đồ đằng cho người
ta, có một cô bé cắt cổ tay ba lần, Sư phụ đều đang cứu. Cho nên ai ai cũng nên
bỏ ra, cứu độ chúng sinh. Các con tự nghĩ xem, các con đã bỏ ra bao nhiêu? Các
con có bao nhiêu công đức? Bản thân phải hiểu đạo lý. Nhìn xem người ta đều
đang nỗ lực, mà bản thân chúng ta không nỗ lực, đây là có lỗi với Quan Thế Âm
Bồ Tát, có lỗi với Sư phụ. Các con hôm nay qua đi một ngày rồi còn có nữa
không? Không còn nữa. Cho nên Sư phụ hy vọng các con tự lo lấy thân để tránh
tai nạn.
Hôm
nay tiếp tục giảng cho mọi người về tu hành. Ngày ngày nói tu hành, tu học, tu
pháp, thực tế tu hành là một loại công phu. Nếu con tu hành có thể tu tốt,
chứng tỏ con người con có công phu. Bởi vì người tu hành sẽ không thường xuyên
coi thường người khác. Rất nhiều người tự cho là rất kiêu ngạo, trẻ tuổi, có
học vấn, có tiền, dung mạo xinh đẹp, cái gì cũng có thể làm vốn liếng của họ.
Bởi vì họ không có tu hành, cho nên thường xuyên sẽ coi thường người khác; bởi
vì họ không học Phật, cho nên sẽ thường xuyên nói người ta không tốt. Chỉ có
người thực sự hiểu đạo lý Phật giáo mới không coi thường người khác. Cho nên
người học Phật nhìn người là đôi mắt từ bi, chứ không phải đôi mắt coi thường
người. Ni cô, hòa thượng trong chùa đối với người chính là rất hòa nhã. Sư phụ
đối với các con rất từ bi nhưng lại rất nghiêm khắc, bởi vì các con là đồ đệ
của Sư phụ, cho nên bắt buộc phải nghiêm khắc. Nhưng Sư phụ đối với các bà lão,
ông lão khác thái độ thế nào, các con đều nhìn thấy rồi. Sư phụ đối với các con
là hận sắt không thành thép. Tu đến bây giờ, nghe đến bây giờ còn làm ra một số
chuyện rất không tốt, không sửa có được không?
Tu
tâm phải khổ tu. Một người khổ rồi, họ mới có thể tu tâm; họ không khổ, họ sẽ
không tu tâm. Cho nên gọi là khổ tu hành. Người khổ tu công đức trong tâm rất
lương thiện, cho nên đối với chúng sinh cũng rất lương thiện, trong lòng sẽ
không coi thường người khác. Người thường xuyên coi thường người khác sẽ không
phải là một người tu hành tốt. Rất nhiều nơi lạy Phật đối với người đến triều
bái không được lễ phép lắm, người ta lần sau sẽ không đi nữa. Người đến lạy
Phật đều là mang theo một trái tim thành kính. Các con nếu đối với người đến
lạy Phật không tốt, tùy tùy tiện tiện đuổi người ta đi, con chính là không học
Phật, con chính là báng bổ Bồ Tát, chính là có nghiệp chướng. Các con mỗi một
người đều đại diện cho Bồ Tát. Bất kể con hôm nay là đánh máy cũng vậy, là gọi
điện thoại cũng vậy, mỗi một hành vi các con làm đều phải xứng đáng với Quan
Thế Âm Bồ Tát, xứng đáng với chúng sinh. Bởi vì các con là người học Phật. Con
không từ bi, con coi thường người, con mới cảm thấy phiền. Khổ tu là gì? Khổ tu
là bản thân phải áp chế mình, phải khắc chế mình, đó mới gọi là chịu khổ. Quen
rồi sẽ không cho là khổ nữa. Lấy khổ làm vui chính là đạo lý này. Bởi vì mỗi vị
chúng sinh đều có Phật tính, họ đều là Bồ Tát, họ đều là Phật. Con đối với
người ta hung dữ như vậy, con có xứng đáng với Bồ Tát không? Chúng sinh là đến
cầu Phật, không phải đến chịu bực mình.
Người
bình thường ngay cả sinh vật cũng không thể coi thường, ngay cả một con chó
cũng không thể đi đá nó, con cũng không thể đi mắng nó, huống hồ là đối với
người học Phật? Nếu đối với một cốc nước không ngừng nói nó, mắng nó, sau đó bỏ
vào tủ lạnh, đợi đóng băng rồi lấy ra hoa băng sẽ hiện ra hình thù rất khó coi.
Nếu con không ngừng nói cốc nước này tốt, sau đó bỏ vào tủ lạnh đóng băng rồi
lấy ra xem, hoa băng đều rất đẹp. Ngay cả vật thể còn có tình, cho nên các con
phải hiểu đạo lý. Một người hiểu Phật pháp, cần sự chân thật, không thành thật
là tội càng thêm tội. Không phải Sư phụ nhìn không quen, là Bồ Tát nhìn không
quen. Bởi vì con người vốn dĩ là hư vọng không thực, cho nên mới phải làm nhiều
việc thực (việc thật). Hôm nay mua một món đồ về là thực thực tại tại chứ gì,
qua vài ngày hỏng rồi, vứt đi rồi, món đồ đó không còn nữa. Đây chẳng phải là
Hư (ảo) sao? Về đến nhà, muốn không cãi nhau, nói chưa được mấy câu lại cãi
nhau. Con nói đây là thật hay là hư? Nhân gian cái gì cũng là giả, cái gì cũng
là hư. Món đồ con ăn hôm nay, khi con ăn tưởng là thật, ăn vui vẻ lắm, ăn xong
cũng hết, bởi vì nó là hư. Từ Thực đến Hư chính là một quá trình. Con người từ
khi sinh ra là một đứa bé, qua một thời gian lớn lên, lại qua một thời gian
biến thành bà lão, lại qua một thời gian tìm không thấy nữa, chết rồi, đây
chẳng phải là thứ hư ảo sao? Ở nhân gian có thứ gì là Thực? Thứ gì tìm được? Sư
phụ nói đi nói lại với các con, cái gì cũng là Không, đợi các con chết đi cái
gì cũng không còn. Rất nhiều người không muốn chết, nếu con ở nhân gian không
chết thì thành yêu tinh rồi. Nếu một bà lão sống đến 130 tuổi, con xem xem sẽ
là bộ dạng gì. Đây là quy luật tất yếu. Nhân gian giống như một quán trọ vậy,
thực ra là hư ảo không thực. Cơ thể là linh thể hư ảo không thực, tinh thần
cũng là hư ảo. Giống như con hôm nay động một ý niệm, ngày mai lập tức động một
ý niệm khác vậy. Con đã rất nhanh phủ định ý niệm trước đó của con. Con hôm nay
vừa mới nói "Tôi nhất định phải thế này thế kia", nói không chừng có
người nói bên tai con vài câu, "Bốp" một cái, nói không chừng tất cả
ý niệm của con toàn bộ chuyển biến lại. Con chẳng phải là hư sao? Sư phụ nhìn
các con, khi các con quỳ Sư phụ đều cảm thấy các con là hư. Con hôm nay có thể
quỳ, qua vài ngày con nghĩ không thông, nói không chừng ngay cả cơ hội quỳ con
cũng không có. Các con quỳ cho Sư phụ có lợi ích gì cho Sư phụ chứ, chỉ là tăng
thêm trách nhiệm của Sư phụ, tăng thêm nghiệp chướng của Sư phụ. Bởi vì trong
lòng, trên người các con đều không sạch sẽ. Cho nên nhất định phải tu cho tốt,
tiêu trừ nghiệp chướng.
Bản
thân con người là hư ảo không thực, lời nói cũng vậy. Ban đầu nói rất hay, sau
đó thay đổi. Cho nên chúng ta phải làm cho hình thức biểu hiện của Phật tánh
của mình thực tại một chút. Con tuy là hư, nhưng con có thể làm cho hình thức
biểu hiện thực thực tại tại một chút. Nghĩa là, con hôm nay có thể thay đổi,
nhưng cố gắng đừng để nó thay đổi. Bởi vì người học Phật chân chính là khiêm
tốn, giống như bái sư cũng vậy. Các con bái sư phụ nào thì theo sư phụ đó học
pháp môn đó. Con bái sư phụ khác, con liền cầu pháp môn khác. Đều là giống
nhau. Cho nên con không thể coi thường pháp môn của người khác, hoặc tự cho mình
là tốt nhất. Nghĩa là, khi con đang học Phật, nếu con đã bái vị sư phụ này, học
pháp môn này, con tốt nhất đừng coi thường nó. Con tốt nhất học một pháp môn mà
mình cho là tốt nhất, hơn nữa ngàn vạn lần đừng đi nói pháp môn của người ta
không tốt. Đây cũng là Thực tính (tính chân thật).
Sư
phụ nói với các con một lần nữa: Là đồ đệ của Sư phụ, là để tử, học sinh dự
thính của Sư phụ cũng vậy, ngàn vạn lần đừng nói bất kỳ một pháp môn nào của
người ta không tốt, pháp môn đều là tốt. Sư phụ là một bác sĩ, nhưng các bác sĩ
khác đều phải được tôn trọng. Ngàn vạn lần đừng vì sư phụ của con là danh y, mà
nói các bác sĩ khác chả da gì. Cái đó là vĩnh viễn không được. Hơn nữa ngàn vạn
lần đừng tự cho mình là đúng. Con cho dù là đồ đệ của Sư phụ, chạy ra ngoài người
ta nói với con: "Bạn là đồ đệ của Lư Đài trưởng, thật tốt quá." Con
lập tức kiêu ngạo vô cùng. Có gì mà đáng kiêu ngạo? Người ta tu tốt hơn các
con. Các con tuy ngồi ở đây đều chưa chắc giống đồ đệ của Sư phụ. Vô dụng thôi.
Các con nhìn xem rất nhiều Phật hữu trên toàn thế giới xa tận chân trời, đều
phóng sinh cho Sư phụ, liều mạng làm công đức. Hiện tại pháp môn của Sư phụ nở
hoa khắp nơi, toàn thế giới đều có đạo tràng của Sư phụ. Là Quan Thế Âm Bồ Tát
từ bi.
Đau
khổ lớn nhất của con người là do bản thân tạo ra -- đây là thông tin mới nhất
Quan Thế Âm Bồ Tát cho Sư phụ. Quan Thế Âm Bồ Tát nói: "Tai nạn của con
người thực tế đến từ chính mình." Về mặt lớn mà nói chính là phá hoại môi
trường sinh thái toàn cầu, về mặt nhỏ mà nói chính là phá hoại môi trường sống
của chính con. Rất nhiều người rất hung dữ, chẳng phải đã phá hoại môi trường
sống của chính mình sao? Rất nhiều người không ăn uống tử tế, không ngủ nghỉ tử
tế, lo âu, phiền não, chẳng phải đã phá hoại môi trường của bản thân sao? Cho
nên họ mới sinh bệnh và bị ung thư. Con người chính là đang không ngừng phá
hoại môi trường của bản thân khiến nó diễn biến thành tai nạn.
Sư
phụ nói cho các con, con người tại sao lại tự đại? Bởi vì họ thường nghĩ cho
mình. Một người tại sao lại cảm thấy mình rất giỏi giang? Bởi vì họ thường
xuyên nghĩ cho mình: "Tôi là ai, tôi nên thế nào, tôi là như thế
nào." Mỗi người đều tưởng mình là lớn nhất. Ra ngoài họp tốt nhất là thảm
đỏ, xe cảnh sát mở đường, trên chủ tịch đài có vị trí của ông ta; nếu không có vị
trí của ông ta, mặt lập tức rất khó coi, đứng dậy bỏ đi. Trước đây có một nghị
viên người Hoa chính là như vậy, luôn tưởng mình là lão đại. Các con hôm nay
học Phật, các con sớm muộn gì cũng phải buông bỏ. Đến lúc cuối cùng nằm trên
giường còn nói không nỡ đi. Đến cuối cùng bắt buộc phải buông bỏ, tại sao con
không buông bỏ sớm một chút? Buông bỏ sớm nói không chừng chết muộn một chút.
Tại sao không buông bỏ được? Linh hồn bẩn thỉu, linh thể bẩn thỉu, nghiệp
chướng bẩn thỉu toàn bộ ở trên cơ thể con, làm cho đầu óc con hồ đồ lơ mơ.
Người chết vì sĩ diện sống chịu tội trên thế giới nhiều vô kể. Rất nhiều người
sống vì sĩ diện, cuối cùng sống đau khổ biết bao. Cái gì cũng không còn ông ta
vẫn cần sĩ diện, tự sát rồi. Cần sĩ diện sẽ hại chết người đấy. Cần sĩ diện là không
giải quyết được vấn đề.
Thực
sự muốn giải quyết vấn đề là buông bỏ chính mình. Tôi không có bản thân, tôi
không có sĩ diện gì cả, cái tôi muốn là sinh mệnh có giá trị, cái tôi muốn là
tiền đồ của mình. Cái tôi muốn là tu dưỡng của bản thân, cái tôi muốn là cảnh
giới của tôi, cái tôi muốn là sau này có thể đi Tây Phương Cực Lạc thế giới
hoặc Tứ Thánh Đạo. Đó mới gọi là cảnh giới chân chính. Muốn là những thứ thực
sự tồn tại trong tâm linh con, chứ không phải muốn những danh lợi, đồ đạc, tiền
tài này. Cho nên nhất định phải làm giảm nhạt tư tưởng danh lợi, địa vị của
mình, giảm nhạt cái Tôi. Chính là coi mình ngày càng nhẹ. Con đáng giá bao
nhiêu tiền? Con là ai? Con có gì ghê gớm? Bảo con nói một tiếng xin lỗi cũng
không chịu, con là ai? Bây giờ biết tại sao Sư phụ thường xuyên phải nói các
con rồi chứ? Là đang làm giảm nhạt cái Tôi của các con. Sư phụ trước mặt nhiều
người như vậy nói các con, các con nói một tiếng "Xin lỗi", chứng tỏ
cảnh giới của các con đang nâng cao, hoàn toàn không phải nói các con rơi xuống
rồi. Người càng khiêm tốn, càng biết lễ phép mới là người cao quý, mới là người
có cảnh giới, mới khiến người ta coi trọng. Người chết vì sĩ diện không chịu
thừa nhận lỗi lầm là bị người ta coi thường. Bị người ta mắng sau lưng, tự mình
nghĩ chỉ cần tôi không nghe thấy là được rồi, bịt tai trộm chuông. Nếu con nói
một tiếng "Xin lỗi, tôi sau này sẽ sửa." Người ta rất coi trọng con.
Các
con là tư duy gì vậy? Làm sai chuyện muốn chối là chối, muốn trốn là trốn, muốn
không thừa nhận là không thừa nhận. Cái này gọi là học Phật sao? Phải xem nhẹ
bản thân. Sư phụ hôm nay nói các con chính là để các con phải buông bỏ cái Tôi.
Các con cả đời có cái gì? Các con cả đời trong nháy mắt là kết thúc rồi.
"Tôi một đời chẳng có gì cả, cần tiền tiền không có, cần danh danh không
có." Vậy con sống mới tự tại. Bởi vì con từ bỏ tham dục của mình rồi, con
không có cái Tôi, người ta mắng con cũng mắng không tới con, đánh cũng đánh
không tới con, đó mới gọi là tự tại. Phải giống như bông lúa, mọc càng đầy đặn
đầu cúi càng thấp. Rất nhiều người tại sao lại chết? Tại sao sinh bệnh, tức
giận? Bởi vì họ cảm thấy quá khứ họ tốt vô cùng, họ nắm chặt lấy quá khứ của họ
chính là không chịu buông. Quá khứ là quá khứ, hiện tại là hiện tại. Cho nên Bồ
Tát bảo chúng ta: "Quá khứ bất khả đắc, hiện tại bất khả đắc, vị lai bất
khả đắc." Thực tế chính là một câu chính là cái gì cũng bất khả đắc (không
thể được), cái gì cũng là không có.
Phải
hạ thấp mình xuống, coi thường người khác chính là coi thường chính mình. Người
ta làm lao công cũng phải coi trọng người ta. Người ta không trộm không cướp,
thực thực tại tại, kiếm chút tiền chăm sóc gia đình, người ta là người cao quý
nhất. Những kẻ ký sinh trùng, chỉ biết kiếm tiền không biết chăm sóc người
khác, người tham ô còn không bằng người lao công, bị người ta coi thường. Sư
phụ giảng đều là ngôn ngữ của Phật tốt nhất, có trí tuệ nhất nhân gian, hy vọng
các con học cho tốt. Đừng vì mình làm sai mà thấp hơn người một bậc, không có
đâu. Bởi vì các con là con người, là người mãi mãi sẽ làm sai, cho dù khoảnh
khắc sắp chết cũng đều sẽ làm sai chuyện. Nhưng chỉ cần thay đổi quá khứ, phá
mê khai ngộ chính là thiện nam tín nữ. Phải nhìn thấy chúng sinh! Chúng sinh
đều ở bên cạnh con. Khổ của chúng sinh chính là khổ của chúng ta. Cho nên học
Phật phải học cách buông bỏ chính mình trước, phải chịu khổ. Chịu khổ chính là
tiêu nghiệp chướng.
34. Nhẫn người khó nhẫn, Tu tâm khó tu
Phải
nhớ: Phải thường xuyên làm "Vô ngã tưởng" (quán tưởng không có cái
tôi). Chính là không có bản thân. Mỗi khi làm một việc, "Ồ, không phải tôi
làm, là đồng nghiệp làm, rất biết ơn anh ấy." "Ồ, việc này, tôi không
làm, đều là mọi người giúp đỡ." Vô ngã, chính là không có bản thân tôi.
Thường xuyên nghĩ: Mình có làm gì đâu, mình có tài đức gì đâu? Mình rất nhỏ bé.
Từ trên máy bay nhìn xuống, người còn nhỏ hơn con kiến, ô tô giống như con kiến
vậy. Bồ Tát nhìn chúng ta đánh nhau mắng người, giống như chúng ta nhìn kiến
đánh trận vậy. Ngoài ra Sư phụ nói với các con, đời sống vợ chồng đều phải tiết
chế, những cái đó đều là chuyện súc sinh làm, không thể thường xuyên làm. Người
thường làm chuyện súc sinh, người sẽ biến thành súc sinh. Thường ngôn nói:
Người thường làm chuyện súc sinh, thì thường có suy nghĩ súc sinh. Thường xuyên
làm chuyện súc sinh làm, đầu óc con sẽ là tư duy của súc sinh, tư duy của con
biến thành tư duy lệch lạc, chứ không phải tư duy đúng đắn (chánh tư duy). Nhìn
xem những kẻ háo sắc đối với con gái nhà người ta bộ dạng đó. Nếu là tư duy
lệch lạc, đẳng cấp của con lập tức xuống thấp, bị người ta coi thường. Con người
phải biết tự tôn tự ái.
Học
Phật phải hiểu đạo lý, ra ngoài mặt mũi phải trang nghiêm. Giống như Quan Âm
Đường vậy, trang nghiêm Phật Tịnh độ. Các con nhìn xem Quan Thế Âm Bồ Tát trang
nghiêm hay không? Khiến con nhìn thấy là túc nhiên khởi kính (kính nể). Nhìn
xem những lão già nhìn thấy con gái bộ dạng đó, dê xồm, mất hết cả mặt mũi.
Người học Phật tuyệt đối không thể như vậy. Phụ nữ cũng vậy, nhìn người nhất
định phải trang trọng, mắt không được hoa (liếc ngang liếc dọc), mắt không được
lệch, thực thực tại tại. Nhìn người đều có quy tắc, gọi là nhìn người lịch sự.
Bởi vì mắt của con người ta nhìn thấy con đang nhìn chỗ nào của họ. Mắt con
nhìn chỗ nào, chứng tỏ con người con là người không có tu dưỡng. Mắt của con
không được nhìn lung tung. Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, mắt của con nếu nhìn chỗ
không nên nhìn của người ta, đối phương lập tức biết con là kẻ hạ lưu. Học Phật
là gì? Là học trang nghiêm, là học tu dưỡng của bản thân, là học thể diện, là
học Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín. Có thể diện hay không là do tự mình làm ra, không
phải giả bộ mà ra. Phải học cho tốt, các con còn kém xa lắm.
Phải
thường xuyên làm Vô ngã tưởng. Trước, sau khi sinh ra, có Tôi không? Nghĩ xem:
Con bây giờ sinh ra rồi, con là ai? Khi con ra đời con biết con là ai không?
Đến 5, 6 tuổi, có chút cảm giác rồi, tôi ở trong gia đình này. Đợi đến khi chết
đi, con lại là ai? Con hôm nay tên là mỗ mỗ mỗ (nguyễn văn A), đợi con chết đi
cái tên này còn không? Có, trên bia mộ. Kiếp này hết rồi, giống như đến đây du
lịch một chuyến vậy, một đời ngắn ngủi như vậy là hết. Các con ngày ngày đang
làm gì? Cho nên làm một ngày, phải cho rằng bản thân là tay trắng (nhất vô sở
hữu) -- tôi đến nhân gian là tay trắng, tôi đi cũng là tay trắng. Tôi không vì
danh mà tranh, tôi không vì lợi mà tranh, tiền đối với tôi mà nói không có sức
hấp dẫn gì, lợi đối với tôi mà nói cũng không có sức hấp dẫn gì. Tôi ngay cả
bản thân cũng không có, tôi có danh lợi gì đáng tranh? Ít tranh danh tranh lợi,
người này sẽ sống tự tại. Ít dục vọng một chút, người này sẽ sống tiêu sái tự
như (tự tại). Thế nào là "Tự như"? Chính là tự mình như lúc ban đầu.
Tất cả tài vật, cho dù con sở hữu cũng là con sở hữu tạm thời, cũng là tạm thời
nhờ con bảo quản. Ví dụ trước khi mình chết, ngôi nhà này viết tên mình, đợi
mình vừa đi, ngôi nhà này có phải thuộc về con cái không? Vậy ngôi nhà này còn
là của con không? Không còn. Là con sở hữu hay con cái sở hữu? Con có thể sở
hữu tất cả không? Con có thể sở hữu mãi mãi không?
Đừng
nghĩ không thông nữa. Các con những người ngồi ở đây đều phải suy nghĩ thật kỹ,
thật nghiêm túc, Sư phụ ngày ngày khổ khẩu bà tâm (tận tình khuyên bảo) nói với
các con như vậy là vì cái gì? Các con đến bây giờ vẫn cứ tự nghĩ chuyện của
mình, thật đáng thương. Cho nên sở hữu tạm thời sau đó lại thuộc về người khác
sở hữu, đây không phải là sở hữu thực sự. Cho nên phải học nhẫn nhục. Trong
cuộc đời con người có trắc trở, phỉ báng, đả kích... đối mặt với tất cả những
điều này, chúng ta phải học nhẫn nhục. Nhẫn nhục là gì? Cảnh giới của nhẫn nhục
rất cao, nhẫn nhục là cảnh giới của Bồ Tát. Một người có thể nhẫn nại, chính là
một người rất có tu dưỡng. Người khác cãi nhau với con con không cãi, con chính
là có tu dưỡng. Bất kể đàn ông, đàn bà, bị người ta mắng xong nhảy dựng lên,
người này chính là không có tu dưỡng. Bị người ta nói xong toàn thân động đậy,
đây cũng là người tu không tốt. Lấy ví dụ: Người ta nói "Bạn rất có tiền
nhỉ", mặt con lập tức tỏ ra dáng vẻ mình rất có tiền, đây cũng là không có
tu dưỡng. Nói cô ấy xinh đẹp, lập tức ngồi không yên, lại tô son trát phấn, lại
là một người không có tu dưỡng. Sư phụ thường nói với các con "Như như bất
động". Một người có cảnh giới, con nói họ và không nói họ, đối với họ mà
nói không có ảnh hưởng gì.
Mọi
người phải nhớ, Vô Sanh Pháp Nhẫn. Thế nào là "Vô sanh"? Chính là nói
tôi ngay cả cái tâm muốn nhẫn nại này cũng không có. "Pháp nhẫn"
chính là sự nhẫn nại của pháp giới. Bởi vì tôi căn bản không cần phải nhẫn nại,
bởi vì tôi căn bản không cảm thấy tôi phải nhẫn nại, tôi đều không sinh ra cái
tâm muốn nhẫn nại này, tôi có gì phải nhẫn nại? Nếu có người mắng Sư phụ, Sư
phụ nói "Tôi không tức giận". Người khác nói tôi, tôi cảm thấy chẳng
qua là quan điểm của họ, đối với tôi có ảnh hưởng gì đâu? Tại sao tôi phải giận
họ? Kể cho mọi người nghe một chuyện cười. Có một người rất ngông nghênh, đến
công ty người khác, người ta hỏi anh ta: "Anh là ai?" Anh ta mắt
không thèm nhìn nói: "Tôi là ai anh cũng không biết à?" Kết quả người
khác nói anh ta là một kẻ tâm thần, ngay cả anh ta là ai cũng không biết. Tự
cho mình rất nổi tiếng, thực tế anh ta chẳng có danh tiếng gì cả. Tật xấu của
con người nằm ở chỗ quá tự cho mình là đúng. "Tôi quá khứ chưa bao giờ làm
sai chuyện, tôi quá khứ luôn lãnh đạo người ta, tôi quá khứ thế này, thế
kia..." Này, quá khứ của con chính là quá khứ. Con phải nhớ, đây là thì
quá khứ. Con đã là không có rồi, con lại lấy danh từ quá khứ ra dùng, con chính
là không có. Thứ không có con lại lấy ra, con chính là một người không có lý
trí và trí tuệ.
Học
Phật học lệch rồi chính là bệnh tâm thần. Nếu ma ở trên người, người sẽ biến
thành bệnh tâm thần. Tưởng rằng mình ghê gớm lắm xem rất nhiều sách, xem rất
nhiều sách Phật pháp, nói ra thao thao bất tuyệt, còn lấy đồ của Bồ Tát đi công
kích người ta. Phật giáo sẽ không công kích người ta. Bất cứ ai lấy Phật giáo
đi công kích người ta, thực tế họ đã bị lệch rồi. Cho nên phải học Vô Sanh Pháp
Nhẫn. Tôi tuy phải nhẫn nại, nhưng tôi ngay cả cái tâm muốn nhẫn nại cũng không
sinh ra. Căn bản cho rằng nhẫn nại không sinh ra gọi là Pháp nhẫn. Căn bản
không cảm thấy phải nhẫn nại, mới có thể là Vô sanh. Nghĩa là, tôi không cảm
thấy tôi phải nhẫn nại. Rất nhiều người cảm thấy mình phải nhẫn nại: "Tức
quá, không được, tôi nhất định phải nhẫn nại. Tôi là người học Phật, tôi bắt
buộc phải nhẫn nại. Anh mắng tôi đi, anh đánh tôi đi, tôi chính là phải nhẫn
nại." Thực tế đây không phải là cảnh giới cao nhất. Con có bản lĩnh, khi
họ mắng con con không cảm thấy họ đang mắng con, họ là đang cho con một bậc
thang nâng cao cảnh giới của con, chính là một loại Tăng thượng duyên, nguồn
suối gia tăng sự tiến bộ của con. Họ cho con cảnh giới này để con tiến bộ nhanh
hơn. Họ mắng con, con cứ nghe, có thì sửa (hữu tắc giới chi), không thì coi như
lời khuyên răn (vô tắc giới miễn). Bởi vì trên đường cái còn chưa có ai đến
mắng con đâu. Ở nhà họ mắng con, con hãy coi đó như một loại cảnh giới.
Loại
nhẫn nại này thực tế đã là một loại Pháp nhẫn, nghĩa là không có ý nghĩa nhẫn
nại ở trong đó. Sư phụ mỗi lần khai thị xong, rất nhiều người sẽ nói, Sư phụ
hôm nay lại đang nói con rồi. Ai cũng tưởng Sư phụ đang nói họ. Thực tế Sư phụ
nói chính là hiện tượng, Sư phụ không có ý định nói các con. Khi các con vơ vào
mình, các con ngồi sẽ rất khó chịu. Thường xuyên có đồ đệ đến hỏi Sư phụ:
"Sư phụ hôm nay lại đang nói con, đúng không?" Đây chính là tự mình
chui vào hang. Cho nên bản thân đều không có nữa, lấy đâu ra tức giận? Tôi
không tức giận, bởi vì tôi đều không còn nữa. Tật xấu của rất nhiều người là
"Tôi không thể nhẫn nại được nữa, tôi không chịu nổi nữa." Cái
"Tôi" này thật sự rất hại người. Hãy quên cái "Tôi" đi! Quên
đi chính mình, chính là nâng cao cảnh giới của mình. Bởi vì không có chính
mình, con sẽ không tức giận, con sẽ không nổi cáu, con sẽ không tham sân si. Từ
xưa đến nay, bao nhiêu người chết đi đều là vì một cái sĩ diện. Bây giờ rất
nhiều người tham gia đua xe máy, hôm nay đi ra tham gia thi đấu họ liền biết
mình có thể sẽ không về được nữa, họ ngay cả mạng cũng không cần, nhưng họ
chính là vì kiếm cái thể diện này.
Sư
phụ bảo các con học Phật chính là buông bỏ chính mình, đừng có sĩ diện. Sư phụ
hôm nay nói cái này không tốt, nói cái kia không tốt, chính là để các con học
cách nhẫn nại. Học đến sau này phải Vô Sanh Pháp Nhẫn. Ngăn cản cảnh giới thăng
tiến là một bức tường. Từ một ý nghĩa nào đó mà nói, Sư phụ chính là muốn đào
bỏ bức tường này của các con, bởi vì bức tường này của các con đã chặn mất trí
tuệ. Cho nên con mới cảm thấy đau. Phải học cách nhẫn nại. Phải nhớ: Không phản
kích, không mở miệng mắng lại họ, đây cũng là nhẫn nại. Có hai loại khó nhẫn
nhất: Một loại là vợ chồng. Bởi vì oan kết của hai vợ chồng là tích lũy từ mấy
kiếp, đợi đến khi hai vợ chồng cãi nhau, cái khí đó thật sự khiến người ta
không chịu nổi. Cái khí này là khó nhẫn nại nhất. Nếu con có thể nhẫn nại được
khí vợ chồng, con người này thật không đơn giản. Nhẫn nại vợ chồng là thứ khó
nhẫn nhất trong những thứ khó nhẫn. Còn có một loại là quan hệ trong đơn vị.
Nhẫn nại trong đơn vị thực tế chính là nhẫn nại trong cư xử giữa người với
người, cũng rất khó. Sự thay đổi của môi trường khiến trong lòng con khởi biến
hóa. Ở nhà là quan hệ vợ chồng khó, ở đơn vị hoặc nơi công cộng tiếp xúc với
người càng khó hơn. Người ở đâu cũng sẽ cãi nhau, người ở đâu cũng sẽ mắng
người, không phải nói vấn đề ngôn ngữ, mà là nói môi trường bên ngoài của con
thực tế là quả do nghiệp chướng nhiều đời của con sinh ra. Sư phụ giảng cho các
con là triết lý nhân sinh, là Phật pháp nhân sinh. Cho nên biết hai cái khó
nhẫn nhất này rồi, về nhà bắt đầu nhẫn. Chồng nói tôi, không sao cả. Cái khó
nhẫn nhất tôi cũng nhẫn rồi. Phải khắc chế bản thân, khắc chế đến cuối cùng
không còn nữa. Tôi ngay cả khí cũng không sinh ra. Tôi chính là như vậy.
"Sư phụ, Ngài tha thứ cho con, con làm sai rồi. Con có lỗi với Quan Thế Âm
Bồ Tát." Vậy thì tốt rồi, chuyện gì cũng không có nữa. Nếu không con nghĩ
không thông, người tức giận, con buồn hay không buồn?
Sư
phụ là Bồ Tát, Sư phụ có thể tha thứ cho các con. Sự tha thứ này thực tế là
nhận được phản hồi từ trên người các con. Nếu các con để Sư phụ tha thứ, Sư phụ
sẽ tha thứ các con. Các con không để Sư phụ tha thứ, các con còn tiếp tục kiêu
ngạo, vậy xin lỗi, lần sau con đừng đến nữa. Đây chẳng phải do tự các con tạo
ra sao? Phải nhớ không có cái tôi. Lãnh đạo, đồng nghiệp, còn có giữa các chủng
tộc, đây đều là rất khó nhẫn nại. Nếu con không có cái tôi, con mới có thể tu
thành Vô Sanh Pháp Nhẫn. Nhìn thấy người ta da đen, con sinh tâm phân biệt,
chính là một sự bất bình trong tâm, một loại tâm đố kỵ. Người da trắng người ta
cũng không coi thường người da vàng chúng ta, vậy tại sao chúng ta phải coi
thường người da đen? Đây chính là con người, con người là không có cảnh giới,
con người là động vật. Con người là động vật bậc cao, thì vẫn là động vật. Cho
nên phải ở nhân gian tu thành cảnh giới của Bồ Tát. Trong trường đại học giảng
viên chính là giảng viên, không phải cấp bậc giáo sư, cho dù là giảng viên cao
cấp, thì cũng vẫn là một giảng viên. Bởi vì trình độ của con chính là giảng
viên, mà không đạt được trình độ giáo sư.
Sau
đó phải nhớ: Quá khứ bất khả đắc, hiện tại bất khả đắc, vị lai bất khả đắc. Vô
sở đắc tâm (tâm không có gì đạt được). Thế nào là "Vô sở đắc tâm"?
Tâm của tôi không còn nữa, người của tôi cũng không còn nữa. Tâm của tôi đã
không bị ảnh hưởng bởi tất cả môi trường bên ngoài, tâm của tôi giống như không
có vậy, đây là cảnh giới cao hơn. Ví dụ người ta đều đang xếp hàng mua một món
đồ giảm giá, người "vô sở đắc tâm" chính là, tâm tôi không đi nghĩ,
tôi không có tâm đi làm việc này, được hay không được không sao cả. Tôi không
có tâm dục vọng, tôi không có tâm sân hận, tôi không có tâm ngu si. Phải không
có loại tâm tham sân si này, mà giữ lại là lương tâm. Sư phụ nói cho các con,
cảnh giới vô ngã chứng đắc vô ngã. Nghĩa là, con đã không có chính con nữa.
Cảnh giới của con đến rồi, con thật sự liền không có chính con nữa. "Tôi
không tức giận nữa, tôi nghĩ thông rồi, bởi vì tôi chẳng có gì ghê gớm cả. Các
người nói tôi thì nói đi, các người không cho tôi làm tôi liền không làm."
Con đối với người khác Vô dục vọng, trong tâm con liền không có dục vọng.
35. Vô sở trụ tâm, tu hành tu tâm
Rất
nhiều cặp vợ chồng khi cãi nhau có một câu cửa miệng: "Tôi coi anh ta như
người chết. Tôi làm việc của tôi, không thèm để ý đến anh ta." Câu này
nghe không hay, thực tế cũng là một phương pháp. Nghĩa là con đừng đi quản anh
ta, đừng ký thác hy vọng vào anh ta, con sẽ không nhận được thất vọng. Nếu con
ký thác hy vọng, cảm thấy chồng con nên thế này thế kia, con sẽ mang lại thất
vọng. Thế nào gọi là Nên? Con cho rằng nó là con tôi, tôi sinh nuôi nó không dễ
dàng gì, nó bắt buộc phải đối với tôi thế nào. Thực ra khi con về già nằm xuống
thì có thể thế nào? Đợi con chết đi thì thế nào? Nó lập tức lấy di sản của con
đấy. Có con không nhiều, không có con không ít. Nếu con học Phật xong nghĩ thế
này: "Bản thân tôi không ôm bất kỳ hy vọng nào với anh/con, tôi sống rất
tốt." Anh ta có thể thế nào? Anh ta cũng chẳng thế nào được. Mẹ đối với
con cái càng tốt, yêu cầu của con cái càng nhiều. Cái này gọi là chiều chuộng.
Nếu con ném nó sang một bên mặc kệ, nó sẽ tự làm việc của nó. Con người chính
là như vậy. Đừng ký thác hy vọng quá cao vào người ta. Sư phụ đối với đồ đệ các
con cũng như vậy, không ký thác quá nhiều hy vọng vào các con. Các con mỗi
người nguyện ý làm công đức thì làm, các con không làm công đức, Sư phụ không
cầu con. Công đức là tranh nhau mà làm.
Sư
phụ từng hứa nguyện với Quan Thế Âm Bồ Tát, hiến dâng cả đời mình cho Bồ Tát,
hiến dâng cho chúng sinh, cứu độ người hữu duyên trên toàn thế giới. Sư phụ bắt
đầu đi con đường của mình, cho nên Quan Thế Âm Bồ Tát rất quan tâm Sư phụ. Hội
trưởng Hiệp hội Phật giáo bang New South Wales ngày mai đến thăm Sư phụ, điều
này có ý nghĩa gì? Điều này có nghĩa là Sư phụ danh chính ngôn thuận cứu độ
chúng sinh hữu duyên Phật giáo trên toàn thế giới, truyền pháp môn tốt như vậy
đến Ấn Độ, Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia v.v. Phải nhớ, dùng tâm linh giao tiếp với
người đó mới là giao tiếp thực sự, dùng ngôn ngữ giao tiếp chỉ là giao tiếp
trên cơ thể.
Rất
nhiều người tại sao muốn tự sát, tại sao bị người ta mắng liền rất tức giận,
chính là vì có cái "Tôi", có lòng tự tôn tồn tại. Sư phụ nói cho các
con, phàm là người có lòng tự tôn, họ nhất định có cảm giác tự ti. Lòng tự tôn
của họ từ đâu mà đến? Bởi vì họ cảm thấy mình rất tự ti, họ không bằng người
ta. Người càng có lòng tự tôn cảm giác tự ti càng mạnh, mà người cảm giác tự ti
càng mạnh càng có lòng tự tôn. Nếu chứng ngộ đến "Vô ngã", chính là
thế giới này không có tôi, ngay cả chính tôi cũng không còn, cũng không tồn tại
lòng tự tôn và cảm giác tự ti, có gì mà không thể nhẫn? Đến nhẫn cũng không cần
nhẫn nữa. Cho nên không sao cả (vô sở úy) chính là "Vô sở trụ tâm"
(tâm không trụ vào đâu). Tâm của tôi không có chỗ đặt nữa, tôi không có tâm hận
người, tôi không có tâm ngu si, tôi không có tâm dục vọng, tôi tâm gì cũng
không có nữa -- đây chính là cảnh giới Bồ Tát. Nhưng tật xấu của con người
chính là coi mình quá cao.
"Vô
sở trụ" chính là "Vô sở đắc", không có gì đạt được hay không đạt
được. Vô sở đắc chính là "Vô Khổ Tập Diệt Đạo", chính là "Vô Trí
Diệc Vô Đắc", Sư phụ giảng cho các con đến "Tâm Kinh" rồi.
"Vô sanh" chính là không sinh ra tôi, cũng chính là Vô ngã. Sư phụ
nói cho các con nghe: Quả vị của Nhẫn nhục rất cao, tương đương với Bát địa Bồ
Tát. Một người có thể rất có sự nhẫn nại, không nổi cáu, mãi mãi cười hi hi,
đây chính là người có cảnh giới rất cao. Một người phải nhẫn nại, phải có thuốc
điều tiết tâm lý. Tật xấu của con người chúng ta chính là không nhịn được,
không nhịn được mới làm trò cười. Phải khắc chế! Tuổi lớn chưa chắc nhịn được,
tuổi trẻ cũng chưa chắc nhịn được, nó phải có tâm cảnh nhất định, nghĩa là phải
có thể khắc chế, phải nhẫn. Là Sư phụ càng phải học biết nhẫn, Sư phụ còn phải
học biết nhẫn nại hơn các con, phải "Vô Sanh Pháp Nhẫn". Đồ đệ các
con đối với Sư phụ không tốt, làm sai chuyện rồi, Sư phụ tuy nhẫn nại, nhưng Sư
phụ cũng có nghĩa vụ phải khuyên bảo các con. Nhẫn nại rồi các con vẫn không
sửa, xin lỗi, Sư phụ liền Vô Sanh Pháp Nhẫn. Các con có gọi điện cho Sư phụ,
lại nói với Sư phụ, Sư phụ không để ý nữa, bởi vì Sư phụ buông bỏ rồi. Tật xấu
của một người không thể thường xuyên tái diễn. Nổi cáu, không hiểu chuyện,
không học biết nhẫn nhục tinh tấn, một số đồ đệ của Sư phụ không biết nên làm
người như thế nào, kết quả gây chuyện, làm Sư phụ lo lắng, lát sau lại nói xin
lỗi. Loại đồ đệ này đã quá không có trí tuệ. Họ không thể học biết nhẫn nại, họ
sẽ không có cảnh giới của Bồ Tát.
Phải
tu đến Vô Sanh Pháp Nhẫn, con người thực ra chính là Vô sở trụ. Nghĩa là nói
cái gì cũng không sao cả, đi đến đâu cũng như nhau. Hòa thượng gọi là quải đơn
(ở nhờ), đi đến đâu tất cả các chùa đều sẽ tiếp đãi ngài. Hòa thượng, ni cô nhà
cũng buông bỏ rồi, đi đến đâu cũng có thể ở, thực tế chính là Vô sở trụ --
không có một nơi cố định để ở. Nghĩ xem mỗi người cả đời chuyển nhà bao nhiêu
lần. Hôm nay con ở đây, nói không chừng qua vài ngày liền chuyển đi rồi. Các
con hôm nay ở nhân gian này, rất nhanh các con chết đi, các con lại chuyển đến
một đạo khác để ở. Giống như một màn hình tivi, chúng ta bây giờ ở kênh số 7,
chúng ta sau khi chết đi đến nơi tốt chính là kênh số 9 hoặc kênh số 10, đi nơi
không tốt chính là kênh số 2. Đều là trong màn hình huỳnh quang này, không
thoát khỏi lục đạo luân hồi. Muốn nhảy ra khỏi cái tivi này nói dễ hơn làm.
Nghĩ xem một người chuyển nhà bao nhiêu lần, rất nhiều người kết hôn bao nhiêu
lần, rất nhiều người sinh con bao nhiêu lần...
Qua
rồi, không còn nữa. Còn đi chấp trước làm gì? Qua rồi thì thôi, tu tâm cho tốt
đi. Trân trọng thời đại này, cứu người nhiều hơn một chút cho tốt. Hôm nay có
thể sống qua ngày (hỗn), mọi người cứ sống qua ngày. Thực tế chữ
"Hỗn" này nhân gian nói tuy không hay, trong giới Phật pháp nói ra chính
là "Tùy duyên đi". Con chính là cái duyên này, con còn muốn thế nào?
Sư phụ kể một chuyện cười: Có một ông lão nông thôn sau khi đến thành phố lần
đầu tiên nhìn thấy thang máy. Ông ta nhìn thấy cửa một căn phòng nhỏ mở ra, một
bà lão đi vào, một lúc sau cửa căn phòng nhỏ này lại mở ra, đi ra là một cô gái
trẻ. Ông lão này rất hối hận, trong lòng nghĩ sớm biết thế này tôi nên đem bà
vợ quê của tôi đến căn phòng nhỏ này đi một vòng. Đây chính là sự vô tri của
con người tạo thành đau khổ của chính mình. Khi một người vô tri, cái gì cũng
không hiểu họ mới đau khổ, hiểu rồi sẽ không đau khổ. Tại sao bây giờ nhiều
người như vậy sau khi đi theo Sư phụ học tu Phật pháp, họ cảm thấy nghĩ thông
rồi thì không đau khổ nữa? Bởi vì họ hiểu đạo lý rồi. Trước đây họ không hiểu,
họ mới đau khổ. "Tại sao anh ta bắt nạt tôi? Tại sao tôi tốt với anh ta,
anh ta lại không tốt với tôi?" Họ không nghĩ đến kiếp trước họ hại người
ta thê thảm biết bao. Các con nghe trong đài phát thanh một thính giả nói một
linh tính dựa vào người cô ấy không chịu đi chính là vì oan kết kiếp trước.
Linh tính không muốn đi, muốn ở trên người cô ấy làm cô ấy chết. Cho nên báo
ứng là cư vô định sở (ở không nơi cố định), tức không có nơi ở cố định.
Sư
phụ cuối cùng nói với mọi người vài câu. Tu hành, người này tu đức càng lớn, ma
của họ càng cao, phải thận trọng đề phòng. Phải cẩn thận đề phòng. Tại sao lại
như vậy? Bởi vì người đức tính càng lớn, ma chướng của họ càng nhiều. Người tu
càng tốt, ma khảo của họ càng nhiều. Lấy ví dụ: Một nữ công nhân dệt may bình
thường, không ai đến ghen tị với con. Đợi đến khi con là một chiến sĩ thi đua
rồi, tất cả mọi người đều ghen tị với con. Đức càng lớn, Ma càng cao; vượt qua
ma chướng, đức của con học được cũng càng sâu. Sư phụ trước đây giảng pháp cho
người học Phật bình thường, không ai sẽ làm gì Sư phụ. Sư phụ bây giờ danh
tiếng càng vang, liền chiêu cảm sự ghen tị của rất nhiều người. Thực tế đây
chính là thử thách. Rất nhiều người sẽ mắng con, con ngay cả sự chuẩn bị tư
tưởng này cũng không có, con làm sao có thể tu tâm tốt? Con bị người ta nói một
cái liền không độ chúng sinh nữa? Sư phụ gặp rất nhiều người đến hội đoàn, khi
nhìn thấy họ đến, một lời một tiếng "Cảm ơn mọi người, tôi nhất định làm
cho tốt", kết quả tuần sau không đến nữa. Tại sao? Mọi người nói họ,
truyền lời, chịu không nổi áp lực tâm lý, không đến nữa. Phải chịu được thử
thách. Sư phụ hôm nay chính là nói con đấy, xem mặt mũi con để vào đâu? Con
không học, bản thân con vô đức, "Dĩ vô sở đắc cố" (Vì không có gì để
được). Nghe có hiểu không?
Học
Phật phải dùng trí tuệ cho tốt, tâm kiên định không thay đổi sẽ hiển lộ ra Phật
quang. Khi con bị ma khảo, con chỉ cần kiên định niềm tin này: "Tôi chính
là đi theo Sư phụ học pháp môn tốt này", con sẽ không bị ma xâm nhập,
ngược lại con sẽ hiện ra một loại Phật quang. Đạo đức càng cao ma càng lớn,
phải cẩn trọng đề phòng. Kiên định niềm tin, đạo tâm không thay đổi, sẽ hiển lộ
ra Phật quang của con. Cho nên bất kể khó khăn lớn đến đâu, chúng ta không thể
lùi bước, phải kiên nhẫn, phải kiên định lòng tin của mình, phải nhẫn nhục.
Thực tế, nhẫn nhục xét về mặt chữ là nghĩa tốt (khen ngợi). Nhưng dùng trên
người một số kẻ chơi xấu, nó cũng có thể thành công, thế thì biến thành nghĩa
xấu rồi. Thế nào là "Nhẫn"? Đôi khi chúng ta nói kiên nhẫn, Nhẫn chính
là kiên định ý chí của mình và nhẫn nại, tôi nhất định phải đạt được mục tiêu
của mình.
Thực
tế nhẫn nhục lại rất đơn giản, sau khi nhẫn nhục thì qua rồi, không còn nữa.
Khi chồng mắng con, con cắn răng không cãi, một lúc sau anh ta cãi xong việc
này liền qua đi. Đây gọi là Nhẫn nhục nhi quá (nhẫn nhục mà qua). Chuyện trên
đời đều sẽ qua đi. Con người đều sẽ chết, có gì không qua được? "Vô Sanh
Pháp Nhẫn" của Bồ Tát là cảnh giới rất cao, là quả vị của Bát địa Bồ Tát.
"Bạn đối xử không tốt với tôi, tôi đã ngay cả tâm nhẫn nại cũng không có
rồi, tôi căn bản không cảm thấy tôi phải nhẫn nại bạn, tôi không tức
giận." Đây chính là quả vị của Bồ Tát. Cá nhân tạo nhân, cá nhân tự chịu
quả. Hiện tại nguyện vọng chung của nhiều người như vậy trên toàn thế giới
chính là hy vọng sức khỏe Sư phụ tốt. Bởi vì có Sư phụ, họ đều sẽ nhận được sự
che chở. Sư phụ muốn lưu lại nhiều sách, văn tự v.v. cho mọi người, đây chính
là gieo thiện nhân; mà Sư phụ sức khỏe tốt hoằng thệ nguyện, lại có thể cứu
chúng sinh hữu duyên trên toàn thế giới, đây chính là được thiện quả.
Các
con hôm nay chăm sóc Sư phụ, nhất định phải hiểu một đạo lý: Không phải nói Sư
phụ hôm nay cần các con chăm sóc, mà là Sư phụ đã sớm hứa nguyện xả thân cứu
chúng, linh hồn và xác thịt của Sư phụ đều là Bồ Tát, Sư phụ đã không có nửa
điểm đồ của riêng mình, Sư phụ khỏe, chính là đang cứu độ chúng sinh. Các con
chăm sóc Sư phụ, hoàn toàn không phải là đang chăm sóc "Lư Đài
trưởng", mà là để Sư phụ hoằng pháp tốt hơn. Các con nhất định phải hiểu
đạo lý này. Cho dù Sư phụ đôi khi rất phiền não, đó cũng là vì nghiệp chướng
của quá nhiều người để Sư phụ một mình gánh chịu thật sự rất mệt. Đại pháp sư
trong chùa thường xuyên chịu khí trường không tốt của người khác. Khi người ta
đi siêu độ, họ nhận tiền công đức của người ta, sau đó siêu độ không đi, những
linh hồn đó nhất định nhìn chằm chằm vào họ. Cho nên rất nhiều hòa thượng sinh
bệnh, rất đáng thương. Nhưng bây giờ rất nhiều ngôi chùa đều đang niệm Ngôi Nhà
Nhỏ.
