BẠCH THOẠI PHẬT PHÁP – QUYỂN 1
Tác giả: Lư
Quân Hoành
Xuất bản phát hành: Trung tâm Văn hóa Đài Phát thanh Hoa ngữ Phương Đông Úc
Châu
Bạch Thoại Phật Pháp (Tập 1)
Chủ giảng: Đài
trưởng Lư Quân Hoành
Ghi chép, sắp xếp và biên tập: Ban thư ký Đài Phát thanh Hoa ngữ Phương Đông Úc Châu
Quy hoạch: Ban
thư ký Đài Phát thanh Hoa ngữ Phương Đông Úc Châu
Hiệu đính: Ban
thư ký Đài Phát thanh Hoa ngữ Phương Đông Úc Châu
Biên tập mỹ thuật: Thẩm Vi Vi
Xuất bản: 2OR
Trung tâm Văn hóa Đài Phát thanh Hoa ngữ Phương Đông Úc Châu
Địa chỉ: 54
Meagher St, Chippendale Sydney, NSW 2008 Australia
Điện thoại: (+61-2)
9283 2758
Địa chỉ Blog của Đài trưởng Lư Quân Hoành:
Lần xuất bản: Bản in lần thứ 1, Tái bản lần thứ 3, tháng 11 năm 2011
Số hiệu ấn phẩm: AORP100103
Số lượng in: 20.000
– 30.000 cuốn
Ebook Google đọc trên điện thoại
LỜI
NÓI ĐẦU TÁI BẢN
Bộ
sách "Huyền Nghệ Tổng Thuật" của Đài trưởng Đài Phát thanh Hoa ngữ
Phương Đông Úc Châu Lư Quân Hoành, bao gồm các cuốn “Nhất Mệnh Nhị Vận
Tam Phong Thủy”, “Thiên Địa Nhân”, “Đồ Đằng Thế Giới” (Thế
giới Totem) do ông Lương Tiêu ghi chép và biên soạn; cùng với cuốn “Bạch
Thoại Phật Pháp” (Tập 1) do Đài trưởng Lư Quân Hoành chủ giảng, kể từ
khi xuất bản ra mắt đến nay, cùng với đường dây nóng của Đài Phương Đông, đã
tạo nên tiếng vang lớn tại nhiều nơi trên thế giới (như Úc, Trung Quốc, Nhật
Bản, Canada, Mỹ, Pháp, UAE, Guatemala, Đan Mạch, Malaysia, Đức...). Hàng chục
triệu tín chúng của Đài trưởng Lư đang theo học, một làn sóng "Pháp môn Lư
Đài trưởng" đang lặng lẽ lan tỏa khắp toàn cầu. Để đáp ứng nhu cầu của các
tín chúng, Đài Phương Đông quyết định tái bản in ấn bốn bộ sách này.
Chúng
tôi tiếp xúc với pháp môn của Đài trưởng Lư đã được gần một năm rưỡi. Theo thời
gian, làn sóng "Pháp môn Lư Đài trưởng" với chủ đề chính là hoằng
dương Phật pháp, nội dung phong phú, chỉ điểm bến mê, tế thế cứu dân đã hình
thành khắp nơi trên thế giới. Đài trưởng Lư được các tín chúng xưng tụng là hóa
thân của Quan Thế Âm Bồ Tát, là Quan Thế Âm Bồ Tát sống đang trụ thế. Hiện nay,
phàm là những người nghiêm túc làm theo sự chỉ dẫn của Đài trưởng Lư đều đã
nhận được những lợi ích và sự cảm thụ to lớn.
Pháp
môn của Đài trưởng Lư là phương thuốc thần hiệu cứu độ những người mắc bệnh
phần âm (bệnh hư), hóa giải oan kết, trả nợ từ nhiều đời nhiều kiếp, tiêu trừ
nghiệp chướng từ nhiều đời nhiều kiếp, thoát khỏi biển khổ; là ngọn đèn chỉ
đường đến bến bờ giác ngộ cho những người tu hành học Phật nhiều năm mà vẫn còn
đang lạc trong sương mù.
Hy
vọng các vị bằng hữu có duyên tiếp xúc với pháp môn này hãy nắm bắt thời gian!
Hãy học tập thật tốt theo Đài trưởng Lư. Nếu bạn muốn thành tựu trong đời này
hoặc muốn có được sức khỏe, hạnh phúc, thiện chung ngay trong hiện tại, hãy
tranh thủ thời gian đi theo Đài trưởng Lư để học tập!
Sở
dĩ pháp môn của Đài trưởng Lư có thể đi sâu vào lòng người, cứu độ chúng sinh,
là nhờ vào lòng từ bi của Quan Thế Âm Bồ Tát và tình thương bao la (vô duyên
đại từ) của Đài trưởng Lư. Hiện nay cả thế giới đều biết Đài trưởng Lư cứu
người mà không thu tiền, bởi vì điều này liên quan đến vấn đề hoằng pháp lâu
dài về sau, trừ khi tín chúng tự nguyện quyên góp. Vì danh dự của Đài trưởng và
việc hoằng pháp trong tương lai, các ấn phẩm của pháp môn Lư Đài trưởng
như “Nhất Mệnh Nhị Vận Tam Phong Thủy”, “Thiên Địa Nhân”, “Bạch
Thoại Phật Pháp”, “Đồ Đằng Thế Giới”... đều hoàn toàn miễn phí
kết duyên, xin mọi người cùng nhau giám sát. Nếu có tín chúng nào tự nguyện
phát tâm quyên góp làm công đức, xin vui lòng liên hệ trực tiếp với Ban thư ký
Đài Phương Đông, số điện thoại liên hệ: 0061292832758.
Xin các bạn hữu muốn học tập lưu ý những điểm sau:
- Khi làm chương trình, Đài trưởng đặc biệt nhấn mạnh
nhất định phải phát nguyện, phải tri ân Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu
Nạn Quảng Đại Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ Tát đã cứu độ chúng ta. Khi chúng ta
tiêu tai giải nạn, khi chúng ta nhận được lợi ích, chúng ta phải phát
nguyện tri ân Quan Thế Âm Bồ Tát, tri ân Đài trưởng Lư đã cứu độ chúng
sinh hữu duyên. Nên chia sẻ pháp môn mà bạn đã thụ hưởng lợi ích này cho
những chúng sinh hữu duyên khác, để cứu độ được nhiều người hơn (khi giúp
đỡ người khác phải tùy duyên, không được phan duyên - cưỡng cầu).
- Đài trưởng cứu người quên cả tính mạng, mỗi lần mở xong
Pháp hội hầu như đều kiệt sức ngã quỵ, mỗi lần xem Đồ đằng xong ngồi trong
văn phòng đều mất rất lâu mới hồi phục tinh thần. Chúng tôi kiến nghị các
vị tín chúng: Mỗi ngày khi làm bài khóa (công phu tu tập), trước tiên hãy
niệm 3 biến “Đại Bi Chú” cho Đài trưởng Lư, cầu xin Đại
Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát gia tăng năng lượng cho Đài trưởng Lư, phù hộ
cho Đài trưởng Lư thân thể khỏe mạnh. Nếu còn có thể dành thêm thời gian,
kiến nghị niệm thêm cho Đài trưởng Lư một biến “Lễ Phật Đại Sám
Hối Văn”, cầu xin Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát giúp Đài trưởng Lư
tiêu trừ nghiệp chướng, thân thể khỏe mạnh, để Đài trưởng Lư cứu độ thêm
nhiều chúng sinh khổ nạn.
- Hiện nay rất nhiều tín chúng đã tự giác làm như vậy,
điều này vô cùng có công đức, Quan Thế Âm Bồ Tát và Đài trưởng Lư đều
biết, hy vọng mọi người tiếp tục kiên trì! Đồng thời cũng hy vọng những
tín chúng chưa làm như vậy hãy mau chóng hành động. Cần biết rằng, khi bạn
cống hiến, Quan Thế Âm Bồ Tát và Đài trưởng Lư sẽ gia trì cho bạn bất cứ
lúc nào.
- Chúng tôi kêu gọi mọi người hãy viết ra những trường
hợp, cảm nhận khi học tập pháp môn Lư Đài trưởng, Ban thư ký Đài Phương
Đông sẽ đăng lên Blog của Đài trưởng Lư để mọi người cùng chia sẻ, gia
tăng niềm tin đối với pháp môn Tịnh Độ (Tâm Linh Pháp Môn) cho những bạn
hữu xem Blog. (Đài trưởng Lư cực lực khởi xướng cách làm này, đây là cách
làm "Pháp bố thí" không tốn tiền mà công đức vô lượng!)
- Đặc biệt lưu ý: Khi
chúng ta gửi email cho Đài trưởng Lư mà chưa thấy hồi âm hoặc chưa gọi
thông điện thoại, chúng ta càng nên đọc nhiều sách, bài viết trên Blog và
nghe ghi âm của Đài trưởng. Đôi khi việc Đài trưởng giải đáp thắc mắc của
người khác cũng chính là câu hỏi mà chúng ta muốn hỏi, như vậy có thể giải
quyết vấn đề của chính mình nhanh hơn.
- Nếu muốn tìm hiểu chi tiết hơn về tình hình pháp môn Lư
Đài trưởng, vui lòng truy cập "Blog của Đài trưởng Lư Quân Hoành –
Đài Phương Đông":
- http://lujunhong2or.com/
- Tra cứu các bài viết “Bạch Thoại Phật Pháp”, “Huyền Nghệ Tổng Thuật”, “Huyền Học Vấn Đáp”, “Cảm ngộ thính giả”, “Phản hồi của cư dân mạng”... nghe các chương trình do Đài trưởng Lư Quân Hoành của Đài Phát thanh Hoa ngữ Phương Đông Úc Châu chủ trì như: chương trình “Huyền Nghệ Tổng Thuật” 3 tiếng hàng tuần, chương trình “Huyền Nghệ Vấn Đáp” 2 tiếng hàng tuần, chương trình “Trực Thoại Trực Thuyết” nửa tiếng hàng tuần, chương trình “Bạch Thoại Phật Pháp” nửa tiếng hàng tuần cùng các bản ghi âm buổi giải đáp trực tiếp quy mô lớn.
LỜI TỰA
Các
bài viết trong “Bạch Thoại Phật Pháp” đều được Sư phụ của
chúng tôi là Đài trưởng Lư Quân Hoành thuyết giảng tại Quan Âm Đường thuộc Đài
Phát thanh Hoa ngữ Phương Đông Úc Châu và khai thị cho các đệ tử, sau đó được
sắp xếp lại dựa trên các bản ghi âm và ghi chép. Sư phụ dùng ngôn ngữ đời sống
để giảng giải Phật pháp cao thâm, vừa giải thích từ triết lý nhân sinh, vừa
dùng những ví dụ dễ hiểu trong cuộc sống thường ngày, giúp người đọc qua Bạch
Thoại Phật Pháp mà lĩnh hội được những lý luận Phật học thâm sâu ở
tầng bậc cao. Sư phụ dùng phương tiện trí, nói pháp phương tiện, dẫn dắt các đệ
tử phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui, rốt ráo giải thoát.
Sư
phụ dạy chúng tôi làm thế nào để học Phật, làm thế nào để tu tâm, làm thế nào
để tu hành, làm thế nào để tu sửa những thói hư tật xấu (vô minh tập khí) trên
thân mình, và tại sao phải trì giới thủ pháp... tất cả là để khơi dậy Phật tính
trong chúng sinh, khai mở trí tuệ, nâng cao sự giác ngộ, sửa đổi những hành vi
sai lầm, thay đổi vận mệnh của chúng ta, để thế giới tràn ngập tình yêu thương
từ bi của Quan Thế Âm Bồ Tát. Sư phụ còn dạy các đệ tử cách vận dụng lý luận
Phật pháp trong cuộc sống hàng ngày để giải quyết các vấn đề khác nhau mà bản
thân gặp phải trong sinh hoạt, học tập, sức khỏe, công việc... Làm thế nào vận
dụng từ bi và trí tuệ của Phật Bồ Tát để chúng ta được tiêu tai cát tường, sống
cuộc sống thanh tịnh an vui trong xã hội hiện đại.
Các
bài viết trong cuốn “Bạch Thoại Phật Pháp” này, Sư phụ với trí
tuệ viên dung của Bồ Tát, dùng ngôn ngữ giản dị dễ hiểu, trình bày sâu sắc định
luật Nhân Quả của nhân gian và tinh túy của Phật pháp. Sau khi các bài viết
được đăng tải, đã khiến hàng vạn chúng sinh hữu duyên như tỉnh cơn mộng, thức
tỉnh chúng sinh bước lên con đường lớn học Phật tu tâm tu hành để thay đổi vận
mệnh, và nhận được sự chào đón nồng nhiệt của các nhân sĩ thuộc mọi tầng lớp
trên toàn thế giới. Để nhiều người học Phật lương thiện hơn nữa được thụ hưởng
lợi ích, nay chúng tôi sắp xếp lại và in ấn xuất bản, lưu thông miễn phí, kết
duyên rộng rãi với chúng sinh.
Các đệ tử tại Sydney
Tháng 9 năm 2010
I.
GIẢNG GIẢI
PHẬT PHÁP BẰNG NGÔN NGỮ ĐỜI THƯỜNG
1. Học tập trí tuệ viên dung của Phật pháp
Trước
tiên, tôi muốn nói với mọi người rằng, giáo dục Phật pháp chính là để khôi phục
lại trí tuệ và đức năng vốn có của chúng ta. Mọi người cần biết, tu hành không
phải là một việc đơn giản. Cần phải dùng chân tâm (tâm chân thật) và hành vi
của chính mình để tu, phải học cách tu sửa để loại bỏ những tập khí vô minh
trên thân mình, đừng để những thói quen xấu đó lưu lại trong tâm và ở lại nhân
gian. Phải học cách đấu tranh với lòng tư lợi, loại bỏ những tạp niệm ích kỷ,
phải tu sửa những suy nghĩ, lời nói, cách nhìn và cách làm sai lầm của bản thân
đối với vũ trụ và nhân sinh. Tu tâm là phải tu tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh
quan trọng hơn bất cứ điều gì. Khi tâm thanh tịnh rồi, tất cả vọng niệm, chấp
trước, tà tri, tà niệm đều sẽ bị phá trừ. Tâm thanh tịnh có thể sinh trí tuệ.
Tâm thanh tịnh thì thân sẽ thanh tịnh. Thân tâm thanh tịnh, cảnh giới của con
người sẽ thanh tịnh.
Nhân nhân bình đẳng (Mọi người đều bình đẳng): Sự bình đẳng này được xây dựng trên cơ
sở nào là điều vô cùng quan trọng. Trên thế giới này không có sự bình đẳng
tuyệt đối. Nhìn từ bề ngoài thì rất khó để mọi người đều bình đẳng. Thực ra, sự
bình đẳng này được xây dựng trên nền tảng của tâm linh nguyên thủy, phải dùng
cái tâm để cân bằng. Tâm bình đẳng cần dùng tâm lý hậu thiên để điều chỉnh và
bù đắp, phải học cách dùng trí tuệ để hóa giải những chướng ngại tâm lý. Ví dụ:
Lớn thì như xã hội, có người rất may mắn, nhưng có người lại rất thê thảm,
nghèo khó cùng cực. Nhỏ thì như gia đình, trong một nhà, người chồng và người
vợ bỏ công sức ít hay nhiều, thực ra đều là sự thử thách đối với tâm bình đẳng.
Hiếu thân tôn sư (Hiếu thuận cha mẹ, tôn trọng thầy): Tại sao lại đặt việc hiếu thuận cha mẹ
và tôn trọng thầy cùng nhau? "Một ngày là thầy, cả đời là cha". Các
bạn đều phải hiểu đạo lý này. Tại sao lại đặt "Thân" (người thân/cha
mẹ) và "Sư" (thầy) cùng nhau? Các bạn cần biết rằng người Thầy phải
dùng tinh thần và linh hồn của mình để trông nom các bạn, dùng khí trường (năng
lượng) của mình để giúp đỡ và bảo vệ mọi người, đây thực sự là một việc không
hề dễ dàng. Có những việc ngay cả cha mẹ ruột cũng không làm được, nhưng Sư phụ
làm được. Tuy cha mẹ có công nuôi dưỡng chúng ta, nhưng Sư phụ là người dẫn dắt
chúng ta bước lên con đường Phật đạo, cứu độ linh hồn và cuộc đời của chúng ta.
Nhiều người mắc bệnh phần âm (bệnh do linh tính), cha mẹ ruột chưa chắc đã cứu
được, nhưng Sư phụ có thể cứu, cũng giống như Quan Thế Âm Bồ Tát cứu độ chúng
sinh vậy. Chữ "Sư" ở đây không chỉ chỉ riêng Sư phụ tôi là Lư Quân
Hoành, mà chỉ tất cả các vị Phật Bồ Tát dẫn dắt chúng ta đi theo con đường
chính đạo.
"Hiếu
kính" là tính đức (đức tính vốn có), chỉ có tính đức mới có thể khai mở tự
tính của chúng ta. "Sư đạo" (đạo làm thầy/đạo tôn sư) là sự giáo dục
của Phật đà, "Sư đạo" được xây dựng trên nền tảng của "Hiếu
đạo". Không có "Hiếu đạo" thì không thể nói đến "Sư
đạo". Mọi người đều phải tôn sư trọng đạo, chỉ có tôn sư trọng đạo mới có
thể thành tựu đạo nghiệp.
Kiến hòa đồng giải: Chính là xây dựng nhận thức chung. Giữa người với người
phải dùng chân tâm để đối đãi, đừng dùng vọng tâm, bởi vì vọng tâm của con
người là biến hóa vô thường. Chỉ khi khởi dùng chân tâm, mới có thể "kiến
hòa đồng giải" (ý kiến hòa hợp, hiểu biết như nhau), trong chân tâm không
có vọng niệm. Phải học cách buông bỏ tất cả những phân biệt chấp trước của bản
thân. Ví dụ: Hôm nay có hai đệ tử trong lúc nói chuyện có quan điểm không giống
nhau, ý kiến bất đồng, vậy làm thế nào để thực hiện "kiến hòa đồng
giải"? Phải dùng trí tuệ của Bồ Tát để hóa giải sự bất đồng. Nếu các bạn
học tốt điểm này, thì dù đi đến đâu cũng có thể hóa giải những mâu thuẫn khác
nhau. Đây là một học vấn rất sâu sắc. Thực ra, chính là để đạt được sự đồng
thuận. Khi bạn gặp sự việc, có được sự đồng thuận thì mới thực hiện được sự hòa
giải. Ở đây cần nhấn mạnh một chút: "Giải" (Hóa giải) không phải là
bảo các bạn tự kìm nén bản thân, bất cứ sự tức giận nào cũng đừng kìm nén, mà
phải học cách hóa giải nó đi.
Hóa
giải là cảnh giới cao nhất, chứ không phải là khắc chế hay kìm nén. Trung Quốc
có một chữ gọi là "Nhẫn", tức là chuyện gì cũng phải nhẫn nhịn. Thực
ra, nhẫn nại là tạm thời, nhẫn không phải là cảnh giới cao nhất. Mọi người đều đã
xem phim "Ninja Rùa" (Ninja Turtles), chữ "Nhẫn" (忍) cấu tạo bởi bộ Đao (con dao) ở trên bộ Tâm
(trái tim), nhẫn đến cuối cùng tức là đặt một con dao ở trên tim, sẽ có một
ngày dùng con dao đó làm trái tim tan nát. Khi các bạn có ý kiến bất đồng, phải
học cách làm sao để hóa giải, trước tiên có thể nói ra quan điểm, sau đó dùng
trí tuệ để hóa giải mâu thuẫn.
Bây
giờ giải thích cho mọi người chữ "Hòa" trong "Hòa vi quý"
(Hòa là quý). Chữ "Hòa" ai cũng biết là "Hòa bình/Ôn hòa".
"Hòa" tức là nói tất cả mọi thứ đều phải lấy "Hòa" làm điểm
xuất phát. Nhiều người không biết, cứ tưởng chữ "Hòa" chỉ là tôi và
bạn chung sống hài hòa, chung sống hòa bình v.v. Nếu bạn có một điểm xuất phát
thật tốt để giải quyết vấn đề, thì việc gì cũng có thể giải quyết dễ dàng, cho
nên điểm xuất phát là rất trân quý. Chỉ có "Hòa" mới có thể dần dần
kéo gần tư tưởng, kiến giải và lối sống của chúng ta lại với nhau.
Phật pháp nan văn (Phật pháp khó nghe được): Cũng có thể nói là Lương sư nan ngộ
(Thầy giỏi khó gặp), Chính pháp nan văn (Chính pháp khó nghe được). Trong thời
kỳ Mạt pháp này, nhiều người đi khắp nơi lạy Bồ Tát, thắp hương hoặc bái sư.
Các bạn có biết ở Trung Quốc hiện nay có bao nhiêu người tin Phật không? Nhưng
có bao nhiêu người thực sự biết niệm kinh? Các bạn biết đấy, rất nhiều người
đều nói mình lạy Bồ Tát, tôi tin tưởng v.v. Trước đây các bạn đều đã nghe Sư
phụ giảng, lạy Phật mà không niệm kinh (nói nghiêm trọng một chút) thì cũng
bằng như không lạy Phật. Ngay cả danh hiệu của Bồ Tát cũng không biết, cái gì
cũng không hiểu, thì làm sao có thể nhận được sự giúp đỡ của Bồ Tát? Tôi thường
lấy một ví dụ cho mọi người: Tôi rất thích và sùng bái ngôi trường này, nhưng
bản thân không học tập cũng không đọc sách, thì làm sao thi đậu vào đại học
được? Cho nên phải hiểu đạo lý này.
Phật pháp nan văn: Trong thời kỳ Mạt pháp, bạn muốn nhận được chân lý của Bồ
Tát, có thể nhận được sự phù hộ của Quan Thế Âm Bồ Tát, thì cần phải tìm được
Phật pháp chân chính. Hiện nay học Bồ Tát thì khó, học Phật càng khó hơn. Bồ
Tát là một chữ "Ngộ", là trí tuệ; còn Phật là "Giác ngộ",
là đại triệt đại ngộ. Khi bạn khai ngộ rồi, đắc được Chính đẳng Chính giác, bạn
chính là Bồ Tát. Muốn thành Phật thì phải chứng được Vô thượng Chính đẳng Chính
giác.
Nhiều
người cứ tưởng mình dập đầu vài cái, đọc một chút sách là đã nghe được Phật
pháp. Xin hỏi bạn xem sách loại gì? Nghe được pháp loại gì? Phải hiểu rõ đạo lý
trong đó. Tôi thường giảng cho mọi người, khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni truyền
pháp tại Ấn Độ, Ngài thường dẫn các đệ tử theo bên mình, để mỗi người học Phật
cầm một cái bình bát, tức là cái tô, bảo họ đi gõ cửa từng nhà khất thực, để
nuôi dưỡng tâm Phật. Nguyên lý là: Thứ nhất, để người tại gia có thể bố thí,
phát tâm từ bi. Vừa gõ cửa, ồ! Hòa thượng đến rồi, A Di Đà Phật, đem đồ cúng
dường cho hòa thượng, cái này gọi là nuôi dưỡng tâm bố thí. Thứ hai, những
người làm hòa thượng rất nhiều người vốn là hoàng thân quốc thích, thương nhân.
Nghĩ thông rồi xuống tóc khoác áo cà sa, Phật tổ chính là đang nuôi dưỡng tâm
từ bi của họ, để họ buông bỏ cái "tôi", buông bỏ tâm ngạo mạn, để họ
cảm thấy mình chỉ là một người bình thường, bình đẳng như chúng sinh. Bây giờ
các bạn còn nhìn thấy hòa thượng ở chùa nào cùng nhau đi khất thực ngoài đường
không? Đừng cho rằng trước đây vị Lão pháp sư nào đó giảng thế này, vị tu hành
lâu năm nào đó tu thế kia, nên chúng ta phải đi theo con đường của họ. Thực ra
tu hành là phải tìm thấy cái "chân ngã" (cái tôi thật sự) và Phật
tính.
Việc
tu tâm hiện nay cần phải có sự thay đổi, cần biết rằng cái thay đổi không phải
là Phật pháp mà là phương pháp. Sự tu vi ở nhân gian cần phải dùng tâm để tu.
Trong thời kỳ Mạt pháp phải học Đại thừa Phật pháp – Cứu người. Trong lúc cứu
người bạn mới có thể đắc được trí tuệ chân chính, mới có thể đắc được sức mạnh
chân chính. Tại sao Sư phụ sau khi khai thiên nhãn trong thời gian ngắn như vậy
lại cứu được nhiều người thế? Lại có được sức mạnh lớn như thế? Những thứ này
đều là do tu mà ra, là do Quan Thế Âm Bồ Tát ban cho. Bạn chỉ cần chăm chỉ đi
độ người, đi cứu người, đem chính đạo, chính pháp này truyền cho mọi người, Bồ
Tát sẽ gia tăng năng lượng gấp bội cho bạn, phải hiểu những đạo lý này. Trong
thời kỳ Mạt pháp, Quan Thế Âm Bồ Tát sẽ hóa thân thành đủ các hình dáng con
người để cứu mọi người. Hiện tại Sư phụ cũng là đang cứu mỗi một vị thính giả,
để mỗi người đều niệm kinh, khiến mỗi gia đình đều chuyển biến tốt đẹp, cứu
người hoằng pháp lợi sinh.
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác: Chính là Phật Bồ Tát. Pháp môn mà Sư phụ
đang dạy các bạn bây giờ, chính là để học Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,
chính là đến từ nơi Phật Bồ Tát, là cảnh giới cao nhất của sự tu vi. Quan Thế
Âm Bồ Tát thường xuyên nói chuyện trên thân tôi, dạy tôi làm thế nào để cứu
người trên đài phát thanh. Các bạn biết đấy, hiện nay nhiều pháp môn đều đang
truyền bí mật (ám truyền). Bây giờ tôi muốn khai mở trí tuệ cho mỗi người các
bạn, để mọi người biết Quan Thế Âm Bồ Tát tế thế cứu người như thế nào. Giả sử,
một hòn đảo nhỏ bị lũ lụt, máy bay đến, tàu sân bay đến, liệu họ chỉ cứu vài
người thôi sao? Hay là phải cứu tất cả mọi người lên? Tuy nhiên, trong lúc cứu
tất cả mọi người sẽ gặp phải rất nhiều vấn đề, ví dụ như có những người già yếu
bệnh tật lúc bước lên tàu sân bay không cẩn thận rơi xuống nước, có người có
thể bị tái phát bệnh tim v.v., những người này đều thuộc dạng rất đáng thương,
không có duyên phận, giống như những người không nghe được Phật pháp vậy. Cứu
người chân chính là phải hướng đến tất cả mọi người, cứu người chân chính là
phải thông qua sự truyền dạy của Phật pháp. Mọi người thử nghĩ xem những vị Đại
pháp sư kia có cứu người một cách lén lút không? Họ đang quang minh chính đại
phổ độ chúng sinh.
Cho
nên phải nhớ kỹ thế nào là " Chánh "? Chữ "Chánh (Chính)" (正) là do Âm Dương Ngũ Hành hòa hợp mà thành.
Bây giờ tôi giảng cho mọi người về chữ "Chánh" này. Nét ngang ở trên
là "Kim", nét ngang ở dưới là "Thủy", nét sổ ở giữa là
"Mộc", nét sổ bên trái là "Hỏa", nét ngang bên phải là
"Thổ". Cho nên Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chân chính, cũng chính
là trí tuệ cứu cánh viên mãn, chính là dạy các bạn làm thế nào tìm được một con
đường chân chính.
Các
bạn phải nhớ, trong thời kỳ Mạt pháp, những thứ "Chánh" nhất định là
những thứ chịu được sự thử thách, trăm lần thử trăm lần linh nghiệm, cho nên
nhất định phải hoằng dương Phật pháp. Nếu bạn có năng lượng này để tiếp nhận,
thì sẽ có thể hiểu được những Phật pháp này. Không có năng lượng thì không thể
hiểu được, cho dù có truyền bí mật cho bạn cũng vô dụng. Công lực không giống
nhau, tiền kiếp tu hành cũng không giống nhau, cho nên năng lượng tiếp nhận cũng
sẽ không giống nhau. Phải tìm được một con đường "Chính" nhất, thiết
thực nhất, có thể giúp mình giải quyết vấn đề nhất trong thời kỳ Mạt pháp. Nếu
một người trong thời kỳ Mạt pháp mà còn không để Quan Thế Âm Bồ Tát đến bảo vệ
mình, cứu mình, không để vận mệnh của mình chuyển tốt, thì chỉ có thể nói người
này – rất đáng thương.
Trí tuệ cứu cánh viên mãn: Chính là đối với chân tướng của vũ trụ và nhân sinh không
còn một chút mê hoặc nào. Nói thực tế một chút, nếu chúng ta có thể tư duy,
quan sát một cách rất bình tĩnh, sau đó có thể hóa giải vấn đề một cách viên
mãn, đó chính là trí tuệ viên mãn. Trí tuệ không viên mãn thì tỷ lệ thành công
chỉ là một nửa, trí tuệ viên mãn rồi thì làm việc gì cũng có thể thành công.
Phải
nhớ kỹ, bất luận là đối với con cái hay đối với người lớn tuổi, nếu bạn hiếu
thuận với bậc trưởng bối, kính già yêu trẻ, tương lai con cái bạn cũng sẽ hiếu
thuận với bạn, đây gọi là báo ứng. Đây gọi là báo ứng nhân gian. Rất nhiều
người tưởng rằng báo ứng là sau khi chết mới có, thực ra khi còn sống thì
"hiện thế báo" (quả báo ngay đời này) đã bắt đầu rồi. Các bạn nhìn
xem những người nằm ăn xin bên vệ đường, dáng vẻ bẩn thỉu trên người họ, đây
chẳng phải là hiện thế báo sao? Không gọi là báo ứng sao? Các bạn cần biết hiện
thế báo rất nhanh, như bóng với hình, bất cứ việc gì làm quá trớn đều sẽ xuất
hiện hiện thế báo. Nếu làm việc xấu trong giới hạn thì là "hạ thế
báo" (báo ứng kiếp sau), nếu làm việc xấu vượt quá giới hạn này thì sẽ lập
tức chịu quả báo. Cho nên, làm bất cứ việc gì cũng không được vượt quá giới
hạn, nếu không sẽ có tai họa.
Có
những người tu tâm, tâm rất thành, lương tâm rất tốt, đến chùa nào cũng lạy Bồ
Tát. Nếu đời này không tìm được một vị Sư phụ tốt, không tìm được mục tiêu, thì
cũng chỉ có thể là một người tin Phật. Ví dụ: Ngày nào cũng lạy Quan Thế Âm Bồ
Tát, nhưng không có nhận thức đúng đắn về Quan Thế Âm Bồ Tát, không biết làm
thế nào học tập trí tuệ của Quan Thế Âm Bồ Tát, tiếp nhận khí trường của Quan
Thế Âm Bồ Tát để tu luyện bản thân, mà bản thân ngày ngày chịu khổ chịu nạn ở
nhân gian, lại mãi mãi không hiểu vì sao lại như vậy. Còn có nhiều người tai
họa đến nơi mới biết lạy Phật, "nước đến chân mới nhảy". Nếu không
tìm được một vị Sư phụ tốt, không tìm được một mục tiêu chính xác, thì làm sao
có thể giải quyết được những vấn đề mà bản thân đang đối mặt trong đời này?
Tu,
thì phải phước huệ song tu. Làm việc thiện là tu phước, "huệ" chính
là trí tuệ, trí tuệ không phải người bình thường có thể tu thành, đây là vấn đề
quan trọng nhất, có trí tuệ rồi thì vấn đề gì cũng có thể giải quyết. Muốn khai
trí tuệ chỉ có niệm kinh làm công đức. Chỉ có "Giới" mới có thể đắc
"Định", định rồi mới có thể khai "Tuệ", nhất định phải thân
tâm an định. Cho nên nói: Nhân Giới đắc Định, nhân Định khai Tuệ. Phật giáo có
Ngũ giới: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ (nói
dối), không uống rượu. Đừng tưởng người học Phật mới thọ Ngũ giới, làm một
người bình thường cũng không được tùy tiện sát sinh bừa bãi, tà dâm bừa bãi, đi
trộm cắp v.v. Hy vọng các bạn có thể minh bạch và thể ngộ đạo lý trong đó. Tại
sao Phật Bồ Tát không chủ trương uống rượu? Vì uống rượu sẽ gây ra tổn thương
rất lớn cho con người, sẽ khiến con người mất đi lý trí, đầu óc không tỉnh táo,
sẽ khiến ý chí con người tiêu trầm. Nhiều cơ quan chính phủ đều có dán thông
báo: Uống rượu gây họa là phạm tội. Điều này chứng tỏ Phật pháp chính là Chính
pháp. Tại sao Phật pháp có thể đi sâu vào lòng người, có thể khiến người ta
thấu hiểu, bởi vì những thứ "Chính" mới có thể nhận được sự ủng hộ và
yêu mến của đại chúng.
Phá mê khai ngộ: Mê là gì? Danh, lợi, tửu, sắc, tài, khí, tham, sân, si.
Nếu một người tham, dục vọng của anh ta vĩnh viễn không thỏa mãn, tham đến cuối
cùng chính là đọa xuống ngạ quỷ đạo (cõi quỷ đói). Tham ái là nguồn gốc của mọi
tội ác. Tham không được thì sẽ sinh tâm sân hận, khởi phiền não, cuối cùng sẽ
đọa vào địa ngục. Nếu một người rất ngu si chỉ biết kiếm tiền hoặc hại người,
không biết giúp đỡ người khác, tương lai sẽ đầu thai làm súc sinh. Súc sinh
chấp trước vào hình tướng của mình, cứ mãi luân hồi trong súc sinh đạo. Ngu si
chính là không có trí tuệ. Những gì tôi giảng cho các bạn đều là Chính pháp,
Chính đạo, Chính tín, Chính niệm và Chính thời, để các bạn phá mê khai ngộ, học
cách rời xa khổ nạn của chính mình, tìm thấy niềm vui chân chính của mình.
Cảm ngộ xuất phát từ nội tâm của đệ tử: Lương sư nan ngộ (Thầy giỏi khó gặp),
hôm nay chúng con gặp được Sư phụ Lư Quân Hoành là đại phước báo đời này của
chúng con, cũng là thiện căn, phước đức từ nhiều đời nhiều kiếp, nhân duyên
chín muồi, vô cùng khó được. Đây là cơ duyên. Chúng con phải trân trọng mối
duyên này, tu hành thật tốt, học tập tâm đại từ đại bi vô lượng của Sư phụ,
đoạn phiền não, phát Bồ đề tâm, phá một phẩm vô minh, chứng một phần pháp thân,
theo Sư phụ hoằng dương Phật pháp, phổ độ chúng sinh, người người pháp hỷ sung
mãn, ai ai cũng đắc được thành tựu chân chính, công đức viên mãn.
2. Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành
Mọi
người nhất định phải nhớ kỹ, bất luận làm việc gì cũng phải như đi trên băng
mỏng, lời không được nói lung tung, việc không được làm bừa bãi, phải biết dùng
trí tuệ của mình để cân nhắc hành vi mình làm, không phải bạn muốn làm gì thì
làm. Hiện nay là thời kỳ Mạt pháp, rất nhiều người khoác áo Phật pháp ra làm
việc, rất nhiều người tưởng mình học rất khá, học Phật ngoài xã hội đã nhiều
năm rồi, nhưng hiệu quả thế nào? Cho nên, hóa thân hoặc sứ giả của Bồ Tát chân
chính đều là dùng Phật pháp để cứu người, lấy từ bi làm gốc. Hơn nữa trên thân
nhất định có Hộ pháp thần.
Thực
ra có một số kinh văn rất tốt, nhưng theo sự thay đổi của thiên thời, phương
pháp học tập kinh văn cũng đang thay đổi. Đây tuyệt đối là sự thật. Chỉ cần là
thứ "Chánh" thì sẽ được phổ biến và tiếp nhận, chỉ cần là thứ
"Chánh" thì Bồ Tát đều sẽ phù hộ. Hãy nhớ, tu hành nhất định phải
hiểu về Chánh kiến, Chánh tín, Chánh tư duy, Chánh niệm, Chánh định, từ trong
đó nhất định có thể đắc được trí tuệ Bát Nhã.
Địa
Tạng Vương Bồ Tát trong "Kinh Bản Nguyện" có một câu: "Thị
Diêm Phù Đề, hành thiện chi nhân, lâm mạng chung thời, diệc hữu bách thiên ác
đạo quỷ thần, hoặc biến tác phụ mẫu, nãi chí chư quyến thuộc, dẫn tiếp vong
nhân, lệnh lạc ác đạo, hà huống bản tạo ác giả." Nghĩa là chúng
sinh ở cõi Diêm Phù Đề này, những người làm thiện, tức là người làm đại thiện
trong đời, làm rất nhiều việc thiện lương, đến lúc sắp mất cũng sẽ có trăm ngàn
quỷ thần ở ác đạo, hoặc biến thành cha mẹ, hay là người thân quyến thuộc, dẫn
dắt người chết, khiến cho rơi vào ác đạo, huống chi là người vốn tạo nghiệp ác.
Một
người sắp chết rất đáng sợ và cũng rất khó chịu, tại sao? Bởi vì, họ có thể
nhìn thấy những thứ mà khi sống các bạn không nhìn thấy. Họ nhìn thấy bao nhiêu
quỷ thần đều đang đòi nợ họ, cho nên cảm thấy rất đau khổ, rất khó chịu, cũng
chỉ đành mặc người ta sắp đặt. "Dẫn tiếp vong nhân" (dẫn dắt người
chết) chính là nói cha mẹ hoặc thân bằng quyến thuộc những đời trước của bạn
đến đón bạn về cõi ngạ quỷ. Trên thực tế là trăm ngàn quỷ thần ác đạo biến hiện
ra để đón bạn. Kết cục của người làm người tốt, người thiện còn như vậy, huống
chi là người làm việc xấu, việc ác. Cho nên nói: Chư ác mạc tác, chúng thiện
phụng hành, tự tịnh kỳ ý (Không làm các việc ác, làm tất cả việc thiện, tự làm
trong sạch ý mình). Kinh Kim Cang nói "Tu nhất thiết thiện, ly nhất thiết
tướng" (Tu tất cả thiện, lìa tất cả tướng). Lìa tất cả tướng, chính là
phải rời xa thứ mà bạn thích nhất, không phải là rời xa từ bề ngoài, mà là rời
xa từ trong tâm. Bề ngoài bạn có thể quan tâm, nhưng nội tâm phải học cách
buông xả. Ví dụ: Bạn rất thích đứa con này, nhưng trong lòng phải buông nó ra.
Con lớn rồi có thể tự lập ra ngoài làm việc, sinh sống. Tuy nhiên trên hành vi
bạn vẫn phải quan tâm, giúp đỡ con. Nhưng trong lòng, đợi đến lúc con muốn rời
xa bạn, bạn phải buông nó ra. Cái đáng sợ là trong lòng "chấp tướng"
(dính mắc vào hình tướng), chứ không phải vật chất chấp tướng, điểm này rất
quan trọng.
Sinh
mạng chỉ trong hơi thở, một hơi thở không lên được là đi rồi, lúc đi thì danh
lợi gì cũng không mang theo được, vạn thứ đều không mang đi được, chỉ có nghiệp
tùy thân. Hơn nữa, tất cả nghiệp đã tạo trên đời sẽ bị mang đi toàn bộ không
sai một ly. Cho nên con người không được tạo nghiệp, tuyệt đối không được. Nhất
định phải tu tất cả thiện, phải có tâm đại bi. Ví dụ: Nhìn thấy một người mù
cầm gậy đi sang đường ở bên kia đường, trong lòng bạn lập tức phải nghĩ đến, ôi
chao, tuy cách tôi rất xa, tôi có thể qua đó giúp họ không. Nếu bạn thực sự
động một ý niệm như vậy, bạn đã gieo nhân thiện rồi. Nếu bạn nhìn từ xa thấy
bên đường có một người đang ăn xin, trong lòng tự nghĩ, nếu mình đi qua đó mình
sẽ bố thí cho họ. Nhưng ý niệm này là đòi hỏi các bạn phải tự khẳng định, chứ
không phải giả thiết. Cho nên yêu cầu các bạn phải tu từ trong tâm, điểm này vô
cùng quan trọng. Một người tu tâm, tu hành, chính là tu cái bên trong, chứ
không phải cái bề ngoài. Rất nhiều ngôi chùa đều mong muốn người đến lạy Phật
Bồ Tát ăn mặc sạch sẽ chỉnh tề. Thực ra, là hy vọng các bạn từ bề ngoài đến nội
tâm đều rất sạch sẽ. Tuy nhiên, có mấy người từ trong ra ngoài đều sạch sẽ? Đầu
óc có thể xả bỏ tất cả (phóng không), thành tâm lễ Phật, lạy Bồ Tát, chỉ cần
bạn dụng tâm, nhất tâm nhất ý tụng kinh, Bồ Tát đều sẽ cảm ứng.
Trong
thời kỳ Mạt pháp, tất cả mục tiêu hoàn toàn nhất quán với sự tu vi, tu pháp
trong quá khứ hoặc hiện tại, chỉ có phương pháp cứu người là đang thay đổi. Ví
dụ: Trong quá khứ giao thông chưa phát triển, từ Bắc Kinh đến Thượng Hải chỉ có
thể đi bộ hoặc đi xe ngựa v.v, nhưng hiện nay giao thông phát triển rồi, có thể
đi ô tô hoặc máy bay v.v, đích đến là giống nhau, chỉ là phương tiện giao thông
sử dụng khác nhau mà thôi. Tu pháp nhất định phải chuyển biến theo thiên thời,
những Pháp sư có tu vi, Sư phụ có tu vi, người Thầy có tu vi, Bồ Tát đều sẽ cho
họ linh cảm, để họ biết được pháp tu vi hiện tại. Như Thái Hư Đại sư và Tinh
Vân Pháp sư đề xướng "Phật giáo nhân gian".
Làm
người nhất định phải thuần khiết, đừng có tạp niệm. Nếu bản thân muốn giao lưu
tư tưởng với người nào đó, mà trong tư tưởng lại tồn tại rất nhiều tạp niệm,
thì tuyệt đối không thể giao tiếp được. Trên thế giới này đừng tưởng người khác
là kẻ ngốc, nghĩ cách đi lừa gạt người ta, thực ra, người như vậy mới là kẻ
ngốc nhất. Người thời nay ai cũng rất thông minh, có những người rất có tu vi.
Theo sự luân hồi của thế gian, những đứa trẻ mới sinh ra đều rất thông minh,
thực tế, những đứa trẻ này kiếp trước đều là người có tu.
Bây
giờ giảng cho mọi người về hai chữ "Sám hối". Tại sao lại bảo mọi
người sám hối? Tại sao sau khi sám hối lại có hiệu quả tiêu trừ nghiệp chướng?
Trước đây trên đài phát thanh thường giảng, nếu muốn tiêu trừ nghiệp chướng,
trước tiên là phải niệm kinh kích hoạt để nó biến thành linh tính, sau đó niệm
"Ngôi Nhà Nhỏ" để siêu độ. Bây giờ Quan Thế Âm Bồ Tát đã cho tôi
phương pháp mới, niệm "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn" 18
biến (lần), trực tiếp tiêu trừ nghiệp chướng nhỏ. Tuy nhiên, nếu bình thường
không làm bài khóa (công phu tu tập hàng ngày), chỉ niệm "Lễ Phật
Đại Sám Hối Văn" thì không có hiệu quả, nhất định phải lấy "Đại
Bi Chú" và "Tâm Kinh" làm nền tảng.
Trước khi trì tụng "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn" bắt
buộc phải cầu xin Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát phù hộ cho con là [Tên],
giúp con [Tên] sám hối tiêu trừ nghiệp chướng đã tạo trong cuộc sống quá khứ
hoặc tiêu trừ nghiệp chướng ở bộ phận đau bệnh nào đó trên cơ thể con. "Lễ
Phật Đại Sám Hối Văn" niệm xong chính là công đức, dùng công đức
này để tiêu trừ nghiệp chướng nhỏ. Nếu như kích hoạt nghiệp chướng biến thành
linh tính, là do nghiệp chướng quá sâu quá lớn, niệm xong "Lễ Phật
Đại Sám Hối Văn" vẫn không tiêu trừ được, mà còn bị kích hoạt,
nên phải niệm "Ngôi Nhà Nhỏ" để siêu độ, quá trình này sẽ phải chịu
đau đớn. Quan Thế Âm Bồ Tát từ bi, không để chúng ta chịu đau đớn, dạy chúng ta
niệm "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn" để tiêu trừ nghiệp
chướng nhỏ trước khi nó biến thành linh tính. Bộ kinh văn này vô cùng tốt, có
thể tiếp nhận linh khí của trời đất.
Chúng
ta thật sự rất may mắn, bất cứ lúc nào cũng có thể nhận được sự che chở của Bồ
Tát. Mọi người đều biết Bồ Tát ở Quan Âm Đường - Đài Phương Đông của chúng ta
vô cùng linh nghiệm, mỗi ngày đều có rất nhiều thông tin phản hồi gửi về, khiến
người ta thật sự cảm thấy rất phấn chấn, rất vui mừng. Tuy nhiên, điều tiếp
theo tôi nghĩ đến lại rất đau lòng, bởi vì rất nhiều người đến nay vẫn chưa
tin, vẫn rất mê muội, có người còn tưởng bản thân mình là "Chính
đạo", tôi rất thương xót họ. Rất nhiều người cũng giống như các bạn, trước
đây đi tìm khắp nơi, muốn tìm một pháp môn chính xác để bản thân tu cho tốt.
Nhưng, nếu thiên thời, địa lợi, nhân hòa, cơ duyên chưa chín muồi, thời gian
chưa đến thì bạn vẫn không tìm được. Lấy ví dụ: Trước đây mắc bệnh ung thư phổi
không có thuốc chữa, thực ra là chưa có phương pháp tốt để giải quyết vấn đề
này, chứ không có nghĩa là trước đây không tồn tại thuốc chữa bệnh. Tuy nhiên
theo dòng chảy thời gian, khoa học phát triển, thuốc trị ung thư đã được nghiên
cứu ra. Tại sao ung thư phổi hiện nay lại có thể kiểm soát được? Tại sao trước
đây mắc ung thư phổi lại là bệnh nan y? Cái này gọi là cơ hội, cơ duyên.
"Hối"
chính là sửa đổi sự tu vi đã qua. "Sám hối" có thể tiêu trừ ác nghiệp
đã tạo trong các đời quá khứ trên thân. "Sám hối" chính là nói ra tất
cả tội lỗi mình đã tạo trước kia (nhiều tôn giáo phương Tây cho phép xưng tội
với mục sư). Chúng ta đều là người không phải là thần, đều sẽ có rất nhiều điều
riêng tư, có suy nghĩ gì có thể nói với Bồ Tát. Nhưng phải nhớ kỹ nhất định
phải nói ra, không nói ra là không đúng. Nói có vài phương pháp: một là dùng
tâm để nói, hai là dùng miệng để nói, còn có một phương pháp là dùng cả tâm và
miệng cùng nói, như vậy hiệu quả tốt nhất.
Sám
hối có hai loại: một là Sự sám, hai là Lý sám.
Sự sám (Sám hối về sự việc): Là trước tiên tắm rửa sạch sẽ, sau đó đến
trước mặt Bồ Tát, thành tâm sám hối. Đem những tâm và sự việc mình muốn sám hối
nói ra hết cho Bồ Tát nghe, giống như bản thân đang sám hối từ trong ra ngoài.
Sự sám, thực ra chính là sự biến đổi về vật chất, dùng một hình thức bề ngoài
để sám hối.
Lý sám (Sám hối về lý): Là sám hối từ trong tâm. Quán tưởng một câu
trong "Tâm Kinh": "Chiếu kiến ngũ uẩn giai
không" (Soi thấy năm uẩn đều không). Ngũ uẩn chính là Sắc, Thọ, Tưởng,
Hành, Thức. Đem ngũ uẩn này từ trong tâm chiếu cho không hết (trống rỗng),
không rồi thì tự nhiên không có tội nữa. "Chiếu kiến ngũ uẩn giai
không" trước tiên quán tưởng bản thân mình, chiếu không bản thân mình,
phải từ trong tâm loại bỏ ác nghiệp, tâm của tôi trong các đời quá khứ, kiếp
quá khứ hiện tại toàn bộ đều chiếu không rồi, đã không còn nghiệp chướng ở nhân
gian này nữa, đây chính là Lý sám.
Ngũ
uẩn giai không là phải đào rỗng hoàn toàn từ trong tâm, từ trong tâm chiến
thắng ác ma của bản thân, từ trong tâm chiến thắng nghiệp chướng của bản thân,
đây là pháp sám hối cao thượng biết bao. Về lý đã giải thoát rồi, tâm tự nhiên
sẽ giải thoát. Ngược lại, nếu tâm chuyển theo cảnh, con người sẽ rất đau khổ.
Cho nên, phải học cách "Dĩ bất biến ứng vạn biến" (Lấy cái không thay
đổi để ứng phó với vạn sự thay đổi). Thực ra, đó chính là một ý niệm, bất luận
ngoại cảnh biến đổi thế nào, bản thân đừng thay đổi. Có một vị cao tăng từng
nói: Một bàn tay, các ngón tay chính là các pháp môn, phân ra rồi vẫn phải quay
về. Tức là Vạn giáo quy nhất (Muôn đạo về một). Các bạn phải học ngôn ngữ trí
tuệ. Nếu một người bị cảnh giới làm xoay chuyển, sẽ đau khổ không thôi, nỗi đau
khổ này là do chính mình tạo ra, do niềm tin không đủ kiên định tạo ra. Tất cả
nghiệp chướng và tai họa đều sinh ra từ vọng tưởng, có tâm si thì sẽ có vọng
tưởng, vọng tưởng sẽ tạo thành rất nhiều sai lầm, sẽ tạo thành rất nhiều nghiệp
chướng, vọng tưởng là nguồn gốc của vạn tội ác. Mọi người nhất định phải hiểu,
không thể dựa vào vọng tưởng để giải quyết vấn đề, vọng tưởng chỉ tạo nghiệp
làm ác mà thôi.
"Niệm
Phật nhất thanh năng diệt bát thập ức kiếp sinh tử trọng tội" (Niệm một
tiếng Phật có thể diệt tội nặng sinh tử trong tám mươi ức kiếp). Tôi hỏi các
bạn tại sao niệm một tiếng Phật có thể diệt tội nặng sinh tử trong tám mươi ức
kiếp? Xin nói với các bạn, cái niệm đó là Tâm, là Chân tâm, là trong lòng đang
nhớ nghĩ điều gì. Ví dụ: Hôm nay tạo nghiệp, niệm "Lễ Phật Đại Sám
Hối Văn", dùng chân tâm để sám hối, thì có thể tiêu trừ. Nếu bạn giết
chết một con vật nhỏ, chỉ cần dùng tâm niệm "Vãng Sinh Chú" tặng
cho nó, siêu độ nó, thì có thể diệt tội của bạn.
Tóm lại là một tâm niệm, còn về nội dung là chuyện khác. Nhưng
đừng tưởng rằng ở trước mặt Bồ Tát tôi niệm một cái là có thể diệt tám mươi ức
kiếp trọng tội. Sư phụ dùng lý luận Phật pháp dạy mọi người hiểu vấn đề nhân
gian, cần phải dùng tâm để thể ngộ, từ trong tâm mà hiểu rõ, có cái nhìn và suy
nghĩ đúng đắn về vũ trụ và nhân sinh.
3. Mục tiêu của việc học Phật tu tâm (Phần 1)
Học
Phật tu tâm để làm gì? Câu hỏi này rất nhiều người đều có đáp án: Vãng sinh về
thế giới Cực Lạc. Nhưng cụ thể tu đến trình độ nào mới có thể vãng sinh Cực
Lạc, phương pháp tu như thế nào mới có thể vãng sinh Cực Lạc? Nếu tu không tốt
đến mức đó thì sẽ ra sao? Rất nhiều người có thể sẽ không giải đáp được. Thực
tế, vãng sinh Cực Lạc là một mục tiêu vô cùng cao cả, cho nên cũng không phải
dễ dàng tu là đắc được. Lấy một ví dụ quen thuộc với mọi người: Con người khi qua
đời đều phải trải qua một cuộc khảo hạch, dù là đi xuống địa phủ địa ngục, hay
bay lên cõi Trời (Thiên giới), hay vãng sinh Cực Lạc, đều phải qua một cuộc
đánh giá. Học Phật tu tâm cũng giống như chúng ta chuẩn bị thi đại học, vãng
sinh Cực Lạc giống như thi vào các trường đại học hàng đầu thế giới như Harvard
hay Oxford, đối với đa số mọi người thì hệ số khó khăn này quá cao. Mục tiêu
thực tế hơn là các trường đại học danh tiếng trong nước, đại học bình thường
quốc gia và đại học cấp tỉnh, cũng chính là cõi Trời, cõi A-tu-la và cõi Người.
Cho nên chúng ta học Phật tu tâm thì trong lòng phải nghĩ đến tiêu chuẩn cao
nhất, nhưng mắt phải nhìn vào mục tiêu thực tế —— Cõi Trời. Lên cõi Trời càng
cao, thời gian ở lại cõi Trời càng dài; càng gần cõi Người, khả năng rớt xuống
càng cao, do đó mỗi người chúng ta đều phải nỗ lực phấn đấu vươn lên.
Tại sao con người đa phần luân hồi từ cõi Người trở xuống?
Rốt
cuộc cuộc sống ở cõi Trời hay Địa phủ là như thế nào? Thực tế nhân gian chính
là hình ảnh thu nhỏ của các cõi, cuộc sống của tất cả những người xung quanh
chúng ta tổng hợp lại chính là một bộ "Đại Tạng Kinh" sống
động: Có người thân cư địa vị cao, hô mưa gọi gió; có người đắc ý thỏa lòng,
thuận buồm xuôi gió, giống như sống trên trời; có người phấn đấu không ngừng
nghỉ, điều họ coi trọng không phải là kết quả mà là quá trình, đây là phong
cách điển hình của đạo A-tu-la; còn đa số mọi người quan tâm đến cơm áo gạo
tiền, không có đại hỷ đại bi, cuộc sống của người bình thường; lại có người
bệnh tật quấn thân, trải qua bao kiếp nạn, hoặc thê thảm gặp thiên tai nhân
họa, một bức tranh địa ngục thảm khốc... Cho nên không cần nói cũng rõ, cõi
Trời mới là mục tiêu của chúng ta.