Chùa Thiếu Lâm có một vị đại pháp sư khai thiên nhãn, ông ấy và
một Phật hữu của Sư phụ quan hệ rất tốt. Vị Phật hữu này là giáo sư Đại học Bắc
Kinh, sau khi cô ấy niệm Ngôi Nhà Nhỏ cho người nhà, Sư phụ nhìn thấy người nhà
cô ấy đã ở Tây Phương Cực Lạc thế giới rồi. Vị đại pháp sư này cũng nhìn thấy
người nhà cô ấy đã được siêu độ đến Tây Phương Cực Lạc thế giới. Vị đại pháp sư
thông linh này hoàn toàn không biết Ngôi Nhà Nhỏ của Sư phụ. Trong Tây Phương
Tam Thánh có Quan Thế Âm Bồ Tát, đi theo Quan Thế Âm Bồ Tát sao có thể không
đến được Tây Phương Cực Lạc thế giới? Mọi người phải hiểu, phải tu cho tốt! Các
con biết Sư phụ nghĩ gì không? Sư phụ tự thấy rất hổ thẹn. Các con đều tin
tưởng Sư phụ, Sư phụ rất vui. Pháp môn tốt như vậy, nhưng vẫn còn rất nhiều
người đều không biết. Sư phụ không muốn để bất kỳ một người nào đi theo Sư phụ
hoằng pháp bị tụt lại phía sau, muốn để nhiều chúng sinh hơn học tập Pháp môn
Tâm Linh, thoát khỏi phiền não đau khổ của Nhân đạo. Các con vĩnh viễn không
thể hiểu được trái tim của Bồ Tát. Sư phụ bây giờ nói với các con là lời thật
lòng, đây gọi là Tâm Bồ Tát. Hy vọng các con tu cho tốt, chặng đường còn dài
lắm. Những đứa trẻ trong Đoàn Thanh niên này nỗ lực biết bao, ngày ngày đến
đài. Mọi người phải cổ vũ chúng, giúp đỡ chúng, cùng chúng tu cho tốt. Học Phật
nhất định phải dùng chân tâm.
36. Học Phật có
"Tam Lực", Diệu Tâm mới ngộ Phật
Học Phật phải có Sư phụ
chỉ dẫn, một người chỉ dựa vào bản thân tu luyện sẽ không thể thành công, tu đến
cuối cùng cũng không biết mình tu đến nơi nào rồi. Hiện nay rất nhiều người đều
đang tu, nhưng phải biết sau này mình tu đến đâu. Có người hỏi Sư phụ: "Đi
theo ngài tu có thể tu đến Tây Phương Cực Lạc thế giới không?" Sư phụ có
căn cứ để nói với mọi người, Ấn Quang Đại Sư trong "Văn Sao Tinh Hoa Lục"
nói: "Quan Âm thánh hiệu, nãi hiện kim chi đại thị hộ, đương khuyến nhất
thiết nhân niệm. Nhược tu tịnh nghiệp giả, niệm Phật chi ngoại, kiêm niệm. Vị
phát tâm nhân, tức lệnh chuyên niệm. Nhiên niệm Quan Âm cầu sinh Tây phương, diệc
khả như nguyện nhĩ." (Thánh hiệu Quan Âm, là chỗ dựa lớn hiện nay, nên
khuyên tất cả mọi người niệm. Nếu người tu Tịnh nghiệp, ngoài niệm Phật ra, niệm
thêm [Quan Âm]. Người chưa phát tâm, thì bảo chuyên niệm. Nhưng niệm Quan Âm cầu
sinh Tây phương, cũng có thể được như nguyện vậy.) Thánh hiệu Quan Thế Âm Bồ
Tát phải khuyên tất cả mọi người niệm, tất cả mọi người đều đến niệm. Người khổ
tu Tịnh nghiệp, chính là phải từ bỏ nhân gian, thân thể, gia đình v.v. phải từ
bỏ hết, chỉ có nhất niệm muốn đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, đây gọi là khổ
tu Tịnh nghiệp. Niệm Tịnh Độ tông, ngoài niệm Phật ra, cũng phải niệm Quan Thế
Âm Bồ Tát. Sư phụ từng giảng cho các con pháp môn của Sư phụ có thể siêu độ người
mất đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, bây giờ đã có người chứng minh rồi. Sau
khi niệm Ngôi Nhà Nhỏ, người mất lại nhận được thông báo của trời cho đi Tây
Phương Cực Lạc thế giới. Người vẫn chưa phát tâm, phải lập tức niệm Kinh rồi,
chuyên tâm niệm Quan Thế Âm Bồ Tát. Ấn Quang Đại Sư nói: "Nhiên niệm Quan
Âm cầu sinh Tây phương, diệc khả như nguyện nhĩ." (Nhưng niệm Quan Âm cầu
sinh Tây phương, cũng có thể được như nguyện vậy.) Các con nghĩ xem, các con đi
theo Sư phụ lạy Quan Thế Âm Bồ Tát, tu pháp môn Quan Thế Âm Bồ Tát, các con có
thể đi Tây Phương Cực Lạc thế giới không? Không chỉ tu pháp môn này có thể đến
Tây Phương Cực Lạc thế giới, còn có thể đến tầng trời cao hơn, hơn nữa là tu
hành tại gia, lại có thể khiến con nhận được lợi ích trong cuộc sống hiện thực.
Cho nên Sư phụ nói cho các con biết pháp môn này vô cùng tốt, mọi người nhất định
phải tu cho tốt.
Sư phụ bây giờ giảng
cho mọi người mấy điểm chính khi tu pháp môn Quan Thế Âm Bồ Tát:
1.
Viên Giác Diệu Tâm. Viên Giác Diệu
Tâm chính là tâm của con, tâm độ người của con là có diệu pháp. Thế nào là diệu
pháp? Chính là Như Lý Diệu Tâm. Nghĩa là con hoằng pháp, cứu độ chúng sinh, con
có một cái tâm vô cùng tốt đẹp (diệu tâm), chính là diệu pháp. Tại sao gọi là
diệu pháp? Diệu pháp chính là một phương pháp độ người. Một người độ người nhất
định phải có phương pháp, phải có phương pháp khéo léo. Con có thể giác ngộ rồi,
trí tuệ của con có thể viên dung rồi, con mới có thể hốt nhiên khai ngộ. Đừng
nói độ người, ngay cả làm người nếu con cứ mơ mơ màng màng suốt ngày ngủ, ngày
ngày dậy ăn ba bữa, đây chính là một tam đẳng nhân (Loại người có 3 cái đợi)
--- đẳng cật, đẳng thụy, đẳng tử (đợi ăn, đợi ngủ, đợi chết). Cơm sáng xong bận
cơm trưa, cơm trưa xong bận cơm tối, loại người này sống trên đời có ý nghĩa gì
chứ? Thời gian cứ thế lãng phí trôi qua từng ngày. Cho nên phải bận rộn một số
việc có ý nghĩa. Thế nào là có ý nghĩa? Phải làm công đức, phải bận rộn một số
việc có thể cứu độ người nhà mình, phải bận rộn một số việc có thể cứu độ chúng
sinh toàn thế giới. Cho nên phải có Diệu tâm để hoằng pháp, có thể hốt nhiên
khai ngộ.
2.
Tịch Quang Tăng Tiến. Tịch Quang Tăng
Tiến chính là ánh sáng này là tịch tĩnh (gom lại), là đoàn tụ lại. Nghĩ xem ánh
sáng tản ra tốt? Hay là tụ lại tốt? Ánh sáng nào chiếu được xa? Tịch quang là
ánh sáng yên tĩnh, ánh sáng ổn định, nó thực sự đạt đến một cảnh giới. Nghĩa là
người này tu tâm tu đến cái gì cũng viên tịch (tròn đầy tịch tĩnh) rồi, viên
mãn rồi, cái gì cũng có thể yên tĩnh lại, không có bất kỳ một việc nào có thể
khiến con rất buồn bã rất đau thương, con liền thành công rồi. Nhất định phải
nhớ Tịch Quang Tăng Tiến đắc đáo chân đích cảnh giới thường đắc hiển tiền (đạt
được cảnh giới thật sự thường hay hiện ra trước mắt), con phải để cảnh giới thực
sự này thường xuyên xuất hiện trước mắt con. Nghĩa là khi con gặp chuyện khẩn cấp,
hoặc khi cầu việc gì, con vẫn rất yên tĩnh, con ở nhân gian giữ được vững vàng,
định lại được, đây gọi là "Tịch quang", như vậy con mới có thể nhìn
thấy cảnh giới thực sự. Nghĩa là khi con người ngồi tịch tĩnh trước mặt Bồ Tát
thiền định, ý niệm mới có thể nhìn thấy rất nhiều thứ không nhìn thấy được. Hiểu
chưa? Nếu không sẽ trúng ma. Nếu một người liều mạng muốn đi xem những cảnh giới
này, họ sẽ trúng ma. Cái không nhìn thấy mà liều mạng đi xem, đến Phật cũng
không cứu được, Bồ Tát cũng không cứu được con. Sư phụ từng giảng cho mọi người,
muốn cầu liễu thoát sinh tử, muốn ngộ ra đạo lý nhìn thấy cảnh giới Bồ Tát, con
nhất định phải chứng "Phân Ngộ". Phân Ngộ chính là chia ngộ tính
thành rất nhiều đoạn. Ví dụ trong một sự việc nào đó tôi khai ngộ rồi, tôi ngộ
ra đạo lý rồi, nhưng trong một sự việc khác lại không hoàn toàn khai ngộ. Giống
như một người trong một sự việc nào đó, "Ồ, tôi hiểu rồi", đó chẳng
qua là khai ngộ trong một sự việc nào đó, gọi là Phân Ngộ.
3.
Viên Ngộ Viên Kiến. Hoàn toàn hiểu rõ
đạo lý mình ngộ ra, đó mới gọi là thực sự ngộ ra đạo lý. Viên Ngộ chính là toàn
bộ đều ngộ ra rồi. Con ngộ ra một điểm là vô dụng. Ngộ ra tôi phải làm người tốt,
người tốt có thiện báo, người xấu có ác báo, cái này là vô dụng. Phải Viên Ngộ
Viên Kiến, hiểu không?
Sư phụ giảng cho mọi
người về Niệm Phật. Có rất nhiều người hỏi tôi: "Đài trưởng, tại sao tôi
niệm Phật niệm không tốt?" Vậy Sư phụ ở đây tiếp tục giảng cho mọi người
phải Nhiếp Nhĩ Đế Thính (thu nhiếp tai lắng nghe kỹ), cái Đế Thính này chính là
dùng tâm để nghe. Ví dụ khi con niệm Kinh phải dùng tâm của mình để nghe, đừng
có cảm giác bị sót (lậu không). Nghĩa là khi con niệm Kinh niệm quá nhanh, con
sẽ cảm thấy bị sót. Cho nên niệm Kinh không được có cảm giác bị sót. Khi con niệm
Kinh niệm đến một lúc nào đó, đột nhiên cảm thấy sao mình sót một đoạn (sót một
câu). Xin lỗi, niệm lại. Nếu không cho dù con niệm xong toàn bộ, hiệu quả cũng
không rõ rệt. Cho nên phải dùng tai nghe thấy âm thanh của mình, lâu dần thân
tâm con mới có thể quy nhất. Phải nhớ dùng tai để Đế Thính là vô cùng quan trọng.
Hơn nữa Sư phụ nói cho các con, tất cả người niệm Phật đều phải dùng tai để
nghe Kinh mình niệm, có thể khiến tâm mình tập trung, hơn nữa công đức sẽ rất
sâu. Bất kể là ai chỉ cần dùng pháp Đế Thính này có lợi vô hại (hữu lợi vô tệ),
chỉ có lợi ích, không có tác hại. Mọi người hiểu chưa?
Người học Phật nên tin
tưởng "Tam Lực". Trong quá trình chúng ta học Phật, con người nên có
ba loại sức mạnh, nhất định phải tin tưởng, hơn nữa trên người chúng ta, xung
quanh chúng ta đều sẽ tồn tại.
Lực thứ nhất là Pháp Lực.
Mỗi người đều phải tin tưởng Pháp lực, Pháp lực là bất khả tư nghị. Chính là
con đi đến đâu, chỉ cần con niệm Quan Thế Âm Bồ Tát con sẽ có cảm ứng, con sẽ gặp
dữ hóa lành. Đây gọi là Pháp lực. Bất kể xảy ra chuyện gì, có tai nạn gì, có
khó khăn gì, con chỉ cần niệm Quan Thế Âm Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát pháp lực
vô biên sẽ đến cứu con. Điều này tôi không cần giảng lại cho các con nữa chứ?
Các con mỗi người đều đã nhận được sự che chở của pháp lực Quan Thế Âm Bồ Tát,
đúng không?
Lực
thứ hai là Phật Lực. Phật lực là bất khả tư nghị. Pháp lực cũng là bất khả tư
nghị. Phật lực chính là sức mạnh của Phật Bồ Tát. Sức mạnh của Phật Bồ Tát là một
loại vô biên vô tế, cho nên gọi là Phật pháp vô biên. Nghĩ đến Phật Bồ Tát con
toàn thân sẽ có sức mạnh, nghĩ đến Phật Bồ Tát con sẽ tăng trưởng trí tuệ. Loại
sức mạnh này người bình thường có thể có được sao?
Lực
thứ ba là Tự Tín Công Đức Lực. Tự tín công đức lực cũng là bất khả tư nghị. Thế
nào là Tự tín công đức lực? Bản thân học Phật pháp bắt buộc phải có lòng tin,
đây gọi là Tự tín tâm (lòng tự tin); Công đức lực là trên người bản thân con có
rất nhiều công đức, có rất nhiều việc thiện đã làm chuyển thành công đức, con
kiếp này đời này, kiếp trước đời trước, trên người con đều có công đức nhất định,
gọi là Công đức lực của bản thân. Tự tín công đức lực, nghĩa là bản thân con
tin tưởng bản thân nhất định có công đức, có công đức có thể tiêu trừ tai nạn của
con, có công đức có thể tiêu trừ nghiệp chướng của con. Công đức rất quan trọng.
Vậy xin hỏi các con có mấy người có rất nhiều công đức? Các con có nhớ trong Phật
pháp có một câu gọi là công đức viên mãn. Các con có thể Viên có thể Mãn không?
Các con là vừa không thể Viên, cũng không thể Mãn. Hôm nay làm một chút việc
thiện, ngày mai không làm nữa. Gặp một chút khó khăn, Kinh cũng không niệm nữa.
Đây gọi là Con người, không có lòng tin, không có công đức lực. Bản thân đối với
mình phải có lòng tin, phải làm nhiều công đức. Khi công đức tích lũy càng nhiều,
đợi khi có tai nạn đến bản thân mới có thể chống đỡ được. Công đức hiện tại của
các con quá ít. Tuy các con đã làm một chút công đức, nhưng rất nhiều nghiệp
chướng kiếp trước cộng với kiếp này của các con là các con hoàn toàn không thể
khắc phục được, cho nên tạo thành đến nay vẫn còn rất nhiều khổ nạn. Đây chính
là công lực của các con không đủ, công đức không đủ. Hiểu chưa?
Ở
nhân gian này làm thế nào phát hiện Tam Lực này? Con lại làm thế nào để phát hiện
pháp lực của Bồ Tát là vô biên? Con làm thế nào để phát hiện sức mạnh của Phật
là vô biên? Con lại làm thế nào để phát hiện công đức lực của bản thân là bất
khả tư nghị? Nói cho các con biết phải có sức mạnh của Tín, Nguyện, Hành. Thế
nào là Tín, Nguyện, Hành?
Đầu
tiên, phải có Lòng tin (Tín tâm). Tôi tin tưởng Phật Bồ Tát nhất định sẽ cứu tôi,
tôi tin tưởng pháp lực của Phật Bồ Tát là vô biên. Thứ hai, phải có Nguyện tâm
(Nguyện lực). Chính là tôi phát nguyện làm ra cái gì, chính là phải hứa nguyện,
phải phát đại nguyện. Thứ ba, Hành. Chính là phải thực sự đi làm. Chỉ đơn thuần
có nguyện lực, không đi làm thì không được. Chỉ dựa vào cái miệng, dựa vào niệm
Kinh không đi làm việc, cũng là không có Hành. Tại sao có pháp môn là bảo người
ta làm, mà có pháp môn là bảo người ta niệm? Cũng chính là có pháp môn bảo người
ta Tu hành, có pháp môn bảo người ta Tu tâm. Thực tế phải Tu hành, Tu tâm cùng
nhau. Tâm bình đẳng là chỉ ở một điểm khởi đầu nào đó mọi người cùng nhau tu
tâm, cùng nhau tiến bộ. Ở cùng một điểm khởi đầu là bình đẳng, chứ hoàn toàn
không phải chỉ người làm rất nhiều việc xấu và người làm việc tốt là bình đẳng,
thế thì không có nhân quả rồi. Phải nhớ chỉ có tu cho tốt, có Sư phụ cứu độ, có
Sư phụ dạy mới được, nếu không là không được. Cho nên Tín Nguyện Hành là quan
trọng nhất. Tín Nguyện Hành nói là phải tin tưởng Phật Bồ Tát, phải có lòng
tin, phải có tín nguyện lực. Nguyện là gì? Là tôi nguyện ý làm gì, tôi muốn
phát nguyện làm gì. Hành là tôi thật sự đang làm rồi. Đồ đệ các con có người là
phát nguyện niệm kinh, không có hành động; có người là làm rất nhiều việc,
nhưng không có nguyện lực. Cho nên muốn phát hiện Tam Lực bắt buộc phải Tín
Nguyện Hành.
37. Dùng Tâm lực khắc phục Phiền não chướng
Sư phụ tiếp tục giảng
cho mọi người những điểm chính của Tu tâm. Một người muốn tu tâm, vậy điểm
chính là gì? Chính là Tự liễu (tự mình kết thúc/giải quyết) phiền não và tập
khí của chính mình. Phiền não có nhiều không? Ngày nào cũng có. Tập khí trên
người có nhiều không? Nhiều. Tập khí là gì? Thường chỉ chính là thói hư tật xấu:
Mắng người, tức giận, mỉa mai người khác, chỉ muốn ăn ngon không muốn ăn dở, chỉ
muốn kiếm vào không muốn bỏ ra v.v., những cái này đều thuộc về thói hư tật xấu.
Nghe có hiểu không? Cho nên phải tự liễu phiền não và tập khí, đây chính là bước
đầu tiên của tu tâm. Dùng bạch thoại nói gọi là phiền não ít đi một chút, công
phu tu tâm sẽ nhiều hơn một chút, càng tu càng có sức mạnh. Người phiền não
càng ít, công lực của họ sẽ lớn. Người suốt ngày phiền não là tu không tốt cái
tâm đâu. Ví dụ các con hôm nay đến đây nghe Sư phụ giảng bài, có phải tu tâm
không? Nếu trong đầu con toàn là phiền não, con có nghe vào được không? Con tu
có tốt không? Nếu con hôm nay đến trong đầu toàn là phiền não: Chuyện con cái,
chuyện gia đình, chuyện trong đơn vị... Người tuy ngồi ở đây mà tâm không định,
con nói có thể tu tốt không? Tôi nói cho các con biết, người ngồi ở đây, đầu óc
không ở đây, chính là Phiền não chướng.
Thế nào là Phiền não
chướng? Phiền não chướng ngại con. Cho nên tập khí phải tu, càng tu càng có sức
mạnh. Phải tu cho tập khí càng ngày càng ít, tu cho phiền não càng ngày càng
ít. Trong này có một đạo lý, là đạo lý gì? Là Hồi quang phản chiếu. Sư phụ giảng
cho mọi người thế nào gọi là Hồi quang phản chiếu? Người này bị bệnh một năm rồi,
đột nhiên tỉnh lại, đầu óc rất rõ ràng, mọi người đều tưởng ông ấy khỏi rồi,
nhưng rất nhanh liền đi rồi, đây gọi là Hồi quang phản chiếu. Con người con cả
đời hồ đồ, đột nhiên đầu óc rất rõ ràng, tinh thần phấn chấn, cái này gọi là Hồi
quang phản chiếu. Một người bình thường rất đáng thương, đột nhiên họ cái gì
cũng nghĩ thông rồi, bắt đầu cười người, cười trời cười đất rồi, người này
chính là Hồi quang phản chiếu. Ở đây giảng cho mọi người thế nào là Hồi quang
phản chiếu trong học Phật? Khi con học Phật học được một thời gian, con hoàn
toàn không hiểu, hoàn toàn không thực sự lý giải đạo lý của Phật pháp đã học.
Khi con đi qua một đoạn thời gian, con quay đầu lại nhìn xem con đường con đã
đi qua, con liền hiểu: "Mấy câu Phật pháp tôi học đó hóa ra là nói về thói
hư tật xấu trong quá khứ của tôi à, tôi hiểu rồi." Giống như các con trước
đây hút thuốc vậy, các con bây giờ học Phật rồi còn hút thuốc không? Các con
trước đây thường xuyên nổi cáu, hễ động một chút là mỉa mai người ta, các con
bây giờ đi theo Sư phụ học Phật rồi, các con đem ánh sáng này quay lại chiếu
chiếu quá khứ của các con, bây giờ biết mình làm sai rồi, đây chính là Hồi
quang phản chiếu. Dùng ánh Phật chiếu chiếu những chuyện sai trái các con làm
trong quá khứ, chiếu chiếu những linh hồn bẩn thỉu đó của các con. Ai mà chưa từng
làm sai? Nhìn thấy tiền người ta rơi trên sàn nhà có nhặt không? Có lấy không?
Đây chính là sự bẩn thỉu trong linh hồn. Sư phụ nói cho các con biết, người chiếm
hời của người khác thực tế tổn thất là lớn nhất; người bố thí ra thực tế chiếm
được cái hời lớn nhất.
Sư phụ dùng pháp nhân
gian để nói, Sư phụ hôm nay bố thí ra làm là nhiều nhất, cho nên tôi nhận được
sự ủng hộ của cả triệu người. Người ta nhìn thấy Sư phụ đều tôn trọng Sư phụ
như vậy, bởi vì Sư phụ là bố thí. Nếu tôi hôm nay nói đến một người Sư phụ thu
một trăm đồng, các con nghĩ xem Sư phụ sẽ là hình tượng gì? Con người phải có
khí phách (cốt khí), tu tâm càng phải có khí phách. Sư phụ đã nói với các con
Quan Âm Đường của Đài Đông Phương ở đây là một hồ bơi sạch sẽ, là một hồ sen để
các con tắm mình trong ánh nắng của Phật, nếu người này trên thân vô cùng bẩn
thỉu, trên người mọc toàn là ghẻ lở, người này đến hồ bơi bơi một cái, ai còn
dám đến bơi nữa? Nếu Sư phụ không có pháp lực, tại sao nhiều người trên toàn thế
giới như vậy vừa niệm Kinh, Sư phụ lập tức đến nhà họ giúp đỡ họ? Không phải Sư
phụ pháp lực vô biên, là Phật Bồ Tát pháp lực vô biên, là Quan Thế Âm Bồ Tát
pháp lực vô biên, là Phật pháp vô biên, hiểu chưa? Đừng tham chút lợi nhỏ, người
tham lợi nhỏ nhất định sẽ chịu thiệt lớn. Trong phim ảnh quá khứ, trong tiểu
thuyết quá khứ còn ít sao? Lấy của người ta một chút đồ, tiếp theo bị người ta
dắt mũi đi, bảo con làm gì thì làm đó, cuối cùng sự việc vỡ lở bị phán hình xử
bắn. Đừng đi chiếm hời của người ta, người học Phật phải hiểu đạo lý. Hiểu
chưa?
Phải khắc trừ vọng tình
trong tâm mình. Thế nào là vọng tình? Chính là tình cảm vọng tưởng. Vọng niệm,
cái không nên đi nghĩ gọi là vọng niệm. Việc không nên làm mà đi làm rồi, cũng
là trong đầu con có thứ không tốt nghĩ ra trước. Hiểu chưa? Chuyện không nên
nghĩ các con có đi nghĩ không? Chuyện không nên làm các con có đi làm không?
Các con ai dám nói "Tôi chưa từng nghĩ, tôi chưa từng làm"? Nghĩ lại
xem, hối hận lắm, không kịp nữa rồi. Sư phụ hy vọng các con mãi mãi phải nhớ kỹ,
phải tin tưởng Phật pháp vô biên, không thể đi làm những chuyện không nên làm
đó. Người si tâm (si mê) mới vọng tưởng, cho nên gọi là Si tâm vọng tưởng. Cái
chữ "Si" của Tham Sân Si chính là cái "Si" này đấy, ngu si
đấy. Dùng lời bây giờ nói chính là ngốc rồi, đầu óc hỏng rồi.
Không thể Trụ tướng tu
trì (Tu hành dính mắc vào tướng). Chính là nhìn thấy những cảnh giới xung quanh
này để tu, con tu không tốt đâu. Ví dụ con hôm nay sinh con không được, trụ tướng
rồi, "Ái chà, hôm nay không có con thì làm sao đây?", cái tâm này cứ
lưu lại ở vấn đề sinh con không được, sau đó liền liều mạng cầu a cầu. Tu tâm để
sinh con, con một khi sinh ra rồi, mục đích đạt được rồi, cô ấy liền không tu tử
tế nữa. Cho nên không thể trụ tướng tu trì, hiểu chưa? Nếu vị bà lão này đến,
đơn thuần là vì trường thọ, một khi đợi bà ấy đi rồi, công đức không còn nữa. Bởi
vì tất cả Kinh bà ấy niệm đều dùng vào việc trường thọ của bà ấy rồi, mà đợi đến
khi bà ấy đi cảnh giới của bà ấy sẽ không lên được. Cái này gọi là bỏ dưa hấu
nhặt hạt vừng. Bà lão bây giờ phải tu cái gì? Phải tu cho tốt, phải tu bản thân
sạch sạch sẽ sẽ, phải tu lên trời, phải nâng cao cảnh giới, tu như vậy thì thọ
của bà sẽ càng tu càng dài, không cần cầu thọ thọ của bà cũng sẽ dài, hơn nữa
đi rồi còn có chỗ dựa. Bởi vì cái bà tu toàn bộ là để đi lên trên, chứ không phải
đi xuống dưới. Nếu đơn thuần chỉ cầu một cái trường thọ, ở nhân gian cũng chỉ một
khoảng thời gian như vậy, thế thì theo cơ thể, thể chất của bà mà nói, cho dù
cho bà sống một trăm tuổi, bà còn có thể sống tiếp không? Ngôi nhà này cho dù để
bà ở một trăm năm, bà còn có thể ở tiếp không? Trời mưa, dột nước, cái gì cũng
không xong rồi, ngôi nhà này phải dỡ đi xây lại rồi, bà làm sao có thể ở tiếp
được? Con người và ngôi nhà giống nhau, nếu người không có thành tín thì giống
như một ngôi nhà không có rường cột, ngôi nhà không có nền móng, rung một cái
là sụp đổ. Người ta nói một câu liền không niệm nữa chính là đạo lý này. Nhà phải
có rường cột, người cũng phải có rường cột, cái rường cột này chính là tin tưởng
-- "Tôi tin tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát nhất định có thể cứu tôi".
Sư phụ chưa bao giờ để
các con cầu tài. Sư phụ để các con cầu cái gì? Để các con cầu sự nghiệp, tiền đồ,
bởi vì nó đều là liền với nhau, nhưng đây cũng là phàm nhân tục tử cầu, nếu người
thực sự tu tốt ngay cả những cái này cũng không cầu. Lấy ví dụ: Người làm kinh
doanh nhỏ vất vả vô cùng, ngày ngày cầu làm ăn tốt. Nếu làm ăn tốt rồi, bận muốn
chết, mệt đến mức toàn thân đau nhức. Đúng không? Tôi không cầu làm ăn tốt, tôi
không sao cả, nếu tốt đó là chuyện tự nhiên, nếu không tốt không sao, chút tiền
này cũng đủ dùng rồi. Bởi vì không phải tài con cầu được, nếu con cố ép đi cầu,
con phải dùng sức mạnh gấp đôi để trả lại. Nghĩa là con hôm nay tăng ca kiếm được
tiền, thì con nhất định phải làm nhiều hơn người khác, con làm nhiều con liền
tiêu hao nhiều, cơ thể con tổn thất nhiều. Đúng không?
Tiếp theo Sư phụ giảng
cho mọi người, bình thường phải Tùy ngộ nhi an (Gặp cảnh ngộ nào cũng an lòng),
gặp cảnh giới phải Phùng duyên (gặp duyên/tùy duyên). Hôm nay người khác đối với
tôi đột nhiên không tốt nữa, tôi tùy duyên; hôm nay đột nhiên xảy ra chuyện gì
rồi, tôi tùy duyên; hôm nay tôi ngã một cái, ái chà, tôi tránh được một kiếp nạn,
tôi tùy duyên, cái này gọi là phùng cảnh tùy duyên. Chính là gặp sự thay đổi của
cảnh giới, tôi tùy cái duyên phận này. Bạn nguyện ý tốt với tôi, chúng ta cứ tốt
tiếp; bạn không nguyện ý tốt với tôi, chúng ta làm bạn bè, nói không chừng có một
ngày bạn là của tôi, là của tôi rốt cuộc sẽ là của tôi.
Các bạn trẻ yêu đương
nên giữ tư tưởng này, chứ đừng lựa chọn "Anh đá tôi rồi, tôi liền trời đất
tối tăm, đau không muốn sống." Thần kinh à? Đó là trong phim. Trong hiện
thực đừng nghĩ nhiều như vậy, là của con chính là của con, không phải con cưỡng
cầu mà có được, cưỡng cầu sau này đều sẽ ly hôn. Hiểu chưa? Nhất định phải hiểu
đạo lý. Phải học khắc kỷ bất phát (khắc chế mình không phát tác). Thế nào là khắc
kỷ bất phát? Khắc chế tật xấu của mình, khắc chế thói quen, tính khí của mình đừng
phát ra. Thường xuyên phải nghĩ đến thân tâm của mình. Thân tâm là gì? Thân tâm
đều là huyễn vọng. Chuyện hôm nay trong lòng tôi nghĩ, một số thứ hôm nay cơ thể
tôi hưởng thụ đều là ảo giác. Chốc lát có, chốc lát không, đây gọi là ảo giác.
Giống như một đứa trẻ khi nhận được một trăm đồng tiền vui mừng khôn xiết, sau
khi mua đồ xong, trả lại chỉ có vài đồng tiền lẻ. Đây chính là ảo giác. Bởi vì
tiền con không thể giữ nó lại, cái mạng này cũng không thể giữ nó lại -- đều là
ảo giác. Cho nên cần Thực thể Thực tính. Thế nào là Thực thể Thực tính? Chính
là cơ thể thực thực tại tại, tâm linh thực thực tại tại. Tôi hôm nay một là một,
hai là hai, tôi xứng đáng với lương tâm của mình, xứng đáng với cơ thể của
mình. Con người rất khó không có cái Tôi. Khi con quên đi chính mình, "Tôi
đã không có tôi nữa rồi, tôi hôm nay đã không phải là chính tôi nữa rồi",
con lấy đâu ra phiền não? Tư tưởng chủ đề của con không còn nữa, con làm cho
người chủ nhân ông của con không còn nữa, con nói con lấy đâu ra phiền não? Liền
không có phiền não rồi. Người ta mắng tôi, bởi vì có chữ "Tôi"; người
ta đánh tôi, bởi vì có chữ "Tôi", cho nên con liền đem mình chắn ở
bên ngoài, con liền tăng thêm phiền não.
Lấy một ví dụ không hay
lắm: Khi bị tâm thần, chính là không biết mình là ai, cho dù người ta mắng họ,
họ cũng chỉ cười cười. Con nói họ có phiền não không? Không có phiền não rồi.
Đương nhiên Sư phụ không phải bảo các con làm người tâm thần, là muốn các con
làm một người Vô ngã (quên mình) ở nhân gian, người vong ngã vô tư (quên mình
không ích kỷ). Người không có tư tâm (lòng riêng), người quên đi cả bản thân là
một người Đại trí nhược ngu (Đại trí giả ngu), mới không có phiền não. Sư phụ
bây giờ rất vui vẻ: Tôi không có tôi nữa, tôi là của mọi người, tâm để vô tư
thiên địa khoan (lòng không ích kỷ trời đất rộng), nghĩ rất thoáng. Không có
cái Tôi, lấy đâu ra phiền não nhân sinh? Không sao cả. Các con chính là vì có
"Tôi" mới nổi cáu, nếu không có "Tôi" rồi, con có mắng thế
nào cũng không sao cả. Đây chính là cảnh giới cần học. Hiểu chưa?
Cuối cùng giảng cho mọi
người, nhất định phải nhìn thấy bản thân là Không (rỗng không), như vậy mới có
thể đối phó với phiền não. Nhất định phải nhìn thấy bản thân hôm nay đều là
Không, thì không có phiền não nữa. Rất nhiều người đối phó với phiền não như thế
nào? Thường xuyên nghĩ "Mình có gì ghê gớm đâu, mình có gì? Mình cái gì
cũng không có, mình vốn dĩ là tay trắng. Người ta mắng mình, cứ mắng đi, mình
không sao cả." Thế thì con Không đi rồi (rỗng không rồi). Nghe có hiểu
không? Quan hệ thời gian hôm nay giảng đến đây.
38. Lý niệm học Phật, Cảnh giới học Phật
Hôm nay phải giảng cho
mọi người rất nhiều quy củ. Học Phật thực tế có rất nhiều quy củ, không có quy
củ không thành phương viên (không thành thể thống). Sư phụ hôm nay giảng từng
cái từng cái cho mọi người. Đầu tiên, một người học Phật bản thân còn chưa khai
ngộ (chính là vẫn chưa hiểu đạo lý) đã tưởng rằng mình khai ngộ rồi, người này
thực tế chính là tự đại. Người này sau khi tự đại sẽ chuyển thành ngạo mạn,
chính là kiêu ngạo. Rõ ràng bản thân không hiểu, rõ ràng bản thân Phật pháp vẫn
chưa học tốt, đã tưởng rằng mình cái gì cũng hiểu. Tật xấu này từ đâu mà đến? Từ
việc trả lời thư thính giả là có thể biết. Bảo người ta niệm bao nhiêu tấm Ngôi
Nhà Nhỏ, bảo người ta làm thế nào... Bản thân con đã hiểu chưa? Con có tư cách
gì để giúp họ siêu độ? Chúng ta là mượn dùng pháp lực của Quan Thế Âm Bồ Tát để
giúp người khác siêu độ. Bởi vì công đức của con lớn ư? Bởi vì công lực của con
lớn ư? Nghĩ xem, các con không hiểu, Sư phụ nói các con, các con còn không vui.
Cái này có phải là công cao ngã mạn (công lao cao ngạo mạn) không?
Nghĩ xem, các con có mấy
người hiểu? Các con chẳng phải đều là đại sư tỷ, đại sư huynh sao? Không hiểu
chính là không hiểu, không hiểu không được giả vờ hiểu, giả vờ hiểu chính là phạm
tội. Dẫn dắt sai người ta thực tế là có nghiệp chướng. Lấy ví dụ: Con đi trên
đường cái, con hoàn toàn không biết con đường này. Người ta đến hỏi con, con sợ
xấu hổ, chỉ bừa cho người ta một con đường. Con nói xem con có tội không? Tội dẫn
sai đường (ngộ đạo tội). Cho nên Sư phụ nói cho các con, con người nếu không
khai ngộ, đều sẽ có tội lỗi. Đạo lý vốn dĩ nên hiểu nhưng họ không hiểu, họ có
tội. Rất đơn giản. Vốn dĩ nên hiểu pháp luật, họ không hiểu, phạm tội rồi chứ?
Có tội không? Con hiểu biết nhiều kiến thức pháp luật, con sẽ không phạm tội.
Đúng không? Bởi vì con không hiểu pháp luật nên đi phạm tội, vậy con có bị bắt
vào không? Đó có phải là phạm tội không? Thế nào là Phật pháp? Phật có pháp của
Phật, y giáo phụng hành, chính là dựa theo giáo lý của Phật giáo để đi con đường
của mình, đi cái pháp của mình. Cho nên chúng ta ở nhân gian không thể nói mình
khai ngộ, chỉ là một sự khai ngộ cục bộ nào đó.
Sư phụ giảng cho mọi
người "Thường kiến" và "Đoạn kiến". Đoạn kiến là gì? Quả
đoán (quyết đoán), cái này là tốt. Thực tế cái "Đoạn" này là cái Đoạn
của mê hoặc. Tự cho mình là đúng, quyết định một cách đoạn nhiên (dứt khoát) một
số việc, Ngã chấp Ngã kiến -- bởi vì tôi chấp trước, thứ tôi nhìn thấy tôi liền
cho rằng nó là như vậy. Nghĩ xem, có bao nhiêu người trong cuộc sống rõ ràng
mình làm sai chuyện, bởi vì anh ta là đàn ông, anh ta là chồng, anh ta là bố của
những đứa trẻ, anh ta liền cho rằng mình là đúng. Rõ ràng sai rồi đều không chịu
thừa nhận, cái này gọi là sai càng thêm sai. Cho nên không được có Ngã chấp.
"Đoạn kiến" nghĩa là gì? Rất nhiều người trong ý niệm cho là đúng, thế
là sinh ra tự nói Phật lý, sinh ra thiên kiến (kiến giải lệch lạc). Tưởng rằng
Phật pháp tôi học là đúng, sau đó nói ra thao thao bất tuyệt, cuối cùng thì
sao, bản thân họ lệch rồi họ còn không biết.
Hiện nay rất nhiều người
học Phật học lý (lý thuyết) luôn cho rằng mình là đúng. Có bao nhiêu người chấp
trước học Phật, họ sẽ nói mình là sai không? Rõ ràng mình làm sai chuyện, cứ
khăng khăng nói mình là đúng. Rõ ràng bản thân đem rất nhiều câu trong Phật
pháp đoạn chương thủ nghĩa (cắt câu lấy nghĩa/hiểu sai ngữ cảnh) để nói cái này
không tốt, nói cái kia không tốt, họ có đúng không? Cho nên người học Phật trước
tiên phải học cách khắc chế.
Sư phụ giảng cho mọi
người, ví dụ bản thân con cho rằng Phật pháp thắp một nén hương là được, thắp
ba nén hương cũng là được. Mỗi vị Bồ Tát tôi phải thắp một nén hương, nhiều Bồ
Tát như vậy tôi cũng thắp một nén hương, thỉnh rất nhiều Phật Bồ Tát về nhà tưởng
rằng có thể phù hộ mình rồi. Con hiểu không? Chính vì tưởng là đúng, cho nên có
một người mới thỉnh đến hơn hai trăm bức tượng Phật Bồ Tát về nhà mình, còn hỏi
Đài trưởng làm thế nào. Sư phụ bảo ông ấy, tốt nhất xây một cái chùa to hơn
chút thờ hết lên, con thỉnh về rồi thì phải thờ cho tốt. Giống như Sư phụ vậy, chiêu
nhận đồ đệ không thận trọng, bản thân Sư phụ chẳng phải cũng chịu khổ sao. Các
con sẽ hỏi: "Sư phụ, Ngài chẳng phải có Thiên nhãn sao? Ngài chiêu nhận đồ
đệ tại sao không thận trọng?" Vậy các con nói xem, dưới trướng Chúa Jesus
có đồ đệ Judas tại sao cuối cùng lại hại chết Chúa Jesus? Bởi vì Chúa Jesus là
thánh nhân, Ngài có tâm từ bi, Ngài luôn tha thứ cho người ta, giống hệt như Sư
phụ vậy. Mỗi người đều tự mình suy nghĩ thật kỹ, đừng luôn cho rằng mình là
đúng.
Sư phụ quen một người,
trong nhà bên này thờ Chúa Jesus, bên kia thờ Quan Thế Âm Bồ Tát, bên cạnh nữa
thờ Muhammad, đem tất cả Bồ Tát đều thờ trong nhà, thắp hương lên là cả một nắm.
Cái này gọi là gì? Cái này gọi là cái gì cũng không hiểu còn giả vờ hiểu. Hôm
đó Sư phụ nói với ông ấy một câu, ông ấy còn biết lấy ví dụ hơn cả Sư phụ. Ông ấy
nói: "Đài trưởng à, đến cương vị lãnh đạo, đi chào hỏi mỗi vị lãnh đạo một
tiếng tốt biết bao." Cái này gọi là thiên chấp (chấp trước lệch lạc). Cho
nên phải hiểu: Chúng ta phải Chánh kiến, phải hiểu Chánh kiến và Tà kiến. Tà kiến
chính là thứ con nhìn thấy đều là không chánh (không đúng), Chánh kiến chính là
tất cả những thứ con nhìn thấy đều là chính. Con làm sao để hiểu? Con làm sao
biết đây là chính, kia là tà? Chỉ có người khai ngộ bản tính mới có thể biết
cái gì là chính cái gì là tà. Các con quá khứ học nhiều như vậy, các con biết
thế nào gọi là chính thế nào gọi là tà không? Rất nhiều người còn lấy Phật pháp
đi công kích người ta, tưởng rằng mình nói thao thao bất tuyệt. Thực tế con lấy
lý thuyết của Bồ Tát đi công kích người ta, bản thân đã là thiên tà (lệch lạc
tà vạy) rồi. Phật giáo là tôn giáo không tranh đấu với người.
Sư phụ giảng cho các
con "Thường kiến". Chính là thường xuyên nhìn thấy, chính là cho rằng
những việc thường xuyên nhìn thấy. Ví dụ: Tiền có thể thông thiên, có tiền mua
tiên cũng được (hữu tiền năng sử quỷ thôi ma - có tiền khiến ma đẩy cối xay). Tại
sao nói câu này? Bởi vì ma cũng cần tiền, đó chính là tiền minh phủ. Cho nên bất
kỳ cái Thường kiến nào chính là thứ mà lúc đó con cảm giác cho rằng nó là thực
thực tại tại tồn tại. Mà thực tế nó là hư vô phiêu miểu. Cảm giác của chúng ta
đôi khi cho rằng nó là đồ thật, thực tế nó cũng là giả. Lấy ví dụ: Mắt con đột
nhiên nhìn thấy một vật, nhưng chớp mắt cái lại không thấy nữa. Cái con nhìn thấy
chẳng lẽ là giả sao? Lúc này mắt con nhìn thấy Sư phụ lên lớp cho nhiều người
các con như vậy, sau một giờ ở đây có người không? Chẳng lẽ những gì các con
nhìn thấy đều là giả? Đây gọi là thế giới hữu sắc và thế giới vô sắc. Nhìn thấy
chính là nhìn thấy rồi, nhưng nhìn thấy rồi, nó lại có thể biến thành không có.
Mà thứ không có, sáng mai người lại đến, lại có rồi. Giống như con người chúng
ta, từ đứa bé sinh ra, chốc lát sinh ra, chốc lát chết rồi, sau khi chết đi nó
lại đầu thai, lại biến thành đứa bé rồi. "Thường kiến" lại có thể gọi
là "Vô thường".
Học Phật phải học lý niệm
của nó, học cảnh giới của nó. Sư phụ quy nạp nó gọi là "Tán thể vật chất"
(Vật chất thể phân tán), đây là Bồ Tát nói với Sư phụ. Nghĩa là những thứ chúng
ta nhìn thấy là Tán (phân tán), là Không. Cái thể này, cái vật chất này thực tế
là do cấu trúc phân tử hợp hòa mà thành. Giống như một con người vậy, trên người
80% là nước, sau khi người chết đi, cơ năng cơ bản trên người họ giống như nước
vậy toàn bộ bốc hơi hết, chẳng còn gì cả, cuối cùng chỉ còn 20% xương cốt. Cho
nên 80% này đi đâu rồi? Thực tế gọi là "Tán thể vật chất", tán đi rồi,
thì không còn nữa. Trên mặt vừa rồi còn đang đổ mồ hôi, các con chẳng phải nhìn
thấy trên mặt có mồ hôi sao? Chạy vào phòng máy lạnh ở một lúc, sao nước trên mặt
không còn nữa? Vừa tắm xong, trên đầu toàn là nước, lấy máy sấy tóc sấy một cái
còn không? Đi đâu rồi? Cái này gọi là "Tán thể vật chất". Cho nên
chúng ta nhìn thế giới phải dùng con mắt phát triển này -- hôm nay dường như
có, ngày mai dường như không. Cũng giống như hôn nhân của các con, cũng giống
như mạng sống của các con. Hôm nay dường như các con có mạng, qua vài ngày mạng
các con không còn nữa. Có một ông lão chính là người chống gậy, thường xuyên thứ
bảy đến đây. Bây giờ còn không? Con người như vậy là không còn nữa.
Khi con người chứng ngộ
rồi, họ hiểu đạo lý rồi, trong lòng hiểu học Phật, học Pháp, họ đi khuyên người
ta, họ đi khai đạo cứu người, chính là tiếng gọi của chính nghĩa. Thực tế một
người hiểu đạo lý, họ chính là người rất có cảm giác chính nghĩa. Bởi vì họ học
Phật rồi, họ mới chính nghĩa đi kêu gọi người ta. Kêu gọi cái gì? Chính là đi
triệu hoán người ta: Bạn phải mau chóng đi tu tâm đi, anh ta cũng phải mau
chóng tu tâm. Cho nên chỉ có người minh tâm kiến tánh, mới có thể dùng trí tuệ
của Phật để nhìn thấu tất cả nhân gian. Chỉ có minh tâm kiến tánh mới có thể
nhìn thấy bản tánh của mình, nhìn thấy lương tâm của mình, nhìn thấy chỗ khiếm
khuyết của mình, nhìn thấy tâm từ bi thực sự của mình. Người phải minh tâm kiến
tánh, phải thực sự khai ngộ, họ mới có thể cứu độ chúng sinh, họ mới có thể
dùng trí tuệ của Bồ Tát nhìn thấu tất cả ở nhân gian. Các con nhìn thấu không?
Nhìn không thấu. Tật xấu của con người chính là nhìn không thấu thế giới này, rất
đáng thương. Con cái, nhà cửa, tiền bạc, mạng sống... cái gì cũng nhìn không thấu.
Rất nhiều người trước khi qua đời còn nói một câu: "Cái này là của tôi,
tôi không muốn đi." Họ tưởng rằng họ không muốn đi thì họ không đi sao?
Khi đi nói tôi không muốn đi, bởi vì họ nhìn không thấu. Họ không biết cái mạng
này từ đâu mà đến, nhìn không thấu, người này là người khổ, bởi vì họ không có
trí tuệ của Phật Bồ Tát.
Rất nhiều người khi bố
hoặc mẹ sắp ra đi, con cái ở bên cạnh: "Mẹ ơi, mẹ đừng đi." Mẹ nói:
"Con à, con yên tâm, mẹ sẽ không đi đâu." Cuối cùng vẫn đi. Con có thể
giữ mình không đi không? Thường xuyên nghĩ đến lúc phải đi, có thể đối với rất
nhiều người giống như gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh. Thường xuyên nghĩ mạng
mình không dài, rất nhiều người sẽ làm nhiều việc thiện. Từ xưa đến nay khi một
người sắp chết, họ nhất định sẽ nghĩ đến rất nhiều việc thiện lương, cho nên có
câu: "Nhân chi tương tử, kỳ ngôn diệc thiện." (Người sắp chết, lời
nói cũng thiện). Đến lúc sắp đi, mới nói tôi có lỗi với ai rồi, tôi không nên
như vậy. "Ông lão à, tôi không nên đối xử với ông như vậy". Lời chưa
nói xong, nói không chừng hai chân duỗi thẳng là đi rồi. Trước đây nói
"hai chân duỗi thẳng" (lưỡng thối nhất đẳng) nghĩa là gì? Lúc đi cuối
cùng là chân đi mất, người hai chân duỗi thẳng đều là đi xuống dưới. Mọi người
phải hiểu những đạo lý này.
39. Bàn về Bao dung và Lượng bao dung
Rất nhiều nhà khoa học
cho rằng rất nhiều sự vật trên thế giới này là do họ sáng tạo phát minh ra, ví
dụ điện, vi sinh vật, vi khuẩn v.v. Thực tế nhà khoa học chỉ là giám định những
thứ đã tồn tại, sau đó đem một số thứ đã tồn tại đi nói cho người ta biết. Cho
nên họ cho rằng trên thế giới này nhà khoa học có thể phát hiện những vật chất
và lý niệm khoa học hữu hình này, sau đó dựa theo lý niệm do mình sắp xếp ra để
nói cho người đời biết. Thực tế họ chính là dùng cái thấy độc đoán (độc kiến) của
mình để nhìn thế giới. Ông ta nhất định nói, tôi hôm nay phát hiện trong không
khí có vi khuẩn gì gì đó. Cái này của ông chẳng phải là thiên kiến (cái nhìn lệch
lạc) sao? Ông ta tưởng rằng mình phát hiện ra chút vi khuẩn này, nhưng ai có thể
biết trong không khí có bao nhiêu vi khuẩn? Ông có biết các loại vi khuẩn khác
nhau sau khi kết hợp với nhau sinh sôi ra một loại vi khuẩn bệnh khác không? Chẳng
lẽ ông phát hiện ra mấy loại vi khuẩn bệnh này, thì đó là phát minh của ông
sao? Cái này chẳng phải gọi là thiên kiến sao?
Giống như rất nhiều người
bây giờ uống thuốc vậy. Chuyên gia dinh dưỡng nói với họ, ăn cái này bổ sung
canxi, răng tốt. Nhưng có người nói ăn canxi sẽ hại dạ dày. Còn có người nói,
thuốc có ba phần độc. Kỳ thực bất kỳ vật chất nào nó đều có một sự cân bằng, nó
nhất định phải có một điểm cân bằng. Rất nhiều người không hiểu, tưởng rằng uống
thuốc nhất định có thể chữa khỏi bệnh này. Thực tế con uống thuốc này xong, con
lại sinh ra một bệnh khác. Đơn thuần uống thuốc thuốc nào có thể chữa khỏi? Dựa
vào sự điều tiết của lòng người, dựa vào sự điều tiết của tố chất cơ thể và
năng lượng của bản thân con, dựa vào cơ thể của con và nền tảng thể năng của
con để duy trì sự cân bằng kháng sinh này của con. Cho nên bất kỳ thiên kiến
nào đều sẽ mang lại bất lợi cho con người. Tại sao Sư phụ phải nói với các con
những điều này? Thực tế những điều Sư phụ nói với các con, về mặt Phật pháp mà
nói chính là các con cho rằng học một pháp môn tôi là đúng, giống như cho rằng
uống thuốc này là có thể bốc thuốc đúng bệnh, bệnh của tôi sẽ khỏi. Thực tế con
đây chính là thiên kiến. Mà học Phật phải hải nạp bách xuyên (biển nạp trăm
sông), tâm thóa phải rộng lớn.
Người học Phật chính là
phải có thể chịu khổ, có thể dung nhẫn tất cả sự ô nhục, vu khống gây tổn
thương cho con. Hiện nay trong xã hội có mấy người nói "Tôi từ nhỏ đến lớn
chưa từng bị người ta ô nhục?" Lại có mấy người nói "Tôi sống chưa
bao giờ bị người ta ô nhục, phỉ báng?" Thực tế cái này chính là gọi là
Dung lượng. Về mặt vật chất mà nói, dung lượng chính là một cái CONTAINER
(thùng chứa). Dung lượng lớn đến mấy, nhà kho lớn đến mấy, con có thể chứa được
bao nhiêu? Nhưng dung lượng của con người, Sư phụ có thể nói cho các con biết,
không phải là một nhà kho, nó là bao dung vạn vật vũ trụ. Cho nên khí lượng của
con người có thể lớn đến mức độ nào. Sư phụ thêm một chữ ở phía trước, gọi là
"Bao dung lượng", bao dung cái lượng của nó. Về vật chất, nói dung lượng,
còn chúng ta học làm người, học làm Phật, nói là bao dung lượng. Một người có
thể bao dung người khác phạm sai lầm, có thể bao dung người khác bắt nạt, phỉ
báng, ác ý mắng chửi con, người này thực tế chính là có thể bao dung tất cả.
Các con có mấy người sau khi bị người ta mắng mà không tức giận? Bị người ta
nói, bị người ta chia rẽ có thể không tức giận không? Khí lượng nhỏ bé, nhỏ như
con kiến vậy. Con người bây giờ, người ta nói con một câu, lập tức đỏ mặt, tiếp
theo không phản kích, đó là không thể nào. "Tôi nhất định phải báo thù, nhất
định phải phản kích. Anh nói tôi một câu, tôi phải nói anh ba câu." Đây gọi
là hành vi súc sinh, bởi vì bản năng của động vật là sau khi bị tấn công nhất định
sẽ phản kích. Bởi vì con người đều có khí lượng, đặc biệt là người học Phật
chúng ta. Bởi vì người học Phật bản thân đã có nền tảng của thánh nhân và tố chất
của thánh nhân. Bởi vì con có những tố chất này, con mới có thể bao dung người
ta.
Những người ngồi ở đây
các con đều có thể bao dung người ta không? Các con nghe Sư phụ giảng nhiều bài
như vậy, các con tưởng các con ai nấy đều học tốt rồi? Bị người ta nói, bị người
ta mắng, phản ứng của một số người là lập tức phải trả thù; có người là ghi
trong lòng, có cơ hội sẽ trả thù; còn có người thì dùng đủ loại ngôn ngữ khác
nhau để lấp liếm, để giải thích. Những cái này đều thuộc về khí lượng quá nhỏ.
Bị người ta nói mà không có phản ứng, đó mới gọi là có bản lĩnh. Cơ mặt đều
không có biểu cảm, cười hi hi, hơn nữa phải thực sự tha thứ cho họ trong lòng,
không để những phẩm hạnh không tốt này của họ vào trong lòng, đó mới gọi là
thánh nhân. Có người bị người ta nói lập tức giận tóc dựng ngược (nộ phát xung
quan), đập bàn, lập tức cãi nhau; có người sau khi bị người ta nói mặt đỏ tía
tai, không nói ra được câu nào, trong lòng tức giận vô cùng; có người lúc đó cười
cười, lập tức lời nói lạnh nhạt (lãnh ngôn lãnh ngữ) liền tung ra; có người lúc
đó trả lời không được, ghi trong lòng, đợi tìm được cơ hội sẽ trả thù con; còn
có người, khi bị người ta phỉ báng, bị người ta mắng không có cách nào, chỉ có
cười hi hi: "Tôi không có nói như vậy", liều mạng giải thích. Tất cả
những điều này đều là vì tâm thóa (lòng dạ) không đủ rộng lớn.
Các con nói Bồ Tát, Bồ
Tát có để ý đến các con không? Tâm thóa hẹp hòi có thể học tốt Phật không? Sư
phụ không phải muốn nói các con, phải nói đến mức các con không muốn đến nữa,
ngay cả Sư phụ cũng không thể bao dung, người trong nhà mình cũng không thể bao
dung, con còn có thể bao dung ai? Còn học Phật gì nữa? Mẹ mình nói một chút
không thể bao dung, con cái mình nói sai cũng không thể bao dung, con còn có thể
bao dung Phật hữu người ta sao? Học Phật thật sự không dễ dàng. Cho nên Bồ Tát
nói một câu: Chúng ta học Phật, nhẫn nhục tinh tấn còn khó hơn khổ tu hành,
công đức còn lớn hơn. Cho dù con làm rất nhiều công đức, con vẫn không bằng nhẫn
nhục tinh tấn, bởi vì nhẫn nhục là khó nhất trong những cái khó. Tinh tấn dễ,
nhẫn nhục khó lắm. Con bị người ta nói phải có thể không nổi cáu.
Trong các đồ đệ của Sư
phụ trước đây, Sư phụ vừa thấy họ làm sai chuyện, thử thách họ, lập tức bãi bỏ
công việc họ phụ trách, họ lập tức bắt đầu làm loạn, lập tức bắt đầu không phối
hợp công việc. Các con tưởng Sư phụ không biết à? Thực tế đây là thử thách đối
với họ. Nếu con tinh tấn tu hành cho tốt, Sư phụ rất nhanh sẽ để con làm nhiều
công đức hơn. Đương nhiên có rất nhiều người chính là không thể kiểm soát bản
thân. Bởi vì ngài bãi bỏ chức vị này của tôi, ngài không cho tôi chịu trách nhiệm
một công việc nào đó, trong lòng tôi buồn bã, tôi sẽ cho ngài đi giày nhỏ (gây
khó dễ). Vậy xin lỗi, cuối cùng giày nhỏ cũng không có, để con đi chân đất cút
ra ngoài cho tôi.
Làm người học Phật đâu
có dễ dàng như vậy! Nếu dễ dàng như vậy, mọi người đều lên trời rồi. Dễ dàng
như vậy, các con sẽ không gặp nhiều ác mộng như thế. Dễ dàng như vậy, tổ tông các
con, người thân đã mất của các con sẽ không đến tìm các con. Con có bản lĩnh
thì tu bản thân cho sạch sạch sẽ sẽ. Có bao nhiêu người nằm mơ thấy khi mình đi
bay lên trời, nhìn thấy cơ thể mình bay không lên, họ trong ý thức vô cùng rõ
ràng, họ nói "cơ thể tôi nặng quá". Thực tế cơ thể mà họ chỉ là linh
thể không có xác thịt, mà bản thân linh thể này có trọng lượng. Trong linh thể
của con nghiệp chướng, linh tính càng nhiều, quấn càng nhiều, con càng thăng
không lên. Các con đều từng xem Apollo lên mặt trăng chưa? Người đi trên mặt
trăng chẳng phải đều bay lên sao? Đây là lý do tại sao trên trời càng cao người
càng mất trọng lượng. Thực tế bay qua bay lại trên trời chính là cảm giác này.
Báo chí đăng rồi, một chiếc chuyên cơ của Mỹ là chuyên cơ chuyên dùng cho Tổng
thống Mỹ làm việc trên trời khi ngày tận thế đến. Nghĩa là, các nhà khoa học Mỹ
và rất nhiều nhà khoa học đã chứng thực trái đất này nhất định sẽ có đại tai nạn.
Nhưng họ không thể nói.
Giống như Sư phụ bây giờ
biết rất nhiều chuyện, Sư phụ không thể nói, chỉ có thể lo lắng thôi. Sư phụ
nhìn các con từng người từng người cứ không tinh tấn như vậy, Sư phụ thật sự
đau lòng! Bởi vì đến lúc đó chịu khổ là các con, chứ không phải Sư phụ. Giống
như cha mẹ nói chuyện với con cái vậy, bảo các con đừng thế này đừng thế kia,
con cái cứ không nghe, đến cuối cùng chịu khổ chính là bản thân nó. Từ xưa đến
nay có bao nhiêu cô gái khi tìm bạn trai bố mẹ nói không tốt, nhưng đứa con này
cứ đòi lấy anh ta. Lấy anh ta xong kết quả cuối cùng là gì, chính là khóc lóc
trở về, còn mang theo một đứa con. Con biết nhìn người, hay cha mẹ biết nhìn
người? Chỉ số thông minh của con khi yêu đương xuống đến con số không rồi, con
biết thế nào là tương lai? Thế nào là cuộc sống? Con cái gì cũng không hiểu con
liền cưới bừa, cưới đến sau này là hại chính con, hoàn toàn không phải nói hại
cha mẹ con. Đây là lý do tại sao bây giờ tỷ lệ ly hôn trên toàn thế giới cao
như vậy. Nghĩ xem, bây giờ người với người thật sự là ác duyên tương báo, oan
oan tương báo. Quan hệ vợ chồng kiểu này hoàn toàn không phải đến để kết thiện
duyên, thực tế chính là vì kiếp trước anh nợ tôi, tôi nợ anh, kiếp này tiếp tục
trả nợ.
Chúng ta phải bỏ thiên
kiến đi, không thể cho rằng bản thân chúng ta trên thế giới này là từ không đến
có. Bởi vì thế giới này vốn dĩ đã có tất cả những gì nhân loại chúng ta nhận thức
và sở hữu, mà chúng ta chẳng qua là phát hiện ra nó mà thôi. Trong thế giới này
vật chất gì cũng có, chỉ là con phát hiện sớm hay muộn. Hôm nay các nhà khoa học
phát hiện ra thuốc chữa bệnh tiểu đường, ung thư, vậy trước những năm sáu mươi
khi chưa phát hiện, nó không có sao? Có. Bởi vì không phát hiện, nên chữa không
khỏi bệnh của con. Hôm nay pháp môn tốt như vậy đưa đến cửa nhà rồi, con lại
không trân trọng, con còn nói "Tôi không phát hiện pháp môn tốt như vậy
trong thời kỳ Mạt pháp", thế chẳng phải giống thiên lý (lý lẽ lệch lạc) của
một số nhà khoa học nói "Thứ tôi không phát hiện thì nó không tồn tại"
sao? Tại sao các nhà khoa học luôn phủ định căn cứ khoa học mình từng phát hiện?
Ông ta trước tiên nói việc này phát hiện rồi, tốt thế nào thế nào, qua một thời
gian ông ta lại phủ định quan điểm của mình, đưa ra một giả thuyết khác? Bởi vì
bản thân thế giới vật chất này là sở hữu sự cân bằng.
40. Bàn về Giới luật học Phật
Sư phụ hôm nay giảng
cho mọi người một số Đại tội chính. Các con trong học Phật phải nhớ kỹ, rất nhiều
tội hành lớn đều phải xuống địa ngục. Các con tự mình nghĩ xem. Đại tội: Ví dụ
giết một vị hoặc làm trọng thương, mắng một vị cao tăng đại đức rất có đạo đức,
rất có đức hạnh. Hoặc giết cha, giết mẹ, giết hòa thượng, giết ni cô v.v. Hoặc
đối với một vị thiện tri thức, một vị cao tăng đại đức, con phỉ báng ngài, con
nói ngài, con tương đương với giết chết huệ mạng của hàng ngàn vạn người. Bởi
vì vị cao tăng đại đức này là thay mặt cho huệ mạng của hàng ức vạn người để xuất
gia, vì sự giải thoát của sinh mệnh hàng ức vạn người. Cho nên phỉ báng, giết
cha, giết mẹ v.v. đều là đại tội, thông thường đều là hiện thế báo. Con xem hắn
có xui xẻo không? Loại người này sẽ xuống địa ngục. Các con đi xem xem, hòa thượng
tại sao đến sau này không dám nói người ta không tốt? Bởi vì họ hiểu nhân quả.
Lấy ví dụ: Con nếu là khâm sai đại thần do hoàng đế phái đến đây để giúp đỡ mọi
người, để cải thiện thành phố của con, con nếu mắng khâm sai đại thần của hoàng
đế, ngày xưa có phải bị chém đầu không? Sư phụ không muốn nói nhiều, các con hiểu
đạo lý là được. Nếu có người còn dám tạo ác khẩu nữa, cái này là tội xuống địa
ngục. Sư phụ hôm nay nói với các con đều là trọng tội. Con nếu đi mắng một vị
cao tăng đại đức, con tương đương với làm tổn thương tâm nghi (tâm hướng về) của
hàng ngàn vạn người tu đức, bởi vì ngài ấy đến để cứu tâm của hàng ngàn vạn người
tu đức.
Tiếp theo giảng cho mọi
người về "Đạo" (Trộm cắp). Sư phụ hôm nay không giảng cho mọi người
ăn cắp vặt, Sư phụ giảng cho mọi người trộm cái gì là nghiêm trọng nhất -- là
trộm tài sản công cộng (công cộng sản vật). Tài sản công cộng mà Sư phụ nói
không phải là bên ngoài, mà là chỉ ví dụ như trong Phật đường, trong chùa chiền,
trong Quan Âm Đường, những tài sản này là không được trộm. Lấy ví dụ: Nếu trong
đầu con nghĩ "Hôm nay tôi thấy Phật đường có rất nhiều đồ cúng lên, tôi
lén lút mang nó về". Xong rồi, con không sợ Hộ pháp thần sao? Con không sợ
Quan Thế Âm Bồ Tát nhìn thấy biết con sao? Con chỉ có thực thực tại tại nói một
tiếng: "Con hôm nay muốn mang chút hoa quả về ăn", con mới cầm một
cách tâm an lý đắc (lòng thanh thản). Con lén lén lút lút, nghĩ xem con là hình
tượng gì. Đợi con chết đi xuống địa phủ, những hành vi động tác đó của con sẽ
giống như phim điện ảnh chiếu hết ra cho con xem, dựa vào những cái này phán
con đi đâu. Cái "Đạo" này không thể coi thường, bởi vì con trộm cắp
trước mắt Bồ Tát. Nghĩ xem, tương đương với việc con chạy đến chỗ cảnh sát làm
việc xấu. Cho nên đem một số đồ đệ tử công cộng của Phật pháp biến thành của
riêng là tội rất lớn rất lớn. Rõ ràng là một người đường đường chính chính, tại
sao phải làm chuyện lén lén lút lút?
Lại giảng cho mọi người
về "Dâm". Nếu con đi dụ dỗ người tu hành phạm tội, đi dụ dỗ người tu
hành phạm dâm, đó là tội càng thêm tội (tội gia nhất đẳng). Sư phụ không nói
cái dâm trong cuộc sống khác, Sư phụ nói là con đi dụ dỗ ni cô, hòa thượng phạm
tà dâm, đó tuyệt đối là xuống địa ngục. Tương tự mà nói, hiện tại những cô gái,
chàng trai đến Quan Âm Đường, nếu con đi dụ dỗ họ phạm dâm đãng, con cũng xuống
địa ngục. Sư phụ nói rất rõ ràng. Người lớn tuổi, đặc biệt là các ông lão,
thành thật một chút, ngàn vạn lần đừng đi làm thân với các cô gái nhỏ. Ví dụ
hôm nay tôi tiễn cô nhé, ngày mai tôi mời cô ăn cơm... Bởi vì họ đến Quan Âm Đường
là học Phật, họ là người học Phật. Nếu theo pháp môn hiện tại mà nói, Quan Âm
Đường chính là chùa, họ giống như ni cô vậy, họ đang giữ giới tu tâm. Con chạy
đến chùa dụ dỗ những cô gái này của người ta, con sẽ xuống địa ngục còn không
biết sao? Con dám động loại ý niệm này, Sư phụ thấy con hồn phách đều không còn
nữa, gan to quá rồi. Sư phụ gióng lên hồi chuông cảnh báo cho các con, đừng đùa
giỡn, rất nguy hiểm. Đây là đại tội, gọi là tội càng thêm tội. Nếu con ở bên
ngoài tìm một cô gái, con cho dù tự mình phạm chút dâm, con còn có thể niệm Kinh
tiêu đi rất nhiều. Nhưng ở Quan Âm Đường sẽ gây họa đấy. Nghĩ xem, nếu họ ở
Quan Âm Đường Đài Đông Phương làm nhiều công đức như vậy, sau này lại phải xuống
địa ngục, Sư phụ sẽ có tâm trạng thế nào? Sư phụ có buồn không? Bởi vì Sư phụ
nhìn họ chết sớm hơn Sư phụ, nhìn thấy họ sau này ở trong địa ngục gọi mọi người
cùng niệm Ngôi Nhà Nhỏ cho họ. Các con phải biết xuống địa ngục là không dễ ra
đâu, nghe có hiểu không? Sư phụ nói cho các con biết, tất cả mọi người đều
thành thật một chút. Người lớn tuổi ít tiếp xúc với các cô gái, chỉ có thể tiếp
xúc với người học Phật quy quy củ củ.
Tiếp theo nói Khi sư (lừa
thầy) và Lừa đảo là tội nghiệt giống nhau, điểm này cũng rất nặng, gọi là Đại
Khi Tội (tội lừa dối lớn). Nếu con lừa gạt Sư phụ tương đương với lừa gạt thầy
giáo. Chúng ta hồi nhỏ có dám lừa gạt thầy giáo không? Con bây giờ thường xuyên
lừa Sư phụ, cái này chính là Đại khi tội. Con ở bên ngoài khoác lác một chút
thì thôi, con lừa sư phụ của mình, cái này không phải chỉ sự lừa gạt trong cuộc
sống, mà là về phương diện học Phật. Ví dụ Sư phụ hỏi các con niệm mấy biến Kinh
văn, bảo con làm công đức đã làm chưa, rõ ràng chưa làm con lại nói làm rồi. Sư
phụ nói cho con biết, những cái này đều là Khi sư, cũng là đại tội. Cho nên bảo
các con đừng đùa giỡn lung tung, bảo các con tôn trọng Sư phụ. Nếu bản thân
không hiểu, miệng nói bậy bạ, thiên địa quỷ thần toàn bộ nhìn thấy, cuối cùng
con đi địa ngục, thiên địa quỷ thần cũng không dung con đâu. Các con nghe có hiểu
không? Sư phụ rất lo lắng. Lừa tiền bạc cũng vậy. Các con nghe tiếp đi, hôm nay
giảng cho mọi người đều là đại tội xuống địa ngục, các con đừng đùa giỡn.
Còn có khiêu khích mối
quan hệ giữa những người học Phật khiến chia rẽ, đều là đại tội. Ví dụ hôm nay
nói với người này "Chẳng có gì để học cả, không sao đâu, học hay không
cũng như nhau". Khiêu khích người ta nói con không tốt, con nói người ta
không tốt, những cái này toàn bộ đều phải xuống dưới. Đừng làm nhé. Là một người
học Phật, miệng ngàn vạn lần không được nói lung tung nữa! Khiêu khích thị phi,
gây chia rẽ, những cái này đều là tội đại ác cực (tội ác tày trời). Dùng ngôn
ngữ độc ác nhất đi mắng người, đi phỉ báng người, chỉ cần ác khẩu vừa ra chính
là trọng tội. Người mắng người nếu mắng rất ác liệt, lôi cả tổ tông người ta ra
mắng, người này chính là trọng tội. Các con nghe có hiểu không? Người này không
làm việc này, con cứ khăng khăng đi nói họ, phỉ báng họ: "Tôi nhìn thấy rồi,
chính là nó đang làm việc này, tôi chắc chắn chính là nó." Đây gọi là phỉ
báng. Ở dương gian, phỉ báng cũng là tội hành; ở âm tào địa phủ, đây gọi là trọng
tội. Việc người ta không làm con cứ nói người ta làm, thực tế cái này gọi là
"Thiếu âm đức" (thất đức).
Nghĩ cho kỹ, các con đã
đi qua gần một nửa cuộc đời, rất nhiều người đã đi đến cuối cuộc đời rồi, các
con đã làm bao nhiêu việc xấu? Miệng các con đã nói bao nhiêu người không tốt?
Các con đã phỉ báng bao nhiêu người? Sư phụ nói cho các con biết, nếu Bồ Tát, Hộ
pháp thần ở đây, các con mỗi người tìm cái lỗ chui xuống hết. Chỉ có triệt để
thay đổi bản thân, nói với Bồ Tát: "Con không bao giờ nói nữa, Quan Thế Âm
Bồ Tát, Ngài tha thứ cho con, con thật sự không hiểu. Con quá khứ nói người ta
không tốt, con là phỉ báng người ta, con thật sự không hiểu." Khó lắm, hơi
không cẩn thận con liền xuống địa ngục rồi. Các con nghe có hiểu không? Nói
chuyện cười khiêu dâm (hoàng sắc tiếu thoại), ỷ ngữ (lời thêu dệt/tà dâm). Nếu
con trước mặt con gái liều mạng kể chuyện cười khiêu dâm, cái này gọi là ỷ ngữ.
Cái này cũng là không được. Thực tế chính là dụ dỗ người ta. Nếu là chính nhân
quân tử thật sự sẽ không nói những lời này. Sư phụ từng thấy một cặp vợ chồng
già người Triều Tiên, sạch sẽ, hai người này cả đời không cãi nhau. Người ta
không phải nói ở nhà có thể lộn xộn bát nháo, chạy ra ngoài làm như thật. Người
ta ở nhà là thật, ra ngoài cũng là thật. Sạch sẽ lắm. Con người thật sự có người
sạch sẽ. Không phải nói ở nhà là một khái niệm, chạy ra ngoài lại ra dáng ra
hình, thế thì giống như thú đội lốt người (y quan cầm thú).
Sư phụ nói chuyện với
các con rất nghiêm trọng, yêu cầu của Sư phụ đối với các con cũng rất cao. Sau
này muốn bái Sư phụ, bắt buộc phải ăn chay. Nếu điều kiện này không làm được,
thì đừng nghĩ bái sư làm đồ đệ nữa. Đối với đệ tử nhập thất (đệ tử thân tín)
cũng là yêu cầu cố gắng ăn chay. Nhưng đối với đệ tử hải ngoại là không có điều
khoản này. Nếu con muốn làm đồ đệ, nếu ngay cả điểm này cũng không làm được,
thì xin lỗi. "Nếu cả đời này con không chịu từ bỏ thói quen ăn mặn, điều
đó chứng tỏ con không có lòng từ bi, con sẽ không nhận được sự che chở trọn vẹn
của Quan Thế Âm Bồ Tát. Vậy có được che chở
không? Có. Hãy lấy ví dụ thế này: Giống như con không được đứng trực tiếp dưới
ánh mặt trời rực rỡ, mà chỉ tìm thấy một chút ánh nắng hắt qua cửa sổ trong nhà
mà thôi. Hơn nữa, ánh nắng này có khi chỉ buổi sáng mới có mấy tiếng, đến chiều
là tắt ngấm; hoặc chỉ chiếu vào một chút từ 3 giờ đến 5 giờ chiều, còn cả buổi
sáng và buổi tối đều không có ánh nắng.
Phải nhớ, nếu tham tiền
Tam Bảo, là phải xuống địa ngục, chính là tham tiền Phật Pháp Tăng. Rất nhiều
người tiền này cũng dám tham. Tiền cúng Quan Thế Âm Bồ Tát, tiền hoằng pháp, tiền
cho tăng nhân, con cũng dám tham? Đây là tội xuống địa ngục. Sư phụ hôm nay
không phải dọa các con, Sư phụ nói đều là lời thật. Nhưng các con cũng đừng quá
căng thẳng, bởi vì các con đang tu hành, các con đang sửa đổi, Quan Thế Âm Bồ
Tát mãi mãi sẽ cho các con cơ hội. Nhưng nếu con lại phạm lỗi lầm con từng phạm,
con sẽ khó thoát lưới trời (la võng). Rất nhiều người không hiểu, nếu việc quá
khứ từng phạm sau này lại phạm, thì sẽ xảy ra vấn đề. Bởi vì con trước mặt Bồ
Tát nói "Con không bao giờ phạm nữa", Bồ Tát tha thứ cho con. Con lại
phạm. Con đây chẳng phải nói dối với Bồ Tát sao?
Tại sao người học Phật
quy củ như vậy? Tại sao người học Phật nhìn thấy tiền sẽ không lấy? Tại sao người
học Phật nhìn thấy đàn ông, nhìn thấy phụ nữ không động lòng? Bởi vì họ là người
học Phật, họ có giới luật. Nhưng có mấy người có thể thực sự giữ giới? Các con
đừng tưởng giấu được Sư phụ, Sư phụ không biết. Các con không giấu được Sư phụ
đâu. Nhưng Sư phụ cũng không muốn biết những việc các con làm sau lưng. Thực tế
các con là đang hại chính mình. Các con tưởng việc làm sau lưng người ta không
biết? Thực tế, Bồ Tát và Thần trên trời vị nào không biết? Đến quỷ cũng biết đấy.
Đa hành bất nghĩa tất tự tệ (Làm nhiều việc bất nghĩa ắt tự chết). Con làm nhiều
việc không tốt, đến quỷ cũng sẽ đến kéo con. Đó là lý do tại sao người học Phật
học đến càng cao thâm, họ càng không dám làm việc xấu. Chính là những người mới
học Phật, không biết trời cao đất dày, tưởng rằng Bồ Tát nói qua rồi thì không
sao nữa, kỳ thực chờ đợi họ chính là đại tai nạn. Hôm nay nói với các con đều
là trọng tội. Ví dụ như nhận tiền in kinh sách của người khác, hoặc biển thủ,
chiếm làm của riêng, cũng là trọng tội. Cho nên các con phải sám hối thật tốt,
không sám hối, đến lúc đó cơ thể sẽ xảy ra vấn đề. Khi các con xảy ra vấn đề
còn tưởng rằng, tại sao tôi ngày ngày niệm "Đại Bi Chú" vẫn bị ung
thư? Bởi vì nghiệp chướng của con đã lớn hơn công đức của con rồi.
Sư phụ hôm nay lại nói
trở lại, nếu con không muốn xuất luân hồi, không muốn loại bỏ phiền não, nghĩa
là "Tôi không sao cả, tôi kiếp sau lại luân hồi là được rồi, tôi nhiều phiền
não một chút không sao". Các con biết không? Đây cũng gọi là phạm tội.
Không tiến bộ cũng là phạm tội, gọi là Ngỗ nghịch tội (tội trái nghịch). Đối với
người học Phật mà nói, định nghĩa Sư phụ đưa ra là Tội không khai ngộ. Bởi vì
người không khai ngộ cũng có tội. Họ không khai ngộ, không biết tốt xấu, cho
nên họ nhất định sẽ phạm tội. Nghĩ xem, mỗi lần Sư phụ đưa bài viết lên blog, rất
nhiều người nói: "Hôm nay tôi lại tắm một lần nữa, hôm nay Đài trưởng lại
đang giúp chúng tôi lau sạch linh hồn." Mỗi người trên thân bẩn thỉu biết
bao, nghĩ người ta đều theo chiều hướng xấu, có mấy người có thể nghĩ người ta
theo chiều hướng tốt? Người ta làm bất cứ việc gì, đầu tiên nghĩ đến chỗ không
tốt của người ta: Giả đấy, lừa người đấy, làm cho người ta xem đấy. Con không
thể nghĩ người ta theo chiều hướng tốt sao? Người học Phật, trong lòng thường
xuyên có thứ tốt, con có thể nghĩ người ta theo chiều hướng tốt. Con hôm nay
nghĩ người ta theo chiều hướng xấu, bản thân con chính là người thường xuyên
nghĩ chuyện xấu. Phải hiểu cái này cũng là tội nghiệt. Bởi vì con không khai ngộ,
con liền có tội rồi. Cho nên đối với người học Phật mà nói, con phạm là tội
không khai ngộ, thực ra gọi là Bất minh lý (không hiểu lý lẽ). Bởi vì con không
hiểu đạo lý, cho nên con sẽ phạm tội trong tư duy, đây gọi là tư duy phạm tội.
Mỗi người chúng ta trên
thân đều có Tà kiến, chính là kiến giải tà ác, kiến giải lệch lạc, cho nên sẽ
nói Phật Bồ Tát không linh. Sư phụ trên đài phát thanh, ai mà nói một câu không
linh, Sư phụ lập tức nói con đừng nói lung tung. Đây gọi là Hộ pháp. Đôi khi
thính giả nói niệm bao nhiêu tấm Ngôi Nhà Nhỏ rồi vẫn không linh, Sư phụ đều
không cho thính giả nói. Bởi vì quỷ sẽ không vui. Các con biết không? Đây gọi
là Hộ pháp. Sư phụ đang giúp các con hộ pháp đấy. Cho nên không thể nói Phật.
Người ta hỏi tôi người này tốt không? Tốt. Người kia tốt không? Tốt, đều tốt.
Con làm gì cứ phải nói người ta không tốt? Con đi nói người ta không tốt làm
gì? Con nói người ta không tốt, hoàn toàn không đại diện cho con tốt. Nếu người
ta nói con không tốt, nhưng con vẫn rất tốt mà. Con có bản lĩnh con tự mình làm
cho tốt, người ta nói con là việc của người ta, người ta tạo khẩu nghiệp. Con
đi nói người ta, các con chính là kẻ tám lạng người nửa cân. Con tại sao phải
đi nói người ta không tốt? Nói người ta không tốt là việc không đáng nhất, thứ
nhất, khiêu khích; thứ hai, phỉ báng; thứ ba, tạo khẩu nghiệp; thứ tư, tạo cho
người ta một cơ hội phản kích con, công kích con. Con đây chẳng phải tự tìm rắc
rối cho mình sao?
Con
có thể tự mình tiến bộ, con tại sao phải nói cái này không tốt, nói cái kia
không tốt? Các con không có trí tuệ, lời nói ra chính là tạo khẩu nghiệp. Nếu
các con khai ngộ, các con nói ra một số việc cho dù có chút sai, chỉ cần tâm
con thực sự là chính (ngay thẳng), Bồ Tát cũng sẽ không trách con. Bởi vì tâm
các con không chính, các con đến trước mặt Sư phụ nói cái này không tốt nói cái
kia không tốt, nói chuyện này nói chuyện kia, thực tế Sư phụ rất rõ ràng, các
con là mang theo tư dục. Bởi vì các con mỗi người đều có người thích và người
không thích, cho nên các con nói một chút về người mình không thích, dường như
là đối việc không đối người, thực tế các con chính là đối người chứ không phải
đối việc. Các con ở Quan Âm Đường, ở chỗ Sư phụ học Phật pháp bao nhiêu năm
nay, nếu các con trong sắp xếp công việc, trong làm việc còn có tư tâm tạp niệm
thì gọi là làm bừa, chính là lãng phí thời gian. Phải Công tâm (tâm công bằng/vì
việc chung). Bởi vì các con không phải làm cho Sư phụ xem, cũng không phải làm
cho bản thân các con xem -- Bồ Tát ở trên trời, dưới đất có quỷ, toàn bộ đều biết.
Vậy con lừa ai? Đến cuối cùng con lừa là chính con, chứ không phải lừa người
ta. Sư phụ chính là biết các con có loại thiên tâm (tâm lệch lạc) này, cười cười
cũng không nói nữa. Nhưng phải biết, con lừa được Bồ Tát trên trời không? Con lừa
được quỷ bên dưới không? Làm đến cuối cùng ngay cả một chút công đức cũng không
có. Đã đang làm công đức rồi, tại sao còn làm cái túi, chỗ này đang bỏ tiền
vào, chỗ kia đang lọt ra ngoài? Học Phật học đến sau này chính là vừa bỏ vào, vừa
lọt ra. Cho nên phải có giới luật, giới luật là nền tảng của tất cả pháp.
41. Thủ giới là Gốc, Thực tu là Lý
Tất
cả các đồ đệ ngồi đây hôm nay, Sư phụ muốn nói với các con: Nếu người này không
có giới luật chính là không thực tu, chính là không có nền tảng học Phật, học
Pháp, người này nhất định sẽ đọa vào tam ác đạo. Tại sao? Bởi vì tam ác đạo dễ
thu nhận những người không thực tu này nhất. Các con bây giờ biết chưa? Nguy
hiểm biết bao! Tam ác đạo là ngạ quỷ đạo, súc sinh đạo và địa ngục đạo. Khi các
con làm súc sinh rồi, muộn rồi. Người tu tâm, nếu không chân tâm tu, cuối cùng
đầu thai súc sinh làm con chó của một nhà rất có tiền, người ta ôm con, tắm cho
con, cho con ăn đồ hộp, con chỉ biết liều mạng vẫy đuôi -- đây chính là do con
tu mà thành đấy. Bởi vì con "hữu lậu" (có rò rỉ công đức). Lưới trời
lồng lộng, các con đừng làm bừa nữa! Sư phụ thật sự cầu xin các con đấy! Các
con phải hiểu chút đạo lý, đừng làm công đức còn mang theo tư tâm (lòng riêng),
hôm nay anh ta tốt với con, con tốt với anh ta một chút, như vậy là không được,
như vậy là hữu lậu. Nghe có hiểu không? Phải khóa chặt bản thân cho ngay chính
(tỏa chính tự kỷ), nhất định phải có Giới. Tất cả các đồ đệ các con sau này
phải nói với Sư phụ, con đã giới (cai/giữ giới) được mấy điều rồi. Con nếu không
giới, con sẽ không có nền tảng của Phật, con sẽ trượt xuống tam ác đạo. Nói cho
Sư phụ, các con hiện tại đã giới được mấy điều rồi? Các con giới vọng ngữ chưa?
Giới trộm cắp chưa? Giới tà dâm chưa? Giới rượu chưa? Giới sát sinh chưa? Nghĩ
xem, năm giới này là cơ bản nhất.
Lấy
Giới làm gốc. Học Phật bắt buộc phải thủ giới. Thủ giới là gì? Từ biểu cảm, từ
động tác đều có thể nhìn ra, quy quy củ củ, làm người, nói chuyện, làm việc đều
rất thành khẩn. Hòa thượng mặt rất thành khẩn, đó là từ trong tâm phát ra, đó
là do thủ giới mà thành. Tùy tùy tiện tiện, hi hi ha ha, muốn làm gì thì làm...
Rất nhiều lão già bị người ta coi thường chính là đạo lý này -- nhìn thấy con
gái nhà người ta là cười. Cười ít thôi. Kiểu cười đó khiến người ta coi thường
đấy. Nghĩ cho kỹ, cả đời mình đã làm sai bao nhiêu chuyện? Làm sai chuyện, có
Trời, có Đất, có Bồ Tát quản đấy. Nghĩ xem bản thân con làm sai bao nhiêu
chuyện? Không sửa không được đâu! Sắp đến mùa thu hoạch rồi (thu thâu quý
tiết), trước khi đại nạn ập đến gọi là thu hoạch. Người bị bệnh ác tính toàn bộ
đều là có nghiệp chướng, đến thời kỳ báo ứng rồi. Nếu các con mỗi người đều có
thể chết tử tế (chết lành), Sư phụ phục các con. Sư phụ xem xem các con đi như
thế nào? Nhìn thấy được đấy. Con dám đảm bảo con không bị ung thư? Con dám đảm
bảo con chết thế nào? Con có thể ngủ một giấc là đi không? Con có thể đứng
trước mặt Sư phụ nói: "Con đảm bảo con chính là ngủ một giấc là đi."
Con dám đảm bảo không? Cho nên nhất định phải thực tu. Thực tu là Lý, bắt buộc
phải thực tu. Nói sửa là sửa, không có ngày mai ngày kia gì cả. Giống như người
cai thuốc lá vậy, "Tôi hôm nay phải sửa, tôi lập tức sửa ngay." Sư
phụ giữ thể diện cho các con, cũng không nói tên từng người các con, nhưng mọi
người hãy tự lo lấy thân (hảo tự vi chi), thu hồn phách chặt lại một chút. Nhìn
thấy cô gái nhỏ, nói chuyện hồn phách cũng không còn, nói năng không rõ ràng,
hoằng pháp thế nào? Nhìn thấy tiền mắt đỏ lên, hoằng pháp thế nào?
Con
đường tu Phật chỉ có một, tức là Thực tu. Bất kỳ pháp môn nào cũng là con đường
này. Tu đến cuối cùng, tiến nhập vào Tịch diệt, chính là cảnh giới Niết bàn
giải thoát. Tu hành là không có điểm dừng. Cho dù tu đến giới Bồ Tát, vẫn phải
xuống cứu người, các Ngài mới có thể thành Phật. Bồ Tát còn phải tu, huống hồ
là con người? Cho nên Bồ Tát xuống nhân gian chịu rất nhiều khổ, bị người ta
nói, bị người ta phỉ báng, bị người ta vu khống. Thế nào là Niết bàn? Chính là
trạng thái Vô ngã, toàn bộ là trạng thái Không. Cho nên khi còn sống, tâm phải
có cảnh giới Tịch diệt. Nghĩa là khi con chưa chết, con phải thường xuyên nghĩ
đến "Tôi là Không, tôi đến thế giới này giống như đến một nơi du lịch vậy,
tôi nhất định sẽ quay về", đây gọi là trạng thái Tịch diệt. Đừng quá hứng
thú với thế giới này, đừng quá mê luyến. Rất nhiều người đến nhân gian chính là
quá mê luyến thế giới này, cho nên họ mới không về được, khi họ đi sẽ rất đau
khổ. Giống như các con đi du lịch Gold Coast (Bờ biển Vàng), nằm trên bãi biển,
bãi cát, ánh nắng, tưởng tượng có thể ngày ngày như vậy thì tốt biết bao. Con
có thể ngày ngày như vậy không? Con có thể mê luyến những phong cảnh này không?
Đến giờ con chẳng phải là phải đi sao? Con vẫn phải quay về, tiếp tục cuộc đời
đi làm của con.
Cái
gì là thật? Khi ở nhân gian phải nghĩ đến: Tôi chẳng qua đến nhân gian đi một
chuyến, tôi phải mượn giả tu chân, tôi phải niệm Kinh cho tốt. Tôi tranh thủ
lần sau không đến nữa. Còn mê luyến những thứ này sao? Mê luyến con cái, không
buông được, cuối cùng vẫn đi mất, làm con cái tăng thêm bao nhiêu đau khổ. Nhìn
xem một số người mẹ, chăm sóc con cái trăm bề, cuối cùng lúc đi còn nói:
"Con ơi, mẹ chính là không nỡ bỏ con." Đứa con bây giờ chỉ cần hỏi
Đài trưởng tình hình mẹ nó, lập tức nước mắt giàn giụa. Nghĩ xem, mẹ con không
buồn sao? Con đi rồi còn làm con cái buồn bã, đây cũng gọi là tốt với con cái
sao? Thực sự tốt với con cái, thì cái gì nên buông phải buông, cái gì nên xả
phải xả. Con cái ở bên cạnh cha mẹ là không lớn được. Cái gì nên xả thì phải
xả, ở nhân gian phải có cảnh giới này thăng lên. Cho nên tâm phải giải thoát.
Tâm giải thoát, cũng gọi là Niết bàn cục bộ. Nghĩa là Niết bàn có ý thức, hoàn
toàn không đại diện cho việc con thực sự nghĩ thông rồi, nghĩ không (rỗng không)
rồi. Bởi vì con tạm thời buông bỏ rồi, con chẳng qua là nghĩ thông suốt trong
một sự việc nào đó, con chính là gọi là Niết bàn cục bộ, chính là Không cục bộ.
Niết bàn thực sự sau khi chết mới là Niết bàn toàn bộ. Khi con thực sự chết đi,
con cái gì cũng giải thoát rồi, cũng không buồn nữa. Hơn nữa sau khi con chết,
linh hồn con có thể nhìn thấy con cái. "Không sao đâu, mẹ vốn dĩ phải đi
rồi, các con tự lo lấy thân nhé", không đau lòng nữa. Con cái cũng sẽ
không đau lòng. Cái này gọi là Không rồi. Các con bây giờ mấy người Không nổi?
Hôm nay nghĩ đến con, ngày mai nghĩ đến mẹ, ngày kia nghĩ đến chồng vợ, nhà cửa
trong nhà v.v., ngày nào là điểm dừng đây? Ngày nào có thể không có chuyện?
Đại
thừa Phật pháp, Tiểu thừa Phật pháp đều có thể đạt đến Tịch diệt, chỉ là đạo
tràng của cảnh giới. Tịch diệt của Tiểu thừa Phật pháp chỉ là Tịch diệt cục bộ.
Nghĩa là, bởi vì tôi muốn bảo vệ tốt chính mình cho nên tôi mới tu tâm, tôi tu
tốt bản thân tôi là được rồi, đây gọi là khai ngộ cục bộ. Sư phụ chẳng phải
thường nói với các con: Một người chỉ lo tu cho mình, thực tế họ là khai ngộ
cục bộ; còn người suốt ngày nghĩ đến người đời, nghĩ đến nỗi khổ của đủ loại
người trên thế giới, nghĩ đến việc phải giúp đỡ người khác, đó mới gọi là học
Đại thừa Phật pháp, loại người này mới gọi là Tịch diệt thực sự. Tịch diệt
chính là đã làm rỗng bản thân mình, họ không có bản thân, họ liền không có đau
khổ.
Sư
phụ thường nói với các con, đau khổ của con người chính là ý thức cái tôi quá
mạnh, họ mới sinh ra đau khổ. "Tôi mất mặt rồi, tôi gặp người ta thế nào
đây, tôi không muốn sống nữa..." Cho nên mọi người phải nhớ, tu hành chính
là phải loại bỏ Vô minh của chúng ta. Vô minh chính là không hiểu (bất minh
bạch). Chúng ta tu nửa ngày cái gì cũng không hiểu. Bởi vì chúng ta ở nhân
gian, tưởng rằng rất hiểu, thực tế chúng ta cái gì cũng không hiểu. Nghĩ xem,
pháp môn này của Sư phụ mới xuống, có bao nhiêu người trên mạng nói "Tôi
học Phật mười mấy năm, tôi học Phật mấy chục năm, tôi cái gì cũng không
hiểu." Cái này gọi là thật sự không hiểu. Bởi vì chúng ta ở nhân gian,
sống đến già, học không hết. Chúng ta phải học quá nhiều thứ. Không có cảnh
giới này, con cái gì cũng không hiểu. Cho nên chúng ta không thể diệt trừ nỗi
khổ luân hồi sinh lão bệnh tử của bản thân. Bởi vì con không hiểu nhân gian này
chính là đến đi một chuyến, con người luôn có sinh lão bệnh tử. Sinh ra rất đau
khổ, già rồi cũng rất đau khổ, bệnh rồi rất đau khổ, lúc chết càng khổ. Thực tế
từ đầu khổ đến cuối, đâu có sự hưởng thụ thực sự? Người có tiền đến mấy có thể
hưởng thụ cái gì? Không thể đạt được sự hưởng thụ vĩnh hằng thì không gọi là
hưởng thụ thực sự. Con ngày ngày làm việc bên ngoài, đổ một thân mồ hôi, vào
nhà vệ sinh xối cho mình mát mẻ, con cảm thấy là hưởng thụ rồi sao? Đợi con
hưởng thụ xong thì thế nào? Tiếp theo lại là một đầu mồ hôi, toàn thân hôi
thối. Vậy con cái này gọi là hưởng thụ sao? Con có bản lĩnh, tắm rửa sạch sẽ,
sau này sẽ không đổ mồ hôi nữa, nằm trong phòng điều hòa, mãi mãi là như vậy,
thì con mới gọi là hưởng thụ mãi mãi. Hưởng thụ mang tính tạm thời không gọi là
hưởng thụ thực sự. Mà đến thiên giới, đến lúc thực sự siêu thoát lục đạo luân
hồi, thì con mới gọi là hưởng thụ thực sự, bởi vì lúc này con không xuống nữa,
ở trên trời tốt biết bao.
Phải
nghĩ thông, phải hiểu tâm của Bồ Tát. Đồ đệ của Sư phụ bắt buộc phải thủ giới,
tuyệt đối không cho phép làm sai chuyện, không cho phép tham nữa. Cho các con
mấy câu: Tự lo lấy thân, thủ giới nhiều vào. Phải nghe lời. Tuyệt đối không cho
phép lập bè phái nhỏ, tuyệt đối không cho phép lấy tư đối công (lấy việc tư làm
việc công). Các con có thể lừa được Sư phụ, các con có thể lừa được bản thân,
nhưng các con lừa không nổi Bồ Tát, Hộ pháp thần, cũng lừa không nổi quỷ. Cho
nên tất cả những điều này của các con đều là uổng công. Giả là vô dụng. Sư phụ
hôm nay không muốn giảng tiếp nữa, Sư phụ hôm nay cuối cùng giảng thêm một câu,
người bình thường cho rằng "Muốn làm được, tôi cả đời đều là muốn làm
được", gọi là "Vô minh tận". Chúng ta phải đưa Vô minh đến tận
cùng. Nghĩa là Vô minh đã hết rồi, chúng ta đều hiểu rồi, chúng ta không phải
Vô minh, gọi là "Vô minh tận". "Vô lão tử tận" chính là
chúng ta sau này không có sinh và tử, chúng ta sẽ không già chết. Chính là để
trí tuệ của mình mãi mãi không có phiền não, gọi là Vô phiền não. Cho nên trong
"Tâm Kinh" nói "Vô minh tận", "Vô lão tử tận",
chính là đạo lý này. Sau khi thực sự khai ngộ chúng ta sẽ không có già chết.
Bởi vì nhục thân (thân xác) là tạm thời, giống như một chiếc xe vậy. Chiếc xe
này hỏng rồi có thể đổi một chiếc khác. Mà linh tính của con chính là bản thân
con có thể vào một chiếc xe hơi khác, vẫn lái xe của con như thường. Con kiếp
sau đầu thai rồi, con chính là đổi một thân xác, giống như chúng ta bây giờ đổi
một chiếc xe vậy. Bởi vì Vô lão tử tận, chúng ta không có chết đi. Chúng ta sẽ
không không hiểu, gọi là Vô minh tận.
Học
Phật tu tâm thật sự không dễ dàng. Nói đến chỗ đau của người đó, họ ngồi không
yên, khó chịu; nói đến người đó lại muốn tu tâm, lại muốn trường thọ, lại muốn
tốt, nhưng trong lòng lại có chút cảm thấy mất mặt (sĩ diện không xuống được).
Học Phật không có sĩ diện, già trẻ như nhau. Người trẻ tuổi trong nhà bây giờ
nói không chừng là tổ tông của các con đấy, trước mặt tổ tông con có sĩ diện gì
chứ? Người trẻ tuổi bây giờ tại sao ngày càng thông minh? Bởi vì họ là Thiên
giới xuống trợ duyên. Sớm đã biết đến thời kỳ Mạt pháp, trên trời sẽ có vô số
Bồ Tát xuống cứu người, chính là cứu người hữu duyên trong kiếp sống quá khứ
của mình. Rất nhiều đứa trẻ chính là đến cứu cha mẹ. Các con nhìn xem bao nhiêu
người học Phật là con cái đến niệm Kinh trước, rồi đưa bố mẹ vào, đây chẳng
phải con cái đang cứu cha mẹ sao? Cho nên, nhất định phải tu cho tốt.
Sư
phụ thường xuyên giúp các con tắm rửa cơ thể. Các con quá bẩn, thật đấy. Trong
đầu các con quá bẩn. Bây giờ người bẩn quá nhiều, bởi vì mọi người đều bẩn,
nhìn vào liền cảm thấy ai cũng không bẩn. Lấy ví dụ: (Sư phụ không phải hạ thấp
người đào than) Người đào than mặt mũi, tay chân ngày nào cũng đen. Năm mươi
người đều như vậy, mọi người anh nhìn tôi, tôi nhìn anh, cũng sẽ không cảm thấy
đen. Trên người các con nhiều đồ đen như vậy, cho nên người này làm việc xấu,
người kia cũng làm việc xấu, mọi người liền cảm thấy đây không phải chuyện gì
lạ. Cho nên tật xấu của một người phải dựa vào chính mình giải quyết, đừng lừa
dối bản thân. Học Phật chính là phải dụng tâm, dùng bản tính thực sự của mình
để kiểm trắc lương tâm của chính mình, để thực sự làm được tịnh hóa cơ thể và
linh hồn của mình. Cơ thể sạch sẽ chỉ là một phần, nhưng thực sự phải linh hồn
sạch sẽ. Có người cơ thể rửa rất sạch, mặt lau rất trắng, nhưng trong đầu nghĩ
toàn là những thứ bẩn thỉu, người này chính là không sạch sẽ. Còn rất nhiều
người đầu óc rất sạch sẽ, không bao giờ nghĩ chuyện xấu, nhưng trên người họ
bẩn thỉu, đó cũng là không sạch sẽ. Cho nên tại sao phải tu tâm và tu hành cùng
nhau. Hành vi phải sạch sẽ, tư duy cũng phải sạch sẽ, như vậy mới có thể đạt
được sạch sẽ thực sự.
Sư
phụ thấy rất nhiều người nếu không nỗ lực nữa sau này thật sự không làm nổi đồ
đệ của Sư phụ. Sư phụ nói cho các con biết, các con phải triệt để thay đổi. Nếu
không triệt để thay đổi, không phải vấn đề Sư phụ có nhận các con hay không, mà
là vấn đề Bồ Tát có cho các con bái sư hay không. Rất nhiều người không hiểu,
tưởng rằng Sư phụ không cho bái. Thực tế là họ không có duyên phận này. Đồ tốt
mọi người đều muốn, họ không muốn, thực tế họ chính là không có tư cách này.
Cho nên trong thời kỳ Mạt pháp, tu tâm học Phật thật sự rất quan trọng. Nếu
người này mất đi, có thể sẽ vĩnh viễn mất đi; đạt được, có thể con sẽ thực sự
đạt được. Sư phụ chỉ là làm một phương tiện truyền thông (trung gian), Quan Thế
Âm Bồ Tát thông qua Sư phụ để truyền đạt thông tin cho các con. Các con không
chấp nhận, không phải không chấp nhận phương tiện truyền thông là Sư phụ, mà là
không chấp nhận ân huệ Quan Thế Âm Bồ Tát ban cho các con, không có lòng biết
ơn. Hãy cẩn trọng.