Đã
nói cuộc sống nhân gian giống như thi đại học, vậy nội dung thi phải thống
nhất. Điều này cũng không có nghĩa là ai cũng có tư cách ngồi trong phòng thi.
Trong quá trình chuẩn bị, chúng ta phải biết tư cách gì mới được tham gia kỳ
thi lên cõi Trời, nội dung đánh giá là gì. Trước khi giải thích điểm này, chúng
ta cần phải hiểu con người sở dĩ ở cõi Người, là do thứ gì đang trói buộc chúng
ta.
Do
những hành vi đã làm trong kiếp trước và kiếp này, trên linh hồn mỗi người đều
có nghiệp chướng, đều có phúc báo, sự khác biệt chỉ nằm ở chỗ nhiều hay ít mà
thôi. Mỗi nghiệp chướng, mỗi phúc báo từ thời khắc nó hình thành, một đầu nối
với chính bạn, đầu kia nối với "Duyên". Nói một cách hình tượng,
nghiệp chướng phát ra tơ đen tạo thành lực cản, nối với người mà bạn mắc nợ,
tức là chủ nợ; phúc báo là tơ trắng, tạo ra lực trợ giúp, đến từ người nợ bạn,
đây chính là nghiệp lực (lực của nghiệp). Nghiệp chướng hay phúc báo càng lớn
thì sợi tơ càng to, lực cản hay lực trợ giúp tương ứng cũng càng lớn. Khi chưa
sinh ra, cha mẹ nối với tấm lưới này đã bắt đầu trả nợ, sau khi sinh ra cái nối
tiếp theo là anh chị em, thân bằng quyến thuộc, sau khi đi học lại thêm bạn học
thầy cô, sau đó là bạn bè, vợ chồng, con cái, đồng nghiệp v.v., lần lượt trả nợ
hoặc đòi nợ, tấm lưới này chính là lưới của những sợi tơ trần —— Trần
võng (Lưới trần). Linh hồn con người chúng ta bị trói buộc ở trung tâm của
tấm lưới trần này, chịu sự kiềm chế của trần duyên (duyên trần), nó chi phối
phương hướng tiến lên, từ đó tạo thành sự thăng trầm trong vận mệnh của một
người. Chúng ta mỗi ngày, trong từng thời khắc của sinh mệnh đều đang tạo ra hoặc
tiếp nhận những duyên phận mới, duyên do tâm khởi, Thân - Khẩu - Ý là nguồn gốc
của nghiệp chướng, động một ý niệm xấu, làm một việc xấu, mắng người một lần,
đều sinh ra nghiệp chướng mới, cũng là đang dệt tấm lưới trên người mình thêm
dày đặc.
Khi
một phần nghiệp chướng chưa chín muồi, nó sẽ chèn ép thần kinh của bạn, cản trở
vận trình của bạn, ăn mòn cơ thể bạn, khiến bạn mưu cầu không thuận lợi, thân
thể không khỏe mạnh, coi như là tiền lãi và lời nhắc nhở của món nợ. Mỗi khi
nghiệp chướng chín muồi, món nợ đến hạn, chủ nợ sẽ thông qua bệnh tật đột phát
hoặc tai nạn hay đủ các hình thức khác để đòi, một khi trả sạch, thì nghiệp
duyên (ác duyên) đó sẽ tiêu tan, một trần duyên được giải quyết xong. Tương tự
thiện duyên cũng là duyên, người khác nợ bạn cũng phải trả sạch mới được, nếu
không trần duyên của bạn không dứt được. Điều khác biệt là, ác duyên thường
được thanh toán trong ba đời, nhưng thiện duyên hay còn gọi là phúc phận thường
được thanh toán cơ bản hết trong đời sau. Một người trước 45 tuổi là đang hưởng
phúc phận do thiện duyên đời trước mang lại, từ 45 đến 55 tuổi trở đi là bắt
đầu hưởng phúc báo do hành thiện trong đời này, cho nên nói chung sức trói buộc
của thiện duyên trong lưới trần không mạnh lắm, sự trói buộc chủ yếu đều đến từ
ác duyên, đây cũng là lý do tại sao chúng ta nên đặt việc tiêu nghiệp chướng
lên hàng đầu, coi đó là nhiệm vụ quan trọng nhất cần nắm bắt.
Chỉ
cần duyên chưa dứt, thì sự lôi kéo này không thể thoát bỏ, sẽ không thể đắc
được giải thoát. Cho nên chúng ta thường nghe câu "trần duyên chưa
dứt", đã chưa dứt, thì còn phải chuyển thế đầu thai lại. Nếu một người cứ
mặc cho tấm lưới này sắp đặt, không biết làm sao chặt đứt tơ trần, thì trong
nhiều đời nhiều kiếp, trả nợ cũ, gây nợ mới, càng tích càng nhiều, cuối cùng
chỉ có thể chìm nổi trong trần thế, trôi theo dòng nước, chịu đủ nỗi khổ của
vận mệnh. Đây là lý do tại sao rất nhiều người cứ mãi luẩn quẩn trong cái vòng
nhỏ Nhân gian - Địa phủ, thậm chí là Địa ngục, không thể tiến vào cõi Trời. Bởi
vì mỗi một sợi tơ trên lưới trần chính là một phần nhân quả, tuân theo định
luật nhân quả, không có bất kỳ thế lực nào có thể chặt đứt nó, cho nên dựa vào
sự giúp đỡ của người khác để thoát khỏi lưới trần là điều không thể. Phật pháp
hé lộ sâu sắc quy tắc vận hành của định luật nhân quả, hé lộ pháp môn "bất
nhị" (duy nhất) để tự mình tiêu trừ nghiệp duyên thoát khỏi lưới trần, cho
nên Phật pháp dạy chúng ta phương pháp làm thế nào dựa vào sức mạnh của chính
mình để thoát ra khỏi lưới trần. Định luật nhân quả không chỉ đơn thuần là
"có nhân tất có quả", mà còn một khía cạnh quan trọng là "một
phần nhân quả chỉ có thể dùng một phần nhân quả khác để thay đổi".
Chính vì điểm thứ hai này, chỉ cần chúng ta học Phật tu tâm, y giáo phụng hành,
Phật Bồ Tát với lòng từ bi vô lượng sẽ ghi nhận điều này thành một phần nhân
quả là công đức của chúng ta để tiêu trừ nhân quả của nghiệp chướng. Từ điểm
này mà nói, "Phật pháp vô biên phổ độ chúng sinh" là chân thật không
hư dối.
Làm thế nào mới có thể lên cõi Trời?
Học
Phật việc đầu tiên phải học chính là làm thế nào chặt đứt tơ trần, làm thế nào
trả sạch nợ cũ, làm thế nào tránh mắc nợ mới. Từ những bài Bạch Thoại Phật Pháp
trước, mọi người đã có thể nhận thức được, trả nợ chính là điều Đài trưởng
thường nói: Tiêu nghiệp chướng; không thêm nghiệp duyên mới, chỉ có thể dựa vào
tu tâm tu hành. Vậy làm thế nào để không gây thêm thiện duyên mới? Chẳng lẽ
chúng ta không được làm việc thiện sao? Điều này liên quan đến sự khác biệt
giữa việc thiện và công đức. Khi chúng ta phát tâm hành thiện trước mặt Bồ Tát,
hành động thiện sẽ được ghi nhận là công đức, bởi vì bạn đã nhận được sự đền
đáp —— là công đức, hơn nữa khi bạn giúp đỡ người khác trong tâm không mong cầu
đền đáp, vì tâm bạn thanh tịnh, cho nên bạn cũng sẽ không kết thành thiện duyên
này (theo nghĩa trói buộc ở nhân gian), cũng sẽ không có tơ trần.
Các
pháp môn khác nhau, mặc dù cách thức tiêu nghiệp chướng khác nhau, nhưng nguyên
lý là như nhau. Bất luận là tu pháp lai sinh (tu cho kiếp sau) hay tu pháp kim
sinh (tu cho kiếp này) mà Đài trưởng truyền dạy, đều là dùng công đức để tiêu
nghiệp chướng, sự khác biệt nằm ở chỗ pháp mà Đài trưởng dạy là trả nợ trước,
thậm chí nợ chưa đến hạn đã trả trước rồi. Rất nhiều người tưởng rằng chỉ có
"độn nhập không môn" (xuất gia/đi tu) mới có thể chặt đứt tơ trần, thực
tế chỉ cạo tóc thôi thì chẳng thay đổi được gì, tất cả nghiệp duyên vẫn còn đó.
Chỉ là người "độn nhập không môn" giữ giới luật, chăm chỉ tu hành,
tích công đức, mới có thể dần dần dùng công đức tiêu trừ nghiệp duyên, từ đó
thoát khỏi lưới trần, mấu chốt vẫn nằm ở công đức. Điểm khác biệt của "độn
nhập không môn" là từ thời khắc bước vào cửa Không, nếu có thể giữ giới
luật, sẽ không còn "nhuốm bụi trần", trên tấm lưới trần ban đầu của
người đó sẽ không sinh ra tơ trần mới nữa.
Thông
qua học Phật tu hành, trả xong nợ trần dứt bỏ duyên trần, chúng ta sẽ giành
được tư cách tham gia kỳ thi, có thể tham gia kỳ thi tiếp nhận của các tầng
trời khác nhau, dựa vào kết quả thi để tiến vào cõi Trời khác nhau. Để thi được
kết quả tốt chúng ta cần phải hiểu đề thi là gì? Đáp án rất đơn giản: Công
đức và Cảnh giới. Đây cũng là một khía cạnh quan trọng của Phật pháp cứu độ
chúng sinh —— hé lộ nội dung thi và dạy chúng ta cách chuẩn bị cho kỳ thi. Mỗi
người đều phải tham gia kỳ thi này, chỉ là tầng bậc cao thấp mà thôi, người
không nghe Phật pháp, hoàn toàn không biết gì về đề thi và kỳ thi phải đối mặt,
cũng không có chút chuẩn bị nào, cho nên mới gọi là "người đáng
thương".
Công
đức là kết quả của tu hành, cảnh giới là thành tích của tu tâm. Tu hành và tu
tâm là hai mặt của một vấn đề, bổ trợ cho nhau. Tu hành là phương tiện của tu
tâm, ngược lại thông qua quá trình tu hành, đắc được nhiều cảm ngộ hơn, lại
nâng cao cảnh giới của tâm thêm một bước. Tu tâm là gốc rễ của tu hành, phát
tâm là điểm khởi đầu của tu hành, cảnh giới của tâm nâng cao rồi, tâm nguyện
phát ra cũng sẽ lớn hơn, lại có thể nâng cao chất lượng tu hành. Lấy một ví dụ
đặc biệt, nếu một người vì cơ duyên trùng hợp làm được đại công đức, cứu mạng
cả một thuyền người, phúc báo của anh ta sẽ rất lớn, nhưng vì không tu tâm,
tính tình nóng nảy, làm người tham lam, cho nên anh ta vẫn không thể lên cõi
Trời.
Công
đức và cảnh giới là chỉ tiêu cứng của cuộc khảo hạch, thiếu một cũng không
được, do đó Phật pháp dành sự quan tâm rất lớn xoay quanh hai phương diện này,
giảng giải rất nhiều về việc làm thế nào để nâng cao hai chỉ tiêu này, giải
thích cặn kẽ và hướng dẫn cụ thể về đủ loại chướng ngại, hiểu lầm, trói buộc và
cách khắc phục tâm ma (ma trong tâm). Trong quá trình chúng ta tu hành, còn
cung cấp phương pháp làm thế nào để chuẩn bị thi. Ví dụ như Mộng khảo (thi
trong mơ), chính là giúp chúng ta xác định trình độ tu hành của mình, điều
chỉnh phương hướng tu hành. Do hoàn cảnh cụ thể của mỗi người khác nhau, sự
trói buộc của duyên phận cũng khác nhau, có người lưu luyến vinh hoa phú quý,
có người "chỉ cần anh ấy quay về bên tôi, bảo tôi làm gì cũng được",
có người không bỏ được tình thân, còn có người bận rộn công việc, bận rộn xã
giao, bận rộn với tất cả những việc tự cho là cực kỳ quan trọng. Có người khi
niệm kinh suy nghĩ như tơ liễu bay (rối bời), có người rất dễ định tâm. Có
người tu hành nhiều năm, vẫn không ngộ thông được "tại sao tôi lại không
thuận lợi như vậy". Có người chỉ dựa vào niệm kinh mấy chục năm là có thể
vãng sinh Cực Lạc, có người dù cạo đầu hai kiếp vẫn chịu khổ ở nhân gian, vân
vân và vân vân.
Cho
nên trần duyên không dễ dứt bỏ, học Phật tu tâm cũng không chỉ đơn thuần là
niệm vài bài kinh làm vài việc thiện, "Ngộ" là mấu
chốt, đắc "Trí tuệ" là mục đích của tu công đức và
tu tâm, mà khi đã khai mở trí tuệ, lại có thể đón nhận những thử thách mới trên
con đường tu tâm tốt hơn, làm được công đức lớn hơn.
4. Mục tiêu của việc học Phật tu tâm (Phần 2)
Đã
có mục tiêu tu tâm, vậy tu tâm tu như thế nào, lau chùi tâm tôi như thế nào?
Điều này phải dựa vào sự lý giải của tâm để thực hiện —— Ngộ. Ngộ
chính là nghĩ thông suốt, chúng ta luôn nói phải ngộ, nhưng đạo lý đều bày ra
đó, luân hồi nhân quả, duyên phận vận mệnh, còn gì để ngộ nữa đâu? Thực tế,
trăng sáng hoa bay, một ngọn cỏ một cành cây không gì là không mang đến thời cơ
để ngộ, mỗi ngày mỗi việc trong cuộc sống đều có thể khiến chúng ta lĩnh hội
nhiều hơn. Ngộ chính là quá trình rèn luyện lặp đi lặp lại việc áp dụng Phật
pháp vào cuộc sống rồi từ cuộc sống thể nghiệm ra Phật pháp, chính là quá trình
chúng ta trong lúc chuẩn bị thi áp dụng lặp đi lặp lại cương lĩnh cơ bản, làm
đi làm lại bài tập, rồi từ bài tập nắm vững cương lĩnh cơ bản cho đến khi nắm
vững thuần thục, ứng dụng tự nhiên. Mỗi lần áp dụng chính xác Phật pháp trên
con đường tu tâm, tâm cảnh (cảnh giới tâm) lại nâng cao một phần, đồng thời
cũng có thể chín lần trước đều đúng, nhưng lần thứ mười sai, thì có thể dẫn đến
việc tu hành phí công nhọc sức (tiền công tận khí - công sức trước đó bỏ đi
hết), cho nên mới nói trên con đường tu tâm "như đi trên băng mỏng"
(như lý bạc băng).
Có
rất nhiều đồng tu nghiên cứu "thuyết pháp" của Đài trưởng rất tỉ mỉ,
hiểu rất thấu đáo, tu rất tinh tấn, đây là hiện tượng tốt, chứng tỏ mọi người
nhận thức được sự thù thắng của pháp môn này. Nhưng từ những câu hỏi trên mạng
và cách đối nhân xử thế thường ngày có thể thấy, rất nhiều người hiện nay vẫn
đang ở giai đoạn trả nợ, vẫn chưa nhận thức được Phật pháp tức nhân sinh (Phật
pháp là cuộc đời), học Phật trước tiên phải học những đạo lý cơ bản làm người. Mặc
dù nhờ nguyên nhân niệm kinh, tính khí đã có cải thiện, nhưng về mặt chủ quan
chưa bắt đầu phản tỉnh (tự xét lại) tự tâm, chủ động tìm khuyết điểm sửa đổi
phẩm hạnh, nghĩa là Phật pháp vẫn chưa được áp dụng vào cuộc sống, chưa chủ
động áp dụng Phật pháp vào bản thân mình. Ví dụ như "Giới - Định -
Tuệ", có bao nhiêu người vẫn không hiểu tại sao phải Giới (giữ giới), Giới
cái gì, làm sao Giới rồi có thể Định? Tại sao phải Định? Định cái gì? Những
điều này đều là vấn đề cần phải hiểu rõ trong tâm. Tương tự, rất nhiều kinh
nghiệm mà người xưa đúc kết chúng ta thường nghe, cũng phải từ đó ngộ ra nguyên
lý của nó, nó dựa trên định luật cơ bản nào của Phật pháp, như vậy mới có thể
hiểu tại sao người xưa lại nói như thế. Ví dụ, tại sao "Nhẫn nhục năng
tinh tấn", dựa trên nguyên lý nào? Tại sao lại nhấn mạnh "Vô
ngã" như vậy, có tác dụng gì? v.v., không chỉ biết câu nói đó, mà còn phải
làm theo được, không thể chỉ đơn giản sao chép áp dụng một cách máy móc, chỉ
khi hiểu được nguyên lý mới có thể "cử nhất phản tam" (suy một ra
ba/học một biết mười), thực sự hiểu thực sự biết ứng dụng, điểm này không khác
gì chúng ta học toán áp dụng định lý vậy.
Cho
nên chữ "Ngộ" không hề xa vời trừu tượng như vậy, trong việc học Phật
mỗi ngày, thực tế chúng ta đều đang khai ngộ trong vô thức: Niệm kinh thế nào?
Niệm kinh sao lại trở nên tốt đẹp? Ngôi Nhà Nhỏ (Tổ hợp Kinh văn đặc thù) ứng
dụng như thế nào v.v., tiếp theo chính là phải ngộ một cách có hệ thống có ý
thức, nghĩ nhiều câu "tại sao" hơn từ đó hiểu ra nhiều đạo lý hơn.
Người tu tâm không dám làm việc xấu cũng giống như người hiểu luật pháp không
dám vi phạm pháp luật kỷ cương, bởi vì họ hiểu đạo lý.
Tu hành tu cái gì?
Tu
hành chính là tu sửa hành vi của chính mình, mục đích là để đạt đến cảnh giới
giác ngộ cao nhất —— Triệt ngộ. Tu hành có ba phương diện: Quy phạm
của hành vi, cấm kỵ của ngôn ngữ và sự nâng cao của ý thức phẩm hạnh. Thực tế,
khi chúng ta biết được trong lưới trần nghiệp lực chiếm thành phần rất lớn, mà
nghiệp chướng lại đến từ "Thân - Khẩu - Ý", thì rất dễ hiểu mục đích
của ba điểm này đều là để tránh tạo nghiệp. Quy phạm của hành vi ngăn chặn
nghiệp chướng do Thân tạo ra, cấm kỵ của ngôn ngữ khiến bản thân không tạo Khẩu
nghiệp, sự nâng cao của ý thức phẩm hạnh lại là để phòng ngừa những ý niệm xấu
trong Ý (tư tưởng), từ đó ít tạo Ý nghiệp.
Hiểu
rõ những nguyên lý này, chúng ta có thể lấy đó làm chuẩn mực tu sửa hành vi,
giảm bớt nghiệp chướng, không dệt thêm tơ trần mới nữa. Tất nhiên việc áp dụng
nguyên lý này vào cuộc sống và áp dụng đến mức độ nào phụ thuộc vào khả năng
lĩnh ngộ của mỗi người. Ví dụ: Lãnh đạo cơ quan rõ ràng tăng khối lượng công
việc cho bạn, khiến bạn ngày nào cũng cắm đầu làm việc còn thường xuyên tăng
ca, nhưng người khác cùng mức lương lại nhàn rỗi hơn nhiều. Trong trường hợp
này, bạn có thể nhịn không mắng người, bạn có thể nhịn không làm chuyện quá
đáng, nhưng trong nội tâm bạn có thể thực sự không tức giận không? Không tức
giận tại sao lại quan trọng như vậy? Bạn không tức giận, người khác có cho rằng
bạn là kẻ hèn nhát không? Tâm thái đúng đắn nên là gì?
Những
điều này đều phải dựa vào chính chúng ta để lĩnh ngộ. Mỗi khi trả lời được một
câu hỏi, cảnh giới của bạn lại tăng một phần, lĩnh ngộ khác nhau, cảnh giới sẽ
khác nhau. Nếu không lĩnh ngộ được, sẽ thường xuyên so sánh khối lượng công
việc với người khác, không ngừng cảm thấy bị đối xử bất công, dần dần trở nên
oán hận, lúc này nghiệp duyên đã sớm gieo xuống mà không tự biết, ngược lại còn
cho rằng mình mới là người bị hại, dần mất đi đạo tâm. "Sư phụ dẫn vào
cửa, tu hành tại mỗi người", chính vì hoàn cảnh mỗi người khác nhau, vấn
đề gặp phải cũng khác nhau, nên Đài trưởng không thể bày đáp án mà mỗi người
cần ngộ ra ngay trước mặt để mọi người lựa chọn, nhưng may thay vạn biến không
rời tông (gốc), vẫn có quy luật nhất định để tuân theo, tôn chỉ chính là dùng
nhân quả, duyên phận để lý giải cuộc sống, dùng pháp môn Đài trưởng dạy để giải
quyết vấn đề trong cuộc sống, dùng việc làm công đức không khởi ác duyên làm
thước đo để ràng buộc chính mình.
Ba
phương diện của tu hành không hề nói đến tích công đức, vậy công đức sao lại là
kết quả của tu hành? Kết quả trực tiếp của ba phương diện tu hành chính là làm
việc thiện, giữ thiện niệm, nói lời hay, đó đều là công đức.
Tu tâm tu cái gì?
Tu
tâm là một đề bài tất yếu phải đối mặt sau khi tu hành đến một giai đoạn nhất
định, người mới học hoặc người chưa có cảm ứng, có thể trước tiên chuyên tâm
tiêu nghiệp chướng làm công đức, đây là vì khi nghiệp chướng trên thân còn rất
nhiều, nợ của bạn còn quá nhiều, vết nhơ trên tâm chưa được lau chùi, thì chưa
nói đến tu tâm được. Còn khi chúng ta tiêu nghiệp chướng đến một mức độ nhất
định, thường lúc này sẽ có trải nghiệm qua Mộng khảo, như ngửi thấy mùi thiên
đàn hương (gỗ đàn hương cõi trời), nhìn thấy Bồ Tát cười v.v. các linh cảm, dần
dần việc tu tâm sẽ bày ra trước mắt. Đây chính là một đặc điểm của "Tu
pháp kim thế" (Tu pháp đời này) mà Đài trưởng truyền dạy khác biệt với các
"Tu pháp lai sinh" (Tu pháp đời sau) khác. Ma do tâm sinh, thực tế
tâm ma và nghiệp chướng có quan hệ mật thiết không thể tách rời. Bây giờ chúng
ta có thể trả nợ xong rồi mới tu tâm, như vậy chúng ta có thể "khinh trang
thượng trận" (mang hành trang nhẹ nhàng ra trận). Cho nên cùng là tu tâm,
pháp môn của Đài trưởng rõ ràng có thể khiến tâm chướng (chướng ngại trong tâm)
của mọi người giảm nhẹ, dễ dàng khắc phục tâm ma, nâng cao cảnh giới, thu được
hiệu quả.
Từ
ba phương diện của tu hành còn có thể thấy, tu hành và tu tâm có mối liên hệ
mật thiết, muốn tu sửa bản thân, trước tiên phải phát giác hành vi của mình có
chỗ nào không đúng. Quá trình "Giác" này chính là quá trình tu tâm,
phản tỉnh bản thân, phản tỉnh tự tâm, từng bước nâng cao. Tu tâm không có quy
định rõ ràng nhất định, quy trình thao tác rập khuôn, hay hướng dẫn cụ thể tu
tâm như thế nào, bởi vì nghiệp lực mỗi người khác nhau, chướng ngại gặp phải
khi tu hành khác nhau, từ đó con đường tu tâm cũng có muôn vàn khác biệt. Nhưng
vạn pháp quy nhất, bất luận con đường tu tâm của chúng ta có bao nhiêu khác
biệt, mục đích cuối cùng chỉ có một, chính là Phật tâm Bồ Tát tâm,
Phật tâm tức là tâm chúng sinh, Bồ Tát tâm tức là tâm từ bi, cho nên chỉ có
thường xuyên phản tỉnh tự tâm, đối chiếu với Phật tâm Bồ Tát tâm, thì có thể
tìm ra chỗ cần tu sửa trong tâm, từ đó tu sửa hành vi của chúng ta.
Phật
tâm chính là vô ngã nghĩ về nỗi khổ của chúng sinh, Bồ Tát chính là Từ Bi Hỷ
Xả, đây đều là cảnh giới cực cao. Cho nên đó là tấm gương và mục tiêu tu chỉnh
cuối cùng của chúng ta. Điểm khởi đầu cơ bản của tu tâm chính là tu sửa tâm
linh, đạt đến cảnh giới tâm tịnh tâm định, cũng chính là chú trọng vào thực tế,
bắt đầu tìm từ những thói xấu trên người chúng ta, loại bỏ tam độc "Tham
Sân Si", bỏ đi ngã chấp tha chấp (chấp vào mình, chấp vào người), từ đó
định tâm lại, nhất tâm tu hành, đạt được sự thuần tịnh của tâm linh, dần dần
minh tâm kiến tính. Nhìn thấy Phật tính vốn có của chúng ta —— bao gồm lương
tâm, thiện tâm, nuôi dưỡng nó lớn mạnh, phát triển thành tâm từ bi.
Thế nào là Tâm Tịnh?
Lấy
việc tu sửa tâm linh làm điểm xuất phát của tu tâm, nhưng mỗi người lại có cách
nhìn khác nhau về chữ "Chính" (đúng đắn), ngay cả hai phương diện đối
lập, có thể đều cho rằng mình là chính. Đây chính là đề bài đầu tiên chúng ta
đối mặt, thế nào là Chính? Làm sao là Chính? Một người ích kỷ sẽ nói "Con
người chẳng phải đều như vậy sao"? Một người thường xuyên cãi nhau với vợ
sẽ cho rằng cô ấy luôn không quan tâm tôi như vậy, còn một người con trai mười
năm không qua lại với bà mẹ 80 tuổi cũng sẽ hùng hồn nói: "Bà ấy năm xưa
đối xử với vợ tôi ác nghiệt vô cùng." Trong trường hợp này, những người
mười năm như một chưa bao giờ cho rằng mình sai, làm sao có thể đột nhiên đi
phản tỉnh? Đâu là cơ hội (khế cơ) để họ phản tỉnh? Cơ hội này đa phần đến từ
bên ngoài, như một câu nói của Đài trưởng tại pháp hội nào đó, đôi khi ngồi xe
cũng có thể nảy sinh chút ngộ tính, một hình ảnh người con trai dìu mẹ già,
hoặc một câu chuyện cũ hàng xóm do đồng nghiệp kể lại v.v. đều có thể là cơ hội
để hối hận tỉnh ngộ. Nhưng cơ hội bắt buộc phải có sự tích lũy công đức làm nền
tảng, đúng như câu "hậu tích bạc phát" (tích lũy dày mới phát ra
được), bất luận là thông qua niệm kinh hay làm việc thiện khác để tích lũy công
đức, chỉ khi đến tầng bậc này, mới có khả năng "nhắc nhẹ là hiểu"
(nhất điểm tựu phá), tầng bậc này chính là nghiệp chướng dẫn đến sự "bất
chính" này đã được tiêu trừ, vết nhơ che lấp bản tính trên tâm linh đã
được lau sạch, lúc này mới có thể nhìn thấy bản tính "không ích kỷ",
bản tính "yêu thương và bao dung", bản tính "Hiếu".
Đồng
thời trong tâm phải nhận thức được còn có nguồn gốc tạo ra những vết nhơ
này: Tham Sân Si. Đời người mười việc thì tám chín việc không như
ý, tám chín việc này đa số đều do Tham Sân Si, nên gọi là "Tam độc".
Vừa mới phê bình tâm lý ích kỷ của mình một hồi, quay đi cơ quan xét duyệt chức
danh, lại là "đương nhân bất nhượng" (việc nghĩa không nhường ai - ở
đây ý nói tranh giành), "xá ngã kỳ thủy" (ngoài tôi ra còn ai); vừa
mới đón mẹ già về, băng giá 10 năm được hóa giải, mẹ nói một câu lại nổi trận
lôi đình... Chút bản tính thiện lương vừa mới nhìn thấy lại biến mất tăm.
Cho
nên Tam độc không trừ, tu tâm sẽ "sự bội công bán" (bỏ công nhiều thu
quả ít), thậm chí khó tiến nửa bước, cho dù là người có tiếng tăm có tu hành,
cũng có khả năng không trừ hết được Tam độc. Điểm này chỉ có thể do chính mình
giải quyết, lời khuyên của người khác, sự giúp đỡ của người khác v.v. ngoại lực
không đóng vai trò quyết định, cho dù Đài trưởng có ân cần chỉ bảo bảo bạn đừng
tham bảo bạn đừng si, tự mình không nhìn thấu (khán bất phá) thì cũng vô dụng.
Có bao nhiêu nam nữ si tình duyên phận đã tận rồi, vẫn cứ khổ sở nhớ nhung; có
bao nhiêu người sau khi vinh hoa phú quý không thể an phận với hiện tại mà lại
dốc hết vốn liếng (cô chú nhất trịch), càng làm càng hăng (biến bản gia lệ),
tham lam vô độ... Những cái này đều là không nhìn thấu, không nhìn thấu đời người
khổ ngắn, niệm niệm vô thường. Mặc dù nói đến duyên phận nhân quả đều hiểu,
nhưng áp dụng vào bản thân mình lại là chuyện khác, không còn là "duyên
khởi duyên lạc (duyên đến duyên đi) đều do nhân quả đời trước theo thời gian mà
thay đổi", duyên phận đã hết, một phần trói buộc đã không còn; không còn
là "tất cả lá rụng hoa bay ở nhân gian, đều là hư ảo", phú quý trong
mệnh có liên quan đến thiện nghiệp đời trước của mình, thích thì nên gấp rút tu
công đức để mong kiếp sau vinh hiển cả đời. Cho nên tác hại của Tam độc đi cùng
với toàn bộ quá trình tu tâm, cũng là thách thức lớn nhất mà người tu tâm luôn
phải đối mặt.
Pháp
bảo đối phó với Tam độc không có gì khác, "Giới - Định - Tuệ" là
then chốt, chính là trước tiên khắc chế bản thân, khắc chế rồi, tâm sẽ an định
thì có thể tiếp tục tu hành, cuối cùng sẽ có ngày nhìn ra nhìn thấu, đây chính
là đắc được Trí tuệ, từ đó độc này không còn là độc nữa. Đến giai đoạn tiếp
theo, có lẽ Tam độc lại xuất hiện dưới hình thức cám dỗ khác, nhìn thấu tiền
tài, lại có sự cám dỗ của địa vị; nhìn thấu sự hư vô mờ mịt của địa vị, lại có
sự cám dỗ của nữ sắc; nhìn thấu cái túi da thối tha (thân xác), lại đến sự cám
dỗ của danh tiếng v.v. muôn hình vạn trạng.
Không
chỉ là cám dỗ, đời người sống trên thế gian mỗi người có nỗi phiền não riêng,
việc nhà việc nước việc thiên hạ, việc gì cũng lo lắng (ưu tâm), tâm lo thì nổi
trôi (phù) mà phiêu dạt, bị mọi việc lôi kéo, còn nói gì đến tu tâm.
Con
người sống trong thế gian này, thì không thể tránh khỏi phát sinh quan hệ với
người khác, chúng ta có thể tự luật không sinh ác duyên, nhưng không thể khiến
tất cả người xung quanh đều không sinh ác duyên. Nếu người khác sinh khởi ác
duyên với chúng ta, cũng chính là khi chúng ta gặp chuyện bất công, bất bình,
hiểu lầm, thậm chí nhục mạ, thì "Nhẫn nhục tinh tấn" chính
là phương thức giữ gìn tâm linh thuần tịnh của chúng ta. Nhẫn nhục không phải
là biểu hiện của kẻ hèn nhát, mà là pháp bảo duy nhất để không "tiếp"
(nhận) ác duyên. Người khác bắn về phía ta một sợi tơ trần ác duyên, chúng ta
vừa tức giận trong lòng vừa hận, thì tơ trần sẽ dính lên người chúng ta, từ
khoảnh khắc này, nhân quả của ác duyên đã hình thành. Chỉ có nhẫn nhục mà không
nhận cái "ác khí" này, mới có thể khiến ác duyên không bén rễ nảy
mầm, nhẫn nhục là biểu hiện bên ngoài, cái thực sự yêu cầu là tâm không nổi
sóng gió coi sự nhục mạ bên ngoài như không có gì, cũng chính là "Cảnh
chuyển tâm không chuyển" trong tu tâm.
Ngoài
ra một cái cần loại bỏ khỏi tâm nữa là chữ "Chấp", bất
luận là "Ngã chấp" (chấp tôi) hay "Tha chấp" (chấp người),
đều là do hiểu sự vật không toàn diện mà tạo thành một loại phiến kiến (định
kiến). Do trải nghiệm và cảm nhận thu được trong cuộc sống của mỗi người đều
không giống nhau, cho nên hình thành loại phiến kiến tự cho là đúng này. Có thể
tưởng tượng do sự tồn tại của "Chấp", chúng ta sẽ có những sai lệch
này nọ trong việc nhận thức sự vật và đạo lý. Nhưng điểm khó khăn nằm ở chỗ,
bản thân không tự biết không tự giác đó là phiến kiến, thế thì sẽ bị chân lý
giả tưởng này lừa gạt mà kiên trì tiếp tục. Gốc rễ để giải quyết là loại bỏ cái
"Tôi" (Ngã), không dùng "cái tôi biết cái tôi thấy" (ngã
tri ngã kiến) để nhận thức Phật pháp, cũng chính là điều chúng ta thường nói
học cách nhìn vấn đề một cách "biện chứng toàn diện", kết hợp thực tế
cuộc sống để hiểu Phật pháp. Tâm phải thường xuyên lau chùi, tiêu nghiệp
chướng, để ưu sầu cám dỗ v.v. bụi trần không bám vào, từ đó đắc "Tâm
tịnh", sự thuần tịnh của tâm linh, mục đích là để hiển lộ bản tính. Tịnh
đến một mức độ nhất định, bản tính sẽ hiển lộ ra phần lớn, không còn dễ bị vết
nhơ che lấp nữa, lúc này chúng ta cần cẩn thận che chở nó, nuôi dưỡng nó lớn
mạnh, để nó không bị lạc lối nữa, đây mới là lúc nhập môn học Phật.
Vậy
có phải chỉ có thoát ly trần thế mới có thể tâm tịnh không? Trần thế gian là
nơi tu tâm tốt nhất, tâm không tịnh trốn vào rừng sâu cũng vẫn không buông
xuống được. Cầu tâm tịnh, không phải là yêu cầu mọi người buông bỏ tất cả,
buông bỏ duyên phận, thậm chí vì trốn tránh duyên phận mà không giao du với
người khác, chữ "Tịnh" ở đây nói là sạch sẽ, thuần khiết, không nhiễm
tập khí (thói quen) ô uế và ác duyên; cho nên sự sạch sẽ của tâm là do tu mà ra
chứ không phải do trốn mà ra.
Tâm Định là như thế nào?
Mọi
người tin Phật đều có cơ duyên khác nhau, có người rất dễ dàng, lần đầu nghe
pháp hội của Đài trưởng đã kiên định học theo, có người nghe ghi âm chương
trình cảm thấy giống với hoàn cảnh của mình bèn làm theo phương pháp Đài trưởng
dạy, thấy được hiệu quả, biết lời nói không hư dối mới tin. Bất kể cơ duyên thế
nào, tin rồi thì tâm sẽ định lại. Sự "Định" này là định tạm thời,
bệnh trên thân khỏi rồi, con cái có thể mở miệng nói chuyện rồi, biết sự vĩ đại
của Phật pháp rồi, nhưng mà tôi rất bận, bận đến mức không có thời gian niệm
kinh, hoặc là ban đầu hăng hái mười phần, sau đó dần dần mệt mỏi lười biếng,
hoặc chỉ là dạy sao làm vậy, không chịu học hỏi, không chịu lĩnh ngộ, những cái
này đều không phải là Định. Lần sau gặp vấn đề khác, như mất việc, tình yêu có
vấn đề, vẫn cứ xoay quanh chỗ cũ, không biết đối phó thế nào; hoặc là tôi đã làm
theo phương pháp Đài trưởng dạy lần trước rồi, nhưng trong một tháng tôi vẫn
không tìm được việc mới; tại sao tình yêu của tôi dùng phương pháp của Đài
trưởng nửa năm rồi vẫn chưa đến... Nghi hoặc kéo theo đó mà đến. Có nghiệp
chướng mới có vướng bận, có vướng bận, cái "Tôi" sẽ đi theo sự vướng
bận đó, tâm cũng sẽ không định nữa. Cho nên tu Đại thừa Phật pháp (pháp cứu
giúp chúng sinh) phải có Tiểu thừa Phật pháp làm nền tảng, trước tiên phải tu
tốt bản thân mình, tu tốt gia đình mình, chỉ có "Tâm vô quái ngại" (Tâm
không ngăn ngại/vướng bận) mới có thể "Vô hữu khủng bố" (Không
có sợ hãi), rồi mới nói đến tu tâm cứu độ người khác.
"Tâm định" có hai hàm nghĩa: Một là niềm tin kiên định, hai là mục
tiêu kiên định; nền tảng của nó xây dựng trên sự hiểu biết đạo lý (minh lý),
hiểu sự khác biệt giữa thế gian pháp và xuất thế gian pháp, hiểu nhân quả, hiểu
sự chân thực của thế giới tâm linh, hiểu sự thăng trầm của vận mệnh là vì sao,
còn phải hiểu mối quan hệ giữa thiện duyên ác duyên nghiệp lực và lưới trần,
như vậy mới có thể định tâm lại mà tu hành; đồng thời còn phải hiểu lòng từ bi
của Bồ Tát, sự vĩ đại và chân thực không hư dối của Bồ Tát, trong khi Bồ Tát
"văn thanh cứu khổ" (nghe tiếng cứu khổ), chúng ta phải làm tốt bài
khóa của chính mình trước v.v. Như vậy mới có thể tin chắc khó khăn trước mắt
là có nguyên nhân, khó khăn cũng là tạm thời, từ đó đạt đến cảnh giới tâm không
chuyển theo cảnh, cảnh chuyển tâm không chuyển, nhất tâm giác ngộ. Tất nhiên
đây là cảnh giới khá cao, chúng ta không nhất định ai cũng làm được, nhưng ít
nhất biết được phương hướng, chúng ta có thể nỗ lực theo hướng này, còn về
thành tích cuối cùng thế nào, còn phải đợi tham gia kỳ thi, đợi lúc có kết quả
mới biết được.
Tâm phù (nổi) thì phiêu (trôi dạt), tâm tịnh thì định, tâm định
thì sinh Đạo. Nói tóm lại, Phật pháp nhân sinh, nhân sinh Phật pháp, đem Phật
pháp ứng dụng vào nhân sinh, từ nhân sinh tham ngộ Phật pháp, kiên nhẫn không
bỏ cuộc (kiên nhẫn bất bạt), tự khắc sẽ dần dần tiến vào cảnh giới tốt đẹp
(tiệm nhập giai cảnh).
5. Luận về ý nghĩa cuộc sống qua Phật pháp
Hôm
nay tôi nói với mọi người, chúng ta hãy làm người quân tử, đừng làm kẻ tiểu
nhân. Thế nào gọi là quân tử? Nói đơn giản, quân tử chính là người mỗi ngày
chịu thiệt thòi một chút. Thế nào là tiểu nhân? Là kẻ mỗi ngày đều nghĩ cách
chiếm phần hơn của người khác. Tôi mong mỗi đồ đệ mỗi ngày đều phải tự kỷ luật,
tự xem lại mình là quân tử hay tiểu nhân. Phải sám hối bản thân, xem mình đã
làm sai điều gì.
Tại
sao một người lại vô tri? Vô tri chính là không biết tự soi lại mình. Mỗi người
mỗi ngày về nhà cần tự soi lại, hôm nay mình đã làm sai điều gì? Người khác đã
vì mình mà bỏ ra bao nhiêu công sức? Nhưng hiện nay mọi người mở miệng ra là kể
lể mình đã làm bao nhiêu việc tốt, giúp đỡ bao nhiêu người, chưa bao giờ nghĩ xem
mình đã làm bao nhiêu việc sai.
Bồ Tát bất giác ư thế, chỉ giác tự kỷ. Hà dĩ như thử ni? Nhân
giác tự tâm giả, tức vi giác nhất thiết chúng sinh chi nhân.
"Bất
giác ư thế" (Không giác ngộ ở thế gian), tức là không để ý đến những sự
việc khác, không soi xét những sự việc khác. "Chỉ giác tự kỷ" (Chỉ
giác ngộ chính mình), tức là chỉ quan tâm đến bản thân, chú trọng giác ngộ bản
thân mình. Nếu bạn cho rằng chỉ quan tâm bản thân, giác ngộ bản thân, không
quan tâm người khác, chẳng phải thành tu Tiểu thừa Phật pháp sao? Thế thì bạn
sai rồi. "Nhân giác tự tâm giả" (Bởi người giác ngộ tự tâm mình), bởi
vì khi bạn dùng cảm giác để giác ngộ tâm mình, luôn cảm nhận bản thân như thế
nào như thế nào, thực tế đó chính là người giác ngộ tất cả chúng sinh. Con
người bản thân là một thể thống nhất, bởi vì cơ thể mỗi người đều từ một
"nguyên linh" (linh hồn gốc) mà ra. Bạn chỉ cần dùng nguyên linh cảm
nhận chính mình, thực tế cái bạn đang cảm nhận chính là chúng sinh trên thế
giới. Nếu bạn có thể cảm nhận được việc mình làm đúng hay sai, thì bạn chính là
đang cảm nhận chúng sinh. Cho nên gọi là Đồng thể đại bi.
"Điều tôn quý nhất của đời người là gì?" Xin mọi người hãy khắc ghi: "Điều
tôn quý nhất của đời người chính là đối mặt với sự giả dối và bất nghĩa của
người khác, vẫn có thể giữ được sự thân thiết của mình đối với họ".
Nếu bạn biết người ta giả dối, người ta bất nghĩa, nhưng bạn vẫn có thể tươi
cười đối xử rất thân thiết với họ, thì bạn chính là Bồ Tát. Mấy người trong các
bạn làm được điều này? Phải học cách dung nạp người ta, người ta không tu,
người ta là phàm nhân, bạn là người có tu, bạn là "giả ngã" (cái tôi
giả), đừng coi mình là thật. Con người dựa vào cái gì mới có thể giành được sự
tôn trọng của người khác, dựa vào sự tu dưỡng của bản thân, đó chính là lời
nói, hành vi. Tại sao gọi là tu tâm tu hành, chính là một lời nói, một hành vi,
hành vi trong tâm.
Sinh
mệnh của một người, nhất định phải liên kết với sinh mệnh của tất cả những
người khác mới có ý nghĩa, tức là có người đó mới có bạn, có bạn mới có tôi, có
tôi mới có người đó, thực tế chính là một vòng tuần hoàn. Nếu tình cảm giữa
người với người không liên kết với nhau, người này không thể sống trên thế giới
được. Ví dụ: Một người không thể dung nạp người khác, không có bạn bè, bất hòa
với cha mẹ, bất hòa với con cái, bất hòa với bằng hữu, không liên lạc với bất
kỳ ai, các bạn nói xem người này sống trên đời có ý nghĩa gì? Cho nên con người
với con người là một chỉnh thể, xét về mặt huyền học, chính là cùng một nguyên
linh. Mỗi người từ thủa ban đầu đều ở cùng nhau, cho nên phải yêu thương giúp
đỡ lẫn nhau, dù nhìn thấy khuyết điểm của họ nhưng chỉ cần bạn vì muốn tốt cho
họ, thì đừng lo lắng họ sẽ không hiểu. Ngoài ra, vạn vật trên thế gian, thực tế
cũng tồn tại mối quan hệ mật thiết với tất cả các hiện tượng có sự sống. Tức
là, vạn vật trên thế gian đều có tình có nghĩa. Con người chúng ta có tình có
nghĩa, thực vật cũng có tình có nghĩa. Ví dụ: Dưa hấu mọc ra cam tâm tình
nguyện cho bạn ăn, để bạn giải khát. Rau củ mọc ra cam tâm tình nguyện cho bạn
ăn, để bạn có được dinh dưỡng, chẳng lẽ thực vật không có sinh mệnh sao? Thực
vật này sau khi được bạn sử dụng lại càng có ý nghĩa sinh mệnh của nó. Cho nên
con người và vạn vật trên thế gian đều có ý nghĩa. Hãy nhớ: Đừng tùy tiện lãng
phí lương thực, lãng phí lương thực chính là lãng phí sinh mệnh! Lãng phí lương
thực sẽ tổn phúc! Rất nhiều người giàu khi bố thí rất hào phóng, nhưng khi bản
thân tiêu dùng lại rất "keo kiệt", đây không phải là keo kiệt mà là
đang "tiếc phúc" (quý trọng phúc báo). Bởi vì họ biết những phúc báo
này có được không dễ dàng.
Ngộ đạo chi nhân, phùng khổ bất ưu. Nhân chi nhất thiết cảnh
giới đắc thất tòng "duyên", tâm vô tăng giảm, minh thuận ư đạo,
chuyển phàm thành thánh, tức tâm tức Phật.
"Ngộ
đạo chi nhân, phùng khổ bất ưu" (Người ngộ đạo, gặp khổ không lo). Một
người ngộ đạo, khi gặp khổ nạn sẽ không lo âu. Bởi vì họ đã ngộ ra đạo lý, họ
biết đời người tất yếu sẽ chịu khổ, một đời người chính là đến để chịu khổ, cái
khổ này của tôi là tự nhiên đến, là cái phải chịu, cho nên họ sẽ không lo âu,
cam tâm chịu khổ. Người lo âu chính là người chưa khai ngộ.
Con
người phải tùy duyên, phải dùng phương pháp tốt nhất để cái duyên này được viên
mãn. Người cố chấp chính là không thể tùy duyên. Gặp chuyện phải làm được từ
trong tâm không có tăng giảm. Cái tăng giảm này chính là coi trọng và không coi
trọng. Nếu bạn coi trọng, trong lòng bạn sẽ tăng thêm áp lực, nếu giảm bớt thì
sẽ thấy không sao cả. Một người tu hành chân chính thì ngay cả cõi âm (minh
phủ) cũng phải thuận theo duyên của bạn.
"Chuyển
phàm thành thánh". Tức là chuyển chúng ta thành thánh nhân. Chúng ta là
phàm nhân việc gì cũng phiền cũng tham. Ai cũng biết, Khổng Phu Tử của Trung
Quốc là thánh nhân, ngài truyền dạy văn hóa Trung Hoa. Một điểm rất quan trọng
của thánh nhân là có thể tha thứ cho người khác, tha thứ cho người khác thực tế
chính là sự khởi đầu của tâm từ bi, không tha thứ cho người khác làm sao sinh
tâm từ bi được? Không tha thứ cho người khác sẽ hận người ta, hận người ta sẽ
không có tâm từ bi.
"Tức
tâm tức Phật". Bốn chữ này bao la vạn tượng, tức là cái tâm này của bạn đừng
chuyển theo cảnh giới. Nếu tâm này là Phật, bạn chính là Phật, nếu tâm này là
ma, bạn chính là ma.
Phải
kính trọng tín tâm (lòng tin). Lòng tin của một người dựa vào cái gì để duy
trì? Chính là phải tôn trọng nó, không phải dựa vào người khác tôn trọng, mà là
tự mình tôn trọng lòng tin của chính mình. Một người ngay cả bản thân cũng
không tin thì làm sao làm được việc tốt? Một người không có lòng tự tin, làm
sao có thể học Phật tốt? Hôm nay nghe người này nói, cảm thấy có lý. Ngày mai
nghe người kia nói cũng có lý, cuối cùng sẽ chẳng làm nên trò trống gì. Năng
lực của một người có hạn, cả đời chỉ có thể tu học một pháp môn mới có thể tinh
tấn. Nếu pháp môn nào cũng muốn học, cuối cùng chẳng học được gì, hơn nữa đôi
khi tu sai lệch sẽ thành ma. Do đó phải tôn trọng lòng tin của chính mình, phát
tâm tu hành cho tốt.
Phương tiện tức thị cứu cánh. "Phương tiện" này không phải chỉ sự thuận tiện
như chúng ta nói ở nhân gian, mà thực tế chỉ một phương pháp, phương pháp linh
hoạt biến thông này gọi là phương tiện.
6. Tu tâm như đi trên băng mỏng
Trên
con đường học Phật tu tâm của chúng ta, có bốn chữ mọi người phải khắc ghi
trong lòng, đó là "Như lý bạc băng" (Như đi trên
băng mỏng). Bốn chữ này miêu tả vô cùng chính xác sự gian nan của con đường tu
tâm, cũng nói lên vô cùng chính xác một loại tâm thái mà chúng ta cần luôn giữ
gìn trong quá trình tu tâm. Người mới học dễ đi vào con đường sai lầm, người tu
hành cao thâm cũng có thể vì một sơ suất nhỏ mà công sức đổ sông đổ bể. Không
phải chỉ người mới nhập môn phải luôn nhắc nhở bản thân, mà tất cả những người
bước trên con đường học Phật, đều phải từng giờ từng phút phản tỉnh tự tâm, mới
có thể chiến thắng đủ loại tâm ma và ngoại ma khác nhau, đạt được mục đích học
Phật của chúng ta.
Bất
luận là trở ngại, chướng ngại hay cám dỗ, thứ cảm nhận được chúng chỉ có thể là
tâm của chúng ta, đưa ra sự thấu hiểu và kết luận cũng là tâm, cuối cùng đưa ra
phản ứng quyết định vẫn là tâm, đây cũng là lý do tại sao vạn pháp do
tâm, học Phật chính là tu tâm. Tu hành là sự hỗ trợ cho tu tâm, so với tu
tâm thì dễ dàng hơn nhiều. Niệm kinh, làm việc thiện, tích công đức, bố thí,
sửa đổi hành vi của mình v.v., làm trong khả năng, ai cũng có thể làm, chỉ là
nhiều hay ít mà thôi. Mặc dù nền tảng của tu hành được quyết định bởi tầng bậc của
tâm, nhưng rốt cuộc rủi ro nhỏ hơn nhiều. Nhìn lại tu tâm, thì không lúc nào là
không đối mặt với rủi ro.
Tu
tâm là tu cái gì? Thực tế chính là tu "nhận thức và thấu
hiểu", và trên cơ sở đó lựa chọn con đường đúng đắn. Điều này bao gồm
nhận thức và thấu hiểu về vũ trụ này, nhận thức và thấu hiểu về định luật nhân
quả và thiên lý, nhận thức và thấu hiểu về quy luật luân hồi, nhận thức và thấu
hiểu về các cõi giới khác nhau, nhận thức và thấu hiểu về nỗi khổ địa ngục,
nhận thức và thấu hiểu về quy tắc sinh tồn của nguyên linh, nhận thức và thấu
hiểu về câu "Vạn ban đới bất tẩu, chỉ hữu nghiệp tùy thân" (Muôn thứ
không mang đi được, chỉ có nghiệp theo mình) v.v., còn một điều rất quan trọng
chính là nhận thức và thấu hiểu về pháp môn, tổng hợp lại chính là nhận thức và
thấu hiểu về Phật pháp.
Một
người nhận thức và thấu hiểu về những chân lý trên càng nhiều càng thấu đáo,
thì càng gần với bản thân chân lý, tâm càng "minh bạch" (sáng tỏ), sẽ
ít đi đường vòng, tâm cảnh cũng sẽ ngày càng rộng mở bao la. Càng hiểu rõ những
đạo lý này, càng có thể đắc tâm thanh tịnh, bởi vì biết phiền não thế gian thực
ra rất nhỏ, danh lợi thế gian thực ra rất ngắn ngủi; càng hiểu rõ nhân quả và
thiên lý, thì càng hiểu rõ phải tu "thiện tâm", bởi vì bất kỳ tà niệm
nào cũng sinh sôi nghiệp chướng, gây ra ác duyên, lại phải tốn thời gian để
tiêu trừ; càng hiểu rõ cái khổ của địa ngục, thì càng không dám làm ác, bởi vì
bất kỳ ác hành nào đều có ác báo; càng hiểu rõ nhân quả và luân hồi, thì càng
kiên định niềm tin học Phật tu hành, bởi vì biết Phật pháp cuối cùng có thể
khiến bản thân lìa khổ được vui; nhận thức thấu hiểu về pháp môn càng chính
xác, thì càng có thể thấy hiệu quả trên đường tu hành, càng không bị tu lệch;
càng rõ ràng quy tắc sinh tồn của nguyên linh, thì càng có thể phát ra
"tâm từ bi", bởi vì vạn linh cùng một nguồn gốc.
Còn
những trở ngại, chướng ngại của tu tâm, đến từ thế tục hoặc đến từ thế giới tâm
linh, đều do chữ "Chấp" mà sinh ra, chỉ có "Tâm
tịnh" mới có thể phá trừ. Chấp là gì? Chính là nhận thức và thấu
hiểu không toàn diện không chính xác về chân tướng của vũ trụ nhân sinh, khi
nhận thức và thấu hiểu của một người không bao quát được vấn đề họ đang đối mặt
hoặc không giải đáp được nguyên nhân khốn cảnh hiện tại, họ sẽ dựa vào nhận
thức và thấu hiểu mình đang có để cố gắng tìm câu trả lời, kết quả như vậy hoặc
là "Ngộ" rồi hiểu rồi, hoặc là "Chấp".