42. "Thân Khẩu Ý" mà đệ tử cần chú ý (1)
Chúng
ta mọi người tụ tập cùng nhau, chỉ cần có một hai người rất đáng ghét, toàn bộ
cảm xúc liền bị phá hỏng. Cho nên người học Phật tu tâm, bắt buộc phải từ trong
tâm họ, từ trên tư duy của họ triệt để thay đổi chính mình. Nếu còn mang theo
một loại tạp niệm nhân sinh, họ vĩnh viễn không đạt được pháp hỷ. Bởi vì họ
sống trên thế giới chỉ biết nói người ta, họ chỉ biết bới móc tật xấu của người
ta, người này sống trên thế giới sẽ rất mệt. Các con đi theo Sư phụ học, học
cái gì? Là học cách coi mọi người đều là người tốt. Thế giới này không có một
người xấu, chỉ có nhân quả. Nếu các con đến bây giờ còn coi người này là người
xấu, coi người kia là người xấu, Sư phụ nói cho con biết, con chính là người
xấu. Sư phụ không thích các con nói cái này không tốt, nói cái kia không tốt.
Lời gì cũng có thể nói, nhưng có một câu không thể nói, chính là không thể nói
xấu người ta. Các con bây giờ dựng hết tai lên mà nghe: Nếu ai ở bên tai các
con nói cái này không tốt, nói cái kia không tốt, người này chính là một người
không tốt.
Là
một người tu tâm, nhất định phải lương thiện, cần cù. Hôm nay Sư phụ ngồi ở đây
nhìn các con nhiều người như vậy, ai đang liều mạng làm công đức, ai đang nỗ
lực làm, Sư phụ nhìn rõ rõ ràng ràng. Một người học Phật chính là học làm
người, nhân thành tức Phật thành. Phật là gì? Chính là để con ở thế gian làm
người cho tốt và giống như Phật Bồ Tát, Phật chính là đạo sư dạy chúng ta làm
người. Con làm người tốt rồi, con chính là Phật. Ngay cả người cũng làm không
xong, con tu tâm cái gì? Từ nay về sau cố gắng sửa đổi, ngay cả người nhà của
mình cũng đừng nói xấu họ. Chồng mình, vợ mình, con cái mình, đều cố gắng đừng
nói xấu họ. Nếu thực sự muốn nói, nói cái gì? "Ồ, rất có tiến bộ. Trên
người còn một chút tật xấu, chúng ta giúp đỡ anh ấy." Học Phật phải không
có cái tôi (cái giá), học Phật chính là phải hạ cái tôi xuống, học Phật chính
là biến mình thành một người bình thường. Bất kể con là ai, con đến đây học
Phật rồi, chúng ta toàn bộ đều giống nhau.
Các
con có thể dùng mắt của các con để xem xem, nếu là đồ đệ của Sư phụ, hiện tại
có mấy người xì xào bàn tán nói xấu người ta? Có người không chịu ra làm việc
không? Có người không nỗ lực hoằng pháp không? Các con nghĩ xem, nói tốt cho
người ta thì dễ, nói xấu cho người ta cũng dễ, đây gọi là tu tâm. Sư phụ nói
cho các con biết, bất kỳ một nơi nào, ăn cơm cũng vậy, làm việc cũng vậy, chính
là một cái duyên. Hôm nay mọi người có thể ở cùng nhau chính là một cái duyên.
Các con trên mạng cũng nhìn thấy rồi, có một cư dân mạng, em dâu của cô ấy vì
truyền máu mà mắc bệnh AIDS, bố làm việc rất vất vả, bình thường tiết kiệm ăn
mặc, ông ấy bỏ ra mấy ngàn đồng đi phóng sinh, không dễ dàng gì. Với chúng ta
cũng là có duyên. Tâm từ bi đối với con người rất quan trọng, con người phải có
tâm từ bi. Con phải để người ta cảm thấy, nhân gian đâu đâu cũng là tình yêu
thương. Bài viết vị cư dân mạng này viết rất nhiều người xem xong đều rơi lệ,
nhiều người xem như vậy đều rất buồn, khiến mọi người nảy sinh tâm từ bi.
Sư
phụ nói chuyện với các con nói rất rõ ràng. Tất cả Nhân nhất định sẽ tạo thành
Quả của nó, tất cả Quả đều có Nhân khiến nó hình thành, nhân quả ở nhân gian
một tơ hào cũng chạy không thoát. Sư phụ muốn các con bắt đầu làm từ chính
mình. Bất kể là đồ đệ hay dự thính, hay là làm nghĩa công ở Đài Đông Phương,
nếu tật xấu không sửa, Sư phụ sẽ không vui. Phải triệt để sửa. Ai nếu còn dám ở
sau lưng xì xào bàn tán nói xấu người khác chính là không tu tử tế. Sư phụ hy
vọng các con đừng giả tu. Nếu các con đi theo Sư phụ tu tử tế, các con hãy tu
tử tế; nếu các con muốn giả tu, các con hãy rời khỏi Sư phụ. Bởi vì cái này có
báo ứng, bởi vì người tu tốt nhận được quả báo đặc biệt lớn, tốt rồi sẽ càng
tốt hơn; con không tu tử tế, xấu rồi sẽ càng xấu hơn. Người thường xuyên tạo
khẩu nghiệp sẽ đi xuống đấy. Sư phụ không phải nói đùa với các con. Sư phụ
chẳng phải từng nói với các con sao? Rất nhiều người nói lắp là do đâu mà ra?
Là kiếp trước mắng người, kiếp trước nói xấu người ta. Nghĩ xem, kiếp này nói
chuyện cũng không rõ ràng, quả này còn nhỏ sao? Các con nhất định phải tu cho
tốt.
Hôm
nay các con đều tụ tập ở đây, thực tế là một loại tình yêu của Sư phụ đối với
các con. Sư phụ cũng đang xem các con làm công đức. Rất nhiều người rất tự
nhiên bước ra, làm rất nhiều việc, vô cùng nỗ lực, Sư phụ bình thường đều nhìn
thấy trong mắt. Rất nhiều người đều không làm công đức, Sư phụ chẳng lẽ không
biết? Đừng lấy Phật pháp ra đùa giỡn, nếu không cuối cùng đều không biết mình
xảy ra chuyện như thế nào. Chánh pháp chính là Chánh pháp. Sự mê hoặc của bản
thân, bản thân không làm việc tốt, kết quả là nhân quả như hình với bóng.
Phải
tranh thủ thời gian! Nhìn xem tai nạn thế giới bây giờ, chết thì chết, thương
thì thương. Các con nghĩ xem, sông Trường Giang Trung Quốc có mười ba triệu
người chịu tai; nhìn xem, Haiti chết hai mươi lăm vạn người. Phải dùng hành
động để kiểm chứng sự tu tâm của mình, học biết cần cù, lao động thực tế chính
là mài giũa ý chí tu tâm của mình rất tốt. Tại sao rất nhiều ngôi chùa để người
ta lao động chính là đạo lý này. Sư phụ nói rất rõ ràng, đồ đệ nào tốt, Sư phụ
nhất định sẽ bảo vệ họ. Thế giới này giúp người tốt trước, không giúp người
xấu. Bắt đầu tu từ cái miệng của mình, bắt đầu tu từ cái tâm của mình. Phải
biết, con không đi so sánh bất kỳ cuộc sống nào, con mới thực sự hưởng thụ cuộc
sống của con. Con không đi so sánh tốt xấu với người ta, con liền thực sự có
được cuộc sống này. Con hôm nay có thể nói, "Tôi sống trong ngôi nhà lớn
thế này, tôi đi so với người tốt hơn", con đều không phải là cuộc sống
thực sự. Bởi vì hễ so sánh sẽ sinh ra Tham. Tất cả mọi thứ đều là giả, hư ảo.
Hôm nay có thể có ngôi nhà này, ngày mai có thể bán đi. Cái gì cũng là giả, chỉ
có trái tim này là thật.
Sư
phụ đối với đồ đệ yêu cầu vô cùng nghiêm khắc. Các con hôm nay đi theo Sư phụ
chỉ có một con đường, đó chính là tu cho tốt, học cho tốt. Nếu các con tự mình
không học cho tốt, ở nhà cho rằng anh ấy là chồng tôi, cho rằng cô ấy là vợ
tôi, muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, nhất định không nhận được thiện
quả. Người ta đang tu, con không tu, con sẽ bị xã hội, bị Phật tánh của chính
con đào thải. Cứ ở trên người người ta tìm tật xấu, mà người khác bây giờ càng
tu càng tốt, con thì không xong rồi. Chồng con càng tu càng tốt, bản thân con
không tu, bản thân con bị đào thải rồi. Tại sao con toàn thân trên dưới đều đau
nhức? Tại sao anh ấy không bị? Tại sao người này bị ung thư rồi bây giờ lại tốt
như vậy? Tại sao anh ấy chết rồi, mà cô ấy còn sống? Đây chính là nhân quả của
tu hành. Một người ngay cả tu hành tu tâm cũng không biết, trên thế giới coi là
không khai ngộ. Tu tâm chính là để tu hành, tu hành chính là để tu tâm. Hành vi
giả bộ tốt đến mấy cũng vô dụng. Phải nhớ thật kỹ: Tu cho tốt. Sư phụ cho phép
các con phạm sai lầm, nhưng các con không sửa, Sư phụ sẽ không thích. Phải nhớ,
các con đi theo Sư phụ tu, Sư phụ có thể làm cho các con tốt, Quan Thế Âm Bồ
Tát sẽ quan tâm các con, các con mới không có tai nạn. Nếu không tu, các con
chỉ có thể tự mình đi theo mệnh.
Quyền
thế tương đương với gông cùm, phú quý giống như phù vân. Con hôm nay có quyền
có thế, con tương đương với dùng gông cùm tròng lên mình rồi. Con có tiền rồi,
đợi thời gian này qua đi, giống như phù vân trôi qua vậy, cái gì cũng không
còn. Hôm nay các con đi theo Sư phụ học Phật học Pháp cho tốt, sẽ nảy sinh một
loại tâm biết ơn. Tâm biết ơn phải phát ra từ trong lòng. Việc không sợ nhiều,
cũng không sợ ít. Người học Phật giống như Bồ Tát, bất kể việc gì đều tranh
nhau làm. Sư phụ đều nhìn thấy trong mắt. Nếu chỉ miệng biết nói, vô dụng. Tật
xấu của con người chính là một cái miệng, cái cần tu cũng là cái miệng này.
Phải thực sự tu cho tốt. Khí trường của Sư phụ đã là rất sạch rất sạch, căn bản
không dung nạp được một chút đồ bẩn. Cho nên có đồ bẩn, Sư phụ thà không cần.
Sư phụ nói một câu: Đồ thật thì phải bỏ tinh lực thật để tu, dùng chân tâm của
con để tu, con mới tu tốt. Nếu con không dùng chân tâm của con, con sẽ không
nhận được Phật pháp chân chính. Nếu con không tu được chân lý bên trong này thì
tương đương với tu uổng công, hơn nữa đánh mất thứ thuần khiết nhất trên đời.
Trong
Quan Âm Đường các con làm bất cứ việc gì, trên trời toàn bộ biết hết. Chỉ có
người không hiểu mới không sợ, giống như người không hiểu pháp luật, họ không
biết sẽ bị bắt vào vậy. Các con nhìn thấy Châu Thương Bồ Tát bên cạnh Quan Đế
Bồ Tát không? Châu Thương Bồ Tát cũng là Hộ pháp thần. Các con nhìn vào mắt
Ngài một phút, xem các con có sợ không? Trừ khi con không làm việc xấu. Con làm
việc xấu con nhất định sẽ sợ. Cho nên Sư phụ nói cho các con, tất cả mọi người
không được nói xấu người ta. Các con đốc thúc lẫn nhau, nếu ai ở bên cạnh người
ta nói lời không hay, người này chính là không tu. Sư phụ nói với các đồ đệ rất
rõ ràng: Phải yêu thương lẫn nhau, phải giúp đỡ lẫn nhau, Sư phụ mới thực sự
thích các đồ đệ các con.
Sư
phụ nói cho các con phải nghiêm khắc yêu cầu bản thân. Các con phải nghe Sư phụ
giảng Phật pháp cho tốt, đi theo Sư phụ tu cho tốt. Ai cũng muốn đặc biệt tu
cho tốt, lập tức thay đổi vận mệnh của mình, lập tức thay đổi vận trình của
mình. Tại sao có người niệm Kinh thì đặc biệt linh, mà có người niệm Kinh thì
không linh lắm? Chủ yếu là Tâm đấy. Nếu các con hôm nay có Tâm thì tốt.
43. "Thân Khẩu Ý" mà đệ tử cần chú ý (2)
Sư
phụ giảng cho mọi người, khi lên lớp ai có thể ngồi yên, người này chính là có
định lực. Trong Phật pháp nói "Giới Định Tuệ". Con định lại được, con
sẽ có trí tuệ; con không định lại được, con sẽ không có trí tuệ. Sư phụ nói đến
một số việc, con tự mình vơ vào mình, vơ vào không sao, con phải tự cảm thấy
xấu hổ -- "Tôi phải tu cho tốt, để bản thân định lại." Rất nhiều
người không có tu hành, nói với anh ta một cái anh ta liền ngồi không yên, toàn
thân sẽ động đậy. Tay sờ sờ, đầu gãi gãi. Các con đi xem đồ đệ của Sư phụ, bất
động. Tại sao? Cho dù cảm thấy Sư phụ nói là mình, hoặc nói không phải mình,
đối với họ mà nói đều không sao cả. Chỉ cần họ sửa đổi cho tốt, tu cho tốt là
được. Nhưng người bình thường, Sư phụ chỉ cần nói đến vấn đề tương tự với họ là
ngồi không yên rồi. Ai cũng sẽ làm sai chuyện. Đi theo Sư phụ tu, phải triệt để
sửa. Sửa là rất đau khổ, thích thường xuyên nói chuyện, không được nói; thích
nói người ta không tốt, không được nói; thích nghe lời hay, không được nghe;
thích mắt nhìn cái đẹp, không được nhìn; thích miệng ăn ngon, không được ăn.
Chỉ có chịu khổ mới là tiêu nghiệp chướng. Muốn nói gì thì nói, cái này không
gọi là tu hành, cái này gọi là giở tính khí. Con muốn nói là có thể nói sao?
Con ở nhân gian muốn nói ai thì nói ai, cái này gọi là tu tâm sao? Bản thân
nhìn chồng mình không thuận mắt, không được; bản thân nhìn vợ mình không thuận
mắt, không được. Con có Tu, con không được nhìn cô ấy không thuận mắt. Anh ta
không tu, anh ta xui xẻo, đau khổ là anh ta, xui xẻo là anh ta. Nói ra gọi là
cỏ đầu tường, nổi trên mặt nước không có trọng lượng; không nói ra mới gọi là
có trọng lượng. Các con đi theo Sư phụ là tu hành, không phải bảo các con hôm
nay đến làm quan, ngày mai đến có lợi ích gì. Các con đi theo Sư phụ cái gì
cũng không có, bởi vì không có quan để làm cũng không có tiền để kiếm, đi theo
Sư phụ chính là tu tâm. Chạy đến đây nếu còn không tu tâm cho tốt, chính là
lãng phí thời gian của các con, cũng lãng phí tinh lực của Sư phụ.
Đồ
đệ được người ta coi trọng, tôn trọng, Sư phụ vui biết bao. Nếu không tu cho
tốt, các con muốn nói ai thì nói ai, đây chính là không có tu dưỡng. Trước mặt
nhiều người như vậy con ghé tai nói chuyện với người ta, chứng tỏ con không có
tu dưỡng. Bởi vì con không coi người ta ra gì. Con lén lút nói chuyện với người
khác, người ta sẽ tưởng con đang nói người ta, đây gọi là không có tu dưỡng.
Học Phật gì chứ? Có gì không thể nói công khai? Không nói xấu người ta, có
chuyện gì không thể nói chứ? Con thực sự muốn nói, con về nhà mà nói. Trước mặt
nhiều người như vậy, không được vô lễ. Trước đây Đài Đông Phương có bao nhiêu
thính giả đến không có tu, miệng vừa mở ra, "Tôi chính là như vậy đấy, tôi
muốn nói thế nào thì nói thế đó." Mời bạn về nhà mà nói. Tính thẳng thắn
cũng phải sửa, tính thẳng thắn phải tu. Sai là sai, nói tiếng "Xin
lỗi" ngược lại hiển thị sự cao thượng. Con không nói với người ta
"Xin lỗi", người ta sau lưng sẽ mắng con. Con không đáng để người ta
thích, con không đáng để người ta tôn trọng, con không phải là một đồ đệ tốt.
Nếu
người học Phật ngay cả sự khiêm tốn, nhân nghĩa, nhẫn nhục, liêm sỉ tối thiểu
cũng không có, thì không học tốt Phật được. Nhưng chỉ cần sửa là không sao rồi.
Sửa, trong bất kỳ tôn giáo nào cũng có, gọi là "Sám hối". Sám hối rất
quan trọng. Khi con hôm nay sám hối rồi, con được cứu rồi; con hôm nay không
chịu sám hối, con không được cứu. Lời nói cử chỉ của một người đại diện cho
trình độ tu hành của một người. Nếu con là người tu tâm, hành vi cử chỉ của con
biểu thị sự tu dưỡng của con. Các con phải tu cho tốt, Sư phụ đối với đồ đệ
nghiêm khắc như vậy, mới có thể nói tốt cho người khác. Tu tâm chính là phải
Chân tu, chính là phải đào bới tật xấu của mình, phải đào vỡ vết thương của
mình mới có thể đắp thuốc lên. Các con tưởng Sư phụ không đau lòng các con? Đồ
đệ của Sư phụ thụt lùi, tim Sư phụ không đau? Người nào không phải Sư phụ bồi
dưỡng ra? Đôi khi cắn răng, vết thương thối rữa chỉ có thể khoét bỏ.
Nếu
các con ngày nào đó nói không muốn tu nữa, Sư phụ tuyệt đối sẽ không đi cầu các
con. Các con xem xem đến cuối cùng là người tu tốt lên trời, hay là người không
tu lên Tây Phương? Các con chỉ cần nhìn tình hình nhà một người là biết người
này tu có tốt hay không. Các con phải tin Bồ Tát sẽ không oan uổng bất kỳ một
người nào. Nếu Sư phụ tu không tốt, Quan Thế Âm Bồ Tát sẽ để Sư phụ có hơn một
trăm mấy chục vạn tín chúng sao? Nếu con nói con là Phật pháp chính tông, con
nhìn xem tình hình hiện tại của con thì biết. Chẳng lẽ Bồ Tát nhìn không rõ?
Chẳng lẽ Bồ Tát thật sự không linh? Nghĩ cho kỹ đi. Hôm nay hạnh phúc gia đình
của mỗi người đều là kết quả Quan Thế Âm Bồ Tát quan tâm các con. Các con hôm
nay tụ tập cùng nhau vui vui vẻ vẻ, là một cái duyên. Các con bây giờ ở bên
cạnh Sư phụ, cũng là duyên phận. Các con còn không học cho tốt? Tu quá muộn sẽ
không cứu được nữa.
Sư
phụ hôm nay nói với các con đến đây không phải trong bụng có khí, mà là buồn,
bởi vì Sư phụ thật sự nhìn thấy có rất nhiều người không tu cho tốt. Sư phụ hy
vọng nhất chính là mọi người tu cho tốt. Nếu không tu tốt, Sư phụ đến cơm cũng
ăn không trôi; nếu mọi người tu tốt, cơm rau dưa chính là bát bảo. Nhất định
phải nhớ: Các con hôm nay ở cùng Sư phụ, nghe một lần ít một lần. Không nhất
định là Sư phụ đi trước, rất nhiều người sẽ đi sớm hơn Sư phụ, nhưng cũng là
nghe một lần ít một lần. Sư phụ hy vọng các con trân trọng, đừng đợi đến khi
tai nạn đến trên người mình mới bắt đầu sửa tật xấu. Sư phụ nói cho các con
biết, đợi đến lúc đó hối hận đã muộn.
Phải
nhớ: Nhà mình xảy ra vấn đề, bản thân mình có vấn đề. Tương tự một đạo lý rất
đơn giản: Nhà con chỉ cần có chuyện, trong lòng con nhất định sẽ có chuyện. Sư
phụ giảng thêm một điểm cho các con nghe: Oan kết kiếp trước sau khi bùng phát
ở kiếp này, nếu nhân duyên không chín muồi, nó phát không lớn. Ví dụ nếu trong
nhà một đống lửa sắp cháy lên, bên cạnh con dọn dẹp sạch sẽ, lửa sẽ không cháy
quá lớn. Nếu bình thường trong nhà con không phải bình gas thì là diêm, vật dễ
cháy bình thường không cất dọn kỹ, đống lửa này của con vừa cháy, ngôi nhà liền
nổ tung. Không phải nói tất cả nghiệp chướng sau khi bùng phát đều nhất định sẽ
khiến con chịu khổ. Tại sao có người ngã một cái rồi không sao nữa? Cho nên Sư
phụ yêu cầu cao đối với các con, các con phải tự lo lấy thân. Tự mình nghĩ một
chút, tôi sau này không nói người ta không tốt nữa. Người cả đời nói người ta
không tốt sau này sẽ đầu thai súc sinh. Rất nhiều người kiếp này nói chuyện
không rõ ràng, còn có rất nhiều người bị cà lăm, cũng là kiếp trước tạo nghiệp,
hơn nữa sau này là đầu thai người. Đừng làm khó cái mạng của mình, đừng đùa
giỡn với cái mạng của mình.
Các
con thật sự nên tu cho tốt, đừng dùng một loại khôn vặt để theo Sư phụ học Phật
pháp. Có việc xảy ra rồi, chuyên môn đến tu rồi, mà bản thân không phải thực sự
tu, cái này vô dụng. Bởi vì tật xấu của bản thân nếu không đào bỏ từ bên trong,
ở bên ngoài nhất định sẽ bùng phát ra. Nhất định phải tu cho tốt. Người già
phải khẩn trương tu, người trẻ cũng phải khẩn trương tu. Nếu thật sự có tai nạn
ập đến, các con ai có thể nói con có thể tránh được những tai nạn này? Thôi
được, Sư phụ hôm nay nói với các con những điều này đều là lời tâm huyết. Sư
phụ có một tật xấu, thật sự là vì muốn tốt cho người ta, khuyết điểm của các
con Sư phụ nói qua là quên rồi. Sư phụ hy vọng các con đừng ghi hận Sư phụ, bởi
vì Sư phụ thật lòng coi các con như con cái, chỉ có cha mẹ mới lo lắng thay cho
con cái. Sư phụ thật sự lo lắng đấy! Hãy sửa đổi cho tốt, tật xấu trên người
nhiều quá, hãy tu cho tốt. Nếu không, các con có lỗi với Quan Thế Âm Bồ Tát,
cũng có lỗi với Sư phụ.
44. Vô minh và Lão tử đều là hiện tượng luân hồi
Sư
phụ hôm nay giảng cho mọi người Vô minh phiền não. Vô minh phiền não chia thành
mấy loại: Một loại là không hiểu, gọi là Vô minh; còn có một loại là phiền não
vô cớ, cũng gọi là Vô minh; đột nhiên nổi cáu, cũng là một loại Vô minh phiền
não; còn có một loại là không hiểu sự lý, tôi không hiểu chuyện gì, đó cũng gọi
là Vô minh phiền não. Làm thế nào để Diệt độ và Diệt tận Vô minh phiền não?
"Diệt độ" dùng bạch thoại nói chính là kết thúc nó. Vậy con người có
phiền não làm thế nào diệt nó đi? Làm thế nào kết thúc nó? Diệt đi là có thể,
giống như một người nổi cáu vậy, hôm nay nổi cáu rồi, lát sau có thể diệt nó
đi, nhưng con có thể diệt tận nó không? Ví dụ một bụi cây bên đường bắt lửa
rồi, con có thể dập tắt lửa ở dải rừng này, nhưng nếu con không diệt hết nó,
không diệt tận nó, lát sau một cơn gió thổi tới, nó lại cháy lên. Nghĩa là
phiền não của con người không ngừng có, bởi vì nó chỉ có thể tạm thời Diệt độ mà
không có Diệt tận. Cho nên hôm nay phiền não này loại bỏ rồi, nhưng tuần sau
một phiền não khác lại đến. Cái này cũng gọi là Luân hồi, các con nghe có hiểu
không? Hôm nay có phiền não này, giải quyết rồi. Ái chà, cuối cùng cũng giải
quyết rồi. Vui quá, cái gì cũng quên hết. Nhưng tuần sau một phiền não khác lại
đến. Bởi vì con không diệt tận, con không thực sự hiểu căn nguyên của Vô minh
phiền não, không biết làm thế nào loại bỏ nó, cho nên con không thể tiêu diệt
nó một cách triệt để sạch sẽ. Muốn tiêu diệt nó triệt để sạch sẽ, thì bắt buộc
phải Diệt độ, Diệt tận nó. Nghĩ xem, những phiền não hôm nay của các con, lại
nghĩ những phiền não thời trẻ của các con, các con từng cái từng cái phiền não
đều đi qua rồi, sao bây giờ vẫn còn phiền não? Đây chính là cái Gốc của các con
chưa sạch sẽ, cho nên mới gây chuyện thị phi. Bởi vì Lục căn của các con bất
tịnh, các con mới không ngừng gây chuyện thị phi. Miệng của con không tốt, hôm
nay nói người ta rồi. Quá khứ không hiểu, bây giờ học Phật rồi, biết sám hối với
người ta rồi. "Xin lỗi, tôi nói sai rồi, xin bạn đừng giận nữa." Xong
rồi, người ta nói: "Thôi, không sao đâu." Việc này kết thúc rồi, việc
này tạm thời Diệt độ rồi. Nhưng miệng của các con sửa chưa? Chưa sửa. Con gặp
một người khác lại đi nói, con nói xong người ta kiện con, lại mắng con, con
lại bắt đầu sinh phiền não, cái này gọi là chưa Diệt tận. Các con nghe có hiểu
không?
"Nhân
vô lão tử" (Người không có già chết), con người không có già chết (theo
nghĩa chấm dứt hoàn toàn). Già rồi, chết rồi, nó là đời đời kiếp kiếp. Nó hôm
nay chết rồi, đợi đến khi nó đầu thai, nó lại bắt đầu sinh rồi, đúng không? Cái
này gọi là "Vô lão tử tận", chính là mãi mãi không có điểm dừng. Đầu
thai trong lục đạo luân hồi, hôm nay chết, ngày mai sống. Giống như các con mỗi
ngày từ sáng đến tối vậy, ngày nào có thể từ sáng đến tối đều là ban ngày mà
không có ban đêm? Lại có ngày nào đều là ban đêm mà không có ban ngày? Đây gọi
là Luân hồi, hiểu chưa? Râu của các con hôm nay cạo, ngày mai lại mọc ra, đây
cũng là luân hồi. Nếu con trong lúc đau khổ nói, "Tôi không bao giờ làm
việc này nữa", con lúc này là Diệt độ rồi, là giả tính Diệt độ, là tạm
thời Diệt độ, là tạm thời nghĩ thông rồi. Giống như rất nhiều người hút thuốc
vậy, con bảo họ sửa, họ hôm nay không hút ngày mai lại hút, họ có thể triệt để
sửa được không? Rất nhiều người cờ bạc chặt cả ngón tay mình, nói: "Tôi
không bao giờ cờ bạc nữa, thật sự hận bản thân lắm". Đợi vợ tha thứ cho
anh ta, qua một thời gian lại bắt đầu cờ bạc. Giống như rất nhiều người hút ma
túy vậy, đánh mình, hận mình, là không có điểm dừng.
Lão
Tử (Già Chết) cũng là không có điểm dừng tức Vô Lão Tử Tận. "Vô Khổ Tập
Diệt Đạo", Khổ cũng là vô cùng vô tận. Các con nghĩ xem, con người đến
ngày nào sẽ nói khổ của tôi chịu hết rồi? Nhưng đợi chết đi rồi còn phải xuống
dưới chịu khổ. Ở nhân gian ai có thể nói tôi bây giờ thật sự hưởng phúc rồi,
tôi thái bình rồi? Có không? Những người già các vị không phải đều tưởng rằng
mình hưởng phúc rồi sao? Đến Úc hưởng thanh phúc rồi. Vậy các vị bây giờ còn
phiền não không? Nghĩ đến con cái, cháu nội, cháu ngoại v.v., các vị nói các vị
buông xuống chưa? Vẫn buông không được. Các con ai có thể buông xuống được? Rất
khó. Hôm nay hiểu rồi, ngày mai lại không hiểu, ngày kia hiểu rồi, ngày kìa lại
không hiểu... Con người cứ luân hồi như vậy, luân luân hồi hồi, sinh sinh tử
tử. Có thể hiểu cái gì chứ?
Cho
nên ngay cả Lão Tử cũng phải Diệt tận, nghĩa là một người không có sinh tử nữa,
không có sinh, cũng không có tử, con người con mới có thể siêu thoát. Vậy các
con có thể hỏi Sư phụ: "Con không có sinh tử, vậy con sinh ra không phải
là sự thật sao? Con phải chết đi chẳng phải cũng là sự thật sao?" Phải,
nhưng đó là giả tướng, đó là đồ giả, có tính là thật không? Các con hồi nhỏ,
hồi trẻ làm rất nhiều việc, bây giờ còn nhớ nổi không? Đều không còn nữa. Nhưng
nếu các con không thoát khỏi những tạp niệm này, con mãi mãi nghĩ đến những
chuyện rất không vui hồi nhỏ của mình, con sẽ mãi mãi cõng những thứ này. Nghe
có hiểu không? Phải buông nó đi. Thế nào là "Diệt tận"? Chính là
triệt để giải quyết nó, triệt để đừng đi nghĩ nó. Không có Sinh nữa, tôi kiếp
sau không muốn làm người nữa, chính là không có Tử nữa. Đúng không? Đây chẳng
phải là Vô Lão Tử Tận rồi sao? Đem sinh tử đều diệt tận rồi, cái gì vật chất
nhân gian đều diệt tận rồi thì có thể giải thoát. Quá khứ rất tham bây giờ một
chút cũng không tham nữa, con liền đem chữ "Tham" này diệt tận rồi,
con sẽ mãi mãi không đi tham nữa. Bởi vì con hôm nay hút thuốc làm hỏng cái
phổi này, con từ bây giờ bắt đầu nói tôi không bao giờ hút thuốc nữa, con chẳng
phải đã diệt tận cái thói quen xấu hút thuốc này rồi sao? Khi con diệt tận thói
quen xấu này, con còn phổi không tốt không? Con tương đương với diệt bỏ bệnh
phổi này rồi. Bởi vì con Vô Sinh rồi, cho nên Vô Tử. Tất cả ở nhân gian cuối
cùng đều không mang đi được, cũng tức là "Dĩ vô sở đắc cố" (Vì không
có gì để được).
Sư
phụ bây giờ giảng cho các con "Tâm Kinh". Các con thuộc rất làu,
nhưng phải hiểu hàm nghĩa của Tâm Kinh. Tại sao kinh chú của Quan Thế Âm Bồ Tát
tốt như vậy? "Tâm Kinh" tại sao có thể khai trí tuệ cho con người?
Rất nhiều người tim không tốt, Sư phụ hôm nay nói cho các con nghe, người tim
không tốt thực tế chính là áp lực tim quá lớn, cho dù là di truyền khiến con
tim không tốt cũng thuộc về tâm thóa (lòng dạ) không đủ rộng. Nhưng ngoài tim
không tốt của kiếp trước, kiếp này nếu con lại ăn rất nhiều đồ dầu mỡ, cho nên
đã thúc đẩy thuốc súng này bùng nổ -- tim không tốt. Nghe có hiểu không? Đương
nhiên trong này cũng không phải là 100%. Cho nên người tim không tốt niệm Kinh
gì tốt nhất? Là niệm "Tâm Kinh". "Tâm Kinh" chính là cởi bỏ
phiền não và vướng mắc trong lòng con, "Tâm Kinh" chính là để con
hiểu đạo lý nhân thế gian, "Tâm Kinh" chính là tăng trưởng trí tuệ
cho con. Bởi vì con người sau khi có trí tuệ mới không phiền não, không ưu
thương. Con đem một số thứ không tốt trong lòng diệt độ hết, diệt tận hết, vậy
con còn có phiền não gì? "Tôi ngay cả sinh cũng không sợ rồi (hồ đồ lơ mơ
mà đến nhân gian này), tôi sau này cũng không muốn sinh nữa, tôi chỉ muốn siêu
thoát lục đạo luân hồi." Vậy con lấy đâu ra tử? Giống như đã là một người
rồi, độc thân rồi, hôn nhân quá khứ gây cho con đau khổ rất lớn, kiếp này con
không muốn tìm nữa, vậy con sẽ không có đau khổ về tình cảm nữa. Vợ chồng đều
là duyên, không phải ác duyên thì là thiện duyên. Vấn đề là con không chặt đứt
cái tư duy này của con, cho nên con cho rằng mình còn phải có cuộc hôn nhân lần
sau, vậy chờ đợi con chính là phiền não và nghiệp chướng lần sau, sau đó lại
tiếp tục bắt đầu cãi vã làm loạn. Chúng ta có một thính giả, chồng cô ấy đã bỏ
cô ấy đi rồi, vốn dĩ nên là một chuyện rất vui vẻ -- oan gia này bỏ cô ấy đi
rồi. Nhưng không được, tôi phải niệm Kinh niệm cho anh ấy về nhà. Xong rồi,
niệm về nhà rồi. Lại cãi, lại làm loạn, lại sinh phiền não, đây chẳng phải gọi
là luân hồi sao? Nghe có hiểu không? Các con mỗi người đều nghe cho tôi, nói
chính là mỗi người các con. Giống như trong cuộc sống, rõ ràng việc này không
còn nữa còn phải nhắc lại, lại sinh phiền não. Thần kinh mới đem chuyện quá khứ
lôi ra hiện tại nói, còn phải nói, còn phải nói, cái này chính là điềm báo điển
hình của bệnh thần kinh, nghe có hiểu không? Học Phật có thể khiến người ta
khai ngộ, chính là phải Diệt độ những thứ không tốt trên người mình, phải Diệt
tận nó. Làm thế nào diệt tận? Rất nhiều người làm bề trên sao lại phát bệnh?
Chính là vừa nhớ lại những chuyện không vui trong quá khứ, tiếp theo liền phát
bệnh.
Tất
cả Vô minh và Lão tử đều là hiện tượng luân hồi. Thực tế con không hiểu cũng
chỉ là tạm thời không hiểu. Rất nhiều người con đi khuyên họ tin Phật niệm Kinh,
họ không tin Phật, đúng không? Nhưng đợi đến khi họ sắp chết, quỷ đến tìm họ,
họ mới biết hóa ra thật sự có quỷ. Đợi lôi họ đi, "Ái chà, sớm tin một
chút thì tốt rồi." Thực tế họ là vô minh tạm thời, họ là phiền não tạm
thời. Phiền não của con người đều là tạm thời, tất cả mọi thứ của con người đều
là tạm thời. Cho nên đối với họ mà nói chính là một nhục thể tạm thời, có phiền
não gì chứ? Hôm nay có, ngày mai liền không còn. Nghĩ xem các con hồi trẻ có
bao nhiêu chuyện không qua được? Trong đơn vị làm sai chuyện bị ông chủ sa
thải. Xảy ra chuyện lớn rồi, nguy rồi, cảm thấy không sống nổi nữa. Bây giờ
nghĩ lại, chẳng phải đều qua rồi sao? Hôm nay bị người ta điều tra, xảy ra
chuyện lớn rồi, qua vài ngày chẳng phải giải quyết rồi sao? Đúng không? Cho nên
phải hiểu tất cả những thứ này đều là giả tướng, thuộc về hiện tượng luân hồi.
Hiện
tượng luân hồi nghĩa là gì? Bất cứ việc gì có, liền không có, không có, lại có.
Con hôm nay có bạn trai, đồng nghĩa với việc con sau này có ngày sẽ không có;
con hôm nay không có bạn trai, đồng nghĩa với việc con có ngày sẽ sở hữu. Con
hôm nay cơm ăn rất no, đồng nghĩa với việc con sẽ có lúc đói bụng; đợi đến khi
con đói bụng, đồng nghĩa với việc con có thể ăn no. Đây không gọi là luân hồi
sao? Cho nên đều là một loại Duyên Khởi. Thế nào là Duyên khởi? Chính là Duyên
phận. Hôm nay có, chính là duyên phận; ngày mai không có, nó cũng là tự nhiên
hết duyên phận rồi. Hôm nay tôi có cơm ăn, tôi có cái duyên này; ngày mai tôi
không có cơm ăn, tôi liền không có cái duyên phận này. Tất cả luân hồi đều là
một loại duyên phận. Tôi hôm nay làm người rồi, cũng là một loại duyên; ngày
mai chết đi, cũng là một loại duyên. Ngày kia bị bắt vào, lại là một loại
duyên; nghĩ không thông, cũng là một loại duyên. Có bao nhiêu người tự tìm rắc
rối, cái này gọi là tự mình tìm duyên. Nhưng vấn đề là phía trước quên thêm một
chữ, là tự mình tìm Ác duyên hay tìm Thiện duyên? Tại sao người xuất gia họ
không muốn kết hôn? Tại sao họ bỏ cái duyên phận này? Bởi vì họ hiểu rồi, họ
học Phật rồi, họ hiểu đạo lý rồi, cho nên những cái này đối với họ không sao
cả. Họ cho rằng sự kết hợp giữa người với người bản thân chính là một loại
Duyên, không phải ác duyên thì là thiện duyên, duyên hết rồi thì cũng hết, vậy
thà đừng cần còn hơn. Tại sao họ nghĩ thông? Bởi vì họ biết thế giới này bản
thân chính là sinh diệt thể có sinh thì có diệt.
45. Bàn về Duyên sinh Duyên khởi trong Phật pháp
Có
Duyên khởi (chính là sự khởi nguồn của duyên), nó sẽ có Duyên kết (chính là sự
kết thúc của duyên phận). Nói cho các con biết đây mới là đạo lý thực sự để các
con hiểu trong thời kỳ Mạt pháp. Bởi vì Phật pháp chỉ có dùng trong nhân thế
gian, nó mới thực sự thể hiện ra trí tuệ của Phật Bồ Tát. Nếu Phật pháp chỉ ở
trong học đường, giống như rất nhiều người ở trường học học rất nhiều kiến thức
tốt nghiệp xong không tìm được việc làm vậy, vô dụng. Trong trường đại học có
bao nhiêu người tốt nghiệp xong không tìm được việc làm? Bởi vì thứ con học
chưa chắc có thể dùng vào trong cuộc sống hiện thực. Mà Phật pháp chúng ta học
hiện tại, chúng ta ra ngoài là có thể dùng vào trong cuộc sống, đó mới gọi là
Phật pháp nhân gian chân chính. Mà Phật pháp nhân gian không rời xa chuyện nhân
gian, mượn giả tu chân, hoằng pháp lợi sinh.
Có
Duyên khởi (chính là duyên phận vừa mới khởi lên), thì có Duyên sinh (giống như
duyên phận sinh ra rồi). Sư phụ hôm nay chiêu nhận các con làm đồ đệ, làm đệ tử
thực tế chính là có cái Duyên khởi này. Duyên khởi gì? Bởi vì cái khởi duyên
này chính là các con nguyện ý học Phật, đúng không? Bởi vì các con nguyện ý học
Phật, sau đó các con sinh ra một loại trí tuệ: "Tôi học Phật là sợ không
rõ phương hướng, không rõ đạo lý, tôi phải tìm một người thầy tốt." Cho
nên cái duyên này liền sinh ra. Đợi đến khi Sư phụ bồi dưỡng các con đến một
mức độ nhất định, có người học rất tốt, có người học ngày càng kém. Đến cuối
cùng, người kém thì rời bỏ Sư phụ, người tốt thì càng học càng tốt, sau này
thăng thiên, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới hoặc đến Tứ Thánh Đạo. Sau đó Sư
phụ sau này cũng sẽ rời đi, vậy Duyên liền Diệt.
Bất
kỳ một pháp môn nào cũng như vậy, để con Duyên khởi trước, sau đó Duyên sinh,
Duyên thục (chín muồi) (có sinh thì có chín), đợi đến khi duyên phận chín muồi,
từ từ liền bắt đầu Duyên diệt. Bất kỳ pháp môn nào đều là một con đường để con
đi vào Phật pháp, mà con đường này đến một thời điểm nhất định, đợi con đi qua
rồi, duyên cũng hết. Nghe có hiểu không? Nếu năm xưa không có tivi nhỏ, làm sao
có tivi màn hình phẳng siêu mỏng ngày nay? Cũng là một quá trình đi qua. Nếu
không có tổ tiên chúng ta hoằng dương văn hóa ưu tú Trung Hoa, văn hóa của
chúng ta sao có thể truyền đến ngày nay? Đây cũng là đi qua. Nếu không có pháp
luật quá khứ, đâu có pháp luật đổi mới hiện tại? Nhưng pháp luật quá khứ có
dùng được không? Có dùng. Chỉ có thể tham khảo tham khảo, học tập học tập,
nhưng còn có thể dùng trong xã hội ngày nay không? Bởi vì sự thay đổi của Thiên
thời, cho nên pháp luật quá khứ bây giờ không thể áp dụng nữa.
Thực
tế những quá trình này đều là do Duyên Khởi - Duyên Sinh - Duyên Thục - đến
Duyên Diệt. Cho nên phải nhớ, đi vào nhân duyên rất quan trọng. Nhưng là đi vào
nhân duyên tốt? Hay là đi vào nhân duyên xấu? Ví dụ hôm nay các con đến chỗ Sư
phụ học Phật, học Pháp, các con là đi vào nhân duyên rồi, nhưng duyên này khởi
lên rồi, các con có thể duy trì không? Có thể học tốt Phật pháp không? Vậy tiếp
theo liền nảy sinh một loại Duyên sinh, duyên từ từ liền bắt đầu sinh ra.
"Ồ, tôi thích Quan Thế Âm Bồ Tát. Ồ, tôi học Phật niệm Kinh xong tốt thế
nào thế nào." Con ngày càng tốt, học Phật tiến bộ rồi, cảnh giới thăng lên
rồi, vậy duyên phận liền ngày càng chín (Thục) rồi, tình cảm với Sư phụ cũng
ngày càng sâu, nguyện ý làm rất nhiều công đức, vậy cảnh giới của con liền từ
từ lên trời. Cuối cùng chính là Duyên diệt, thực tế duyên phận này liền không
còn nữa. Với con cái của mình cũng như vậy. Con cái từ khi sinh ra, ôm trong
lòng ngày ngày vui mừng khôn xiết; đợi đến khi con cái trưởng thành, kết hôn
lập gia đình, tình cảm đó liền từ từ nhạt đi; cuối cùng đợi đến khi con đi rồi,
duyên liền diệt, duyên phận của con với đứa con này liền không còn nữa.
Đời
người chính là như vậy, khổ tận cam lai, ngọt vừa đến khổ lại đến, khổ khổ ngọt
ngọt, ngọt ngọt khổ khổ, cứ thế duyên sinh duyên diệt, cứ thế luân hồi không dứt.
Cho nên khi một người đau khổ phải nghĩ đến lúc hưởng phúc. Có rất nhiều nhà
lãnh đạo, một số lý thuyết họ nói rất gần với lý thuyết Phật pháp. Ví dụ như
trong lúc khó khăn phải nhìn thấy ánh sáng và tiền đồ. Khi con sắp chết, phải
nghĩ đến tương lai kiếp sau có thể đầu thai một người tốt hơn, bởi vì kiếp này
con không làm việc xấu. Khi con sống phải nghĩ đến lúc chết, đạo lý là giống
nhau, cho nên học Phật phải dùng trí tuệ.
Nhân
duyên sinh, Vô minh liền diệt. Khi nhân duyên của con sinh càng nhanh, tập khí
vô minh của con diệt độ càng nhanh. Bởi vì con hiểu rồi, con nhìn thấy rồi, con
nghĩ đến rồi, xong, vô minh của con liền diệt rất nhiều. Vô minh này là gì? Là
không hiểu. Ví dụ con cứ cảm thấy có một người sẽ đến bên cạnh con, lúc đó con
chính là Vô minh, con lúc này chính là Vô minh. Không biết. Đợi đến khi đến bên
cạnh con rồi, đã trở thành sự thật rồi, con liền biết, "Ồ, tôi hiểu
rồi". Không hiểu chính là Vô minh, ngay cả cảm giác cũng là một loại Vô
minh. Nghe có hiểu không? Duyên phận đi vào tâm điền của con, đi vào cuộc sống
của con, thực tế chính là Vô minh. Cho nên phải nhận rõ tất cả các Chư pháp,
Chư pháp chính là tất cả các Pháp. Sinh Diệt đều là bản chất của tính Duyên
Khởi, thực tế sinh sinh diệt diệt, diệt diệt sinh sinh chính là bước khởi đầu
của nhân duyên con, bản chất của con. Duyên của con sao lại đến? Chính là vì
sinh sinh diệt diệt mà đến. Các con nghe có hiểu không? Duyên từ đâu mà đến? Là
sinh sinh diệt diệt. Hôm nay có, ngày mai không có. Hôm nay có duyên phận rồi,
tốt với anh ta vô cùng; qua vài ngày cãi nhau rồi, duyên phận liền không còn.
Giống như có người, hai người khi tốt mặc chung một cái quần còn chê rộng, đây
chính là Duyên Khởi. Qua một thời gian từ từ cãi nhau tơi bời, không qua lại
với nhau nữa, đây chính là Duyên Diệt. Đây chính là bản chất sinh diệt của con.
Câu đầu tiên trong "Tam Quốc Diễn Nghĩa" đã nói: Phân cửu tất hợp,
hợp cửu tất phân. Cho nên phải hiểu, quá đà rồi, sẽ nảy sinh ngăn cách.
Cho
nên học Phật tu tâm chính là để người ta có một lý niệm hiểu biết, để người ta
phải hiểu Chư Pháp Vô Thường. Chính là tất cả các Pháp đều là không có dài lâu,
tất cả mọi người đều là vô thường, tất cả sự vật đều là vô thường, đồ tốt đến
mấy dùng thời gian lâu rồi cũng sẽ hỏng. Các con nói cho tôi biết có thứ gì mua
về dùng xong mà không hỏng? Thế giới này có thứ gì không hỏng không? Ví dụ đồ
inox gì đó, dùng thời gian lâu rồi, cuối cùng chẳng phải cũng gỉ sét sao? Đầu
óc các con chẳng phải cũng gỉ sét sao? Con hôm nay nghĩ thông rồi, qua vài ngày
lại nghĩ không thông, đúng không? Khi nghĩ thông vui mừng khôn xiết, khi nghĩ
không thông phiền não nhiều vô cùng, con nói buồn hay không buồn? Các con nói
thử xem, các con làm rất nhiều việc tốt tại sao không nhận được báo đáp tốt?
Các con niệm nhiều Kinh như vậy, đôi khi tại sao vẫn khó khăn trùng trùng? Sư
phụ cứu độ chúng sinh như vậy, hơn nữa Quan Thế Âm Bồ Tát ở trên người Sư phụ,
vậy tại sao Sư phụ còn phải chịu nhiều khổ như vậy? Còn có người nói Sư phụ
không tốt? Rất đơn giản. Có cái không tốt mới có thể hiển thị ra rất nhiều cái
tốt. Con nghĩ như vậy, chẳng phải nghĩ thông rồi sao? Con cái gì cũng là tốt,
con không có so sánh, cái gì là tốt cái gì là xấu con đều không hiểu được à?
Người ta đều không khạc nhổ bừa bãi, thì không hiển thị ra cái tốt của việc con
không khạc nhổ bừa bãi. Con về nông thôn ai cũng khạc nhổ bừa bãi, con liền
không biết việc khạc nhổ bừa bãi này tốt hay không tốt. Giống như có người làm
nhiều việc như vậy, tại sao gặp phải có người nói vài câu, lập tức trong lòng
khởi phiền não? Cái này gọi là trong lòng không có cái cân, con không cân được
cái gì là tốt cái gì là xấu, con không cân được trọng lượng.
Học
Phật trong lòng phải có một lá cờ. Thế nào là ngọn cờ tươi sáng (kỳ chí tiên
minh)? Thế nào là ngọn cờ không đổ? Bất luận thế nào các người cũng không làm
gì được tôi, cùng lắm thì thế nào? Tôi có thể thế nào? Bạn làm gì tôi thì thế
nào? Đến cuối cùng mọi người đều chẳng thế nào cả. Con người chính là như vậy.
Đúng không? Gặp chút chuyện, cảm xúc bị ảnh hưởng, phiền não sinh ra, chính là
ngọn cờ này của con đổ rồi, cho nên tâm con liền chuyển theo ngoại cảnh. Phải
Cảnh tùy Tâm chuyển mới được. Các con là Tâm tùy Cảnh chuyển. Phiền não của các
con từ đâu mà đến? Bởi vì người bên ngoài nói con không tốt, bởi vì người bên
ngoài không hiểu con, tâm con liền chuyển biến theo môi trường bên ngoài này,
thế thì con không vui, không thoải mái, tâm trạng lại không tốt. Vậy con chẳng
phải đang thay đổi theo Cảnh của người ta sao? Sư phụ là các con càng nói tôi,
tôi càng phải tốt, con càng nói tôi thế nào, tôi càng không thế nào. Tôi là
người bị người ta nói mà đổ sao? Nếu nói mà đổ, Sư phụ làm sao hoằng dương Phật
pháp trên toàn thế giới? Hoằng pháp lợi sinh cái gì cũng không sợ, cái gì cũng
nhìn rõ ràng rành mạch, cái gì cũng có thể xả, còn sợ gì nữa? Những người các
con gặp chút chuyện lập tức cảm thấy trời sập xuống.
Lấy
một ví dụ đơn giản: Khi mây đen kéo đến, các con có nhìn thấy bầu trời không?
Cả bầu trời đều đen kịt, tôi sống thế nào đây? Tôi ngày mai phơi đồ thế nào
đây? Nhưng lát sau mây đen qua đi, mặt trời hiện ra. Vui chưa? Hóa ra không có
chuyện gì à? Các con bây giờ phiền não lớn nhất chính là vì các con nhìn thấy
mây đen, các con không nhìn thấy ánh nắng. Đợi mây đen tan đi, ánh nắng lại
hiện ra, các con lại vui vẻ. Vậy các con lúc thì vui, lúc thì không vui, lúc
các con không vui chính là thần kinh thác loạn, chính là có bệnh, bởi vì các
con tưởng rằng mặt trời và mặt trăng đều không còn nữa, các con nhìn thấy chỉ
có mây đen, đợi khi mây đen tan đi, các con nhìn thấy mặt trời, tinh thần các
con lại khôi phục bình thường. Thế chẳng phải là bệnh thần kinh sao? Giống như
uống nhầm thuốc vậy. Cho nên sự sinh diệt của Chư pháp đều là Vô thường. Nghĩa
là tất cả các Pháp, hôm nay có, ngày mai không có, đều là vô thường, nhớ kỹ đây
là bản chất.
Tiếp
theo giảng cho mọi người Sinh Tử của Nhân Duyên. Nhân duyên sinh, Pháp sinh. Ví
dụ tôi bắt đầu tốt với bạn, vậy cái Pháp này liền sinh ra. Pháp gì? Gọi nhân
gian đều là Pháp, người cũng gọi là Pháp, sự vật cũng gọi là Pháp. Ví dụ Sư phụ
chẳng phải có Pháp thân sao? Vậy sự vật này, pháp vật này, Bồ Tát gọi tất cả
những thứ ở nhân gian này đều là Pháp. Cho nên con muốn tốt với anh ta, con
liền nảy sinh một loại Duyên, mà Duyên này liền sinh ra một loại đồ vật.
Lấy
ví dụ đơn giản: Trong đầu con muốn làm món trứng xào. Quả trứng này không phải
xào, đúng không? Bởi vì trong đầu con đang nghĩ: Tôi phải sinh một cái duyên
phận, xào một quả trứng cho mọi người ăn. Thế là con liền lấy quả trứng này đi
xào. Khi con xào chính là sinh ra cái Duyên này, sau khi xào xong Duyên này
liền thành công, món trứng xào thành công này liền trở thành một loại Pháp vật,
chính là vật tồn tại hiện thực. Cho nên Duyên chính là sinh thành Pháp của con,
gọi là "Duyên sinh tức Pháp sinh". Hiểu không? Nhân duyên diệt, Pháp
cũng diệt. Ví dụ hai vợ chồng các con tình cảm tốt vô cùng, vậy Pháp của nhân
gian là gì? Chính là ân ân ái ái, ai cũng không muốn rời xa ai. Đợi đến khi một
trong hai người chết đi, Pháp diệt rồi. Tại sao? Pháp chính là thứ con nhìn
thấy. Thứ nhìn thấy vốn dĩ là hai người, bây giờ biến thành một người, Duyên
này liền diệt rồi. Cho nên Duyên diệt chính là Pháp diệt. Con hôm nay trong đầu
nghĩ chuyện gì, cái Duyên phận này liền sinh ra, thứ tư duy trong đầu não cũng
gọi là Pháp. Trong đầu nghĩ "Tôi ngày mai có thể trúng xổ số thì tốt
quá", nghĩ a nghĩ... Đợi đến sáng hôm sau con sẽ đi mua xổ số. Duyên này
liền sinh rồi, sự việc liền tồn tại rồi. Đợi khi biết mình không trúng xổ số,
Pháp này của con liền diệt đi, chính là cái Duyên trúng xổ số này của con diệt
đi. Nghe có hiểu không? Cho nên Pháp duyên cũng sẽ diệt đi. Thực ra con người
là do Nhân Duyên hòa hợp mà thành.
46. Bàn về Duyên sinh Duyên diệt trong Phật pháp
Con
người chúng ta tất cả mọi việc đều là do Nhân và Duyên hòa hợp mà thành. Nghĩa
là con hôm nay tất cả những gì muốn làm, tất cả những gì nghe được, tất cả
những gì làm, đều là một cái Duyên phận. Hôm nay tại sao con phải đến Đài Đông
Phương? Bởi vì con có duyên với Đài Đông Phương, bởi vì con có duyên với Phật
Bồ Tát. Bởi vì Đài Đông Phương có duyên với Phật Bồ Tát, cho nên có một Quan Âm
Đường như thế này, cho nên các con có duyên với Bồ Tát, cho nên các con mới hòa
hợp mà đến. Đúng không?
Tại
sao con tốt với anh ta? Bởi vì con hợp với anh ta. Duyên kiếp trước, cộng thêm
sự tiếp nối của kiếp này, mới gọi là Tục duyên (tiếp nối duyên). Ví dụ con ở
kiếp trước tốt với anh ta ba năm sau đó không tốt với anh ta nữa, chia tay với
anh ta, cái duyên này liền hết. Vậy con kiếp này đến lúc này, tốt với anh ta
khoảng ba năm cũng sẽ chia tay với anh ta, duyên cũng hết. Hiểu chưa? Chuyện
hôm nay có, ngày mai có thể không có. Con hôm nay bị người ta vu oan, nói không
chừng qua vài ngày sẽ minh oan cho con; con hôm nay bị người ta nói không tốt,
có lẽ qua vài ngày người ta lại nói con tốt. Đúng không? Hôm nay người ta nói
"Bạn phải cẩn thận, bạn có thể sẽ xảy ra chuyện lớn", điều này có thể
đại diện cho việc ngày kia con nhất định sẽ xảy ra chuyện lớn không? Cũng không
đại diện con cả đời sẽ xảy ra chuyện lớn. Duyên phận sẽ chuyển đổi. Nghe có
hiểu không? Ví dụ con quá khứ từng làm một việc không tốt, nhưng con bây giờ
cải tà quy chính rồi, thì lãnh đạo của con cũng sẽ đối xử với con rất tốt. Đạo
lý đều giống nhau, đều là một cái Nhân duyên. Hôm nay có Nhân, mới có cái Duyên
này; ngày mai không có cái Nhân này, cái Duyên phận này cũng không còn. Hôm nay
con thích anh ta, anh ta mới tốt với con; ngày mai con không thích anh ta, thì
không tốt với anh ta nữa.
Các
bạn trẻ các con chính là như vậy, hôm nay nhìn thấy người này thích rồi, thì
thích nói chuyện nhiều với người ta, bản thân cũng trang điểm đẹp một chút. Qua
vài ngày không thích nữa, thì tùy tùy tiện tiện, bản thân cũng không trang điểm
nữa, đây chính là không có duyên phận rồi. Cho nên nhân duyên không còn, cái gì
cũng không còn; nhân duyên có, cái gì cũng có. Hôm nay con có nhân duyên về
Mạng sống, bởi vì con có cái mạng này, cho nên con có thể tiếp tục sống trên
thế giới này, đây chính là Duyên của con. Hôm nay cái mạng này của con không
còn, thì cái Duyên này của con cũng không còn, bởi vì con không thể ở nhân gian
tiếp tục tiếp xúc với người ta. Nếu con là Bồ Tát đến nhân gian, bởi vì Duyên
của con ở Nhân đạo không còn nữa, cuối cùng con chỉ có thể để người ta chiêm
bái, chứ không thể giao tiếp với người ở nhân gian. Tại sao Phật Bồ Tát có thể
mãi mãi lưu lại trong tâm con người? Bởi vì Quan Thế Âm Bồ Tát và các vị Bồ Tát
khác thường xuyên đi vào trong tâm con người, Bồ Tát có thể trong mơ, có thể
lúc bình thường đều có thể chỉ đạo con, cho nên Bồ Tát mãi mãi Bất sinh Bất
diệt. Còn con người đi rồi là đi rồi. Quá khứ mẹ đối với con tốt vô cùng, nhưng
mẹ đi rồi. Con lúc đó rất buồn, nghĩ đến quá khứ mẹ đối với con tốt thế nào tốt
thế nào, con sẽ đau không muốn sống. Nhưng vài năm sau, bởi vì mẹ không còn ở
nhân gian tiếp tục tốt với con nữa, duyên phận đã hết, cho nên con từ từ sẽ quên
lãng. Cái Duyên này liền không còn, cái Quả này cũng không còn, Pháp cũng diệt
rồi. Nếu là người mẹ vừa mới chết, tình cảm của đứa con với người mẹ vừa mới
chết trong khoảnh khắc đó và tình cảm của đứa con đối với mẹ mười năm sau, các
con nói có giống nhau không? Bởi vì mười năm này bà ấy không tiếp xúc với con,
bà ấy với con nhân duyên đã đoạn, cho nên cái gì cũng không còn. Các con nghe
có hiểu không?
Cho
nên học Phật, làm công đức phải Tục duyên (nối duyên), phải làm không ngừng,
vừa dừng là hết. Bố mẹ đối với con cái cũng như vậy. Phải tốt, phải luôn luôn
tốt, thì con cả đời mới tính là tốt. Làm một chút việc tốt rất dễ, nhưng muốn
làm việc tốt cả đời thì không dễ, đúng không? Tin Phật một ngày rất dễ, tin cả
đời thì không dễ. Giống như có người khi sức khỏe không tốt đến lạy Phật Bồ
Tát, thành kính vô cùng, lạy trái lạy phải; qua vài ngày sức khỏe tốt rồi, đến
người cũng không thấy đâu. Con nói loại người này có duyên phận với Phật Bồ Tát
không?
Rất
nhiều người nhờ Sư phụ xem, hỏi Sư phụ: "Đài trưởng, tôi quá khứ tại sao
tốt như vậy, mà bây giờ sao bỗng nhiên không tốt nữa?" Tôi nói với anh ta:
Bởi vì anh quá khứ trước khoảng thời gian này, anh luôn tin Phật, hơn nữa tin
rất thành kính. Chính là vì anh ở kiếp trước vào thời gian này, ví dụ sau 34
tuổi, anh không lạy Phật nữa, anh không niệm Kinh nữa. Anh nên biết, cho nên
anh kiếp này sau 34 tuổi duyên phận của anh liền kết thúc, anh sẽ không tốt,
anh bắt đầu xui xẻo rồi.
Các
con hôm nay làm việc, làm thuê, chịu khổ, vì cái gì? Đều là vì cái Duyên này.
Là cái duyên gì? Chính là Tiền. Tiền này có thể tục duyên, có thể mua đồ sinh
sống. Vì con cái của mình, vì tất cả cuộc sống, con bắt buộc phải nối tiếp cái
duyên này, đúng không? Cho nên các con chịu khổ nhiều đến mấy cũng cảm thấy cam
lòng. Nhưng nếu các con kiếp trước làm rất nhiều công đức, nói không chừng con
kiếp này cái duyên này, cũng là kiếm tiền nhưng sẽ không kiếm vất vả như vậy.
"Đã là kiếp này vất vả như vậy để nối tiếp cái duyên này, thì tôi cũng cam
lòng. Bởi vì tôi kiếp trước không tốt, cho nên tôi kiếp này chỉ có thể chịu
khổ, thì tôi cũng chỉ có thể cam lòng." Nhưng bắt buộc phải học Phật tử tế
để thay đổi cái duyên này của con, chính là duyên khiến con chịu khổ, thay đổi
thành không chịu khổ, khiến tâm hồn bị thương của tôi thay đổi thành không bị
thương. Cái này cũng gọi là Tùy duyên. Rất nhiều người đối với Tùy duyên vô
cùng thiên kiến (hiểu lệch), nói: "Đài trưởng, tôi với chồng tôi cãi nhau
đến bây giờ. Vậy tôi tùy duyên, chúng tôi chia tay được không?" Tùy duyên
không phải nói như vậy. Tùy duyên là tùy Thiện duyên, hóa giải Ác duyên, chứ
không phải bảo con đi tùy Ác duyên. Nếu trong nhà mình có chút chuyện, không
vui, lập tức bản một bộ mặt ra cho người ta xem. Con hôm nay gieo cái Nhân này,
xin lỗi, sau này người ta đều không để ý đến con, nói con người này rất ích kỷ,
con liền kết một cái Ác duyên. Người ta tại sao phải nhìn cái mặt này của con?
Con không tốt tại sao khiến người ta cũng không tốt? Đây gọi là gieo ác duyên.
Nhà con có người không vui, con lập tức cho người ta sắc mặt xem, đây chính là
một người ích kỷ tự lợi.
Phải
nhớ, nhân duyên giống như một sợi dây xích sắt, nó là sinh sinh diệt diệt mãi
mãi quấn lấy con. Nhân duyên giống như một sợi dây xích sắt, kiếp này con tốt
với anh ta, kiếp sau tiếp tục tốt với anh ta; kiếp này không tốt với anh ta,
kiếp sau lại đến trả nợ. Con trốn cũng trốn không thoát, toàn bộ khóa lại với
nhau. Tất cả người trong nhà, nói không chừng kiếp trước là vợ con, kiếp này là
con cái con. Kiếp trước là bố con, kiếp này là chị dâu con... Chính là một sợi
dây xích như vậy quấn lại với nhau, sinh sinh diệt diệt, sinh sinh bất tức. Các
con ai có thể giãy thoát, ai có thể thoát khỏi sợi dây xích sắt này? Thoát
không được đâu.
Sư
phụ bây giờ dạy các con chính là phải thoát khỏi dây xích sắt, thoát khỏi khổ
nạn và phiền não của chính các con. Mọi người phải hiểu, loại nhân duyên đời
đời kiếp kiếp này là không có điểm dừng, Vô minh cũng như vậy. Sợi dây xích sắt
đời đời kiếp kiếp này con không có cách nào thoát khỏi, con mãi mãi sẽ có tập
khí Vô minh. Bởi vì con không học Phật mới không hiểu, con mãi mãi trầm luân
trong sợi dây xích sắt này, con mãi mãi thoát không ra, cho nên con ở trong
Nhân đạo này sẽ mãi mãi có Vô minh. Vô minh chính là con không hiểu. Có đứa trẻ
nào sinh ra đã hiểu? Con kiếp trước là một vị Bồ Tát cũng vậy, con kiếp trước
cho dù không làm nhiều việc tốt, con kiếp sau đầu thai người, con vừa đầu thai
đến nhân gian, con có thể hiểu không? Con ngay cả đi cũng không biết, con có
thể hiểu cái gì? Con chẳng phải lại sở hữu Vô minh sao? Cho nên con không có
cách nào dừng lại (chỉ tận), nghĩa là không có cách nào để bất kỳ phiền não nào
của con ở nhân gian có thể dừng lại, có thể để nó đến điểm cuối (chính là đến
đáy). Mọi người có thể hiểu không?
Cho
nên Vô minh và Lão tử (già chết) giống nhau. Một người Vô minh tận, Vô lão tử
tận, chính là cứ mãi không có điểm dừng -- già rồi, chết rồi, lại sinh ra, lại
già rồi, lại chết rồi... Sư phụ nói cho mọi người, nhiều nhà lãnh đạo nói
chuyện rất có triết lý. Ví dụ quá khứ nói câu chuyện "Ngu Công dời núi":
Ngọn núi này tôi đào không hết, tôi để con trai tôi đào, con trai đào không
hết, để cháu tôi đào, tử tử tôn tôn là không có điểm dừng. Thực tế đạo lý nói
đến cũng là một sự luân hồi, đúng không? Cho nên Vô minh sẽ đi theo Lão tử mãi
đến vô tận. Vô minh là không hiểu, sẽ đi theo già chết. Bởi vì con cả đời không
hiểu, con liền luôn Vô minh; bởi vì con sẽ già, sẽ chết, con luôn Vô minh, nó
liền đi theo con đến già chết. Rất nhiều người già sống cả đời cái gì cũng
không hiểu, cuối cùng cứ thế chết đi. Họ biết cái gì? Cái gì cũng không hiểu
liền đi mất. Cho nên Vô minh và Lão tử đi cùng nhau đến cùng rồi. Nếu ông ta
kiếp sau lại đầu thai người, ông ta lại bắt đầu Vô minh, lại không hiểu, lại đi
theo kiếp sau chạy... Con người chính là luân hồi đời đời kiếp kiếp như vậy.
Phải
nhận rõ Duyên Khởi Quán. Việc gì con cũng phải hiểu, chúng ta phải học một
phương pháp để thay đổi tật xấu trên người mình, chính là phải nhớ Duyên Khởi
Quán. Nghĩa là gì? Chính là nhìn vấn đề gì cũng phải nhìn thấy Duyên Khởi.
"Ồ, cái duyên phận này đến rồi", "Ồ, việc này đến rồi", con
hãy làm. "Ồ, cái duyên này khởi rồi. Có một duyên phận đến rồi, tôi phải
cẩn thận, hơn nữa cái này là ác duyên." Các con biết thiện ác duyên đến
như thế nào không? Ác duyên đến chắn cũng chắn không được, thiện duyên đến chắn
cũng chắn không được. Cho nên để các con biết Duyên khởi. "Khởi"
chính là khởi động, bất kỳ duyên phận nào khi vừa bắt đầu gọi là Duyên khởi.
Bởi vì duyên phận có thể sinh ra trí tuệ. Nếu con thường xuyên nghĩ đến Duyên
Khởi Quán, con có thể sinh ra trí tuệ, chính là con thường xuyên nghĩ đến:
"Ồ, việc này hóa ra không thể làm. Là ác duyên đến rồi, tôi phải cẩn
thận." Vậy con sẽ sinh ra trí tuệ để chống lại nó, biết phải niệm Kinh
rồi, tôi phải cẩn thận rồi, tôi phải tạo quan hệ tốt với lãnh đạo. Đúng không?
Một việc thiện đến, tôi vui rồi, duyên phận này đến, con cũng có thể sinh ra
trí tuệ.
Cho
nên phải hiểu, phải nhìn thấu Duyên khởi. Nghĩa là gì? Chính là không chỉ phải
nhận biết Duyên khởi, hơn nữa phải nhìn thấu nó. Thế nào là nhìn thấu? Duyên
phận này bắt đầu đến rồi, tôi phải nhìn thấu nó. Hiểu không? Nhìn thấu nó,
giống như nhìn thấu hồng trần vậy, con phải nhìn thấu duyên này đến là bao
nhiêu thời gian. Ví dụ con với con cái chỉ có một đoạn duyên này, từ khi con
sinh ra đến khi con đi sau này, chỉ một khoảng thời gian này. Con nhìn thấu
rồi, con sẽ không đi nghĩ quá nhiều. Con nhìn không thấu, con liền cảm thấy
"Ái chà, đời đời kiếp kiếp đứa con này sẽ thế này thế kia đi theo tôi,
tuổi già tôi sẽ dựa vào chúng nuôi tôi." Không có đâu.
Vị
bà lão này ngày ngày cầu Bồ Tát cho con có thể quay về, hy vọng trước khi bà đi
(qua đời) có thể để con cái hòa thuận với mẹ. Bồ Tát từ bi, cho bà lão này
duyên phận, bà cầu thành công rồi, con cầu quay về được rồi. Vấn đề là con tuy
mua tủ lạnh về nhà rồi, nhưng con là mua về nông thôn, nông thôn này ngay cả
điện cũng không có, tủ lạnh của con dùng thế nào? Con cầu con cái quay về rồi,
nhưng con không cởi bỏ tâm kết (nút thắt trong lòng) của con cái, con cầu về
rồi chỉ có thể càng tăng thêm phiền não của con, thế thì từ thiện duyên chuyển
thành ác duyên rồi. Nghe có hiểu không?"
Cho
nên phải nhớ, phải siêu thoát sự trói buộc của Thập nhị nhân duyên (Mười hai
nhân duyên). Trói buộc chính là trói con lại. Bởi vì có rất nhiều nhân duyên.
Tôi từng giảng cho các con Thập nhị nhân duyên, hôm nay ở đây không giảng nhiều
nữa (Thập nhị nhân duyên: Vô minh, Hành, Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc, Thọ,
Ái, Thủ, Hữu, Sinh, Lão tử). Phải thiện đãi Duyên (đối xử tốt với duyên), phải
thiện dụng Duyên (sử dụng tốt duyên). Đem cái duyên này phải đối xử rất thiện
với nó, sau đó phải lấy quan niệm Duyên khởi để nhìn thấu nó nữa. Đầu tiên phải
nhìn thấy sự khởi lạc (lên xuống) của duyên phận này, sau đó phải nhìn thấu nó.
Lấy một ví dụ đơn giản: Có một người thích con rồi. Trước tiên nghĩ đến người
này thích tôi có thể là duyên phận, vừa nghĩ một chút sau đó lập tức phải hiểu,
phải biết nếu duyên phận này tiếp tục sẽ xảy ra chuyện -- nhìn thấu nó rồi,
không thể nhận. Cái này gọi là trước tiên phải Y duyên (chính là dựa theo duyên
phận này mà đi), sau đó phải nhìn thấu nó.
Ví
dụ con sinh ra, đến nhân thế gian rồi, "Ái chà, nó là mạng sống của tôi,
mạng sống của tôi". Đợi con cái lớn lên, kết hôn rồi, liền không cần con
nữa. Duyên phận này liền phá rồi. Nếu đứa con này từ nhỏ sinh ra con đã biết:
"Sẽ có một ngày đứa con này sẽ rời xa cha mẹ, đi sống cuộc sống của riêng
nó." Vậy con sẽ đối với con cái tùy tiện (thoải mái) một chút, buông lỏng
một chút, đừng quá chấp trước đối với con cái, vậy con sau này sẽ không có quá
nhiều đau lòng, quá nhiều phiền não, quá nhiều vướng bận. Nếu người ta làm
chuyện gì tốt với con, không tốt với con đều là một cái duyên phận. Con nhìn
thấu cái duyên này rồi, chẳng phải không còn nữa sao? Cho nên gọi là Nhìn thấu,
Buông bỏ. Phải nhìn thấu rồi, mới có thể buông bỏ. Lấy một ví dụ đơn giản: Quả
bóng bay khí hydro này khi bay lên, ghê gớm lắm, thật sự sẽ bay lên trời. Con
chọc thủng một lỗ, khí hết rồi liền rơi xuống. Đây chẳng phải gọi là nhìn thấu,
buông bỏ rồi sao? Người nghĩ không thông mới nhìn không thấu, nghĩ thông rồi
mới buông được. Các con nghe có hiểu không?
47. Nhìn thấu Duyên khởi, mới biết Pháp giới Vô
minh
Tiếp
theo giảng cho mọi người, tất cả Duyên khởi hóa ra là Không. Con hôm nay cảm
thấy duyên phận này đến rồi, thực tế nó là Không. Rất nhiều người hỏi Sư phụ:
"Đài trưởng, khi nào con có duyên phận?" Tôi nói: "Tháng Tám sẽ
có một duyên phận." Kết quả vào tháng Tám thật sự có một duyên phận, cậu
ta đi yêu đương với người ta. Yêu được ba tháng thì chia tay với người ta,
duyên này liền không còn. Cho nên bất kỳ duyên nào nó đều là thứ Không (rỗng
Không). Ví dụ mắt con nhìn thấy một cái bong bóng, rõ ràng là nhìn thấy, sao
chốc lát không còn nữa. Giống như xà phòng vậy, ngày ngày rửa rửa rửa, cuối
cùng rửa xong thì hết. Con nhìn thấy bong bóng khí ngũ sắc dưới ánh mặt trời
đẹp biết bao. Bụp! Bụp! Bụp! Chốc lát hết sạch. Tình cảm hôm nay của con tốt,
con có thể đảm bảo nó không vỡ không? Vỡ rồi chẳng phải là Không đi rồi sao?
Các con mặc quần áo rất đẹp, cả ngày không chịu cởi, thời gian lâu rồi sẽ hỏng,
sau đó thì vứt đi. Đây chẳng phải là nhìn thấu, buông bỏ rồi sao? Duyên phận
đều là Không. Sư phụ chưa bao giờ đi nghĩ người ta sẽ đối với tôi như thế nào.
Mười mấy năm cày cấy của tôi bây giờ nhận được thu hoạch rồi. Các con nhìn thấy
pháp hội Hồng Kông nhiều người như vậy, tôi hoàn toàn không quen biết họ, họ ai
nấy đều nói: Lư Đài trưởng ngài đã cứu cả nhà chúng tôi! Tại sao nói là Đài
trưởng cứu họ? Là vì pháp môn Sư phụ truyền thụ, hơn nữa tôi căn bản chính là
dựa vào phát thanh hoằng pháp. Mọi người mới đắc được pháp này, chữa khỏi hết
nhà này đến nhà khác, cho nên chúng Phật hữu có tâm biết ơn! Con chỉ quản cày
cấy không hỏi thu hoạch, con nhất định sẽ nhận được thu hoạch; nếu con vừa cày
cấy vừa nghĩ đến thu hoạch của mình, thì con sẽ không nhận được thu hoạch phong
phú. Đây đều là Phật ngôn Phật ngữ, là tinh túy. Sư phụ bây giờ là đem tinh túy
của Phật pháp đều truyền cho các con.
Phải nhớ: Cầu giải thoát có thể thành Phật. Con người phải biết cầu giải
thoát mới có thể thành Phật. Phải nhìn thấu Tánh Không của Duyên Khởi. Nếu con
nhìn không thấu một duyên phận đến nó là Không, bản tính của nó là Không, thì
con gặp rắc rối rồi. Ví dụ một người rất nghèo nhặt được một cái ví trên đường,
bên trong có một vạn đồng tiền. Con phải nhìn thấy bản chất của việc này. Người
mất một vạn đồng này, họ nhất định sẽ báo cảnh sát, cảnh sát nhất định sẽ điều
tra chứ. Tiếp theo con sẽ gặp rắc rối, đúng không? Cho nên con phải nhìn thấy Tánh
Không của nó, tất cả duyên phận. Hôm nay con nhìn thấy một vạn đồng trong cái
ví này, "Ái chà, duyên phận đến rồi! Ái chà, phát tài rồi!" Con không
nhìn thấy bản chất của nó. Bản chất chính là cuối cùng cảnh sát tìm đến chỗ
con, tiền lấy về, nói không chừng còn định cho con một tội danh không tốt gì
đó. Phải biết nhìn đến đáy. Các con nhìn vấn đề chính là quá phiến diện, không
nhìn thấy đáy. Cho nên phải nhớ, không nhìn ra Tánh Không của Duyên Khởi sẽ rơi
vào cạm bẫy của chấp trước. Bởi vì con không nhìn thấy đáy, con sẽ vô cùng chấp
trước. Sư phụ tiếp tục lấy ví dụ vừa rồi cho các con: Vừa rồi nhặt được một vạn
đồng, anh ta liền chấp trước. Bởi vì anh ta không nhìn thấy cảnh sát sẽ tìm đến
anh ta, không nhìn thấy người ta lo lắng thế nào, trong đầu anh ta liền nghĩ:
"Cái này cũng không phải tôi trộm, cũng không phải tôi cướp, đương nhiên
là của tôi rồi." Anh ta chấp trước rồi chứ? Đợi khi cảnh sát tìm đến anh
ta, còn hùng hồn nói: "Sao tôi không thể lấy? Là tôi nhặt được, sao không
thể lấy chứ?" Giảo biện với cảnh sát, cuối cùng bị nhốt vào. Cái này chính
là chấp trước, khăng khăng cho rằng số tiền này là tôi nên lấy, bởi vì không
nhìn thấy thứ bản chất của nó. Hiểu chưa?
Sư
phụ giảng cho mọi người, một người quá chấp trước mãi mãi không thể xuất ly
(thoát khỏi) nghiệp chướng của họ. Nếu một người chuyện gì cũng nghĩ không thông,
nghiệp chướng của người này rất sâu. Thế nào là chấp trước? Chính là không
ngừng cho rằng việc này bản thân là đúng, không ngừng cho rằng việc này bản
thân làm là đúng, bản thân nói là đúng, bản thân nghĩ cũng là đúng, thực tế rõ
ràng là bản thân không đúng, bản thân vẫn cho rằng mình là đúng, đây là chấp
trước. Vậy khi không biết đúng hay không con cũng không thể đi chấp trước. Nếu
bản thân không thể phán đoán việc của mình có làm được hay không, con thì không
thể đi làm. Ngộ nhận (lầm tưởng) mình là đúng, cũng gọi là chấp trước; ngộ nhận
mình mãi mãi là sai, cũng gọi là chấp trước. Hỏng là hỏng ở chỗ phía trước nói
một chữ, gọi là "Ngộ" nhận (nhầm lẫn). Có chữ "Ngộ" này
chính là gọi con chấp trước. Con nhìn vấn đề không rõ ràng, tư duy không rõ
ràng, hành vi không rõ ràng, con ba cái không rõ ràng này gọi là chấp trước.
Cho nên liền rơi vào trong chấp trước, chính là không ra được. Giống như rất
nhiều người con nói với họ, "Bạn đừng như vậy nữa". "Tôi cứ như
vậy". "Bạn đừng như vậy nữa, mọi người đối với bạn không phải ý này,
đều là muốn tốt cho bạn." "Tôi không được, họ chính là hại tôi như
vậy." Đây gọi là rơi vào trong chấp trước, không ra được. Nghĩ không
thông, chấp trước rồi. Bởi vì con rơi vào trong chấp trước, con liền không thể
trốn thoát vận mệnh con người. Thực tế vận mệnh con người chính là quá cứng.
Chấp trước mà! Ví dụ quá khứ có bao nhiêu người khi bị hãm hại quá ư chấp
trước, "Tôi cứ như vậy đấy". Xong, bị đánh chết. Đúng không? Con
người không thể chấp trước, bắt buộc phải nhận. Rất nhiều việc phải nhận. Ví dụ
ông chủ nói tôi không đúng, tôi liền nhận. Có đạo lý gì để nói?
Pháp
giới Vô minh, bằng với không có điểm dừng (chỉ tận). Nghĩa là trong thế giới
chúng ta đang sống hiện nay, bởi vì thế giới này là Không, bởi vì mọi người đều
không hiểu, bởi vì thế giới này người người đều đang theo đuổi dục vọng, người
người đều đang chấp trước, người người đều đang hồ đồ lơ mơ sống qua ngày,
người người đều vì tiền, cái gì cũng có thể không cần, mặt mũi cũng có thể
không cần, cho nên mọi người đều làm như vậy, tất cả Vô minh lấp đầy Pháp giới
này, tất cả mọi người đều là hồ đồ lơ mơ. Nghe có hiểu không? Giống như một số
quốc gia thích chiến tranh vậy, người người đều thích đánh nhau. Tại sao? Bởi
vì họ người người đều hận, người người đều là Vô minh. Không hiểu a, cái gì
cũng không hiểu. Nếu họ hiểu lý lẽ, cái gì cũng nghĩ thông rồi, họ sẽ đánh nhau
sao? Họ hiểu đánh nhau đánh đến cuối cùng sẽ để lại hậu quả cho con cháu đời
sau của họ không? Nếu họ đều vì con cháu đời sau của mình mà nghĩ một chút,
đánh nhau đánh đến mức ngay cả trường học cũng không có, con cái sách cũng
không được học, giáo dục tốt gì cũng không được nhận; nếu cha mẹ bị đánh chết,
con cái liền không có cha mẹ; nếu con cái bị đánh chết, có xứng đáng với con
cái không? Nếu có thể nghĩ như vậy, họ còn đánh nhau nữa không? Bởi vì họ không
nghĩ như vậy, đây gọi là Vô minh.
Vậy
con nói một người Vô minh, hai người Vô minh cũng thôi đi, vậy cả một quốc gia
đều là Vô minh, đây chính là nước Vô minh. Cho nên phải nhìn thấu, phải buông
bỏ. Bởi vì Vô minh là không có điểm dừng, nếu một việc không có điểm dừng, vậy
thì đừng đi làm nữa. Hiểu chưa? Việc có điểm dừng, đó chính là siêu thoát lục
đạo luân hồi. Mà thứ không có điểm dừng chính là mãi mãi không có kết thúc, vậy
con đi theo đuổi nó có tác dụng gì? Hôm nay con dường như kết thúc rồi, ngày
mai con lại không kết thúc, ngày kia dường như không kết thúc, ngày kìa dường
như lại kết thúc rồi. Giống như rất nhiều cặp vợ chồng cãi nhau vậy, chốc lát
tốt vô cùng, lát sau lại cãi nhau. Ác duyên là phải xem tần suất của con, đúng
không? Nếu con có linh tính, cãi cãi thì thôi. Nếu thật sự tính cách, tính khí
hai người không tốt, đó chính là ngày ngày cãi nhau, cãi đến sau này là Vô Vô
Minh Tận (không có Vô minh hết), không có kết thúc rồi; cãi đến già chết rồi,
Vô Lão Tử Tận; kiếp sau lại làm vợ chồng, lại cãi; cãi xong kiếp sau lại làm vợ
chồng, lại cãi... Có điểm dừng không? Là không có điểm dừng. Các con nghe có
hiểu không? Bài giảng của chúng ta cũng là "Vô Vô Minh Tận", bởi vì
chúng ta cũng là mỗi thứ tư đến, thứ tư này không đến, thứ tư sau lại đến. Đúng
không nào? Giảng cho các con nghe chính là đạo lý này, mọi người nhất định phải
hiểu, phải học Phật học Pháp cho tốt.
Sư phụ giảng cho mọi người, muốn hoằng pháp, muốn lợi sinh không
dễ dàng đâu. Người ta nói gì vào tai con, con phải kiên trì lý niệm, bất kể nói
gì, nghe qua là thôi. Người ta nói gì với con, con nghe rồi, phiền não của con
liền xuất hiện. Thực tế con chính là đã nhận ác khí của người ta. Nếu chồng con
ở nhà gây chuyện với con, con bị anh ta làm cho hồ đồ lơ mơ, phiền não bỗng
sinh, thực tế con chính là không có định lực. Nếu vợ con ngày ngày ở nhà gây
chuyện với con, gây đến sau này con hồ đồ lơ mơ, đầu óc không tốt, thực tế con
cũng gọi là không có trí tuệ. Đúng không? Các con nói Sư phụ sẽ bị ai làm cho
hồ đồ lơ mơ không? Tôi sẽ nghe ai? Tôi nghe Bồ Tát, tôi nghe Quan Thế Âm Bồ
Tát. Nếu các con muốn làm một việc gì, nếu Sư phụ không chấp nhận, các con có
thể cầu Quan Thế Âm Bồ Tát, để Quan Thế Âm Bồ Tát thay đổi quan điểm của tôi,
thì các con thành công rồi. Có chí thì nên (hữu chí giả sự cánh thành). Hiểu
được Pháp giới Vô minh, bằng với hiểu được một chân lý. Tại Pháp giới, dùng tư
duy con người rất khó thay đổi hiện thực. Nói thông tục chính là ở tầng thứ nào
làm việc đó. Thoát khỏi phiền não Nhân đạo, chính là sự nâng cao của tầng thứ
và cảnh giới. Chỉ có đi lên, đứng cao mới có thể nhìn xa. Dùng cảnh giới tầng
thứ cao mới có thể thoát khỏi tạp niệm và phiền não tầng thứ thấp. Hôm nay
giảng đến đây cho mọi người.
I. Nhận thức, cảm ngộ, cảm ứng chân thực thần kỳ và
phản hồi sau khi đi theo Đài trưởng Lư Quân Hoành chân tâm tu học Pháp môn Tâm
Linh của Quán Thế Âm Bồ Tát và niệm Kinh
Do
giới hạn về độ dài, ở đây chỉ liệt kê một phần nhỏ nhận thức, cảm ngộ, cảm ứng
chân thực thần kỳ và phản hồi của thính giả và cư dân mạng sau khi đi theo Đài
trưởng Lư tu học Pháp môn Tâm Linh của Quán Thế Âm Bồ Tát và niệm kinh. Nếu
muốn tìm hiểu thêm nội dung, vui lòng truy cập blog của Đài trưởng Lư Quân
Hoành.
Địa
chỉ Blog của Đài trưởng Lư Quân Hoành:
1. Pháp môn Tâm Linh của Đài trưởng Lư trong trái
tim tôi
[Lời ban biên tập Ban thư ký Đài Đông Phương]: "Pháp môn
Tâm Linh" do Đài trưởng hoằng dương, thời gian không dài nhưng đã đi sâu
vào trong tâm các đệ tử học Phật, giống như con thuyền từ bi trong biển giác,
khai ngộ chúng sinh, thực sự là sự hiển hiện của trí tuệ Bồ Tát tại nhân gian.
Nay đăng tải một bài viết do Phật hữu Úc châu soạn thảo, lĩnh ngộ sâu sắc chân
lý của pháp môn. Vị Phật hữu này đã dùng tâm và trí tuệ viết ra sự hiểu biết
đối với Pháp môn Tâm Linh của Đài trưởng, đây là một bài pháp bảo đủ để khuyên
giải nhiều người hơn nữa tin tưởng vào Pháp môn Tâm Linh của Đài trưởng, hy
vọng mọi người chia sẻ lại cho nhau. Công đức vô lượng!
Trong
thời đại ngày nay, có một vị đại sư được vạn chúng kính ngưỡng như vậy, lấy từ
bi làm gốc, vì quảng độ chúng sinh hữu duyên, đã dâng hiến toàn bộ tâm sức của
mình. Ở hải ngoại, Ngài ra sức hoằng dương Phật pháp chí thánh, truyền bá rộng
rãi văn hóa Trung Hoa. Lửa thiêng tương truyền, sinh sôi không ngừng. Trên hành
trình dài đằng đẵng của cuộc đời, may mắn gặp được ân sư, nghe được Phật pháp,
trong lòng thường dâng trào một niềm xúc động khó tả. Đây có lẽ là duyên phận
kiếp này do tu vi bao đời kiếp ân ban cho tôi chăng. "Tựa hồ quen biết én
quay về", kết duyên với Đài trưởng là đại hạnh của tôi trong kiếp này, học
Phật tu tâm là đại phúc của tôi trong đời này.
1.1 Người là gốc, Tâm là rễ, Pháp môn tức Tâm môn
Chúng
ta sống trong xã hội thế tục ngày nay, mỗi ngày cần đối mặt với rất nhiều sự
việc, nhìn xem bên ngoài chuyện phiền lòng quá nhiều, ngó xem trong nhà chuyện
phải lo lắng không ít, dường như không chỗ nào không phiền, không việc gì không
não. Nhưng thế sự không thể dựa vào sự yêu thích của cá nhân để chi phối, mọi
việc luôn phải hướng đến một điểm cân bằng, luôn có một nguồn gốc, luôn có thể
tìm ra biện pháp giải quyết, điều này cần có trí tuệ.
Quốc
gia cần yên định, xã hội yêu cầu hài hòa, gia đình theo đuổi hòa thuận, cá nhân
mong mỏi hạnh phúc, đây là xu thế chung. Mà Phiền và Tĩnh bề ngoài là đối lập,
thực tế là thống nhất, hai mặt của một thể, căn nguyên vẫn nằm ở lòng người,
nằm ở bản thân.
"Nho
gia trị quốc, Phật gia trị tâm", Pháp môn Tâm Linh của Quán Thế Âm Bồ Tát
do Đài trưởng Lư truyền dạy, lấy hoằng pháp lợi sinh, quảng độ hữu tình làm
tông chỉ căn bản. Nói đơn giản chính là để chúng sinh hữu duyên nghe được Phật
pháp, tin tưởng Phật pháp, tu hành tham ngộ Phật pháp. Dùng Chánh pháp để thức
tỉnh lòng người, bồi dưỡng lòng người, trị tận gốc lòng người.
Thế
giới có đa dạng, con người cũng có nhiều loại. Nhưng người người đều có Phật tánh,
bình bình đẳng đẳng. Vì bụi trần thế tục làm ô nhiễm tâm linh con người, che
lấp ánh sáng của tâm linh, không nhìn thấy bản tánh của mình, không nhận thức
được bản thân vốn có Phật tánh. Muốn thanh trừ cáu bẩn của tâm linh, lau sạch
bụi trần của tâm linh, duy chỉ có dưới sự khai thị và giúp đỡ của Đại trí tuệ
và Thiện tri thức mới có thể làm được. Pháp môn của Đài trưởng chính là muốn
dẫn dắt chúng ta, tìm lại lương tâm của chính mình, khôi phục tính đức vốn có,
phản phác quy chân (quay về sự mộc mạc chân thật), trở về điểm nguyên thủy của
sinh mệnh. Chất phác là bản sắc nguyên thủy nhất trên thế giới, bản tính của
con người, vốn tự thanh tịnh, giống như tiếng hát của gió mát, là do bản tính
khiến vậy, không cần bất kỳ lý do nào, thực ra sinh mệnh vốn nên như thế.
Chính
vì chấp trước, coi tất cả vọng niệm phiền não là thật, coi giả thành thật, coi
không có thành có, càng lún càng sâu, đau khổ không chịu nổi, không thể tự
thoát ra, thực ra đều là những biến hóa và ảo tưởng do cái tâm đó sinh ra. Có
chấp trước sẽ sinh ra dục vọng, có dục vọng sẽ có theo đuổi, có theo đuổi sẽ có
thu hoạch, trong lúc bất tri bất giác đã sở hữu rất nhiều, có cái là cần thiết,
có cái căn bản là dư thừa. Duy chỉ có dục vọng chính đáng tương ứng với thiện
pháp, mới là con đường đạt được cuộc sống hạnh phúc, nếu không đạt được càng
nhiều, càng xa rời hạnh phúc, thậm chí đi lên con đường phạm tội, nhà tan cửa
nát.
Cho
nên Pháp môn Tâm Linh của Đài trưởng Lư chính là để chúng ta hiểu rõ đạo lý
nhân sinh, "Vạn ban đới bất tẩu, chỉ hữu nghiệp tùy thân" (Muôn việc
mang không đi, chỉ có nghiệp theo mình), phải học cách buông bỏ, sống trong
hiện tại, đem cả đời tiêu phí vào sự đòi hỏi không ngừng nghỉ, đem bản thân đặt
vào trong phiền não vô tận là quá không đáng. Vì vậy Mê và Ngộ quyết định ở tâm
mình, quyết định ở trong một ý niệm. Chỉ có phá trừ cái "Tôi" hư vọng
mới có thể thoát khỏi phiền não, trải nghiệm sự thanh lọc của tâm linh, bước
vào cánh cửa hạnh phúc thực sự.
1.2. Học pháp môn, như uống nước, mới biết pháp môn thù thắng
biết bao
Xã
hội hiện đại ngày càng thực dụng hóa, không có ví dụ thực tế thuyết phục, cảm
nhận thiết thân, người bình thường khó mà tin tưởng. Thời kỳ Mạt pháp, Đài
trưởng mượn đại nguyện lực, đại từ bi của Quan Thế Âm Bồ Tát truyền Phật pháp
như gió xuân hóa mưa, ban ơn cho chúng sinh, khiến những người bình thường chưa
từng tiếp xúc Phật pháp như chúng tôi, bước lên con đường lớn thênh thang học
Phật, những điều này hoàn toàn nương nhờ vào đại trí tuệ và pháp môn thù thắng
của Đài trưởng.
Một
đặc điểm của Pháp môn Tâm Linh của Đài trưởng chính là hoằng pháp bình dân hóa,
nhập môn đơn giản thuận tiện, già trẻ đều thích hợp, giống như là một ngôi
trường công lập, hướng đến bình dân, kết duyên miễn phí. Hoằng pháp cần lợi
khí, phương thức khai thị của Đài trưởng cũng khác biệt, giàu tính sáng tạo,
ngôn ngữ đời sống mộc mạc khiến người ta cảm thấy thân thiết, sự diệu dụng của
Đồ đằng khiến người ta cảm thấy thần kỳ, thể hội và ví dụ thiết thân khiến
người ta cảm thấy đáng tin. Phật pháp thâm sâu hóa ra lại gần gũi với cuộc sống
như vậy, xuất thần nhập hóa, bất khả tư nghị. Những cái này đều là phương pháp
phương tiện, để tín chúng dễ tin dễ học.
Một
điểm sáng khác của Pháp môn Tâm Linh của Đài trưởng chính là Phật pháp sinh
hoạt hóa, học Phật trong cuộc sống, cảm nhận được sức mạnh và sự trợ giúp của
học Phật. Ba pháp bảo lớn của Pháp môn Tâm Linh Đài trưởng: Niệm kinh, Hứa
nguyện, Phóng sinh, kỳ diệu vô cùng, vì nghiệp chướng kiếp trước kiếp này của
mỗi người khác nhau, nguyên nhân bệnh khác nhau, phương pháp trị liệu cũng khác
nhau. Đài trưởng giống như một bác sĩ cao minh, bốc thuốc đúng bệnh, trăm thử
trăm linh, không chỉ trị bệnh hiện tại, còn có thể trị bệnh chưa phát (bệnh vị
lai). Tiêu nghiệp chướng, trừ bệnh đau, siêu độ người mất, phù hộ bình an, tu
gia đình, tu sự nghiệp, tu sức khỏe, v.v... đều có phương pháp hành chi hữu
hiệu, đã giải quyết tình trạng khẩn cấp, nỗi lo trong lòng cho rất nhiều tín
chúng.
Những
điều này khiến các tín chúng càng thêm tin tưởng, Pháp môn Tâm Linh không phải
ở trong miếu đường cao cao, không phải trong kinh văn dày cộp, mà là thực thực
tại tại hiển hiện trong cuộc sống của người dân, từ đó làm sâu sắc thêm sự hiểu
biết đối với Phật pháp, càng có lòng tin đối với tu hành, tận hưởng niềm vui vô
cùng của việc học Phật.
Đài
trưởng từ bi, nhìn thấy chúng sinh giãy giụa trong đau khổ, trầm luân trong mê
hoặc, không nỡ từ bỏ, không tiếc hy sinh sức khỏe cá nhân, dốc lòng cứu trợ.
Đài trưởng trên phương pháp cứu người có rất nhiều sự độc đáo, vô cùng linh
nghiệm, con người đến thế gian này chính là để chịu khổ để trả nợ, chỉ có trả
hết nợ cũ tích lũy kiếp này và kiếp trước, mới có thể tranh thủ được cơ hội
vãng sinh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Pháp môn của Đài trưởng vô cùng thiết
thực, chú trọng hiện tại, dạy dỗ chúng ta gieo nhân thiện, được quả thiện; chăm
chỉ niệm Kinh, tâm thanh tịnh; làm công đức, tích tư lương. Chúng sinh đều ở
trên một con thuyền, đây là trạm trung chuyển của sinh mệnh, lên thì vào thiên
đường, xuống thì vào địa ngục; tiến thì vào thiện đạo, lùi thì vào ác đạo. Việc
cấp bách trước mắt chính là để tránh rơi vào tam ác đạo, sự tu hành từng chút
từng giọt hôm nay, không chỉ vì mình, cũng là vì con cháu; không chỉ vì kiếp
này, cũng là vì lai thế, cũng là vì chúng sinh. Con đường tu hành giống như
chèo thuyền ngược nước, duy chỉ có kiên trì mới có thể có thu hoạch, ba ngày
đánh cá hai ngày phơi lưới, thì sẽ chẳng làm nên trò trống gì.
Pháp
môn Tâm Linh của Đài trưởng nhìn có vẻ ngưỡng cửa thấp, thực ra là Đài trưởng
từ bi, vì để cứu độ chúng sinh, để họ sớm nghe Phật pháp, ít chịu khổ nhân
gian. Pháp môn của Đài trưởng nhìn có vẻ đơn giản, thực ra nội hàm phong phú, bao la vạn tượng. Bởi vì đơn giản và bình phàm đều bắt đầu từ tâm.
"Người
uống nước, nóng lạnh tự biết", chỉ có học Pháp môn Tâm Linh của Đài
trưởng, mới có thể cảm nhận sâu sắc pháp môn vô cùng thù thắng, như cá gặp
nước. Vì vậy tìm được pháp môn thích hợp là không dễ dàng biết bao, phải trân
trọng gấp bội.
1.3. Sinh mệnh hữu hạn, Pháp vô hạn, hoằng pháp độ người vô cùng
tận
Đài
trưởng trong "Bạch Thoại Phật Pháp" đã mở đầu nói rõ nghĩa,
"Trong thời kỳ Mạt pháp phải học Đại thừa Phật pháp - cứu người, khi cứu
người con mới có thể đạt được trí tuệ chân chính, sức mạnh chân chính".
Sức mạnh của tấm gương là vô cùng, Đài trưởng đã làm gương cho chúng sinh. Học
tập Pháp môn Tâm Linh của Đài trưởng chính là phải học tập cảnh giới vô tư này,
phát tâm làm việc, không cầu báo đáp. Học tập Pháp môn Tâm Linh của Đài trưởng
chính là phải học tập tinh thần thực tiễn "Dùng tâm xuất thế, làm việc
nhập thế" của Đài trưởng, bắt đầu làm từ từng chút từng giọt, bắt đầu làm
từ việc nhỏ, bắt đầu làm từ tôi. Học tập Pháp môn Tâm Linh của Đài trưởng chính
là phải học tập tình cảm và tấm lòng từ bi làm gốc, lợi lạc chúng sinh của Đài
trưởng. Truyền pháp thời xưa là "Dĩ tâm truyền tâm, giáo ngoại biệt
truyền", Đài trưởng truyền pháp không chút giữ lại, mưa pháp ban khắp.
Chúng ta phải chịu ơn không quên, tri ân đồ báo, cống hiến xã hội.
Pháp
môn tựa như nước, nước này chí thiện chí tịnh, chí cương chí nhu, bao dung rộng
lớn, tư nhuận chúng sinh, là nguồn của sinh mệnh, là suối của sinh mệnh, có sức
sống vô hạn, sức mạnh của nó vô lượng vô biên. Cuộc đời như bài ca, chỉ khi
sinh mệnh hữu hạn của cá nhân kết hợp với sự nghiệp hoằng pháp độ người vô hạn,
mới có thể phát ra ánh sáng rực rỡ. Sức mạnh của một giọt nước vô cùng hữu hạn,
nhưng ngàn ngàn vạn vạn giọt nước tụ lại với nhau thì có thể tạo thành dòng lũ
không thể ngăn cản, báo đáp xã hội. Chúng ta chỉ có hòa nhập vào Pháp môn Tâm
Linh của Đài trưởng, mới có thể thực sự cảm ngộ được chân lý của nhân sinh, ý
nghĩa của sinh mệnh.