Trong
cuộc sống thế tục, chúng ta thường vì đủ loại "bất công" mà sinh
phiền não. Ví dụ trong công việc, mình làm nhiều hơn, năng lực mạnh nhưng không
được coi trọng, cần cù chăm chỉ nhưng mãi không được thăng tiến; ở nhà, mình hy
sinh cho con cái người thân nhiều như vậy, họ lại không biết trân trọng. Tôi
chỉ muốn học Phật tu tâm, nhưng mọi phiền não thế gian cứ luôn quấy nhiễu
"tâm thanh tịnh" của tôi, chẳng lẽ tôi không thể vô lo vô nghĩ học
Phật tu tâm, thế gian không có tịnh thổ sao? Làm việc trong bệnh viện, nhìn
thấy toàn là cái khổ, bác sĩ y tá lại coi như chuyện thường, thường vì lơ là
tắc trách mà dẫn đến bi kịch nhân gian, bản thân muốn rút lui, tìm cách trốn
đời v.v., ví dụ nhiều không kể xiết. Ngay cả các đồng tu xung quanh, cũng sẽ vì
tầng bậc giác ngộ khác nhau, cách hiểu sự việc khác nhau, mà trong cách đối
nhân xử thế cũng có phương thức khác nhau. Do đó thường bị người khác hiểu lầm,
chế giễu, thậm chí phỉ báng, những điều này cũng thường thấy trong cuộc sống
của chúng ta. Những sự "bất công" này, dù là chủ quan hay khách quan,
đều là trở ngại tu tâm đến từ thế tục. Những suy nghĩ này đều đã bén rễ trong
đầu, dường như không xua đi không xóa được, mỗi ngày đều không ngừng tự hỏi bản
thân, ngày càng khẳng định suy nghĩ của mình là hoàn toàn chính xác, không có
cách giải thích nào khác, từ đó "chấp trước" vào những nhận thức
không chính xác này, không thể nâng cao về mặt nhận thức, lâu dần điều này trở
thành "ma" trong quá trình tu tâm.
Trong
những trường hợp này, chỉ cần học tập và áp dụng nhận thức và thấu hiểu đối với
lý luận Phật pháp, thì có thể coi nhẹ những phiền não và bất công này. Ví dụ:
Lãnh đạo không có năng lực, chỉ vì "anh rể" ông ta là tổng giám đốc,
ông ta mới ngồi ở vị trí này, bản thân năng lực phi phàm (tự cho là vậy), nhưng
luôn không được trọng dụng. Cần biết rằng, bạn không được trọng dụng, muốn đổi
việc nhưng mãi không tìm được, không trách được người khác, là do bạn nghiệp
chướng quấn thân, là con hổ bị nhốt trong lồng, muốn thuận lợi trước tiên phải
tiêu nghiệp chướng. Năng lực lãnh đạo của bạn thế nào khoan hãy nói, ít nhất
vận trình hiện tại của ông ta có quý nhân phù trợ, tiền đồ khá tốt, bởi vì kiếp
trước từng chăm sóc một người già cô quả nửa đời người. Có những nhận thức này,
rất tự nhiên bạn sẽ nhận thức được định luật nhân quả không sai một ly, cũng sẽ
tranh thủ thời gian tiêu nghiệp hành thiện. Lại ví dụ: Trong bệnh viện, nhìn
thấy quá nhiều bi kịch nhân gian, vậy có biết hay không, cậu bé 5 tuổi mắc bệnh
máu trắng kia, là do kiếp trước vì chuyện tình cảm mà từng hại một mạng người.
Còn bệnh nhân kia chết do sự tắc trách của bác sĩ, mặc dù bác sĩ tạo nghiệp
mới, nhưng chủ yếu là do linh tính trên người bệnh nhân đã theo bà ấy 30 năm,
ngăn cản bà ấy được chữa trị kịp thời. Nhận thức được điểm này, bạn còn thấy mê
mang nữa không?
Còn
một loại "chấp trước" là do nhận thức không chính xác về linh tính
hoặc thần thông gây ra. Ví dụ, thường xuyên nhớ nhung người bạn đã qua đời,
"không nỡ bỏ" linh tính trên người vì cho rằng là thiện duyên, muốn
nối lại "duyên mẹ con", nhưng nếu bạn có thể nhận thức chính xác
rằng, bất kỳ linh tính nào, dù là thiện duyên hay ác duyên, đều thuộc về cái đã
nên bị cắt đứt theo luân hồi mới, nếu chưa dứt thì cũng chỉ thuộc về duyên phận
tái luân hồi, hơn nữa sự nguy hại của linh tính đối với cơ thể người là không
thể tránh khỏi, không những gây tổn thương cho cơ thể, còn gây tổn hại cho tinh
thần. Thêm nữa là bạn chủ động muốn đi nối lại một duyên phận nào đó, rất có
thể kéo theo một chuỗi các "duyên" khác, hậu quả thường là không thể
tưởng tượng nổi, có phần giống như "rút dây động rừng". Biết được
những điều này, bạn còn muốn chủ động đi nối lại duyên phận đã cắt đứt đó
không? Còn có thể không buông bỏ được người bạn đã qua đời không?
Người
học Phật ngày xưa, phải trải qua sự nghiên cứu khổ cực đối với kinh văn và qua
sự ấn chứng với các đồng tu khác mới có thể kiểm nghiệm nhận thức và thấu hiểu
của mình đối với Phật pháp có chính xác hay không, sự gian nan trong đó có thể
tưởng tượng được. Ngày nay nhờ thông tin phát triển, chúng ta có thể rất dễ
dàng nhận được sự chỉ dẫn, đồng thời do có quá nhiều thông tin hỗn tạp có thể
dễ dàng tiếp cận, lại đặt ra cho chúng ta những khó khăn to lớn tương tự trong
việc phân biệt và lựa chọn. Điều này cho thấy việc nhận thức và thấu hiểu Phật
pháp từ xưa đến nay chưa bao giờ là việc dễ dàng.
Tại
sao nói tâm tịnh mới có thể phá "chấp"? Tâm tịnh không
phải bảo mọi người cái gì cũng không nghĩ, mà là để tâm ở vào một cảnh giới siêu
nhiên, siêu thoát ra ngoài sự tranh chấp quấy nhiễu của thế tục, chỉ có như vậy
mới không bị nó ô nhiễm, không bị cuốn vào trong đó, không bị chìm đắm trong
đó, đây là điều kiện tiên quyết để chúng ta có thể nhìn thấu trăm thái thế
gian, ngộ được chân lý Phật pháp.
Cho nên Đài trưởng cần các bạn trân trọng pháp mà Đài trưởng
truyền, bất luận mọi người sau này tu thế nào, bất kỳ người học Phật nào cũng
phải bắt đầu học từ những kiến thức cơ bản này. Phải coi Phật pháp như một môn
học vấn để học, Phật pháp dạy cho mọi người là những định luật cơ bản, giống
như công thức toán học vậy, mọi người cần dưới sự chỉ dẫn của Đài trưởng mà
"học một biết mười", áp dụng Phật pháp vào cuộc sống, nhìn thủng
phiền não, nhìn thấu thế thái nhân tình, dần dần sẽ có thể thản nhiên đối mặt
với sự thăng trầm của đời người, hiểu được tầng bậc này của Phật pháp rồi, sau
đó lại có tầng bậc cao hơn đợi chúng ta đi nhận thức, Phật pháp là vô cùng vô
tận.
7. Mối quan hệ quả báo giữa Cộng nghiệp và Biệt nghiệp
Trong
bài viết trước đã từng đề cập đến cộng nghiệp, cộng nghiệp chính là ác báo nảy
sinh sau khi rất nhiều người cùng nhau gieo xuống ác nhân. Ví dụ tốt nhất chính
là hiệu ứng nhà kính đang được bàn luận rộng rãi hiện nay. Chúng ta không thể
nói một cá nhân cụ thể nào đó phải chịu trách nhiệm cho việc này, về cơ bản đại
đa số chúng ta đều có một phần trách nhiệm. Ác nhân đã được gieo xuống, như khí
thải xe cộ, khí thải công nghiệp, khai thác tài nguyên rừng quá mức v.v., đều
là nhân trong cái đại nhân quả này. Tương tự, dựa theo định luật nhân quả và
thiên lý, ác quả sẽ tự động sắp xếp và báo ứng vào một thời điểm nào đó trong
tương lai.
Ác
nhân sau khi gieo xuống, không phải cứ thế ẩn nấp, không gây ảnh hưởng gì, mà
nó sẽ gây ảnh hưởng đến địa lý và thiên thời, tích lũy dần dần, cho đến khi
thời điểm báo ứng đến thì bùng phát. Giống như hiện nay mọi người đều đã chú ý
đến những biến đổi do hiệu ứng nhà kính mang lại, nhiệt độ tăng cao, thời tiết
biến đổi dữ dội, băng tan, lỗ thủng tầng ozone v.v., chính là ác nhân đang tích
lũy. Còn về ác quả có thể dự kiến chính là mực nước biển dâng cao, đất liền
giảm bớt, các thành phố ven biển bị nhấn chìm, thiệt hại của nhân loại sẽ không
thể lường trước được.
Khi
những thiên tai quy mô lớn như vậy xảy ra, ác quả báo sẽ ảnh hưởng đến những ai?
Có phải những người gặp nạn trong thiên tai đều là trong mệnh đã định sẵn phải
chịu quả báo của cộng nghiệp không? Thực tế, trong những thiên tai như vậy,
người gặp nạn không phải ai trong mệnh cũng có kiếp nạn này, rất nhiều người
bản thân trong mệnh thực ra đều có dương thọ dài hơn và nhiều phúc báo hoặc
nghiệp báo hơn được sắp xếp trong kiếp này. Nhưng họ đều có một điểm chung là
trong mệnh lúc này đáng lẽ có một kiếp (kiếp nạn), kiếp nạn chính là sự bùng
phát của nghiệp chướng tập trung khá lớn, phản ánh trên đồ đằng (Totem) chính
là một luồng khí đen có diện tích ảnh hưởng lớn và nồng độ cao. Mà ác quả do
cộng nghiệp mang lại chính là khí đen của môi trường bên ngoài chúng ta, thiên
tai chính là trạng thái cộng nghiệp sắp chín muồi bùng phát, sẽ hiện ra một
loại khí đen vô cùng đậm đặc bao phủ phạm vi tương đối lớn. Nếu lúc này người
trong mệnh có kiếp nạn và trên người mang khí đen đậm đặc mà bản thân lại đang
ở nơi sắp xảy ra tai nạn hoặc vì nguyên nhân nào đó đến nơi này, thì sẽ
"chạy trời không khỏi nắng" (tại kiếp nan đào).
Còn
người bản thân có phúc báo hoặc công đức đủ lớn, cho dù trong mệnh có kiếp nạn,
thân ở nơi xảy ra kiếp nạn, cũng có khả năng sống sót. Hoặc cho dù đã đặt vé
máy bay xong, cũng sẽ vì đủ loại nguyên nhân không thể đi mà tránh được nơi
kiếp nạn. Tất nhiên những thảm cảnh như địa ngục trần gian đó, phàm là người đã
trải qua, bản thân cũng vô cùng đau khổ.
Trong
thiên tai cũng có một số người tuy dương thọ chưa tận, gặp kiếp nạn không chết,
nhưng lại vì bị cộng nghiệp bao phủ, vẫn không thoát khỏi môi trường lớn đó.
Vậy thì những người này xuống địa phủ, theo luật âm (địa luật) sẽ không được
tiếp nhận, chỉ có thể phiêu dạt ở nhân gian trở thành vong hồn vất vưởng (du
hồn), cho đến khi dương thọ tận mới thôi, cho nên trong thiên tai hoặc trên
chiến trường có rất nhiều linh tính như vậy. Đây là một tình cảnh vô cùng đáng
thương, năng lượng âm (phụ tính) bị năng lượng dương (dương tính) bao vây, nơi
có thể đi vô cùng ít ỏi, năng lượng bản thân không ngừng tiêu giảm, cho dù đến
hạn có thể được địa phủ tiếp nhận, nhưng sức mạnh linh tính bản thân đã trở nên
vô cùng yếu ớt. Hoặc trong quá trình chờ đợi oán khí tích lũy mà đi vào con
đường khác. Cho nên người nhà càng cần phải nhanh chóng giúp đỡ siêu độ.
8. Ai đang thao túng vận mệnh?
Xưa
nay có bao nhiêu người thốt lên tiếng kêu gào "Tôi muốn nắm lấy cổ họng
của vận mệnh", lại có bao nhiêu người sau bao nhiêu nỗ lực, cuối cùng cúi
đầu trước vận mệnh, từ bỏ sự phấn đấu. Có cư dân mạng trong thư gửi đến bày tỏ:
"Sau khi xem xong Liễu Phàm Tứ Huấn tôi trở nên tiêu cực
hơn, đã là vận mệnh của tôi đều được định sẵn rồi, tôi nỗ lực còn có ích gì?
Cái gì đáng đến sẽ đến, cái không đáng đến thì nỗ lực cũng vô dụng." Bao
nhiêu bi kịch của nhân gian đều bị quy kết vào hai chữ vận mệnh, dường như vận
mệnh là nguồn gốc gây ra mọi nỗi đau khổ ở nhân gian. Chúng ta đem sự nghiệp
xuống dốc, tình yêu thất ý, con cái bệnh tật, gia đình tranh chấp v.v., đổ lỗi
một cách đơn giản lên đầu vận mệnh, dường như chúng ta thực sự trở thành nạn
nhân vô tội bị vận mệnh trêu đùa, chúng ta thực sự không có trách nhiệm với
những gì đã xảy ra, không có khả năng thay đổi tất cả những điều này sao? Thực
tế chúng ta mới là người viết nên vận mệnh thực sự của chính mình, cũng chỉ có
chúng ta mới có thể thay đổi nó. Vận mệnh là những đoạn phim trong kiếp này của
toàn bộ quá trình luân hồi, mỗi lần đầu thai vào luân hồi, chúng ta giống như
bắt đầu một vở kịch sân khấu mới, sau khi chuyển đổi vai diễn trong môi trường
mới, dựa theo kịch bản do chính chúng ta biên soạn, quên đi tất cả những gì
chúng ta tự biên soạn, diễn tiếp một cách máy móc theo yêu cầu của kịch bản.
Quy tắc cơ bản của vận mệnh
Vận
mệnh chính là một con đường được hình thành bởi chuỗi quả báo phải chịu trong
kiếp này. Luân hồi cũng vậy, vận mệnh cũng thế, sự vận hành của nó chỉ tuân
theo hai quy tắc cơ bản, lặp đi lặp lại (chu nhi phục thủy), không sót một
chúng sinh nào đều bị đưa vào trong đó. Hai quy tắc này là căn cứ cơ bản của
luân hồi, trước mặt chúng, chúng sinh nhất loạt bình đẳng không có sự khác
biệt.
Thứ
nhất là định luật đệ nhất của vũ trụ: Định luật nhân quả, cũng là
điều mọi người đều biết "có nhân tất có quả", "trồng dưa được
dưa, trồng đậu được đậu". Định luật nhân quả là một quy luật sắt mà hằng
hà sa số tam thiên đại thiên thế giới đều phải tuân theo, không có bất kỳ thế
lực nào có thể cắt đứt vòng tuần hoàn của quan hệ nhân quả. Cho nên hôm nay bạn
đối xử không tốt với mẹ chồng, gieo ác nhân, kiếp sau có thể bạn sẽ có quan hệ
vợ chồng không tốt, nhận ác quả; kiếp trước sát sinh quá nhiều, kiếp này sẽ
bệnh tật quấn thân... Đồng thời vì đã gieo nhân, thì tất nhiên phải kết quả,
cho dù là thế lực siêu nhiên cũng không thể vô cớ xóa bỏ nó khi quả chưa hình
thành. Cho nên nếu kiếp trước bạn làm rất nhiều việc xấu, đáng phải chịu quả
báo bệnh máu trắng, thì không có bất kỳ thế lực nào có thể ngăn cản nó xảy ra.
Cho dù bạn được thế lực siêu nhiên ưu ái, thay bạn chặn ác báo kiếp này, thì
kiếp sau bạn nhất định cũng phải trả. Tất nhiên nếu có người hoặc thế lực khác
nguyện ý gánh quả này thay bạn, điều này lại liên quan đến phúc báo của bạn,
một phần nhân quả khác, cách tính tuy phức tạp, nhưng cũng tuân theo định luật
nhân quả, hơn nữa cuối cùng cái nhân bạn gieo cái quả bạn đáng nhận là nhất
định phải kết.
Thứ
hai là Thiên lý. Thiên lý tuần hoàn, báo ứng bất sảng (báo ứng
không sai), không phải chỉ là nói đơn giản vậy thôi. Thiên lý thực tế là một bộ
chế độ quản lý, quy định chi tiết nhân gì được quả gì, bao nhiêu nhân được bao
nhiêu quả, thời khắc nào nhận quả. Thiên lý không chỉ quy định quả báo nhân quả
của cá nhân, mà còn quy định quả báo nhân quả của một khu vực, một triều đại,
một quốc gia thậm chí một thế giới. Thiên tai nhân họa chính là quả báo ác do
cộng nghiệp tạo ra, hiệu ứng nhà kính là một ví dụ tốt nhất. Tất cả đều nằm
trong phạm trù của Thiên lý.
Cho
nên một người vào một thời khắc nào đó làm một việc xấu, động một ác niệm, dựa
theo Thiên lý sẽ lập tức tự động sắp xếp quả báo đáng phải nhận, sau đó chuyển
hóa thành nghiệp chướng định vào một ngày tháng năm nào đó của kiếp sau sẽ xảy
ra; tương tự, việc thiện và công đức cũng sẽ tự động sắp xếp đến một thời khắc
đặc định nào đó nhận phúc báo.
Vì
vậy mỗi một suy nghĩ, ý niệm, hành động của chúng ta trong từng khoảnh khắc
gieo xuống nhân, dựa theo quy định của Thiên lý tự động chuyển hóa thành quả được
sắp xếp theo trình tự thời gian nhận báo ứng, sợi dây này nối lại hình thành
nên "vận mệnh" của kiếp sau. Rất nhiều lúc chúng ta không làm việc
tốt hay việc xấu gì, trong sự sắp xếp sẽ có rất nhiều chỗ gần như để trống, đây
là lý do tại sao chúng ta luôn cảm thấy trong đời có quá nhiều thời gian đều
đang chờ đợi —— chờ đi học, chờ thi cử, chờ tốt nghiệp, chờ gặp được người
trong mộng, chờ bước ngoặt của sự nghiệp, chờ cơ hội đến, chờ con cái ra đời...
Sự chờ đợi vô tận, lãng phí ngày tháng, lãng phí đời người.
Nghiệp chướng đời trước được mang đến đời này như thế nào?
Chúng
ta thường nghe đặc biệt là trong giáo nghĩa phương Tây luôn nói, mỗi người sinh
ra đều có tội, điều này là chính xác. Vậy tại sao một đứa trẻ sơ sinh thuần
khiết vừa mới chào đời lại có tội? Tội từ đâu và mang đến như thế nào? Trong
rất nhiều trường hợp giải đáp cho thính giả, có vài trường hợp đều là cha mẹ
trẻ trong ba năm sau khi con chào đời không có một giấc ngủ trọn vẹn, đứa trẻ
bị chàm và thường xuyên giật mình tỉnh giấc vào ban đêm. Tình huống này chính
là một lời giải thích tốt nhất cho thuyết "nguyên tội". Thực tế mỗi
người ở cõi Người đều có nghiệp chướng, nghiệp chướng chính là cái gọi là
"tội", không có nghiệp chướng sẽ không xuất hiện ở cõi Người. Cho nên
nói thuyết nguyên tội là chính xác.
Khi
ác quả đáng nhận một khi qua Thiên lý sắp xếp chuyển hóa thành nghiệp chướng,
giống như chương trình của một chiếc máy tính ghi lại tất cả thông tin tiềm
phục trên linh hồn con người, nhìn từ đồ đằng (Totem) chính là một khối khí đen
ở một bộ phận đặc định nào đó. Làm việc xấu hết việc này đến việc khác, khí đen
trên linh hồn sẽ chỗ này một khối chỗ kia một khối. Khi chúng ta vừa sinh ra,
những khí đen này sẽ cùng linh hồn mang đến kiếp này, và phát huy tác dụng vào
thời khắc đã định. Đây chính là cách thức nghiệp chướng đi theo, cũng chính là
"như bóng với hình" (như ảnh tương tùy). Khi người dân của một khu
vực hoặc quốc gia nếu không hành thiện mà chuyên tạo nghiệp, thì cũng sẽ hình
thành khí đen tương tự, từ đó ảnh hưởng đến thiên thời địa lợi, mà nhận ác báo.
Khi
nghiệp chướng chưa phát tác, nó có ảnh hưởng đến chúng ta không? Không những
có, mà còn rất lớn. Khí đen trên linh hồn giống như chất lỏng ăn mòn từng giờ
từng phút xâm thực cơ thể chúng ta, cản trở sự lưu thông của khí
mạch, chèn ép thần kinh của chúng ta, ảnh hưởng đến cảm xúc và trạng thái tâm
lý của chúng ta. Cho nên bệnh của một số người là do linh tính gây ra, còn một
số người là do nghiệp chướng quấn thân gây ra. Đây cũng là lý do tại sao thông
thường Đài trưởng Lư sẽ phân biệt bệnh linh tính và bệnh nghiệp chướng.
Nghiệp
chướng chỉ có hai loại biến đổi, hoặc là bị triệt tiêu đi, hoặc là biến thành
linh tính phát tác ra. Mà linh tính thì có khả năng là do nghiệp chướng chuyển
hóa thành, hoặc từ bên ngoài đến. Vấn đề nằm ở chỗ đã là nghiệp chướng là quả
trong một mối quan hệ nhân quả, lẽ ra không thể bị xóa bỏ, vậy tại sao lại có
thể bị triệt tiêu? Cái gì có thể triệt tiêu cái quả này?
Tu Phật, lạy Bồ Tát, niệm kinh, tại sao có thể tiêu nghiệp
chướng?
Nghiệp
chướng là ác quả trong một mối quan hệ nhân quả, đồng thời nó là quả mà nhân
bạn gieo đáng phải nhận, vậy thì ngoại trừ bạn dùng một phần nhân quả thiện
khác để triệt tiêu nó, không có bất kỳ thế lực nào có thể động vào nó. Mà nhân
quả thiện chính là công đức, cho nên công đức có thể triệt tiêu nghiệp chướng.
(Chi tiết xem bài "Sự khác biệt giữa việc thiện và công đức" trong
bộ "Bạch Thoại Phật Pháp").
Tu
Phật tu cái gì? Tu chính là Tâm, tu ra tâm thanh tịnh, tâm thiện, tâm bình
đẳng, tâm từ bi, loại bỏ vọng tâm, tham tâm, sân tâm, si tâm, chấp trước tâm.
Mọi người đều biết thiện ác chỉ trong một ý niệm, chỉ có tu sửa tâm cho đúng
cho thiện, mới có thể đảm bảo không gieo ác nhân, từ đó tránh được ác quả, cho
nên tu tâm là yếu chỉ (mục đích chính yếu) đầu tiên của tu Phật.
Niệm
kinh lạy Bồ Tát, không phải nói là Bồ Tát sẽ tiêu nghiệp chướng cho bạn, mà là
vì niệm Kinh lạy Bồ Tát chính là công đức, "quả báo không thể nghĩ
bàn", "thành tựu công đức không thể nghĩ bàn". Trong tình huống
bình thường, công đức sẽ tự động sắp xếp theo quy định của Thiên lý, sẽ không
chủ động đi triệt tiêu một nghiệp chướng nào đó. Nhưng mỗi khi bạn cầu xin Bồ
Tát từ bi, phù hộ cho công việc của bạn thuận lợi, tình yêu như ý v.v., Bồ Tát
có thể vận dụng thần thông từ bi dùng công đức của bạn để triệt tiêu cái nghiệp
chướng đặc định đang cản trở sự nghiệp hoặc tình yêu của bạn, từ đó khiến bạn
trở nên thuận lợi. Công đức của bạn và thần thông từ bi của Bồ Tát thiếu một
cũng không được, nhưng nền tảng vẫn là công đức của chính bạn, một phần thiện
quả đi đổi một phần nghiệp chướng. Nếu có người chỉ liều mạng cầu xin Bồ Tát mà
không làm công đức, không niệm kinh, thì Bồ Tát cũng không có cách nào giúp
bạn. Nếu nghiệp chướng sâu, công đức mỏng, việc cầu xin cũng sẽ không thành
công.
Làm thế nào áp dụng vào cuộc sống của chúng ta?
Hiểu
rõ tất cả những điều này, thì chúng ta nên hiểu cần phải tranh thủ thời gian,
tận dụng từng phút từng giây để tu tâm tích lũy công đức. Đồng thời vì đã hiểu
mối quan hệ tương ứng sâu sắc giữa công đức và nghiệp chướng, mỗi người chúng
ta có thể dựa vào mức độ nghiệp chướng của mình, lập ra mục tiêu tu hành ngắn
hạn tương ứng. Nghiệp chướng sâu, bình thường luôn cảm thấy việc gì cũng không
thuận, cầu Bồ Tát niệm kinh rất nhiều nhưng vẫn không chuyển biến tốt, đây
chính là nghiệp chướng quấn thân cản trở vận trình, cần tập trung tinh lực tiêu
nghiệp chướng, niệm nhiều "Ngôi Nhà Nhỏ". Nghiệp chướng mỏng, vừa
niệm kinh là có cảm giác, cầu Bồ Tát cầu gì được nấy, thì chính là bản thân bạn
có công đức có tu hành, thì phải nâng cao yêu cầu, tu tâm tích lũy công đức là
quan trọng nhất.
Sau khi hiểu được những đạo lý này, hy vọng mọi người có thể
nhận rõ vận mệnh của mình được hình thành như thế nào, đừng oán trời trách
người, đùn đẩy trách nhiệm nữa, mà hãy buông bỏ gánh nặng, chuyên tâm tu hành,
đem tất cả thời gian chờ đợi dùng vào việc niệm kinh tu công đức, thì cho dù
kiếp sau vẫn ở cõi Người, thì mỗi ngày của chúng ta cũng sẽ toàn là quả báo tốt
đẹp, giống như sống trên cõi Trời vậy.
9. Vấn đề tại sao sau khi học Phật vẫn không chuyển biến tốt
Gần
đây khi sắp xếp câu trả lời cho các bạn hữu, tôi thường lắng nghe nỗi khổ tâm
trong lòng và cảm nhận được sự nghi hoặc của rất nhiều bạn. Tại sao năng lực
của tôi không kém người khác, mà họ có thể dễ dàng tìm được công việc tôi hằng
mơ ước, còn tôi đến giờ vẫn đang bôn ba? Tại sao trên người tôi có nhiều bệnh
tật như vậy, cho dù tôi đã niệm nhiều kinh thế này vẫn không thấy đỡ v.v.,
nhiều không kể xiết. Đặc biệt gần đây có một người bạn gửi Email hỏi vấn đề như
sau, rất tiêu biểu: "Chuyên môn hồi hướng, phổ hồi hướng tôi đều đã làm.
Không thuận lợi đã nhiều năm rồi, niệm Phật kinh cũng không ít năm rồi, năng
lực làm việc rất mạnh, nhưng vẫn mãi không tìm được việc làm. Cũng thường xuyên
cầu Bồ Tát phù hộ tìm được việc làm. Những năm qua tôi đã niệm mấy ngàn
biến Đại Bi Chú, mấy trăm biến Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện
Kinh, gần một triệu biến Chuẩn Đề Chú rồi. Gặp thầy bói
toán cực linh mà người khác giới thiệu, xem cho tôi thì lại không chuẩn. Các
phương diện khác cũng có trở ngại, về công việc, cứ đến trước ngày phỏng vấn
một ngày, nến tôi thắp sẽ xảy ra vấn đề, công việc rõ ràng rất phù hợp với tôi,
lại bị người khác cướp mất một cách trắng trợn, ở các phương diện khác cũng như
vậy. Cả đời này tôi chưa từng hại ai, cũng chưa bao giờ thích tranh giành với
người khác. Cho nên tôi rất muốn biết rốt cuộc là ai hận tôi, trêu đùa tôi như
vậy? Rốt cuộc là tại sao?" Có thể nói người có suy nghĩ và thắc mắc như
vậy chiếm số lượng không nhỏ, từ đây chúng ta có thể thấy rõ một số vùng nhận
thức sai lầm phổ biến về tâm lý, những tâm lý này thường được gọi là ma chướng,
không những khiến trong lòng tồn tại nghi hoặc khi niệm kinh, dẫn đến tâm không
thành, tâm không tịnh, làm hiệu quả niệm kinh giảm đi rất nhiều, đồng thời cũng
khiến người có suy nghĩ như vậy vô thức tìm kiếm thêm nhiều ví dụ thực tế trong
cuộc sống để củng cố suy nghĩ này, khiến niềm tin tu Phật giảm sút, thậm chí
cuối cùng từ bỏ, tác hại của nó là vô cùng rõ ràng.
Vùng
nhận thức sai lầm quan trọng đầu tiên của tâm lý này là: Cả đời này tôi
không hại ai, tại sao tôi lại khổ thế này? Hoặc tại sao tôi lại không bằng cái
người xxx năng lực làm việc còn kém hơn tôi kia? Thực tế điều này liên
quan đến bản chất của "Mệnh", vấn đề Mệnh do cái gì quyết định. Mệnh
là thứ đã được định sẵn ngay khi một người sinh ra, được quyết định tổng hợp
bởi phúc báo, công đức, nghiệp chướng, ác báo của các kiếp trước và quá khứ,
giống như tông điệu của bài hát, tông cơ bản giàu nghèo cao thấp của mỗi người
đều có sự khác biệt, kiếp này không thể thay đổi được (không tuyệt đối). Khi
Đài trưởng xem đồ đằng (Totem), điểm này rất rõ ràng, ví dụ cùng là tuổi Rồng,
có con rồng sống động như thật, râu bay đuôi vẫy, có con thì như điêu khắc gỗ
đá, thiếu sinh khí, hơn nữa hoàn cảnh của rồng cũng không giống nhau, có con
rồng bay vút lên không trung, tiền đồ vạn dặm, có con thân sa lầy trong vũng
bùn, trở ngại trùng trùng. Có con Hổ là hổ qua núi tìm được chỗ thích hợp, có
con Hổ là hổ xuống đồng bằng (lạc bình dương), khó có ngày ngóc đầu lên được.
Tất cả những điều này, đều do phúc báo hoặc nghiệp chướng nhiều đời của bạn
quyết định. Đây cũng là lý do tại sao có người sinh ra ở vùng nông thôn xa xôi (sinh
nơi biên địa, một loại tội báo), trải qua vô vàn khổ nạn và nỗ lực mới thi đậu
đại học vào thành phố, còn có người vừa sinh ra đã ở thành phố lớn, hưởng thụ
văn minh và tiện ích của thành phố. Cùng là người thành phố, có người sinh ra
trong phú quý, có người sinh ra trong nghèo khó v.v., những sự khác biệt lớn
này, mọi người đều rất dễ hiểu. Còn có những khác biệt nhỏ, cùng là bạn học, có
người thông minh khác thường, có người thì hiểu chậm kinh khủng, nhưng người
thông minh khác thường, ra trường lại không gặp thời, sự nghiệp bình bình, còn
người tư chất bình bình lại thuận buồm xuôi gió, làm nên sự nghiệp. Đây đều là
quả của kiếp này do nhân của kiếp trước dẫn đến. Đây cũng chính là câu trả lời
cho người bạn kia, mặc dù kiếp này bạn làm người tốt chưa từng hại ai, nhưng
kiếp trước lại làm rất nhiều việc xấu, cho nên điểm cơ bản của mệnh kiếp này
rất thấp, phải chịu những khổ này để trả báo. Mọi người không chỉ phải hiểu đạo
lý này, mà còn phải áp dụng đạo lý này vào cuộc sống thực tế. Phải hiểu hiện trạng
của mình, không phải do "đời bất công", mà là vì đời rất công bằng,
báo ứng không sai, đã tính toán tổng hợp các kiếp trước của chúng ta, nên mới
có đủ loại "bất công" mà bạn nhìn thấy. Mỗi một món nợ hôm nay của
chúng ta vẫn đang tiếp tục được ghi lại, kiếp sau tính tiếp.
Vùng
nhận thức sai lầm thứ hai là: "Đã tôi tu Phật, thì nên nhanh chóng
tốt lên chứ". Thông qua tu Phật có thể thay đổi vận mệnh không? Có thể
thay đổi từ tông điệu cơ bản (cơ điệu) không? Hổ xuống đồng bằng có thể biến
thành hổ trên sườn núi không? Rồng trong bùn có thể bay lên không? Chuột dưới
nước có thể nổi lên mặt nước không? Những điều này đều là vấn đề mỗi người
chúng ta quan tâm, muốn nói rõ những điều này bắt buộc phải kết hợp với sự thay
đổi của Vận mới được. Vận, chính là con đường phía trước của mỗi đồ
đằng, cho dù là rồng bay lên không trung, đường cũng có cao có thấp, cũng có
chỗ lồi lõm, hổ xuống đồng bằng cũng có lúc gặp đường bằng phẳng (nhất mã bình
xuyên). Thông qua tu Phật, tu đúng pháp (như pháp tu), có thể tu con đường lồi
lõm trở nên bằng phẳng hơn một chút, giai đoạn đường bằng phẳng tu cho dài hơn
một chút, đây là tu cho vận trình tốt lên thuận lên, ứng với cuộc đời chúng ta,
có thể biến vận xấu vận bại từ chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không, vận
tốt vận đắc ý phải cố gắng kéo dài, hơn nữa lợi ích được tối đa hóa. Đây là
điều có thể làm được thông qua tu Phật. Vận thay đổi rồi, từ đó quay ngược lại
ảnh hưởng đến tông điệu cơ bản của Mệnh, nhưng đây là một quá trình thay đổi
lâu dài, không phải một sớm một chiều. Thông qua tu Phật lâu dài, có thể kéo
con hổ dưới đáy vực lên sườn núi, kéo con rồng trong vũng bùn lên bên bờ đầm,
nhưng đều có một giới hạn (độ), giống như học sinh lớp 2 tiểu học, thông qua
cần cù học tập tinh tấn, có thể hoàn thành chương trình lớp 5 tiểu học, nhưng
khó trở thành học sinh cấp 3 hay sinh viên đại học, gần như không thể trở thành
tiến sĩ. Bạn muốn trở thành "tiến sĩ", thì phải có đại công đức hoặc
tu đức tu phúc nhiều đời mới có thể đạt được. Cho nên mọi người phải hiểu, con
người có sự khác biệt, sự khác biệt là tồn tại, muốn kiếp sau tốt, kiếp này
phải cần cù tu, làm việc tốt gieo ruộng phúc, muốn kiếp này tốt, càng phải tu.
Vậy
nếu tu Phật có thể khiến người ta tốt lên, tại sao người bạn kia vẫn cảm thấy
khó khăn như vậy? Rất nhiều đồng tu cũng sẽ có nghi vấn như vậy. Mọi người đều
đang tu, nhưng tại sao "tu Phật" nhiều năm rồi, kinh niệm nhiều thế
rồi, "tôi vẫn không thuận"? Xin hỏi một chút, Phật cho chúng ta
"tám vạn bốn ngàn pháp môn" là để chúng ta chịu đựng thêm nhiều đau
khổ sao? Là để bạn lặp lại trải nghiệm "tại sao tôi cứ không được"?
Không phải đâu, "tám vạn bốn ngàn pháp môn" là để chúng ta tu tốt hơn
và thuận tiện hơn. Nếu khi bạn tu nhiều năm rồi mà vẫn không cảm nhận được thần
thông từ bi của Phật Bồ Tát, thì trước tiên bạn phải tự hỏi mình, có hiểu tu
Phật phải tu như thế nào không.
Từ
vấn đề của vị đồng tu nói trên, có thể thấy anh ấy cho rằng mình tu ít nhất
cũng khá ổn, nhưng lại không có hiệu quả, từ đồ đằng của anh ấy cũng nói lên
điều này. Vấn đề nằm ở đâu?
Nguyên nhân có hai: Một là pháp môn tu có chỗ không phù hợp. Tại
sao Phật nói "Pháp như phiệt dụ giả, pháp thượng ưng xả hà huống
phi pháp" (Giáo pháp như chiếc bè [để qua sông], pháp còn nên bỏ
huống chi không phải pháp)? Là bởi vì Pháp và Pháp môn đều có tính thời hiệu,
thay đổi theo thời đại. Một ví dụ đơn giản nhất là trước đây Phật giáo khuyến
khích mọi người lên núi xuất gia tu hành, bỏ nhà nhỏ thành nhà lớn, hiện nay là
nhập thế tu hành (tu giữa đời thường), tu nhà nhỏ thành nhà lớn. Cho nên pháp
môn cũng đang thay đổi. Hồi hướng không phải là một pháp môn
mà người bình thường có thể tùy tiện vận dụng. Kinh mọi người niệm cũng giống
như tiền hiện tại, còn Hồi hướng chính là quyên góp từ thiện, đặc biệt là hồi
hướng cho "oan gia trái chủ nhiều đời nhiều kiếp”, đó chính là quyên góp
cho nhân dân toàn thế giới vậy. Xin hỏi bạn có bao nhiêu gia sản? Trong nhà bạn
đã ăn no mặc ấm chưa? Thêm nữa, tiền bạn quyên góp chia đều ra nhân dân toàn
thế giới mỗi người được mấy hào mấy xu, có tác dụng gì? Cho nên chúng ta muốn
niệm kinh tu Phật, trước tiên phải tu bản thân, trả sạch nợ của mình, làm bản
thân mạnh lên, vận của mình mới có thể tốt lên. Khi nợ của bạn trả hết, đồ đằng
của bạn không còn nhơ nhớp nữa, tu tiếp mới có thể dùng để cải vận. Nếu bạn nói
"tôi trả không xuể, có thể cho tôi tốt hơn một chút rồi trả sau
không", nhưng linh tính trên người bạn sẽ không đồng ý, nghiệp chướng của
bạn đến giờ đến lúc vẫn bắt bạn phải trả, không sai một ly. Cho nên đừng tùy
tiện hồi hướng, trước khi chúng ta giải quyết vấn đề "no đói" cá
nhân, không những phải siêu độ linh tính trên người, còn phải tịnh nghiệp
chướng, đây mới là việc quan trọng hàng đầu. Cho nên chỉ cần đắc pháp (tu đúng
pháp), cho dù vận của bạn vẫn chưa chuyển tốt, nhưng chỉ cần bạn tu, sự thay đổi
là tồn tại thực sự, tu sớm đắc sớm, tự tu tự đắc, không tu không đắc, giống như
dùng lửa đun nước sôi, tuy chưa thấy nước sôi sục, nhưng nhiệt độ nước đang
tăng lên, chỉ là có người lửa mạnh, rất nhanh có thể đun sôi một ấm nước, còn
có người chậm hơn chút. Khác biệt nằm ở chỗ tuy người sau ngọn lửa nhỏ (công
lực không sâu), nhưng chỉ cần kiên trì, cuối cùng cũng có lúc sôi.
Nguyên
nhân thứ hai là lựa chọn kinh văn không chính xác. Có những bài kinh không phải
ai cũng có thể tùy tiện niệm, giải thích cụ thể là kinh khác nhau có hiệu quả
dược lý khác nhau, cho nên mỗi người phải dựa vào tình hình thực tế của mình để
chọn kinh văn phù hợp. Kinh văn cũng giống như các môn học đại học, một người
nếu học quá nhiều môn, sẽ không có thành tựu. Hơn nữa cho dù là đúng chuyên ngành,
sinh viên năm nhất cũng không thể học chương trình năm ba. Chọn dùng Kinh gì,
cũng chính là đang đi những con đường khác nhau, cùng một đạo lý, có Kinh là
nền tảng, có Kinh phải đợi công lực đến một tầng bậc nhất định mới có thể niệm.
Không phải Kinh gì cũng có thể tùy tiện lấy ra niệm. Chỉ cần mọi người nghiêm
túc đối đãi với hai điểm này, trước tiên chú trọng dùng pháp môn chính xác để
siêu độ trả nợ, đồng thời dùng kinh văn chính xác để làm mạnh bản thân, rất
nhanh sẽ cảm thấy sự khác biệt.
Dưới
đây là một vùng nhận thức sai lầm phổ biến: "Chúng ta nên hồi
hướng, tức là cứu giúp người khác, không nên nghĩ đến bản thân trước".
Thực tế đây là cách hiểu phiến diện về Phật pháp. Quả thực một mục đích chúng
ta tu Phật là cứu người độ người, một thước đo quan trọng là mức độ phát tâm từ
bi. Nhưng đừng quên, cứu độ chúng sinh là cần có công lực, giống như chúng ta
cứu người trong nước lũ, trước tiên bản thân phải có sức mạnh, thuyền của mình
phải kiên cố. Ngoài ra các Đại sư thường nói "buông bỏ", đúng vậy,
"buông bỏ" rồi, tâm mới thanh mới tịnh, nhưng làm thế nào mới có thể
buông bỏ đây? Cho dù tôi không tham, nhưng "tôi phải nuôi gia đình"
mà. Đây chính là điều Đài trưởng Lư thường nói, mỗi người phải tự cứu mình
trước, tu tốt bản thân tu gia đình, nhà mình tu tốt rồi, tu cho "chiếc
thuyền" của mình kiên cố đủ lớn rồi, chúng ta mới có thể cứu người khác,
giúp đỡ người khác, nếu không thuyền của mình chỗ nào cũng rò nước, người chưa
cứu được ai, bản thân đã chìm trước rồi. Đồng thời bạn là một trong những chúng
sinh, người nhà bạn cũng là một trong những chúng sinh, cứu chữa chính bạn và
người nhà bạn, cũng là đang cứu chúng sinh.
Tu
Phật tu cái gì? Thông thường, đa số đồ đằng vì sự tồn tại của linh tính hoặc
nghiệp chướng, bản thân sẽ có khí đen, giống như những người bệnh tật nhiều năm
khí đen sẽ bao phủ phần lớn đồ đằng. Còn người vận khí sự nghiệp có trở ngại
không thuận lợi thì không chỉ bản thân đồ đằng có khí đen, xung quanh đồ đằng
cũng sẽ có khí đen bao quanh, những khí đen bên cạnh này chính là trở ngại, là
do nghiệp chướng dẫn đến, giống như đèn giao thông có tác dụng kiểm soát giao
thông, quản lý vận trình của con người. Một người bất luận đang ở vận tốt hay
vận xấu, đều có thể có tình trạng này, cho nên trong vận tốt thường tiềm ẩn
nguyên nhân của vận xấu. Đây cũng là lý do tại sao "mỗi cây mỗi hoa mỗi
nhà mỗi cảnh". Ngay cả một người vận khí rất tốt, cũng luôn có chỗ này chỗ
kia không như ý, sau khi tu hành đắc pháp, sẽ có hai điểm thay đổi: Bản thân đồ
đằng sẽ trở nên sạch sẽ và sáng lên, khí đen xung quanh nhạt đi thậm chí có mây
trắng bao quanh. Và hai điểm này sẽ khiến vận khí con người thay đổi. Bản thân
sáng lên, nói một cách hình tượng, chính là năng lượng bản thân tăng cường, sức
đề kháng tăng cường, hơn nữa nghiệp chướng tiêu trừ, nợ linh tính đến hạn cũng
trả rồi, từ đó khiến bản thân khi gặp vận xấu có thể dễ dàng vượt qua khe rãnh
trên đường, khi vận tốt đến chạy nhanh hơn cao hơn xa hơn. Khí đen xung quanh
nhạt đi hoặc biến mất, người này có thể mọi việc thuận ý, tiền đồ xán lạn. Cho
nên nói bước đầu tiên của tu Phật chính là phải làm được hai điểm này.
Mọi
người khi mới bắt đầu tu, giống như dò dẫm trong bóng tối, không biết con đường
nào mới là chính đạo, không biết mình đi có đúng không, cũng thường mang nghi
vấn "tôi tu được cái gì rồi". Đài trưởng Lư cùng đi trên một con
đường với mọi người, nhưng có thể nhìn xa hơn một chút, nhiều hơn một chút, cho
nên nguyện làm ánh nến trong đêm tối cho mọi người, soi sáng con đường và
chướng ngại trước mắt cho mọi người; nguyện làm thước đo sự tiến bộ cho mọi
người, luôn nhắc nhở mọi người về mức độ và phương hướng tiến bộ. Đài trưởng Lư
không phản đối mọi người hỏi tiền đồ hỏi nhân duyên, nhưng hy vọng mọi người có
thể thảo luận nhiều hơn về những vấn đề như tu thế nào, tinh tấn thế nào, đây
mới là vấn đề chúng ta nên quan tâm hơn. Cũng hy vọng bài viết này có thể giải
đáp nỗi băn khoăn trong lòng đa số đồng tu, giúp mọi người tâm thanh tịnh, tu
hành tốt hơn.
10. Phương pháp ngăn chặn nghiệp chướng nảy sinh
Mỗi
suy nghĩ mỗi hành vi trong kiếp này đều có thể sinh ra nghiệp chướng, Tham Sân
Si, Ngã chấp Tha chấp, đều là nguồn gốc của nghiệp chướng. Làm thế nào để
nghiệp chướng không sinh ra?
Thứ
nhất dựa vào Giới, Giới chính là sửa đổi, sửa bỏ thói xấu, sửa bỏ
thói quen, sửa bỏ tính khí, bỏ đi Tham và Sân. Con người đều có thói quen này
nọ, hoặc là tính khí, "tôi là người thẳng thắn, có sao nói vậy", thế
có được không? Ngay cả không hiểu mà giả bộ hiểu cũng là khẩu nghiệp, chưa nói
đến việc không kính Phật không kính Bồ Tát. Không sửa không giới (cai), cứ uống
rượu cứ ăn thịt, tu tâm thế nào? Giới là nền tảng trong Giới Định Tuệ, chỉ có
sửa rồi cai rồi, mới có thể giảm bớt sự nảy sinh của nghiệp chướng, mới có thể
Định trụ (định lại), mới có thể không chịu cám dỗ, mới có thể không Si, có Trí
tuệ.
Thói
xấu lớn cai được rồi, bước tiếp theo là tầng bậc cao hơn "ngoan
cường đấu tranh với một thoáng ý niệm ích kỷ" (ngoan đấu tư tâm
nhất thiểm niệm). Đây thực ra là một câu nói của nhà Phật, tức là khi ác niệm
hoặc ý thức không tốt còn đang ở trong tiềm thức, thì phải lập tức ý thức được
nó là không đúng, dập tắt nó ngay khi chưa hình thành trạng thái, như vậy sẽ
không biến thành nghiệp chướng. Nếu cứ nghĩ thuận theo nó, ác niệm sẽ hình
thành, biến thành nghiệp chướng. Bước này rõ ràng khó hơn nhiều so với cai rượu
cai ăn thịt.
Sau
đó chính là Tâm ma ở tầng cao hơn rồi, tâm ma là do nghiệp
chướng gây ra cũng sẽ mang lại nghiệp chướng lớn hơn. Cái này chỉ người có tu
vi rất cao mới có thể có, cũng chỉ có đối mặt nhìn thấu, Ngộ rồi mới có thể
diệt tâm ma.
Tất
nhiên nhìn thấu cũng không đơn giản như vậy, ở đây bao gồm những lý niệm tu vi
rất cao, như trừ Ngã chấp trừ Tha chấp, phá trừ Tướng, Vô chúng sinh tướng
v.v., chỉ học trên lý thuyết thì không thể giải quyết vấn đề. Lấy vài ví dụ đơn
giản trong cuộc sống: Gặp một cô gái xinh đẹp, người bình thường chỉ nhìn thấy
vẻ đẹp bề ngoài của cô ấy, thưởng thức ngoại hình, nhưng tu vi đến trình độ của
Đài trưởng Lư, sẽ nói: Chao ôi, một thiên nữ xuống trần, phạm lỗi rồi, phải tu
cho tốt nhé, nếu không không về được đâu, đáng thương thay. Bởi vì tôi có thể
nhìn thấy tiền kiếp của cô ấy, tiếp nhận thông tin nhiều hiểu biết toàn diện
hơn, cho nên Đài trưởng Lư có thể nhìn thấu "túi da" (thân xác), bỏ
đi "Chấp", không chấp tướng (trước tướng), đây chính là Tuệ.
Ngoài
ra đối với tiền tài công danh mấy người có thể nhìn thấu có thể buông bỏ? Đài
trưởng Lư nhìn thấu được, bởi vì Đài trưởng Lư nhìn thấy luân hồi, nhìn thấy vị
lão niên này sẽ chuyển sinh làm nam, hơn nữa kiếp sau làm khoa học, nhìn thấy
người ta có tiền là phúc báo nhiều đời, người này cả đời lận đận là vì kiếp
trước làm ác quá nhiều, cũng nhìn thấy đời người là một phần ngắn ngủi của một
con người, tu hành là thứ thực sự có thể mang đi được.
Tiền
tài và túi da như nhau, có được có nguyên nhân, mất đi cũng có đạo lý. Điều này
giống như một vận động viên leo núi chuyên nghiệp đang leo lên đỉnh núi tuyết,
anh ta biết thể lực vô cùng quý giá, mỗi bước đều phải sử dụng chính xác, không
thể lãng phí, mang vác nặng cũng phải tính toán chính xác, không thể thiếu cũng
tuyệt đối không thể thừa, đồng thời biết trước khi trời tối bão tuyết ập đến,
bắt buộc phải đến được điểm cắm trại an toàn tiếp theo. Lúc này anh ta thấy
xung quanh có người đi sai đường, có người đang ngắm cảnh, có người đang đuổi
theo linh dương, cho nên anh ta phải nói với những người này hãy đi con đường
này, đừng lãng phí sức lực đi nhanh đi, bão tuyết đến rồi linh dương không cứu
được bạn đâu. Đây chính là nhìn thấu và không nhìn thấu. Cho nên muốn nhìn thấu
thì phải có Trí tuệ, mà muốn có Trí tuệ, thì phải thông qua Giới - Định để tu.
Công cụ thứ hai ngăn chặn nghiệp chướng nảy sinh là "Tâm
biết ơn" (Cảm ân tâm), tâm biết ơn nói ở đây, không chỉ đơn thuần
chỉ tâm thái, nó là một công cụ, đây là một pháp môn tu hành. Trong thất tình
lục dục của con người, mỗi tình mỗi dục đều sẽ sinh ra nghiệp chướng, chỉ có
tâm biết ơn mới có thể đoạn tuyệt nghiệp chướng, là loại tâm tình "duy
nhất" có thể khiến nghiệp chướng không sinh ra, cũng là vũ khí
hiệu quả đối phó với Tham Sân Si, cho nên khi bạn dần dần quen dùng tâm biết ơn
để nhìn người và việc xung quanh, nghiệp chướng sẽ ngày càng ít đi.
11. Sự khác biệt giữa Việc thiện và Công đức
Mọi
người đều biết câu "Thiện có thiện báo, ác có ác báo", thực ra nhìn
từ góc độ Phật pháp thì câu nói này là chính xác. Việc thiện niệm thiện chỉ
những hành vi tốt, suy nghĩ tốt, phàm là việc thiện niệm thiện đều sẽ được ghi
chép lại, đồng thời sẽ nhận được thiện báo vào thời cơ thích hợp. Tương tự,
niệm ác hành vi ác cũng sẽ bị ghi lại và chịu trừng phạt, báo ứng không sai.
Chỉ là thiện báo do việc thiện niệm thiện mang lại không thể triệt tiêu ác báo
do ác niệm hành vi ác gây ra. Nghĩa là, khi một người làm rất nhiều việc thiện,
nhưng cũng làm một việc đại ác, thì thiện báo của người đó vẫn sẽ nhận được,
nhưng ác báo cũng không thể nào trốn thoát. Đây là lý do tại sao có những người
được công nhận là người tốt, nhưng sau khi qua đời lại phải chịu khổ dưới địa
ngục.
Công
đức là một yếu tố được nhấn mạnh đặc biệt trong Phật pháp. Công đức là gì? Nó
có tác dụng gì? Thực ra công đức chính là việc thiện niệm thiện, nhưng bắt buộc
phải là những việc thiện niệm thiện được hứa nguyện phát tâm trước mặt Bồ Tát
mới là công đức. Những việc thiện niệm thiện bình thường của chúng ta, nếu
không phát tâm hứa nguyện trước mặt Bồ Tát, thì dù là tự phát hay chịu ảnh
hưởng của Phật pháp, nó cũng chỉ dừng lại ở tầng bậc biểu hiện của cái
"Tôi" (tự ngã). Lấy một ví dụ: Một người ăn chay, ăn rất nhiều năm,
nhưng chưa từng phát tâm hứa nguyện trước mặt Bồ Tát, thì cho dù ăn chay trường
mười năm, cũng chỉ có thể coi là sở thích cá nhân. Cho nên phải phát tâm hành
thiện trước mặt Bồ Tát, vui làm việc thiện thích bố thí, giúp đỡ người khác,
ngay cả việc hiếu thuận cha mẹ, yêu thương anh chị em cũng phải phát tâm. Tuy
nhiên, tại những nơi thờ phụng Phật Bồ Tát như chùa chiền, Quan Âm Đường, bất
cứ việc thiện nào cũng đều là công đức, không cần phải phát tâm thêm nữa. Điều
này giống như văn kiện của chúng ta phải qua JP (Justice of the Peace - Công
chứng viên/Thẩm phán hòa giải) ký tên mới có hiệu lực pháp lý vậy, việc thiện
niệm thiện chỉ khi có sự chứng kiến của Bồ Tát mới có thể chuyển thành công
đức.