Vì
vậy, Pháp môn Tâm Linh của Đài trưởng trong lòng tôi là một loại nhận thức đối
với trí tuệ vũ trụ nhân sinh, là một loại tư tưởng mộc mạc sống động tươi mới,
là một loại chuẩn tắc làm người hướng thiện hướng thượng hài hòa tốt đẹp, là
một loại tinh thần thực tiễn vô tư vô úy kiên nhẫn không bỏ cuộc, là một loại
truyền thừa tinh thần sinh mệnh không tắt, hoằng pháp không dừng.
Melbourne - Tim
2. Lợi tại chúng sinh, Công báo xã hội —— Mấy điểm thể hội khi học tập Pháp môn Tâm Linh
của Đài trưởng Lư
Đầu
tháng 9 năm nay, trên đường đi theo Đài trưởng Lư du hành Châu Âu hoằng pháp,
một vị sư tỷ của Đài Đông Phương Sydney tặng cho tôi một cuốn "Bạch Thoại
Phật Pháp" tập 2 mới xuất bản của Đài trưởng Lư, tôi như bắt được trân
bảo, yêu thích không buông tay. Nó đi cùng tôi từ Đan Mạch, Đức đến Ý, cuối cùng
đến Úc. Trên đường du lịch, tôi đọc kỹ càng, nghiền ngẫm tỉ mỉ, lặng lẽ thể
ngộ. Tôi không thể hình dung tâm trạng vui mừng khôn xiết lúc đó, trong lòng
chỉ có cảm ơn, cảm động và cảm kích.
Đây
là một cuốn sách về Tâm – bởi vì vạn vật thế giới "đều do tâm sinh",
cứu người trước tiên cứu tâm.
Đây
là một cánh cửa thần kỳ – bởi vì nó có thể khai mở trí tuệ nhân sinh, dẫn dắt
chúng sinh bước lên Phật đạo, lìa khổ được vui.
Đây
là một vị đại sư được vạn chúng kính ngưỡng – bởi vì Ngài lấy từ bi làm gốc,
trong tâm vô ngã, chỉ có chúng sinh hữu duyên trong thiên hạ.
Tôi
cảm thấy sâu sắc, từ "Bạch Thoại Phật Pháp" tập 1 của Đài trưởng đến
tập 2 hiện nay, từ bài diễn thuyết của Đài trưởng tại các nơi đến lời khai thị
cho đệ tử tại Quan Âm Đường Sydney đăng trên blog, giống như từng đóa hoa tươi,
nối tiếp nhau nở rộ, hương pháp ấm lòng người. Tôi chân thành cảm ơn Đài trưởng
Lư có thể dùng ngôn ngữ mộc mạc, sinh động và đời thường hóa như vậy, phương
thức tư duy gần gũi với người hiện đại như vậy, khéo léo nói diệu pháp, trình
bày sâu sắc vi ngôn đại nghĩa của Phật pháp, khiến những người bình thường chưa
từng tiếp xúc Phật pháp, hỗn độn mê mang như chúng tôi vui mừng nghe Phật pháp,
cùng thấm nhuần mưa pháp, đây chẳng lẽ không phải là may mắn và phúc phận của
thế hệ chúng tôi sao?
Từng
bài khai thị của Đài trưởng Lư, không bài nào không nói về học vấn của tâm,
nguyên lý của tâm, nghĩa đế của tâm. Kinh Phật nói "Phật thuyết chủng
chủng pháp, vi trị chủng chủng tâm" (Phật nói các loại pháp, là để trị các
loại tâm), tâm này chính là chỉ phiền não và vô minh trong lòng chúng ta. Pháp
môn Tâm Linh của Đài trưởng Lư chính là có thể trị tận gốc các loại vọng tâm
của chúng ta, phá mê tình vọng chấp, lập Chánh pháp Chánh tín, gột rửa cáu bẩn
trong tâm linh chúng ta, dẫn dắt chúng ta nhận thức lương tâm của mình, tìm lại
bản tính của mình, khôi phục tín đức vốn có, khai mở trí tuệ nhân sinh, từ đó
thoát khỏi sự trói buộc của lục trần nhân gian, quay về cảnh giới thanh tịnh
vốn có, thực hiện sự siêu việt của sinh mệnh.
Pháp
môn Tâm Linh của Đài trưởng Lư, phù hợp sâu sắc với lòng người. Chỉ có tu tâm
sạch sẽ, mới có thể thân tâm hài hòa; chỉ có giải thoát phiền não, mới có thể
đạt được hạnh phúc thực sự. Vì vậy, học tập Pháp môn Tâm Linh của Đài trưởng
Lư, không chỉ có ý nghĩa chỉ đạo thực tế đối với những người dân thường mong
mỏi bình an cát tường, hạnh phúc vui vẻ. Mà còn có ý nghĩa xã hội sâu xa đối
với việc thúc đẩy xã hội hài hòa và ổn định. Nhớ lại trải nghiệm đi theo Đài
trưởng học Phật tu tâm mấy tháng nay, lòng trào dâng, cảm xúc dạt dào, kết
duyên với Đài trưởng là may mắn biết bao, học Phật tu tâm là vui vẻ biết bao,
nay xin viết ra mấy điểm thể hội nhỏ bé của mình, chỉ để tham khảo.
I. Ý nghĩa tu hành của Pháp môn Tâm Linh
1. Chúng sinh bình đẳng, Tin thì được cứu
Pháp
môn Tâm Linh do Đài trưởng Lư truyền dạy, lấy hoằng pháp lợi sinh, quảng độ hữu
tình làm tông chỉ căn bản, mục đích của nó là để chúng sinh hữu duyên nghe được
Phật pháp, dùng Chánh pháp để trị tận gốc lòng người. "Chúng sinh đều có
Phật tánh", vì vậy người người bình đẳng, đây là tri kiến của Phật, là
điều kiện cần thiết để thành Phật. Nó không có chút quan hệ nào với môn đệ,
xuất thân, tài phú, địa vị, chủng tộc... thường thấy trong xã hội thế tục.
Mà
chướng ngại thành Phật của chúng sinh lại chính là đến từ bản thân, do các loại
nghiệp chướng, phong trần thế tục làm ô nhiễm tâm linh con người, che lấp ánh
sáng của tâm linh, không nhìn thấy bản tính của mình, không nhận thức được Phật
tánh vốn có của mình. Vì vậy chỉ có thanh trừ cáu bẩn của tâm linh, lau sạch
bụi trần của tâm linh, mới có thể hiển hiện bản tánh của mình. Pháp môn của Đài
trưởng Lư chính là muốn dẫn dắt chúng ta tìm lại Phật tánh của mình, phản phác
quy chân.
Muốn
nhận rõ diện mạo vốn có của mình, khôi phục sự thanh tịnh của nội tâm, duy chỉ
có phá bỏ vọng tưởng chấp trước, trừ vô minh, bỏ phiền não, duy chỉ có nghe
được Phật pháp mới có thể nhìn rõ nguồn gốc của vấn đề, tìm thấy biện pháp căn
bản để giải quyết vấn đề. Tin tưởng Phật pháp mới có thể được cứu, học tập pháp
môn của Đài trưởng Lư có thể khiến phàm phu dục hỏa trùng sinh (tái sinh trong
lửa).
2. Hiểu lý Chánh tín, Trì giới tu hành
Sinh
mệnh của chúng ta là sinh mệnh hữu tình, đối với tất cả mọi thứ trên đời đều
dùng tâm thái "Có" để quan sát, để suy nghĩ, để theo đuổi. Cũng là ôm
tâm thái này để sống, vì vậy đối với "Có" tình có độc chung (đặc biệt
yêu thích), liều mạng theo đuổi, khó dứt khó rời. Nhìn bằng trí tuệ của Phật,
tất cả mọi thứ trên đời đều là nhân duyên hòa hợp, không có tự tính, không có
tính hằng thường, là Giả có. Theo đuổi cái giả, coi cái giả thành thật, coi cái
không có thành có chính là vọng tưởng, mà sự sinh ra của vọng tưởng, vô minh là
nguồn gốc, dục vọng là động lực. Chúng ta trong cuộc sống thế tục, sẽ gặp phải
đủ loại phiền não, không thuận tâm, không vui vẻ, những chuyện không buông bỏ
được; sẽ theo đuổi không tiết chế, đòi hỏi vật ngoài thân và mãi mãi không thỏa
mãn, từ đó sẽ sinh ra phiền não và đau khổ vô tận mà không thể tự thoát ra,
những cái này đều là do vọng tưởng chấp trước gây ra, nguồn gốc vẫn ở lòng người.
Vì
vậy, muốn phá mê khai ngộ, chuyển phàm thành thánh, thì phải nhận rõ bản chất
của "Có", đó chính là tất cả mọi thứ trên đời đều là giả, là mộng
huyễn bào ảnh (bong bóng ảo mộng), bản tính của nó đều là Không, như vậy sẽ
không sinh ra chấp trước thực sự đối với nó. Pháp môn Tâm Linh của Đài trưởng
Lư đơn giản rõ ràng, chỉ thẳng vào lòng người, khiến chúng ta có thể hiểu rõ
đạo lý sinh ra phiền não. Hiểu lý mới có thể xây dựng Chánh tín, hiểu lý mới có
thể minh tâm, minh tâm mới có thể kiến tánh. Pháp môn của Đài trưởng chỉ dẫn
chúng ta niệm Kinh, tu tâm, tu hành, khơi gợi trí tuệ của chúng ta, chính là
muốn giúp chúng ta bước ra khỏi giả tướng, quay về tâm thái chân thực. Pháp môn
Tâm Linh của Đài trưởng Lư dạy dỗ chúng ta dùng Giới, Định, Tuệ để tiêu diệt
"Tam độc" "Tham, Sân, Si", như vậy mới có thể ấn giữ vọng
tâm, vọng niệm không khởi, tâm sẽ tự nhiên thanh tịnh, cuộc sống tự nhiên an
tường và vui vẻ.
3. Ngộ và Hành cùng coi trọng, trong Tu đắc Ngộ
Học
tập "Bạch Thoại Phật Pháp" của Đài trưởng, lắng nghe khai thị của Đài
trưởng, bài nào cũng giảng đạo lý sâu sắc, trích dẫn là ví dụ thực tế trong
cuộc sống hàng ngày, khổ khẩu bà tâm (tận tình khuyên bảo), tuần tuần thiện dụ
(từng bước dụ dẫn), mục đích chính là để chúng ta khai ngộ. Đài trưởng không
chỉ một lần khai đạo chúng ta "Khai ngộ chính là nghĩ thông rồi, nghĩ rõ
ràng rồi". Ngộ chính là giác ngộ, chính là thức tỉnh, chính là như tỉnh
cơn mê, bỗng nhiên sáng tỏ. Ngộ chính là trong một sát na, là bước nhảy vọt về
nhận thức. Một khi tâm bạn có sở ngộ, mới có thể hiểu Phật lý Đài trưởng giảng,
mới có thể thực sự tin tưởng Phật pháp, tin tưởng nhân quả báo ứng, lục đạo
luân hồi, thiên lý định luật v.v., mới có thể tự giác tu hành. Cho nên Ngộ là
một khái niệm quan trọng của việc học tập Pháp môn Tâm Linh của Đài trưởng.
Chỉ
có tu hành trên cơ sở có sở ngộ, mới là chân tu, thực tu. Có thể có một số tín
chúng khi mới bắt đầu là vì giải quyết bệnh đau và một số vấn đề cuộc sống thực
tế mới tiếp xúc Pháp môn Tâm Linh, mà sau khi học tập pháp môn của Đài trưởng,
đã nhận được hiệu quả, nhận được sự trợ giúp, mới từ tin phục chuyển thành tin
tưởng, tự giác tu hành, từ trong đó khai ngộ.
Ngộ
không phải là ngộ một cái là xong hết, thì không cần tu hành nữa, bởi vì cái
ngộ được là đạo lý, như vậy sau này sẽ không đi hoặc đi ít đường vòng, tu hành
có thể làm ít công to, tuyệt đối không phải sau khi ngộ rồi liền đắc Phật quả.
Đài trưởng trong khai thị cho đệ tử dạy dỗ chúng ta, "Ngộ như thương hải
vấn lộ, tu hành như lão mã thức đồ" (Ngộ như biển xanh hỏi đường, tu hành
như ngựa già biết lối), sự so sánh hình tượng này, đã nói rõ sâu sắc mối quan
hệ biện chứng giữa Ngộ và Tu. Ngộ là mang tính phương hướng, "sai một ly,
đi một dặm", còn tu hành giống như đi trên con đường hành hương, hướng về
mục tiêu đã định từng bước tiến lên, cả hai bổ sung cho nhau.
4. Thứ đệ
hoa khai, cứu cánh giải thoát (Hoa nở theo thứ tự, giải thoát rốt
ráo)
Con
đường tu hành, đường dài dằng dặc. Vậy tu hành tu cái gì, chính là tu trí tuệ,
tu không trước tướng, tu vô minh. Bởi vì vọng tưởng, phiền não trong lòng con
người là chướng ngại lớn nhất để thành Phật, mặc dù chúng sinh có đầy đủ điều
kiện cần thiết để thành Phật, điều này không có nghĩa là nhất định có thể thành
Phật, vô minh không trừ, tự tánh khó thấy. Nếu không thể phá bỏ cái thấy của
phàm phu, loại bỏ tham, sân, si trong lòng, thì chỉ có thể luân hồi trong lục
đạo, mà không thể tự thoát ra, uổng công có điều kiện thành Phật mà để mất
trắng, há chẳng đáng tiếc. Vì vậy mục đích học Phật tu tâm nên vô cùng rõ ràng,
chính là phải thoát khỏi lục đạo luân hồi, giải thoát rốt ráo, lìa khổ được
vui, chính là phải thành Phật.
Đài
trưởng Lư trong khai thị đã chỉ rõ cho chúng ta con đường thành Phật và ba tầng
thứ thoát khỏi biển khổ, tầng thứ nhất, "Tiêu trừ nghiệp chướng, siêu độ
hữu duyên, trả sạch oan nợ, tịnh hóa tâm linh, siêu thoát phiền não". Tầng
thứ hai, "Lìa khổ được vui, quảng độ chúng sinh". Tầng thứ ba,
"Cùng lên Cực Lạc, cùng leo Tứ Thánh". Hoa nở theo thứ tự, con đường
kim quang ngay trước mắt, con đường tu hành ngay dưới chân, tất cả phụ thuộc
vào tu vi, trí tuệ phúc đức và nỗ lực không ngừng nghỉ của chính mình. Hiện tại
Quan Thế Âm Bồ Tát đã chỉ rõ cho chúng ta con đường học Phật tu tâm thành Phật,
vì vậy chúng ta nên kiên nhẫn không bỏ cuộc, vì mục tiêu này mà phấn đấu không
ngừng. Mọi người đều biết, Quan Thế Âm Bồ Tát cũng là một trong Tây Phương Tam
Thánh, đi theo Pháp môn Tâm Linh của Đài trưởng, chúng ta có lòng tin, thành
Phật có hy vọng.
5. Tự lợi lợi tha, cứu người làm gốc
Đài
trưởng trong "Bạch Thoại Phật Pháp" chỉ rõ, "Trong thời kỳ Mạt
pháp, phải học Đại thừa Phật pháp - cứu người, khi cứu người bạn mới có thể
nhận được trí tuệ chân chính, sức mạnh chân chính". Độ chúng cứu người là
tinh thần cơ bản của Phật pháp, cũng là nội dung cốt lõi của Pháp môn Tâm Linh.
Thế giới ngày nay đã đến thời kỳ "Thành, Trụ, Hoại, Không", thiên tai
không ngừng, nhân họa liên miên, tích lũy từ bao đời kiếp đến nay, do cộng
nghiệp tạo thành, nghiệp chướng tụ kết, thời cơ bùng phát có thể bất cứ lúc
nào. Các loại nguy cơ, các loại tai nạn xảy ra mỗi ngày trên thế giới, quy căn
kết đáy chính là nguy cơ về tín ngưỡng, nguy cơ về đạo đức, nguy cơ về lòng
người, là do tham dục của nhân loại gây ra, theo định luật nhân quả, tất nhiên
tự thực quả của mình. Quan Thế Âm Bồ Tát từ bi, đã cho chúng ta pháp môn tốt
như vậy, chúng ta nên nắm bắt cơ hội, phát tâm cứu người. Trước tiên phải tu
tốt bản thân, tu sạch sẽ bản thân, tăng cường công lực, tụ tập năng lượng, đi
theo Đài trưởng, học diệu pháp khéo léo thiện lương, tìm các loại cơ hội cứu
người. Có lẽ phát thêm một cuốn sách, nói thêm vài câu ấm áp, chạy thêm vài dặm
đường, tặng thêm vài đĩa quang, là có thể cứu vãn một gia đình, một đoạn nhân
duyên, thậm chí một mạng người. Sức mạnh của một người là vô cùng hữu hạn,
nhưng ngàn ngàn vạn vạn người cùng lúc đứng lên, đưa ra đôi tay hữu ái, mở rộng
tấm lòng chân thành, là có thể hình thành sức mạnh không thể ngăn cản, để nhiều
người hơn nữa bước lên con đường lớn thênh thang học Phật, từ đó khiến vận mệnh
cá nhân thay đổi, gia đình xảy ra thay đổi tích cực, tiến tới làm thay đổi diện
mạo xã hội. Vì vậy học tập Pháp môn Tâm Linh của Đài trưởng Lư, chính là phải
phát tâm cứu người, không cầu báo đáp, đây là một sự nghiệp vĩ đại chưa hoàn
thành.
II. Ý nghĩa thực tiễn của Pháp môn Tâm Linh
1. Lấy con người làm gốc, chú trọng hiện tại
Chúng
sinh sống trong xã hội thế tục ngày nay, mỗi ngày phải đối mặt với rất nhiều sự
việc và vấn đề, nhà nhà đều có một bản kinh khó niệm, trong lòng mỗi người đều
có một cuốn sổ nợ, duy chỉ có học cách buông bỏ, chú trọng hiện tại, mới có thể
giảm bớt áp lực trong lòng, đối mặt hiện thực, phân tích ngọn nguồn sự việc,
tìm ra nguồn gốc, chia ra mà trị, điều này cần trí tuệ. Mà pháp môn của Đài
trưởng chính là chìa khóa mở ra trí tuệ.
Ba
pháp bảo lớn của Pháp môn Tâm Linh - Đài trưởng: Niệm Kinh, Hứa nguyện, Phóng
sinh, thật sự kỳ diệu vô cùng, bất khả tư nghị. Bất kể là người mới nhập môn,
hay là tín chúng tu hành đã lâu, chỉ cần tuân theo yếu lĩnh của pháp môn tu
hành, không có ai không thấy hiệu quả, không có ai không linh nghiệm. Danh hiệu
"Tam bảo", danh xứng với thực.
Chỉ
cần dụng tâm đi niệm Kinh sẽ có nguyện lực, sẽ có công đức, mà công đức có thể
tiêu trừ nghiệp chướng của bản thân. Phát nguyện tâm chính là biến suy nghĩ
trong lòng, thành nguyện lực, sau đó đi nỗ lực thực hiện, lợi lạc chúng sinh,
từ đó có thể nhận được sự gia trì của Bồ Tát, thay đổi vận mệnh của mình. Mà
phóng sinh chính là bồi dưỡng tâm từ bi của mình, lợi lạc hữu tình.
Bởi
vì nghiệp chướng kiếp trước kiếp này của mỗi người khác nhau, nguyên nhân bệnh cũng
khác nhau, phương thức phương pháp trị liệu không hoàn toàn giống nhau. Đặc
điểm lớn nhất của Pháp môn Tâm Linh của Đài trưởng, chính là có thể căn cứ vào
các bệnh chứng khác nhau, bốc thuốc đúng bệnh, không chỉ có thể trị bệnh hiện
tại, còn có thể trị bệnh chưa phát. Đối với các loại vấn đề trong cuộc sống,
như gia đình, sự nghiệp, giáo dục, hôn nhân v.v., Pháp môn Tâm Linh đều có diệu
pháp diệu chiêu, hành chi hữu hiệu và lập can kiến ảnh (có hiệu quả ngay). Thế
giới ngày nay, pháp môn gần gũi với cuộc sống như vậy, nghĩ điều chúng sinh
nghĩ, lo điều chúng sinh lo, có thể giải quyết vấn đề thực tế và kết duyên miễn
phí, thực sự hiếm thấy, điều này hiển hiện đầy đủ đại từ bi, đại trí tuệ của
Đài trưởng. Thần kỳ hơn là, Ngôi Nhà Nhỏ (Kinh văn tổ hợp) không chỉ uy lực
lớn, hơn nữa hiệu quả tốt, chỉ có trong thời kỳ Mạt pháp, mới có thể xuất hiện
trân bảo như vậy.
Pháp
môn Tâm Linh của Đài trưởng vô cùng thiết thực, chú trọng hiện tại, tất cả xuất
phát từ thực tế, chỉ đạo chúng ta bắt đầu làm từ chút ít. Trước tiên giải quyết
tốt vấn đề của bản thân, dùng trí tuệ hóa giải khó khăn hiện tại, trả nợ trước,
tiêu nghiệp chướng, trị bệnh đau, tu tâm sạch sẽ, tu thân cho tốt, tu ra một
tâm thái tốt, khí trường tốt, nhân duyên tốt, sau đó ảnh hưởng đến bạn bè người
thân của mình. Pháp môn của Đài trưởng chính là muốn để chúng sinh không chỉ
kiếp này thụ ích, kiếp sau cũng có phúc báo. Vì vậy chúng ta nhất định phải
trân trọng thời gian, chăm chỉ niệm Kinh, niệm Kinh nhiều, tích lũy nhiều tư
lương.
2. Tuần tự tiệm tiến, Nhất môn tinh tấn
Nhận
thức của con người là một quá trình tiệm tiến từ nông đến sâu, từ thấp đến cao,
từ đơn giản đến phức tạp. Đài trưởng từ bi, vì để cứu độ nhiều chúng sinh hữu
duyên hơn nữa, khéo léo hoằng dương diệu pháp, để dẫn dắt tín chúng có căn cơ
khác nhau học Phật tu hành. Do trình độ nhận thức của mỗi người khác nhau, nên
cần thiện tri thức ở các tầng thứ khác nhau khai thị mới có thể khai ngộ, giống
như một chìa khóa mở một ổ khóa.
Để
cho tín chúng hiểu rõ đạo lý, Đài trưởng không tiếc hy sinh sức khỏe cá nhân,
mượn đại nguyện lực, đại từ bi của Quan Thế Âm Bồ Tát, hiện thân thuyết pháp,
sự diệu dụng của Đồ đằng chính là chỉ điểm bến mê cho tín chúng, tiêu trừ tai
kiếp, chữa trị bệnh đau, đây chính là sự hiển hiện thần thông của Phật Bồ Tát,
mục đích của nó là để tín chúng tin tưởng Chánh pháp, tin tưởng phía sau xác
thịt phàm thai của chúng ta, có Bồ Tát tồn tại, có sự tồn tại của linh giới.
Người đang làm, trời đang nhìn, nhân quả báo ứng, mảy may không sai, từ đó kiên
định niềm tin học Phật.
Do
căn cơ của chúng sinh khác nhau, giống như tính chất của vật liệu khác nhau,
cần công nghệ khác nhau mới có thể mài ngọc thành khí. Vì vậy xét từ phương
pháp tu hành, có thuyết tám vạn bốn ngàn pháp môn, có thể tiếp dẫn tám vạn bốn
ngàn loại chúng sinh có căn cơ khác nhau. Pháp môn tu hành tuy nhiều, nhưng
không phân cao thấp, không có phân biệt ưu liệt, chỉ là phù hợp mà thôi. Pháp
môn của Đài trưởng Lư mặc dù lịch sử không dài, nhưng nhận được sự ủng hộ của
đông đảo tín chúng trên toàn thế giới, đây là quy tụ sự kỳ vọng của mọi người.
Pháp môn của Đài trưởng truyền pháp chính thống, hiệu quả linh nghiệm, chúng
sinh được hưởng lợi, gần gũi cuộc sống, linh hoạt thuận tiện, thần thông trợ
lực, tu trì tại gia, minh sư chỉ điểm, vì vậy được đông đảo tín chúng gọi là
pháp môn tốt nhất, pháp môn phù hợp nhất trong thời kỳ Mạt pháp, quả thực xứng
đáng.
Vì
vậy chúng ta trong thời kỳ Mạt pháp, trong lúc tai nạn thường xuyên xảy ra, có
thể gặp được pháp môn tốt như vậy, nhất định phải trân trọng. Đời người vô
thường, chỉ có tu hành cho tốt, "Tự tu tự được, tu sớm được sớm, không tu
không được". Con đường tu đạo học Phật, tuyệt đối không bằng phẳng, một
cần hằng tâm, hai cần nghị lực, ba cần định lực, con đường tu hành như chèo
thuyền ngược nước, không tiến ắt lùi. Đứng núi này trông núi nọ, ăn trong bát
nhìn trong nồi, thì sẽ chẳng làm nên trò trống gì, lãng phí thời gian của chính
mình một cách vô ích. Vì vậy làm người phải tâm thành, niệm Kinh phải tâm
thành, học Phật phải tâm thành, độ người phải tâm thành, đối đãi chân thành mới
có thể tâm đầu ý hợp, mới có thể tâm thành thì việc ắt thành.
3. Pháp vô
chỉ cảnh, Dữ thời câu tiến (Pháp không có điểm dừng, Cùng tiến với
thời đại)
Pháp
môn Tâm Linh của Đài trưởng Lư tôn trọng lịch sử, tôn trọng truyền thống, thừa
tiền khải hậu (kế thừa người trước mở lối cho người sau), kế vãng khai lai (kế
thừa quá khứ mở ra tương lai), nhưng lại không câu nệ vào truyền thống. Hoằng
pháp độ chúng, một cần trí tuệ, hai cần tư duy mới, phương pháp mới, để phù hợp
với sự tiến bộ và phát triển của xã hội.
Trong
thời kỳ Mạt pháp, tốc độ thành, trụ, hoại, không của trái đất nơi nhân loại cư
trú, vượt xa tưởng tượng của chính nhân loại, đây là do cộng nghiệp tạo thành.
Nếu hoằng pháp theo phương pháp truyền thống, không nghi ngờ gì là như muối bỏ
biển, nguyện vọng tốt đẹp cũng khó biến thành hiện thực. Vì vậy hoằng pháp cũng
phải tùy cơ lợi dụng thời thế, cùng tiến với thời đại, chú trọng hiệu quả thực
tế.
Để
cứu độ nhiều chúng sinh hữu duyên hơn nữa, để họ khai ngộ, Đài trưởng tận dụng triệt
để khoa học kỹ thuật hiện đại, các phương tiện truyền thông mới, như phát
thanh, mạng internet, video v.v., dùng tốc độ nhanh nhất, phương pháp hiệu quả
nhất, quảng kết thiện duyên, đã nhận được hiệu quả vô cùng tốt. Việc ứng dụng
thông tin liên lạc hiện đại, cũng rút ngắn đáng kể khoảng cách không gian, thực
tế cũng chính là rút ngắn khoảng cách giữa lòng người, nâng cao hiệu suất đáng
kể.
Đài
trưởng tự mình thực hiện, không quản ngại vất vả, đích thân đến hải ngoại, thực
hiện các buổi diễn thuyết lưu động toàn cầu, hoằng dương Đại thừa Phật pháp,
truyền tin mừng mới nhất của Phật Bồ Tát đến ngàn vạn hộ gia đình, tâm từ bi,
cảm động lòng người. Tại Úc, Đài trưởng mỗi năm phải đến ba thành phố lớn thực
hiện nhiều buổi diễn thuyết, bay qua bay lại, bôn ba đi về, tinh thần hoằng
pháp quên mình, cảm động trời đất.
Điều
khiến người ta cảm thấy vui mừng ngạc nhiên là, Phật pháp không chỉ nhận được
sự yêu thích của các tín chúng trung niên cao tuổi, mà còn có một lượng lớn học
sinh sinh viên và tài năng trẻ cũng nhiệt tình học Phật, sự gia nhập của đội
thiếu niên tiền phong và đoàn thanh niên, khiến đội ngũ của Pháp môn Tâm Linh
không ngừng lớn mạnh, tỏa ra khí tượng mới chưa từng có. Trò giỏi hơn thầy
(thanh xuất ư lam nhi thắng ư lam), hậu sinh khả úy, có người kế tục, đây là
một đại hỷ sự của Pháp môn Tâm Linh, cũng là tất yếu của lịch sử.
III. Ý nghĩa xã hội của Pháp môn Tâm Linh
1. Pháp môn hưng khởi, Cơ hội lịch sử
Kinh
Phật nói, "Phật dĩ nhất đại sự nhân duyên cố xuất hiện ư thế" (Phật
vì một nhân duyên việc lớn mà xuất hiện ở đời), "Nhân duyên" lớn này
là gì? Chính là để chúng sinh chuyển mê thành ngộ, giải thoát khỏi khổ nạn,
vĩnh viễn hưởng thụ hạnh phúc và vui vẻ.
Sự
hưng khởi của Pháp môn Tâm Linh của Đài trưởng Lư, chẳng phải là sự hiển hiện
của đại "nhân duyên" này sao. Trí tuệ của Đài trưởng không phải tự
nhiên mà có, không phải ngẫu nhiên biết được, mà là đến từ cội nguồn tự tính
của Ngài, đến từ tâm linh thuần tịnh của Ngài, một câu nói, Ngài chính là Phật
Bồ Tát thừa nguyện mà đến, vì cứu độ đông đảo chúng sinh hữu duyên mà đến.
Trong
thời kỳ Mạt pháp, tại cửa ải phát triển lịch sử này, Phật giáo và xã hội cần
Đài trưởng, cần người kiến tánh thực sự như vậy, long môn đại tượng (voi lớn
cửa rồng - người kiệt xuất). Sự xuất hiện của Đài trưởng Lư, là huệ mạng của
tín chúng, là may mắn của chúng sinh.
2. Pháp môn thù thắng, Được yêu mến rộng rãi
Vàng
thật không sợ lửa, thực tiễn kiểm nghiệm hiệu quả. Pháp môn Tâm Linh của Đài
trưởng Lư nhận được sự tôn kính và tin cậy của đông đảo tín chúng đến từ năm
châu lục, hiện nay trên toàn thế giới có khoảng vài triệu tín chúng đi theo Đài
trưởng học Phật tu hành, số người truy cập blog của Đài trưởng hàng tháng đã
đạt hơn sáu mươi vạn lượt, tốc độ tăng trưởng nhanh, phạm vi bao phủ rộng, ảnh
hưởng sâu xa, thực sự hiếm thấy. Thông qua học Phật tu tâm, nhiều gia đình tín
chúng hòa thuận, bệnh đau loại bỏ, sự nghiệp phát triển, tâm linh sung túc,
pháp hỷ sung mãn, ví dụ linh nghiệm nhiều không kể xiết. Vì vậy pháp môn của
Đài trưởng Lư lợi tại chúng sinh, công báo xã hội. Bản thân Đài trưởng cũng
được ví như Đạo sư tâm linh, Đại sư Đồ đằng, vạn chúng chú mục, được yêu mến
sâu sắc. Sự thật chứng minh, Pháp môn Tâm Linh, pháp mạch rộng mạnh, pháp duyên
rộng lớn, là một đóa hoa lạ trong việc ra sức hoằng dương Phật pháp ở hải
ngoại, là một điển hình trong việc truyền bá rộng rãi văn hóa Trung Hoa ở hải
ngoại.
3. Thuận ứng lịch sử, Kế vãng khai lai
Xã
hội ngày nay, kinh tế phát triển tốc độ cao, vật chất xã hội phong phú, nhưng
lòng người không còn như xưa, đạo đức xuống dốc, nguy cơ tứ phía, cũng là sự
thật không thể chối cãi. Một số người theo đuổi danh tiếng lợi dưỡng, chú trọng
lợi ích trước mắt, bị công danh lợi lộc hư giả làm mê hoặc, làm chủ. Trong làn
sóng thế tục hóa gia tăng này, con người dần dần lạc mất phương hướng, quên đi
cái tôi, ngày càng xa rời nhân tính nguyên thủy, nguyện vọng tốt đẹp của cá
nhân giống như bong bóng, trở nên vô trợ, bất lực và vô vọng biết bao. Thực tế
xã hội, khiến ngày càng nhiều người có hiểu biết nhận thức được, nhân cách kiện
toàn, cuộc đời hoàn mỹ, sự hài hòa của xã hội, không thể tách rời tín ngưỡng,
vì vậy lương tri lương tâm của con người kêu gọi Phật giáo chánh tín. Giống như
triết gia người Anh Russell đã nói, "Trong các tôn giáo trên thế giới, tôi
tán thành nhất là Phật giáo". Mà sự hoằng dương của Phật pháp càng cần
những người đại trí, đại dũng, đại hành như Đài trưởng Lư khai phá và dẫn dắt,
đây là sự lựa chọn của lịch sử.
Melbourne - Tim
4. Chỉ trong 20 ngày, tế bào ung thư tủy xương hoàn
toàn biến mất
【Lời tòa soạn Ban Thư ký】 Gần đây, Ban Thư
ký Đài Đông Phương chúng tôi từng nhận được thư của một đồng tu họ Tất, xin
giúp đỡ cho một người phụ nữ 43 tuổi bị u lymphoma (u hạch bạch huyết) giai
đoạn cuối chuyển sang bệnh bạch cầu (ung thư máu). Hai mẹ con người bệnh vốn không
tin Phật niệm Kinh, nhưng sau khi nhận được thư trả lời của Ban Thư ký, dưới sự
giúp đỡ của đồng tu Tất, sau khi họ thành tâm niệm Kinh, hứa nguyện, phóng sinh
theo pháp môn của Đài trưởng Lư, đã xuất hiện sự chuyển biến kỳ tích — chỉ
trong vòng 20 ngày, tế bào ung thư trong tủy xương đã hoàn toàn biến mất!
Đồng
tu Tất lại gửi email chia sẻ với chúng tôi về trải nghiệm cảm động của bệnh
nhân ung thư giai đoạn cuối này, kể về việc cô ấy đã vận dụng "Tam Đại
Pháp Bảo" của Quan Thế Âm Bồ Tát như thế nào để chiến thắng bệnh ma và
khôi phục sức khỏe. Kèm theo thư còn có báo cáo xét nghiệm của bệnh nhân, dùng
sự thật đanh thép để chứng thực sự thần kỳ và linh nghiệm của Pháp môn Tâm
Linh! Chúng tôi cũng từ tận đáy lòng cảm thán và tri ân sự đại từ đại bi vô duyên
(*) của Quan Thế Âm Bồ Tát và Đài trưởng Lư, biết ơn Bồ Tát trong thời kỳ Mạt
Pháp đã từ bi với chúng ta, cho chúng ta sở hữu pháp bảo có thần lực thay đổi
vận mệnh như thế này — Pháp môn Tâm Linh!
*(Vô
duyên từ bi: Lòng từ bi không cần điều kiện, thương yêu tất cả chúng sinh không
phân biệt)
Lần đầu quen biết bệnh nhân u lymphoma giai đoạn cuối chuyển
sang bệnh bạch cầu, hướng dẫn họ nhận biết Pháp môn Tâm Linh (Ngày 04 tháng 11
năm 2011)
Ngày
04 tháng 11 năm 2011 là ngày thứ 3 tôi quen biết bệnh nhân u lymphoma giai đoạn
cuối chuyển sang bệnh bạch cầu là cô C (43 tuổi), và là ngày thứ 8 quen biết mẹ
cô ấy là bà F.
Mấy
hôm trước (ngày 27 tháng 10), bà F được người giới thiệu tìm đến nhà tôi, khóc
lóc kể lể việc con gái bệnh nặng lần thứ 3 cầu cứu. Bà ngoại của cô C theo đạo
Cơ đốc, cho nên trước đó họ cầu bên đạo Cơ đốc trước, kéo dài 2 tháng mới tìm
đến chỗ tôi. Khi cô C được 13 tháng tuổi thì cha ruột qua đời; khi con gái của
cô C được 6 tháng tuổi, cô C mắc bệnh "nghi là Lupus ban đỏ", mẹ cô
là bà F đã giúp trông cháu, đến nay đã 15 năm.
Bà
F ngay cả tượng Phật A Di Đà cũng không biết, chỉ biết Quan Thế Âm Bồ Tát. Sau
khi mạt học (tôi) giới thiệu cho bà F về Đài trưởng Lư và Pháp môn Tâm Linh của
Quan Thế Âm Bồ Tát, tối hôm đó hai mẹ con lần lượt gọi điện thoại cho Ban Thư
ký Đài Đông Phương. Sư huynh ở Ban Thư ký bảo họ lập tức niệm Chú Đại Bi, Tâm
Kinh và Lễ Phật Đại Sám Hối Văn (88 vị Phật), ngoài ra mỗi ngày niệm 7 tấm Ngôi
Nhà Nhỏ, phóng sinh, phát nguyện và ăn chay.
Bà
F cầu xin Quan Thế Âm Bồ Tát tha thứ cho việc họ "nước đến chân mới
nhảy" (lâm thời ôm chân Phật), lại cầu mạt học giới thiệu Lão hòa thượng
Ấn Đường giúp niệm Ngôi Nhà Nhỏ. 3 vị pháp sư từ bi, sau khi nhận điện thoại
của mạt học liền giúp niệm, niệm ngày đầu tiên, đến tối thì cô C đã hạ cơn sốt
cao kéo dài suốt 2 tháng. Pháp sư Ấn Đường dặn bệnh nhân ăn chay. Sau đó bệnh
nhân lại sốt, bà F ngộ ra là do con gái đã uống canh bồ câu do bạn bè gửi tặng.
Ngày
2 tháng 11, tôi và Tiểu Tạ đến bệnh viện Chiết Nhất (Bệnh viện số 1 Chiết
Giang) thăm cô C. Cô ấy nước mắt lưng tròng, nói với tôi rằng cô bị chẩn đoán
mắc u lymphoma giai đoạn cuối chuyển sang bệnh bạch cầu, cầu xin Đài trưởng Lư
xem Đồ đằng cho cô, kê "đơn thuốc" (niệm Kinh chú), phát nguyện sau
khi khỏi bệnh sẽ hiện thân thuyết pháp, dùng Pháp môn Tâm Linh của Quan Thế Âm
Bồ Tát để cứu độ những người bệnh khổ. Bà F nói, sau khi chúng tôi đến thăm,
sắc mặt con gái đã tốt hơn nhiều.
Sau
đó, chúng tôi đưa bà F đi gặp pháp sư Ấn Đường. Pháp sư khai thị cho bà và giới
thiệu tác dụng của 4 loại kinh chú trong Ngôi Nhà Nhỏ là Chú Đại Bi, Tâm Kinh,
Vãng Sanh Chú và Thất Phật Diệt Tội Chân Ngôn. Trước tượng Phật Bồ Tát, bà F
thay mặt con gái phát nguyện lần nữa, quỳ cầu phù hộ.
Nửa
đêm bà F gọi điện báo, chuyên gia khoa ung bướu bệnh viện Chiết Nhất đã thông
báo rõ ràng: Trong tủy xương của con gái có 28% khối u hạch bạch huyết, bệnh
này đến rất hung dữ, ước tính tuổi thọ con gái chỉ còn 2-3 tháng. Bản thân cô
con gái vẫn chưa biết, nói chuẩn bị "kéo dài thêm 3 năm". Bà F không
thể nói cho con gái biết, con gái từng nói phải sống kiên cường, đến nay cũng
chưa nói cho cháu gái ngoại 15 tuổi biết. Bác sĩ bảo hóa trị, nhưng không nắm
chắc kết quả hóa trị.
Ngày
3 tháng 11, chúng tôi lại đến bệnh viện, mang theo máy tính nhỏ. Tiểu Tạ đã tải
xuống 4 video hiện trường Đài trưởng Lư xem Đồ đằng chữa bệnh cho bệnh nhân
nguy kịch, lại cài đặt cho cô ấy bản đại hợp xướng Chú Đại Bi trăm người mà Đài
trưởng Lư giới thiệu. Hai mẹ con xem video lộ nụ cười đã lâu không thấy, nghe
tai nghe học hát Chú Đại Bi, pháp hỷ sung mãn. Bệnh nhân giường bên cạnh thấy
vậy, yêu cầu "mở tiếng ra ngoài", và nói "chúng tôi cũng lạy
Quan Âm Bồ Tát". Bác sĩ chủ nhiệm đi vào nhìn thấy, nói: "Hôm nay
tinh thần tốt quá nhỉ!"
Hôm
nay, ngày 4 tháng 11, Ban Thư ký Đài Đông Phương gửi thư trả lời cho tôi,
chuyển lời về bài tập (công khóa) mà Đài trưởng Lư giao sau khi xem Đồ đằng cho
cô C. Tôi nhận được thư lập tức gọi điện báo cho hai mẹ con cô ấy, pháp sư Ấn
Đường và Tiểu Tạ. Pháp sư Ấn Đường nói sẽ tiếp tục giúp cô ấy niệm Ngôi Nhà Nhỏ,
hy vọng cô ấy sớm học được tự niệm, vì người khác niệm thay hiệu quả kém hơn
nhiều.
Bà
F vô cùng cảm kích, nói: "Con gái có cứu rồi, tối nay tôi cũng phải niệm Ngôi
Nhà Nhỏ thật tốt, tin rằng con gái nhất định sẽ sớm học được." Tôi kể cho
hai mẹ con nghe về thể hội lúc đầu chúng tôi học, có sự gia trì của Quan Thế Âm
Bồ Tát, đầu óc còn chưa kịp nghĩ thì Kinh văn đã từ miệng đọc thuộc làu ra rồi,
hơn nữa càng niệm càng hoan hỷ, niệm đến toàn thân nóng lên, giấc mơ đẹp liên
tục. Nếu tâm thành, Quan Thế Âm Bồ Tát và Đài trưởng Lư sẽ đến trong mơ chữa
trị cho bạn. Cố lên!
Nghe
được chuyện này, ông H gọi điện nói có thể cống hiến 7 tấm Ngôi Nhà Nhỏ, cô Z
gửi thư muốn trợ niệm và gửi tiền giúp đỡ cô C.
Hai
vị trên đều là đồng tu mới học Pháp môn Tâm Linh không lâu, họ có những giấc mơ
và cảm ứng. Tiểu Tạ đã hai lần mơ thấy Đài trưởng Lư khám bệnh cho mình, hiện
đang nỗ lực học Bạch Thoại Phật Pháp, phóng sinh số lượng lớn, nhiệt tình giúp
người. Cậu ấy nói: "Nếu một mình tôi xuống địa ngục có thể cứu mười người,
tôi thà rằng mình tôi xuống địa ngục." Đây chính là tâm từ bi được khơi
dậy nhờ học Pháp môn Tâm Linh của Quan Thế Âm Bồ Tát đó!
Ở phòng bệnh học niệm Chú Đại Bi 20 ngày, tế bào ung thư tủy
xương biến mất hoàn toàn!
(Ngày 18 tháng 11 năm 2011)
Mạt
học theo dõi chặt chẽ tiến triển điều trị của bệnh nhân u lymphoma giai đoạn
cuối chuyển sang bệnh bạch cầu là cô C, đã đi thăm phòng bệnh 4 lần. Hôm kia
(ngày 16 tháng 11), cô ấy hoàn thành một liệu trình hóa trị, kiểm tra lại bằng
chọc hút tủy xương. Mọi người lo lắng chờ đợi kết quả xét nghiệm.
"Kết
quả xét nghiệm ra rồi, tế bào ung thư không thấy đâu nữa!" [Bà F] phấn
khởi mang phiếu xét nghiệm đến nhà tôi, liên tục nói: "Cảm ơn Đài trưởng
Lư đã cứu con gái tôi một mạng! Cảm ơn Quan Thế Âm Bồ Tát!"
Mạt học đã chụp ảnh so sánh báo cáo xét nghiệm cùng loại của
ngày 1 tháng 11 và ngày 16 tháng 11 như dưới đây, xin quý vị chứng kiến.
Trong
nửa tháng qua, cô C tuân theo chỉ thị của Đài trưởng Lư, kiên trì mỗi ngày niệm
tụng 49 biến Chú Đại Bi, 5 biến Lễ Phật Đại Sám Hối Văn, 7 biến Tâm Kinh. Mẹ cô
ấy vốn lo lắng sau khi hóa trị cơ thể khó chịu sẽ không niệm nổi, không ngờ cô
C càng niệm càng thuận thục, không những không có bất kỳ phản ứng phụ nào, mà
khẩu vị còn tăng lên rất nhiều!
Hôm qua
khi chúng tôi mang nước Đại Bi đến cho cô ấy, do hóa trị nên bạch cầu của cô ấy
chỉ còn 100, huyết sắc tố 4 gram, bác sĩ dặn không được xuống giường. Nhưng
tinh thần cô ấy rất tốt, cười tươi rói. Hôm nay bà F đến nhà tôi nói rằng, họ
xem kết quả xét nghiệm hôm nay trên máy tính: Bạch cầu của cô C đã tăng lên 9
triệu, huyết sắc tố 4.5 gram, hồng cầu bình thường.
Mạt học
là người ngoài ngành, chỉ biết "học vẹt" ghi lại như trên, hy vọng
không nhớ sai số liệu. Dù thế nào đi nữa, Pháp môn Tâm Linh của Quan Thế Âm Bồ
Tát đã cứu vớt bệnh nhân u lymphoma (u hạch bạch huyết) giai đoạn cuối chuyển
sang bệnh bạch cầu là cô C, chỉ trong vỏn vẹn 20 ngày đã trở thành sự thật
không thể chối cãi!
Cảm ân
Lão pháp sư Ấn Đường từ bi cứu độ, niệm Ngôi Nhà Nhỏ cho "người cần
kinh" (oan gia trái chủ) của cô C, đến nay đã niệm được 87 tấm rồi! Mấy
hôm trước cô C đã nhìn thấy một em bé xinh đẹp (không phải nằm mơ), đoán chừng
là đã siêu độ được một vong nhi.
Kỳ lạ
hơn nữa, bà F cho biết, khoảng 10 giờ tối ngày 4 tháng 11, khi nằm trên giường
chưa ngủ, bà nhìn thấy Đài trưởng Lư đi ngang qua trước mặt bà! Đây là sự quan
tâm và cứu độ to lớn biết bao đối với mẹ con bà ấy!
Bà F
lại thỉnh hai bộ sách của Đài trưởng Lư, nói là muốn đi cứu độ hai người bệnh.
Tiểu Tạ nói, cô C còn phải cảm ơn "người cần kinh" của mình, chính
lần mắc bệnh này đã khiến cô ấy bước vào Pháp môn Tâm Linh. Đúng vậy, chúng ta
phải tri ân tất cả các duyên phận, chúng ta phải tin sâu nhân quả.
Chúng
ta cũng phải tri ân cô C đã lấy thân biểu pháp, thị hiện sự kỳ diệu nhanh chóng
của Quan Thế Âm Bồ Tát và Đài trưởng Lư trong việc cứu độ bệnh nhân nan y!
Nam mô
Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát! Cảm ơn Đài trưởng Lư!
Cô Tất (Hàng Châu)
5. Pháp môn Tâm Linh đã chữa khỏi bệnh tâm thần của
tôi
Cảm
ơn Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát, cảm ơn Đài trưởng Lư Quân Hoành.
Xin
chào các vị đồng tu. Tôi thấy các vị đồng tu sau khi học Pháp môn Tâm Linh,
cuộc sống đã có không ít thay đổi, có nhiều tâm đắc thể hội hơn, ở đây tôi xin
khiêm tốn thỉnh giáo các vị đồng tu, cũng xin kể về sự thay đổi to lớn đã xảy
ra sau một năm tôi học Pháp môn Tâm Linh.
Từ
nhỏ khi sinh ra, tôi đã bệnh tật đầy mình, viêm mũi, bệnh ngoài da. Mẹ tôi vì
để chữa khỏi bệnh viêm mũi cho tôi, đã đi khắp nơi không biết bao nhiêu bệnh
viện, Tây y Trung y đều xem qua rồi, tốn không ít tiền không nói, còn đều là
trị ngọn không trị gốc. Sau khi lớn lên, bệnh ngoài da trên người cũng từ từ lộ
ra, trên cánh tay, trên chân đều là từng hạt từng hạt da gà có mụn mủ đỏ. Có
một lần, trên lưng lại có thể mọc ra mụn mủ to bằng hạt đậu nành, mọc đầy cả
một mảng lưng, khổ không thể tả. Còn có một lần, tôi có thể nhuộm xanh toàn bộ
quần áo đang mặc và ga trải giường khi ngủ. Lúc đó tôi rất sợ hãi, tình trạng
này kéo dài một khoảng thời gian khá dài, áo trên quần dưới và tất, chỉ cần là
quần áo bó sát người, lúc đó đều có thể biến thành màu xanh. Bây giờ nhớ lại
chuyện xưa, dùng từ "Vua độc" để hình dung cũng không quá đáng chút
nào.
Đồng
thời, theo đà các loại mụn mủ trên người lộ ra, tinh thần của tôi cũng xảy ra
biến đổi lớn hơn. Khi đi học, bạn bè người thân bạn học xung quanh, nhìn thấy
tôi không hẹn mà cùng đều cho rằng tôi là "kẻ ngốc", đều không muốn
nói chuyện với tôi. Mỗi khi mọi người đang thảo luận vấn đề, tôi có thể từ
miệng nặn ra một câu cũng thực sự khó khăn, mà đây không phải là vấn đề miệng
của tôi, là tư duy của tôi không theo kịp nhịp điệu của mọi người. Sau đó, bị
tẩy chay, bắt nạt, sỉ nhục là chuyện thường xảy ra, tôi lúc đó đã từ từ biến
thành "dị loại" không giống với mọi người.
Tôi
lúc đó, mỗi ngày khi đi học bị người ta bắt nạt chửi mắng, sau khi về nhà, tôi
dùng thủ đoạn tương tự đối xử với mẹ tôi, chửi mắng, đánh người, từng vô số lần
bóp cổ mẹ tôi. Còn cho rằng, như vậy rất vui rất vui, muốn chơi thêm một lát,
còn cảm thấy đi học bị người ta bắt nạt, về nhà bắt nạt cha mẹ là chuyện không
sao cả, cha mẹ là người thân cận, bắt nạt thế nào cũng không sao. Bố ở bên cạnh
nhìn không nổi giật mình, kéo tay tôi đang bóp cổ mẹ ra nói: "Con làm như
vậy sẽ chết người đấy, con đừng hành hạ mẹ ruột con nữa, bố đưa con đi bệnh viện
tâm thần!" Tôi đau khổ nói: "Được, con cũng không muốn như vậy, con
cũng không muốn như vậy."
Tiếp
theo, mỗi tối tôi chỉ bị hai ý niệm làm cho đau khổ vạn phần: Một cái là giết
họ, giết họ, cầm con dao phay chém hết cha mẹ mày đi! Ý niệm khác là: Họ là cha
mẹ ruột của mày, sao mày có thể làm ra chuyện như vậy? Khi tôi kiên quyết chống
cự lại ý niệm không tốt bảo tôi giết cha mẹ đó, tôi lại nảy sinh ý nghĩ muốn
nhảy lầu tự sát, ý nghĩ này từng không chỉ một lần lởn vởn trong đầu tôi. Không
giấu gì mọi người, tôi từng thử dùng lưỡi dao lam cắt tay mình, cũng từng thử
dùng tua vít tháo tấm nhựa vỏ ổ điện ra, dùng tay chạm vào nguồn điện 220v đang
lưu thông, vô ý thức muốn bị điện giật. Đủ loại ý nghĩ và suy nghĩ tự sát đều
đã thử vô số lần, biến thành một "quái vật" mà người thường không thể
hiểu nổi. Sau này vì điều kiện gia đình cũng không được tốt lắm, tình trạng
tinh thần lại lúc xấu lúc tốt, liền từ bỏ ý định đi bệnh viện tâm thần chẩn
trị. Bây giờ nghĩ lại, thật sự may mắn là không đi bệnh viện tâm thần, bởi vì
thuốc tâm thần tuy có thể làm cảm xúc của bạn bình tĩnh, không xao động, nhưng
càng uống càng ngốc, ánh mắt và tư duy cũng sẽ từ từ trở nên đờ đẫn hơn, trị
ngọn nhưng không trị gốc.
Tôi
lúc đó không biết thay đổi, đau khổ luôn nối tiếp nhau mà đến. Bởi vì hồi nhỏ
từng phạm tà dâm, lúc đó không hiểu mà, cứ cho rằng cái đó rất vui, thậm chí là
còn rất hưởng thụ, bây giờ nghĩ lại thật sự hối hận không kịp. Không lâu sau,
lại thích xem tiểu thuyết ngôn tình, ảo tưởng bản thân chính là nữ chính sống
cuộc sống triền miên lâm ly với nam chính, giống như thuốc độc vậy thích xem
đến mức không thể vãn hồi. Thế là, mỗi tối tôi đều thủ dâm, duy trì một khoảng
thời gian khá dài. Mỗi lần thủ dâm, luôn có một giọng nói bảo tôi: "Mau
cởi ra mau cởi ra, hưởng thụ cho tốt đi!" Sau đó tay tôi sẽ không tự chủ
được mà làm như vậy, cứ như thế trong khoảng thời gian dài hơn mười năm, tôi
mỗi ngày vẫn sống trong đau khổ, không được giải thoát. Sống cuộc sống mà người
thường không thể hiểu nổi, "Tham Sân Si" tam độc đều đủ cả. Bây giờ
nghĩ lại, giống như Đài trưởng nói vậy: Ban ngày là người, ban đêm là quỷ a!
Nhưng
Phật Bồ Tát từ bi, ngay năm ngoái vô tình đi Hải Nam một lần, sau khi lễ bái
tượng Quan Âm trên biển cao 108 mét ở chùa Nam Sơn, kỳ tích đã xảy ra. Sau khi
về Thượng Hải, tôi vô tình nhìn thấy blog của Đài trưởng Lư, bị blog này thu
hút sâu sắc, nước mắt tuôn rơi như suối, tôi biết sâu sắc là Quan Thế Âm Bồ Tát
trong vô hình đã chỉ cho con người đầy nghiệp chướng này một con đường sáng.
"Bạch
Thoại Phật Pháp" của Đài trưởng Lư thu hút tôi sâu sắc, cũng bị sức mạnh
tinh thần của Phật pháp thuyết phục sâu sắc, trong đó có không ít quan điểm
trái ngược với người đời. Nhưng tôi kẻ đầy nghiệp chướng, biết ông nói một chút
cũng không sai, cũng cảm nhận sâu sắc nhân quả ba đời, sự đáng sợ của việc chịu
ác báo.
Cứ
như vậy, tôi từ từ học được ba pháp bảo lớn của Đài trưởng "Hứa nguyện,
Phóng sinh, Niệm kinh" để trả nợ. Niệm a niệm càng sinh tâm hoan hỷ, biết
nghiệp chướng sâu nặng duy chỉ một lòng hối cải, mới có thể từ từ tiêu trừ. Cứ
như vậy viêm mũi từ từ tốt lên, bệnh ngoài da (da gà trên người cũng từ từ nhạt
đi, mụn mủ dần dần biến mất không dấu vết.) Ngay sau đó, thủ dâm khiến tôi xấu
hổ khó chịu cũng không còn nữa, cũng không có ý niệm khác bảo tôi đi làm chuyện
không tốt nữa, rất vui rất vui.
Nhớ
có một lần sau khi đốt xong Ngôi Nhà Nhỏ một khoảng thời gian, buổi tối ý thức
của tôi mơ mơ màng màng. Nhưng nghe thấy một giọng nói rụt rè sợ sệt bảo tôi
rằng: Cảm ơn bạn! Sau khi tỉnh lại, ý thức rõ ràng tồn tại, tôi nghĩ: Có lẽ là
người đòi kinh (oan gia trái chủ) của tôi đã nhận được Ngôi Nhà Nhỏ tôi đốt
rồi. Nghĩ lại họ cũng rất đáng thương, kiếp trước bản thân làm ác, họ mới đến
hại chúng ta. Sau đó tôi mới xảy ra nhiều đau khổ như vậy, may mắn Quan Thế Âm
Bồ Tát chỉ điểm bến mê: Thông qua niệm Ngôi Nhà Nhỏ để họ được lợi ích, thân
tâm chúng ta cũng có được sức khỏe an định, thật sự là cả hai bên đều được lợi.
Tại
đây cảm ơn Quan Thế Âm Bồ Tát đã giúp đỡ tôi, cảm ơn Đài trưởng Lư, cảm ơn Pháp
môn Tâm Linh pháp bảo tốt như vậy mang đến nhân gian, điểm hóa kẻ nghiệp chướng
sâu nặng không biết nhân quả như tôi. Thật sự, chỉ cần một lòng hối cải, Quan
Thế Âm Bồ Tát nhất định sẽ giúp chúng ta, tôi nhất định học cho tốt tu cho tốt,
đi theo Quan Thế Âm Bồ Tát, Đài trưởng Lư hoằng dương Pháp môn Tâm Linh!!!
Cảm
ơn Quan Thế Âm Bồ Tát, cảm ơn Đài trưởng Lư.
Hợp
thập - Sun
6. Pháp môn Tâm Linh giúp tôi thoát khỏi bể khổ
Cảm
ơn Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát, cảm ơn Sư phụ có thể cho con cơ hội cùng
mọi người chia sẻ thể hội học Phật của con.
Tôi
biết Pháp môn Tâm Linh của Quan Thế Âm Bồ Tát là vào năm 2008, lúc đó tôi và
chị Ngọc Tiên (Yu Xian) đã quen biết rất nhiều năm, mấy năm đó cảm thấy chị ấy
rất bận, cũng rất sung túc, nghe từ chỗ chị ấy nói trong thành phố có một Đài
phát thanh Đông Phương, Đài trưởng Lư của đài phát thanh rất thần, giống như
thầy bói, có thể nhìn thấy kiếp trước và kiếp này.
Bởi
vì lúc đó tôi đã là một tín đồ Cơ đốc giáo, chúng tôi cũng mỗi người bận việc
nấy, tôi đi nhà thờ của tôi, chị ấy đi đài phát thanh của chị ấy. Bố của bọn
trẻ vì đồng tính luyến ái mà bỏ rơi chúng tôi rất nhiều năm, vì không biết chăm
sóc bản thân, tôi mắc bệnh hen suyễn nghiêm trọng, lúc đó để tâm linh tìm được
một chỗ dựa mà tin Chúa, cho rằng là ông trời sắp đặt, tìm được một tín đồ Cơ
đốc ở Mỹ rồi kết hôn, đơn thuần cho rằng tôi đã tìm được hạnh phúc, một năm sau
làm thủ tục cho anh ta và con trai anh ta di dân đến Úc, nhưng kéo theo đó cơn
ác mộng của tôi bắt đầu, không ngờ rằng người gọi là tín đồ Cơ đốc này không
những lừa lấy thân phận, còn lừa tiền của tôi rồi biến mất, là vì sau này học
Phật mới biết đây là nhân quả báo ứng, nhưng lúc đó tôi kêu trời trời không
thấu, gọi đất đất không linh, chỉ trong vài năm ngắn ngủi 2 lần hôn nhân thay
đổi khiến tôi trở nên rất bất lực, tính tình thô bạo, tâm trạng cực độ thất
vọng, ở Úc lại không có nhiều bạn bè, cái tỷ lệ giống như trúng "xổ
số" này khiến tôi xấu hổ không dám mở miệng, vì con còn nhỏ, cho nên tôi
trốn trong nhà, bắt đầu nghiện rượu, mỗi tuần cầm tiền chính phủ phát, lập tức
đi tìm nơi nào có rượu rẻ, về nhà mau chóng sắp xếp cho bọn trẻ xong, liền bắt
đầu mua say, uống từng chai từng chai, uống đến mơ mơ màng màng, say rồi thì
khóc, cứ không ngừng hỏi bản thân: "Tại sao tôi lại có số phận như thế
này", ngày nào cũng như vậy, bọn trẻ không dám đến trước mặt tôi, vì tôi
sẽ đột nhiên nổi cáu, vì tôi sẽ nồng nặc mùi rượu, vào lúc đó bác sĩ đã cảnh
báo tôi rất nhiều lần rồi, các chỉ số xét nghiệm đều đạt đến giá trị cao nhất
phá hoại cơ thể, bởi vì tôi đã có triệu chứng ngộ độc rượu nhẹ.
Bây
giờ nhớ lại, năm đó tôi chính là sống trong địa ngục trần gian, mà chị Ngọc
Tiên đã sống trong thiên đường trần gian rồi, tôi giống như một chiếc lá khô
héo rơi vào bể khổ mênh mông, làm sao cũng không cập bờ được, làm sao cũng
không phân biệt rõ phương hướng, cứ trôi dạt vô định như vậy, tôi đã sắp đến bờ
vực sụp đổ, chị Ngọc Tiên bảo tôi, đi gặp Đài trưởng xem sao, em sẽ có thể biết
rốt cuộc tại sao lại như vậy, vì lý do là tín đồ Cơ đốc, trải qua đấu tranh tư
tưởng lặp đi lặp lại, cuối cùng vào tháng 7 năm 2009 lần đầu tiên gặp được Đài
trưởng, Đài trưởng ngồi sau chiếc bàn làm việc rộng lớn, câu đầu tiên tôi nói
là tôi là tín đồ Cơ đốc, không biết có được không, nhớ Đài trưởng dùng lời đơn
giản nhất nói "Trời đều là một bầu trời, Cha cũng chỉ là một người cha,
con cái tìm thầy giáo cá nhân học tập, sẽ không sai chứ!" Bây giờ đã hiểu
đạo lý "vạn giáo quy nhất". Sau đó Đài trưởng hỏi ngày sinh và tuổi
của tôi, liền bắt đầu một kim thấy máu cho tôi "xem chút màu sắc"
(cho tôi biết tay/chỉ điểm rõ ràng), kể rành mạch nguyên nhân tại sao kiếp này
tôi khổ nạn như vậy, tôi chỉ có phần cầm khăn giấy không ngừng lau nước mắt,
mới biết kiếp trước của tôi hại người, tôi lúc đó hoàn toàn không hiểu định
luật nhân quả gì cả, bây giờ mới hiểu, nhân quả chân thực bất hư, bởi vì kiếp
trước còn làm chút việc tốt, cho nên tướng mạo kiếp này còn được, trả nợ nần
kiếp trước, Đài trưởng kê cho tôi "đơn thuốc", đọc Chú Đại Bi, Tâm
Kinh, Giải Kết Chú v.v. kinh văn tổ hợp.
Tôi
lúc đó chính là trạng thái nửa tin nửa ngờ, nửa hiểu nửa không, thật sự là
không nghiêm túc đi niệm Kinh làm việc thiện, trả nợ và tích lũy công đức cho
tốt, bây giờ nghĩ lại thật sự là lãng phí hư độ sinh mệnh, thật sự là người
đáng thương, qua 3 tháng, chị Ngọc Tiên lại nhường cơ hội xem Đồ đằng của chị
ấy cho tôi, tôi là nước đến chân mới nhảy, vội vàng nghiêm túc niệm Kinh văn
một thời gian, bây giờ nghĩ lại những khôn vặt lúc đó của mình quá buồn cười,
lại muốn qua mặt đôi mắt của Bồ Tát, bởi vì nguyên nhân chột dạ, cũng biết khôn
vặt của mình sớm đã bị Đài trưởng nhìn thấu, cho nên rất xấu hổ, biết mình lừa
gạt người khác thực ra chính là tự lừa dối tâm mình, lần này Đài trưởng nhìn
thấy phổi trái của tôi có một khối bóng mờ, hỏi tôi có hút thuốc không? Tôi nói
không hút. Đài trưởng nói: "Vậy trên phổi trái tại sao lại có bóng mờ
nhỉ?" Tôi liền ngưng lại ở đó một lúc, đột nhiên nghĩ đến khi tôi còn học
trung học 14 tuổi, lớp tôi có 5 bạn đều mắc bệnh lao phổi truyền nhiễm, tôi
cũng không may bị lây nhiễm, lúc đó tố chất cơ thể tôi khá tốt, ngoài sốt ra
không có triệu chứng gì khác, bác sĩ phòng khám dùng phương pháp gì cũng không
tra ra, ngay cả mẹ tôi cũng cho rằng tôi giả vờ bệnh, sau đó nằm viện kiểm tra
thêm mới tra ra là lao phổi, nhưng đã qua thời kỳ lây nhiễm rồi, đợi tra ra thì
vết lao đã biến thành điểm vôi hóa vĩnh viễn lưu lại trên phổi trái của tôi,
năm đó cũng vì điểm vôi hóa này tôi suýt chút nữa không đến được nước Úc.
Tôi
lúc đó vừa nghe Đài trưởng nói như vậy, trong lòng giật mình, Đài trưởng ngồi
đối diện giống như một chiếc máy chụp X-quang, không có gì có thể giấu được
pháp nhãn của Đài trưởng. Sau lần gặp Đài trưởng đó tôi bắt đầu đọc Kinh, vì
kiến thức về Phật pháp thiếu hụt, cũng sợ ánh mắt thế tục nhìn tôi, tôi chỉ có
thể lén lút tự mình đọc Kinh ở nhà, cũng không bao giờ dám đến Quan Âm Đường
lạy Quan Thế Âm Bồ Tát nữa, cũng không biết ý nghĩa trọng đại của phóng sinh,
cũng không hiểu làm công đức là có thể tiêu trừ nghiệp chướng trên người mình,
chỉ là nghiêm túc hơn trước đây rất nhiều, và vào ngày 26 tháng 6 năm 2010 và
ngày 26 tháng 4 năm 2011 hai lần mơ thấy Đài trưởng, lần đầu tiên mơ thấy Đài
trưởng là vào lúc hoàng hôn đến sân sau nhà mới của tôi, Đài trưởng nói rõ
ràng: Nếu không nhớ nhầm, chúng ta đã gặp nhau 2 lần rồi, (những điều này đều
là thật), tôi kích động run rẩy muốn mời Đài trưởng ở lại thêm một lát, sân sau
giống như ở trong rừng cây của một công viên, Đài trưởng kéo ghế đi đến một chỗ
cao nói cứ ở đây đi, tôi liền nhìn theo hướng Đài trưởng chỉ, phía trước là
cảnh sắc hoàng hôn đang lặn, mây màu trên chân trời, vẻ đẹp không thể dùng ngôn
ngữ hình dung, chưa bao giờ nhìn thấy ánh tà dương ngũ sắc đẹp như vậy, Đài
trưởng ngồi xuống giảng đạo, sau đó nói với tôi: Có thể là con Kinh đọc không
tốt, hay là nguyên nhân gì, Quan Thế Âm Bồ Tát bảo tôi đến giúp con một chút,
chân thực như vậy, rõ ràng như vậy.
Giấc
mơ tỉnh lại, tôi khóc rồi, lúc đó không biết Đài trưởng là Bồ Tát, mỗi ngày đều
có rất nhiều pháp thân đi ra ngoài cứu người, chỉ cảm thấy mình tài đức gì một
phàm phu tục tử có thể nhận được sự quan tâm đến từ trời cao như vậy, tôi hạnh
phúc biết bao, từ từ tôi tăng Chú Đại Bi lên 49 biến, Tâm Kinh, những bài tập
cơ bản đó đều tăng lên, cuộc sống của tôi từ từ bắt đầu tốt lên, trong ý thức
của tôi có một hình dáng của chữ "Giới", tôi bảo bản thân không thể
sống như quá khứ nữa, tôi kiên quyết cai nghiện rượu đã quấy nhiễu cuộc sống
tôi nhiều năm.
Cũng
do tính cách chấp trước của mình nhiều năm nay, vẫn chưa thực sự học được cách
buông bỏ oán hận trong lòng, tôi đi tìm luật sư làm tuyên bố, muốn Cục Di trú
hủy bỏ visa lừa hôn của người đàn ông Mỹ đó, nhưng không biết tại sao sau khi
nộp đơn này, trong lòng tôi ẩn ẩn cảm thấy khó chịu, liền đến nhà chị Ngọc
Tiên, hôm đó mới hiểu thế nào gọi là nhân quả, chị ấy bảo tôi, tôi chấp trước
làm việc này như vậy bản thân chính là muốn phá hoại cái nhân quả này, đều đã
chia tay rồi, bất kể là thiện duyên, ác duyên đều đã đứt rồi, tại sao còn nối
ác duyên chứ? Không cam tâm thì có thể thế nào, nợ thì phải trả, phải thuận
theo duyên mà đi..... Chúng tôi ngoài ăn cơm ra cứ ngồi ở phòng khách nói về
đạo lý trong Phật pháp, hiếm khi tôi đến, chị Ngọc Tiên không thắp hương, sắp 8
giờ rồi, từng đợt mùi đàn hương bay vào trong phòng, chị Ngọc Tiên hỏi tôi ngửi
thấy không, tôi nói ngửi thấy rồi, tôi còn thắc mắc, chúng tôi luôn ở đây, Phật
đường ở trên lầu, sao lại có mùi đàn hương chứ? Chị Ngọc Tiên nói: Chỉ cần là
giảng Phật pháp trên trời, Quan Thế Âm Bồ Tát đều sẽ rất vui, cho dù không thắp
hương, cũng có thể ngửi thấy mùi đàn hương của Bồ Tát, tôi lại một lần nữa nhận
được sự trông nom của Quan Thế Âm Bồ Tát, sau khi về, tôi không còn truy hỏi
luật sư nữa, luật sư ngược lại gọi điện hỏi tiến hành tiếp theo thế nào, tôi
rất nhẹ nhàng nói một câu: Tùy anh ta đi, anh ta đã không còn quan hệ gì với
tôi nữa, tôi từ từ học được cách buông bỏ đối với việc này.
Sau
đó vào rạng sáng ngày 26 tháng 4 năm nay tôi nằm mơ, lại một lần nữa mơ thấy rõ
ràng Đài trưởng mở pháp hội trong nhà hát, tôi lại rất may mắn từ nơi rất xa
căn bản không thể nhìn rõ Đài trưởng di chuyển đến nơi rất gần rất gần Đài
trưởng, Đài trưởng bảo rằng: Bồ Tát đến rồi, tôi lúc đó còn đang nghĩ, tôi có
thể nhìn thấy Bồ Tát không? Lúc này trần nhà hát giống như trần đài thiên văn
từ từ mở ra, tôi nhìn chằm chằm lên bầu trời, quỳ xuống, tôi thật sự nhìn thấy
mây lành màu đỏ, mây lành bên cạnh không lớn, đóa mây lành ở giữa rất lớn, phác
họa ra hình ảnh Quan Thế Âm Bồ Tát từ phía trước từ từ di chuyển về phía chúng
tôi, tôi quỳ khóc, tôi nhìn thấy Bồ Tát rồi, tôi thật sự nhìn thấy Bồ Tát rồi,
đám mây lành đó giống như máy bay duyệt binh bay qua bầu trời, giống như một
tấm lưới bảo vệ khổng lồ, từ từ đi qua, đó là đám mây lành đẹp nhất, tôi lại
một lần nữa trong mơ nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát và Đài trưởng.
Sau
này từ từ nghe những lời khai thị thấm thía của Đài trưởng, khiến tâm linh hỗn
độn của tôi bắt đầu có ánh sáng, tôi đã bắt đầu có khát khao đối với Phật pháp
đến từ trên trời, khi tôi trước mặt Bồ Tát ở Quan Âm Đường phát nguyện cầu Bồ
Tát rửa sạch vết nhơ trong tâm linh tôi, tôi liền nghe thấy bên tai có tiếng
nước nhỏ giọt từ bình nước cam lộ, cảm ơn Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát,
trưa ngày 31 tháng 5 năm nay khi đang làm việc, thật sự ngửi thấy một trận mùi
đàn hương, cảm ơn Quan Thế Âm Bồ Tát không đâu không có trông nom từng chút một
trong cuộc sống của tôi, giúp tôi từ từ bước ra khỏi khổ nạn, cũng cảm ơn Quan
Thế Âm Bồ Tát, hai cô con gái đáng yêu của tôi cũng bắt đầu niệm Kinh, tôi muốn
cho chúng chỗ dựa trong cuộc sống sau này, cho chúng biết khi tôi rời khỏi thế
giới này rồi, có thể mãi mãi trông nom chúng chỉ có Quan Thế Âm Bồ Tát.
Từ
sau khi biết nhân quả báo ứng, tính khí của tôi cũng từ từ có sự thay đổi, đối
đãi với con cái, đối đãi với rất nhiều vấn đề đều có thể từ từ buông bỏ.
Bất
khả tư nghị là tháng này trong nhóm QQ của đồng tu Đại lục của Đài trưởng, tôi
quen biết một đồng tu ở tận Nam Thông Giang Tô Trung Quốc Đại lục là Ngụy Tuyết
Lợi, chúng tôi tuy chưa gặp mặt, vợ chồng họ song tu, nói mới tu pháp môn của
Đài trưởng hơn một tháng, lại mơ thấy Đài trưởng 6 lần, và để Đài trưởng đưa cô
ấy lên trời, nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát, chúng tôi chỉ là rất pháp hỷ trao
đổi những chuyện vui vẻ này, và cũng chỉ mới trao đổi 3 lần, ngày 8 tháng này,
tôi đi sân bay đón mọi người, cho nên về rất muộn, cô ấy cứ online đợi tôi, để
lại lời nhắn cho tôi nói muốn chứng thực một việc, nói cô ấy rạng sáng ngày 8
nằm mơ, mơ thấy tôi, lần đầu tiên tôi nói bên tai cô ấy, Đài trưởng về rồi, cô
ấy chỉ nghe thấy giọng tôi, không nhìn thấy người tôi, cô ấy biết là tôi đang
nói, (tối hôm đó chính là đoàn của Đài trưởng từ Châu Âu trở về), cô ấy qua một
lát lại ngủ thiếp đi, nói chuyện thần kỳ tiếp tục xảy ra, cô ấy lại mơ thấy
tôi, lần này cô ấy nhìn thấy người tôi, nói tóc tôi màu đen, hơi xoăn (tóc tôi
có chút xoăn tự nhiên) lại nhìn thấy tôi và người chồng cũ đến từ Mỹ này có thỏa
thuận, là ký năm 2008, anh ta ở bên ngoài có người phụ nữ khác, sau đó liệt kê
từng điều từng điều toàn là điều khoản bắt nạt tôi, tóm lại nói anh ta ngoại
tình hợp pháp hóa, điều ước hóa, trên giấy ghi chi chít, còn viết ngày tháng
năm, dưới hình thức văn bản giao phó từng nét bút cho Tiểu Ngụy, cô ấy nói rất
xin lỗi đã nhìn thấy sự riêng tư của tôi, sau đó cô ấy vào không gian (trang cá
nhân) của tôi xem ảnh của tôi, cô ấy nói thật giống tôi trong giấc mơ của cô
ấy. Lúc này tôi mới kể cho cô ấy câu chuyện của tôi, năm đó người đàn ông Mỹ
này chính là vì bên ngoài có người phụ nữ khác, chúng tôi mới chia tay.
Tôi
rất kinh ngạc, tôi lại có duyên phận sâu sắc như vậy với đồng tu Ngụy Tuyết Lợi
xa xôi chưa từng gặp mặt, cô ấy lại có thể cảm ứng đợi đến hiện thực xảy ra
biến cố lớn lần đó trong cuộc sống của tôi, Tiểu Ngụy rất áy náy cho rằng như
vậy sẽ làm tổn thương tôi, nói thật lòng, khi tôi vừa nghe thông tin này cũng
có chút không hiểu, nhưng ngày hôm sau tôi liền buông bỏ rồi, tôi bảo cô ấy,
cảm ơn cô ấy có thể mơ thấy giấc mơ báo trước này, chúng ta đều là con Phật,
tinh tấn tu hành ắt có cảm ứng, giấc mơ này chứng tỏ tôi đang trả nợ kiếp
trước, tất cả những gì chúng ta xảy ra, trên trời đều có ghi chép, đều không
phải tùy tùy tiện tiện mà đến.
Chấn
động hơn là chuyến đi Malaysia lần này, mặc dù chỉ trong mấy ngày ngắn ngủi đó,
nhưng lại một lần nữa trải qua sự gột rửa của tâm linh, trải nghiệm một cách
tận trí (sâu sắc trọn vẹn) "Vô duyên đại từ, đồng thể đại bi," nước
mắt từ bi, nước mắt đồng cảm, nước mắt cảm động, nước mắt biết ơn, nước mắt
pháp hỷ đều đang nâng cao từng trái tim thuần tịnh từ bi của chúng ta, những
việc xảy ra trên người tôi này khiến tôi càng kiên định: Chỉ cần quyết đi theo
Quan Thế Âm Bồ Tát, nương tựa vào vị Sư phụ từ bi có đại trí tuệ như thế này,
phần đời còn lại của tôi sẽ càng có ý nghĩa, bởi vì Sư phụ thừa nguyện mà đến,
tôi vì trợ duyên, viên duyên (tròn duyên) mà sinh, hỗn độn chờ đợi mấy chục
năm, cuối cùng đợi được sự ngưng tụ của nguồn duyên, những thứ ô trọc đã diệt rồi,
trùng sinh mà đạt được tân sinh (cuộc sống mới), cho tôi lờ mờ thấy sứ mệnh của
tôi, dưới sự dẫn dắt khổ khẩu bà tâm (tận tình khuyên bảo) của Sư phụ, tôi sẽ
tận tâm tận lực dùng sinh mệnh không còn nhiều làm nhiều việc thực tế hoằng
pháp hơn, để đóa sen trong lòng nở rộ, như vậy chúng ta nhất định có thể nhìn
thấy nụ cười của Bồ Tát khắp thế giới.
Đem
tất cả nỗi khổ của chúng ta giao phó cho Quan Thế Âm Bồ Tát đời đời kiếp kiếp
đều chưa từng rời xa chúng ta, quy tất cả công đức cho đông đảo tín chúng nhiều
đời kiếp có khổ nạn như vậy, quy tất cả vinh quang cho Quan Thế Âm Bồ Tát, cảm
ơn sự từ bi của Sư phụ, cảm ơn sự giúp đỡ của sư tỷ Ngọc Tiên, cảm ơn tất cả
đồng tu đã giúp đỡ tôi, cảm ơn tất cả những người từng làm tổn thương tôi, tôi
sẽ càng nỗ lực tinh tấn, giúp Sư phụ cứu độ nhiều chúng sinh hữu duyên hơn nữa.
Cảm ơn!
Cô
Lưu - Ngày 2 tháng 10 năm 2011
7. Đài trưởng là Cha, Quan Âm Đường là Nhà, Khối u
là Tăng Thượng Duyên
[Lời ban biên tập Ban thư ký Đài Đông Phương] Đây là cảm ngộ
chân thực của một thanh niên Phật hữu thường xuyên làm nghĩa công tại Đài Đông
Phương, cô ấy dùng trải nghiệm chân thực trong cuộc sống thực tế của bản thân
để kiểm chứng sự chân thực bất hư của pháp môn Đài trưởng. Vị đồng tu này sau
khi tu tâm tu hành theo pháp môn Đài trưởng và phát tâm hoằng pháp độ người,
thường xuyên nhìn thấy Quan Thế Âm Bồ Tát và Đài trưởng Lư trong mơ. Cô ấy rất
phát tâm, trải nghiệm thần kỳ của cô ấy, khiến chúng ta một lần nữa cảm nhận
được sự quan tâm từ bi của Quan Thế Âm Bồ Tát và sự quan tâm vô hạn của Đài
trưởng. Chúng tôi đặc biệt đăng tải trải nghiệm thần kỳ của vị đồng tu này, hy
vọng có thể cổ vũ nhiều người trẻ tuổi hơn nữa tin tưởng Pháp môn Tâm Linh, và
tích cực tham gia vào sự nghiệp hoằng pháp.
Khi
sinh ra mẹ bị khó sinh, từ nhỏ thể nhược đa bệnh, dưới nách ngực trái thậm chí
thiếu một miếng thịt to bằng bàn tay, chỉ còn một lớp da mỏng miễn cưỡng che
lấy xương sườn, nhìn thấy mạch máu dưới lớp da. Đã khám qua rất nhiều bác sĩ,
đều nói chưa từng gặp trường hợp như vậy. Đầu năm 2010, quỳ trước Phật cầu xin
Bồ Tát phù hộ, cho con có thể gặp được thiện tri thức chỉ điểm học tập Phật
pháp chánh tín. Tháng 3 cùng năm, tôi tiếp xúc với Pháp môn Tâm Linh của Đài
trưởng Lư, biết sâu sắc là Bồ Tát từ bi, Đài trưởng Lư từ bi, mỗi khi nhớ lại,
đều cảm động đến rơi lệ. Sau ba tháng tu hành Pháp môn Tâm Linh, ngực trái vốn
không có bất kỳ tổ chức cơ bắp nào, lại thần kỳ mọc ra thịt.
Tháng
10 năm 2010, tu Pháp môn Tâm Linh đã nửa năm, một lần khi quỳ tụng Lễ Phật Đại
Sám Hối Văn cảm thấy ngực trái đau đớn, không thể hít thở sâu, nói chuyện chỉ
có thể hít nửa hơi. Đêm hôm đó mơ thấy Đài trưởng giúp tôi xem Đồ đằng. Đài
trưởng thở dài nói: "Rắc rối rồi, rùa con mọc đốm rồi." Tỉnh lại
không hiểu ý nghĩa là gì, thế là trong buổi khai thị của Đoàn Thanh niên xin
Đài trưởng giải mộng. Đài trưởng lúc đó có chút khó xử nói với tôi, cảnh mơ này
hơi phức tạp, không cách nào trả lời, cần gọi điện xem Đồ đằng trong chương
trình Huyền Nghệ Tổng Hợp vào thứ Ba, Năm, Bảy hàng tuần, và bảo tôi trong
trường hợp chưa gọi được điện thoại, niệm nhiều Chú Đại Bi, chú ý sức khỏe.
Cùng
tuần đó, bốn người bạn lần lượt ở Vancouver, Thượng Hải và Sydney không hẹn mà
cùng mơ thấy tôi ở trong bệnh viện, tóc cực ngắn, thần sắc rất tiều tụy. Mà mẹ
thậm chí mơ thấy tôi sẽ có một đại kiếp vào ngày 13 tháng 10, không được ra
khỏi cửa, nếu không bà sẽ vĩnh viễn không gặp được tôi nữa. Tôi nghĩ có thể là
vì tôi mỗi ngày niệm 7 biến Lễ Phật Đại Sám Hối Văn, cho nên linh tính bị kích
hoạt rồi. Để mẹ không lo lắng, tôi hẹn bác sĩ kiểm tra sức khỏe.
Sau
khi kiểm tra phát hiện, thịt mới mọc ra ở ngực trái gần đây, là tổ chức cơ bắp
bình thường, còn phần ngực bên trái ban đầu, thực ra là cả một khối u lớn, to
bằng nắm tay. Bởi vì ngực trái chưa bao giờ có cơ bắp bình thường, cho nên quá
khứ cũng chưa bao giờ biết mình mang theo quả bom hẹn giờ này bao nhiêu năm
nay. Cầm kết quả xét nghiệm siêu âm B và chụp nhũ ảnh (Mammography), tim tôi
thắt lại, càng cảm thấy khó thở hơn.
Nhớ
lại hồi nhỏ lúc bốn tuổi, bị kính rơi từ tầng bảy xuống rạch rách đầu, đưa đi
cấp cứu, khâu mười hai mũi, tĩnh mạch bị rách khâu bốn mũi; lúc bảy tuổi, ở
trường học không hiểu sao bị sốc (ngất), trong hoảng hốt mình đi vào hành lang
tối tăm dài dằng dặc, sau khi tỉnh lại bị một trận bệnh nặng; mười ba tuổi mắc
chứng u uất, cả ngày nghĩ cách tự sát; năm mười bốn tuổi tình cờ tiếp xúc Phật
pháp, dựa vào việc mỗi ngày niệm Kinh niệm chú đi vào giấc ngủ để thoát khỏi ác
mộng và bóng đè; mười chín tuổi bị kiểm tra ra nhịp tim không đều, kèm theo đau
thắt ngực mang tính liên tục; hai mươi ba tuổi trải qua một tai nạn máy bay,
trong hoảng loạn giữa bão tố và lốc xoáy nhìn thấy ngoài cửa sổ Quan Thế Âm Bồ
Tát đạp mây lành mà đến, toàn thân tỏa ra Phật quang màu vàng kim, khoảnh khắc
đó tôi liền không còn sợ hãi nữa, tôi biết Bồ Tát sẽ cứu tôi; năm hai mươi sáu
tuổi, mặt biển yên bình đột nhiên nổi sóng lớn, tôi vốn ở chỗ nông bị cuốn vào
dòng nước xiết, bốn người khác đi cùng, một người chết đuối, một người hôn mê
bất tỉnh, khi tôi được cứu lên, tôi quỳ khóc lạy bầu trời, cảm tạ sự phù hộ của
Bồ Tát.
Cảm
tạ Bồ Tát luôn rủ lòng thương, bao nhiêu lần quan đầu sinh tử ngàn cân treo sợi
tóc đều không bỏ rơi tôi. Tôi luôn nghĩ, Bồ Tát giữ tôi lại nhân gian, nhất
định có việc gì muốn tôi đi hoàn thành, nhất định có việc gì muốn tôi đi làm. Bắt
đầu từ mười bốn tuổi tôi liền tham gia hoạt động từ thiện cộng đồng, tích cực
báo đáp xã hội, cũng tham gia đoàn nghĩa công tại chùa trong thời gian dài, nỗ
lực hộ trì Phật pháp. Nhưng khi tôi nhìn thấy báo cáo xét nghiệm siêu âm B và
chụp nhũ ảnh, tôi cảm thấy vô cùng, vô cùng xấu hổ. Trong chương trình Đài
trưởng từng không chỉ một lần nhắc tới, rất nhiều bệnh nhân bệnh nặng, sau khi
phóng sinh niệm Kinh, thông thường trong vòng một tháng liền sẽ có cải thiện rõ
rệt. Mà tôi đã ăn chay niệm Phật bao nhiêu năm nay, phóng sinh cá tôm gần vạn
con, Ngôi Nhà Nhỏ cũng niệm hơn 49 tấm, cơ thể vẫn bệnh ác tính quấn thân, nhất
định là tôi làm chưa đủ, làm chưa tốt, là tôi phụ lòng Bồ Tát.
Sinh
mệnh yếu ớt biết bao. Chúng tôi mới hơn hai mươi tuổi, cậy mình trẻ tuổi liền
tưởng rằng thanh xuân vô địch. Tôi nghĩ đến việc mình mười mấy tuổi đã rời xa
người nhà một mình sống ở bên ngoài, đều không có cơ hội hiếu thuận cha mẹ đàng
hoàng; tôi nghĩ đến sự nghiệp của mình vừa mới khởi bước, còn chưa có cơ hội
báo đáp xã hội đàng hoàng; quan trọng nhất là, tôi mới vừa quen biết Đài
trưởng, căn bản còn chưa có cơ hội giới thiệu pháp môn tốt như vậy cho nhiều
người hơn nữa. Trước bàn Phật tôi quỳ cầu Bồ Tát cho tôi thêm một chút thời
gian, cho tôi có thể làm thêm một số việc có ý nghĩa.
Tối
ngày 13 tháng 10, tôi mơ thấy mình đi bệnh viện đăng ký, hàng người dài dằng
dặc xếp trong phòng chờ khám, mọi người đều không có biểu cảm cũng không nói
chuyện. Đến lượt tôi, mới biết bác sĩ vốn định chẩn đoán bệnh tình cho tôi
không có mặt. Ông lão ngồi ở quầy lễ tân dùng bút lông vẽ một vòng tròn lên tên
tôi, hỏi tôi ngày 13 không được, ngày 27 được không? Tôi lắc đầu nói tôi không
muốn khám bác sĩ nữa. Ông ấy nói vậy bây giờ cô có thể xuất viện rồi. Thế là
tôi thu dọn quần áo của mình trong phòng bệnh, làm thủ tục xuất viện.
Sau
khi tỉnh lại, tôi biết, tôi tạm thời tránh được một kiếp.
Mẹ
biết tình hình của tôi, lo lắng vạn phần, và lập tức tìm bác sĩ tốt nhất cho
tôi, chuyên gia ngoại khoa được xưng là "đệ nhất dao" Thượng Hải, sắp
xếp làm phẫu thuật cắt bỏ. "Không sao đâu." Mẹ khuyên tôi, "Mua
vé máy bay về Thượng Hải, nằm viện quan sát một thời gian, tình hình ổn định
rồi quay lại làm việc, sẽ nhanh chóng không sao cả."
Tôi
biết sâu sắc là bệnh nghiệp chướng, phẫu thuật cắt bỏ là trị ngọn không trị
gốc, hơn nữa tình hình của tôi cần cắt bỏ toàn bộ ngực trái, cùng với tổ chức
bạch huyết ở cánh tay và dưới nách, phẫu thuật có rủi ro nhất định, hơn nữa từ
đó cơ thể sẽ vĩnh viễn không còn nguyên vẹn nữa. Đài trưởng mấy lần trong khai
thị khuyên bảo bệnh nhân bệnh nặng, cố gắng đừng cắt bỏ cơ quan hoặc tổ chức cơ
thể, nghiệp chướng nếu không tiêu trừ, vẫn sẽ di căn bất cứ lúc nào. Hơn nữa, phẫu
thuật sẽ phá hoại cấu tạo cơ bản của cơ thể, có thể ngay cả nền tảng hồi phục
cũng không thể đảm bảo. Trị liệu ung thư là một quá trình chuyển đổi năng
lượng, thông qua niệm Kinh, phóng sinh, hứa nguyện, ăn chay, Bồ Tát nhất định
sẽ phù hộ chúng ta, gia trì chúng ta, để chúng ta chuyển nguy thành an.
Tôi
nói nỗi lo lắng của mình cho một vị Đông y quen biết nhiều năm. Cô ấy cũng là
người học Phật, chuyên trị các bệnh nan y tạp chứng, rất nhiều bệnh nhân ung
thư thông qua sự điều trị của cô ấy, tình hình dần dần ổn định. Cô ấy cũng
thường khuyên bệnh nhân ăn chay, và nhấn mạnh tất cả bệnh đều do tâm mà khởi,
trị căn trị bản chính là phải trị tâm. "Cháu sẽ khỏe lại thôi." Đông
y an ủi tôi, "Cháu phải có lòng tin." Cô ấy vốn dĩ đã trong trạng
thái bán nghỉ hưu, nhưng vì giúp tôi trị liệu khối u, mỗi tuần đặc biệt dành ra
hơn một tiếng đồng hồ làm xoa bóp, cạo gió, giác hơi, chích máu cho tôi. Nhìn
những vết giác hơi từng mảng từng mảng trên người, tím bầm, máu xấu chích ra
cũng đều là màu đen dạng cao đặc, bốc mùi hôi thối, tôi bỗng nhiên nhớ đến giấc
mơ ban đầu đó. Những vết giác hơi này chính là đốm trên người rùa con, mà tôi
cũng thật sự giống như Đài trưởng nói "rắc rối rồi".
Mặc
dù tình hình rất không lạc quan, nhưng tôi vẫn tin chắc Bồ Tát nhất định sẽ phù
hộ tôi, bởi vì tôi quen biết Đài trưởng Lư, học được cách niệm Ngôi Nhà Nhỏ,
lại có người bạn tốt Đông y này giúp tôi trị liệu, tôi nhất định có thể vượt
qua cửa ải khó khăn. Khi tôi nói với mẹ tôi không định làm phẫu thuật, giữa hai
mẹ con chúng tôi đã xảy ra tranh chấp rất lớn. Mẹ mỗi ngày viết email, gọi điện
thoại cho tôi, đến sau này gần như là vừa khóc vừa nói cầu xin tôi đi mổ. Mẹ
không chỉ một lần chất vấn, tại sao tôi thân là một kỹ sư, hơn nữa là kỹ sư y
sinh, từng nhận giáo dục cao đẳng, lại không chịu tin tưởng khoa học, tin tưởng
Tây y, thà rằng đi tin tưởng một số thứ vô hình, không thể chứng minh hoặc giải
thích. Bà nhắc đi nhắc lại, tuy niệm Kinh rất tốt, có Bồ Tát phù hộ rất tốt,
nhưng có thể tiến hành đồng thời với mổ xẻ phẫu thuật. Làm con cái để cha mẹ lo
lắng như vậy, chính là bất hiếu. Đọc từng bức thư đẫm nước mắt tôi cảm thấy rất
đau khổ, cũng từng nghĩ nghỉ việc về nhà ở với cha mẹ, để cha mẹ tận mắt nhìn
tôi niệm Kinh tu tâm dần dần khôi phục, để họ yên tâm. Nhưng ngay lập tức tôi lại
nghĩ, nếu tôi rời khỏi nước Úc, tôi sẽ không có cơ hội ở bên cạnh Đài trưởng
nghe Phật pháp nữa, đây sẽ là sự tiếc nuối lớn biết bao trong cuộc đời tôi.
Theo bệnh tình hiện tại của tôi, thực ra ở đâu cũng sẽ không có khác biệt quá
lớn. Nếu tôi ở lại nước Úc, cho dù là tính đến khả năng xấu nhất, thì trong
chặng đường cuối cùng của sinh mệnh hữu hạn này của tôi, tôi còn có thể nắm bắt
cơ hội cuối cùng này để làm một chút cống hiến nhỏ bé cho việc hoằng dương Phật
pháp.
Thế
là tôi thương lượng với mẹ, để tôi ở Úc hẹn bác sĩ chuyên khoa ung thư vú bang
New South Wales, rồi quyết định có mổ hay không. Bởi vì tôi biết hẹn bác sĩ
chuyên khoa thường cần đợi mấy tháng, tôi hy vọng trong khoảng thời gian chờ
đợi này, niệm Kinh thật tốt, làm nhiều việc thiện, thay đổi bệnh tình của mình.
Tháng
12 năm 2010, sau khi phóng sinh một nghìn con cá vược, mơ thấy Đài trưởng mặc
áo dài trắng, toàn thân tỏa ra Phật quang màu vàng kim. Đài trưởng giơ tay phải
lên, gia trì trên đỉnh đầu tôi, lập tức toàn bộ cơ thể tôi đều được Phật quang
bao phủ, toàn thân kinh lạc đều lưu chuyển Phật quang ấm áp tường hòa. Khoảnh
khắc đó dài đằng đẵng như vĩnh hằng, mà nước mắt biết ơn của tôi, tuôn ra như
thủy triều.
Sau
đó, đồng tu giúp tôi gọi thông đường dây nóng chương trình "Huyền Nghệ Tổng
Hợp". Đài trưởng nói trên Đồ đằng của tôi hiển thị, khí đen ở bụng dưới đã
chuyển biến tốt rõ rệt, giống như bốc khói màu sắc dần dần nhạt đi, nhưng khối
u ở ngực màu sắc vẫn không thay đổi. Đài trưởng nói trong điện thoại, có thể là
vì mỗi ngày đang niệm Lễ Phật Đại Sám Hối Văn, nghiệp chướng luôn không ngừng
bị kích hoạt; mà một khả năng khác là, khối u luôn bị chạm vào, ở trạng thái bị
thương lâu dài, không có cơ hội lành lại. Đài trưởng bảo tôi niệm trước 118 tấm
Ngôi Nhà Nhỏ, bình thường niệm nhiều Chú Đại Bi, ngoài ra Lễ Phật Đại Sám Hối
Văn không được dừng. Do điện thoại là đồng tu gọi thông, tôi lúc đó không có
mặt, không thể phản hồi tức thì. Khi nghe ghi âm sau đó, tôi ngoài sự kinh thán
vô cùng, càng cảm động không thôi đối với sự từ bi của Đài trưởng. Mấy năm
trước kiểm tra ra có u xơ tử cung, hai bên trái phải đều có, xâu thành chùm
nho, hai cái lớn nhất đường kính lần lượt là 7 cm và 5 cm. Mỗi lần đến kỳ kinh
nguyệt đều đau khổ không chịu nổi, và thường xuyên chảy máu vô cớ không định
kỳ. Mà từ sau khi niệm Ngôi Nhà Nhỏ, quả thực đã cải thiện rất nhiều, không
những kinh nguyệt cũng bình thường, đau đớn cũng biến mất rồi. Mà khối u ở ngực
của tôi, đích xác cũng là vì tôi mỗi ngày đều đang niệm 7 biến Lễ Phật Đại Sám
Hối Văn đang không ngừng kích hoạt nghiệp chướng. Ngoài ra tôi đều định kỳ đi
khám Đông y, hơn nữa mỗi lần hội chẩn đều tiến hành chích máu, cho nên trên Đồ
đằng hiển thị ngực luôn có vết thương. Thế giới Đồ đằng của Đài trưởng, thực sự
là quá bất khả tư nghị.
Chớp
mắt đã đến ngày hẹn bác sĩ chuyên khoa. Tôi đã niệm hơn một trăm tấm Ngôi Nhà
Nhỏ. Khối u to như nắm tay, lúc này đã thu nhỏ thành kích thước quả vải, hơn
nữa khối cứng mềm đi rất nhiều, khi chạm vào cũng không đau đớn như vậy nữa.
Khi tôi báo tin tốt cho mẹ, bà rất chua xót nói, "Con cái ở xa, luôn báo
tin vui không báo tin buồn. Con ngàn vạn lần đừng vì sợ mẹ lo lắng, cố ý bịa ra
những thứ này an ủi mẹ." Tôi nói với mẹ, cho dù bà không tin tôi, bà cũng
phải tin Đài trưởng, tin Bồ Tát. Nếu bà cần chứng minh y học, để bản thân yên
tâm hơn, tôi có thể đưa báo cáo xét nghiệm cho bà xem, nhưng mổ xẻ phẫu thuật,
tôi thật sự sẽ không đi sắp xếp nữa. Mẹ thấy sức khỏe tôi có chuyển biến tốt rõ
rệt, thái độ cũng rất kiên quyết, liền không miễn cưỡng tôi nữa. Cuối cùng, mẹ
vẫn không yên tâm dặn dò tôi, phải thời khắc quan sát tình hình, hễ có thay đổi
phải lập tức đi khám bác sĩ. Tôi đồng ý với mẹ, và nhắc nhở bản thân, nhất định
phải sớm ngày bình phục, không để cha mẹ lo lắng cho tôi nữa.
Khoảng
thời gian này đến nay, trị liệu Đông y mỗi tuần chưa từng gián đoạn. Đông y
nhìn tôi mỗi lần đều có tiến bộ, cũng cảm thấy rất an ủi. Trong thời gian trị
liệu tôi chia sẻ với cô ấy cảm nhận và thể hội sau khi tu hành Pháp môn Tâm
Linh, và tặng sách của Đài trưởng kết duyên với cô ấy. Trong lúc nói chuyện
biết được người bạn Đông y này cũng có công năng thông linh, hơn nữa cô ấy nhắc
đi nhắc lại, ung thư đều là bệnh nghiệp chướng, ăn chay rất quan trọng, tu tâm
càng quan trọng.
"Đây
là nghiệp chướng bẩm sinh của cháu, là của kiếp trước." Cô ấy nói,
"Cô cảm thấy linh tính sắp đi rồi, nhưng lại không nỡ bỏ cháu."
Không
lâu sau, trên ngực tôi, một khoảng thời gian rất dài đều có dấu ngón tay rõ
ràng, màu tím bầm, nhìn thấy mà giật mình. Từ dấu tay rối rắm lúc đầu, đến sau
này hình dạng dấu tay dần dần buông lỏng, đến cuối cùng chỉ là vết bầm tím
nhạt. Tôi biết mình đang đi trên con đường bình phục, mà Đài trưởng Lư, chính
là Bồ Tát thắp sáng đèn đường trong đêm tối.