Vậy
công đức có tác dụng gì? Mọi người đều biết tác hại của nghiệp chướng hay
nghiệt chướng, chúng giống như virus trong chương trình máy tính tiềm phục
trong A-lại-da thức của con người, thời gian đến sẽ kích hóa thành linh tính,
bắt đầu gây tác dụng lên con người. Đây cũng là lý do tại sao có người đột
nhiên từ rất khỏe mạnh chuyển sang nguy kịch phải cấp cứu, hoặc gặp tai nạn bất
ngờ, hoặc gặp kiếp nạn. Thậm chí có người nghiệp chướng quá sâu thì cả đời
không thuận lợi, sắc mặt u ám, oán trời trách người. Còn những việc làm ác hoặc
sát sinh trong đời này, nếu phúc báo vẫn còn chưa dùng hết, thì ác nghiệp cũng
sẽ biến thành nghiệp chướng lưu vào A-lại-da thức. A-lại-da thức là thức thứ
tám trong Bát thức, còn gọi là "Tạng thức", là thức căn bản, trong
A-lại-da thức chứa vô số hạt giống (chủng tử), có thể dẫn phát hành vi thiện ác
của con người (chủ yếu chỉ hoạt động tư duy). Nghiệp chướng tàng trữ ở nơi này,
chỉ có công đức mới có thể đi vào và triệt tiêu nghiệp chướng, từ đó đạt được
hiệu quả thanh lý nghiệp chướng. Đây chính là "Thân thị Bồ Đề thụ, tâm như
minh kính đài, thời thời cần phất thức, vật sử nhã trần ai" (Thân là cây
Bồ Đề, tâm như đài gương sáng, thường thường phải lau chùi, chớ để dính bụi
trần), phải dựa vào công đức để lau đi bụi trần trên tâm. Cho nên một chức năng
quan trọng của công đức chính là tiêu trừ và triệt tiêu nghiệp chướng, đây là
nhiệm vụ hàng đầu của người tu Phật tu tâm. Chỉ khi nghiệp chướng được tiêu
trừ, tâm mới thanh tịnh, trí tuệ mới khai mở, mới có khả năng giác ngộ.
12. Bàn về "Nhân không" và "Quả không"
Thế
nào là Không? Các bạn biết rằng cách nhìn của Phật giáo về bản chất của thế
giới gọi là Không. Chúng ta hiện nay không những phải học Phật, mà còn phải
vượt qua không gian và thời gian. Phải hiểu chữ "Không" này là một
cách nhìn về bản chất của thế giới, nghĩa là cái "Không" này là tuyệt
đối. Nhưng có vài loại Không, Tiểu thừa Phật pháp và Đại thừa Phật pháp có cách
hiểu về Không không giống nhau.
Tiểu
thừa Phật pháp hiểu về Không là Ngã không (cái Tôi là không). Thế nào là
"Ngã không"? Tôi là không, trên thế giới không có tinh thần vĩnh
hằng, nghĩa là cái "Tôi" là do tinh thần khống chế, thế giới này vĩnh
viễn không có tinh thần nào có thể khống chế tôi. Đây là nhận thức về Không của
Tiểu thừa Phật pháp.
Tiểu
thừa Phật pháp còn giảng về Quả không. Thế nào là "Quả không"? Nghĩa
là tất cả kết quả trên quan hệ nhân quả của người này, tất cả sự thực toàn bộ
đều là Không, trên thế giới không có hợp chất của các nguyên tố cơ bản vĩnh
hằng. Quả không chính là tinh thần của tôi thực ra là không. Vật chất khống chế
tinh thần này của tôi vĩnh viễn là không, thực tế là không tồn tại. Ví dụ: Nước
là do các phân tử nước kết hợp lại, nó là một dạng hợp chất. Nhưng đợi đến khi
nước bốc hơi, các bạn nói xem nước này còn hay không? Tư duy của con người có
thể có trong một giây, hai giây, nhưng có thể trong một, hai giây khác lập tức
biến mất, cái gì cũng không còn nữa. Tại sao lý luận hay như vậy của Tiểu thừa
Phật pháp lại vẫn không được thừa nhận ở Đại thừa Phật pháp? Bởi vì nó được xây
dựng trên nền tảng của cái đã hiện hữu và tồn tại. Bởi vì nó giảng cái Không
này là xây dựng trên cơ sở của "Hữu không" (Có cái không). Trên cơ sở
của việc có cái không để giảng là không, thực tế vẫn là Có, chưa phải là Không.
Đại
thừa Phật pháp giảng Nhân không. Thế nào là "Nhân không"? Ngay cả cái
Nhân của nhân quả cũng đều là không, huống hồ là Quả? Tức là không có cái nhân
này. Ví dụ: Hôm nay có người nói xấu bạn, nghe cũng đừng nghe, không có cái
nhân này thì bạn sẽ không tức giận sẽ không buồn bã, sẽ không tạo thành cái quả
kia. Tiểu thừa Phật pháp là khi bạn nghe vào rồi, trong tâm sẽ có cái quả này,
sau đó mới tiêu trừ hóa giải cái nhân này. Nhân không chính là không có nhân,
chính là hoàn toàn không có, thì không thể trở thành một cái quả trong tâm bạn,
đây gọi là Đại thừa Phật pháp. Đại thừa Phật pháp giảng ngay cả nguyên tố cơ
bản cấu thành sự vật cũng là không. Chính như Thiền tông đã nói: "Bản lai
vô nhất vật, hà xứ nhã trần ai" (Xưa nay không một vật, nơi nào dính bụi
trần). Đại thừa Phật pháp còn giảng một cái gọi là Pháp không. Thế nào là Pháp
không? Tất cả sự vật mắt nhìn thấy đều là không, toàn bộ đều không tồn tại. Cho
nên tất cả sự vật trên thế giới đều là không. Đừng chấp trước, đừng hận, đừng
mê hoặc.
Đại
thừa Phật pháp giảng bản nguyên của thế giới là Không, tức là thế giới này vốn
dĩ là không, đều là giả. Tất cả những thứ của thế giới tự nhiên đều là hư giả
hư ảo. Trên thế giới này cái gì là thật? Ví dụ: Hôm nay vợ chồng ở bên nhau yêu
đến chết đi sống lại, qua vài ngày hận nhau như kẻ thù, có phải là giả không?
Vì vậy một người nhất định phải có thông minh trí tuệ mới có thể chiến thắng sự
ngu muội của chính mình. Nếu không có thông minh trí tuệ thì vĩnh viễn không
chiến thắng được sự ngu muội. Cho nên, bạn cảm thấy tất cả mọi thứ trên thế
giới này đều là hư giả, thực tế sự hư ảo không chân thực này chính là "Giả
hữu" (Cái có giả tạm). Tất cả những gì các bạn đang sở hữu hiện nay đều là
cái có mang tính tạm thời, đều không phải chân thực, đều là giả hữu. Tất cả
những gì sở hữu hôm nay một khi mất đi, thì sẽ không còn gì cả. Như cha mẹ một
khi qua đời, cha mẹ sẽ không còn gì cả. Bất cứ thứ gì trên thế giới đều là giả
hữu, đừng cho rằng sở hữu rồi là vĩnh viễn sở hữu. Cái gì cũng sẽ thay đổi,
phải dùng phương thức tư duy khách quan là "Động" để nhìn nhận, bạn
sẽ không khóc lóc, sẽ không buồn khổ, không đau lòng. Nhìn vấn đề nhất định
phải dùng tiêu chuẩn "Động" để nhìn, chứ đừng dùng phương pháp chấp
trước đơn giản để nhìn, thì con người bạn sẽ mãi mãi sống trong cuộc sống tràn
đầy hy vọng. Khi một người sống trong hy vọng, sẽ cảm thấy thế giới này tốt đẹp
vô hạn. Khi một người nhìn thấy vạn vật trên thế giới đều không thể thay đổi,
họ sẽ cảm thấy thế giới này đối với họ như là ngày tận thế, vừa nghĩ đến tận
thế sẽ cảm thấy hụt hẫng thậm chí nghĩ đến chuyện tự tử. Hãy nhớ: Người có trí
tuệ vĩnh viễn sẽ không làm tổn thương chính mình, người làm tổn thương chính
mình là người không có trí tuệ, người nghĩ không thông sẽ tự làm hại mình.
Phải dùng ngộ tính của chính mình để trải nghiệm và thể ngộ nhân
sinh. Tu tâm là một sự ràng buộc đối với bản thân, tu tâm là một sự nâng cao
đối với chính mình, tu tâm là phải chịu khổ, cho nên gọi là khổ tu hành. Phải
kiểm soát đủ loại dục vọng của bản thân, phải tu sửa đủ loại thói xấu của bản
thân, sửa bỏ được thói xấu trên người mình bạn mới có thể tu thành chính quả.
13. Tâm không chuyển theo Cảnh, Linh không chuyển theo Duyên
Các
bạn phải nhớ kỹ: Làm một số việc ở nhân gian có thể thành công viên mãn hay
không, nằm ở Duyên chứ không phải ở Năng (năng
lực). Chủ yếu là duyên phận, chứ không phải là có làm được hay không. Nếu muốn
làm một việc gì đó, bất luận bạn nỗ lực bao nhiêu, có năng lực lớn thế nào,
cũng chưa chắc có thể thành công. Bởi vì phúc báo ở nhân gian là do nhân duyên
hòa hợp mà thành. Bạn có cái Nhân này mới có thể thúc đẩy thành cái Duyên này.
Nếu có một Chính Nhân và Chính Duyên hợp thành thì việc đó nhất định có thể
thành công. Phải nhớ kỹ: Nếu muốn sự việc thành công viên mãn, trước tiên phải
suy nghĩ kỹ xem nhân duyên của bạn có chín muồi hay không, chứ không phải bạn
có năng lượng và năng lực để làm thành hay giải quyết hay không.
Phải
nhớ kỹ: Lúc nào cũng phải niệm niệm vô thường. Tức là trong đầu
phải thường xuyên nghĩ thế gian không có gì là vĩnh cửu, không có gì vĩnh cửu
thì nó không phải là thật. Thế gian vốn dĩ là Vô thường Vô ngã, tức không có gì
vĩnh cửu, cũng không có cái Tôi, cho nên đừng chấp trước.
Tai
nạn ập đến phải bình tĩnh không loạn (phương thốn bất loạn), phải có niềm tin,
cho dù là Định nghiệp nó cũng có thể chuyển. Định nghiệp,
chính là những việc xem bói có thể tính ra được, gọi là "Mệnh". Ví
dụ: Xem bói nói bạn bao nhiêu tuổi có một cái hạn, đây chính là Định nghiệp.
Định nghiệp có thể thay đổi, nhưng nhất định phải có niềm tin. Như làm nhiều
việc tốt, phát đại nguyện, bố thí nhiều, cuồng niệm kinh (niệm kinh thật nhiều)
thì nhất định có thể thay đổi. Cho nên, cho dù là Định nghiệp nó cũng có thể
chuyển, nhưng phải chăm chỉ niệm Phật, đừng cầu thần bói toán. Người học Phật
bớt bói toán, phải tu hành cho tốt, phải tin Bồ Tát có thể thay đổi nghiệp lực
của bạn. Ngoài ra nói cho các bạn biết, phải thực sự Bất động tâm,
một người miệng nói tôi không động tâm, nhìn thấy tiền tôi không động tâm,
nhưng trong lòng lại không nghĩ như vậy, miệng nói và trong lòng nghĩ là hai
chuyện khác nhau. Các bạn nói xem mấy người có thể làm được bất động tâm. Như
một người đi trên đường có tiền bay đến dưới chân, bạn có nhặt hay không? Bạn
có động tâm hay không? Nhìn thấy việc có lợi có thể kiếm chác bạn có làm được
bất động tâm không? Động tâm rồi tiếp theo sẽ chịu quả báo này. Bạn có thể động
cái tâm này, nhưng quả báo đến bạn làm thế nào? Nếu gặp bất cứ chuyện gì ở nhân
gian, bạn thực sự không động tâm, bạn chính là một người cao thượng, đến giai
đoạn Thánh nhân rồi, bạn đã nhập vào dòng Thánh (nhập Thánh lưu). Bát địa Bồ
Tát mới có thể làm được Vô tướng Vô công dụng. Bởi vì chỉ có Bát địa Bồ Tát mới
có định lực thực sự, mới thực sự bất động. Cho nên, Phật cũng từ phàm phu đến
dòng Thánh, đi lên dòng trên cũng là từng bước từng bước đi tới. Hôm nay vốn là
người rất keo kiệt, bây giờ không keo kiệt nữa. Vốn là người không biết bố thí
xả bỏ, bây giờ biết bố thí rồi. Bố thí xả bỏ chính là khắc phục lòng tham của mình.
Bởi vì "Xả" là liều thuốc tốt nhất trị bệnh tham của bạn, có thể xả
thì sẽ không tham nữa, người có lòng tham sẽ không nỡ bố thí. Đây chính là nói
dùng phương pháp gì để khắc phục những thói hư tật xấu trên người mình.
Cảnh
giới bất luận chuyển thế nào, Tâm nhất định không được chuyển. Cảnh giới đến,
chính là chỉ những thứ không tốt trên người đến hoặc hoàn cảnh không tốt rồi.
Làm thế nào tiêu trừ tạp niệm của mình, không động tâm?
Thứ
nhất, phải Tuệ quán. Phải dùng trí tuệ để quán sát, phải hiểu tất cả
sự vật đều là tạm thời vĩnh viễn không trường cửu. Dùng trí tuệ nhìn vấn đề cái
nhận được chính là trí tuệ.
Thứ
hai, Quán địa ngục khổ. Khi bạn muốn làm việc gì không tốt, thì
phải nghĩ đến sau này quả báo đến sẽ xuống địa ngục, phải học cách kiềm chế bản
thân. Ví dụ: Tôi lừa gạt người ta, đối xử không tốt với người ta, tiếp theo
phải nghĩ đến sẽ chịu khổ như thế nào dưới địa ngục.
Thứ
ba, Quán ngạ quỷ khổ. Ngạ quỷ chính là những linh tính ở cõi quỷ
miệng rất nhỏ, bụng rất to, vô cùng đói khát đều rất đáng thương.
Thứ
tư, Trì chú sám hối. Tức là niệm kinh. Khi đầu óc suy nghĩ lung
tung trong lòng phiền não, phải chuyên tâm niệm kinh dùng tâm sám hối, phiền
não tự nhiên sẽ tiêu trừ. Chỉ có thành tâm thành ý dùng tâm để niệm kinh mới có
thể rời xa nghiệp chướng, rời xa ác ma, rời xa tất cả những thứ mang lại phiền
não cho bạn. Khi niệm kinh tư tưởng phải tập trung, nếu không sẽ không đạt được
hiệu quả. Nếu khi niệm kinh suy nghĩ lung tung chốc lát nghĩ cái này, chốc lát
nghĩ cái kia, kinh văn niệm ra sẽ tán loạn, tâm cũng tán loạn. Cho nên niệm
kinh phải dùng Tâm để niệm.
Niệm
kinh không có hiệu quả, ngoài việc tâm không thành ra, còn có một vấn đề về
hoàn cảnh bên ngoài, ăn mặn (thịt cá/huyết nhục), ăn ngũ tân Hộ pháp thần sẽ
không đến. Ngũ tân bao gồm: Hành, tỏi, hẹ, kiệu, hưng cừ. Tại sao không được ăn
những thứ có mùi hôi? Bởi vì tất cả những thứ có mùi hôi đều mang tính kích
thích. Những thứ có tính kích thích đều sẽ kích thích tế bào não của con người,
gây ra dục vọng ăn uống và tình dục của con người. Nếu Hộ pháp thần ngửi thấy
mùi kích thích, người niệm tụng sẽ không thể thành tựu đạo nghiệp của mình.
Khi
niệm kinh cần có những điểm sau, có thể niệm ra hiệu quả tốt hơn:
- Tâm khí hợp nhất.
Khi niệm kinh tâm của bạn và khí của bạn phải hợp làm một.
- Thanh khí hợp nhất.
Âm thanh của bạn và khí trường của bạn phải hợp thành một thể.
- Thân tâm khí hợp nhất.
Thân thể của bạn và tâm và khí trường của bạn phải hợp thành một thể. Tức
là ba trong một.
14. Bàn về Thụ giới và Khai ngộ
Hôm
nay giảng cho các bạn về trì giới, Phật nói: "Người năng trì giới, thủ
pháp, mới có thể đắc thân tâm an định." Nếu một người có thể trì giới,
biết việc gì có thể làm, việc gì không thể làm, giữ giới luật của mình. Thủ
pháp, cái pháp này ở nhân gian chỉ pháp luật, ở âm gian chỉ âm luật, trên trời
chỉ thiên luật. Chỉ có trì giới thủ pháp, thân tâm mới có thể an định. Thân tâm
an định như thế nào? Bởi vì bạn trì giới thủ pháp, biết rằng trì giới thủ pháp
có thể chữa trị phiền não, ưu sầu, sợ hãi. Lại ví dụ: Hôm nay bạn không làm
việc xấu, bạn sẽ không có cảm giác sợ hãi, cảnh sát đến cửa bạn cũng sẽ không
sợ. Nếu bạn có thể trì giới sẽ không có phiền não, ưu lự, sợ hãi. Ví dụ: Một
người rất béo, bác sĩ bảo rằng: "Nếu béo nữa sẽ bị bệnh tim." Nếu bạn
nghe lời bác sĩ, giữ giới không ăn nhiều thức ăn có cholesterol quá cao, không
ăn nhiều thức ăn dầu mỡ, bạn sẽ không có ưu lự nữa. Không có ưu lự, thân tâm
của bạn sẽ được an định.
Các
bạn biết tu tâm tu cái gì không? Tu tâm theo một ý nghĩa nào đó chính là giữ
giới (thủ giới), việc không nên làm, không thể làm. Lời không nên nói, không
thể nói. Điều không nên nghĩ, không thể nghĩ. Mọi việc đều phải kiềm chế bản
thân, cai bỏ những tập khí xấu trên người mình. Nếu một người không thể giữ
giới luật, người này sẽ không thực tâm tu tâm, chỉ có thể đi theo vận mệnh của
mình. Ngày nay rất nhiều người giữ giới luật, tu tâm niệm kinh, thân thể của họ
rất khỏe mạnh. Trong ngũ giới Phật Bồ Tát nói "Không trộm cắp", nếu
bạn không giữ giới đi trộm cắp, các bạn nói xem có bị cảnh sát bắt không? "Không
sát sinh", nếu bạn giết người, thì bạn phạm dương luật, tức pháp luật
dương gian. Nếu bạn giết động vật, thì bạn phạm âm luật, tức âm luật của âm
gian, mặc dù ở dương giới, pháp luật không thể trừng phạt bạn, nhưng trên âm
luật, vẫn phải chịu trừng phạt toàn bộ, cho nên ngũ giới đối với con người đều
nên tuân thủ, không chỉ dành riêng cho hòa thượng và ni cô.
Về thế gian này, nói cho các bạn hai việc: Thứ nhất, chuyện xảy ra trên thế giới này thì
đã xảy ra rồi, các bạn đừng cho rằng, tại sao lại xảy ra trên người tôi? Tại
sao tôi lại gặp chuyện này? Không có tại sao cả. Ung thư thì là ung thư rồi;
chết thì là chết rồi. Bao nhiêu người không có chuẩn bị tư tưởng, chuyện đáng
xảy ra cái đụp một cái là xảy ra rồi. Thứ hai, trên thế giới này tiền bỏ ra rồi
thì không phải là của bạn nữa. Ví dụ: Bạn bị người ta lừa tiền, bỏ ra rồi, thì
không phải là của bạn nữa. Có những người tham đồ lợi ích, muốn phát đại tài,
muốn tạo ra một số kỳ tích ở nhân gian, hãy nhớ, ở nhân gian không có kỳ tích
xuất hiện đâu. Cho dù là kỳ tích, cũng là do kiếp trước tạo ra, bình an là
phúc, có thể cả đời bình bình an an, người này chính là người có phúc. Sư phụ
trước đây từng giảng cho các bạn "Giới Định Tuệ", nhân Giới đắc Định,
bởi vì sau khi bạn Giới (cai/giữ giới) rồi, thân tâm sẽ ngày càng an định,
không cầu bất cứ thứ gì, không có dục vọng, tâm sẽ tịnh. Nhân Định đắc Tuệ, vì
bạn có thể định lại được, trí tuệ sẽ khai mở, gặp chuyện bạn sẽ bình tĩnh, sẽ
không cãi vã, sẽ không làm loạn.
Hôm
nay giảng cho các bạn về Tiểu tam khiếu, hay gọi là đầu óc khai
khiếu (mở mang đầu óc). Thính (Nghe), Độc (Đọc), Nhập (Vào).
Nghe
Phật pháp, nghe kinh văn, nghe đạo lý. Phải dùng tai để nghe, phải nghe nhiều.
Một người nếu có thể nghe nhiều Phật pháp, nghe nhiều lời hay, nghe nhiều lời
thiện lương, nghe nhiều lời có thể khiến người ta khai ngộ, người này sẽ từ từ
nhập khiếu, tức là khai khiếu (thông suốt).
Sau
khi bạn nghe xong, bắt đầu từ từ đọc Kinh, đọc một số sách của Sư phụ, sách của
Sư phụ tuy không phải là kinh thư, nhưng có thể khiến người ta phá mê khai ngộ,
có thể khiến bạn hiểu đạo lý, hiểu định luật nhân quả. Vì Sư phụ giảng đều là
Đạo Lý, chữ Lý của đạo lý rất quan trọng, bên cạnh chữ Lý thêm một chữ Số của
con số, gọi là Lý Số, tức đạo lý là có số lượng. Tà lý (lý lẽ sai lệch) cũng có
số lượng. Ví dụ: Nhiệt kế, trên 0 độ là chạy lên trên, là số dương, thuộc về
Chính lý. Dưới 0 độ chạy xuống dưới, là số âm, thuộc về Tà lý. Đảo ngược hai
chữ lý số này gọi là Số Lý, số lý dùng ở nhân gian tức là Toán Lý Hóa, dùng con
số để giải quyết một số vấn đề nhân gian. Còn Lý Số là giải quyết vấn đề cảnh
giới tư tưởng của con người, chỉ số thông minh cao, thực tế là lý niệm, năng
lực lý giải của bạn cao. Một người phải hiểu đạo lý, cái Lý này phải ở trên cái
Chính. Sư phụ tôn trọng các bạn, tôn trọng lý niệm của các bạn, tôn trọng sự
theo đuổi của các bạn, đem những thứ tốt nhất đẹp nhất, đem những thứ không học
được ở nhân gian truyền thụ toàn bộ cho các bạn.
Nghe
Phật pháp, đọc kinh văn, phải đọc thuộc lòng, sau khi nghe đọc rồi thực sự dùng
rồi, bạn mới có thể Nhập, mới có thể tiến vào cảnh giới này, không phải cảnh
giới bình thường, mà là cảnh giới khai ngộ.
Đời
người có hai cái gốc, một cái gọi là Thân căn, tức thân thể. Thân
thể là gốc rễ cái khổ của bạn, tại sao lại khổ? Là vì cái thân thể này, như: ở
nhân gian bị bệnh, mất việc, bị tai nạn xe v.v., đều là do thân thể của bạn
đang tạo tác, thân thể này chính là gốc rễ cái khổ của bạn. Lại ví dụ bạn khát
nước muốn uống nước, nếu không có nước thì làm sao? Muốn mua không có tiền thì
làm sao? Đành phải dùng thân thể đi chịu khổ kiếm tiền. Cái gốc khác gọi
là Vật căn, tức vật dục. Cái gì cũng muốn, không có được thì cảm
thấy khổ, đây cũng là một gốc bệnh.
Con
người chỉ cần có sắc thân thì nhất định sẽ Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Chỉ cần có vật
tồn tại, tức tất cả vật chất ở nhân gian, thứ có vật chất nhất định sẽ Thành,
Trụ, Hoại, Không. Ví dụ: Một cái bàn, đầu tiên dùng gỗ làm thành cái bàn, thành
công rồi, thời gian lâu gỗ bắt đầu biến chất mục nát, sau đó cái bàn hỏng
(hoại), không dùng được nữa, cuối cùng vứt đi, cái bàn đó liền không (trống
rỗng). Cho nên tất cả sự vật trên thế giới các bạn nhìn thấy, thực tế đều là
diễn biến của Thành, Trụ, Hoại, Không.
Con
người —— Sinh, Lão, Bệnh, Tử;
Vật
—— Thành, Trụ, Hoại, Không.
Đại
thừa Phật pháp là tâm độ tâm trí của Bồ Tát. Đại thừa Phật pháp giảng là cứu độ
tất cả chúng sinh, Bồ Tát không những biết mình rất khổ cần cứu độ, mà còn phải
cứu độ chúng sinh, ví dụ khi một tai nạn ập đến, khi một người đi cứu người,
anh ta có nghĩ đến cứu ai trước cứu ai sau không? Bồ Tát là không phân biệt
những thứ này, tất nhiên bất kể người nào cũng phải cứu. Tuy nhiên học Phật ở
nhân gian giống như loại Đại thừa Phật pháp cứu độ tất cả chúng sinh này rất
ít, bởi vì con người có tâm phân biệt. Bồ Tát nói: Cứu độ vô lượng vô biên
chúng sinh, giống như cát sông Hằng vậy, tức là không có số lượng. Hơn nữa Bồ
Tát cứu người trong Đại thừa Phật pháp gọi là Bình đẳng Phổ độ, tức là khi phổ
độ chúng sinh là bình đẳng, bất luận tình huống nào, bất luận nam nữ già trẻ,
bất luận nghèo giàu sang hèn. Ví dụ: Hôm nay những người nghe Sư phụ khai thị ở
đây, đạo hạnh mỗi người khác nhau, mức độ hiểu biết khác nhau, khả năng tiếp
nhận khác nhau, nhưng Sư phụ giảng giải bình đẳng cho mỗi đệ tử, nhưng năng
lượng mỗi đệ tử tiếp nhận được là không giống nhau, là không bình đẳng, sự
không bình đẳng này là do chính các bạn tạo ra chứ không phải do Sư phụ tạo ra,
Sư phụ đã cho các bạn năng lượng đồng đẳng, còn các bạn có thể tiếp nhận hết
hay không, phụ thuộc vào năng lực tiếp nhận và tu vi của chính bản thân các
bạn.
Tiểu
thừa Phật pháp khi cứu độ chúng sinh, là nhìn người mà lập, tức là phải xem đối
phương là ai, không thích thì không độ, có tâm chấp trước, người tôi thích tôi
độ, người tôi không thích thì không độ. Chúng ta phải tu học Đại thừa Phật pháp
cứu độ tất cả chúng sinh hữu duyên! Tiểu thừa Phật pháp còn có một điểm là
chúng sinh không cầu, không độ. Các bạn bây giờ có hiện tượng này không? Người
ta không cầu bạn, bạn sẽ không độ. Người ta không cầu bạn, các bạn có nghĩ đến
chủ động đi cứu độ người ta không? Phật pháp nói "Vô duyên bất độ",
không phải nói vĩnh viễn không độ, mà là đợi đến khi nhân duyên chín muồi sẽ
cứu độ, ngàn vạn lần đừng hiểu lầm. Trí tuệ của Bồ Tát là viên dung, là Chánh
đẳng Chánh giác, tu học Phật pháp phải toàn diện tinh tấn, chứ không phải nói
vui thì độ, không vui thì không độ, không có duyên phận nên tạo ra duyên phận
cũng phải độ, mấy người trong các bạn làm được?
Nghe
giảng Kinh, nghe giảng pháp, các bạn đừng đi nghe câu cú của người ta, Sư phụ
giảng kinh thuyết pháp cho các bạn, giảng là đạo lý nhân sinh, đừng đi nghe câu
cú của ông ấy, cũng đừng đi nghe ngôn ngữ từ ngữ của ông ấy, các bạn nên nghe
đạo lý ông ấy giảng, cũng chính là giáo lý. Bởi vì Sư phụ bây giờ đang dạy dỗ
các bạn, dạy các bạn một bộ lý luận, các bạn phải đi suy ngẫm cái Lý của ông
ấy, cái Lý này phải thích trung (vừa phải/đúng đắn), không phải tà lý, là chính
lý, là một bộ pháp lý, pháp lý Phật pháp nhân gian.
Giảng
cho mọi người về Linh giới, cảm giác, ý thức, thần thức của bạn chính là linh
giới. Linh giới có ý thức, có thần thức, thứ của linh giới chính là linh tính
mà con người chúng ta tiếp xúc. Linh giới là một không gian vô cùng lớn, linh
giới cũng là một Đạo, tức Quỷ đạo hoặc A-tu-la đạo hoặc Thiên đạo. Thần là gì?
Ví dụ: Trong đầu bạn bây giờ nghĩ muốn người nào đó đối tốt với bạn một chút,
không cần niệm Kinh, chỉ cần trong lòng cứ nghĩ mãi "đối tốt với tôi một
chút, đối tốt với tôi một chút..." xem xem người này có cảm ứng không? Đây
gọi là sự giao tiếp của tinh thần linh giới. Người với người tiếp xúc sẽ lập
tức biết có thích nhau hay không? Đây chính là ý thức, thần thức.
Nói đến phóng sinh, ưu điểm lớn nhất là cứu vị lai Phật. Bởi vì
tất cả những việc bạn làm khi phóng sinh hôm nay, hoặc đợi cá đầu thai sau này
có thể sẽ trở thành một con người, hoặc nếu để con cháu bạn nhìn thấy, nó sẽ
sinh ra một loại tâm từ bi, đứa trẻ này không chừng tương lai chính là Phật,
hãy nhớ sức mạnh của tấm gương là vô cùng tận. Con cá bạn thả xuống hôm nay,
cũng không chừng là người thân trong kiếp quá khứ của bạn. Phải dùng tinh thần
từ bi đại vô úy để tu tâm.
15. Bàn về "Sủng nhục" và "Khiên quải"
Con người
sống trên thế giới đều sẽ có cảm giác và cảm quan, bởi vì cấu tạo cơ thể con
người vô cùng kỳ diệu, nó hoàn toàn dựa vào tinh thần để điều khiển, tinh thần
của con người có thể điều khiển tất cả các chức năng của cơ thể, tinh thần tập
trung thì các chức năng sẽ phát huy toàn bộ tác dụng, nếu tinh thần lỏng lẻo,
các chức năng cơ thể sẽ mất hết tác dụng.
Hôm nay
các bạn lạy Quan Thế Âm Bồ Tát dựa vào sức mạnh gì? Dựa vào sức mạnh tinh thần,
có sức mạnh tinh thần mới có thể chuyển thành niềm tin, không có niềm tin thì
làm việc gì cũng không thành công, không có niềm tin, thì vĩnh viễn không nhìn
thấy ánh sáng, không nhìn thấy tiền đồ. Cho nên niềm tin của một người đối với
tu tâm là vô cùng quan trọng, bởi vì có loại niềm tin này bạn mới có thể dũng cảm
tiến về phía trước. Khi bạn không có niềm tin, bạn làm việc gì cũng không tốt.
Ví dụ: Khi một gia đình đối mặt với sự tan vỡ, nếu cặp vợ chồng này không muốn
ly tán, thì phải dựa vào niềm tin và tinh thần để gửi gắm và chống đỡ, tin rằng
hôn nhân nhất định sẽ chuyển biến tốt, hôn nhân sẽ phát triển theo hướng tốt.
Tuy nhiên niềm tin này có thể duy trì được hay không phải dựa vào cảm quan, cảm
quan chính là nhìn vào quá khứ của người đó, dựa vào tương lai của người đó,
quan trọng nhất là xem người đó có đang tu tâm hay không. Nếu người này hôm nay
đang tu tâm thì nhất định sẽ có niềm tin và hy vọng, nếu không tu tâm, thì
không có hy vọng, cảm giác và cảm quan cũng là hư không không thực tế.
Hôm nay
giảng cho mọi người về "Sủng" (được sủng ái/yêu chiều) và "Nhục"
(bị nhục mạ/hắt hủi). Sủng và nhục thực tế đều là hiện tượng kinh khủng (sợ
hãi). Ví dụ: Có người cả ngày được sủng ái, cũng sẽ rất sợ hãi, bởi vì họ không
biết ngày nào sẽ bị thất sủng vứt bỏ. Lại như: Một công nhân bình thường, ông
chủ bỗng nhiên đến nói với anh ta: "Ngày mai tôi thăng chức cho anh làm
giám đốc." Anh ta sẽ giật mình kinh ngạc, sẽ rất vui mừng. Thực tế đây là
một loại kinh khủng. Được sủng ái hay bị nhục mạ đều là một loại kinh khủng, loại
kinh khủng này mang lại nỗi lo âu lớn nhất cho bản thân. Người xưa có câu:
"Nhẫn nhục bất kinh", "Sủng nhục bất kinh". Hôm nay được
ông chủ thăng chức, tôi không kinh ngạc. Ngày mai bị ông chủ mắng, giáng chức
xuống đài, tôi cũng không kinh ngạc. Người như vậy tâm thái tốt, đừng để hôm
nay lên đài thì vui vẻ, ngày mai xuống đài thì đau lòng. Cho nên đừng để lại nỗi
lo âu trong lòng. Khi bạn được sủng ái và bị nhục mạ, thường sẽ tạo ra sự tương
phản quá lớn cho chính mình. Nhục, ở đây giải thích một chút, "Nhục"
không chỉ là nhục mạ, mà là bạn muốn làm một việc, nhưng không làm thành, thực
tế không làm thành chính là một sự nhục nhã. Được sủng ái thường chỉ người có địa
vị thấp hoặc làm việc không có tính thực chất, bỗng nhiên được thăng chức cái
vèo, sẽ lầm tưởng là được sủng ái, sẽ mừng rỡ (kinh hỷ), mà sự mừng rỡ này đều
mang tính tạm thời. Mọi người xem phim "Tờ một triệu bảng
Anh", một tờ một triệu bảng Anh cho một người nghèo cầm, cuối cùng tấm
séc một triệu bảng Anh này vẫn bị người ta lấy lại. Một người khi gặp một chuyện
tốt sẽ kinh ngạc, lầm tưởng những thứ trên thế giới thực sự mang lại niềm vui bất
ngờ cho bản thân, sau niềm vui bất ngờ kéo theo đó chính là mất mát, khi bạn mất
đi rồi, lại là kinh khủng vạn phần. Ví dụ: Hoàng thượng nói: Hôm nay thăng chức
cho khanh làm Tể tướng, vì Tể tướng mỗ mỗ không tốt, không tận chức. Khi bạn
làm Tể tướng rồi, nếu bạn không có năng lực làm Tể tướng, tiếp theo bạn sẽ ngày
ngày sợ hãi, không biết ngày nào sẽ bị xuống đài? Có thể còn thê thảm hơn vị Tể
tướng trước vừa xuống đài, không chừng còn có nguy cơ bị chém đầu. Đừng tưởng
cái đạt được tạm thời là chuyện tốt, cái này gọi là sự kinh khủng ngu muội.
Sủng đến
thì vui mừng. Sủng đi thì hụt hẫng. Nhục đến thì đau lòng. Nhục đi thì như trút
được gánh nặng. Một trái tim trôi nổi mãi trên thế gian này không được an ninh.
Mọi người đều hy vọng có một cuộc sống yên bình, nhưng trái tim này lại mỗi
ngày trôi nổi bất định, làm sao có thể yên bình? Ví dụ: Một người khi không có
bệnh, cả ngày phiền não vì công việc, chốc lát thì ông chủ hoặc đồng nghiệp đối
xử không tốt với tôi, chốc lát thì công việc không thuận lợi xảy ra vấn đề. Nếu
mắc bệnh nặng mất việc rồi, công việc không phiền nữa, nhưng trên thân thể lại
bắt đầu phiền não, nói xem, trái tim này ngày nào mới có thể an ninh. Không có
sự yên bình, vui giận thất thường, buồn vui bất định, con người sống trên đời
mãi mãi giống như đang bị bệnh, nhìn xem thân xác của bạn, tuy bây giờ không có
bệnh, nhưng linh hồn bạn đã bị bệnh rồi. Tại sao? Bởi vì ngày nào cũng sợ, bị
người ta nói tốt cũng sợ, bị người ta nói xấu cũng sợ, con người thời nay rất
nhạy cảm, nghe một câu tốt, điều đầu tiên nghĩ đến là có phải đang mỉa mai tôi
không? Đây chẳng phải tâm lý có bệnh sao? Cho nên thế giới ngày nay đề xướng
con người phải khỏe mạnh cả thân và tâm, chỉ khỏe mạnh thân thể thôi chưa đủ
còn phải khỏe mạnh tâm linh. Đối với việc được sủng ái và bị nhục mạ đều phải
nhìn nhận một cách bình thản, hôm nay mất việc không sao cả, sẽ tìm được thôi,
hôm nay bỗng nhiên phát hiện cơ thể có bệnh cũng không sao cả, sẽ chữa khỏi
thôi.
Một người
không có "Khiên quải" (vướng bận/lo nghĩ), mới là một
người thực sự vô tư. Nghe có vẻ không dễ hiểu lắm, sẽ cảm thấy không đúng, người
không có vướng bận sao lại là người vô tư được? Đổi một khái niệm để suy nghĩ
xem, không vướng bận chính là không có lòng riêng (tư tâm), không có bản thân
tôi. Nếu cả ngày vướng bận vì bản thân, công việc này, tiền đồ này, người nhà
này, v.v., đây có phải là đang có lòng riêng không? Phải học cách hiểu ngược lại,
một người vướng bận cái này, vướng bận cái kia, chính là lòng riêng rất nặng.
Quan Thế Âm Bồ Tát đến nhân gian cứu độ chúng sinh, nếu cả ngày vướng bận Bồ
Tát trên trời hoặc nghĩ tôi đến nhân gian chịu nhiều khổ thế này nên về thôi,
như vậy làm sao có thể cứu độ chúng sinh? Bao nhiêu hòa thượng pháp sư phát
nguyện, muốn cứu độ chúng sinh, nguyện xuất gia tu hành, sau này lại đến cứu độ
nhiều chúng sinh hơn nữa —— thừa nguyện tái lai. Đây cũng là sự cống hiến vô
tư.
Một người
không có vướng bận, mới là một người thực sự vô tư. Bởi vì họ đã cống hiến rồi,
không vướng bận bản thân, không vướng bận gia đình, không vướng bận tất cả sự
nghiệp, tiền đồ, tiền tài v.v., họ đây là đang "Xả", bởi vì người có
thể xả, mới là người vô tư, giúp đỡ người ta phải cống hiến vô tư. Nếu bạn giúp
đỡ người ta là để lợi dụng người ta, là để tương lai họ cũng có thể giúp đỡ bạn
hoặc người nhà bạn, các bạn nói xem sự giúp đỡ này có phải là ích kỷ không. Bởi
vì bạn có vướng bận, vướng bận bản thân, người nhà, hy vọng hôm nay tôi giúp bạn
xong, tương lai bạn cũng có thể giúp tôi, đây gọi là sự giúp đỡ có đền đáp (hữu
thường hồi báo). Người hiện đại Lôi Phong giúp đỡ nhiều người như vậy, anh ấy
có nghĩ cho bản thân không? Có nghĩ đến đền đáp không? Đây gọi là sự giúp đỡ
không có ngăn ngại (vô quái ngại), từ bi không điều kiện (vô duyên từ bi), sự cống
hiến vô tư.
Một người
thực sự không có vướng bận, mới có thể trở thành một người thực sự vô úy (không
sợ hãi). Trước tiên, sau khi vô tư mới có thể vô úy, bởi vì người cái gì cũng xả
bỏ, mới có thể cái gì cũng không sợ. Bao nhiêu bộ phim đều có thể thấy, những kẻ
xấu bắt cóc trẻ con, là vì chúng biết bạn vướng bận con cái, dùng cách này để
khiến bạn sợ, để đạt được mục đích của chúng. Từ góc độ nhân gian mà nói, con
cái hoặc người nhà mình bị bắt cóc, bạn có thể không vướng bận sao? Sao lại biến
thành đại vô úy rồi? Thực tế bạn hiểu sai rồi, khi bạn có tinh thần đại vô úy
vô tư, khi bạn tu tốt Bồ Tát sẽ phù hộ bạn, con cái hoặc người nhà bạn sẽ không
bị bắt cóc, người nhà bạn mới rất an định. Người nhà không an định, thực tế là
do bạn tu không tốt, không có phúc báo, mới gây ra sự bất an và đau khổ cho người
nhà. Một người vô úy, mới là một người thực sự làm nên việc lớn (đại hữu tác
vi). Một người làm nên việc lớn, mới có thể thực sự tiếp nhận trọng trách mà trời
cao giao phó.
16. Thiện ác và Nhân quả
Bản năng
thiên tính của con người có hai loại, một loại là Thực (Ăn), tức
sinh ra đã biết ăn. Một loại là Sắc, tức sắc dục nam nữ. Đều là do
bản tính sau khi ở nhân gian tạo thành —— Thực sắc tính dã. Gặp phải thực sắc
thì định như thế nào? Bởi vì chỉ có Định, mới có thể giữ vững thực sắc. "Dục
trung ly dục, hỏa trung sinh liên". Trong dục vọng mà rời xa dục vọng,
cũng giống như trong ngọn lửa đèn Phật sinh ra hoa sen vậy, rất khó làm được,
đây là lý do tại sao nhiều người không làm được việc tu trì ngũ giới. Dục trung
ly dục, tu hành tại gia phải tốn công lực gấp nhiều lần mới được. Hòa thượng tu
hành trong chùa, khá thanh tịnh, không tiếp xúc với bụi trần bên ngoài (ngoại
trần), sẽ không mơ tưởng viển vông, còn chúng ta tu hành tại gia bắt buộc phải
tiếp xúc với ngoại trần, tiếp xúc thì sẽ nghĩ, tu hành tại gia không dễ dàng
đâu, cái gì cũng phải kiềm chế. Sư phụ thường khuyên răn các bạn, muốn định lại
được, bắt buộc phải trì giới. Trì giới phải phối với một liều thuốc, chính
là "Từ Nhẫn". Một người muốn Giới (cai/bỏ), cai bỏ những
tập khí trên người mình, nhất định phải Từ Nhẫn, tức là sự nhẫn nại từ bi. Ví dụ:
Rất hận một người, nếu có thể nghĩ trong lòng, thực ra người này cũng khá đáng
thương, tâm từ bi này vừa sinh khởi, sẽ không hận nữa, đây chính là Từ Nhẫn.
"Ý
kiến" giống như cái đinh, càng đóng càng sâu. Tôi có ý kiến với bạn tôi
nói ra rồi, tôi không sao cả, tôi không cố ý, nhưng người khác sẽ găm vào trong
lòng. Đừng có ý kiến với người khác, người ta thường nói "có ý kiến nói ra
là tốt", đó là lừa người đấy. Bởi vì chúng ta là người chứ không phải thần,
loại "ý kiến" này nhất định sẽ tạo thành nền tảng cho sự "hận"
của người khác.
Nếu một
người tu hành phân chia thiện ác quá rõ ràng, thực tế người này đang phạm một
sai lầm lớn, tức là tâm đại sân (sân hận lớn). Nếu người này nói: Tôi là người
"tật ác như cừu" (ghét cái ác như kẻ thù). Thực tế người này có tâm hận.
Người học Phật không thể phân biệt thiện và ác quá rõ ràng. Bởi vì tất cả mọi
thứ ở nhân gian đều là giả tướng, đều do nhân quả sinh ra. Kiếp này bị người ta
bắt nạt, là do kiếp trước bạn bắt nạt người ta. Nếu bạn cho rằng người này sao
mà xấu xa thế, muốn đi báo thù đòi lại công bằng, tâm hận này của bạn đã gieo
xuống một cái quả không tốt trong lòng, sẽ làm tăng tâm sân của bạn, cần hiểu rằng
đây đều là cái nhân tạo ra từ kiếp trước. Cái nhân tạo ra từ kiếp trước, kiếp
này chỉ có tu tâm mới có thể thay đổi. Phân chia thiện ác quá rõ ràng, tâm sân
nặng, dễ đọa vào A-tu-la đạo nhất. A-tu-la đạo nam thì tâm sân nặng, nữ thì si
niệm nặng, tình si. Bởi vì, kiếp trước đàn ông từng đối tốt với cô ta, cô ta sẽ
cứ mãi mê luyến. Nhưng nếu thực sự đầu thai vào A-tu-la đạo cũng là có phúc
báo, A-tu-la đạo cũng là thế giới linh thể. Phật giáo có nhiều Hộ pháp thần đều
là A-tu-la đạo, nếu đắc tội ông ấy ông ấy cũng sẽ nổi nóng, nhưng đại Hộ pháp
thần có thiện tâm, cho nên thiện ác nhân gian cũng là sự tiếp nối của nhân
duyên quả báo.
Nhân gian
không có gì đúng và sai, chỉ có nhân và quả. Sư phụ dạy các bạn phương pháp kiềm
chế: Phỉ báng tôi, phải nhẫn họ; ức hiếp tôi, phải nhường họ; nhục mạ tôi, phải
tránh họ; coi thường cười nhạo tôi, phải mặc họ; chà đạp tôi, phải kính họ.
Nếu hôm
nay bạn muốn làm việc thiện, là ý nguyện phát ra từ trong tâm, suy nghĩ tốt, ý
nguyện tốt, đó là một loại tài sản vô cùng giá trị. Bởi vì khi bạn có ý niệm tốt,
phát ra từ trong tâm, thì trong ruộng bát thức (A-lại-da thức) của bạn đã gieo
xuống một hạt giống thiện lương, nó là một loại tài sản, là một sức mạnh vô
thanh nhưng lại vô cùng quan trọng.
Một người
chỉ có tự do bên ngoài mà không có tự do bên trong, là không có giá trị. Tự do,
tức tự tại. Tự do bên ngoài, ví dụ: Hôm nay môi trường bên ngoài rất tốt, hôm
nay đi làm ông chủ không có mặt, không ai quản lý tôi, muốn làm gì thì làm, muốn
nghỉ ngơi thì nghỉ ngơi, đây gọi là tự do của môi trường bên ngoài. Tuy nhiên,
khi bạn ngồi trong văn phòng, đôi khi lại cảm thấy rất đáng thương, khi không
có việc gì làm, liền bắt đầu rầu rĩ hoặc vọng tưởng, người nhà tôi thế nào rồi?
Mẹ bị bệnh nặng rồi, ông chủ về sẽ đối xử với tôi thế nào? Có biết những việc
tôi làm hôm nay không? Cảm thấy mình sống thật bất lực v.v., nỗi đau khổ nội
tâm và sự vô tri nội tâm này, đã tạo thành sự không tự do và vô tri bên trong;
do đó tội ác, ích kỷ bên trong sẽ kéo nhau mà đến, sẽ cảm thấy sợ hãi, không thể
kiểm soát tâm linh của mình. Chỉ có tự do bên trong và tự do bên ngoài hợp làm
một thể mới là tự do thực sự. Tự do bên ngoài vĩnh viễn không thể che đậy sự
không tự do bên trong.
Bản giác và Vô minh, phi nhất dã phi nhị (không phải một cũng
không phải hai), thực tướng vô minh, tức thị Phật tính. Cái tâm vốn dĩ mình có,
chính là Phật tâm, cộng thêm việc bây giờ bạn không rõ, không hiểu đối với bất
cứ sự việc nào, thực tế không phải một và hai, không phải tách rời, thực thuộc
về một đạo lý. Thân người của chúng ta gọi là tướng, thực tướng vô minh, chính
là nhục thể của chúng ta là vô minh, là không biết, không hiểu, thực tế chính
là Phật tính, giống như gương dính bụi, tức là bản tính của bạn bị ô nhiễm, giống
như nước nổi sóng. Vô minh thực tính, tức là nói cái vô minh của bạn cộng với
cái thực tính của bạn, thực tính vốn có của bạn chính là bản tính chân thật. Mặc
dù vô minh của bạn che lấp bản tính của bạn, nhưng, hai cái thực tính và bản
tính này thực tế là đồng vi nhất thể (cùng là một thể). Giống như: Mặt trời là
bản tính của bạn vừa sáng vừa tỏ, rực rỡ chói mắt, mây đen kéo đến che khuất mặt
trời của bạn, vậy mặt trời của bạn có còn sáng không? Mặt trời có còn rất sạch
sẽ không? Mây đen là rất nhiều tập khí bạn tạm thời nhiễm phải, là những thứ
không tốt bạn nhiễm phải ở nhân gian, khi đám mây đen này đi rồi, mưa tạnh trời
quang, mây đen tan đi, ánh nắng rực rỡ, bản tính thiện lương của bạn sẽ hiện
ra.
17. Thân huyễn hóa và Ý thức hư vọng
Pháp
thân, Báo thân, Hóa thân. Thân vốn có sẵn, thanh tịnh không tì vết gọi là Pháp
thân. Thân xác thịt của chúng ta chính là thân chịu báo này. Hóa
thân, cái thân hiện tại của chúng ta, không phải là thân linh tính xác thịt
ban đầu, mà chỉ là một hóa thân của Nguyên linh (linh hồn gốc), hóa thành xác
thịt để tiếp nhận linh tính này, gọi là Hóa thân. Pháp thân, Báo thân, Hóa thân,
thực ra vốn là một thân. Nếu không có Pháp thân bạn làm sao đến chịu báo? Nếu
không có thân xác thịt này làm sao tiếp nhận báo ứng này? Sự chịu báo ở linh
giới là trừng phạt linh hồn của bạn, còn sự chịu báo của con người là trừng
phạt Pháp thân của bạn. Tại sao nói thân này của chúng ta là hóa thân? Bởi vì
kiếp trước không phải là bạn, đã hóa thành bạn của ngày hôm nay. Ví dụ: Kiếp
trước bạn là Lý mỗ mỗ, nhưng kiếp này hóa thành Vương mỗ mỗ.
Phật
pháp giảng: "Huyễn hóa không thân, tức Pháp thân." Nghĩa
là cái thân thể này là không (trống rỗng), thực tế là ảo ảnh, là thân thể do
ngũ uẩn giả hợp mà thành, đợi đến khi bạn chết đi thì không còn gì cả. Huyễn
hóa không thân, nhân gian chúng ta gọi là Pháp thân. Ngũ uẩn giai không, tứ đại
phi hữu, cho nên nói: Huyễn hóa không thân. Có một phương pháp các bạn sẽ cảm
thấy thân thể mình là không, dùng phương pháp phân tích, thông qua phân tích để
giải thoát, bạn mới biết được thân thể con người là không. Ví dụ: Tai nạn lao
động mất tay, tai nạn xe cộ mất chân v.v., thân thể này đều là giả, nói mất là
mất, cho nên đừng quá chấp trước vào cái thân giả hợp này, đồ giả không giữ
được, tại sao không tu cái thật? Phải biết rằng tâm linh là thật, có thể tu
thành chính quả và có thể mang đi được.
Nếu
học Đại thừa pháp, đối ứng vạn pháp, đương thể minh không (ngay
nơi thể xác nhận rõ là không), thì không cần phân tích. Khi nhận biết tất cả
vạn pháp trên thế giới, tất cả những thứ nhìn thấy, hiểu rõ nó là không, thì
không cần đi phân tích, đi đối phó.
Bản
tính của chúng ta, đến từ Phật, tại sao Pháp thân tự nhiên của chúng ta lại có
Ngũ uẩn và Tam độc? Tại sao Pháp thân của chúng ta bắt buộc phải Ngũ uẩn giai
không? Giống như ánh hào quang của mặt trời chiếu rọi nhân gian, mang lại ánh
sáng cho mọi người, tại sao vẫn còn mây đen? Bởi vì thân tự nhiên và Ngũ uẩn,
Tam độc bản thân có sự kết hợp. Chúng ta sống trong môi trường cõi Người này sẽ
có Ngũ uẩn và Tam độc, Tam độc —— Tham Sân Si. Tâm của các bạn là lương thiện,
khi hận người ta, là bị mây đen che khuất. Giống như khi bạn thích một thứ gì
đó, vì theo đuổi cuồng nhiệt mà bị mê hoặc.
Ý thức, hư vọng, phân biệt. Ý thức tức là thứ suy nghĩ trong đầu. Hư vọng, theo đuổi một
cách không có logic, theo đuổi những thứ hư ảo. Ví dụ: Không có tiền, ngày nào
cũng muốn trúng xổ số, cái này gọi là hư vọng. Ý thức nảy sinh biến hóa, đi
chính là một con đường không thực tế, sẽ đưa bạn vào thế giới hư vọng. Ý thức
hư vọng chính là hiểu sai ý nghĩa của nó. Làm sao biết mình là hư vọng? Bạn
phải có cảnh giới này mới có thể biết cái sai của mình, hôm nay bạn học Phật
pháp, bạn biết không nên đánh bạc, không nên chơi cổ phiếu... không nên dựa vào
những thứ này để kiếm tiền, phát tài, nên dựa vào làm việc thực tế để kiếm
tiền, dựa vào đôi tay của mình để kiếm tiền, chứ không nên đầu cơ trục lợi.
Những cái này trong Phật pháp, Tướng học, Kinh Dịch v.v. đều thuộc về Thiên tài
(tài lộc lệch/phụ). Thiên tài, không phải Chính tài, thứ không phải Chính tài
chỉ có thể là tạm thời. Nếu không đạt đến cảnh giới nhất định sẽ cho rằng tôi
đánh bạc, mua cổ phiếu v.v. có gì sai?
Học
Phật phải giống như trồng cây, phải có rễ. Học Phật phải có nền tảng (căn cơ),
có nền tảng tốt rồi, từ từ học mới có thể mọc ra quả tốt, mới có thể mọc ra
cành lá tốt. Nếu chỉ biết theo đuổi danh lợi, giống như xây dựng một kim tự tháp,
đường càng đi càng hẹp, sẽ có lúc đến đỉnh, đến chóp tháp rồi thì không còn
đường để đi nữa.
Học
Phật là đắc trí tuệ, dạy các bạn xây dựng nền tảng vững chắc, giống như trồng
cây càng lớn càng cao càng um tùm, quả kết càng nhiều, đừng giống như kim tự
tháp đến đỉnh tháp rồi thì không còn gì nữa. Cho nên chúng ta học Phật
phải quảng chủng công đức thụ (trồng rộng rãi cây công đức),
vô lượng công đức, tức công đức vô biên vô lượng.
Vô
lượng công đức đến từ đâu? Đến từ Tín tâm (niềm tin), Tùy hỷ và Cảm ân (biết
ơn). Một, vô lượng công đức phải đến từ Tín tâm, trước tiên bạn muốn làm công
đức phải có niềm tin, tin vào chính mình, tin vào Quan Thế Âm Bồ Tát. Hai, Tùy
hỷ, nhìn thấy việc tốt thì phải làm, đi đến đâu việc tốt làm đến đó, cái này
gọi là Tùy hỷ. Ba, Cảm ân, muốn làm vô lượng vô biên công đức, nhất định phải
có niềm tin, bất luận làm việc tốt gì, bất luận là thuận cảnh hay nghịch cảnh,
cuối cùng đều phải biết ơn Quan Thế Âm Bồ Tát, để bạn mỗi ngày có thể sống cuộc
sống an định, thân thể khỏe mạnh. Con người nhất định phải có tâm biết ơn!
Vô
lượng vô biên Phật pháp, vô lượng vô biên trí tuệ, vô lượng vô biên công đức,
đều bắt đầu làm từ từng chút từng chút một, cuối cùng mới có thể đạt được một
sự đại viên mãn.
18. Bàn luận với các đồ đệ về Thần thông
Hôm
nay dạy các bạn làm thế nào sửa bỏ thói quen xấu hay nổi nóng. Tất nhiên phương
pháp tốt nhất là niệm Kinh. Còn một phương pháp là biến nó thành thói quen, hễ
muốn nổi nóng, lập tức theo thói quen nghĩ mấy câu, như: Tôi không thể nổi
nóng, nổi nóng không tốt cho tim, nổi nóng người ta sẽ cười tôi, nổi nóng sẽ
thiêu rụi rừng công đức v.v., thường xuyên nghĩ như vậy, sẽ hình thành thói
quen, đợi đến khi muốn nổi nóng, sẽ tự nhiên hình thành một bức bình phong
thiên nhiên, để ngăn cản bạn nổi nóng. Bức bình phong thiên nhiên này trong
lòng mỗi người các bạn đều có, chỉ là các bạn chưa dựng nó lên thôi. Ví dụ: Một
người đàn ông cả ngày nổi nóng ở nhà, còn người vợ trong lòng đã sớm dựng lên
bức bình phong thiên nhiên. Người đàn ông này nổi nóng lớn đến đâu, cô ấy đều
không để ý, trong lòng cô ấy sẽ nghĩ, người đàn ông thật đáng thương, thần kinh
lại bắt đầu không bình thường rồi. Câu nói này chính là bức bình phong thiên
nhiên của cô ấy. Cái này gọi là Vô biểu sắc, tức không biểu đạt ý
tứ. Không có bất kỳ biểu cảm nào, không có bất kỳ sắc nào, thực tế sắc này
chính là Không, không cảm nhận được sự tồn tại của vật chất này. Phải học cách
tìm vài lý do có thể khiến bạn giải thoát, có sức thuyết phục nhất đối với bạn
lưu giữ trong lòng, khi bản thân muốn nổi nóng, nghĩ đến những lời lưu giữ
trong lòng, nó sẽ ngăn cản lời nói hành động của bạn.
Rất
nhiều người đều muốn học thần thông. Bây giờ giảng cho các bạn thế nào là thần
thông. Thực ra người niệm Phật đều có thần thông. "Niệm Phật có thần
thông, Tổ sư đại đức không nói mà thôi". Con người có "Ngũ nhãn Lục
thông". Hôm nay giảng cho các bạn "Lục thông".
- Thiên nhãn thông.
Có thể nhìn thấy tương lai xa xôi, có thể nhìn thấy vị lai. Có loại Thiên
nhãn thông có thể nhìn thấy quá khứ, nhưng, Thiên nhãn thông thông thường
chỉ có thể nhìn thấy tương lai mà không thể nhìn thấy quá khứ. Người sinh
ra có thần thông Thiên nhãn, cần có hai loại Đức mới có thể đạt được.
Một, Báo đức, Báo đức là sinh ra đã có. Báo đức là những thứ
kiếp trước của bạn đã được lưu trữ trong não hải, đã có trong đức hạnh của
bạn. Hai, Tu đức, Tu đức là do tu vi hậu thiên (sau khi sinh
ra) mà có được.
- Thiên nhĩ thông,
có thể nghe thấy âm thanh rất xa, có thể nghe thấy âm thanh của tương lai.
Thiên nhĩ thông thông thường không phải tai của người bình thường, nó dựa
vào linh cảm để kích hoạt tai của họ để nghe. Linh cảm này chính là hồn
phách của họ, là thứ họ tu được từ kiếp trước. Nhĩ thông dựa vào linh hồn,
dựa vào sự tu luyện ở nhân gian mà có được. Thiên nhĩ thông có thể nghe
thấy âm thanh tương lai, có thể biết việc sắp xảy ra sau nửa tháng đến một
tháng, cũng có thể nghe thấy việc đã xảy ra trước nửa tháng đến một tháng.
- Tha tâm thông,
có thể biết người ta đang nghĩ gì, thực ra là một loại cảm ứng. Có thể
hiểu họ, nghĩ việc họ đang làm, nghĩ việc họ sắp làm, đây chính là Tha tâm
thông. Tha tâm thông có hai loại, một loại là Tha tâm thông hiện thực,
chính là bạn có thể cảm nhận được, như mũi có thể ngửi thấy, mắt có thể
nhìn thấy, tai có thể nghe thấy v.v. Một loại khác là Tha tâm thông vị
lai, chính là có thể biết việc sau này trong tương lai. Như có người đứng
trước mặt, hoàn toàn không cần nói gì, bạn có thể biết người ta đang nghĩ
gì, "tâm hữu linh tê nhất điểm thông". Con người đều có Tha tâm
thông, ví dụ: Khi đứa trẻ vừa sinh ra, bạn sẽ biết tính cách sau này của
đứa trẻ. Nếu đứa trẻ tính tình bướng bỉnh, vận tình cảm sau này sẽ thế
nào; nếu đứa trẻ trông rất xấu, hôn nhân sau này sẽ thế nào v.v., đây
chính là Tha tâm thông. Chủ yếu là các bạn không để ý, không nghĩ đến sau
này bạn sẽ thế nào mà thôi.
- Túc mệnh thông,
có thể biết quá khứ của người ta. Nếu có thể biết quá khứ của người ta,
thì có thể biết quá khứ của chính mình.
- Thần túc thông,
Thần túc thông giảng không phải là ý niệm của linh giới đi khắp nơi du
ngoạn, mà là nói trong cuộc sống hiện thực, chân của bạn sẽ đi khắp nơi du
ngoạn. Trong cuộc sống hiện thực người thích đi du lịch chính là Thần túc
thông. Tuy nhiên, phải biết họ đi khắp nơi là đang làm gì. Thần túc thông
bắt buộc phải làm công đức, Thần túc thông cũng là do tu luyện mà thành.
- Lậu tận thông,
tên đầy đủ là "Lậu tận trí chứng thông". Chính là bản thân có
thể đoạn trừ phiền não, tiêu trừ sạch (lậu tận) những thứ không tốt của
bản thân, đem những thứ của nhân gian lậu tận toàn bộ, có thể tự mình đoạn
trừ phiền não. Nếu có thể nghĩ thông, có thể đoạn trừ phiền não, chính là
cảnh giới của Bồ Tát. Năm thông trước khá dễ làm được, nếu có thể đạt đến
cảnh giới cao nhất của Lậu tận thông, chính là Phật Bồ Tát rồi. Nếu có thể
đoạn trừ phiền não, năm thông trước không cần nữa, bạn có thể tự mình giải
quyết vấn đề, nghĩ thông rồi, còn cần năm thông làm gì? Nếu năm thông có
thể đạt được toàn bộ, chính là Tiên nhân, tức Ngũ thông là Tiên, Lục thông
là Phật Bồ Tát.
Chúng
ta hiện nay học Phật tại sao có rất nhiều người không kịp cầu học thần thông?
Bởi vì thần thông là cảnh giới người học Phật chúng ta theo đuổi, nhưng lại là
thứ không nên theo đuổi, bởi vì tự nhiên đến mới là của mình, theo đuổi mà có
không phải là của bạn. Hôm nay giảng cho các bạn thần thông là để các bạn hiểu,
biết đạo lý trong đó, để các bạn đừng ra ngoài học loạn động loạn, Sư phụ không
tán thành các bạn tu học thần thông, là sợ các bạn tẩu hỏa nhập ma, linh tính
lên người. Nên tu tâm nhiều hơn, công đến tự nhiên thành. Đợi khi các bạn tu
đến cảnh giới nhất định, thần thông sẽ tự nhiên hiển hiện. Nếu người có thần
thông không đạt đến cảnh giới nhất định, sẽ nhập ma đạo, ma đạo là mượn sức
mạnh của linh giới để đạt được những việc mình muốn biết.
Ma
đạo có Ngũ thông: Tu thông, Y thông, Báo thông, Quỷ thông, Yêu thông.
Tu thông,
là do tu luyện mà thành.
Y thông,
là dựa vào sự giúp đỡ của thần thông tu luyện mà có được.
Báo thông,
là bạn chịu báo từ kiếp trước, trong các đời quá khứ tu tâm tu hành tích lũy mà
có được.
Quỷ thông,
là quỷ ở trên thân, bởi vì quỷ có Ngũ thông.
Yêu thông,
là yêu quái ở trên thân giúp hiển thần thông.
Minh tâm kiến tánh (Sáng tâm thấy tánh) rồi, bất tư nhi đắc (không nghĩ mà
được), bất miễn nhi trung (không cưỡng cầu mà trúng). Minh tâm là phát hiện
chân tâm của mình, Kiến tánh là nhìn thấy chân tánh (bản tính thật) vốn có của
mình, chính là khi bạn nhìn thấy bản tính thật của mình rồi, những thần thông
này không cần đi nghĩ, tự nhiên sẽ hiển hiện, không cần miễn cưỡng, tự nhiên sẽ
có được.
Các bạn phải tu tâm tu hành cho tốt, đừng theo đuổi những thứ
của linh giới, hãy nhớ: Bất luận ở đâu, chỉ cần nhất tâm niệm kinh, khắp nơi
đều là Tịnh độ của bạn.
19. Phật pháp và Dưỡng sinh
Hôm
nay chia sẻ với mọi người về đạo dưỡng sinh của Phật pháp. Các bạn phải thường
xuyên quán tưởng, chính là dùng con mắt trong tâm mình để nhìn vào cơ thể mình,
việc này rất có lợi cho sức khỏe.
- Quán tưởng Đầu: Thường
xuyên quán tưởng đầu óc của mình vô cùng tỉnh táo. Đầu óc của con người
nhất định phải tỉnh, người xưa thường nói, đầu óc phải tỉnh táo.
- Quán tưởng Tim: Thường
xuyên quán tưởng trái tim của mình có màu đỏ. Tim được bao bọc bởi máu,
máu có màu đỏ.
- Quán tưởng Phổi: Quán
tưởng phổi của mình rất trắng sạch, khi bạn quán tưởng phổi mình, bản thân
cảm thấy rất trắng, phổi này sẽ ngày càng tốt. Khi hút thuốc, phổi bị tràn
dịch, có viêm nhiễm v.v. thì phổi có màu đen.
- Quán tưởng Thận: Quán
tưởng thận của mình ấm áp. Thận nhất định phải giữ ấm, đừng để nó quá
nóng. Quá nóng hoặc quá lạnh thì hệ tiết niệu sẽ có vấn đề.
- Quán tưởng Tinh: Tinh
phải "nguyên cố" (chỉ nam giới). Nữ giới nói về tinh thần, nam
giới nói về tinh. Tinh nguyên cố, chữ "cố" này không phải là
kiên cố theo nghĩa đen, mà là phải dùng Nguyên thần của bạn để giữ Tinh
của bạn. Nguyên thần rất quan trọng, mắt của nhiều người đàn ông không có
ánh sáng, vô thần, thực ra là tinh đã không tốt rồi, tinh không tốt sẽ ảnh
hưởng đến thần khí, tức tinh bất cố, thần bất sảng. Đàn ông nếu không động
tà niệm (nghĩ bậy bạ), tinh lực của anh ta sẽ rất vượng, người này sẽ có
tinh thần. Người mà mắt không có thần, thực tế là tinh của anh ta đã không
cố (giữ được) nữa rồi.
- Quán tưởng Dạ dày: Thường
xuyên quán tưởng dạ dày của mình rất "hòa", tức rất bình hòa.
Bình thường không được ăn quá nhiều hoặc quá ít.
- Quán tưởng Gan: Quán
tưởng gan của mình rất thư thái (thư sướng). Đông y thường nói "can
khí bất thư", tức là không thư thái, gan rất quan trọng, gan có chức
năng tạo máu, cho nên gan nhất định phải thư, sỏi mật nhất định phải tiêu,
thường xuyên quán tưởng tiêu sỏi mật. Y học nói một người qua 20 năm, mật
nhất định sẽ có sỏi.
- Quán tưởng Ruột: Thường
xuyên quán tưởng ruột của mình rất nhu nhuận, nếu ruột không nhuận, nhất
định sẽ có bệnh chứng, cho nên ruột phải luôn luôn nhuận trơn.
- Quán tưởng Tỳ (Lá lách): Thường xuyên quán tưởng lá lách của mình rất khỏe
mạnh. Lá lách không khỏe mạnh sẽ mang lại rất nhiều di chứng.
Tóm
lại là: Đầu thanh, Phổi bạch (trắng), Tim hồng (đỏ), Thận ôn (ấm), Tinh
nguyên cố, Dạ dày hòa, Ruột nhuận, Gan thư, Tỳ kiện (khỏe), Sỏi mật tiêu.
Mọi
người phải thường xuyên nghĩ "Ngô thiện dưỡng ngô hạo nhiên chính khí, hạo
hạo hồ tắc hồ thiên địa chi gian" (Ta khéo nuôi dưỡng hạo nhiên chính khí
của ta, lớn lao thay lấp đầy giữa trời đất). Ai cũng phải nuôi dưỡng khí của
mình, nhưng nhất định phải nuôi dưỡng hạo nhiên chính khí của mình, phải làm một
người đường đường chính chính, tiếp nhận chính khí của trời đất. Con người
chúng ta chân đạp đất, đầu đội trời, tiếp nhận chính khí của trời đất, làm
người nhất định phải có hạo nhiên chính khí.
Làm thế nào niệm chú có hiệu quả? Niệm chú ngữ, thực ra chính là niệm
kinh. Ngắn gọi là Chú, dài gọi là Kinh. Niệm chú ngữ phải thanh tịnh ngữ, phải
vô lượng ý, phải mật bất khả dịch (bí mật không thể dịch). Niệm kinh phải niệm
sạch sẽ, tâm phải an tĩnh, kinh văn phải nghe rõ ràng. Khi tâm tĩnh hiệu quả
niệm kinh là tốt nhất. Khi dùng vô lượng ý để niệm kinh, ý niệm của bạn là vô
lượng vô biên.
Tại sao không nên đi tìm hiểu ý nghĩa kinh văn? Bởi vì kinh văn mật bất khả dịch, mật
bất khả giải. Nó giống như một mật mã, đừng đi tìm hiểu ý nghĩa của nó, chỉ cần
chiếu theo mà niệm là được. Tâm chú của Bồ Tát không phải người phàm có thể
hiểu được, giống như mật mã điện báo, không cần biết tại sao mấy con số này lại
đặt cùng nhau, có ý nghĩa gì. Nếu hiểu sai, ngược lại sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả
niệm kinh. Chỉ có thể dịch âm, không thể dịch ý. Kinh chú đều là chân ngôn của
Bồ Tát, sao có thể dùng trí tuệ nhân gian để giải thích? Người niệm kinh ngàn
vạn lần phải nhớ kỹ chỉ có thể dịch âm, như phát âm của chữ. Sư phụ giảng giải
kinh chú cho các bạn, cũng chỉ là hàm nghĩa trên bề mặt mà thôi, nội hàm thực
sự của kinh chú Bồ Tát có mấy người hiểu được?
Tại sao hiệu quả niệm kinh của mỗi người lại không giống nhau?
- Nhân quả khác nhau, nghiệp lực khác nhau. Do nghiệp lực của mỗi người khác nhau, hiệu quả
niệm kinh sẽ khác nhau. Người tạo nghiệp rất nhiều hiệu quả niệm kinh sẽ
không tốt, tức nghiệp lực càng sâu, hiệu quả niệm kinh càng kém.
- Ý niệm khác nhau. Khi
niệm kinh thứ nghĩ trong đầu không giống nhau, hiệu quả niệm kinh sẽ không
giống nhau. Nếu khi niệm kinh trong đầu nghĩ lung tung, tạp niệm nhiều,
hiệu quả niệm ra sẽ kém.
- Âm thanh hải khác nhau. Giọng niệm kinh khác nhau, sóng âm truyền ra khác
nhau, hiệu quả niệm kinh sẽ khác nhau. Giọng niệm kinh phải giống như
tiếng chuông lớn, giống như sóng biển cuộn trào mãnh liệt. Ví dụ: Sức khỏe
không tốt, khi niệm kinh sẽ không có lực, kinh niệm ra không có lực sẽ
không có hiệu quả. Nếu bạn rất vui vẻ, sẽ càng niệm càng vui, hiệu quả
kinh niệm ra sẽ tốt. Mở miệng niệm tụng, khi miệng bắt đầu niệm kinh, mắt
phải mở ra, bởi vì bạn phải để suy nghĩ của bạn, tâm của bạn, linh của bạn
và giới tự nhiên hòa làm một thể. Tức là phải mở mắt niệm kinh, vì kinh
văn là tiếp thiên địa, để bản thân bạn hòa làm một thể với giới tự nhiên,
sau đó trước mắt bạn sẽ hiện ra một vùng ánh sáng. Do đó khi bắt đầu niệm
kinh trước tiên hãy mở mắt, sau đó từ từ niệm, từ từ nhắm mắt lại. Niệm
kinh muốn có hiệu quả, phải niệm đến mức thân tâm câu vong (cả thân và tâm
đều quên hết), tức là niệm đến mức tâm không suy nghĩ, thân thể cũng không
còn nữa, lúc này không phải là bạn nữa, sẽ hòa làm một thể với trời đất.
Làm thế nào niệm kinh mới có hiệu quả?
- Phải đối chứng hạ dược (bốc thuốc đúng bệnh), kinh bạn
niệm không đúng bệnh, thì không có hiệu quả, vô dụng.
- Phải thả lỏng, phải an tĩnh, phải mỉm cười. Niệm kinh
phải niệm đến mức pháp hỷ sung mãn (tràn đầy niềm vui pháp), phải niệm đến
mức tâm hoa nộ phóng (hoa lòng nở rộ).
- Phải quán tưởng, nghe âm thanh. Quán tưởng là khi niệm
kinh, tư tưởng tập trung, quán tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát, sau đó tự mình
nghe âm thanh của chính mình. Nghe thấy tiếng niệm kinh của mình, đầu óc
sẽ không nghĩ lung tung.
- Kim quang vạn đạo (vạn luồng ánh vàng) lên người, phải
để ánh sáng của Bồ Tát chiếu vào mình, các đệ tử các bạn niệm kinh có thể
nghĩ đến vạn luồng kim quang không? Phải tiếp nhận toàn bộ vạn luồng kim
quang của Bồ Tát vào người mình, chiếu đến phổi trắng, tim đỏ... Đây gọi
là kết hợp hiện thực và Phật pháp để ứng dụng. Trí tuệ giống như một luồng
sáng, lòng người tán loạn, khó thành hình. Thông minh tài trí của bạn thực
tế giống như ánh sáng là một khối, nếu tán loạn rồi, tạp niệm nhiều rồi,
sẽ không thể có trí tuệ. Muốn có trí tuệ, cái tâm này bắt buộc phải tĩnh,
tâm tĩnh mới có thể tụ tập ánh sáng trí tuệ lại.
20. Bàn luận với đệ tử về "Kiến Tư Hoặc"
Người
thường xuyên dâng hoa sẽ trở nên xinh đẹp, người thường xuyên cúng trái cây sẽ
hiểu nhân quả khai trí tuệ, người thường xuyên dâng dầu mắt sẽ sáng. Biết tại
sao phải dâng hoa không? Vì hoa đại diện cho Nhân, gieo nhân gì sẽ gặt quả nấy.
Khi bạn nhìn thấy hoa nở, chính là để bạn biết nên gieo nhân gì, không được làm
việc xấu. Gieo nhân tốt mới có thể nhìn thấy quả (hoa) tốt. Hoa cúng dường cho
Bồ Tát không phải là cho Bồ Tát mà thực ra là cho chính mình. Khi bạn cúng trái
cây, chính là nhắc nhở bạn phải gieo thiện nhân, gieo thiện nhân mới có thể kết
thiện quả.
Hôm
nay giảng giải cho mọi người về "Kiến Tư Hoặc".
"Kiến Tư Hoặc" chính là sự mê hoặc trên kiến giải và tư tưởng. Trong
Kiến Tư Hoặc, Kiến hoặc là sự mê hoặc sai lầm trên tri kiến,
như: Ngã kiến, Biên kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến, Giới thủ kiến (Ngũ bất chính
kiến); Tư hoặc là sự mê hoặc sai lầm trên tư tưởng, như Tham,
Sân, Si, Mạn, Nghi (Ngũ phiền não).
Ngã kiến chính
là đặt bản thân mình lên trước, tôi cho rằng thế nào, tôi tưởng rằng thế nào,
việc gì cũng đặt chữ Tôi lên trước, đây cũng là việc tôi gặp nhiều nhất khi
giải đáp thắc mắc cho thính giả, vừa mở miệng là một tràng chữ Tôi, tôi thế này
thế nọ, tôi làm sao làm sao... Việc tôi cho rằng, việc tôi nhìn thấy v.v. chính
là Ngã kiến. Phải hiểu ở nhân gian cái "Tôi" này là giả ngã, không
phải chân ngã. Nếu chấp trước vào cái tôi của bản thân sẽ rất đáng thương, sẽ
đọa vào cái chữ "Tôi" này, vĩnh viễn không siêu thoát. Tất cả những
người đau khổ đều là vì có một cái Tôi. Mọi người biết tại sao động vật không dễ
đầu thai, chính là vì chấp trước vào bản thân cái tôi này (chấp trước vào ngã
tướng). Cho nên mọi người phải buông cái tôi này ra, không có tôi mới có thể
thực sự hòa tan bản thân vào xã hội, bạn mới không tức giận. Bởi vì tôi tức
giận, tôi buồn bã, tôi không vui, tôi hận v.v. đều là cái "Tôi" này
đang tác quái. Nếu có thể vứt bỏ cái chữ "Tôi" này sẽ không tức giận
buồn bã. Nếu một người ngày nào cũng vui vẻ sống trên đời, chính là sống trên
trời, sống trên thiên đường. Nếu một người ngày nào cũng tức giận rất buồn bã,
chính là sống dưới địa ngục. Buồn bã sẽ tổn thương cơ thể, rút ngắn tuổi thọ,
nếu khí lượng nhỏ hẹp không dung chứa được sự việc có thể sẽ bị tức chết. Tôi
yêu cầu mỗi đệ tử các bạn phải bao dung lẫn nhau, yêu thương lẫn nhau. Tôi nói
cho các bạn biết, bất kể người khác nói ra lời gì họ đều đúng, họ không sai,
sai là chính bạn, bởi vì bạn có cái Tôi.
Biên kiến,
chính là sinh nghi hoặc đối với người xung quanh hoặc sự việc nhìn thấy.
Tà kiến,
chính là cái mình nhìn thấy, mình cho là đúng, nhưng trên thực tế là kiến giải
không đúng, đây chính là tà kiến. Tức là kiến giải của bản thân (tự ngã kiến
giải).
Kiến thủ kiến, thứ bạn nhìn thấy và thứ bạn có được. Thứ bạn nhìn thấy chưa
chắc đã đúng, thứ bạn có được cũng chưa chắc đã đúng.
Giới thủ kiến, rõ ràng phi nhân (không phải nguyên nhân) lại cho là nhân (tức
nhân). Không phải nguyên nhân này nhưng bạn cho là phải, rõ ràng không phải
người này làm, bạn nhất định cho là họ làm, đây cũng là một loại tà kiến. Mê
hoặc giữa thứ nhìn thấy và thứ trong tư tưởng, thứ mắt nhìn thấy cứ tưởng là
thật. Trên đời không có thứ gì là thật cả. Nếu bạn cho rằng thân thể là thật,
chết rồi còn không? Cha mẹ là thật, qua đời rồi còn không?
Tư hoặc,
chính là mê hoặc trên tư tưởng, cũng là chướng ngại lớn của con người.
Bây
giờ nói cho mọi người về mối liên hệ giữa "Kiến Tư Hoặc" và cuộc
sống. Nếu trong cuộc sống nghi ngờ người khác, bạn chính là Kiến Tư Hoặc. Đây
cũng là sự mê hoặc chúng ta dễ sinh ra nhất, thứ bạn nhìn thấy, thứ bạn tưởng
tượng muốn có được đều là thứ khiến bạn mê hoặc. Tại sao nói ở nhân gian dễ tu
hành nhất? Bởi vì ở trên trời hưởng phúc, thời gian trôi rất nhanh, một ngày
trên trời bằng một năm dưới đất (cho nên người trên trời đều là vạn tuế vạn vạn
tuế), khi hưởng phúc thì tu hành học không vào, ngày tháng quá tốt đẹp không
thể khiến người ta tinh tấn tu tâm. Cho nên rất nhiều người khi chịu khổ mới
nghĩ đến nên tu hành.
Nếu
một người khi còn sống không biết trân trọng sinh mệnh của mình, chính là một
người chết. Sinh mệnh là đáng quý nhất, nhưng bạn không tận dụng sinh mệnh của
mình để làm việc, thì là quá đáng tiếc, chứ không phải đáng quý nữa. Ngàn vạn
lần đừng nhồi nhét những thứ không tốt vào đầu, nếu trong đầu bạn chứa toàn
những thứ tốt đẹp thiện lương, quả báo nhận được cũng là tốt đẹp thiện lương.
Nếu trong đầu bạn chứa toàn những thứ xấu xa, bẩn thỉu, quả báo nhận được cũng
là không tốt.
Tu tâm phải nghĩ nhiều, trong lòng phải hiểu dữ thời câu tiến (tiến lên cùng thời gian), thời gian chính là tấm gương tốt nhất của các bạn, phải cùng tiến bộ với thời gian, thời gian sẽ không vì bất cứ việc gì xảy ra mà thay đổi sự vận hành của nó. Tu vi là tu từ trong tâm ra chứ không phải thứ ích kỷ. Nếu một người vì bản thân, chỉ muốn tu bản thân tốt hơn một chút, tôi nghĩ hiệu quả và công đức tu hành của bạn chỉ là Tiểu thừa Phật pháp.
Phải
học cách nói "xin lỗi", "ngại quá" v.v. những lời khiêm
tốn, lễ phép, xin lỗi này, đây là thước đo đánh giá sự tu hành của các bạn, có
thể thể hiện phẩm chất của các bạn, và những lời này sẽ không làm mất mặt hay
hạ thấp tố chất của các bạn, những lời lễ phép này các bạn từ nhỏ đã thường
xuyên nghe, nhưng các bạn làm được bao nhiêu? Dùng được bao nhiêu? Là bởi vì có
cái chữ "Tôi" ở đó, Ngã chấp đấy, tôi không chịu nổi sự mất mặt này,
tôi không có mặt mũi nào... Ai cũng có lúc làm sai, sai không sao cả, biết sai
có thể sửa là quan trọng nhất.
Bây
giờ giảng cho mọi người biết nghiệp chướng tiêu trừ như thế nào, tại sao công
đức có thể tiêu trừ nghiệp chướng? Trong bát thức điền của con người có một
A-lại-da thức, tức thức thứ tám, cũng gọi là "Tạng thức", vì là nơi
tàng trữ tất cả hạt giống (chủng tử) thiện ác. Tất cả chúng sinh, mỗi một khởi
tâm động niệm, hoặc lời nói hành vi, đều sẽ tạo thành một nghiệp chủng (hạt
giống nghiệp), hạt giống này trước khi chịu báo đều tàng trữ trong A-lại-da
thức, khi có công đức, công đức này mới có thể đi vào ý thức này, tiêu trừ
nghiệp chướng.
Bát thức (8 thức): Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức, Ý
thức, Mạt-na thức và A-lại-da thức.
21. Người tu hành nên Minh giác Hằng trụ(Thường trú trong sự Giác ngộ sáng suốt)
Hôm nay
giảng cho mọi người về "người tu hành". Mỗi người chúng ta đều đang
tu hành, vậy mấy chữ người tu hành rốt cuộc có ý nghĩa gì? Các đệ tử các bạn có
xứng đáng với danh xưng đó không? Nếu là một người tu hành, bắt buộc phải có một
cảnh giới, trước tiên đối với bất kỳ chuyện khổ đau nào ở nhân gian, khi xảy ra
những chuyện đau khổ ở nhân gian, đều phải có khả năng chịu đựng, cảnh giới phải
từ từ nâng cao; hơn nữa người tu hành, tu đến một thời kỳ nhất định, phải không
cảm thấy đau khổ, bởi vì khi bạn cảm thấy đau khổ, bạn vẫn chưa phải là một người
tu hành chân chính. Cảnh giới tu hành phải nâng cao đến một tầng bậc nhất định,
mới có thể được gọi là người tu hành.
Làm một
người tu hành, trước tiên phải làm được không sinh phiền não, hôm
nay bạn đang tu hành, mà phiền não nổi lên tứ phía, thì bạn không phải là một
người tu hành chân chính. Người tu hành, cho dù phiền não đã sinh khởi rồi, bản
thân phải lập tức ngăn chặn trong tâm, như vậy mới có thể được gọi là người tu
hành. Người tu hành, cho dù sinh khởi phiền não rồi, tại sao nói cho dù sinh khởi
phiền não rồi, bởi vì con người đều có thất tình lục dục, khi phiền não chướng
xuất hiện, bạn phải lập tức ngăn chặn. Nói cho mọi người biết chúng ta trong
khi tu hành sẽ có một con ma xuất hiện, con ma này trong Phật pháp gọi là Phiền
não ma, phiền não càng nhiều ma chướng của bạn càng sâu. Bắt buộc phải xua
đuổi ma chướng này đi.
Làm thế
nào tiêu trừ Phiền não ma? Trước tiên phải nghĩ bản thân là một người tu hành,
không giống với người khác, không được đau khổ, cho dù đau khổ đến cũng phải
ngăn chặn, hơn nữa phải từ từ không cảm thấy đau khổ. Khi Phiền não ma đến,
phương pháp tốt nhất là thuận cảnh, thuận theo cảnh giới mà đi. Khi
nghịch cảnh đến cũng phải giữ bình tĩnh không nổi sóng gió, bất kể tai nạn gì đến,
trước tiên hãy bình tĩnh lại, trong tâm không nổi sóng gió, thực ra đây chính
là Thiền định mà Phật pháp nói đến, Thiền định là cảnh giới
khá cao trong việc tu học Phật pháp. Nếu không có định lực, tất cả mọi việc ở
nhân gian đều có thể gây ra phiền não. Hy vọng các bạn có thể tu học một chút về
Thiền định trong Phật pháp. Thiền định có thể làm cho những suy nghĩ hỗn loạn
bình tĩnh lại, bất cứ việc gì ở nhân gian cũng không thể đào sâu nghiên cứu,
chúng ta phải học tinh thần của Thiền, tinh thần của Thiền chính là cảnh giới,
bất luận là thuận cảnh hay nghịch cảnh, nó đều thuận theo cảnh mà đi, dùng một
trái tim bình tĩnh, trong tâm không nổi sóng gió. Giống như nước trong con sông
nhỏ cuồn cuộn chảy đến, một khi chảy ra biển lớn, sóng gió gì cũng không còn nữa.
Người có Thiền định, tâm giống như biển cả rộng lớn có thể dung nạp sóng gió dữ
dội mà không nổi bọt sóng. Thiền định bắt buộc bản thân phải vững vàng trước, mới
có thể Định.
Tâm khí
nhậm vận (Tâm khí vận hành tự nhiên). Khí trường do tâm một người sinh ra hãy cứ để nó vận hành, cứ
để nó chuyển động, đừng ngăn cản khí trường của chính mình. Ví dụ: Khi một người
rất không vui đang tức giận, nếu bạn ngăn cản họ đừng nổi nóng, đừng buồn bã
v.v., tiếp theo họ sẽ sinh bệnh, hãy để họ nói, để họ phát tiết, phát tiết xong
sẽ không sao nữa. Nếu ngăn cản khí trường này của họ phát tiết ra ngoài, tiếp
theo sẽ có rắc rối, dễ sinh ung thư nhất, hoặc các loại bệnh gan. Khí trường
trong tâm đi theo vận, đi đến đâu thì nên tu đến đó, gọi là Chính; không phải
khi vận xấu đến thì không tu nữa, hoặc khi vận tốt đến thì không tu nữa, những
điều này đều là không đúng, nên là bất luận vận tốt hay vận xấu đều phải tu
hành cho tốt.
Minh giác
hằng trụ. Minh bạch rồi, giác ngộ rồi,
trước tiên có thể giảm bớt chấp trước, bởi vì người chấp trước là người không
hiểu đạo lý, người hiểu đạo lý tuyệt đối sẽ không chấp trước. Minh giác hằng trụ,
chính là sự minh bạch vĩnh hằng, sự giác ngộ vĩnh hằng, sau đó mới có thể thường
trụ, mới có thể lưu lại, nếu không minh bạch, người chưa khai ngộ, là không thể
giác ngộ vĩnh hằng, là không lưu lại được. Dùng lời nhân gian nói là "nhìn
thấu rồi", nhìn thấu rồi, không ích kỷ nữa, coi nhẹ danh lợi rồi, bạn sẽ
minh bạch, sẽ giác ngộ, cái vĩnh hằng này mới có thể đứng vững trong tâm, đây gọi
là Hằng trụ.
Các bạn
phải nhớ kỹ: "Tất cả tự nhiên đến, tất cả tự nhiên đi". Tất
cả sự vật trong đại thiên thế giới dù tốt hay xấu đều là tự nhiên đến và đi, đến
cũng không (rỗng không), đi cũng không (rỗng không), nếu bạn có thể thường
xuyên nghĩ như vậy, trong tâm bạn sẽ không nổi sóng gió, sẽ hiểu những việc xảy
ra, tiếp xúc trên người đều là một hiện tượng rất tự nhiên, sẽ hiểu hiện tại chịu
khổ là vì kiếp trước không tu, cho nên kiếp này chịu báo là rất tự nhiên, bạn
nói xem còn chấp trước nữa không? Trong tâm không chấp trước, trí tuệ thông
minh của bạn sẽ vĩnh hằng trụ thế gian. Phải rời xa khát vọng cầu lấy (cầu thủ),
khát vọng là vô cùng đói khát hy vọng có được, thử nghĩ xem con người có thể có
được cái gì? Nếu không có được thứ khát vọng, đổi lại chính là đau khổ và phiền
não. Cầu lấy, rõ ràng không phải là của bạn, muốn đoạt lấy, nhưng khi cầu là vô
cùng đau khổ. Hy vọng những người tu hành ở nhân gian, hãy quên hết khát vọng cầu
lấy đi. Khát vọng mang đến đau khổ, cầu lấy được không phải là của bạn, tự
nhiên đến mới là của bạn.
Bất kỳ ý
niệm nào khởi lên, đều có thể xua đuổi trong một sát na, đừng để nó sót lại
trong tâm, bởi vì sau khi sót lại trong tâm sẽ mang lại kiếp nạn cho bạn. Bất kỳ
sự vật nào, bất kỳ ý niệm nào khởi lên, Phật pháp nói có thể xua đuổi trong
nháy mắt, nhưng các bạn lại để mặc cho ý niệm bay lượn trong não, khi một tư
tâm, khi một tham niệm, khi một ý niệm rất không tốt khởi lên trong đầu cứ mặc
kệ nó, thế thì rắc rối to rồi. Ví dụ, khi nghe một người bạn thân đánh bạc thắng
tiền, trong đầu sẽ lập tức nghĩ đến bản thân mình, thực ra tôi cũng có vận may
này đấy, khi ý niệm này vừa xuất hiện, bạn phải lập tức xua đuổi nó, tôi không
thể nghĩ như vậy, càng không thể đi làm, là không được phép, tôi tuyệt đối
không thể làm, phải lập tức tiêu trừ ý niệm này. Lại ví dụ: Dùng bút nước viết
chữ lên bảng đen, cho dù là mực đen, khi bạn vừa viết lên dùng tay rất dễ lau
đi, nhưng sau vài giây, thì không dễ lau đi nữa. Khi có ý niệm không tốt khởi
lên, sẽ gieo nhân không tốt vào trong bát thức điền của bạn. Bồ Tát dạy chúng
ta một phương pháp xua đuổi, khi bạn có ý niệm không tốt, khi bạn có suy nghĩ
không tốt, khi bạn phẫn nộ, bạn phải nhân lúc nó vừa mới xuất hiện trong nháy mắt
lập tức xua đuổi, nếu có thể xua đuổi trong nháy mắt, bạn chính là một người
trí tuệ (trí giả). Khi một ý niệm không tốt khởi lên, sẽ sinh một ác quả trong
tâm, đừng để sót lại trong tâm, cho nên Bồ Tát dạy chúng ta phải nhanh chóng đoạn
trừ, nếu sót lại trong tâm sẽ tạo thành nghiệt ảnh (bóng ma
nghiệp chướng) cho bạn.
Người
bình thường trước khi chứng đạo và khai ngộ, phỉ báng pháp môn khai ngộ của người
khác, sẽ chịu trăm kiếp, luân hồi một ngàn lần sinh, trăm đời đoạn Phật tính.
Người bình thường khi chưa khai ngộ, vẫn chưa đắc được cái Đạo của Phật Bồ Tát,
họ chưa khai ngộ, nếu họ phỉ báng pháp môn khai ngộ, nhất định có ác quả. Pháp
môn khai ngộ là nói chung, không phải chỉ riêng một pháp môn nào đó, bạn không
khai ngộ bạn sẽ không có pháp môn này, sau khi bạn khai ngộ sẽ đắc được pháp
môn này. Bạn phỉ báng nó, bạn có trăm kiếp (một kiếp là một lần chịu nạn), một
ngàn lần sinh, trăm đời đoạn Phật tính. Nếu một người phỉ báng một Chính đạo, họ
có một trăm kiếp nạn, có một ngàn lần sinh tử luân hồi, đầu thai một trăm đời
không có Phật tính nữa, không bao giờ nhìn thấy Phật tính nữa. Giống như đầu
thai vào súc sinh đạo vậy. Người chưa khai ngộ thực tế là chưa đạt được cảnh giới
này, người không có cảnh giới đừng đi giảng pháp cho họ.
Sư phụ
nói cho các bạn biết, rất nhiều đệ tử đang tu, nhưng đầu óc của họ là tu mà
chưa siêu thoát phàm trần, cần phải siêu thoát phàm trần của thế gian con người,
siêu thoát thực tế chính là khai ngộ, tu sau khi khai ngộ, cảm giác tu ra và tu
mà chưa thoát khỏi phiền não đạo của nhân gian, đó là hai khái niệm hoàn toàn
khác nhau. Một cái là mang theo phiền não mà tu, một cái là hoàn toàn siêu
thoát phiền não đạo mà tu, các bạn nói xem tu ra có giống nhau không? Một cái
là đóng gói chân không, trong đầu rất sạch sẽ, một cái là trong đầu tạp niệm
trùng trùng, vọng niệm không dứt. Ví dụ: Bạn khi niệm Kinh, vừa làm việc vừa niệm
Kinh và bạn quy quy củ củ ngồi yên lặng niệm Kinh trong Phật đường, hiệu quả niệm
Kinh có thể giống nhau không? Các bạn kéo cảnh giới tu tâm của mình vào phiền
não đạo, sau đó lại tu thì rất mệt mỏi.
22. Đời người Vô tướng tức là Tương ứng Khai ngộ
Bây giờ
giảng cho mọi người về "Vô tướng". Vô tướng, trong kinh
Phật bao gồm mười loại tướng của thế gian.
1.
Sắc tướng, tức Pháp tướng nhân gian. Không phải là sắc dục nam nữ. Sắc tức
là tất cả sự vật ở nhân gian.
2.
Thanh tướng, tức nghe thấy các loại âm thanh. Âm thanh là có hình có tướng.
Ví dụ khi gọi điện thoại, nghe thấy âm thanh là biết đối phương là nam hay nữ.
3.
Hương tướng, mũi có thể ngửi thấy, sẽ hình thành một loại tướng. Như: Ngửi
thấy hương hoa trong đầu sẽ lập tức có hình tướng của hoa hiện ra.
4.
Vị tướng, miệng ăn đồ, lưỡi nếm mùi vị, sẽ có hình tướng hiện ra. Như:
Nhắm mắt lại cho bạn ăn sô cô la, bạn vừa ăn vào sẽ lập tức có tướng của sô cô
la hiện ra.
5.
Xúc tướng, tức xúc chạm có thể cảm giác. Ví dụ: Một người mù, dùng tay vừa
chạm vào sẽ biết, sẽ có hình tướng hiện ra, khi chạm vào người, hình tướng của
người sẽ hiện ra, khi chạm vào vật, hình tướng của vật sẽ hiện ra.
6.
Sinh tướng, chính là tướng khi bạn sinh ra.
7.
Trụ tướng, an trụ, ví dụ tướng ở của ngôi nhà khác nhau, phương vị khác
nhau v.v.
8.
Hoại tướng, không phải nói sự xấu xa của con người, là nói đồ vật sẽ từ từ
hư hoại trở về không.
9.
Nam tướng, trông giống đàn ông, là tướng đàn ông. Mà có người đàn ông
trông lại là tướng đàn bà, tư duy hình tượng giống phụ nữ.
10.
Nữ tướng, trông giống phụ nữ, là tướng phụ nữ. Mà có người phụ nữ trông
lại là tướng đàn ông, rất hung dữ, tư duy hình tượng giống đàn ông.
Vô tướng chính là không có tướng. Chính là sự Vô tướng của tất cả
các tướng nhân gian chúng ta. Tướng của nhân gian đều là giả hữu (có giả tạm),
người ta thường nói: "Đời người như một giấc mộng". Đời người chính
là vô tướng, sau khi mọi việc kết thúc, cũng giống như sau khi tỉnh mộng, có tướng
không? Cái gì cũng không nhìn thấy nữa, toàn bộ đều là giả, sau khi tỉnh mộng lại
quay về nhân gian ban đầu của bạn, người chịu khổ tiếp tục chịu khổ, người hưởng
phúc tiếp tục hưởng phúc, trong mộng chẳng đạt được gì cả, đây chính là sự vô
tướng của nhân gian. Tất cả các tướng ở nhân gian, có bắt đầu thì có kết thúc,
sau khi kết thúc thì bằng như không có, chính là vô tướng, nhìn bề ngoài đều là
có tướng, nhưng sau khi kết thúc đều là vô tướng, chỉ cần có khởi đầu thì nhất
định có kết thúc, có bắt đầu sẽ có kết thúc, cuối cùng bằng như không có, chính
là vô tướng. Nếu bạn có thể kiểm soát bản thân để nó vô tướng, cơ bản số của bạn
là khai ngộ. Nếu bạn có thể vô tướng, hiểu rõ sự bắt đầu và kết thúc của thế giới
này, thực ra bạn đã cơ bản khai ngộ rồi. Đời người giống như một giấc mộng, từ
khi sinh ra đến khi chết đi giống như đang nằm mơ vậy, giấc mộng này kết thúc
chính là vô tướng. Còn có một câu "Đời người như một vở kịch", kịch
có mở màn thì có kết thúc, sau khi kết thúc còn tướng không? Chính là đơn giản
như vậy. Lại ví dụ: Làm bố thí, nếu không nói ra, chính là Vô tướng bố thí, nếu
nói ra, chính là Hữu tướng bố thí.
Khai ngộ
nhân sinh, sống là
phải khai ngộ cuộc đời này, có thể vô tướng là gần với khai ngộ rồi, làm thế
nào khai ngộ nhân sinh đây? Chính là phải vô tướng, bạn nhìn tất cả mọi thứ
trong đời người đều như không có vậy, rất bình thản, cái gì cũng có thể có, cái
gì cũng có thể không có. Sư phụ nói cho các bạn một câu, phải thường xuyên suy
nghĩ: Tất cả tự nhiên đến, tất cả tự nhiên đi. Những gì đã đến như
tai ách, kiếp nạn, hỷ sự, an lạc v.v., đến thì là đến rồi, đều là đến rất tự
nhiên, nhưng đi cũng là đi rất tự nhiên, đây chính là vô tướng.
Một người
bạn của tôi, quan hệ vợ chồng không tốt, tôi nói với vợ ông ấy: Chồng cô ngày
nào cũng diễn trên sân khấu, cô là khán giả, cô cứ đứng ngoài lạnh lùng nhìn
ông ấy diễn, diễn đến cuối cùng luôn có lúc hạ màn, tại sao cô lại phải nhảy
lên sân khấu diễn cùng ông ấy chứ? Tại sao cô lại vội vã coi những thứ giả trên
sân khấu là thật, còn muốn nhảy lên đấu với ông ấy, làm loạn với ông ấy, đến cuối
cùng cô cũng ngu si giống như ông ấy, ông ấy là giả, cô cũng là giả, cô có thể
đạt được thứ thật không? Cô đem cái giả che lấp cái thật của mình rồi, cho nên
"giả đáo chân thời chân diệc giả" (khi cái giả biến thành thật thì
cái thật cũng hóa giả).
Khai ngộ
nhân sinh bề ngoài nghe có vẻ là tôi ngộ ra rồi, nếu có người nói "Sư phụ
con khai ngộ rồi", lời này là giả. Người thực sự khai ngộ sẽ không nói
"tôi ngộ ra rồi", bạn ngộ ra rồi, nói ra rồi thì chính là chưa khai
ngộ. Biểu tượng sau khi khai ngộ nhân sinh, không thể gọi là khai ngộ hoàn
toàn. Biểu tượng của nhân sinh, biểu tượng của thế gian, bởi vì bản thân biểu
tượng này, bản thân khai ngộ nhân sinh chính là Không (rỗng không), khi bạn thực
sự hiểu rõ cái Không này, bạn còn nói: "Ồ, tôi nghiên cứu ra rồi, bên
trong này toàn bộ đều là Không" sao? Không cần nghiên cứu, vốn dĩ là
Không. Bạn nhận thức được ngộ tính này, cảm thấy mình khai ngộ rồi, thì không
phải là khai ngộ chân chính, nhân gian chân chính chính là một giấc mộng, một vở
kịch, đều là Không, tất cả đều là mộng ảo giả tạm, khi bạn đi rồi, tất cả đều
không tồn tại nữa, bản thân chữ Ngộ chính là sự nâng cao của cảnh giới. Năm xưa
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dưới gốc cây Bồ Đề, ngộ ra đạo lý, cái Ngộ của Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni, tuyệt đối không phải cái ngộ của phàm nhân chúng ta, Ngài là
ngộ tính của Phật Bồ Tát, cái Ngài ngộ ra là Bản tính. Còn đạo lý nhân gian chúng
ta ngộ ra là hiện tượng bề mặt, ví dụ: Ồ, hóa ra thái độ của anh ta đối với tôi
không tốt như vậy, là vì tôi từng nói anh ta không tốt.
Phật pháp
là thâm sâu, nhưng những thứ thâm sâu nhất định có thể dùng phương pháp đơn giản
nhất để giải thích. Giống như Phật pháp Sư phụ đang dạy các bạn là thâm sâu,
nhưng dùng phương pháp tu hành đơn giản dễ làm nhất để dạy các bạn, khai đạo
cho các bạn. Như vật lý học, toán học, khi nghiên cứu đến trình độ nhất định,
nhất định có công thức có thể điền vào, sau khi điền vào, bạn sẽ thành công, bạn
không cần thiết phải nghiên cứu lại những thứ người đi trước đã nghiên cứu ra
như công thức, định luật v.v.
Tâm của kẻ
ngu, nằm ở trên miệng; Tâm của người trí, nằm ở trong lồng ngực. Một người rất ngu si, tâm của họ nằm trên miệng thích nói lung
tung, còn người có trí tuệ, tâm của họ đặt trong lồng ngực, chứ không phải đặt
trên miệng.
Mua quá
nhiều thứ không cần thiết, tiêu tiền bừa bãi, bạn từ từ sẽ không mua nổi thứ bạn
cần thiết. Sư phụ mở rộng câu này ra giảng cho các bạn, thường xuyên đọc một số
sách không cần đọc, sẽ không đọc vào những sách thực sự có lợi cho người. Bạn đọc
những sách không nên đọc đó, sao có thể đọc vào sách Chính pháp. Nếu nghe quá
nhiều thứ mê tín tạp nham, sẽ không nghe vào Phật pháp chân chính nữa.
Đối với bản
thân, những bất hạnh do cuộc sống mang lại, bạn vướng bận càng lâu, nghĩ càng
nhiều, sức mạnh gây tổn thương càng lớn. Bạn cứ giữ mãi trong lòng những chuyện
không nên nghĩ, những chuyện bất hạnh, sức mạnh gây tổn thương cho chính mình sẽ
ngày càng lớn.
Khi một
người có chút khai ngộ, phải đọc nhiều bài văn của người dẫn dắt bạn khai ngộ.
Giống như đọc nhiều lời khai thị Sư phụ dành cho các đệ tử. Sau khi bạn khai ngộ,
lại đi đọc kinh văn của Bồ Tát, đọc tất cả các bài văn, sẽ không bị lạc mất
phương hướng, sẽ trở thành khai ngộ chân chính. Cũng gọi là Tương ứng
Khai ngộ.
Sư phụ cứu độ là chúng sinh, Phật pháp truyền thụ là thứ đại
chúng bình thường đều có thể tiếp nhận, lời lẽ đơn giản ý nghĩa rõ ràng, chỉ cần
chiếu theo pháp môn của Sư phụ tu hành cho tốt, nhất định có thể thay đổi nhân
sinh quan của mình. Đọc nhiều những bài khai thị trước đây của Sư phụ, mỗi một
câu đều sẽ tương ứng với người khai ngộ này. Khi bạn khai ngộ, mỗi một câu bạn
học Phật đều là khai ngộ, tất cả những gì nhìn thấy trên thế giới này đều tươi
đẹp biết bao.
23. Bàn thêm về Sự khác biệt giữa Việc thiện và Công đức
Hôm
nay nói với mọi người về "Công đức". Chúng ta ngày nào cũng nói công
đức, vậy công đức rốt cuộc là gì? Tại sao việc thiện và công đức là hai khái
niệm khác nhau? Tại sao công đức có thể tiêu trừ nghiệp chướng của bạn, còn
việc thiện bạn làm lại không thể tiêu trừ nghiệp chướng. Tại sao cùng làm một
việc, có người là công đức, còn có người lại là việc thiện?
Kiến chứng đáo Phật tính tức công đức (Thấy và chứng được Phật
tính tức là công đức). Dùng
lời nói thông thường (bạch thoại) để giải thích, chính là khi bạn làm một việc
thiện, xuất phát từ nội tâm, hơn nữa là dùng Phật tính của Phật Bồ Tát vốn có
trong bản tính để làm việc này, đó chính là công đức. Bạn có thể chứng ngộ được
Phật tính trong việc làm này, nghĩa là khi bạn làm việc thiện, bạn cảm thấy tôi
làm việc thiện này, tôi có thể chứng ngộ ra, tôi có thể cảm nhận được, đây là
việc Bồ Tát làm, đó chính là Phật tính, bạn đã chứng kiến Phật tính, bạn cũng
đã làm việc này và nhận được sự báo đáp, có phải bạn đã chứng kiến Phật tính
không? Bạn làm Phật một giờ ở nhân gian, việc bạn làm chính là công đức; bạn
làm Bồ Tát cứu độ người nửa giờ ở nhân gian, tất cả những việc bạn làm đều là
công đức. Ví dụ hôm nay bạn thuyết pháp cho mọi người, lúc đó bạn cảm thấy mình
giống như Bồ Tát đang cứu độ người, từ trong tâm bạn cảm thấy họ rất đáng
thương, tôi thực sự muốn cứu họ, tất cả những lời bạn nói với họ, việc bạn làm
đều có công đức. Tuy nhiên nếu vì họ là người thân hoặc bạn bè của bạn hoặc bạn
mang theo tư tâm và lợi ích, mặc dù bạn nói rất nỗ lực, nhưng tất cả đều chỉ là
việc thiện, hoàn toàn không có công đức.
Từ
bản tính mà nói, chứng kiến Phật tính của bạn cộng với sự ứng dụng của bạn,
nghĩa là khi bạn làm bất cứ việc gì ở nhân gian, làm những việc của Phật Bồ Tát
thì đều là công đức.
Phải nhớ kỹ: Người chuyển thế đầu thai làm người, nếu người này có Phật tính
của Phật Bồ Tát, hơn nữa chứng ngộ được Phật tính của Phật Bồ Tát, sau đó lại
thực hành Phật tính của Phật Bồ Tát, thì chính là Công.
Đức là gì? Đức chính
là bình đẳng, một người có tâm bình đẳng, người đó mới có thể tỏa ra ánh sáng
đại từ đại bi. Nếu không có tâm bình đẳng, làm sao bạn có thể tỏa ra ánh sáng
đại từ đại bi? Quan Thế Âm Bồ Tát nếu không có một loại tâm bình đẳng, làm sao
có thể xuống cứu độ chúng sinh ở cõi Ta Bà? Quan Thế Âm Bồ Tát chính vì có tâm
từ bi này, có cái Đức này, hơn nữa là Đức bình đẳng, mới xuống cứu độ chúng
sinh. Cho nên chữ "Đức" trong công đức rất quan trọng. Sự bình đẳng
này, Sư phụ trước đây từng giảng cho các bạn được xây dựng trên cơ sở nào? Là
xây dựng trên cơ sở sau khi bạn chuyển thế, là bình đẳng, chứ không đại diện
cho việc kiếp trước bạn đã làm bao nhiêu công, bao nhiêu đức. Sự bình đẳng này
là mọi người cùng hưởng một cơ hội học Phật bình đẳng, mọi người cùng hưởng
điều kiện đặc định là đều có Phật tính, từ điều kiện này chúng ta bắt đầu tu
hành bình đẳng, bạn đầu thai xuống nhân gian này thì có cơ hội tu hành bình
đẳng, sau khi chuyển thế đầu thai làm người thì mọi thứ bình đẳng, tức chúng
sinh đều có Phật tính. Sự bình đẳng mà Bồ Tát nói là xây dựng trên sự bình đẳng
ai ai cũng có Phật tính này, chứ không phải là Phật tính này kiếp trước đã làm
bao nhiêu việc tốt hay việc xấu, kiếp này đầu thai thế nào, hoàn toàn là những
khái niệm khác nhau, đừng tưởng rằng người sinh ra trong kiếp này đều bình
đẳng, kiếp trước bạn tu bao nhiêu, kiếp này nhận bấy nhiêu báo đáp. Xuất phát
từ điểm này làm sao có chuyện vì đều giống nhau, thì nhất định đều là bình
đẳng?
Kiến tính thị Công, Bình đẳng thị Đức (Thấy được bản tính gọi là
Công, Bình đẳng là Đức). Thấy
được bản tính gọi là Công, bình đẳng rồi, có tâm bình đẳng thì đức tính của bạn
sẽ hiện ra. Nội tâm khiêm tốn thị Công, chính là nội tâm của một
người phải khiêm tốn, phải hạ mình, nghĩa là những thứ phát ra từ nội tâm bạn
nhất định phải khiêm tốn, khiêm tốn chính là công đức. Ngoại hình ư Lễ,
chính là bên ngoài chú trọng lễ phép, chú trọng lễ nghi, để người ta thấy vô
cùng lễ phép, có lễ nghi, đó chính là đức tính của bạn, thực tế đây chính là
đạo lý làm người mà Bồ Tát dạy chúng ta, nội tâm phải khiêm tốn còn bên ngoài
phải biết lễ phép, lời nói hành vi của người tu hành các bạn nhất định phải chú
ý, đừng để người ta coi thường.
Hiểu
về Bình đẳng, bình đẳng dựa vào sự thấu hiểu, có thể hiểu sự bình đẳng này được
xây dựng trên cơ sở nào, thực tế bạn đã chứng ngộ được Phật tính, tức chứng
minh và ngộ ra đạo lý này, dùng một phương pháp mà bạn cho là tu tâm tu hành để
ngộ ra Phật tính này. Thực tế cầu phúc báo không phải là công đức, điểm này
nhất định phải phân biệt rõ ràng, người cầu phúc nhận được phúc báo nhân thiên
(người và trời), rất nhiều người không biết cầu công đức, chỉ biết cầu phúc
báo. Như ở Quan Âm Đường cầu Bồ Tát phù hộ con cái, sức khỏe, tài vận v.v., những
cái này đều là cầu phúc báo nhân thiên, nhưng đây không phải là công đức. Phúc
báo nhân thiên, nghiệp chướng và linh tính cùng tiến về phía trước. Ví dụ: Trên
người bạn có nghiệp chướng, cũng làm rất nhiều việc thiện, bạn cầu phúc báo
nhân thiên hy vọng có một đứa con, đợi sau khi con bạn ra đời, đây chính là
phúc báo cho bạn. Nhưng nghiệp chướng của bạn lại không hề giảm bớt chút nào,
bạn không thể nói tôi làm rất nhiều việc tốt đã tiêu trừ nghiệp chướng của tôi
rồi, điều đó là không thể.
Công
đức thực sự là sau khi ngộ ra, dùng Phật tính để làm mỗi một việc mới có thể
gọi là công đức, nhất định phải sau khi ngộ ra, cũng chính là sau khi ngộ ra
đạo lý này. Nếu bạn chưa khai ngộ, bạn nói tôi dùng Phật tính để làm mỗi một
việc, đây là rỗng tuếch. Ví dụ: Hôm nay Sư phụ giúp một cụ già cầu Bồ Tát tăng
thọ cho cụ, nếu tôi chưa khai ngộ, khi tôi giúp cụ già cầu Bồ Tát, vì cụ đối
tốt với tôi, thường xuyên giúp đỡ tôi v.v., lúc này cái tôi cầu không phải là
công đức, vì sâu trong tâm linh tôi không dùng tâm và tinh thần đại từ đại bi
của Quan Thế Âm Bồ Tát để cứu cụ, chỉ là tôi thấy cụ rất đáng thương, tuổi lại
cao thế này rồi, tôi thay cụ cầu xin vậy, đây chỉ có thể gọi là việc thiện,
không thể gọi là công đức, hơn nữa hiệu quả cầu xin cũng không lớn. Đây chính là
miệng nói dùng Phật tính giúp cụ già cầu Bồ Tát tăng thọ, nhưng trong bản tính
thực sự của tôi lại không dùng tâm từ bi thực sự của Quan Thế Âm Bồ Tát để làm.
Các bạn biết Sư phụ cầu như thế nào không? Khi Sư phụ cầu Bồ Tát giúp cụ già
tăng thọ, vì cụ già này hiện tại đang tu tâm tu Phật, cụ lớn tuổi thế này rồi,
vừa mới khai ngộ bắt đầu tu tâm, xin Quan Thế Âm Bồ Tát từ bi cho bản tính Phật
tính của cụ già thêm một chút thời gian, để cụ sống thêm một chút thời gian, có
thể để cụ chứng ngộ nhiều việc hơn, chứng ngộ Phật pháp, chứng ngộ để nhiều
người tin vào Quan Thế Âm Bồ Tát hơn. Nếu cầu như vậy, Phật tính thực sự trong
bản tính của bạn sẽ hiện ra. Phải vứt bỏ tất cả tạp niệm của bản thân, đừng
dính dáng một chút tư tâm nào, phải từ sâu trong nội tâm khơi dậy Phật tính của
bạn, sau đó đi làm mỗi một việc, mới có thể gọi là công đức. Một người phải
chứng ngộ, phải có cái Đức của Phật tính, còn phải có cái Công của Phật tính,
cộng lại mới có công đức của Bồ Tát.
Niệm niệm vô trệ, tức ý niệm của bạn, bất cứ việc gì trong tư tưởng của bạn đã
hoàn toàn không có một chút trở ngại nào. Nghĩa là đầu óc bạn hoàn toàn có thể
kiểm soát chính mình, trong tư tưởng của bạn không có bất kỳ trở ngại nào. Khi
bạn không có trở ngại sẽ thường thấy bản tính, khi ý niệm của bạn không có tạp
niệm, bạn có thể thường xuyên nhìn thấy những thứ thuộc về bản tính của mình,
chỉ nhìn thấy bản tính của mình thôi chưa đủ, còn phải cộng thêm sự ứng dụng
của Phật tính. Ví dụ: Một người biết mình hiện tại đang làm việc của Bồ Tát,
nhưng chỉ bảo vệ tốt hình tượng của mình, bảo vệ tốt lời nói của mình, bảo vệ
tốt tư duy của mình là chưa đủ, bởi vì bạn chưa đi ứng dụng, chưa đem kinh văn
tốt đẹp như vậy của Bồ Tát, tư duy tốt đẹp như vậy, hành vi tốt đẹp như vậy đi
dạy mọi người, bạn chưa đem những thứ của Bồ Tát ứng dụng vào cuộc sống của
bạn, bạn không phải là Phật Bồ Tát, những việc bạn làm này sẽ không có công
đức.
24. Sự diệu dụng của Phật tánh
Sự
diệu dụng của Phật tánh. Sự diệu dụng của Phật tánh chính là một số phương
pháp, một số lý niệm, một số hành vi mà Phật Bồ Tát thực sự dùng để cứu độ
chúng sinh. Diệu pháp hiện tại của Sư phụ là do Quan Thế Âm Bồ Tát truyền thụ,
là để cứu độ chúng sinh, hiện tại Sư phụ chính là dùng diệu pháp này đang cứu
người; tận dụng phát thanh, tận dụng mạng internet để truyền bá ứng dụng diệu
pháp, khiến người nghe được, nhìn thấy vừa tiếp xúc đã bắt đầu học rồi, đã bắt
đầu niệm kinh rồi, vừa niệm kinh là linh nghiệm. Cứu người phải có phương pháp,
càng phải có diệu pháp. Sư phụ kể cho các bạn một câu chuyện, có một người con
trai vô cùng bất hiếu với mẹ mình, người mẹ chỉ cần nhìn thấy con trai là sợ
hãi run rẩy. Nhưng người con trai này tin Phật, một hôm đi cầu Bồ Tát phù hộ
hiển linh, kết quả Quan Thế Âm Bồ Tát thực sự hiển linh, nói bên tai anh ta:
Thực ra Quan Thế Âm Bồ Tát đang ở trong nhà con, là người đi ngược giày mặc
ngược áo. Anh ta vội vàng chạy về nhà xem, đến cửa nhà, liền lớn tiếng gọi, đập
cửa rầm rầm, người mẹ vừa nghe thấy tiếng con trai, sợ quá luống cuống mặc
ngược cả áo và giày, vội vàng ra mở cửa, cửa vừa mở người con trai sững sờ,
biết rồi, cũng hiểu ra là Quan Thế Âm Bồ Tát đang điểm hóa anh ta, muốn anh ta
hiếu thuận với mẹ mình trước rồi hãy đến lạy Bồ Tát, anh bây giờ ngay cả tư
cách lạy Bồ Tát cũng không có. Các bạn phải hiểu đạo lý trong đó.
Thường
thấy bản tính, bản tính thường trụ, Phật tính diệu dụng cộng lại mới bằng công
đức. Đem Phật tính dùng trong cuộc sống hàng ngày, chính là công đức, nếu đem
Phật tính của bạn dùng trong cuộc sống tuyệt đối là có công đức, hãy nhớ, làm
bất cứ việc tốt việc thiện nào phải cộng thêm một cái Phật tính mới có công
đức.
Một
cách hiểu khác về công đức, Bản tính Phật, bản tính của mình là Phật. Kiến
chứng Phật, nhìn thấy chứng thực là Phật, là Bồ Tát. Quán tưởng Phật, trong đầu
bạn thường xuyên nghĩ đến Phật, bạn chính là Phật, nhìn thấy đều là Phật. Ứng
dụng Phật, những việc bạn làm ứng dụng vào trong cuộc sống, hoàn toàn ứng dụng
lý niệm của Phật để làm bất cứ việc gì, chính là công đức. Nếu khi mở pháp hội,
những việc tốt việc thiện đã làm đều là công đức, ví dụ: Bạn luôn kiên trì giúp
đỡ người khác, quên đi bản thân mình, lúc này người ta nhìn bạn chính là Bồ
Tát, bản thân bạn nhìn mình cũng là Bồ Tát, lúc này mới là công đức vô lượng.
Minh tâm khai ngộ, nếu nói tôi minh bạch rồi, tôi khai ngộ rồi, bạn chỉ cần nói
"tôi khai ngộ rồi", thực ra là chưa khai ngộ, bởi vì người thực sự
khai ngộ sẽ không nói mình khai ngộ, người thực sự minh bạch sẽ không nói mình
minh bạch. Minh tâm khai ngộ không phải là chân khai ngộ, bởi vì đây chỉ là
khai ngộ trên đạo lý, hiểu đạo lý này rồi, khai ngộ về Lý, hiểu rõ chân tướng
của vũ trụ vạn vật, nếu không có ứng dụng thực tế, bạn chính là không khai ngộ,
các bạn hiểu thế giới này đều là giả, đều là không (trống rỗng), sau khi biết
rồi thì khai ngộ về Lý, đã thực sự ứng dụng vào thực tiễn chưa? Nếu bạn có thể
thông qua những đạo lý này biết phải làm cho nhiều người hơn lìa khổ, phải đem
chân tướng mình đã hiểu khai ngộ nhanh chóng nói cho mọi người biết, thì bạn
chính là Bồ Tát, nếu bản thân hiểu rồi, không đi nói cho người ta, lại không đi
cứu độ người ta, đây có thể gọi là minh bạch không? Có thể gọi là khai ngộ
không? Khai ngộ chân chính phải dùng trong thực tiễn, phải ứng dụng thực tế,
phải ứng dụng bình đẳng, lúc nãy giảng cho các bạn là phải nhận thức bình đẳng,
còn bây giờ giảng cho các bạn khai ngộ phải ứng dụng, nếu cho rằng lý niệm học
Phật là không bình đẳng, bạn sẽ không thể ứng dụng tốt. Ví dụ: Người ta có
tiền, mà bạn không có tiền, bạn sẽ cảm thấy không bình đẳng, bạn có cái sự
không bình đẳng này chính là sẽ không ứng dụng tốt.
Hiền ư ngoại (Hiền đức thể hiện ra bên ngoài), cũng chính là lễ nghi bình thường. Bạn nói
cho người ta biết lời nói hành vi tu hành của mình, chính là Đức. Từ sự hiểu
biết trong nội tâm, khiêm hạ bình đẳng đến lễ nghi bên ngoài, sau khi hiểu đạo
lý làm ra những hành vi tốt cộng lại chính là công đức của bạn. Bồ Tát
giảng tự tính kiến ư vạn pháp thị Công, bản tính của mình được xây
dựng trên nền tảng của vạn pháp, tất cả hành vi, tất cả động tác, tất cả ngôn
ngữ của bạn ở nhân gian gọi là vạn pháp, nghĩa là bản tính của chính bạn nếu ở
trong tất cả ngôn ngữ, tất cả động tác hành vi thì bạn có Công. Tất cả vạn pháp
là do tự tính lưu lộ ra, nghĩa là tất cả pháp môn, tất cả đi, đứng, nằm, ngồi,
tư duy ở nhân gian, tất cả những thứ tốt, tất cả những thứ không tốt đều là sự
bộc lộ của bản tính chính bạn, nhưng tại sao bộc lộ đến cuối cùng lại không tốt
nữa? Bởi vì chuyển thế quanh năm suốt tháng dính phải những thứ không tốt, hơn
nữa là từ từ nhiễm phải trong lúc vô tri vô giác.
Tất cả sự vật trên thế giới đều là sự hiển hiện của Phật tính,
tức tất cả vật chất tư duy trên thế giới toàn bộ đều là sự diễn biến của Phật
tính, bạn coi tất cả mọi thứ trên thế giới đều là Phật tính, thì bạn thành Phật
rồi. Ví dụ: Hôm nay có thể ngồi ở đây, cảm ơn thiên địa vạn vật cho tôi chiếc
ghế này. Hôm nay ngồi ở đây nghe Sư phụ giảng bài, cảm ơn Quan Thế Âm Bồ Tát
cho tôi Sư phụ, dẫn dắt tôi tu học Phật pháp. Về đến nhà có thể đoàn tụ chung
sống hòa thuận với người nhà, cảm ơn Quan Thế Âm Bồ Tát ban cho tôi gia đình
tốt thế này. Tất cả mọi thứ bạn đều nghĩ nó có Phật tính, đều là Phật Bồ Tát
ban cho, phải có tâm biết ơn. Nếu bạn nhìn tất cả sự vật trên thế giới đều có
Phật tính, hơn nữa là sự hiển hiện của Phật tính, thì bạn chính là Phật Bồ Tát
rồi.
25. Bàn về "Ý niệm của chúng sinh"
Tâm thể
ly niệm thị Đức (Tâm thể rời khỏi ý niệm là Đức), tức là coi Tâm như một loại thể năng lượng. Nếu tâm của bạn có
thể không có ý niệm thì đó là Đức. Phải biết tâm của bạn, bên trong chứa đựng
cái gì? Đang làm cái gì? Lượng hấp thu của thể năng lượng này (tức là các loại
ý niệm và hành vi) nếu thứ đi vào là thứ tốt, tâm của bạn chính là Phật. Thứ đi
vào là thứ bẩn thỉu, tâm của bạn chính là Ma. Bạn phải hiểu rõ tâm của mình, phải
biết tâm của mình rốt cuộc đang làm gì. Cho nên Phật pháp giảng "Tâm thể
ly niệm", chính là tâm của bạn phải hoàn toàn rời khỏi ý niệm của bạn, làm
bất cứ việc gì phải dùng tâm của mình để làm, nếu trong tâm bạn đi vào những thứ
tốt, thì đó là Đức, bởi vì sau khi những thứ tốt đi vào, bạn sẽ biết đức tính
này của mình, tiếp nhận những thứ tốt bạn chính là người có đạo đức. Nếu trong
tâm bạn đi vào những thứ bẩn thỉu không tốt, thì chính là thiếu đức (khuyết đức).
Làm thế nào mới có thể khiến bạn không có tạp niệm? Trước tiên phải Ly niệm, ly
niệm chính là Vô niệm, vô niệm chính là Đức. Bạn không có ý niệm nữa, bạn rời
khỏi ý niệm này rồi bạn sẽ có Đức, có bất cứ ý niệm nào, bạn sẽ có sự chênh lệch
cao thấp, giống như một chiếc đồng hồ vậy, khi bạn có ý niệm, tâm của bạn sẽ
dao động bất định, nếu khi không có ý niệm, kim đồng hồ sẽ không động nữa, định
lại rồi, có ý niệm sẽ có niệm sai (niệm sai), cho nên phải nhớ kỹ Vô niệm là Đức,
bởi vì bạn thường xuyên vô niệm sẽ chuyển đổi thành một loại niệm khác, gọi là
Vô vô niệm. Nếu có niệm sẽ có phiền não, có phiền não chính là có ý niệm, biến
có ý niệm thành vô ý niệm, chính là Đức. Chân tướng của vũ trụ này chính là vạn
biến bất ly kỳ tông (muôn vàn biến hóa không rời gốc), cũng giống như lục đạo
luân hồi vậy, con người luân chuyển trong lục đạo, chuyển không ra được, cần có
Minh sư chỉ điểm kéo các bạn ra, nhưng rất nhiều người đi theo Sư phụ vừa mới
tu ra được một chút, lại đi vào rồi. Bởi vì đời người giống như một cái xoáy nước
lớn, vừa mới ra được một chút, lại bị cuốn vào rồi. Phải nhớ biến có phiền não
thành không phiền não, Đức của bạn sẽ xuất hiện.
Chúng
sinh đều có ý niệm, nhưng ý niệm không can nhiễu Phật tính, Phật tính không can
nhiễu ý niệm. Bạn có ý niệm sẽ không ảnh hưởng đến Phật tính của bạn, bởi vì
không ảnh hưởng đến bản tính Phật tính sâu thẳm nhất trong nội tâm bạn, Phật
tính vốn có của bạn sẽ không can nhiễu ý niệm của bạn, bất luận là ý niệm tốt
hay ý niệm xấu, Phật tính vẫn là Phật tính ban đầu, cho dù người này vào tù,
nhưng Phật tính của anh ta vẫn tồn tại. Cho nên Phật tính phải để nó thường trụ,
những thứ tốt đẹp phải thường trụ trong tâm. Niệm mà không có niệm chính là Đức,
bạn đã không có ý niệm rồi, bạn ngay cả nghĩ cũng không đi nghĩ, ví dụ, có người
nói đối với việc này tôi không có ý kiến (suy nghĩ), thực ra vẫn có ý kiến tồn
tại, cái này gọi là Niệm của vô hữu niệm, Niệm của vô niệm chính là Phật
tính. Bất ly tự tính thị Công (Không rời tự tính là Công), tức là
chúng ta làm người phải vĩnh viễn không rời xa bản tính của mình, đừng rời xa
Phật tính, đó chính là Công. Phật tính của tự tính không bị ô nhiễm, hơn nữa có
thể ứng dụng tự nhiên chính là Đức.
Vừa nãy
giảng cho mọi người biết công đức có hai ý nghĩa: 1. Công đức là phát ra từ nội
tâm, phải có Phật tính, phải học công đức của Phật Bồ Tát. 2. Pháp thân của các
bạn phải có công đức, chính là điều Sư phụ giảng ở trước, nếu các bạn làm được
công đức, nhục thân này của các bạn chính là pháp thân, cũng chính là công đức
thân, hơn nữa là chân công đức, công đức pháp thân là chân công đức, chân Phật
tính cũng sẽ hiện ra, bởi vì sau khi nhục thân này của bạn tạo ra những thứ thuộc
về bản tính nhất, Phật tính thực sự trong nội tâm bạn sẽ hiện ra, Phật tính hiện
ra này là nền tảng, chính là nền tảng để các bạn thực sự học Phật có được Phật
tính, những việc làm ra trên nền tảng Phật tính thực sự mới gọi là công đức. Nếu
không tất cả chỉ là việc thiện và phúc báo.
Phật Bồ
Tát phù hộ những người chịu giúp đỡ chính mình, chính là Phật Bồ Tát phù hộ những
người chịu sửa đổi khuyết điểm trên người mình, bởi vì những người không chịu sửa
đổi khuyết điểm trên người mình, Bồ Tát sẽ không bảo vệ. Nghĩa là người này phải
có tâm sám hối mới được cứu, trước tiên phải sám hối, bạn mới có thể được cứu,
bạn ngay cả tập khí trên người mình cũng không biết hối cải, làm sao có thể được
cứu?
Phật là
người bình thường nhất trên thế giới, bởi vì Ngài đã khôi phục lại trạng thái
ban đầu (nguyên trạng), bởi vì chúng ta là người lương thiện, tu tâm tu đến cuối
cùng, tu ra được Phật tính, sẽ khôi phục lại trạng thái ban đầu nguyên thủy nhất,
tức nguyên linh ban đầu của Phật Bồ Tát.
Tất cả hiện
tượng trên thế giới, tất cả mọi việc, toàn bộ đều là nhà tù của nhân gian. Nếu
bạn tin nó, bạn đi làm, bạn cũng giống như vào nhà tù, vào nhà tù của sự vật
này, bị nó khóa lại, không ra được. Nhà tù này là do tự mình nhốt mình vào. Ví
dụ: Có người đối xử không tốt với bạn, bạn sẽ hận người này, hơn nữa trong lòng
luôn nghĩ họ sẽ hại bạn, đây có phải là bạn đã vào nhà tù của chính mình không?
Cung kính
với người khác chính là trang nghiêm bản thân, bạn là người có tu vi, biết Phật
pháp, hiểu lễ phép, đây là đang trang nghiêm bản thân, bản thân thụ hưởng lợi
ích, đang nâng cao nhân cách của chính mình.
Phật pháp
chính là phương pháp hoàn thành sự giác tỉnh của sinh mệnh, nói đến cùng Phật
pháp chính là phương pháp hoàn thành sự giác tỉnh của sinh mệnh, bạn phải giác
ngộ, phải nhanh chóng tỉnh lại đi, bởi vì phương pháp này chính là Phật pháp,
nó khiến bạn thực sự hiểu rõ chân tướng của vũ trụ nhân sinh.
Sư phụ
hôm nay nói với các bạn một câu: "Thế giới này chính là một trò cười lớn."
Thế giới này chính là sân khấu tạo ra trò cười cho bạn. Hãy nghĩ về bậc trưởng
bối của bạn, nghĩ về quá khứ của chính bạn, nghĩ về tương lai của bạn, nghĩ về
những việc bạn đã từng làm, có buồn cười không, cái gì cũng là giả, một hơi thở
không lên được, cái gì cũng không còn nữa, tất cả mọi thứ toàn bộ đều là giả, đến
cũng không (trống rỗng), đi cũng không (trống rỗng). Hôm nay vì thời gian có hạn,
Sư phụ giảng đến đây thôi.
26. Dùng "Ngũ lực" để tìm kiếm bản tính của chính mình
Hôm nay
giảng cho mọi người về "Ngũ lực". Chúng ta học Phật, tu hành, tu tâm
muốn tìm thấy bản tính của chính mình. Dựa vào bản thân cầu chứng, muốn tìm thấy
bản tính của mình, bắt buộc phải có năm loại sức mạnh, mới có thể tìm thấy bản
tính của mình.
1.
Tín lực, chính là sức mạnh tin tưởng một cách thiết thực, tín lực rất
quan trọng, Tín vi Đạo nguyên Công đức mẫu (Niềm tin là nguồn
gốc của Đạo, là mẹ của các công đức). Đạo nguyên công đức mẫu chính là có một
Tín lực, tin tưởng một việc nhất định có thể thành công, tin tưởng Quan Thế Âm
Bồ Tát nhất định sẽ cứu chúng ta, Công đức mẫu chính là cái Đạo nguyên này, tức
cội nguồn. Nếu bạn tin tưởng rồi mới có thể nắm được cội nguồn, mới có thể đạt
đến Công đức mẫu. Một người làm bất cứ việc gì, nếu không có niềm tin, không có
tín lực, việc gì cũng không thể làm thành công. Tín lực có thể phá trừ nghi hoặc,
không bị nghi hoặc làm lung lay.
2.
Tấn lực, sức mạnh tiến thủ (tinh tấn). Hôm nay tin Phật Bồ Tát rồi,
nhưng lại không chịu niệm kinh cho tốt, tin Phật Bồ Tát sẽ cứu tôi, nhưng lại
không có tín lực, lại không tinh tấn. Hơn nữa trong tinh tấn không được tạp, nếu
tạp thì bằng như không tinh tấn. Nếu cái gì cũng đi học một chút, việc gì cũng
sẽ không thành công. Tấn lực còn phải cộng thêm một sự dũng mãnh tiến về phía
trước, chính là phải cuồng tu (tu hành mãnh liệt). Ví dụ: Nếu mắc bệnh nặng, phải
cuồng niệm (niệm thật nhiều) "Đại Bi Chú" và các
kinh khác, vì bệnh bạn chịu bây giờ không phải bệnh mà người bình thường có thể
chịu, muốn bệnh khỏi thì phải làm việc người bình thường không thể làm, phải nhẫn
cái mà người bình thường không thể nhẫn, mới có thể chữa khỏi bệnh.
3.
Niệm lực, cũng chính là ý niệm. Ý niệm của một người rất quan trọng, nếu
hôm nay làm công đức, là dùng Tâm, dùng Chính niệm làm việc thì toàn bộ đều là
công đức. Nếu mang theo tư tâm tạp niệm để làm, niệm lực của bạn sẽ không còn nữa,
sẽ không tìm thấy bản tính của mình, sẽ không thể nhận được sự cầu chứng trong
bản tính của chính mình.
4.
Định lực, tức Chính định lực. Chữ Chính được phân biệt bằng cái gì? Là
dùng sức mạnh của một loại niềm tin của bản thân để định vị cái tâm của mình.
Ví dụ: Hôm nay cầu Quan Thế Âm Bồ Tát, tâm của tôi định lại rồi, bởi vì tôi tin
Quan Thế Âm Bồ Tát, nhất định phải Chính định. Tôi tin việc thiện tôi làm là
phát ra từ trong tâm, là chính xác. Định lực có thể tiêu trừ tất cả ý niệm hỗn
loạn, khiến tâm định lại.
5.
Tuệ lực, chính là trí tuệ. Trong trí tuệ bao gồm Chính tuệ, rất nhiều
người có trí tuệ, nhưng, không dùng vào nơi tốt. Ví dụ: Một nhà khoa học rất có
trí tuệ, nghiên cứu ra bom nguyên tử, bom vi khuẩn v.v., người này có phải rất
có trí tuệ không? Tương tự nếu tâm không chính, không tìm thấy bản tính của
mình, trí tuệ sinh ra sẽ không phải là Chính tuệ, sẽ tạo nghiệp.
Phải có
năm loại sức mạnh này mới có thể tìm thấy bản tính, mới có thể cầu chứng việc
tu tâm của bản thân rốt cuộc có đúng hay không? Nếu bạn không cảm nhận được
đúng hay không, bạn có thể dùng tâm của mình để suy đoán, cộng thêm Ngũ lực, bạn
sẽ có thể cảm thấy mình làm đúng hay không. Nếu một người không có Ngũ lực, giống
như soi bóng mình trong gương vậy. Nhìn cái bóng và hình dáng của mình là giống
nhau, thực ra trong gương, cái nhìn thấy không phải là bản thân thực sự. Mỗi
người nhìn thấy mình trong gương, thực tế không phải là mình, xét về Nguyên
linh, kiếp trước bạn có thể là ai, mà trong kiếp trước nữa lại là ai ai ai, bạn
nói xem cái nào là bạn? Cái nhìn thấy trong gương chẳng qua là một cái bóng, chẳng
qua là một thứ ngoại hình mà thôi. Chỉ có Ảnh (bóng), bất kiến bản tính (không
thấy bản tính).
Nếu muốn
tìm thấy bản tính chân thực nhất, không phải là nhìn bóng người, không phải
nghe bạn nói chuyện, không phải nhìn ngoại hình và hình dáng của bạn, mà là phải
nắm bắt được bản tính của chính mình. Còn một điểm nữa, muốn tìm thấy bản tính
muốn học Phật, không phải đọc kinh điển là có thể đạt được. Rất nhiều người tưởng
rằng đọc rất nhiều kinh điển, là có thể đạt được Phật pháp chân chính, đạt được
bản tính và nguyên linh của mình, điều đó là không thể. Bởi vì Phật pháp thâm
sâu vô cùng, trí tuệ của chúng ta không thể nào hiểu được. Ví dụ, mỗi một nhà
khoa học chỉ có thể nghiên cứu ra một phần sự vật trong không gian vũ trụ nhân
gian, không thể nào bao la vạn tượng cái gì cũng có thể nghiên cứu ra được.
Các bạn theo Sư phụ học Phật tu tâm, nếu ngó đông, ngó tây, sẽ
càng xem càng tạp, càng xem càng hồ đồ, càng xem càng mê muội, cuối cùng còn
đem thứ mê muội đi làm mê muội người khác, sơ sẩy một chút sẽ xảy ra sai sót. Bản
thân tu tốt hay xấu hoàn toàn nằm trong sự nắm bắt của chính mình.
27. Chính thuyết, Dẫn thuyết, đều là Diệu pháp
Tại
sao phải học Phật? Học Phật là để các bạn cứu độ chúng sinh, không phải chỉ vì
bản thân mình, chỉ có cứu độ chúng sinh quả vị của bạn mới có thể lên cao, cảnh
giới của bạn mới có thể nâng cao. Quả vị càng cao, cảnh giới cứu độ chúng sinh
cũng càng cao. Nếu chỉ biết cứu mình, thực ra bạn đã không có năng lực cứu độ
chúng sinh, không có năng lực làm công đức rồi. Ví dụ bạn ngày nào cũng niệm
kinh cho mình, thực tế là do bản thân bạn nợ quá nhiều trả không kịp, bạn làm
sao đi làm công đức được? Lại làm sao cứu độ chúng sinh đây? Giống như tiền
mình kiếm được đều trả nợ hết rồi, lấy đâu ra tiền giúp đỡ người khác. Độ chúng
sinh là mục đích của chúng ta, làm thế nào độ chúng sinh đây? Trước tiên phải
Phá tà lập chính, phá trừ những thứ tà, tức là phá trừ những thứ không chính
(bất chính). Chỉ vì lợi ích của bản thân mà làm việc chính là bất chính. Cho
nên phải phá trừ toàn bộ những thứ bẩn thỉu trong tư tưởng, mới có thể trở
thành Chính. Khi bạn phá tà lập chính xong, trí tuệ của bạn sẽ dần dần nảy sinh
sự viên dung, trong Phật pháp gọi là Định tuệ viên minh chi tượng,
cũng chính là sau khi Định lại thì trí tuệ sẽ khai mở, sẽ viên dung minh bạch.
Ví dụ: Có những người bạn nhìn mặt là biết rất thông minh, còn người có vấn đề
về chỉ số thông minh bạn nhìn là biết ngốc nghếch. Tượng của định tuệ viên
minh, vô cùng quan trọng, là kết quả của việc bạn phá tà lập chính.
Biện tài vô ngại, chính là dùng miệng đi giảng, đi biện luận. Ví dụ cứu người
khuyên bảo người khác tu tâm, miệng bạn không biết nói, vấn đề người khác đặt
ra, mà bạn nếu không có một loại năng lực để giảng, rõ ràng là chân lý có khi
lại càng biện càng không rõ. Miệng có năng lực biện luận gọi là biện tài, vô
ngại chính là không có trở ngại, các bạn đi hoằng pháp nếu miệng không biết
nói, pháp này hoằng thế nào đây? Nhất định phải vô ngại chính là miệng bạn
giảng Phật pháp giảng cực kỳ tốt, không có trở ngại, điểm này rất quan trọng.
Một người muốn hoằng pháp phải có rất nhiều bản lĩnh, phải có trí tuệ, phải có
tinh thần đại vô úy, đại vô úy chính là quên đi bản thân mình, đừng đặt bản
thân lên vị trí số một. Nếu người này đang hoằng pháp, bất luận là Chính
thuyết, Dẫn thuyết, thực tế đều là diệu pháp. Chính thuyết là
nói một cách chính xác rất nghiêm khắc, trực tiếp nói cho bạn biết cái gì có
thể làm, cái gì không thể làm. Ở đây tại sao dùng Dẫn thuyết, Dẫn
thuyết gọi là nói ngược (phản chính thoại), hôm nay muốn giảng thông
cho người này, bạn có thể dùng rất nhiều phương pháp dẫn dắt họ tỉnh ngộ, nếu
dùng phương pháp bình thường không thể khiến họ tỉnh ngộ, bạn có thể dùng
phương pháp khác. Nghĩa là hôm nay bạn muốn giảng thông cho người này, khiến họ
tin Phật niệm kinh, đôi khi nói chuyện phải dẫn dắt họ suy nghĩ. Ví dụ bác sĩ
nói với bệnh nhân, nếu bệnh này của anh không chữa trị đàng hoàng, sau này sẽ
gây ra bệnh nặng gì gì đó, vị bác sĩ này nói không sai mà. Nhưng bác sĩ bình
thường không nên nói như vậy, bởi vì nói rồi trong lòng bệnh nhân sẽ sợ, sẽ có
áp lực, đối với một số bệnh nhân không thể nói như thế, nhưng đối với một số
bệnh nhân thì phải nói như thế, bởi vì có những bệnh nhân hoàn toàn không hiểu
bác sĩ, không tin bác sĩ, nếu không nói nghiêm trọng một chút họ sẽ không coi
trọng bệnh của mình.
Chính
thuyết, Dẫn thuyết đều là Diệu pháp. Nếu mục đích thực sự của bạn là để cứu độ
chúng sinh, trong cách nói pháp có chút dẫn thuyết cũng là diệu pháp, bởi vì
khi bạn thực sự muốn cứu người này, bạn bắt buộc phải dùng hết phương pháp của
mình để đạt được mục đích của mình, nhưng trong đó phải có một nguyên tắc, gọi
là Chủ nhân căn chính (nguyên nhân chính và cái gốc là
chính/đúng đắn), tức nhân quả chủ yếu của bạn, cái gốc của bạn là chính, có
chút dẫn thuyết cũng không sao. Con người phải có niềm tin, nếu phát tâm chính
sẽ có một loạt diệu pháp.
Tiếp
theo nói với các đồ đệ một chút về căn cơ học Phật, Trung hạ căn giả
văn pháp thời hội hữu đại phản ứng (Người căn cơ trung bình và thấp
khi nghe pháp sẽ có phản ứng lớn), "phản ứng lớn" là lời hiện đại,
người trung hạ căn, chính là người tu vi bình thường, không quá tốt gọi là
người trung hạ căn, căn chính là cái gốc của bạn, là tu vi do kiếp trước bạn tu
mang lại, người trung hạ căn vừa nghe thấy Phật pháp sẽ có đại kinh bố, tức là
sợ hãi (kinh khủng). Giống như khi Sư phụ thuyết pháp, nếu nói đến một số việc,
người căn cơ rất nông cạn, sau khi họ nghe xong sẽ sợ hãi. Khi bạn có suy nghĩ
có biểu cảm (sợ hãi), thì căn cơ của bạn là nông. Chính là khi hoằng pháp cho
người trung hạ căn, khi bạn khuyên bảo họ học Phật, họ sẽ rất kinh ngạc,
"hóa ra nhân gian còn có chuyện này", sau đó sẽ sợ hãi, khi bạn khuyên
người ta học Phật, chính là muốn khiến họ có chút cảm giác sợ hãi. Ví dụ: Một
người thường xuyên sát sinh, bạn nói với họ, mỗ mỗ mỗ chính là vì thường sát
sinh, nên bị thế này thế kia. Họ nghe xong giật mình, sau đó thì sợ hãi, cảm
thấy mình không thể làm những việc này nữa, thế có phải bạn đã cứu họ rồi
không? Đối với những người trung hạ căn thì phải dùng những phương pháp này, để
họ hoàn toàn minh bạch giác ngộ, mới có thể thay đổi.
Lão
Tử nói: "Hạ sĩ văn đạo, đại tiếu chi, bất tiếu bất túc dĩ vi
đạo." (Kẻ hạ sĩ nghe đạo thì cười lớn, không cười thì không đủ để
là đạo). Tức là đối với những người thiếu ngộ tính, kiến thức nông cạn, nghe
thấy "Đạo" thì cười lớn không thôi, tỏ vẻ khinh bỉ, chế giễu, là bởi
vì lý luận của "Đạo" cao thâm không dễ hiểu, nếu ai ai cũng có thể
hiểu dễ dàng chấp nhận, thì không đủ để gọi là "Đạo" nữa rồi. Rất
nhiều pháp môn giảng đạo, thực ra chính là một phương pháp tu tâm học Phật. Chỉ
là cách gọi khác nhau mà thôi.
Sư
phụ dạy các bạn phương pháp làm người xử thế:
An tường thị xử sự đệ nhất pháp. Khiêm thoái thị bảo thân đệ
nhất pháp. Hàm dung thị xử nhân đệ nhất pháp. Sái thoát thị dưỡng tâm đệ nhất
pháp.
(An
nhiên điềm tĩnh là pháp xử sự số một. Khiêm tốn lùi bước là pháp giữ mình số
một. Bao dung là pháp đối nhân số một. Sảng khoái thoát tục là pháp dưỡng tâm
số một).
28. Nhìn thấu, Buông xuống là Bát Nhã
Hôm
nay giảng cho mọi người "Sắc thân thị vô minh" (Thân xác là vô minh).
Chữ Sắc này không phải chỉ sắc dục nam nữ, là chỉ những thứ nhìn thấy, sở hữu ở
nhân gian, là cái Sắc hữu hình của thế giới này. Thân chính là nhục thân này
của chúng ta. Vô minh là chỉ tập khí vô minh của bạn, khi bạn cái gì cũng không
biết, sự trống rỗng này chính là vô minh. Tập khí vô minh mà Sư phụ thường nói
với các bạn, chính là ác tập khí (thói quen xấu) do nguyên linh của các bạn để
lại từ mấy trăm năm, mấy ngàn năm nay, là thứ không tốt.
Chư pháp vô tự tánh, tất cả các pháp môn, tất cả các pháp, ở thế giới này gọi là
Pháp giới. Pháp giới là không có tự tánh, là Không (rỗng Không). Con người đến
thế gian này cái gì là của mình? Trên thế giới này bạn không có gì cả, bạn ngay
cả bản tính vốn có của mình cũng đánh mất rồi, bởi vì sau khi bạn sinh ra, bản
tính của bạn bị kiếp trước của bạn rồi kiếp trước nữa... che lấp toàn bộ (bị
che đậy), cho nên cả đời này bạn đã không phải là bạn ban đầu nữa, đã không có
bản tính ban đầu nữa rồi, thử nghĩ xem, trong thế giới này còn cái gì là bản
tính của bạn? Bản tính đánh mất, nhưng Phật chủng tòng duyên khởi, Ta
Bà tức thị Cực Lạc, nghĩa là bạn hãy thay đổi thế giới Ta Bà này cho tốt,
dùng tư duy của bạn, dùng khái niệm của bạn thay đổi cho tốt, thì chính là một
thế giới Cực Lạc. Phật chủng, tức là hạt giống của Phật Bồ Tát. Hạt giống sớm
nhất của Phật Bồ Tát là khởi từ duyên, thứ sớm nhất chúng ta học Phật chính là cái
gọi là Phật tính. Phật tính chính là hạt giống Phật, cái Linh nguyên thủy nhất
của Phật Bồ Tát, là khởi từ duyên. Khổng Phu Tử giảng "Nhân chi sơ, tính
bản thiện", tính bản thiện mà Khổng Phu Tử chỉ, là chỉ bản tính nguyên
thủy nhất, là lương thiện, chính là Phật tính, nhưng những đứa trẻ chúng ta
sinh ra hiện nay, về cơ bản đã không phải là bản tính ban đầu nữa rồi, bạn hôm
nay gọi tên này, mà kiếp trước không phải tên này, thử nghĩ xem, trải qua một
đời tử vong lại trải qua một đời tử vong, luân hồi nhiều đời, mới có bạn của
ngày hôm nay, bạn nói xem có phải là bạn ban đầu không?
Nếu
một người không thể kiểm soát Hỉ, Nộ, Ai, Lạc của mình, chính là một người
không có năng lực, không có năng lực kiểm soát bản tính của mình, không có năng
lực làm chủ vận mệnh của mình, thực tế thì cũng gần giống như động vật. Ví dụ:
Một người không có năng lực kiểm soát bản thân, khi vui thì vui hết mình, khi
buồn thì đau lòng chịu không nổi, đây chính là không có năng lực kiểm soát cảm
xúc của mình, là biểu hiện của chư pháp vô tự tánh.
Sư
phụ thường giảng cho mọi người về trì giới, tại sao con người phải thụ giới?
Bởi vì thụ giới có thể bịt kín toàn bộ lỗ hổng phúc đức tu tâm của bạn. Ví dụ:
Hôm nay làm rất nhiều việc tốt, nhưng đến cuối cùng vì một câu nói của bạn mà
đắc tội hết mọi người, thế thì việc thiện và công đức bạn làm hôm nay sẽ bị lọt
mất rất nhiều. Sư phụ từng giảng cho mọi người, khi bạn vừa niệm kinh xong, khí
trường vô cùng tốt, nhưng đi tán gẫu với người ta, nói năng lung tung, sẽ làm
lọt mất công đức bạn vừa niệm kinh.
Rất
nhiều người cứ không buông bỏ được con cháu của mình, ngày ngày lo lắng cho
chúng, vì chúng mà nỗ lực, mà buồn lòng. Nhiều người lớn tuổi như vậy rồi, cả
ngày lo nghĩ cho đời sau, nên nghĩ xem mình còn sống được mấy năm, nên gánh vác
trách nhiệm cho những tội lỗi mình đã làm trong quá khứ, sám hối cho tốt, trả
sạch nợ nần, mới có thể nhẹ gánh một thân. Làm thế nào biết tội mình đã tạo
trong quá khứ? Chính là phải xem báo ứng. Nếu đến tuổi già sức khỏe vô cùng
không tốt, toàn là bệnh tật, chứng tỏ oan gia trái chủ của bạn đều đến tìm bạn,
buổi tối ác mộng liên miên, thì nên sám hối thật tốt tội nghiệp mình đã làm.
Ngoài
ra, nếu con cháu giỏi hơn tôi, để lại tiền tài cho chúng làm gì? Cảm thấy con
cháu giỏi hơn mình, tại sao còn phải để lại tiền tài cho chúng? Nếu con cháu
không bằng mình, lại để lại tiền tài cho chúng làm gì? Nếu con cháu thường
xuyên chọc tức bạn, khiến bạn đau lòng buồn bã, cả ngày cờ bạc rượu chè không
làm việc đàng hoàng, bạn lại để lại tiền tài cho chúng làm gì? Để chúng đi tạo
thêm nhiều nghiệp chướng, bạn đây không phải là đang hại chúng sao? Biết để lại
cái gì là tốt nhất không? Hãy để lại chút Đức cho con cái đi. Bản thân để lại
nhiều đức tính cho con cái một chút còn tốt hơn bất cứ thứ gì. Nếu cha mẹ cả
ngày cãi nhau, để lại gì cho con cái? Nếu con cái có tiền đồ, sẽ không để ý
tiền tài của bạn, nếu con cái không tốt, không bằng bạn, bạn lại cho nó tiền
tài làm gì? Tiền tài để lại càng nhiều mâu thuẫn giữa con cái với nhau càng
lớn. Như kiện tụng, chia tài sản v.v. Cha mẹ thực sự tốt nên biết để lại thứ gì
cho con cái.
Mỗi người đều sẽ có tai kiếp hoạn nạn, khi tai nạn ập đến, chính
là lúc việc tu tâm của chúng ta ngày càng chín muồi, biết tại sao lại nói như
vậy không? Bởi vì khi có khổ, con người mới nghĩ đến lạy Phật niệm Kinh, chỉ
khi chịu khổ, người này mới tinh tấn, chỉ khi nghèo khó, mới phấn đấu vươn lên,
chỉ khi sức khỏe không tốt, mới biết phải rèn luyện sức khỏe, con người chính
là có cái tật này, việc gì cũng phải đợi sắp xảy ra mới nghĩ đến, cho nên bất
luận việc gì cũng phải phòng ngừa chu đáo (vị vũ trù mâu), nghĩ đến hậu quả sớm
một chút.
29. Chân tâm sám hối tiêu trừ vọng niệm
"Thiên niên ám thất, nhất đăng tựu phá" (Căn phòng tối ngàn năm, một ngọn đèn
liền phá tan). Sự vô minh trong lòng chúng ta, những điều chúng ta không hiểu,
giống như căn phòng tối ngàn năm, chỉ cần thắp lên một ngọn đèn sáng, tất cả
đều có thể được chiếu rọi. Trong tập truyện cổ tích của Andersen có
truyện "Cô bé bán diêm", mỗi lần cô bé quẹt một que diêm,
cô lại nhìn thấy những cảnh tượng của quá khứ hoặc tương lai, mỗi lần thắp một
que diêm, cô lại nhìn thấy những thứ của linh giới hoặc những thứ trên thiên
thượng, đợi đến khi cô quẹt hết diêm, thì không còn nhìn thấy gì nữa. Nhưng cái
chúng ta cần không phải là một que diêm, cũng không phải một bao diêm, cái
chúng ta cần là ngọn đèn sáng vĩnh cửu, ngọn đèn sáng vĩnh cửu này phải dựa vào
Bồ Tát thắp lên cho chúng ta, chứ không phải dựa vào sức lực mỏng manh của
chính mình mà có thể thắp sáng được.
Tạo
ác nghiệp, phải chân thành sám hối. Nếu đã tạo ác nghiệp, cũng giống như ở
trong phòng tối không nhìn thấy gì cả. Nhưng nếu bạn chân thành sám hối, giống
như một ngọn đèn sáng, có thể sám hối tiêu trừ rất nhiều việc ác bạn đã làm
trong quá khứ. Nhưng nhất định phải chân thành sám hối, sau khi chân thành sám
hối tâm của bạn sẽ bắt đầu thanh tịnh. Ai mà chưa từng làm việc xấu? Ai mà chưa
từng làm việc sai? Hễ là con người, sẽ có lúc làm sai. Nhưng phải biết sám hối,
không biết sám hối, thì vĩnh viễn không tìm thấy phương hướng. Trong cuộc sống
có một câu là: "Bất tráng nam tường bất hồi đầu" (Chưa
đụng tường nam chưa quay đầu/Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ). Bao nhiêu người
trong hôn nhân, trong sự nghiệp, rõ ràng làm sai rồi, rõ ràng đụng tường rồi,
vẫn cứ muốn lao về phía trước, rõ ràng biết làm những việc này sẽ có nghiệp
chướng, nhưng cứ cố tình làm, rõ ràng biết con cái của mình, nếu cứ nuông chiều
như vậy, sớm muộn gì cũng đi vào con đường tà đạo, nhưng vẫn cứ tiếp tục nuông
chiều, đây là vì sao? Chính là vì trong tâm có vô minh và chướng ngại.
Sư
phụ thường dạy các bạn tu thân dưỡng tâm, trước tiên phải "quả
dục" (ít ham muốn), phải thanh tâm quả dục, đừng theo đuổi danh
lợi. Chỉ có thanh tâm (tâm trong sạch) mới có thể quả dục, dục vọng ít đi, tâm
sẽ thanh tịnh. Tu tâm thực sự rất khó, tu cho Tâm và Thể (thân) nhất quán với
nhau, người này mới có thể thành công. Giống như nhân gian thường nói thân tâm
khỏe mạnh, Tâm là thượng, tâm quan trọng hơn bất cứ thứ gì, còn Thân là do hậu
thiên tạo thành, chỉ có thân tâm nhất trí, mới có thể khỏe mạnh, mới có thể
sinh trí tuệ.
Nếu
trong cuộc sống các bạn gặp phải ác nhân, người này rất xấu, chúng ta nên làm
thế nào? Nên nghĩ rằng họ đến để khảo nghiệm mình. Khi bạn biết đó là một kẻ
ác, mà bạn có thể kiểm soát bản thân không nảy sinh mâu thuẫn với họ, không
tranh cãi với họ, coi họ như người tốt, như vậy mới nâng cao được sự tu dưỡng
của bạn. Nếu cả đời không gặp phải ác nhân, người xấu, sẽ không có được sự tu
dưỡng này. Giống như trong y học nói, nếu không gặp phải loại vi khuẩn này, sẽ
không nghiên cứu ra loại kháng thể tương ứng. Nếu gặp phải người xấu, bạn phải
cảm ơn họ, bởi vì họ cho bạn biết trên đời còn có loại người xấu như vậy, lần
sau gặp phải người xấu khác giống như họ, bạn sẽ không bị lừa, cho nên bạn phải
cảm ơn họ, thực ra chính là phải học cách kiềm chế bản thân, phải học
cách Nhẫn nhục. Gặp phải Ma, cũng là một loại khảo nghiệm, nếu bạn
chưa bao giờ gặp phải ma, thệ nguyện của bạn sẽ không kiên định, không vững
chắc, bởi vì không có ma khảo, con người bạn sẽ không hạ quyết tâm, do đó gặp
phải ma, đối với bạn là một loại khảo nghiệm. Ví dụ: Hiện nay các bạn đều biết
siêu độ, nếu người mất trong nhà đến đòi bạn "Ngôi Nhà Nhỏ", bạn có
phải nên cảm ơn họ không, nếu không có họ đến đòi bạn "Ngôi Nhà Nhỏ",
nghiệp chướng của bạn sẽ không tiêu trừ được, linh tính trên người bạn sẽ không
siêu độ đi được, hôm nay khiến bạn đau đầu, ngày mai khiến bạn đau lưng v.v.,
tóm lại khiến bạn không được yên ổn. Ví dụ: Hôm nay khiến bạn ngã một cái, bạn
biết đây là ma đến rồi, thì phải đề phòng nó, niệm "Ngôi Nhà Nhỏ" gửi
cho nó, phải hiểu đây là do quá khứ bạn không tu hành tốt, vẫn chưa trả hết
nghiệp chướng của các đời quá khứ. Cho nên mới có quả báo ngày hôm nay, hơn nữa
báo ứng là nhất định phải gánh chịu. Một người thường giữ lòng biết ơn có thể
xua đuổi tà ma và ác nghiệp chướng.
Sư
phụ từng giảng cho các bạn, nếu trong đầu có vọng tưởng, chính là trong tâm có
ma, mà con ma này chính là tên trộm, bạn để tên trộm này ở trong lòng, trộm mất
cái tâm của bạn, tại sao gọi là "thâu tâm" (trộm tâm)? Bởi vì nó trộm
sạch những thứ lương thiện của bạn, tên trộm này, ngày ngày trộm tâm của bạn,
khiến bạn ngày ngày trong lòng buồn bã, hận thù, khiến bạn ngày ngày tâm không
định, tâm không an. Các bạn thử nghĩ xem bất cứ nỗi buồn và sự khó chịu nào
trong lòng đều đến từ đâu? Đều bắt đầu từ cái tâm này, cho nên các bạn phải
triệt để trừ bỏ cái "tên trộm" trong tâm mình, tên trộm này chính là
vọng tưởng của các bạn. Mỗi người đều có vọng tưởng, phương pháp tốt nhất để
loại bỏ vọng niệm, là đừng để ý đến nó, hãy khơi dậy Chánh niệm,
trong tâm bạn chỉ cần có chánh niệm, vọng niệm của bạn sẽ giảm bớt, chánh niệm
là phương pháp tốt nhất để loại bỏ vọng niệm.
30. Phật pháp luận về kết giao bạn bè
Hôm
nay giảng cho các bạn một chút, kiểu bạn bè nào có thể kết giao, kiểu bạn bè
nào không thể kết giao.
Nghiêm trì giới luật chi hữu đương thân cận (Bạn nghiêm trì giới luật nên thân cận).
Khi trong những người bạn kết giao, có người có thể nghiêm túc giữ gìn giới
luật, bạn có thể thân cận, bởi vì sau khi thân cận, bạn có thể "đạm chư
dục", bạn có thể coi nhẹ rất nhiều dục vọng.
Trí tuệ chi quảng đại chi hữu đương thân cận (Bạn có trí tuệ rộng lớn nên thân cận).
Người này rất có trí tuệ, Sư phụ ở đây nói là trí tuệ, chứ không phải thông
minh vặt, bởi vì sau khi thân cận người bạn có trí tuệ rộng lớn, có thể giúp
bạn thoát khỏi mê cảnh (cảnh giới mê muội).
Khiêm ti nhẫn nhục chi hữu đương thân cận (Bạn khiêm tốn nhẫn nhục nên thân cận).
Nếu người bạn này rất khiêm tốn, rất nhún nhường, biết nhẫn nhục, bạn có thể
thân cận, bởi vì sau khi thân cận, có thể tiêu trừ Ngã mạn, tức kiêu ngạo tự
mãn.
Tổng trì văn tự chi hữu đương thân cận (Bạn luôn gìn giữ văn tự/lễ giáo nên
thân cận). Người luôn nắm giữ văn tự, ví dụ người bạn thường xuyên nói với bạn
"phi lễ vật ngôn, phi lễ vật thính" (không hợp lễ chớ nói, không hợp
lễ chớ nghe)... nói ra đều là những thứ văn hay chữ tốt, loại bạn này bạn có
thể thân cận, bởi vì từ trong văn tự có thể học được rất nhiều Lễ, có thể hiểu
được rất nhiều đạo lý làm người. Bởi vì người hiểu văn tự, có thể giải đáp nghi
nan (nghi ngờ, khó khăn) cho bạn.
Trực tâm trung cáo chi hữu đương thân cận (Bạn thẳng thắn đưa lời khuyên trung
thành nên thân cận). Thẳng thắn khuyên bảo bạn, bởi vì những người này là bạn
tốt thực sự (chí hữu), hãy nhớ là thực sự, còn có những người lợi dụng sự thẳng
thắn của mình để mắng người, lợi dụng sự thẳng tính của mình để nói xấu người
ta, bản thân những cái này là không có giáo dục (tu dưỡng), bởi vì họ đã lệch
khỏi Trực tâm thực sự, lời khuyên trung thành thực sự gọi là Trực tâm, người
dùng tâm để đối đãi với người ta mới có thể gọi là Trực tâm, người bạn thẳng
thắn khuyên bảo có thể thân cận, bởi vì họ có thể cho bạn biết sai lầm, thói
xấu trên người bạn.
Dũng mãnh tinh tấn chi hữu đương thân cận (Bạn dũng mãnh tinh tấn nên thân cận). Người
vô cùng nỗ lực tinh tấn, bạn có thể kết bạn với họ, bởi vì khi thân cận với
loại người này có thể "tốc thành đạo quả". Tốc thành đạo quả chính là
nỗ lực làm việc sẽ rất nhanh thành công.
Khinh tài hiếu nghĩa chi hữu đương thân cận (Bạn coi nhẹ tiền tài trọng nghĩa khí
nên thân cận). Người coi tiền bạc rất nhẹ, vô cùng trọng nghĩa khí, có thể thân
cận, bởi vì người bạn khinh tài hiếu nghĩa, có thể giúp bạn phá trừ sự keo kiệt
(lận sắc).
Nhân từ ái vật chi hữu đương thân cận (Bạn nhân từ yêu thương vạn vật nên thân
cận). Người có lòng nhân ái, người có tâm từ bi, bạn có thể kết bạn với họ, có
thể thân cận. Người không lãng phí bừa bãi, yêu thương vạn vật thì có thể kết
giao. Bởi vì bạn thân cận với người nhân từ ái vật, có thể giúp phá trừ Ngã
chấp.
31. Yếu chỉ học Phật — Lời trí tuệ (Phần 1)
Trí giả nhất ngữ, năng lệnh chúng sinh, phá mê khai ngộ. (Một lời của người trí tuệ, có thể khiến
chúng sinh, phá mê khai ngộ).
Hôm
nay tôi sẽ dùng ngôn ngữ đời sống kết hợp với Phật pháp để giảng giải cho mọi
người, dẫn dắt mở rộng, hướng dẫn mọi người phá mê khai ngộ.
Mọi
người nhất định phải hiểu tự tu tự đắc, phải biết tu Đại thừa Phật pháp, phải
tu những thứ căn bản, phải dùng tâm để tu. Bái sư là để học được nhiều thứ hơn
đi cứu giúp nhiều người hơn. Thu nhận đồ đệ là để các bạn khai ngộ, nâng cao
cảnh giới tư tưởng của các bạn. Nếu cảnh giới của bạn cao, bạn sẽ dễ dàng tiêu
trừ vọng niệm chấp trước. Cảnh giới càng cao, phiền não nhìn thấy càng ít,
ngược lại, cảnh giới càng thấp, phiền não nhìn thấy càng nhiều. Bất luận là bái
sư cũng vậy, lạy Quan Thế Âm Bồ Tát cũng vậy, một mục đích là phải tu hành cho
tốt, tu bỏ những tập khí vô minh trên người mình. Lạy Phật, niệm kinh, tu tâm,
đều là rất tự nhiên, là dựa vào ngộ tính của mọi người để tu.
Thịt
trên người là do mẹ cho, xương là do cha cho. Tổn thương da thịt, nghiệp chướng
thường đến từ mẹ. Tổn thương xương cốt, nghiệp chướng thường đến từ cha.
"Khúc dạo đầu của sinh mệnh là vài tiếng khóc, mà sự kết
thúc lại chỉ là một tiếng thở dài!" Tức là sinh mệnh con người bắt đầu trong vài tiếng khóc,
và kết thúc trong vài tiếng thở dài. Mọi người thử nghĩ xem có thứ gì đáng để
chấp trước? Mắt chớp một cái cái gì qua cũng đã qua rồi, tất cả đều không quay
lại nữa. Bi ai của con người bắt đầu bằng tiếng khóc khi chào đời, khi chết
theo một tiếng thở dài là đi rồi, cũng không biết đi về đâu. Cho nên, nhất định
phải biết tu tâm niệm kinh, để kéo dài tuổi thọ của mình. Kéo dài tuổi thọ là
để cứu nhiều người hơn trả sạch nghiệp chướng, chứ không phải vì bản thân bạn,
cho dù là cứu con cái của chính mình, cũng là đang cứu một người trong chúng
sinh. "Sinh mệnh là một hơi thở, hạnh phúc là một ý niệm".
Một
hơi thở không lên được thì sinh mệnh này kết thúc. Hạnh phúc chính là một ý
niệm. Nếu nghĩ đến chuyện vui vẻ tốt đẹp, lập tức sẽ vui vẻ lên. Nếu hận một
người, ý niệm này sẽ không làm bạn vui vẻ. Đạo lý rất đơn giản. Hạnh phúc hay
bi ai nằm ngay trong một ý niệm. Con người đều vì một ý niệm sai lầm mới làm ra
những chuyện ngu ngốc. Cho nên phải học cách kiểm soát bản thân.
"Muốn sinh mệnh nở hoa kết trái, nhất định phải trải qua sự
gột rửa tưới tắm của hoạn nạn, thường xuyên trong không khí an nhàn, ngược lại
sẽ khiến cành hoa sinh mệnh, yếu ớt vô lực, một khi gặp chuyện bất trắc bẻ gãy,
liền sẽ điêu tàn."
Một
người không trải qua rèn luyện sẽ không lớn lên được, sẽ không có ngộ tính. Chỉ
người chịu khổ mới biết trân trọng. Một người sống trong môi trường an nhàn sẽ
không nghĩ đến việc tu tâm cho tốt. Đời người chịu chút trắc trở và ma nạn là
chuyện tốt, có thể rèn luyện ý chí và nâng cao khả năng phân biệt của con
người. Trên đời không có sự vật nào vĩnh viễn không thay đổi, bất luận việc gì
chỉ cần chân thành niệm kinh, cầu xin Quan Thế Âm Bồ Tát phù hộ và giúp đỡ đều
có thể chuyển tốt. Khi niệm kinh phải quán tưởng, phải dùng tâm để niệm, quán
tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát dùng nước tịnh bình từ trên đầu bạn tưới xuống người
bạn. Làm bất cứ việc gì đều phải dùng tâm để làm, mới có thể làm tốt. Mọi người
đều biết ví dụ trong cuộc sống xung quanh chúng ta rất nhiều. Lúc khổ phải nhìn
thấy ánh sáng, chỉ trong khổ mới có thể tìm thấy vui, trong vui cũng bao hàm cả
khổ —— lạc cực sinh bi (vui quá hóa buồn). Mọi người nhất định phải thể ngộ đạo
lý trong đó.
"Cái đại trí của nhân gian, nằm ở chỗ thấu hiểu khuyết điểm
của bản thân".
Người
thông minh tài trí, mới biết khuyết điểm của bản thân mình, mới thường xuyên
che đậy khuyết điểm của mình. Thực ra, biết che đậy khuyết điểm của bản thân là
chuyện tốt, là thông minh. Con người nhất định phải biết học cách thấu hiểu
khuyết điểm của bản thân. Phải hiểu che đậy là bước thứ nhất, sửa đổi là bước
thứ hai, biết khuyết điểm của bản thân mà có thể sửa đổi là quan trọng nhất.
Hóa giải là bước thứ ba, sau khi sửa đổi có thể hóa giải mới là người thông
minh có trí tuệ nhất. Rất nhiều người học Phật cũng bắt đầu từ "ba
bước" này.
"Giá trị của con người nằm ở chỗ họ biết làm hết nghĩa vụ
của mình".
Nghĩa
vụ của con người sống là gì? Nghĩa vụ chính là cứu người. Khiến tất cả những
người xung quanh bạn đều có thể cảm nhận được có Phật pháp tốt như vậy, có Quan
Thế Âm Bồ Tát tốt như vậy đang tế thế cứu người, các bạn phải biết phạm vi cứu
người là rất rộng. Lớn thì xã hội, nhỏ thì gia đình, mỗi người các bạn ở nhà
kính già yêu trẻ, nấu cơm, dọn dẹp v.v., đều là đang làm hết nghĩa vụ của các
bạn. Cứu người cũng là một trong những giá trị của con người.
"Niềm vui của tâm địa an tường, giá trị cao hơn tất cả tài
vật thế gian".
Mọi
người biết niềm vui có rất nhiều loại, uống rượu là niềm vui, tụ tập ăn uống
với bạn bè là niềm vui, người già thích đánh mạt chược đây cũng là một loại
niềm vui. Tuy nhiên, những cái này có thể coi là niềm vui của "tâm địa an
tường" không? Thế nào là niềm vui của "tâm địa an tường"? Bình
an, tường hòa, không có tam độc phiền não, đây mới là niềm vui của "tâm
địa an tường". Chỉ có vô ngã, mới có thể vui vẻ.
"Cảnh giới tinh thần an tường —— chính là dùng tâm thái
khoáng đạt đạm bạc, thuận ứng tự nhiên, để đối mặt với đủ loại biến hóa vô
thường của đời người, hàng phục cảm xúc đau khổ ưu thương xuống điểm thấp nhất,
trong từng phút, từng giây đều đầy đủ hỷ lạc, mãn túc, nội tâm một mảnh an
ninh, không có bất kỳ bất mãn, hoài nghi, oán hận nào trong lòng."
"Tham dục, Sân hận, Ngu muội, Ngạo mạn, Nghi hoặc, Tà kiến
v.v. đều sẽ ảnh hưởng đến lời nói và hành vi của con người, lâu dần, thành thói
quen, liền có một loại sức mạnh, đây chính là kẻ triệu tập khổ não, gọi là khổ
nhân (nguyên nhân khổ) của chúng sinh."
Mọi
người thử nghĩ xem, khi bạn có tham dục, khi bạn hận người ta, khi bạn ngu
muội, khi bạn ngạo mạn, khi bạn nghi hoặc, khi bạn có tà kiến v.v., có phải đều
sẽ ảnh hưởng đến lời nói và hành vi của bạn không? Bây giờ giảng cho mọi người
về "Tà kiến", "Tà kiến" chính là dùng ánh mắt tà, tâm thái
tà để nhìn để nghĩ. Ví dụ, một người từ bi lại thành tâm đang lạy Bồ Tát. Bên
cạnh có một người không thích có thiên kiến đứng đó, lúc này trong lòng sẽ
nghĩ: Hừ! Lại giả vờ giả vịt... Mọi người nghĩ xem, đây có phải là tà kiến
không? Cho nên mọi người nhất định phải biết, một người có tà kiến hoặc có tâm
sân hận, toàn bộ đều sẽ bộc lộ qua lời nói và hành vi của họ, cứ như vậy lâu
dần, thành thói quen, liền có một loại sức mạnh, đây chính là kẻ triệu tập khổ
não, gọi là khổ nhân của chúng sinh. Tức nguyên nhân chịu khổ của chúng sinh,
đều đến từ tham dục, sân hận, ngu muội, ngạo mạn, nghi hoặc, tà kiến v.v.
Làm
người tâm từ bi là quan trọng nhất, nếu một người không có tâm từ bi cơ bản
nhất, thì đừng bàn chuyện tu hành với người này. Quan Thế Âm Bồ Tát đại từ đại
bi, lấy từ bi làm gốc. Nếu một người luôn dùng tâm sân hận đối đãi với người
khác, người này chính là không có tâm từ bi, không có trí tuệ. Do đó, thường
xuyên sinh tâm từ bi, lâu dần trong bát thức điền sẽ gieo xuống thiện nhân, đợi
khi thiện nhân này nở hoa kết trái, thiện duyên sẽ đến.
Đức
Phật nói: "Người đã bắt đầu sống cuộc sống tâm linh, cũng bằng như
đã mang ánh sáng vào trong căn phòng tối tăm, bóng tối tức khắc bị xua tan, chỉ
cần kiên trì cuộc sống này, nội tâm các bạn, nhất định có thể trở thành một thế
giới quang minh."
Những
gì Sư phụ giảng cho mọi người đều là Phật pháp nhân gian, để mọi người thể ngộ
tại sao trong khi làm người phải học Phật pháp, trong khi học Phật pháp nên học
làm người như thế nào.
32. Yếu chỉ học Phật — Lời trí tuệ (Phần 2)
Hôm
nay trước tiên giảng cho mọi người, Kiến tính hậu tuệ quang thấu lộ (Sau
khi thấy bản tính ánh sáng trí tuệ sẽ lộ ra). Kiến chính là nhìn thấy, Tính
chính là bản tính. Chỉ sau khi nhìn thấy bản tính của bạn, ánh hào quang trí
tuệ của bạn mới lộ ra. Thế nào gọi là chưa kiến tính (thấy bản tính)? Chính là
khôn vặt, chỉ quan tâm lợi ích trước mắt, mà không quan tâm cái đạt được trong
tương lai. Thế nào gọi là kiến tính? Chính là phải hiểu trong lòng mình đang
nghĩ gì, phải dùng một trái tim minh bạch (hiểu biết) mới có thể nhìn thấy bản
tính của bạn. Người không minh bạch chính là không nhìn thấy bản tính của mình.
Các bạn nói xem người uống rượu có thể nhìn thấy bản tính của mình không? Bao
nhiêu người không khai ngộ chính là hồ đồ mê muội.
Vi thiện tất xương, vi thiện bất xương, tất hữu dư ương, ương
tận tất xương. Vi ác tất ương, vi ác bất ương, tất hữu dư xương, xương tận tất
ương.
(Làm
thiện ắt hưng thịnh, làm thiện không hưng thịnh, ắt có tai ương còn sót lại,
tai ương hết ắt hưng thịnh. Làm ác ắt gặp tai ương, làm ác không gặp tai ương,
ắt có hưng thịnh còn sót lại, hưng thịnh hết ắt gặp tai ương).
Một
người thực sự hành thiện, nhất định sẽ hưng thịnh. Nếu làm việc thiện mà không
nhận được quả báo tốt, chứng tỏ trong các đời quá khứ làm rất nhiều việc ác vẫn
còn trên người chưa tiêu trừ. Đợi khi tai họa khổ nạn của bạn kết thúc toàn bộ,
thiện ác hoàn toàn triệt tiêu xong, chắc chắn có thể nhận được phúc báo, thì
nhất định sẽ hưng thịnh. Tuy nhiên, tiền đề này là bạn có Thiện, nếu không có
Thiện, tai họa hết rồi cũng nhất định sẽ không được hưng thịnh. Nếu làm rất
nhiều việc thiện mà không nhận được báo ứng tốt, cái này gọi là "tất hữu
dư ương" (ắt có tai ương còn sót lại). Là bởi vì kiếp trước nhất định có
rất nhiều việc ác đến nay vẫn chưa hóa giải nó, cho nên mới có dư ương. Nếu làm
ác nhất định sẽ gặp tai ương. Nếu một người làm rất nhiều việc xấu mà không gặp
tai ương không có báo ứng không có ác báo, nhất định là việc thiện phúc đức
tích lũy từ kiếp trước vẫn còn trên người, cho nên vẫn chưa nhận báo ứng. Nếu
báo ứng đến rồi nhất định sẽ gặp tai ương "vi ác tất ương", không gặp
tai ương là do vẫn còn một chút thiện, làm xằng làm bậy, giết người phóng hỏa,
tại sao nó lại sống tốt như vậy? Chứng tỏ trước kia hoặc tổ tiên của nó, hoặc
mấy đời trước của nó có rất nhiều thiện duyên thiện quả, thiện duyên này nhiều
hơn ác duyên hiện tại, cho nên nó sẽ không gặp tai ương, nhưng thiện tận tất
ương (thiện hết ắt gặp ương), khi hai phương diện này triệt tiêu xong, nó chắc
chắn phải gặp tai ương. Đây chính là trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu.
Một
người không được khởi Sân ngại, chính là tâm sân quái ngại. Một
người không được sân, sân chính là tức giận. Quái ngại là lo lắng, phiền não,
buồn bã, ghen tị v.v. Ví dụ: Da trên người một người hơi khó chịu, người có tâm
quái ngại đầu tiên sẽ nghĩ có phải bị ung thư không. Còn có người sẽ nghĩ có
thể bị con gì cắn, sẽ không sao đâu. Ý niệm của họ sẽ không chuyển hóa thành
xấu.
Tâm
của một người làm chủ sinh mệnh của một người, tức tâm linh làm chủ
sinh mệnh. Rất nhiều người đảo ngược gốc ngọn. Như có người thân thể làm
chủ tâm linh. Ví dụ: Uống rượu, cơn nghiện rượu lên rõ ràng trong lòng biết lát
nữa phải lái xe không được uống rượu, nhưng nhục thể cần cầm rượu lên là uống,
lái xe ra ngoài bị cảnh sát phạt tiền hoặc xảy ra tai nạn. Cho nên con người
không thể bị thân thể kiểm soát. Tinh thần của con người phải kiểm soát nhục
thể chứ không phải nhục thể kiểm soát tinh thần. Nhu cầu của nhục thể như uống
rượu, tình dục, động tâm sự lung tung... những cái này chính là dùng nhục thể
để kiểm soát tinh thần. Con người là động vật cao cấp, bởi vì có linh hồn tư duy,
tư duy chính là linh tính cao cấp. Cho nên phải dùng tư duy để kiểm soát linh
hồn của mình, như vậy sẽ không phạm sai lầm.
Một
người phải thường sinh tâm tàm quý (xấu hổ). Thường sinh tâm
tàm quý có thể khiến bạn tiến bộ. Phải học cách so sánh với cái tốt, so rồi sẽ
sinh tâm tàm quý. Mãi mãi phải nhớ đừng đem cái tốt của người khác so sánh đối
chiếu với mình (theo hướng tiêu cực/ghen tị). Như: Người khác tốt tức là nói
tôi không tốt, đây gọi là tạp niệm tư tâm (lòng riêng).
Một
người phải thường sinh tâm hoan hỷ. Phải dùng trí tuệ chiến thắng
phiền não của mình, chiến thắng sự không vui của mình, chiến thắng khó khăn của
mình, cho nên phải thường sinh tâm hoan hỷ. Một người phải thường sinh tâm hoan
hỷ "tỷ hạ hữu dư" (nhìn xuống còn hơn khối người), chính là phải tạo
ra một cái duyên tốt trong lòng, một khối hòa khí, khí trường tốt.
Một
người phải thường sinh tâm từ bi. Có tâm từ bi sẽ có thể sinh ra
trí tuệ. Từ chính là mang lại niềm vui cho người khác, Bi chính là tiêu trừ nỗi
khổ của người khác. Thường xuyên quan tâm người khác, luôn luôn nghĩ cho người
khác, chính là tâm từ bi. Một biểu hiện cụ thể khác của tâm từ bi chính là đối
đãi với người khác ôn hòa, không nổi nóng. Tâm căm hận là đáng sợ, bởi vì nó có
thể khiến thiện hành và tu dưỡng trước kia hóa thành tro bụi, hơn nữa mang lại
cho bạn vô số phiền não và bất an. Cho nên nói: "Nhất bả vô minh
hỏa, công đức tận thành hôi" (Một đốm lửa vô minh, công đức cháy
thành tro), "Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn
khai" (Một niệm sân tâm khởi, trăm vạn cửa chướng khai). Một niệm
sân hận sinh khởi, đủ loại nghiệp chướng đều sẽ xuất hiện.
"Tùy duyên tiêu cựu nghiệp, canh mạc tạo tân ương" (Tùy duyên tiêu nghiệp cũ, chớ lại gây
ương mới), cựu nghiệp chính là nghiệp chướng tạo ra trong các đời quá khứ.
Thường là nói kiếp trước. Nghiệp chướng kiếp trước đừng cố chấp đi tiêu trừ (ý
nói đừng cưỡng cầu hay dằn vặt quá mức mà phải thuận theo duyên để trả), bởi vì
kiếp trước đã tạo thành nhân quả không có cách nào tiêu trừ ngay được (ý nói
không thể xóa bỏ nhân quả đã định mà phải trả nợ), tất cả những gì chịu đựng
trong kiếp này đều là nhân của kiếp trước, cho nên khi tiêu cựu nghiệp chỉ có
thể tùy duyên, khi tùy duyên phải học cách tùy thiện duyên, hóa giải ác duyên.
Tu hành nhất định không được tạo thêm tội nghiệp mới, nếu không sẽ thành nghiệp
cũ chưa tiêu, lại tăng nghiệp mới, đời vị lai sẽ càng khổ cực, thậm chí sẽ mãi
đọa lạc xuống dưới.
Tu tâm thực tế không phải là tu tâm đơn nhất, mà phải kết duyên
rộng rãi, nếu không có duyên sẽ không trợ giúp được việc tu tâm của bạn.
33. Lý niệm học Phật
Khi
niệm kinh, đừng nuôi dưỡng vọng tưởng, đừng chấp trước vào bất cứ sự việc nào
khác, nếu không có thể sẽ xảy ra sai lệch. Ví dụ: có người chấp trước vào việc
đắc thần thông, có người mê luyến duyên phận kiếp trước, có người nhớ nhung
người thân đã qua đời, v.v... Vì vậy khi niệm kinh, hoặc niệm "Ngôi Nhà
Nhỏ", trong tiềm thức không ngừng phát ra ý niệm chấp trước này, hình
thành một loại khí trường, rất dễ dẫn dụ linh tính đến trên người mình. Phương
pháp tránh: Khi niệm kinh chính là tiếp khí nói chuyện với Bồ Tát, phải vô dục
tâm tĩnh, Phật nói "vô dục tự nhiên tâm như thủy" (không ham muốn tự
nhiên tâm như nước). Mấu chốt nằm ở tâm của chính mình, phải thường xuyên kiểm
tra tâm mình, xem tư tâm tạp niệm có giảm bớt hay không. Thường xuyên lau chùi
tâm linh của mình, giữ gìn sự thuần khiết sạch sẽ của tâm linh. Càng như vậy,
Phật tính hiển hiện càng nhiều, càng không dễ bị những linh tính này xâm hại.
Trước
khi niệm kinh cầu xin Bồ Tát phù hộ cần báo tên của mình, khi niệm phải thành
tâm thành ý, nếu có điều cầu xin, phải cầu trước khi niệm kinh, nhưng cần tránh
những mong cầu vượt quá lý niệm bình thường, như: muốn phát đại tài, hiển thần
thông. Phải nhận thức rõ ràng âm dương không thể kết nối, duyên kiếp trước
giống như khi chúng ta xem TV ở một kênh khác, đừng chủ động kết nối với kênh
đó. Bất luận là thiện duyên hay ác duyên, chuyện đã qua chính là một quá trình
đòi nợ hoặc trả nợ, là biểu hiện của việc duyên phận tạm thời đã hết.
Tu
tâm là quá trình học Phật, phải như đi trên băng mỏng mà cần cù tu tập tinh
tấn. Còn thần thông là một sự hiển hiện trong quá trình tu hành, thần thông
phải để "nước chảy thành sông" (tự nhiên mà đến), đừng theo đuổi thần
thông, nếu không rất dễ bị các linh tính khác dẫn vào đường tà. Phải nhận thức
rằng thế giới linh tính là thế giới vô cùng phức tạp, loài người chúng ta so
với họ là rất yếu ớt, trước khi bản thân có đủ năng lượng tự bảo vệ, điều duy
nhất có thể làm là khiêm tốn học tập và cần cù tu tập tinh tấn.
Ác
nhân thông ba đời, đối với đa số mọi người, một phần nhân quả sẽ thanh toán hết
trong ba đời: kiếp trước, kiếp này và kiếp sau, trừ khi có tình huống đặc biệt.
Ví dụ cụ thể có rất nhiều, Đài trưởng mỗi ngày đều xem đồ đằng (Totem) trên đài
phát thanh, trong ghi chép cũng có rất nhiều. Phương pháp giải quyết: Bất luận
nhân thiện hay nhân ác, kiếp trước đã gieo, kiếp này phải chịu báo. Báo không
hết, kiếp sau nhất định phải báo hết. Đây là định luật nhân quả, ai cũng không
thể ngăn cản quả báo nảy sinh. Quả chín muồi cần một quá trình, giống như hạt
giống biến thành quả thực cần rất nhiều yếu tố thúc đẩy mới trưởng thành.
Thân
phận và trải nghiệm đặc định của chúng ta trong kiếp này chính là đất và nước,
nếu mặc kệ cho nó phát triển, thì quả báo là không thể tránh khỏi. Chúng ta có
thể trước khi quả báo chín muồi, dùng duyên mới để hóa giải, thông qua niệm
kinh, hứa nguyện, phóng sinh, làm việc thiện, tích công đức v.v., làm thay đổi
thành phần đất nơi ác quả phát triển, từ đó khiến ác quả không nhận được dưỡng
chất mà khô héo trước khi chín, tiếp tục tu hành, thì có thể khiến hạt giống
thiện phát triển đến chín muồi, kết thành thiện quả.
Nên
nghĩ đến nỗi khổ địa ngục, thường phát tâm Bồ Đề. Trong quá trình tu hành, phải
lấy nỗi khổ địa ngục làm gương, thường xuyên đôn đốc bản thân, rõ nhân quả, nỗ
lực tu hành, một lòng hướng thiện. Nghĩ về khổ địa ngục có thể giúp bạn biết và
hiểu hậu quả do hành vi của mình mang lại, giúp chúng ta đoạn ác niệm, trảm tư
dục, cai tham sân. Biết hành vi nào sẽ chịu khổ gì, chúng ta có thể lấy đó làm
nền tảng trong cuộc sống hàng ngày để tu sửa tâm và hành vi của mình.
Nên
dùng thân gì đắc độ thì dùng thân đó đắc độ, bất luận ở cõi nào cũng có thể đắc
độ, bất luận thân phận gì cũng có thể đắc độ. Có thể đắc độ hay không, chủ yếu
nằm ở sự phát tâm của chính mình, nếu bản thân không có tâm nguyện yêu cầu đắc
độ, ai cũng không độ được. Còn một yếu tố là cơ duyên, phát tâm rồi mà cơ duyên
chưa đến thì không đắc độ, có cơ duyên mà không phát tâm cũng không độ. Tám vạn
bốn ngàn pháp môn, do duyên khác nhau mà sinh ra. Có cơ hội tiếp xúc với pháp
môn Đài trưởng truyền, chính là cơ duyên, nhưng không ngộ, do dự không quyết
hoặc còn nhìn ngó khắp nơi, chính là không phát tâm, làm sao có thể đắc độ?
Trong quá trình tu hành, các bạn nên dưới sự từ bi của Phật Bồ Tát, dưới sự chỉ
dẫn của Đài trưởng mà cần tu khổ tu, mãi cho đến khi trí tuệ khai mở có được
ngộ tính, lúc đó mới có thể tiến vào cảnh giới chính tu viên mãn trí tuệ.
34. Những điều cần biết khi học Phật tại nhân gian
Phàm
phu dùng tâm sinh diệt để nhìn pháp xuất thế, người bình thường sẽ cho rằng
pháp xuất thế cũng diệt theo sự kết thúc của đời người, từ đó không có hiểu
biết chân thực về pháp xuất thế, cho rằng tu hành, công đức, việc thiện v.v.
đều quá mơ hồ, quá xa vời, sai lầm cho rằng người chết như đèn tắt, lẫn lộn
không rõ giữa pháp thế gian và pháp xuất thế.
Tất
cả quy tắc thế gian diệt theo cái chết của con người, cho nên theo đuổi tất cả
hưởng thụ vật chất, tranh đoạt ở nhân gian, đến cuối cùng chỉ là công dã tràng
(hư không). Bất cứ danh lợi nào ở nhân gian đều là hư ảo, thứ có thể mang đi
chỉ có nghiệp tùy thân. Pháp xuất thế là bất sinh bất diệt, tiếp tục phát huy
tác dụng theo sự tồn tại của nguyên linh con người. Nguyên linh của con người
không biến mất theo cái chết của cơ thể, sẽ tiếp tục tồn tại ở không gian hoặc
thế giới khác. Nguyên linh trong một số trường hợp cũng sẽ tiêu tan, tức là
diệt vong theo nghĩa thực sự, như: địa ngục có hình phạt "vào vạc
dầu" hoặc "xuống biển lửa", nguyên linh cho người ta cảm giác
giống như thủy ngân, qua vạc dầu hoặc biển lửa, mới tan đi, biến thành tán linh
(linh hồn tan vỡ), chuyển thành sinh vật nhỏ "thấp sinh" (sinh ở nơi
ẩm thấp) hoặc "noãn sinh" (sinh từ trứng). Mà linh hồn ban đầu từ đó
không còn tồn tại nữa, đây mới là diệt vong theo nghĩa thực sự. Linh hồn trong
tình huống bình thường là bất diệt.
Dùng
"cái tôi biết cái tôi thấy" (ngã tri ngã kiến) để nghiên cứu thảo
luận Phật pháp, thì càng rời xa Phật pháp. Từ cái tôi biết, cái tôi thấy, để
hiểu Phật pháp, để bình luận sự tu hành của người khác, chỉ có thể là "ý
kiến cá nhân". Ví dụ: Có người cho rằng mình là chính (đúng), phái khác,
tông khác hoặc pháp khác đều là không chính. Trải nghiệm, môi trường trưởng
thành của mỗi người đều có sự khác biệt, cùng một sự việc, rơi vào mắt người
khác nhau, sẽ đưa ra kết luận khác nhau. Nếu dùng kết luận cá nhân, dùng tư duy
của riêng mỗi người để nghiên cứu thảo luận Phật pháp, sẽ hình thành thiên kiến
(định kiến), hình thành ngã chấp hoặc tha chấp, từ đó ảnh hưởng đến nhận thức
về chân lý. Chỉ có vứt bỏ cái "Tôi", mới có thể tránh được thiên
kiến, mới có thể từ trong rất nhiều pháp tìm thấy Chính pháp.
Học
Phật chính là tu tâm, vạn pháp duy tâm, con đường tu tâm chính là con đường học
Phật. Tâm phù (nổi) thì phiêu (trôi), tâm không định thì hồn phiêu, nếu trong
lòng có vô số tạp niệm, có rất nhiều lo lắng, ưu tư, sầu khổ, thì tâm không thể
an định, linh hồn không thể an ninh. Tâm tịnh thì định, chỉ có trong lòng sạch
sẽ, tâm mới có thể tĩnh, hồn mới có thể định. Tâm định tắc đạo sinh, tâm định
rồi, đạo hạnh mới có thể sinh ra, cũng tức là mới có thể giác ngộ, mới có thể
ngộ ra đạo lý, ngộ ra chân lý của Phật pháp. Tâm phải tịnh, thì phải rõ nhân
quả, biết luân hồi, hiểu duyên phận, mới có thể không tham, không sân. Tùy
duyên mà không phan duyên (cưỡng cầu), đối với rất nhiều việc trong cuộc sống
đều phải có nhận thức đúng đắn, đừng cưỡng cầu, bất cứ cái gì cầu mà có đều
không phải của mình. Duyên phận đến rồi, sẽ có dấu hiệu hiển hiện. Duyên phận
chưa đến, cũng sẽ có dấu hiệu. Phật tâm bằng chúng sinh tâm, chỉ có nghĩ đến
tâm chúng sinh, mới có thể có Phật tâm, thấu hiểu, yêu thương, tha thứ v.v. đều
là phẩm tính cần phải có. Giác tâm tiên cầu tự giác nhi hậu giác tha, trước
tiên phải tự mình giác ngộ mới có thể giúp người khác giác ngộ, nếu bản thân
chỉ biết một biết nửa, thì phải tu chính mình trước. Cùng đạo lý đó, độ người
bản thân phải có công lực, phải có tu vi, thuyền của mình phải chắc chắn mới có
thể chở người khác. Tự tâm sở niệm tất hữu sở hiện, tất cả các pháp môn do tâm
tạo, tâm chính thì pháp môn chính, tâm tà thì pháp tà. Học Phật không thể
"nhất diệp chướng mục" (một chiếc lá che mắt), cho rằng người khác
đều sai, chỉ có mình là thật, bản thân điều này đã không phải là chính luận.
Sự tiếp nối của tổ nghiệp (nghiệp tổ tiên), hành vi của tổ tiên
một gia đình có thiếu sót, không tích phúc đức, phạm vi rất rộng, bao gồm mộ
tổ, phong thủy, tức thiện ác nhân duyên kiếp trước v.v. Nếu nghiệp tổ tiên tạo
không lớn, thì truyền đến đời thứ hai là có thể báo hết. Nếu là sát nghiệp, thì
sẽ truyền ba đời, bốn đời, sát nghiệp càng nặng, ảnh hưởng đời sau chịu càng
lớn càng lâu. Nguyên lý giống như cơ thể người bị thương, thương nhẹ, nghỉ ngơi
ngắn hạn là được, thương nặng thì nằm liệt giường, cần điều dưỡng lâu dài. Bản
thân đời sau có nghiệp chướng, đáng chịu loại báo ứng này, mới đầu thai vào gia
đình loại này. Tổ nghiệp hoặc tổ đức cũng giống như môi trường xã hội chúng ta
đang sống, là do phúc đức hoặc nghiệp chướng kiếp trước của một người quyết
định. Kiếp trước có phúc đức thì sẽ ngậm thìa vàng chào đời, hưởng tổ ấm (phúc
ấm tổ tiên), nếu nghiệp chướng quấn thân thì sẽ sinh vào nghèo khó. Phải chịu
trách nhiệm với con cháu, tích đức hành thiện, không được tạo nghiệp, đặc biệt
là sát nghiệp.
35. Duyên phận và Thần thông
Hôm
nay giảng cho mọi người về Thần thông, chỉ cần sau khi tu luyện, sẽ có thần
thông. Tu luyện ví dụ như lạy Phật niệm kinh, tọa thiền quán tưởng v.v., khi
vừa mới tiếp xúc với quỷ thần, hiện tượng thông linh sẽ xuất hiện, hiện tượng
thông linh biểu hiện ở rất nhiều phương diện, ví dụ: nằm mơ, cảm ứng, ảo giác
v.v. Ảo giác chính là rõ ràng bản thân cảm thấy nhìn thấy rồi, sao lại không
còn nữa? Hiện tượng thông linh kiểu ảo giác này, chia thành Đại thần thông và
Tiểu thần thông. Tiểu thần thông là có thể biết được một số việc, có thể nhìn
thấy một số thứ của linh giới, là cảm giác hoặc cảm ứng rời rạc trong một sát
na. Tầng bậc của Đại thần thông và Tiểu thần thông là không giống nhau, Tiểu
thần thông là Quỷ thông, mọi người đều biết quỷ có Ngũ thông, quỷ thông cũng
bao gồm âm dương nhãn, có thể nhìn thấy một số thứ của linh giới, phàm là có
người nói với bạn, tôi có thể nhìn thấy cái gì, tôi có thể biết cái gì, thực ra
trên người người này chính là có quỷ. Người thành tâm tu tâm là không theo đuổi
những thần thông này, chỉ cần theo đuổi, quỷ sẽ lên người, phải thật thà tin
Phật tu tâm. Có thể nhìn thấy thứ của linh giới có ba nguyên nhân: 1) Kiếp
trước tu được; 2) Âm khí quá nặng; 3) Quỷ nhập thân. Có 95% sau khi quỷ nhập
thân, sẽ có Tiểu thần thông, nhưng đều không phải Chính thần thông, là Quỷ thông.
Các bạn trên con đường học Phật nhất định phải có Chánh tín, nhất định phải
hiểu rõ, đừng cho rằng có cái thông gì đó là tốt. Đại thần thông thực sự, không
phải là Quỷ thông, là Lục thông mà Sư phụ từng giảng cho các bạn, nhưng có Đại
thần thông không có nghĩa là người này có thể hoàn toàn giải thoát bản thân.
Nếu
có thể đạt đến cảnh giới giải thoát, chính là bản thân ở nhân gian đã có thể
giải thoát rồi, thần thông nên có, tự nhiên đến mới gọi là thần thông. Thế nào
gọi là giải thoát? Chính là lúc đáng lo sầu, không lo sầu, lúc đáng buồn bã,
không buồn bã, nếu bị người ta lừa, cũng không sao cả, nếu bị bệnh tôi tùy
duyên. Người có thể hoàn toàn giải thoát, họ nhất định có đại thần thông, mà
người có đại thần thông, họ nhất định sẽ giải thoát.
Nói
cho các bạn biết: Giải thoát thực sự là "suất triền" (vứt bỏ sự trói
buộc), là vứt bỏ tất cả sự quấy nhiễu trói buộc, là ai cũng không ngăn được,
bất luận việc gì trên đời đều là do bạn tự quyết định đi làm, không có một
người nào có thể ngăn cản được, là do chính bạn gieo nhân.
Trong
xã hội có một số người có thần thông, là cầu thần bói toán. Nếu tiểu thần thông
ngày càng linh nghiệm, chính là quỷ thần nhập thân, sau khi quỷ thần nhập thân
chính là để bạn nói chuyện với âm gian, chính là bói toán, nhưng điều này không
đại diện cho tu tâm, với tu tâm là hai khái niệm, nhất định phải Chánh tín,
Chánh niệm, Chánh tu.
Mọi
người thường nói tu tâm, tu tâm là gì? Tu tâm chính là Minh tâm kiến
tánh, tu cho cái tâm của bạn được minh bạch (sáng tỏ), phải nhìn thấy bản tánh
của mình, chính là bản tánh của Phật Bồ Tát. Chúng ta phải làm chủ nhân, tu tâm
phải làm người chủ tự tin, chính là làm người chủ sinh tử của chính mình, kiểm
soát tốt sự sống và cái chết của mình, nhưng có mấy người làm được? Muốn nhìn
thấy bản tính của mình, trước tiên phải thoát khỏi sự quấy nhiễu của nghiệp
lực, phải đạt được sự giải thoát căn bản, chính là hoàn toàn nghĩ thông suốt,
nghĩ minh bạch rồi. Trên thế giới này đối với việc gì cũng không sao cả (vô sở
úy). Trên thế giới này Yêu và Hận sẽ khiến con người đời đời kiếp kiếp ở trong
luân hồi, con người sống trên đời chính là yêu và hận, bởi vì yêu khiến bạn
kiếp sau chịu khổ, bởi vì hận khiến bạn kiếp sau tiếp tục luân hồi. Có người
nói: Kiếp này tôi yêu em quá, kiếp sau chúng ta vẫn muốn làm vợ chồng. Nhưng ai
có thể đảm bảo kiếp sau còn có thể tiếp tục làm vợ chồng chứ?
Yêu
và Hận phải đối đãi chính xác, dùng ba phương pháp để thoát khỏi luân hồi:
Thứ
nhất, phải có Quyết đoán lực của nhân gian. Cái tình yêu này
tôi không cần nữa, không đáng nữa, không có ý nghĩa nữa, sự quyết đoán này rất
quan trọng. Ví dụ, quan hệ giữa con và mẹ rất căng thẳng, đứa con này động ý
niệm muốn giết mẹ, muốn đuổi mẹ ra ngoài, thực tế những đứa con này và mẹ đều
là ác duyên đến, lúc này bạn phải có sự quyết đoán, rời xa con, đừng cho rằng
mình vẫn là mẹ của nó, còn phải vướng bận nó, càng vướng bận càng hận, sau khi
hận gieo xuống ác nhân trong lòng, kiếp sau lại bắt đầu luân hồi báo ứng rồi.
Thứ
hai, Cát xả lực (Sức mạnh cắt bỏ/buông bỏ), phải cắt bỏ những
thói xấu, những thứ không tốt trên người mình, ngàn vạn lần đừng để khối u ác
tính lưu lại trên người.
Thứ
ba, Duyên tận lực. Chính là phải tin rằng là duyên phận đã hết rồi,
bạn mới có thể cắt đứt yêu và hận. Bất cứ thành viên nào trong mỗi gia đình đều
là một loại duyên phận, đợi duyên hết rồi, thì không còn nữa. Cho nên khi yêu
và hận đan xen vào nhau, bạn sẽ vừa yêu vừa hận, phải tin vào Duyên, thì có thể
xả bỏ.
36. Điều tâm tức Tu thân dưỡng tính
Bây
giờ giảng cho các bạn một chút về "Điều tâm". Một người phải học cách
điều tiết tâm lý. Điều tâm là vô cùng quan trọng. Nếu một người khai ngộ, họ
phải có một trái tim thanh lương (mát mẻ), thanh lương là đầu óc rất tỉnh táo,
người rất bình tĩnh, tâm thanh lương tức là nói trái tim này vĩnh viễn rất an
định, rất bình ổn. Mục đích của điều tâm chính là tu sửa tập tính (thói quen)
trên người chúng ta, những thứ mang tính thói quen, bởi vì những thứ mang tính
thói quen chưa chắc là chuyện tốt. Ví dụ: Bạn đã bị tiểu đường rồi, vẫn cứ
thích ăn sô cô la, ăn đồ ngọt, các bạn nói xem tập tính này tốt hay không? Thói
quen, tập tính không tốt nhất định phải sửa bỏ. Điều tâm chính là điều chỉnh
tâm cho cân bằng một chút. Tu tâm cũng gọi là điều tâm, tức tu tâm dưỡng tính.
Giáo dục Nho gia chính là tu tâm dưỡng tính.
Nói
cho các bạn một phương pháp vô cùng tốt có thể giúp các bạn tu tốt hơn, chính
là Cộng tu, con người khi ở cùng nhau thì dễ tu, dễ tiến bộ, cùng
mọi người tu tâm niệm Kinh, mới có thể khiến Phật ấn tâm. Thế nào là Phật ấn
tâm? Chính là cùng mọi người tu tâm niệm Kinh, mọi người đều là Phật, trên
người mọi người đều có khí trường tốt, khi mọi người tu tâm sẽ có từ trường và
khí trường phát ra, lúc đó bạn cùng mọi người niệm Kinh, bạn sẽ nhận được niềm
tin, nhận được năng lượng, sẽ nhận được Phật tâm của Phật Bồ Tát, in vào trong
tâm bạn. Nếu một người tu tâm, rất khó để Phật lưu lại trong tâm, bởi vì khi
một người tu tâm, từ trường, Phật tính của họ không đủ, hơn nữa tư tâm tạp niệm
vừa khởi lên Phật Bồ Tát liền rời đi, một người sau khi tu tâm, không thể ngay
lập tức đạt được tâm thanh tịnh và tâm tự tại. Tưởng rằng mình thanh tịnh rồi,
tự tại rồi. Đó là do tự bạn cho rằng như vậy, thực ra bạn không hiểu thế nào
gọi là Nghiệp lực. Nghĩa là bạn tưởng rằng mình bình tĩnh rồi, thanh tịnh rồi,
đạt được sự yên tĩnh rồi, tưởng rằng mình tu tâm đã có thành quả rồi, thực tế
bạn vẫn chưa hiểu nghiệp lực trên người chính mình. Bởi vì người có nghiệp lực
trên thân, tâm của họ không thể ngay lập tức tu được thanh tịnh. Ví dụ: Bạn bây
giờ còn nợ rất nhiều tiền, mà tiền kiếm được mỗi ngày, thực tế không phải của
bạn, bởi vì bạn nợ tiền người ta, tiền vào không phải là tiền của bạn. Nghiệp
lực là không thể nghĩ bàn, nghiệp lực không thể nghĩ bàn tức là nói nghiệp lực
này sẽ chuyển theo cảnh giới, chính là tâm sẽ chuyển theo cảnh giới, tâm sẽ
chuyển theo nghiệp lực. Ví dụ: Hôm nay nghiệp báo đến, bạn rất hận người này,
lúc này trong tâm bạn nảy sinh ý hận, sau khi nảy sinh hận, cơ thể sẽ có biến
đổi, cơm ăn không vô, ngủ không ngon, nghiệp lực bắt đầu biến đổi rồi, khuôn
mặt bạn cũng sẽ biến đổi theo nghiệp lực, trở nên ngày càng hung dữ, sự nghiệp
ngày càng trắc trở, sức khỏe ngày càng kém, đây chính là kết quả do bạn hận
người ta, nghiệp lực chuyển hóa thành.
Hôm nay các bạn theo Sư phụ tu hành, đừng đi theo đuổi bất kỳ
cảm ứng nào. Sư phụ thường xuyên răn dạy các bạn, tu tâm niệm kinh đừng đi theo
đuổi có thần thông và cảm ứng gì, phải làm được kiếp này không tạo nghiệp,
nghiệp của nhiều kiếp (lũy thế) cũng đừng để nó đến. Các bạn trong quá khứ
nhiều kiếp đã làm rất nhiều tội nghiệp, theo việc các bạn tái đầu thai chịu
báo, có cái cũng sẽ mất đi. Giống như hồ sơ của cục thuế vụ vậy, cứ 5 năm sẽ tự
động xóa bỏ. Nhưng các bạn phải nhớ kỹ, trong khi các bạn tu hành, bởi vì các
bạn đang Chính tu, Phật Bồ Tát sẽ phù hộ các bạn, trên đầu các bạn có Phật
quang, nghiệp chướng nhỏ đã làm trong quá khứ thực sự có thể tiêu trừ, do đó
đừng để tội nghiệp nhiều đời xâm nhập vào cơ thể bạn nữa, Sư phụ bây giờ bảo
các bạn niệm "Lễ Phật Đại Sám Hối Văn" chính là sám
hối tội nghiệp kiếp trước của bạn, cũng chỉ là kiếp trước mà thôi. Tam thế nhân
quả mà Phật Bồ Tát giảng là Tiền thế (kiếp trước), Kim thế (kiếp này), Lai thế
(kiếp sau), có thể tu tốt ba kiếp này, bạn chính là một người rất lương thiện.
Nợ kiếp trước thiếu, kiếp này cố gắng đừng để nó phát ra, sau khi niệm "Lễ
Phật Đại Sám Hối Văn" tiêu trừ nghiệp chướng nhỏ rồi, cái lớn bị
kích hoạt, sau đó niệm "Ngôi Nhà Nhỏ" trả nợ. Đây chính là ngăn chặn
nghiệp lực nhiều đời của bạn xuất hiện.
37. Vô sở trụ tâm, tu sửa hành vi của chính mình
Nghiệp
chướng, khí bẩn (ô khí) theo quan hệ nhân quả bám vào linh thể của con người,
tức là bám trên linh tính và nhục thể. Tại sao nghiệp chướng nhất định phải
tiêu trừ đi? Bởi vì phàm là nghiệp chướng đều có khí ô trọc, có khí trường
không tốt, khí bẩn theo quan hệ nhân quả bám vào linh thể con người, từ góc độ
Đông y mà nói chính là cản trở sự lưu thông của khí huyết bạn, từ đó sinh ra
bệnh tật đau đớn. Đây chính là điều Sư phụ thường nói, sau khi nghiệp chướng
từng khối từng khối quá nhiều, khí mạch của bạn sẽ không thông, sẽ cản trở sự
vận hành bình thường của khí huyết, do đó nhục thể sẽ sinh bệnh. Tu hành và tu
tâm cũng giống như dùng tâm (hành vi) mở ra ánh sáng tâm linh của bạn, hôm nay
làm rất nhiều việc tốt, trong lòng bạn sẽ rất an ổn, rất vui vẻ. Khi bạn giúp
đỡ người khác trên phương diện tu vi, trên phương diện tâm linh, chính là đã mở
ra cửa sổ tâm linh, cửa sổ linh hồn của bạn.
Do
Phật pháp quá thâm sâu, không nhìn thấy, không sờ được, nói cho các bạn biết
Phật pháp tốt, tốt ở đâu? Khi con người khổ nhất và vô vọng nhất, Phật pháp đã
đi vào trong tâm rồi, tức là tại sao khi một người khổ nhất, cũng là lúc dễ tin
Phật nhất. Khi người này khốn khổ cùng cực nhất, tuyệt vọng nhất, mới có thể
buông xuống tất cả trong nháy mắt. Bởi vì khi một người khổ nhất, là cái khổ
đau thấu tim gan, sau khi đau đến bản tính của họ, Phật tính thực sự của họ mới
có thể hiện ra, mới có thể tiếp nhận Phật pháp chân chính. Khi một người tốt
đẹp, có tiền, không có cái khổ nào, thường sẽ không chịu tu tâm cho tốt. Khi
một người khổ não nhất, vô vọng nhất, bạn đi giúp đỡ họ, dễ khiến họ quy y cửa
Phật nhất. Bởi vì vô vọng rồi mới cầu đến vị Phật nơi sâu thẳm tâm linh.
Làm
việc tốt phải nhìn thấy được tính Không (sự rỗng không của bản
tính) của chính mình. Khi bạn vừa làm việc tốt, vừa phải cảm thấy là Không.
Tính không chính là khi bản tính của bạn làm việc tốt, tâm của bạn là Không, vô
sở cầu (không mong cầu gì), chỉ biết phải giúp đỡ người ta. Khi bạn giúp đỡ
người khác mà có mong cầu, người ta cũng sẽ cảm thấy bạn không thật lòng, làm
việc tốt nếu có mục đích sẽ không nhận được thiện báo. Nếu làm việc tốt có thể
nhìn thấy tính không của mình, thì thành công rồi, nếu không chỉ là thiện báo
chứ không phải công đức. Nếu khi giúp đỡ người ta, trong tâm vẫn chưa có tính
không, việc bạn làm ra chỉ là việc thiện, bởi vì sự việc là có mong cầu.
Tu
hành chính là điều Sư phụ thường giảng cho mọi người: Tu sửa hành vi
của chính mình, phải vừa tu vừa hành, hành chính là biến công việc cuộc
sống của mình thành tu hành, trong công việc cuộc sống, tu sửa những hành vi
không tốt của mình, biến công việc thành tu hành, biến tu hành thành công việc,
tu hành trong công việc, làm việc trong tu hành, đem hai cái hợp làm một hòa
vào cuộc sống hàng ngày. Đừng cho rằng đến Quan Âm Đường mới là tu hành, rời
khỏi rồi thì không tu nữa, làm việc không quên tu hành, tu hành không quên làm
việc, tất cả mọi việc trong cuộc sống công việc thường ngày, lời nói cử chỉ đều
là đang tu hành.
Vô sở trụ tâm, chính là tâm của bạn đừng đặt ở một vị trí nào đó, tôi sao
cũng được (vô sở úy), đặt ở đâu cũng được, không đặt ở đâu cũng được. Tâm đừng
chú trọng vào chỗ nào, thế nào gọi là Trụ tâm (để tâm dính mắc)? Bất luận là
chú trọng vào phương diện tham, phương diện ăn uống, hay phương diện sự nghiệp
v.v. đều gọi là Trụ tâm. Vô sở trụ tâm, phàm là tất cả những việc vụn vặt, toàn
bộ đều đừng để (trụ) trong lòng mình, phải thấy Phật tính, minh tâm khai ngộ,
khai phát ngộ tính của mình ra.
Đời
người là sự kết hợp giữa chân thực và mộng ảo, đời người là chân thực, đôi khi
lại giống như đang nằm mơ, đôi khi đột nhiên lại trở nên vô cùng chân thực,
hiện thực biến ảo bất định giữa chân thực và mộng ảo, chân thực lại như mộng
ảo, mộng ảo lại như chân thực. Sư phụ hy vọng các bạn làm việc phải thận trọng
(thận hành chi), nói năng phải cẩn trọng (thận ngôn chi).
38. Sau khi phiền não đến — Vô sở úy (Sao cũng được/Không sao cả)
Chúng
ta ở nhân gian thường nói một câu là "Vô sở úy" (sao cũng được/không
quan trọng/không sao cả), hôm nay nâng tầm nó lên lý luận Phật pháp để giảng
giải, "Vô sở úy" chính là xua đuổi phiền não, nếu bạn đối với bất cứ
việc gì cũng không theo đuổi nữa, sao cũng được, phiền não của bạn sẽ không còn
nữa. Phải nhìn thấu tất cả, nếu không nhìn thấu, không buông bỏ được, chính là
"Hữu sở úy" (có quan trọng/có sao). Tất cả mọi thứ trên thế gian này
đều do nhân duyên hòa hợp mà thành, con người sống trên đời chính là một chữ
nhân duyên. Nhân duyên, là tự sinh tự diệt, cái Nhân này sinh ra rồi, đợi đến
khi Duyên chín muồi, thì diệt đi, không còn nữa. Giống như mẹ sinh chúng ta ra,
đợi đến khi chúng ta lớn lên, mẹ qua đời rồi, đoạn duyên phận này với mẹ đã hết
(đã diệt rồi), thực ra mẹ với chúng ta cả đời này, chỉ có một đoạn duyên phận
như vậy, đây gọi là nhân duyên. Nhân duyên tự sinh tự diệt, lại có sinh có
diệt, có sinh có diệt chính là tự sinh tự diệt. Có sinh có diệt, chính là có
cái sinh ra, thì nhất định sẽ có cái diệt đi. Ví dụ: Hôm nay con người sinh ra,
sau này nhất định sẽ chết đi. Lại ví dụ: Hôm nay bạn ăn phải đồ không tốt, bụng
nhất định sẽ khó chịu v.v. Đây gọi là có sinh có diệt.
Nhân
duyên, theo Phật pháp gọi là Pháp duyên, nhân duyên thực sự nhất định sẽ truyền
mấy chục năm, hoặc mấy trăm năm, là một sự diễn sinh (phát triển) rất tự nhiên.
Nhân duyên sau mấy trăm năm nhất định sẽ tự nhiên kết thúc, ví dụ: Hôm nay bạn
yêu sâu đậm đến đâu, bất luận là mẹ bạn, hay cha bạn, đến một lúc nào đó sẽ
không còn nữa, phải nhớ nhân duyên là sự diễn sinh tự nhiên, sẽ tự nhiên diệt
vong, tự nhiên biến mất. Cho nên bất cứ việc gì, bất cứ thứ gì đều không được
coi quá nặng, quá chấp trước. Trong mắt một người khai ngộ hoặc bậc trí giả,
nhân duyên không có sinh diệt, bởi vì tự nhiên chính là vô sở úy, thứ tự nhiên
đến thì phải đối với nó vô sở úy, tự nhiên đến tự nhiên đi, phải biến tự nhiên
thành vô sở úy, thực tế bạn sẽ không có sinh diệt nữa, không có sinh ra, cũng
sẽ không có diệt vong, phải thấu triệt mà lĩnh ngộ. Rõ ràng có sinh diệt, tại
sao nói không sinh diệt? Sư phụ vừa rồi chẳng phải nói nhân duyên có sinh có diệt
sao? Tại sao lại không sinh không diệt? Sinh diệt, duyên phận là một pháp
duyên, là vô cùng vô tận, bởi vì duyên phận này hết, duyên phận kia lại đến. Ví
dụ: Một người ly hôn rồi, tưởng rằng đời này mình sẽ không còn hôn nhân nữa,
một khi có người giới thiệu cho họ, tâm lại động, lại bắt đầu yêu đương kết
hôn, các bạn nói xem có sinh diệt không? Phải thấu triệt mà lý giải, rõ ràng
trong tâm có cái vô minh, không minh bạch, hồ đồ, tại sao nói "vô vô minh
tận" (không có sự kết thúc của vô minh)? Vô minh là không có điểm dừng, là
không có sinh diệt. Ví dụ: Rõ ràng có già chết (lão tử), người già rồi sẽ chết,
mà trong "Tâm Kinh" nói "diệc vô lão tử
tận" (cũng không có sự kết thúc của già chết), là nói sự già chết của con
người là không có điểm dừng. Khổ nạn của con người cũng là không có điểm dừng,
kiếp này bạn chết đi, kiếp sau bạn lại đầu thai, cứ luân hồi mãi mãi như vậy.
Rõ ràng có phiền não, chúng sinh phiền não, nghiệp lực phiền não, rõ ràng có
tất cả những phiền não này, tại sao nói "vô phiền não cố" (vì không
có phiền não)? Bởi vì đã đặt một cái Đại vô úy, một cái Vô sở úy lên trên rồi.
Bản chất của phiền não đã xảy ra thay đổi. Vô sở úy mà Sư phụ giảng cho các bạn
hôm nay, một cách hiểu khác chính là Đại vô úy, đại vô úy chính là nhìn thấu
mọi thứ, cái gì cũng không sao cả (vô sở úy) rồi, còn gì có thể vướng bận nữa,
nếu đối với bất cứ việc gì cũng không sao cả, thế thì không có phiền não nữa,
nhưng có bao nhiêu người làm được vô sở úy vô phiền não đây? Mà tất cả những
thứ này đều là vô tự tánh, vô tự tánh chính là không có bản tánh, Phật pháp gọi
là Vô tánh, bởi vì tất cả những thứ này đều là vô tánh, hoàn toàn không tồn
tại, đều là Không. Thứ vô tự tánh là hoàn toàn không tồn tại. Nếu không phải
phát ra tự nhiên từ nội tâm, thì không phải là thứ của bản tính, chính là thứ
trống rỗng.
Phiền não giống như một con nhện vậy, đang dệt một tấm lưới cho
chính mình, tấm lưới này chính là lưới phiền não, phiền não của bạn càng nhiều,
tấm lưới dệt ra càng lớn, nếu đem tất cả phiền não đặt bên mình, tấm lưới dệt ra
càng lớn, bản tính mất đi càng nhiều, cho nên đừng đem phiền não của mình,
giống như con nhện, dệt một tấm lưới trong tâm. Tấm lưới này cũng gọi là lưới
nhân duyên, bởi vì tất cả phiền não đều do nhân duyên tạo ra, ví dụ: Có đứa con
bất hòa với cha mẹ, con hận cha mẹ, cha mẹ cũng sẽ hận con, càng hận tấm lưới
này dệt càng lớn, mà tấm lưới này chính là lưới nhân duyên, con cái đối xử
không tốt với cha mẹ là do nhân duyên quá khứ tạo thành. Khi bạn cảm thấy nhân
duyên là thứ chân thực, bạn mới có được có mất. Sư phụ thường giảng cho các bạn
những thứ có sinh có diệt, ở nhân gian là không thể trường cửu, thứ không thể
trường cửu ở nhân gian chính là giả, nhân duyên là thật lại là giả. Nếu bạn
không để phiền não trong lòng, sẽ không có phiền não, phiền não làm sao mà có?
Chính là vì bạn để nó trong lòng, đặt phiền não ở vị trí quan trọng nhất trong
tâm, mới diễn sinh ra nhiều phiền não hơn.
39. Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc
Nhục
thân là ảo, tức là nói thân xác thịt của chúng ta là ảo ảnh, là giả. Hôm nay có
thân xác thì có thể ăn, có thể uống, có thể mặc v.v., đợi đến khi chết đi, thân
xác này không còn nữa, có phải giống như ảo ảnh không? Phật pháp giảng, thân
như ảo ảnh, nhục thân là ảo. Cái pháp của nhục thể này của chúng ta, tức pháp
thân (ở đây chỉ thân thể vật lý), là vô tính (không có tự tính), bởi vì nhục
thân chịu sự điều khiển của linh hồn. Linh hồn có thể khiến nhục thể khó chịu,
có thể khiến nhục thể đau đớn, cho nên nhục thể không có năng lực kiểm soát,
không có tính. Khi nhân duyên kết thúc, nhục thân này cũng kết thúc theo, duyên
phận gì cũng không còn, vậy còn sợ hãi điều gì? Bất cứ sự vật nào trên thế
giới, đều là Có và Không, cái đang Có có thể nói thành Không, cái Không lại là
Có, Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc.
Đừng
coi những thứ tạm thời là vĩnh cửu, con người sống trên đời nhất định phải xem
mọi việc là sẽ động, sẽ biến đổi, như vậy mới không chấp trước. Phải dùng tư
duy khai ngộ để nhìn nhân gian thì mới có thể nhìn thấy Phật tánh của chính
mình. Sư phụ thường giảng cho các bạn phải nhìn thấu hồng trần, nhưng đừng vứt
bỏ hồng trần.
Muốn
tìm thấy Phật tánh chân chính của mình, là phải Tu Phật cộng với Học Phật. Các
bạn phải tu cho tốt, phải tu như đói khát mong cầu. Rất nhiều người khi tu tâm,
làm là việc thiện, tu là phúc báo nhân thiên (người và trời). Bây giờ dạy các
bạn phải làm công đức, công đức là chỉ khi chứng kiến Phật tánh, chỉ khi nhìn
thấy Phật tánh của bạn để làm tất cả mọi việc, đó mới gọi là công đức. Phàm là
những thứ xuất phát từ bản tính, lương tâm đều là công đức. Công đức chân chính
là không có ô nhiễm. Ví dụ: Hôm nay đi giúp một người, muốn làm công đức chân
chính, thì phải không có một chút ô nhiễm nào, đừng nghĩ sẽ nhận lại được báo
đáp gì, nếu giúp người ta mà mang theo bất kỳ suy nghĩ, cách nhìn nào, hoặc có
mong cầu, thì đó là không có công đức. Hãy nhớ: Nhất định phải thuần khiết!
Làm
việc thiện tu phúc báo nhân thiên cũng là tốt, một người có thể làm việc thiện,
có phúc báo nhân thiên là sự khởi đầu của việc tiếp xúc Phật tánh, nhìn thấy
Phật tánh. Khi bạn vừa bắt đầu làm việc thiện, làm việc tốt, cho dù là muốn đạt
được phúc báo nhân thiên, thực tế bạn đã bắt đầu tiếp xúc với Phật pháp rồi,
bởi vì người lương thiện mới chịu làm việc tốt, người lương tâm bất thiện thì
ngay cả việc tốt việc thiện cũng sẽ không đi làm, kẻ chỉ biết đòi hỏi, không
biết cho đi là người không có thiện tính lương tâm, họ sẽ không làm việc tốt.
Làm
đệ tử trước tiên phải có ngộ tính, nếu không có ngộ tính, thì không thể nhìn
thấy Phật tánh. Có ngộ tánh mới có thể nhìn thấy Phật tánh, mới có thể chứng
kiến Phật tánh, mới có thể ứng dụng Phật tánh. Là một đệ tử, cơ bản nhất là
phải có ngộ tánh. Đệ tử nếu có sự gia trì của Sư phụ, phúc phận ở nhân gian sẽ
tăng trưởng rất nhanh, lợi ích ở nhân gian sẽ tăng trưởng rất nhanh, nhưng Sư
phụ gia trì cho các bạn là muốn các bạn sinh ra trí tuệ. Trí tuệ là do ngộ ra
mà có, không tu Phật, không tu Pháp, không tu Tâm, thì vĩnh viễn không có trí
tuệ.
Con
người có liệt căn tính (gốc rễ xấu/thói hư tật xấu), khi không nguyện ý lắng
nghe ý kiến người khác, trong đầu sẽ có một bức tường chắn tự nhiên, sẽ đẩy
quan điểm của người ta ra ngoài, không chấp nhận ý kiến của người ta, mà bức
tường chắn này là do nghiệp chướng tạo thành. Khi một người không thể chấp nhận
ý kiến của người khác, ngộ tính của người đó là thấp nhất, chính là chưa khai
ngộ. Sư phụ gia trì cho các bạn là muốn các bạn tăng trí tuệ, không phải để các
bạn tăng một chút phúc phận. Sư phụ gia trì cho các bạn và Phật Bồ Tát gia trì
cho các bạn là giống nhau, các bạn nhìn thấy là nhục thân của Sư phụ gia trì
cho các bạn, nhưng các bạn phải có thể cảm nhận được sự cảm ứng của Phật tính
trên thân Sư phụ và thân các bạn, chỉ có tin sâu, mới có thể được gia trì. Còn
Phật Bồ Tát gia trì cho các bạn, là vô hình vô tướng, gia trì vào trong não (ý
thức), nếu không thể cảm nhận được, chính là không có ngộ tính. Phật Bồ Tát gia
trì cho các bạn, các bạn không thể cảm nhận thì không thể tiếp nhận sự gia trì.
Sư phụ gia trì cho các bạn còn có một lợi ích, chính là có thể trị bệnh, tiêu
tai.
Người
tu hành, ngoài sợ cái chết, còn sợ Ma nhất. Tu hành được một nửa, ma chướng
đến, sợ chết khiếp, Ma chuyên đến để quấy rối bạn. Trong tu hành gặp phải Ma,
phải "bất khuynh động cố" (không nghiêng ngả dao động), Phật pháp gọi
là Như như bất động, bất luận gặp chuyện gì cũng không dao động, không nản
lòng. Phải hiểu đạo lý Không tánh (tánh Không), bởi vì Ma là không có tánh, tức
là không có Phật tánh, không có bản tánh, nó là tánh Không, cho nên đừng sợ Ma,
Ma là rỗng tuếch (Không), là vô tánh. Chỉ có linh hồn là hữu tánh. Trong tâm
phải có đạo tràng như như bất động, tức là Không. Nếu trong tâm bạn, việc gì
cũng có thể như như bất động, cảm thấy là "vật không" (vạn vật là
không), thực tế chính là trong tâm bạn có một đạo tràng. Đạo tràng là một không
gian rất tốt, là một nơi rất sạch sẽ, Ma sẽ không có chỗ đứng, bạn là như như
bất động. Trong tâm mỗi người phải có một đạo tràng, đạo tràng này là đạo tràng
của Phật, bạn nói xem Ma còn có thể vào được không? Nếu đạo tràng của chính
mình không giữ được, sẽ có Ma đến xâm kích, bản thân chính khí hạo nhiên, làm
sao có Ma đến được?
40. Xem Tam giới là hư ảo, Phiền não tức là Bồ đề
Tam
giới là đạo tràng, có thể xem là "vô sở thú dã" (không có nơi để
hướng tới/không dính mắc vào đâu). Tam giới là Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới.
Phải xem Tam giới như là đạo tràng, xem như chốn thanh tịnh, trở thành đạo
tràng trong tâm, tâm không đắm chìm vào trong đó, không coi Tam giới là nơi yêu
thích trong lòng, thì trong tâm bạn sẽ có đạo tràng. Phải nhìn thấu Tam giới,
lĩnh ngộ đời người đều thuộc về Vô tánh (không có tự tánh), Tam giới đều là
không có tánh, là cảnh giới Sắc Không. Nếu coi tất cả Tam giới là thứ không ảo
(hư ảo, trống rỗng), sẽ không rơi vào trong đó. Ví dụ: Uống rượu, cứ cho là
hưởng thụ đi, uống nhiều sẽ say, sẽ lún sâu vào, những thứ hưởng thụ đều sẽ
khiến con người lún sâu vào, trầm luân trong đó.
Phiền
não tức Bồ đề, Tam giới là đạo tràng. Phiền não đến chính là cho bạn một sự gợi
mở về trí tuệ, tại sao có phiền não bạn mới có trí tuệ? Nếu không có phiền não
lấy đâu ra trí tuệ? Bồ đề chính là trí tuệ, chính là phải tận dụng phiền não để
khai phát trí tuệ của bản thân. Chúng sinh là vô ngã, là không có cái tôi của
mình, phải có tâm Bồ đề, tâm thanh lương (mát mẻ, trong sáng), sẽ không sinh
phiền não. Phải nhớ kỹ Tam giới là đạo tràng.
Sư
phụ giảng cho các bạn một chút về chuyện cõi trời Sắc giới. Cõi trời Sắc giới
bốn phía đều là chim hót hoa thơm, vi diệu trong đó, có âm nhạc mỹ diệu, vui
trong cái diệu, đi trong cái diệu, đẹp trong cái diệu, thơm trong cái diệu, tất
cả đều nằm trong diệu pháp. Nhưng những cảnh giới mỹ diệu này cũng không trường
cửu, Thiên nhân (người trời) có ngũ suy (5 tướng suy hao), đợi khi hưởng hết
phước trời, cũng sẽ rớt xuống. Cảnh giới của Phật Bồ Tát, là phải nhìn thấu nó
là không ảo, người thực sự có cảnh giới quang minh nhất định phải nhìn thấu nó.
Sư phụ thường nói với các bạn, phàm là vật chất không thể trường cửu đều thuộc
về hư ảo. Tam giới luân hồi là cảnh giới. Tam giới luân hồi, là lên trời rồi,
lại xuống, chính là lục đạo luân hồi. Bất luận ở đạo nào, đều là một cảnh giới,
cảnh giới thuần túy là hư ảo, là cảm giác của bạn. Tam giới luân hồi đều thuộc
về hư ảo, một niệm thiện, sẽ đi lên; một niệm ác, sẽ đi xuống. Bồ Tát là vô
ngại (không trở ngại), cho nên Bồ Tát sẽ không "thú nhập" (đi vào/dính
mắc), nghĩa là Bồ Tát sẽ không có hứng thú gia nhập vào trong đó, cảnh giới nào
cũng đều được giải thoát. Chính là chỉ khi bạn không thú nhập, không tồn tại
suy nghĩ đối với Tam giới này, thì cảnh giới nào cũng có thể giải thoát.
Kiến
giải là nhất thiết vô ngại (tất cả không trở ngại), nếu mỗi người trong kiến
giải đối với một sự việc nào đó cho rằng không có chướng ngại, thì sẽ mọi việc
thuận lợi vô ngại, cũng tức là "vô đối lập cố" (vì không có đối lập).
Phải làm được vô trệ vô ngại (không ngưng trệ không trở ngại), khi trong đầu
bạn thực sự phá trừ được những tạp niệm này, sẽ không còn chướng ngại nữa.
Duyên
do Nguyện lai, duyên phận là do nguyện lực của bạn mà đến, nguyện lực lớn,
thiện duyên của bạn sẽ tự nhiên đầy đủ. Cho nên, có thể giác ngộ được chướng
ngại của người khác, nhưng không nói ra lời (bất hành ư ngôn). Nếu có thể chịu
sự nhục mạ của người khác, mà không động sắc mặt (vô động ư sắc), Phật đạo gần
thành rồi vậy. Nếu biết người ta đang lừa mình, đừng có phản ứng, cười một cái;
chịu người nhục mạ phải không biến đổi sắc mặt. Làm người nếu có thể giữ được
mấy chữ này, bạn học Phật đã tiệm cận thành công rồi. Cảnh giới đến không sợ
hãi, đến đi không lưu luyến, tất cả tùy duyên, bạn sẽ rất tự tại, sẽ không buồn
bã. Buông xuống tức đắc giải thoát, bạn buông bỏ cái duyên phận này, bạn liền
giải thoát.
Nếu
bạn là một người có trí tuệ, vĩnh viễn sẽ không chỉ trích người khác. Kiểm tra
người ta chi bằng kiểm tra chính mình trước. Sư phụ để các bạn biết: Thông minh
thì khó, hồ đồ càng khó hơn. Ở nhân gian học thông minh đã rất khó rồi, muốn
học hồ đồ càng khó hơn, cho nên có câu nói: "Nan đắc hồ đồ" (Khó được
hồ đồ/Hiếm khi hồ đồ), cái hồ đồ này là thông minh, là cái hồ đồ có trí tuệ.
Thực sự buông bỏ thì sẽ không hồ đồ nữa, người thực sự hồ đồ chính là người
không buông bỏ được.
Tóm lại, khi thất ý phải dùng phương pháp nhẫn nại để khắc chế
sự thất ý của mình. Khoái ý (vui vẻ/đắc ý), trị chi ư đạm (đối trị bằng sự đạm
bạc/bình thản), chính là khi vui vẻ, khi có chuyện tốt đến hãy cố gắng xem nhẹ
nó, thường xuyên đừng để tâm mình có cảm giác tăng giảm, đó gọi là người nhập
đạo, tức là người có tu vi.
41. Dung hóa Phật pháp, Quán thông Khai ngộ
Học Phật
học pháp phải dùng một chữ "Dung" (hòa tan, dung nhập) để định đoạt,
Phật pháp nếu học tốt đến đâu, mà không dung hội quán thông (hiểu thấu đáo và vận
dụng linh hoạt) thì bằng như học uổng công. Có người bề ngoài thì đang học,
nhưng không dung hóa vào trong tâm mình, về mặt tu vi sẽ không khai ngộ. Làm thế
nào để dung hóa Phật pháp? Phải ứng dụng ý thức vũ trụ, ý thức vũ trụ chính là
không gian tư duy của bạn lớn như vũ trụ vậy, điều bạn lo lắng là nỗi thống khổ
của toàn nhân loại, tâm bạn phải giống như vũ trụ, cảm giác của bạn, cảm thụ của
bạn phải lớn như vũ trụ, bất kỳ nỗi đau khổ nào xảy ra, cũng giống như nỗi đau
của chính mình, người đau mình đau, bạn sẽ lấy từ bi làm gốc, bạn phải có ý thức
này, mới có thể dung hòa Phật pháp vào trong tư duy của mình. Mới có thể dung hội
quán thông Phật pháp của Bồ Tát, thực sự dung nhập vào trong tâm bạn, tri túc
thường lạc.
Nhưng có
mấy người có thể có tấm lòng rộng lớn như vậy? Con người là động vật cao cấp có
tư duy, sự khác biệt lớn nhất giữa người và động vật là con người có tư duy,
chúng ta phải học tư duy của Phật, chính là Dung, phải dùng ý thức tư duy vũ trụ,
đem tư duy của Phật Bồ Tát dung hóa vào cuộc sống của chúng ta, có thể bao dung
toàn nhân loại, thậm chí cả vũ trụ, loại tư duy này mới là tư duy của Phật. Sư
phụ mỗi ngày đều đang giảng pháp, giảng đến mọi ngóc ngách của thế giới, mỗi một
người hữu duyên, chỉ cần có duyên biết đến blog của Sư phụ, người biết lên mạng,
đều có thể nhìn thấy Sư phụ, nghe thấy giọng nói của Sư phụ, đây chính là duyên
phận học Phật, là trí tuệ của Phật Bồ Tát, có thể bao dung tất cả chúng sinh hữu
duyên trên toàn thế giới, để họ đều có thể học được Phật pháp, đồng thời tha thứ
cho tội nghiệp mà chúng sinh đã phạm trong các đời quá khứ, để họ đều có thể hiểu
đạo lý, đều có thể giảm bớt đau khổ và phiền não, để họ học biết cách dung hóa
Phật pháp, hiểu được sự vận hành của vũ trụ, chính là đạo lý của vũ trụ, đạo lý
của thiên địa. Ví dụ: Ai sẽ ủng hộ giết người? Ai hy vọng chiến tranh? Con người
là yêu chuộng hòa bình, người không yêu chuộng hòa bình, chính là vi phạm luân
thường đạo lý bình thường, vi phạm đạo lý vận hành bình thường của vũ trụ.
Phải có
thể dung hợp tư duy của mình với cảnh giới của Phật Bồ Tát lại với nhau, trong
không gian vũ trụ, trong cái chân lý lớn này để tìm kiếm phương hướng và lộ
trình của mình, bạn sẽ không đi sai đường. Con người phải biết thấu hiểu và bao
dung, việc gì cũng phải có thể bao dung, có thể dung nhẫn. Ví dụ người ta phạm
lỗi, bạn phải hiểu họ, phải tha thứ, phải bao dung họ. Nhưng chữ Dung mà Sư phụ
vừa giảng là Dung trong dung hóa, là dung hóa trong tâm. Còn Dung trong bao
dung, chẳng qua chỉ là một điểm, không thể đại diện cho việc Phật pháp dung nhập
vào tâm bạn, bao dung chẳng qua là một điều kiện, mà Dung hóa mới thực sự sở hữu
ngộ tính của Phật.
Con người
chúng ta phải có thể tiếp nhận Phật quang đến từ trên trời. Phật quang đến từ
trên trời, các bạn phải biết tiếp nhận, có câu nói là "Phật quang phổ chiếu",
Phật quang ngày nào cũng có, chỉ là các bạn không nhìn thấy, không thể tiếp nhận
được. Phật quang phổ chiếu như thế nào? Phật quang phổ chiếu giống như ánh mặt
trời, có thể chiếu đến mọi ngóc ngách, nhưng nghiệp chướng của các bạn quá sâu,
vết nhơ trong lòng quá nặng, cho nên không cảm nhận được. Vết nhơ quá nhiều, giống
như bạn trốn trong một căn phòng, đóng hết cửa lại, kéo hết rèm cửa lại, lúc
này bạn còn có thể nhìn thấy ánh nắng không? Bạn nói xem bạn còn có thể nhìn thấy
Phật quang không? Chẳng lẽ Bồ Tát nói Phật quang phổ chiếu là giả sao? Phật
quang phổ chiếu là thật, là bởi vì bạn đóng kín cửa nẻo lại, không nhận được
ánh sáng của Phật Bồ Tát. Cho nên ngàn vạn lần phải nhớ kỹ, khi ánh sáng của Phật
Bồ Tát đến, phải tiếp nhận nó, phải có một nhục thể và linh hồn rất thuần khiết,
mới có thể tiếp nhận Phật quang này. Nếu Phật quang chiếu đến đó, mà bạn không
nhận được Phật quang, thì gọi là vô duyên. Mặt trời chiếu đến đâu nơi đó sáng,
nhưng bạn trốn trong phòng thì không chiếu tới mặt trời được, người trốn trong
phòng, giống như nghiệp chướng trong lòng bạn, không nhìn thấy quang minh,
không nhìn thấy ánh nắng.
Phật
quang phổ chiếu, loại ánh sáng này thông qua các huyệt vị và kinh lạc toàn thân
bạn chiếu vào nhục thân của bạn. Khi chiếu vào nhục thân của bạn, nếu nhục thân
của bạn có bệnh, sẽ từ từ được hóa giải và chữa lành, huyệt vị, mạch lạc trên
người, sẽ từ từ được đả thông. Sư phụ thường bảo các bạn đi phơi nắng, để mặt
trời chiếu vào lưng bạn, rất có ích cho bạn, sẽ cảm thấy rất dễ chịu. Nếu bệnh
tật (thói xấu) trên người bạn không còn nữa, không làm việc xấu nữa, không tạo
nghiệp nữa, nhục thân của bạn sẽ từ từ chuyển hóa thành Pháp thân, Pháp thân
chính là cái thân rất sạch sẽ. Pháp thân là cái con người vốn nên có. Pháp thân
cần phải tu luyện, pháp thân sau khi tu luyện, bắt buộc phải loại bỏ nghiệp chướng
trên người, bắt buộc phải sạch sẽ, mới có thể lưu giữ khí trường từ thiện, làm
việc mới linh nghiệm, pháp thân còn gọi là Thanh tịnh chi thân.
Thân người
đều có Lậu (rò rỉ), nhưng lậu không nhất định là lậu từ cơ quan nhục thể con
người, tâm thần cũng có thể lậu, ví dụ: Trong lòng nghĩ những thứ không tốt,
công đức sẽ bị lậu mất. Khi niệm kinh tư tưởng không tập trung, tinh thần không
tập trung, trên tinh thần sẽ có lậu. Lậu trên thân thể là làm việc xấu. Lậu
trên thân người không chỉ đơn thuần là lậu trên các cơ quan, như: tai không tốt,
miệng mắng người, mà còn trên tinh thần, cũng có trên tâm, đều sẽ lậu. Lậu của
tâm thần cũng bằng như lậu của cơ quan, mà lậu của cơ quan lại bằng như lậu của
tâm thần. Tinh thần ảnh hưởng đến thân thể, nếu thường xuyên tư tưởng không tập
trung, động não xấu, buồn bã, trên tinh thần sẽ có lậu, thân thể sẽ không thoải
mái, đau dạ dày, đau tim v.v., thân thể không tốt lại ảnh hưởng tinh thần, tinh
thần lại ảnh hưởng thân thể.
Cho nên
người có tu vi, là hợp hai làm một, gọi là Nhất thể song huệ, bên
trong Nhất thể bao gồm linh thể và nhục thể. Song huệ là Mệnh huệ và Thân huệ,
Mệnh huệ chính là mệnh của bạn, linh hồn của bạn, cái huệ này là thể kết hợp
trong các đời quá khứ của bạn. Thân huệ, là thân thể của bạn, cũng là thể kết hợp
của nghiệp lực trong các đời quá khứ của bạn. Tu song huệ là phải tu cho nhục
thể tức thân thể này sạch sẽ, cũng phải tu cho linh thể này sạch sẽ, đây gọi là
Nhất thể song huệ, cũng gọi là Nhất thể song tu.
42. Dùng Tịnh tâm để khai thác kho báu của bản thân
Trong Phật
pháp giảng phải tu thân tâm, thân tâm chính là thân thể và tâm linh, thân thể
và tâm linh phải song tu, song tu là rất không dễ dàng, rất nhiều người có thể
làm việc của thân thể, nhưng không làm được việc của tâm linh, ví dụ: Có người
tình nguyện làm việc cho ông chủ, nhưng không chịu được cái khí của ông chủ
(nói anh ta không tốt), đây gọi là Đơn huệ, tức là trí tuệ đơn nhất; còn có người
tình nguyện nghĩ nhiều, không muốn làm nhiều, đây là Vô trí. Nếu nghĩ việc xấu,
làm việc thất đức, đây là Vô trí diệc vô đắc (không có trí cũng không đạt được
gì), không những vô đạo đức, hơn nữa không có trí tuệ, không đạt được bất cứ thứ
gì. Có một số pháp môn là tu thân, có một số pháp môn là tu tâm, nhưng pháp môn
chân chính nên là thân và tâm cùng tu. Tu thân, ví dụ: Giúp đỡ chăm sóc người
già tàn tật, làm việc tốt, nhưng không tu tâm, không niệm kinh. Tu tâm, giống
như chỉ biết niệm kinh tu tâm, chỉ tu tâm của mình, mà không đi giúp đỡ chăm
sóc người ta. Tu hành chân chính là ngoài việc niệm kinh, đả tọa, để tâm linh của
mình được yên tĩnh ra, còn phải thường xuyên đi làm việc thiện, giúp đỡ người
ta, làm công đức, cứu độ chúng sinh, đây mới là Đại thừa Phật pháp.
Tiếp theo
nói kỹ hơn với mọi người, tâm có bốn chỗ thường xuyên bị lậu (rò rỉ). Mỗi người
khi tu tâm, đều sẽ có lậu, tức là làm rò rỉ mất những việc tốt, những công đức
bạn làm bình thường.
1.
Ái, ái
tòng dâm lậu (Yêu,
yêu rò rỉ từ dâm). Nếu trong lòng bạn nảy sinh tình yêu, tư duy, tâm lý của bạn
sẽ nảy sinh một số tạp niệm, sẽ động não lệch lạc, tâm sẽ không định lại được
(tâm lậu rồi). Cho nên khi trong lòng bạn có tình yêu, sẽ nảy sinh dâm lậu.
2.
Tham,
tham tòng thần lậu (Tham,
tham rò rỉ từ thần). Nếu bạn thường xuyên tham, tư tưởng của bạn sẽ không tập
trung, thần hồn của bạn sẽ điên đảo, thần (hồn) phách của bạn không toàn vẹn,
tinh thần của bạn sẽ phân tâm. Khi tham niệm của bạn vừa khởi lên, thần thức sẽ
không rõ ràng nữa, đây chính là thần của bạn lậu rồi. Do đó trên tinh thần
không được tham, tham rồi, tâm sẽ lậu, gọi là thần lậu.
3.
Bất chính
kiến, tòng mao khổng lậu (Cái
thấy không chính, rò rỉ từ lỗ chân lông). Bất chính kiến, nhìn vấn đề không có
kiến giải chính xác, không có khả năng lý giải chính xác. Tư duy của bạn sẽ xuất
hiện sai lệch, sẽ nổi nóng, sẽ tức giận, huyết áp sẽ tăng cao, lúc này khí tốt
của bạn sẽ từ lỗ chân lông chạy ra ngoài, đây chính là khi một người tức giận,
trong miệng sẽ thở ra khí vậy, bởi vì trong lòng họ có khí trường không tốt, bắt
buộc phải thở ra ngoài. Ví dụ: Khuôn mặt của mỗi người đều sẽ thay đổi, một
khuôn mặt xinh đẹp, nếu thường xuyên suy nghĩ vấn đề không chính, mặt sẽ trở
nên rất khó coi, là lỗ chân lông tạo nên da của bạn, tạo nên sự thay đổi của cơ
thể bạn, người có bất chính kiến sẽ lậu mất khí tốt, còn những khí bẩn thỉu đó
lưu lại trên người, từ từ tích tụ lại, biến thành Sân khí. Sư phụ giảng cho các
bạn đều là Phật pháp đời sống.
4.
Vô minh,
tòng khẩu lậu (Vô
minh, rò rỉ từ miệng). Vô minh, chính là không rõ ràng, không minh bạch, hành
vi tâm lý không chính đáng. Vô minh, lậu từ miệng. Phải biết miệng lậu khí rất
lợi hại, hơn nữa miệng lậu khí, lậu là công đức, sẽ tạo khẩu nghiệp. Bởi vì bạn
không hiểu, cái bất chính kiến của bạn, trong miệng nói bậy, chính là lậu khẩu
nghiệp, cái miệng là nguồn gốc gây họa, Trung Quốc có câu cổ ngữ "Họa tòng
khẩu xuất, bệnh tòng khẩu nhập" (Họa từ miệng mà ra, bệnh từ miệng mà vào),
cái miệng này phải quản cho tốt, thậm chí cái miệng có thể rước lấy họa sát
thân, "Nhất ngôn táng bang, nhất ngôn hưng bang" (Một lời làm mất nước,
một lời làm hưng thịnh nước) đều là một câu nói. Miệng lậu, thực tế là tâm lậu.
Sư phụ vừa giảng bốn cái lậu này, đều là do tâm phát ra, cho nên hy vọng tâm
các bạn phải sạch sẽ, phải bắt đầu bịt lại từ bốn chỗ này, đừng để tâm các bạn
có lậu.
Con người
phải Tịnh tín, tịnh tín chính là phải dùng trái tim thuần khiết để
hoàn toàn tin tưởng nó, phải có tâm rất thành ý để tin tưởng. Tịnh tín tốt ở
đâu? Tịnh tín có thể giúp bạn gia tăng năng lượng, gia tăng công lực, gia tăng
một phần niềm tin và sức mạnh. Công lực là dựa vào tịnh tín mà có được, phải
hoàn toàn tin tưởng Quan Thế Âm Bồ Tát, phải thành tâm thành ý tin tưởng Quan
Thế Âm Bồ Tát, không có mảy may nghi ngờ. Khi bạn hoàn toàn tin tưởng việc này,
sẽ có một sức mạnh vô cùng mạnh mẽ. Ví dụ: Khi một người bị ung thư, nếu tin tưởng
Quan Thế Âm Bồ Tát nhất định sẽ cứu tôi, nhất định sẽ không để tôi chết, chỉ cần
có luồng sức mạnh này, Bồ Tát sẽ đến cứu họ, có luồng Tín lực này, ung thư sẽ bị
họ đánh bại, sẽ sinh ra một loại sức mạnh thần kỳ, để đấu tranh ngoan cường với
bệnh ma. Trong Tịnh tín còn có hai cái Tín cần nhớ kỹ:
1.
Vĩnh cửu
tín, tin tưởng pháp môn này,
phải vĩnh viễn tin tưởng, có vĩnh cửu tín, bạn mới có thể thành công, có vĩnh cửu
tín mới có thể giữ gìn tịnh tín này.
2.
Thực chứng
chi tín, chân thực chứng thực con
đường này đi là đúng, có cái tín này, bạn mới có thể có tịnh tín.
Phải khai thác kho báu thân tâm của mình, phải
khai thác kho báu trên thân thể và kho báu trên tâm linh của mình. Các bạn theo
Sư phụ học Phật pháp, tôi muốn khai thác kho báu trên thân thể các bạn chính là
khai mở trí tuệ trên linh hồn các bạn, khai thác Lục thông của các bạn, nhưng Lục
thông không thể gượng ép khai thác, phải khai thác những công năng này một cách
tự nhiên. Nếu có sai lệch, chính là trên tinh thần xảy ra vấn đề; trên tinh thần
xảy ra vấn đề, chính là trên tư duy có vấn đề. Khai thác kho báu trên thân thể,
như: khéo tay, đàn hát, đan lát, đánh máy v.v. Những cái này đều là kho báu
trên thân thể, còn một cái là kho báu trên tinh thần, chính là kho báu trên tâm
linh, kho báu trên tâm linh sau khi từ từ khai mở, sẽ nhận được rất nhiều sự hiển
hóa, đây chính là một đặc điểm rất quan trọng Sư phụ giảng cho các bạn hôm nay,
thông qua niệm kinh tu tâm, tâm linh của bạn từ từ bắt đầu hiển hóa, tâm linh của
bạn phải vô cùng sạch sẽ, phải vô cùng từ thiện, phải vô cùng bi mẫn. Nếu tâm
linh của bạn, thăng hoa đến cảnh giới của Phật Bồ Tát, chính là Phật tính mở ra
rồi, Phật tính mở ra chính là có thể Ngộ rồi, có thể Ngộ chính là có trí tuệ,
có trí tuệ rồi, việc gì cũng có thể giải quyết, có trí tuệ rồi sẽ từ từ có thể
cảm nhận được rất nhiều thứ, ví dụ: có thể ngửi thấy mùi hương, mắt nhìn thấy một
số thứ, biết Bồ Tát đến rồi, nhưng nhất định phải tu đến mức trong lòng không
chấp tướng, chính là không thể khi duyên chưa chín muồi, mà gượng ép muốn thần
thông. Các bạn phải dùng một số thần thông xuất hiện để chữa trị bệnh trên tâm
linh và thân thể của mình, thần thông từ từ xuất hiện chính là ngộ tính, dùng
công năng từ từ khai thác của mình để hiển hóa Phật tính của mình.
Thứ nhất, phải vô ngã, phải thực sự sửa bỏ tập khí vô minh của
mình;
Thứ hai, dùng thần thông hiển hiện của mình để chữa trị bệnh
trên linh hồn và thân thể của mình.
43. Cơ sở Huyền học
Kính
chào các vị bằng hữu thân mến: Chào mọi người!
Khi
tôi đi trên đường, rất nhiều thính giả không biết mặt tôi, nhưng nghe giọng nói
này của tôi, rất nhiều thính giả có thể nhận ra đây là giọng của Đài trưởng Lư.
Trước tiên, tôi muốn cảm ơn các thính giả đã theo tôi 8 năm qua, tôi nhìn thấy
các bạn thực sự cảm thấy trong lòng rất ấm áp, tại đây cho phép tôi gửi lời
chúc phúc sâu sắc, chúc mọi người sức khỏe dồi dào, vạn sự như ý, sự nghiệp
phát đạt, xin cảm ơn!
Rất
nhiều thính giả lần đầu nhìn thấy tôi, so với giọng nói nghe trên đài phát
thanh, họ đều nói: "Đài trưởng Lư giọng ngài nghe có vẻ già nua, giống như
người lớn tuổi, nhưng nhìn người thì vẫn khá trẻ trung." Thực ra tôi thường
xuyên niệm kinh, đả tọa, đôi khi chính là dựa vào một loại sức mạnh để điều
tiết bản thân. Trên đài phát thanh Đài trưởng Lư thường xem đồ đằng (Totem) cho
mọi người, vậy đồ đằng đại khái là như thế nào? Chính là khi một người ở nhân
gian, trên trời sẽ có một hình ảnh của người đó xuất hiện, người Trung Quốc có
12 con giáp, ví dụ bạn tuổi Hợi (con lợn), trên trời bạn sẽ có đồ đằng là một
con lợn, tuổi Dậu (con gà) trên trời sẽ có đồ đằng là một con gà. Giống như
cách giải thích của phương Tây, chính là chòm sao Sư Tử hay chòm sao gì đó của
họ, thực ra đạo lý là giống nhau. Tức là trên trời có một đồ đằng, dưới địa phủ
có một cái tên, cho nên thông thường xem đồ đằng rất chuẩn. Chủ yếu là xem sự
lý giải của bạn sau khi nhìn thấy đồ đằng.
Thực
ra ở Âu Mỹ Bát quái Âm Dương đã được biên dịch thành mã gen, mã gen họ biên
dịch ra khi được Trung Quốc giải mã chính là Bát quái thời cổ đại của Trung
Quốc, cho nên nói là khoa học, ví dụ màn hình tinh thể lỏng người hiện đại sử
dụng thực ra chính là dựa vào 64 quẻ của Trung Quốc nghiên cứu chế tạo thành, ở
đây không nói quá nhiều với mọi người nữa. Tôi kể chuyện các nhà khoa học từng
tranh luận chuyên môn với các nhà tôn giáo về việc này, có một nhà thiên văn
học nói: "Tôi nhìn bầu trời cả đời rồi, tôi chỉ nhìn thấy sao và trăng,
tôi chưa bao giờ nhìn thấy Thượng đế nào, chưa nhìn thấy thiên thần nào, cũng
chưa nhìn thấy Bồ Tát nào, cho nên tôi không tin những thứ này tồn tại."
Vị nhà tôn giáo kia liền đứng lên hỏi nhà khoa học này, ông nói: "Xin hỏi
vị tiên sinh này, ông có nhìn thấy gió không? Xin hỏi vị tiên sinh này, ông có
nhìn thấy điện không?" Đều nói không nhìn thấy. "Nhưng nó có tồn tại
không?" Đều tồn tại. "Mỗi ngày chúng ta đều phải dùng điện, mỗi ngày
chúng ta đều cảm nhận được gió, đây là một loại cảm thụ. Chẳng lẽ trước khi
Edison phát hiện ra điện thì điện không tồn tại sao?"
Sau
đó một nhà khoa học khác đứng lên nói: "Tôi là một bác sĩ ngoại khoa, tôi
phẫu thuật cả đời rồi, tôi muốn hỏi một chút, tôi chưa bao giờ nhìn thấy linh
hồn nào, tôi không tin sự tồn tại của nó." Vị nhà tôn giáo kia liền nói
với ông ấy: "Xin hỏi vị bác sĩ ngoại khoa này, ông có yêu vợ ông
không?" Ông ấy nói: "Tôi rất yêu." "Ông mổ ra cho tôi xem
tình yêu nằm ở đâu? Ông có thể phẫu thuật mổ xẻ cơ thể ông ra, cho chúng tôi
xem ông yêu bà ấy như thế nào không?" Cái này là không nhìn ra được.
Rất
nhiều thính giả thực ra đều biết Đài trưởng Lư có đặc dị công năng xem đồ đằng
này mới đến, nhưng nếu trong lòng không tin, xem rồi cũng vô dụng. Giống như
kết bạn vậy, hôm nay tôi giới thiệu cho bạn rất nhiều bạn tốt, "Tôi giới
thiệu cho bạn vị này là ông Lý, ồ, ông Lý có thể giúp bạn." "A, chào
ông Lý. Ông có thể giúp tôi không?" Bạn ngay cả tin cũng không tin, thì
ông Lý này sẽ không giúp bạn. Xem đồ đằng cũng như vậy, nếu bản thân bạn không
có tâm thực sự tin tưởng, thì bạn rất khó làm được điều này. Tôi nói với rất
nhiều thính giả, công năng này của tôi là Bồ Tát cho, nhưng các bạn nếu chăm
chỉ niệm Kinh hoặc tu luyện, có lẽ một ngày nào đó các bạn cũng có thể nhìn
thấy, Đài trưởng Lư thấy điều này không có gì lạ. Bởi vì nếu các bạn nhìn thấy
các bạn cũng sẽ nói với tôi: "Ồ, Đài trưởng Lư, chúng tôi cũng nhìn thấy
rồi." Các bạn nói với tôi đều là những thứ chân thực, giống như tôi bây
giờ đang nhìn thấy vậy. Cho nên thứ chưa phát hiện ra, không nhất định là không
tồn tại.
Mọi
người thử nghĩ xem những thứ các bạn không nhìn thấy các bạn có thể coi như nó
không tồn tại sao? Linh cảm của bạn chính là thứ rất quan trọng. Chúng ta
thường xuyên gặp người quen giới thiệu bạn bè ngoài xã hội, khi bạn tiếp xúc
với người này, tôi vừa nhìn người này, "A, chào anh, đây là anh Trương,
đây là anh Lý." "A, chào anh, chào anh." Nói chuyện với anh ta
chưa được mấy câu liền phát hiện tôi không muốn nói chuyện với người này, tôi
cảm thấy người này rất đáng ghét. Cái này là vì sao? Cái này là khí trường của
con người không hợp. Khí trường chính là Khí của mỗi người không giống nhau.
Không muốn kết giao với họ chính là vì khí của bạn và khí của họ không giống
nhau.
Tiếp
theo trước tiên tôi muốn nói thế giới này tại sao có Âm Dương, thực ra rất đơn
giản. Ví dụ mặt trời là Dương, mặt trăng là Âm; đàn ông là Dương, phụ nữ là Âm.
Nhưng Âm Dương tại sao không điều hòa? Sau khi không điều hòa sẽ nảy sinh vấn
đề gì? Nếu một người phụ nữ Dương khí rất đầy đủ che lấp Âm khí, tính cách của
cô ấy sẽ giống đàn ông, cho nên cô ấy làm việc rất kiên quyết, rất quả đoán, ở
nhà chồng cô ấy, ví dụ cũng thuộc Dương, người phụ nữ này cũng Dương khí rất
đầy đủ, hai người họ sẽ thường xuyên va chạm, sẽ thường xuyên cãi nhau ở nhà.
Cho
nên tương tự mà nói, nếu một người phụ nữ Âm khí rất nặng, cả ngày không thoải
mái, không vui vẻ, khi nói chuyện giọng cũng rất nhỏ, người đàn ông kia trông
cũng rất khúm núm (duy duy nặc nặc), việc gì cũng không dám quyết định, tức là
Âm khí của người đàn ông này lớn hơn Dương khí, trong trường hợp này, hai người
này sống trong nhà, ai cũng không giải quyết được vấn đề của ai, ai cũng không
thể nói hai chúng ta thương lượng quyết định một vấn đề, như vậy thì không thể
giải quyết bất cứ vấn đề gì. Cho nên Âm Dương phải điều hòa tốt, mới có thể
ngày càng phát triển, ngày càng tốt đẹp ở nhân gian, trong cuộc sống. Cho nên
nói Âm Dương thực sự là một vấn đề rất quan trọng. Mọi người nhìn thấy Nam Hàn
đó, Hàn Quốc họ chẳng phải có một cái Bát quái sao, chính là Âm Dương, cái Âm
Dương này phải điều tiết cho tốt.
Đài
trưởng muốn nói hiện nay tại sao Âm Dương điên đảo. Tôi muốn hỏi tiền giấy cầm
trong tay là thuộc Âm hay thuộc Dương? Xin nói với mọi người, tiền giấy trong
tay là thuộc Âm, đồ thuộc Âm phải giấu nó đi, không có ai treo tiền giấy ngoài
ban công cả, chỉ có để tiền trong két sắt, giấu trong ví, giấu trong túi, bởi
vì nó là đồ thuộc Âm, đồ thuộc Âm không thể thường xuyên lộ diện, thường xuyên
lộ diện sẽ rước lấy phiền phức. Ví dụ bạn rất "ngầu", trong túi có một
xấp tiền một trăm tệ, bạn đến cửa hàng lôi hết tiền ra đếm vài tờ cho nhân viên
bán hàng, mắt của người bên cạnh đều nhìn bạn, sẽ có người chạy theo bạn, chạy
đến lúc nhất định sẽ cướp của bạn, hiểu chưa, cái này chính là phân biệt Âm
Dương. Người thời nay ngay cả Âm Dương cũng điên đảo rồi. Lấy ví dụ đơn giản:
Rất nhiều người buổi tối không ngủ, ban ngày mặt trời chiếu rất cao rồi lại
ngủ. Rất nhiều người hiểu Đông y hoặc học y đều biết, lục phủ ngũ tạng đến tối
đều nên nghỉ ngơi. Nếu người buổi tối không ngủ ban ngày ngủ lục phủ ngũ tạng
của họ sớm muộn gì cũng sẽ xảy ra vấn đề.
Tôi
còn muốn giảng cho mọi người một chút thế nào gọi là Huyền học. Mọi người biết
xem bói, còn có phong thủy, còn có sờ xương (mạc cốt), còn có giải mộng, còn có
xin xăm, còn có xem tướng mặt, tướng tay, còn bao gồm cả tướng chân. Đài trưởng
giảng "Nhất Mệnh Nhị Vận Tam Phong Thủy" trên đài phát thanh rất lâu
rồi, đã 8 năm rồi. Bây giờ muốn hỏi mọi người xem, Mệnh chiếm bao nhiêu phần
trăm trong cuộc đời con người? Ở đây có ai biết không? Đúng, là 40%. Nếu toàn
bộ vận mệnh là 100%, thì nó là 40%. Vậy cái thứ hai chính là Vận. Vận cũng
chiếm 40% vận mệnh của bạn. Cho nên rất nhiều người từ nhỏ khi sinh ra đã tìm
người xem bói, người xem bói nói: "Ai chà, đứa trẻ này tốt nha, sau này
lớn lên không vừa đâu, đứa trẻ này lớn lên chắc chắn rất có vận khí (may mắn).
Ai chà, rất tốt rất tốt." Nhưng tại sao khi đứa trẻ này lớn lên đến lúc
nên phát tài lại không phát tài, lúc nên gặp may mắn lại không gặp may mắn?
Bởi
vì Mệnh không thể động nhưng Vận là có thể động, bởi vì 40% Vận của bạn vừa
động liền che mất 40% Mệnh của bạn, ví dụ 40% Mệnh là rất tốt, trong 5 năm
chuyển vận một lần vô cùng tốt, ở đây lại có 40% là vận trình, mặc dù 40% Mệnh
của bạn rất tốt, nhưng bạn làm việc xấu, thế thì 40% Vận sẽ che mất 40% Mệnh;
còn lại 20% chính là phong thủy rồi, khi Mệnh và Vận triệt tiêu lẫn nhau, phong
thủy nhà bạn, phong thủy văn phòng sẽ có tác dụng rất lớn đối với bạn. Nhất
định phải nhớ kỹ, phong thủy tuy rất quan trọng, nhưng chủ yếu vẫn phải dựa vào
Mệnh và Vận của bạn. Trong đó linh hoạt nhất là 40% vận trình, còn có 20% phong
thủy. Rất nhiều người chỉ chú ý đến 20% phong thủy nhưng không nghĩ đến Vận của
mình phải sửa đổi. Mệnh và Vận là liên kết với nhau. Nói người này vận mệnh tốt
hay không, nào biết Mệnh không thể động, nhưng Vận có thể động.
Kết
hôn cũng sẽ ảnh hưởng đến vận mệnh của một người, tức là người này vốn dĩ đi
rất thuận lợi, sau khi kết hôn vận mệnh của họ thay đổi, tại sao lại thay đổi?
Bởi vì sau khi kết hôn, Mệnh của anh ta và vợ anh ta hợp lại, gọi là Hợp bát
tự; vốn dĩ người này mệnh rất tốt, anh ta lấy một người vợ mệnh rất kém, tiếp
theo anh ta bắt đầu đi vào vận suy (vận rủi). Vốn dĩ vận của người này rất
không tốt, nhưng anh ta tìm được một người vợ có vận trình vô cùng tốt, chính
là điều chúng ta thường gọi là mệnh vượng phu (giúp chồng). Mệnh vượng phu hoặc
vận vượng phu, sẽ thay đổi vận trình của người chồng, cho nên cưới vợ và lấy
chồng đều phải rất coi trọng, bởi vì có thể giúp bạn, thành toàn Vận cho bạn.
Thời xưa con cái khi kết hôn, lời mối lái, lệnh cha mẹ, tuy là không tự do,
nhưng cha mẹ trước khi gả con gái (hoặc) cho con trai kết hôn, đều sẽ làm một
trắc nghiệm, tức là xem bát tự con gái tôi và bát tự người nam kia có hợp nhau
không, nếu có thể hợp nhau thì gả con gái tôi cho cậu ta, cho nên thời xưa ly
hôn khá ít, thời đó tất nhiên cũng có ý thức phong kiến. Nhưng hiện nay rất
nhiều người vừa gặp đã yêu (nhất kiến chung tình), một số người trẻ tuổi, người
ta nói kết nhanh ly cũng nhanh. Đây chính là mâu thuẫn. Cho nên chúng ta trong
xã hội khoa học, phát triển như ngày nay, làm thế nào mới có thể giải thoát bản
thân khỏi những vấn đề này?
Hiện
nay mọi người đều biết thiên tai nhân họa không ngừng, mỗi người đều có ba thói
xấu: một là Lòng tham, một là Hận, còn một là Ngu si. Rất nhiều người từng học
Phật, biết những cái này chính là Tham Sân Si. Mọi người biết Tham Sân Si sẽ
gây ra tai nạn như thế nào đối với sự nghiệp, quốc gia và cả thế giới không?
Các bạn có lẽ không biết. Một quốc gia lòng tham rất nặng cả ngày muốn xâm lược
quốc gia khác, họ sẽ có Thủy tai (nạn nước), thường xuyên bị lũ lụt; tất cả
người dân của một quốc gia thường xuyên cả ngày đều rất hận người khác, rước
lấy là Hỏa tai (nạn lửa); người của một quốc gia đều rất ngu si, cả ngày muốn
cái này muốn cái kia, còn nói muốn làm bá chủ thế giới, rước lấy là Phong tai
(nạn gió).
Có
người nói, Đài trưởng Lư, ngài nói khí trường của người này không tốt sao có
thể ảnh hưởng tự nhiên? Chính là có thể ảnh hưởng tự nhiên, thảm họa tự nhiên
chính là do con người gây ra. Tôi nói một câu các bạn có thể hiểu: Thiên thời
địa lợi nhân hòa, Thiên nhân hợp nhất. Thời tiết thay đổi theo con người, con
người cũng thay đổi theo trời. Thiên thời không ngừng biến đổi, cho nên tạo
thành thảm họa tự nhiên. Hành vi ác của con người rất nặng sẽ ảnh hưởng Thiên
thời. Hoàng đế ngày xưa thường xuyên phải lên thiên đài bái tế tổ tiên để cầu
mưa, nếu không đi bái tế, bách tính chịu khổ cũng giống như nhà bạn phải chịu
khổ vậy. Những cái này đều là đạo lý rất đơn giản. Cho nên mọi người đừng làm
những chuyện Tham Sân Si.
Mọi
người cũng đừng vì Đài trưởng khai thiên nhãn rồi, có công năng như vậy mà sùng
bái, mỗi người các bạn đều có công năng rất lớn. Lấy ví dụ đơn giản, muốn đi
xem nhà mới, bạn vào trong nhà mới cảm thấy không thoải mái, sống lưng lạnh
toát, lông tóc dựng đứng, cái này chính là ngôi nhà âm khí rất nặng, đây chính
là cảm giác của mỗi người. Giống như mỗi người ngồi đây, anh ta cười với bạn
một cái, bạn cười với anh ta một cái, bạn nói người này rất tốt, tại sao anh ta
tốt? Thứ nhất, từ bề ngoài khuôn mặt này là tốt, thứ hai, bạn có thể nhìn thấy
trong lòng anh ta có lương thiện hay không. Hỏng là hỏng ở chỗ kẻ lừa đảo bây
giờ bề ngoài khuôn mặt này là tốt do giả bộ ra, tôi dạy mọi người biết xem,
biết dự đoán là hy vọng mọi người làm nhiều việc thiện, có thể nhìn ra nhiều kẻ
xấu hơn mà không bị lừa. Ít nhất mặc dù chúng ta đã bị lừa rồi, nhưng ngàn vạn
lần đừng để con cái chúng ta bị lừa nữa. Nếu lại để con cái chúng ta bị lừa nữa
thì thật sự có lỗi với bản thân.
Còn
rất nhiều người cho rằng hiếu thuận chính là đối tốt với cha mẹ, mua đồ ngon
cho họ ăn v.v. Thực ra các bạn biết không, bảo vệ tốt thân thể của chính mình
cũng là hiếu thuận đấy, bởi vì xương của bạn là cha cho, thịt của bạn là mẹ
cho. Nếu các bạn làm tổn hại thân thể của mình cha mẹ sẽ rất buồn, còn buồn hơn
chính bản thân các bạn. Khi bạn nằm bệnh trên giường, người buồn nhất không
phải là bạn mà là cha mẹ bạn. Cho nên nói hiếu thuận đồng thời cũng phải bảo vệ
tốt thân thể của chính mình.
Khi
tôi khuyên người ta làm việc thiện, có người nói: Đài trưởng