Tháng
4 năm 2011 sau khi pháp hội Hồng Kông trở về, có một ngày tôi mơ thấy mình đến
một căn phòng sáng sủa rộng rãi, Đài trưởng và tất cả đồ đệ đều ở đó. Đài
trưởng đưa cho tôi một bát thuốc, và nói với tôi đây là "Tục mệnh
thang" (Thang thuốc nối mạng). Cửa phòng vây quanh rất nhiều người, mọi
người đều muốn chen vào nhưng toàn bộ bị chặn lại, tay của mỗi người đều vươn
ra rất dài, thần sắc vô cùng lo lắng, miệng luôn hô, "Cứu tôi với! Cứu tôi
với!" Đài trưởng nói với tôi, "Mau uống đi! Không còn lại bao nhiêu
đâu, đây là bát cuối cùng rồi."
Thuốc
nước trôi qua cổ họng trượt qua thực quản, được dạ dày hấp thụ. Nơi đi qua,
những đám khí đen đó đều chuyển hóa thành trong suốt, cơ thể tôi trở nên rất
nhẹ. Từ trong mộng khóc đến tỉnh lại, ngày hôm sau tôi liền quỳ tại văn phòng
Đài trưởng, cảm ơn sự gia trì của Đài trưởng đối với tôi, cảm ơn tất cả mọi
người ở Quan Âm Đường đã chăm sóc và quan tâm tôi.
Biết
sâu sắc tính mạng của mình là do Bồ Tát ban cho, thế là sinh mệnh của tôi không
còn chỉ là của riêng mình nữa. Bồ Tát đã kéo dài dương thọ cho tôi, vậy thì
sinh mệnh của tôi nên dùng để báo đáp Bồ Tát. Sự phù hộ của Bồ Tát, sự từ bi
của Đài trưởng, tôi không có gì để báo đáp, duy chỉ dùng cách của riêng tôi để
cảm kích, đó chính là dốc hết sức lực nhỏ bé nhất của mình, hỗ trợ Đài trưởng
hoằng dương Phật pháp. Mỗi ngày, tôi đều quỳ trước Phật cầu xin Quan Thế Âm Bồ
Tát phù hộ sức khỏe, tôi nguyện đem tấm thân mạng hình hài này hộ trì Pháp môn
Tâm Linh.
Tháng
6 năm 2011, sau khi đốt xong hơn hai trăm tấm Ngôi Nhà Nhỏ, có hôm Quan Thế Âm
Bồ Tát trang nghiêm xuất hiện trong giấc mơ của tôi. Tôi cung kính tiến lên
đảnh lễ ba lạy, sau khi đứng dậy nhìn thấy Đài trưởng ngay bên cạnh Quan Thế Âm
Bồ Tát, trong tay cầm một cuốn sổ. Đài trưởng mỉm cười lật xem, và hỏi tôi,
"Con mỗi ngày đều đang cầu xin mình sức khỏe, đã hơn một năm rồi
nhỉ."
Tôi
lúc này mới biết, hóa ra nguyện chúng ta phát trước Phật Bồ Tát mỗi ngày, trên
trời đều có ghi chép, và toàn bộ đều nhập sổ.
Lúc
này trong tay Đài trưởng xuất hiện một viên bảo châu, lấp lánh ánh sáng lưu ly
bảy màu, ẩn chứa năng lượng thể vô hạn. Đài trưởng nói với tôi đó là một viên
Ma Ni Bảo Châu, và chạm một cái vào đỉnh đầu tôi, "Con yên tâm đi, con sẽ
khỏe mạnh, phải tu cho tốt nhé!"
Trước
đây thường thường vào ban đêm, tôi đều đau đến mức giật mình tỉnh dậy từ trong
mộng, có mấy lần thậm chí không thể thở được. Trong lúc nửa tỉnh nửa mê tôi
niệm Chú Đại Bi. Rất nhiều lần, Quan Thế Âm Bồ Tát và Đài trưởng Lư từ bi đều
sẽ kịp thời xuất hiện trong giấc mơ của tôi, giảm nhẹ cơn đau cho tôi. Dần dần,
ban đêm tôi không còn tỉnh lại nữa, sức khỏe cũng ngày càng có tinh thần. Mang
theo trái tim biết ơn, tôi càng kiên định bất di không thay đổi niệm Kinh, hứa
nguyện, phóng sinh. Cảm ơn Bồ Tát, cảm ơn Đài trưởng cho tôi tham gia các công
việc của Ban Thư ký, mà tôi cũng mỗi ngày tan làm là đến Quan Âm Đường, thứ Bảy
và Chủ nhật cũng gần như vừa ngủ dậy là ra khỏi cửa. Mặc dù đường xa, đôi khi
thậm chí một chiều phải lái xe 2 đến 3 tiếng đồng hồ, nhưng vừa nghĩ đến sắp
được đến Quan Âm Đường, sẽ đột nhiên cảm thấy tinh thần gấp trăm lần. Xa quê
hương, xa người thân bạn bè, sống một mình ở Úc, nhưng tôi lại một chút cũng
không cô đơn. Quan Âm Đường chính là nhà của tôi, có nhiều anh chị em, đồng tu
tiền bối như vậy, còn có người cha kính yêu nhất, Đài trưởng Lư Quân Hoành,
người mẹ vĩ đại nhất, Quan Thế Âm Bồ Tát. Có đêm về nhà, hai giờ sáng lái xe
trên đường cao tốc, bất giác động một ý niệm, nghĩ nếu công ty gần Quan Âm
Đường một chút thì tốt biết bao. Không ngờ, chỉ ba ngày sau, tôi liền nhận được
điện thoại của một công ty công trình nổi tiếng khác, thông báo nhân sĩ liên
quan trong ngành đã tiến cử hồ sơ của tôi, và hỏi tôi có ý định đến công ty đó
nhậm chức không, lương cao hơn công ty hiện tại hai vạn đô Úc, và thăng chức
tôi làm giám đốc dự án. Quan trọng nhất là, công ty này cách Quan Âm Đường lái
xe chỉ mất 20 phút. Khi nhận điện thoại, không phải là không ngạc nhiên vui
mừng. Nhưng tôi nghĩ đến Đài trưởng từng không chỉ một lần nhắc tới trong khai
thị, chúng ta học Phật không phải vì danh vì lợi, chúng ta học Phật là để tu
tâm tu hành tốt hơn, vì vậy mặc dù lần này có cơ hội thăng chức tăng lương, hơn
nữa rút ngắn đáng kể lộ trình xe, nhưng sau khi cân nhắc hai ngày, tôi vẫn khéo
léo từ chối. Nguyên nhân nằm ở chỗ, công việc mới sẽ tăng thêm khối lượng công
việc của tôi, và rất có khả năng thường xuyên tăng ca và đi công tác, mà công
ty hiện tại của tôi, là chế độ trách nhiệm, công việc tương đối nhẹ nhàng, tôi
có thể có đầy đủ thời gian nghiệp dư để đến Quan Âm Đường. Tôi trước Phật cảm
ơn Quan Thế Âm Bồ Tát quan tâm tôi tỉ mỉ chu đáo, khoảng cách thời gian không gian,
đối với người con Phật mà nói, đều có thể khắc phục, chỉ cần trong lòng chúng
ta có Bồ Tát, có Đài trưởng Lư, đường xa đến mấy, đều là đường về nhà của chúng
ta.
Tháng
7 năm 2011, sau khi đốt hơn ba trăm tấm Ngôi Nhà Nhỏ, vào ngày sinh nhật tôi tự
mình gọi thông đường dây nóng chương trình "Huyền Nghệ Tổng Hợp". Đài
trưởng báo cho biết, linh tính trên người tôi, chỉ cần niệm thêm 11 tấm Ngôi
Nhà Nhỏ nữa. Tôi thuận lợi vượt qua cửa ải 29 tuổi này. Ba mươi năm trước, cha
mẹ tôi cho tôi thân thể da tóc, ba mươi năm sau hôm nay, Quan Thế Âm Bồ Tát và
Đài trưởng Lư Quân Hoành cho tôi sự tiếp nối của linh hồn và sinh mệnh. Cho tôi
biết, việc tôi cần làm sẽ không còn chỉ là làm vì mình nữa, bởi vì sinh mệnh
của tôi, đã không còn đơn thuần chỉ thuộc về bản thân tôi. Trong sinh mệnh hữu
hạn còn lại của tôi, tôi sẽ dốc hết khả năng hoằng dương Pháp môn Tâm Linh Quan
Âm.
Tháng
8 năm 2011, trong thời gian chuẩn bị pháp hội Malaysia, có ngày tôi mơ thấy
mình ở hiện trường pháp hội, tín chúng mênh mông vô tận vây quanh Đài trưởng Lư
Quân Hoành, mỗi người đều nước mắt đầm đìa. Lúc này Đài trưởng giơ tay phải
lên, lòng bàn tay phóng ra vạn trượng kim quang. Đài trưởng mỉm cười nói,
"Trên trời có thông điệp cho chúng ta rồi, chúng ta cùng nhau lắng nghe
nhé." Thế là Đài trưởng đưa cho tôi một cái tai nghe kết nối thiên đình,
khoảnh khắc đó, tôi nghe thấy âm thanh tự nhiên tuyệt diệu. Đó là ngàn vạn
thiên nhân đang dùng phạm âm cung tụng "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn" cho
Đài trưởng Lư. Tiếng phạm bối như thủy triều vang vọng trong đầu, năng lượng
nóng rực từ đỉnh đầu tôi xuyên suốt đến cột sống. Đài trưởng mỗi ngày không
quản ngại vất vả cứu độ chúng sinh, đã gánh vác thay chúng ta bao nhiêu nghiệp
chướng. Đại từ đại bi của Đài trưởng đã cảm động thiên đình, bây giờ, trên trời
đều sắp xếp pháp hội thù thắng tụng "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn" cho Đài
trưởng. Mà chúng ta may mắn biết bao, Đài trưởng Lư ngay tại nhân gian chúng
ta, chỉ dẫn chúng ta, dạy dỗ chúng ta, cứu độ chúng ta, không cầu bất kỳ báo
đáp nào, chỉ cần chúng ta niệm Kinh tu tâm cho tốt. Mà chúng ta những người
kiên định đi theo Đài trưởng Lư tu hành Pháp môn Tâm Linh Quan Âm, cho dù thân
ở nhân gian, cũng như sống tại thiên đường.
Mở
mắt ra, tôi nhìn thấy mỗi một người đều là Bồ Tát. Nhắm mắt lại, Quan Thế Âm Bồ
Tát vĩ đại ngay trước mắt. Bên tai vang lên lời từ bi của Đài trưởng Lư,
"Gánh nặng đường xa" (Nhậm trọng đạo viễn). Chúng ta nhất định phải
tu hành cho tốt, chúng ta nhất định phải xứng đáng với Đại Từ Đại Bi Quan Thế
Âm Bồ Tát, chúng ta nhất định phải xứng đáng với Đại Từ Đại Bi Đài trưởng Lư
Quân Hoành.
Phật hữu Sydney cô Chúc
Ngày 30 tháng 11 năm 2011
8. Pháp môn Tâm Linh cứu chữa khỏi bệnh tâm thần
phân liệt 9 năm của con gái tôi
Cảm ơn Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quảng Đại
Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ Tát!
Cảm ơn Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Đài
trưởng Lư Quân Hoành!
Chào
các vị đồng tu, điều tôi muốn kể với mọi người, là kỳ tích xảy ra sau khi tôi
tiếp xúc pháp môn Đài trưởng và tu tập pháp môn Đài trưởng.
Tôi
có một cô con gái ngoan ngoãn đáng yêu, cháu là vinh dự lớn nhất cả đời của tôi
và bà nhà. Chúng tôi từ nhỏ đã nuông chiều, trăm chiều chiều chuộng cháu. Đúng
vào năm cháu học lớp 12, vận rủi bất ngờ ập đến, cuộc sống đau khổ kéo dài chín
năm của gia đình chúng tôi cũng từ đó mở màn:
Trong
một kỳ thi khảo sát của trường vào học kỳ 2 lớp 12, thành tích của cháu vốn dĩ
luôn học khá đã tụt dốc không ít. Áp lực nặng nề của thi đại học và cú sốc
thành tích tụt dốc ầm ầm ập đến, cháu bắt đầu cả đêm cả đêm không ngủ được,
trạng thái tinh thần ngày càng kém. Có lẽ là đến thời kỳ nghiệp chướng bùng
phát, ngay trước Tết, cháu lại vì một chuyện nhỏ nghĩ không thông, đột nhiên
phát bệnh. Cháu sủi bọt mép, nhe nanh múa vuốt lại nói năng lảm nhảm, nhìn thấy
con gái vốn quen thuộc biến thành bộ dạng này, chúng tôi vừa đau lòng vừa lo
lắng. Dưới sự giúp đỡ của bạn bè, chúng tôi cùng nhau đưa cháu đến khoa tâm
thần bệnh viện. Bác sĩ sau khi làm điện não đồ cho cháu nói kiểm tra mọi thứ
bình thường, sau đó lại ra hiệu chúng tôi chuyển cháu sang khoa tâm lý. Con gái
vốn ngoan ngoãn của tôi, gào thét, giãy giụa trên hành lang bệnh viện, quãng
đường ngắn từ khoa tâm thần đến khoa tâm lý, ba người chúng tôi dùng hết sức
lực toàn thân, gần như là lôi cháu qua đó. Đến khoa tâm lý, bác sĩ không nói
hai lời, cầm một mũi thuốc an thần tiêm thẳng vào người cháu, cháu trong hoảng
sợ và phản kháng, phát ra từng trận thét thảm thiết. Tôi vừa dùng sức giữ chặt
con gái đáng thương của tôi, nước mắt lại không ngừng chảy ngược vào trong tim.
Con ơi! Con làm sao thế này? Tại sao con ngoan ngoãn lại biến thành bộ dạng bây
giờ? Con ơi! Nhìn con chịu khổ như vậy, thật sự giống như cầm một con dao rạch
từng nhát từng nhát vào tim bố vậy! Nếu khổ nạn của con có thể tìm người thay
thế, bố chắc chắn sẽ thay con gánh chịu tất cả! Nhưng, nhìn sự đau đớn của con,
bố lại bất lực a, bố chỉ có thể dùng hết sức lực giữ chặt con, để cái kim tiêm
thô to đó xuyên vào cơ thể con, trơ mắt nhìn con dưới tác dụng của thuốc, dần
dần mất đi ý thức...
Từ
bệnh viện về nhà, mang theo chẩn đoán của bác sĩ: Tâm thần phân liệt (trầm
cảm), cũng mang về thuốc an thần tinh thần bác sĩ kê -- Risperidone (Tư Duy
Khang). Tôi và bà nhà mỗi ngày đúng giờ chăm sóc con uống thuốc. Nhưng loại
thuốc này đặc biệt hại thận, uống thuốc không bao lâu, cháu xuất hiện khó khăn
tiểu tiện. Mỗi khi cháu muốn đi tiểu nhưng lại không đi được, mẹ cháu bắt buộc
phải ở bên cạnh tạo ra tiếng nước chảy, để làm dẫn dắt. Nhìn con đau khổ như
vậy, người làm cha như tôi càng đau lòng không thôi.
Đông
y, Tây y, xoa bóp, mát xa... chỉ cần nghe nói ai có thể chữa trị tâm thần phân
liệt, tôi sẽ lập tức đưa con gái đến cầu y. Cho dù là nhìn thấy thuốc gì có thể
chữa trị trên quảng cáo ở kẽ báo, tôi đều sẽ cẩn thận cắt xuống, không do dự
mua về nhà. Cứ như vậy, chúng tôi đã thăm hỏi rất nhiều danh y, cũng uống đủ loại
thuốc điều trị. Ngoài tin tức bác sĩ báo cho chúng tôi: "Bệnh thần kinh
vĩnh viễn không thể chữa khỏi", và cơ thể con gái bị thuốc kích thích ngày
càng yếu ớt, không có bất kỳ chuyển biến tốt nào khác.
Dưới
sự giới thiệu của một người bạn, tôi nóng lòng cứu con gái đã đi gặp một vị đại
sư Đạo giáo. Ông ta nói với chúng tôi, trên người cháu có linh tính, là một
người bà treo cổ tự sát của cháu. Theo chỉ điểm của vị đại sư này, chúng tôi
thỉnh Quan Thế Âm Bồ Tát và Hoàng Đại Tiên, và định kỳ bày cúng thắp hương. Tôi
tầng lớp làm công ăn lương mỗi ngày tiết kiệm ăn mặc, nhưng mấy năm đó, chỉ
riêng rượu Mao Đài đã bày hơn hai mươi chai. Nhưng cháu vẫn lúc tốt lúc xấu,
mỗi mùa xuân hàng năm đều sẽ phạm một lần bệnh nặng. Chỉ cần cháu ngủ không
ngon, có chuyện gì nghĩ không thông, mỗi ngày lại sẽ đầy miệng nói năng lảm
nhảm. Từng có hai lần cháu trèo lên cửa sổ muốn nhảy ra ngoài, đều bị tôi dùng
sức kéo lại... Để quan sát chặt chẽ chất lượng giấc ngủ của con, bà nhà mỗi
ngày ngủ cùng giường với con, chỉ cần phát hiện con gái chất lượng giấc ngủ
không tốt quá ba ngày trở lên, chúng tôi liền lập tức tiêm thuốc an thần cho
cháu (tục gọi là "gậy nhỏ", chính là có thể một gậy đánh ngã nghĩa là
vậy), nếu không cháu lại sẽ phát bệnh.
Trong
những ngày tháng đau khổ không muốn sống đó, tóc tôi sớm đã bạc trắng hoàn toàn
trong lo lắng và lo âu. Nhìn bộ dạng đau khổ của con gái yêu bị bệnh tật hành
hạ, tinh thần của tôi cũng đã bên bờ vực sụp đổ. Để phát tiết sự đè nén trong
lòng mình, tôi gần như dùng cách tự hành hạ để làm tê liệt nỗi đau của mình.
Tôi vốn không có tố chất bơi mùa đông, bất kể gió thổi tuyết rơi, trong mùa
đông âm mười mấy độ mỗi ngày tôi đều ép mình xuống biển. Nước biển lạnh băng
tầng tầng bao bọc tôi, cái lạnh thấu xương khiến tôi tạm thời quên đi nỗi bi
thương về con gái. Tôi dùng hết sức lực hét lớn trong biển coi như không có
người, tôi muốn đem sự nóng ruột như lửa đốt khi đối mặt con gái phát bệnh, đem
sự bất lực bó tay toàn tập khi đối mặt con gái đau khổ, toàn bộ hét ra. Tim tôi
đau quá đau quá a!
Để
con gái giải tỏa sự đè nén trong lòng, đôi khi tôi đưa cháu ra bãi biển. Trên
bãi biển, tôi nói với cháu: "Con à, bố có lỗi với con, bố làm không tốt,
con đánh bố đi!" Đứa trẻ bị linh tính khống chế liền không do dự dùng sức
đánh vào người tôi, đá vào người tôi, mà tôi chỉ ôm lấy đầu mình... Đánh xong,
cháu thở phào một hơi, vui vẻ nói với tôi: "Bây giờ thoải mái hơn nhiều
rồi." Nhìn sự an ninh tạm thời này của con, tôi an ủi vô cùng. Cứ như vậy,
tôi và bà nhà mang theo đứa con trầm cảm sống khó khăn. Con gái dần dần lớn
lên, cũng vào mùa đông năm ngoái sắp gả làm vợ người ta. Con rể tôi cũng là một
đứa trẻ rất lương thiện, nó không chê bai con gái tôi có bệnh như vậy, vẫn chăm
sóc cháu rất chu đáo. Để tặng cho các con một món quà kết hôn đặc biệt, hai ngày
trước hôn lễ của chúng, tôi đã quy y cửa Phật, và thề ăn chay suốt đời. Hy vọng
dùng sự bỏ ra của tôi để cầu xin Bồ Tát phù hộ con tôi cả đời bình an.
Một
tháng sau khi chúng kết hôn, chuyện tôi lo lắng cuối cùng lại xảy ra! Trước đó
vì luôn kiên trì uống thuốc, tinh thần con gái coi như khá bình thường. Nhưng
do con rể thiếu kinh nghiệm, cộng thêm hai vợ chồng trẻ vì muốn có con đã lén
lút dừng thuốc, con gái vào một ngày trên đường đi siêu thị mua sắm đã phát
bệnh lần nữa, hơn nữa lần này nghiêm trọng hơn bất kỳ lần nào trước đó! Cháu
lại bắt đầu sủi bọt mép, nhe nanh múa vuốt, mấy người đều không giữ nổi cháu.
Trên đường phố xe cộ qua lại như mắc cửi, con gái đáng thương của tôi đã không
còn bất kỳ tôn nghiêm nào đáng nói, cuối cùng vẫn là dưới sự giúp đỡ của một
người tốt bụng, chúng tôi đưa con gái về nhà. Qua sự giới thiệu của một người
bạn khác, chúng tôi lại đi thăm vị đại sư thứ hai. Vị đại sư này nói với tôi,
kiếp trước con gái tôi là thị nữ bên cạnh Vương Mẫu Nương Nương, bây giờ trên
người quả thực là đã trêu chọc linh tính. Ông ta chỉ đạo phải để con gái tôi
"đỉnh hương đầu" (đội bát hương), chúng tôi lập tức lại đi thỉnh bảy
tám bức tượng Đạo gia, Tiên gia và Phật gia thờ lên, kèm theo vong linh ba đời,
toàn bộ thỉnh lên bàn thờ. Con vừa thắp hương, liền một cái phải thắp hương cho
mười bảy lư hương. Sau đó, vị đại sư này lại nói với tôi, tôi và bà nhà cũng có
duyên với Tiên gia, ông ta kiến nghị chúng tôi cũng phải "đỉnh hương
đầu", lập một cái "Phu Thê Đường" (Điện thờ vợ chồng).
Đúng
lúc tôi chần chừ, cơ duyên cuối cùng đã đến! Dưới sự tiến cử của một vị cư sĩ,
tôi tiếp xúc được sách của Đài trưởng Lư. Nhìn thấy sách của Đài trưởng, tôi
thật sự vui mừng khôn xiết! Bởi vì trên sách của Đài trưởng có trường hợp thành
công cứu chữa bệnh tâm thần phân liệt a! Hơn nữa phương pháp Đài trưởng dạy
chúng tôi đơn giản khả thi, chỉ cần "niệm Kinh, hứa nguyện, phóng
sinh" là sẽ có hy vọng khôi phục.
Tìm
được sự chỉ dẫn của Minh sư, còn lại chính là sự tu hành tinh tấn của tôi. Tôi
hứa ba nguyện lớn với Quan Thế Âm Bồ Tát: Một là ăn chay suốt đời, hai là cấm
sắc suốt đời, ba là vĩnh viễn không sát sinh. Để đảm bảo thời gian đầy đủ để
niệm Ngôi Nhà Nhỏ, tôi xin nghỉ dài hạn ở cơ quan, mỗi ngày 4 giờ sáng dậy, tối
11-12 giờ ngủ, thời gian còn lại toàn bộ dùng để niệm Kinh. Bà nhà và con gái
lúc đó đều rất không hiểu, tưởng rằng tôi đã điên rồi, tôi cũng mặc kệ sự nghi
ngờ của họ, đóng cửa lại, một lòng niệm Kinh. Do ngủ quá ít, đôi khi buồn ngủ
thực sự không chịu nổi nữa, mùa đông giá rét liền dùng nước lạnh dội đầu, ép
buộc bản thân tỉnh táo lại. Trên miệng nổi bọng máu, tôi liền tự mình soi gương
dùng kim chọc vỡ, sau đó tiếp tục niệm kinh. Mỗi tháng tôi cũng đều đi phóng
sinh, có khi một tháng đi hai lần. Tôi khổ khổ cầu xin Đại Từ Đại Bi Quan Thế
Âm Bồ Tát cứu gia đình chúng tôi, tôi cũng tin chắc, chỉ cần tôi liều mạng niệm
Ngôi Nhà Nhỏ, làm công đức, thì nhất định sẽ có kỳ tích xuất hiện!
Không
ngờ, Bồ Tát từ bi, chuyện linh nghiệm lại xuất hiện rất nhanh. Đầu tiên là sự
chuyển biến của bà nhà tôi, do lúc đầu bà ấy không tin tưởng pháp môn của Đài
trưởng lắm. Tôi liền bảo bà ấy quan sát nước Đại Bi cúng Bồ Tát trên bàn Phật
của chúng tôi, bởi vì mùa đông trong nhà không có lò sưởi, qua một đêm, nước
trong bình trúc phú quý trên bàn Phật sẽ đóng thành băng dày, nhưng nước Đại Bi
trước tượng Bồ Tát lại chưa bao giờ đóng băng. Ban đầu, bà nhà còn tưởng là tôi
giở trò, sau này bà ấy tự mình thử nghiệm mấy lần, phát hiện lần nào cũng như
vậy, liền bắt đầu cùng tôi niệm Kinh, còn tranh uống nước Đại Bi với tôi. Kinh
văn niệm không bao lâu, có một ngày bà nhà vốn đã mắt lão đột nhiên vui mừng
nói với tôi, bà ấy không cần đeo kính nữa, chữ trên Kinh văn bà ấy đều nhìn rõ
ràng rành mạch. Cảm ơn Bồ Tát!
Cái
nữa chính là chuyện xảy ra trên người tôi. Nhớ vị đại sư thứ hai bảo tôi lập
"Phu Thê Đường" tôi không đồng ý, ông ta liền hậm hực nói với tôi:
"Ông cứ đợi đấy, ông già rồi sẽ bị liệt." Thực ra bây giờ nghĩ lại,
ông ta nói một chút cũng không sai. Sự việc là như thế này: Đúng lúc tôi tích
cực niệm Ngôi Nhà Nhỏ, bỗng nhiên có một thời gian đầu đau như búa bổ, qua kiểm
tra của bệnh viện phát hiện trong mạch máu não của tôi có một cục máu đông
mạnh. Bác sĩ nói với tôi, cục máu đông này đã hình thành từ lâu rồi, nhưng vẫn
chưa chặn hết thành mạch máu, nếu còn không xử lý đi, đợi tôi lớn tuổi rồi,
mạch máu hoàn toàn bị tắc nghẽn, tôi chắc chắn sẽ bị liệt. Qua điều trị nội
trú, bác sĩ đã thông chỗ tôi bị tắc nghẽn tốt rồi. Có lẽ vốn dĩ trong mệnh tôi
định sẵn phải bị liệt lúc tuổi già, cảm ơn Bồ Tát từ bi, cho tôi thông qua niệm
Kinh tiêu trừ một phần nghiệp chướng, lại để cái kiếp này đến sớm, để miễn đi
nỗi khổ bị liệt tôi phải chịu lúc tuổi già.
Đáng
mừng hơn là con gái tôi, sau khi tôi và bà nhà cùng nhau niệm hơn hai trăm tấm Ngôi
Nhà Nhỏ cho cháu, cháu vốn dĩ mỗi mùa xuân đều sẽ phát bệnh, năm nay lại bình
an vượt qua rồi! Bây giờ con gái đã dừng thuốc, hơn nữa mỗi ngày cũng đều làm
bài tập (công khóa). Thời gian trước lại truyền ra tin vui - con gái mang thai
rồi! Cháu còn mơ thấy Quan Thế Âm Bồ Tát, trong mơ Bồ Tát dạy dỗ cháu phải niệm
thêm Công Đức Bảo Sơn Thần Chú. Cảm ơn Quan Thế Âm Bồ Tát từ bi! Cảm ơn Đài
trưởng từ bi! Là Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm và Đại Từ Đại Bi Đài trưởng Lư đã
cứu gia đình chúng tôi, là Quan Thế Âm Bồ Tát và Đài trưởng Lư đã kết thúc cơn
ác mộng kéo dài chín năm của gia đình chúng tôi, không chỉ để con gái tôi khôi
phục bình thường, ngay cả sức khỏe của tôi và bà nhà cũng ngày càng tốt.
Quan
Thế Âm Bồ Tát đã cho tôi quá nhiều ân huệ, tôi nên bày tỏ niềm vui và sự cảm
kích trong lòng như thế nào? Tôi phải báo ân Phật a! Tôi phát nguyện học tập sự
từ bi của Bồ Tát, phải cứu độ 100 người học tập Pháp môn Tâm Linh. Tôi mua máy
ghi đĩa, ghi lại toàn bộ chương trình và khai thị mới nhất của Đài trưởng, miễn
phí kết duyên cho mọi người. Trên đường gặp người cần giúp đỡ, tôi cũng sẽ
không do dự đi giúp đỡ họ. Bởi vì tôi được nhờ sự phù hộ của Bồ Tát, tôi cũng
phải học tập Bồ Tát, giúp đỡ Bồ Tát cứu độ chúng sinh.
Nghe
tiếng cười vui vẻ mỗi ngày của con gái, nhìn ngày càng nhiều người đang học
Pháp môn Tâm Linh, tôi biết Từ Mẫu Quan Thế Âm Bồ Tát của chúng ta pháp lực vô
biên, nghe tiếng cứu khổ, tôi cũng tin chắc cục diện tốt đẹp "trăm hoa đua
nở xuân đầy vườn" mà Đài trưởng mong đợi cũng sẽ thực hiện trong tương lai
không xa!
Thanh Đảo đồng tu Hợp thập
9. Ung thư không đáng sợ, chỉ cần kiên định lòng
tin
Tu pháp môn Đài trưởng Lư kỳ tích nhất định sẽ xuất hiện
Cuối
năm ngoái tôi vừa tiếp xúc pháp môn Đài trưởng Lư, có một vị cư sĩ tặng cho tôi
một số Ngôi Nhà Nhỏ trống, nói trong vòng 7 ngày phải niệm xong, lúc đó tôi
cũng không hỏi rõ, ôm suy nghĩ thử xem sao, nhận lấy. Trước đây tôi cũng từng
niệm Chú Đại Bi, Tâm Kinh, Thập Tiểu Chú v.v., cũng biết thuộc lòng, nhưng
không hiểu dùng như thế nào để tiêu trừ nghiệp chướng trên người.
Ngày
hôm sau tôi liền bắt đầu niệm Ngôi Nhà Nhỏ, hơn nữa niệm rất nhanh, trước tiên
niệm cho người đòi kinh của mình 4 tấm, sau khi đốt chuyện thần kỳ đã xuất
hiện, cơn đau lưng mấy năm của tôi biến mất rồi, Ngôi Nhà Nhỏ này thật sự là linh
đan diệu dược, từ đó tôi kiên định tu pháp môn Đài trưởng Lư. Sau này nghe nói
còn có sách, lại photo một cuốn "Thiên Địa Nhân" đứt quãng xem sách
của Đài trưởng, chịu sự gợi mở của các trường hợp chân thực trong sách, tôi
liền bắt đầu niệm tổng cộng 68 tấm Ngôi Nhà Nhỏ cho nhà ở của mình, con gái,
con bị phá thai, cha mẹ, bố mẹ chồng đã qua đời, chỉ là không niệm cho chồng
tôi.
Không
ngờ giữa tháng 3 năm nay, chồng tôi đột nhiên ho thở không ra hơi, đến bệnh
viện kiểm tra là ung thư biểu mô nang dạng tuyến khí quản, tôi và con gái đều
suy sụp. Phim CT hiển thị khí quản có khối u, phổi có ba bốn khối bóng mờ, chủ
nhiệm hội chẩn xong suy đoán, phổi và khí quản là liên quan, khối u ung thư xâm
chiếm ba phần tư bộ phận khí quản lớn, bệnh viện nói độ khó phẫu thuật khá lớn,
có nguy hiểm đến tính mạng bất cứ lúc nào, do bệnh tình khẩn cấp nếu không làm
phẫu thuật rất dễ ngạt thở, ngày hôm sau sắp xếp làm phẫu thuật nội soi khí
quản. Tôi xem sách Đài trưởng nói, có bệnh nặng đột ngột, buông bỏ tất cả Kinh
văn, cuồng niệm Chú Đại Bi. Tôi ở ngoài phòng phẫu thuật cầu Đại Từ Đại Bi Quan
Thế Âm Bồ Tát phù hộ chồng tôi phẫu thuật thành công, cứu cả nhà chúng tôi vượt
qua cửa ải khó khăn, tôi luôn không ngừng niệm Chú Đại Bi, tôi nắm chặt nắm tay
nói "Bồ Tát nhất định sẽ cứu chúng con" "Bồ Tát nhất định sẽ cứu
chúng con" "Bồ Tát nhất định sẽ cứu chúng con". Tôi quán tưởng
tay bác sĩ làm phẫu thuật đổi thành tay Quan Âm Bồ Tát.
Tâm
thành tắc linh, khi phẫu thuật làm xong, tôi hỏi bác sĩ thế nào, bác sĩ nói
phẫu thuật đặc biệt thành công, lúc đó tôi và con gái còn có họ hàng đều vô
cùng vui mừng, nhưng tôi biết là Phật lực của Bồ Tát gia trì khiến phẫu thuật
thành công.
Lần
hóa trị đầu tiên, chồng tôi rụng tóc liền hai ngày, có chút triệu chứng buồn
nôn, vì bản thân anh ấy không biết là ung thư, tôi an ủi anh ấy nói "Không
sao đâu, anh chưa từng bị bệnh, đột nhiên bị bệnh là vỏ não anh căng thẳng,
không sao đâu, họ hàng chúng ta ai ai chẳng phải cũng vì căng thẳng rụng rất
nhiều tóc sao?" Anh ấy tin rồi. Tiếp theo anh ấy liền mơ một giấc mơ, mơ
thấy có một bàn tay to, dùng kìm kẹp ra hai cục đồ vật ở bộ phận cổ họng anh
ấy, còn nói với anh ấy "Anh cũng đừng hỏi là cái gì".
Bác
sĩ tìm người nhà chúng tôi, đưa ra phương án điều trị: Khí quản và phổi đều
phải làm từng bước một, mặc dù lần phẫu thuật này rất thành công, nhưng khí
quản rất có khả năng sẽ phát triển ác tính, sau này rất có khả năng phải cắt bỏ
một khúc khí quản lớn, sau đó lại làm phẫu thuật phổi. Hậu quả như vậy sẽ là
tính mạng có nguy hiểm rất lớn, hơn nữa đầu bệnh nhân vĩnh viễn cũng không
ngẩng lên được nữa.
Tâm
trạng của tôi khoảng thời gian đó có thể tưởng tượng được, tôi liền gọi điện
thoại cho Đài trưởng Lư, điện thoại của Đài trưởng vô cùng khó gọi, lần đầu
tiên lại gọi được thật, thời gian là 3 giờ 43 phút, do tôi căng thẳng,
"Alô" mấy tiếng không có tiếng, tôi liền ấn một cái nữa, kết quả ngắt
rồi. Sau đó con gái tôi bảo tôi, gọi đường dài quốc tế tiếp nhận khá chậm, phải
đợi một lát. Do tôi vội vàng, cứ thế bỏ lỡ. Nhưng tôi lại nghĩ, lần đầu tiên
gọi là thông rồi, điều này chứng tỏ tôi và Đài trưởng có duyên, là tôi nóng
vội, Đài trưởng nhất định sẽ biết. Tôi lại gọi điện cho Ban Thư ký, nói rõ
nguyên nhân bệnh của chồng tôi, nhân viên bảo tôi, phải cuồng niệm Chú Đại Bi,
hứa nguyện, phóng sinh v.v. Tôi đều làm theo từng cái một.
Tiếp
theo chồng tôi lại làm phẫu thuật nội soi khí quản lần thứ hai, tôi dựa theo
lời dặn của Ban Thư ký không ngừng niệm Chú Đại Bi. Báo cáo CT ra rồi, phổi ban
đầu 4 khối bóng mờ còn lại một khối nhỏ, thật là kỳ tích. Tôi nhìn thấy bác sĩ
đánh một dấu hỏi lớn trên phiếu báo cáo xét nghiệm, không biết mấy khối bóng mờ
kia đi đâu rồi, nghi ngờ là di căn nhưng lại không giống, nghi ngờ là viêm hoặc
lao, nhưng rõ ràng là ung thư, bác sĩ cũng không rõ nữa. Nhưng trong lòng tôi
biết trong thời gian ngắn như vậy, thuốc không thể phát huy tác dụng lớn như
vậy, tôi biết, là Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát cứu chồng
tôi, chúng tôi vạn phần cảm ơn Quan Thế Âm Bồ Tát! Cảm ơn Đài trưởng Lư!
Bác
sĩ cho bệnh nhân về nhà trước, đợi hóa trị lần hai. Sau khi về nhà, tôi lập tức
dâng hương cho Bồ Tát, chúng tôi quỳ trước tượng Quan Thế Âm Bồ Tát hứa nguyện:
Từ nay về sau mùng một hôm rằm ăn chay, (cố gắng ăn toàn chay) sau này không ăn
hải sản sống, không sát sinh, phóng sinh nhiều, làm công đức, tu hành niệm Kinh
cho tốt. Tôi và con gái phân công hợp niệm Ngôi Nhà Nhỏ, con gái niệm Tâm Kinh,
Vãng Sanh Chú, tôi ở trong bệnh viện niệm Chú Đại Bi, Thất Phật Diệt Tội Chân
Ngôn, 12 giờ trưa, đốt 4 tấm Ngôi Nhà Nhỏ.
Sau
đó cả nhà ba người mỗi người bắt đầu niệm Ngôi Nhà Nhỏ. Đợi đến hơn 10 giờ tối,
chúng tôi đột nhiên nghe thấy tiếng gõ mõ, rõ rõ ràng ràng, gõ hơn mười tiếng,
cảm động chúng tôi không chịu nổi. Thật sự quá thần kỳ, tin sâu đây là Phật Bồ
Tát đang ở ngay bên cạnh chúng tôi, xin các đồng tu tin tưởng, Phật Bồ Tát
không đâu không có, đây là sự thật kiên định bất di.
Về
nhà trong mười mấy ngày, từ chối tất cả họ hàng đến thăm, tranh thủ thời gian
làm bài tập niệm Ngôi Nhà Nhỏ. Tôi mỗi ngày ngoài niệm 49 biến Chú Đại Bi, 7
biến Tâm Kinh, 3 biến Lễ Phật Đại Sám Hối Văn ra, trong vòng 14 ngày tổng cộng
niệm 68 tấm Ngôi Nhà Nhỏ, ngày hôm sau đi phóng sinh, tinh thần anh ấy chuyển
biến tốt rõ rệt. Chồng tôi mơ một giấc mơ, mơ thấy rất nhiều đồng nam đồng nữ
đang niệm Kinh, điều này thật sự bất khả tư nghị.
Khi
bước vào hóa trị lần hai, kỳ tích lại xuất hiện lần nữa. Tôi liên tục hai ngày
niệm 108 biến Chú Đại Bi, 7 biến Lễ Phật Đại Sám Hối Văn, buổi sáng anh ấy bảo
tôi mơ một giấc mơ, trong mơ có người cùng anh ấy niệm Chú Đại Bi, còn bảo anh
ấy niệm nhanh lên. Tôi nghe xong rất kích động, biết đây là pháp thân Phật sống
của Đài trưởng đang cứu anh ấy a. Tiếp theo tôi lại không ngừng niệm Chú Đại Bi
và Lễ Phật Đại Sám Hối Văn, từ ngày hôm nay anh ấy niệm Chú Đại Bi, trong quá
trình hóa trị lần này, tóc cơ bản không rụng, mức độ buồn nôn giảm rõ rệt, các
chỉ số kiểm tra cơ bản bình thường, kết quả CT, bóng mờ ở phổi lại còn lại một
khe hở nhỏ. Bác sĩ nói bệnh tình đã được kiểm soát.
Đây
lại là một lần nữa chứng minh thần lực của Phật pháp, giống như loại bệnh này
không thể nào trong thời gian ngắn như vậy dùng thuốc kiểm soát được, điều này
khiến chúng tôi càng kiên định quyết tâm tu pháp môn Đài trưởng cho tốt.
Lúc
này tôi thông qua Ban Thư ký Đài trưởng biết được số điện thoại của đồng tu
Thiên Tân, đồng tu Thiên Tân đạp xe đạp mang sách của Đài trưởng và đĩa DVD
cùng đĩa ghi âm đến cho tôi, cho tôi sự giúp đỡ rất lớn, tôi từ trong lòng cảm
ơn họ. Mọi người cũng đều vui mừng cho sự hồi phục của chồng tôi. Tôi cũng muốn
làm chút việc cho Đài trưởng, liền hứa nguyện hoằng dương pháp môn Đài trưởng,
làm nhiều công đức, phóng sinh nhiều, có cơ hội thì tuyên truyền hoằng dương
pháp môn Đài trưởng, ngoài ra, cả nhà chúng tôi mỗi tháng ít nhất phóng sinh ba
lần. Ngày 20 tháng 6 chuẩn bị làm hóa trị lần ba, bác sĩ chủ nhiệm bảo chụp
phim CT trước, sau khi kết quả ra bác sĩ cầm phim vui vẻ nói: Bộ phận khí quản
lớn vẫn là dáng vẻ sau khi vừa phẫu thuật xong, chỗ bệnh biến không phát triển,
hơn nữa còn nhỏ hơn vết thương lúc phẫu thuật một chút, cơ bản vôi hóa rồi.
Bóng mờ ở phổi hoàn toàn biến mất. Cho bệnh nhân về nhà quan sát, một tháng sau
lại đến kiểm tra lại. Nghe được kết quả này, tâm trạng kích động của tôi khi
cầm phim không thể dùng ngôn ngữ để hình dung, nếu không gặp được pháp môn Đài
trưởng, thật không dám tưởng tượng sẽ là hậu quả gì, may mắn là chúng tôi đã
gặp được pháp môn của Đài trưởng, đây là phúc báo lớn nhất của chúng tôi, chúng
tôi nhất định phải trân trọng.
Hiện
nay chúng tôi mỗi ngày đều nghiêm túc làm bài tập, chồng tôi cũng đã thuộc lòng
Chú Đại Bi, Tâm Kinh, Chuẩn Đề Thần Chú. Việc đầu tiên mỗi ngày của tôi là niệm
ba biến Chú Đại Bi, một biến Lễ Phật Đại Sám Hối Văn cho Đài trưởng Lư, cầu Bồ
Tát phù hộ Đài trưởng sức khỏe dồi dào, cứu độ nhiều người hơn. Bây giờ mỗi
ngày tôi sống đều rất sung túc, 7 biến Chú Đại Bi, 7 biến Tâm Kinh, 7 biến Lễ
Phật Đại Sám Hối Văn, 21 biến Chuẩn Đề Thần Chú, còn kiên trì niệm Ngôi Nhà Nhỏ.
Đến nay, ba người chúng tôi đã niệm hơn 360 tấm Ngôi Nhà Nhỏ, diện mạo tinh
thần của chồng tôi rất tốt, khi hóa trị lần đầu anh ấy toàn thân lột một lớp
da, giống như thay đổi thành một người khác, tính khí cũng tốt hơn trước kia
nhiều. Pháp thân của Đài trưởng vẫn luôn giúp anh ấy, buổi sáng ngày 7 tháng 7
hôm đó, chồng tôi mơ một giấc mơ, nói: "Có người bảo anh niệm 'Kim tạp kim
tạp thắng kim tạp' anh chỉ nhớ câu này". Tôi vui vẻ nói với anh ấy, đây là
Giải Kết Chú, là pháp thân của Đài trưởng, bảo anh niệm Giải Kết Chú. Lại một
lần nữa chứng thực là pháp thân Phật sống của Đài trưởng đến cứu độ anh, giải oan
kết kiếp trước hoặc kiếp này của anh, từ ngày đó trở đi, anh ấy mỗi ngày niệm
21 biến Giải Kết Chú, bây giờ cũng thuộc lòng rồi.
Mỗi
người chúng ta kiếp này kiếp trước đều sẽ có rất nhiều tội nghiệt, đây là ai
cũng không thể thay thế, chỉ có tự mình gánh vác tất cả, tu hành cho tốt, niệm Kinh,
chân tâm sám hối cầu Bồ Tát phù hộ mới có thể tiêu trừ nghiệp chướng bản thân.
Chỉ cần đi theo Đài trưởng tu hành cho tốt, niệm Kinh, thì nhất định nhất định
sẽ nhận được phúc báo.
Cuối
cùng, tôi muốn nói với các vị đồng tu, tu pháp môn Đài trưởng đều là người có
phúc khí, xin hãy tin tưởng chỉ cần tu hành niệm Kinh cho tốt, cộng thêm Hứa
nguyện, Phóng sinh, Sám hối ba pháp bảo lớn này, nhất định sẽ có hiệu quả không
ngờ, thông qua việc hoằng pháp của chúng tôi, hiện tại có mấy người đang tu
pháp môn Đài trưởng, chúng tôi thường xuyên liên lạc, khích lệ lẫn nhau. Tôi sẽ
dùng ví dụ chân thực của nhà tôi hoằng dương Phật pháp, cứu độ nhiều người hữu
duyên hơn. Sau này tôi còn sẽ tiếp tục làm, lấy trải nghiệm bản thân, trường
hợp chân thực hoằng dương pháp môn Đài trưởng, để mọi người phá mê khai ngộ,
xây dựng lòng tin và quyết tâm, kiên định đi theo Đài trưởng tu tiếp.
Cảm
ơn Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát!!!
Cảm
ơn Nam Mô Đại Từ Đại Bi Đài trưởng Lư Quân Hoành!!!
Cảm
ơn nhân viên Ban Thư ký Đài Đông Phương!!!
Chú thích: Đài trưởng khai thị cho nhóm cộng tu Thiên Tân chúng
tôi, tôi và Đài trưởng đã thông điện thoại, tôi hỏi Đài trưởng chồng tôi còn
cần làm hóa trị nữa không? Đài trưởng nói không cần làm nữa, bất lợi cho cơ thể
bản thân anh ấy, sát hại tế bào tốt. Ngày 1 tháng 8 chúng tôi lại đến bệnh viện
làm kiểm tra lại, kết quả đại phu nói tình hình rất tốt, tạm thời không cần làm
hóa trị nữa, 2 tháng sau lại đến kiểm tra lại, Đài trưởng thật sự là Phật sống,
nói ngàn vạn lần chính xác.
Cảm
ơn Nam Mô Đại Từ Đại Bi Đài trưởng Lư Quân Hoành!!!
Cô Chu 26.7.2011
HẬU TỰA
Pháp
môn Đài trưởng Lư có thể trừ tất cả khổ, chân thực bất hư. Phàm là tín chúng
học tập pháp môn Đài trưởng Lư, phổ biến cảm nhận được Đài trưởng Lư dùng tâm
từ bi vô duyên đại từ để hoằng dương pháp môn của Quan Thế Âm Bồ Tát cứu độ
chúng sinh. Pháp môn Đài trưởng Lư là thần y lương dược cứu độ những bệnh nhân
bệnh hư (bệnh phần âm/bệnh do nghiệp) hóa giải oan kết, trả nợ nhiều đời nhiều
kiếp của chính mình, tiêu trừ nghiệp chướng nhiều đời nhiều kiếp của chính
mình, thoát khỏi bể khổ; là ngọn đèn chỉ đường cho những người tu hành học Phật
nhiều năm còn đang trong sương mù đến được bờ bên kia. Chỉ cần nghiêm túc dựa
theo chỉ đạo của Đài trưởng Lư đi tu Niệm kinh, Phóng sinh, Hứa nguyện, đều có
sự thụ ích và thể hội ở các mức độ khác nhau.
Tại
sao lại xuất hiện sự khác biệt về mức độ thụ ích? Chúng tôi cho rằng ngoài sự
khác biệt về gien cá thể của tín chúng ra, nguyên nhân chính là đa số người chỉ
chú ý học tập "phương pháp", mà không nắm bắt chân lý của "tu
tâm"; đặc biệt là đối với việc tịnh hóa "tam độc" Tham, Sân, Si
của bản thân chưa đủ, năng lượng bản thân không cao. Biện pháp giải quyết, chỉ
có bỏ công phu vào tu tâm, phải theo sát Đài trưởng Lư cùng tiến với thời đại,
học tốt Pháp môn Tâm Linh của Đài trưởng, kiếp này sống có hương có vị, tương
lai đi không vướng không bận.
Nếu
muốn tìm hiểu chi tiết hơn về tình hình Pháp môn Tâm Linh của Đài trưởng Lư,
vui lòng đăng nhập "Địa chỉ Blog của Đài trưởng Lư Quân Hoành"
http://lujunhong2or.com, tra cứu các bài viết "Bạch Thoại Phật Pháp",
"Huyền Nghệ Tổng Hợp", "Huyền Học Vấn Đáp", "Cảm Ngộ Thính
Giả", "Phản Hồi Cư Dân Mạng" v.v., nghe chương trình "Huyền
Nghệ Tổng Hợp" 3 tiếng mỗi tuần, chương trình "Huyền Nghệ Vấn
Đáp" 2 tiếng mỗi tuần, chương trình "Trực Thoại Trực Thuyết" nửa
tiếng mỗi tuần, chương trình "Bạch Thoại Phật Pháp" nửa tiếng mỗi
tuần do Đài trưởng Lư Quân Hoành của Đài Phát thanh Hoa ngữ Đông phương Úc châu
chủ trì và ghi âm các buổi giải đáp trực tiếp quy mô lớn.
Ở
đây cũng còn muốn nhắc nhở những người còn có chút nghi ngờ, hoài nghi đối với
Pháp môn Tâm Linh của Đài trưởng Lư, mau chóng tìm nguyên nhân từ bản thân,
buông bỏ nghi ngờ, hạ quyết tâm dựa theo khai thị của Đài trưởng Lư, tranh thủ
tu tâm, thời gian thực sự không đợi người đâu!
Thời gian chương trình Đài trưởng Lư (Giờ Sydney Úc):
- Huyền Nghệ Tổng Hợp (Xem Đồ đằng):
- Thứ Ba, Năm, Bảy hàng tuần 17:00 – 18:00
- Huyền Nghệ Vấn Đáp (Không xem Đồ đằng):
- Thứ Sáu hàng tuần 12:30 – 14:00
- Chủ Nhật hàng tuần 12:00 – 14:00
- Trực Thoại Trực Thuyết:
- Thứ Sáu hàng tuần 12:00 – 12:30
- Bạch Thoại Phật Pháp:
- Thứ Năm hàng tuần 17:00 – 17:15
Tháng 12 năm 2011 tại Sydney


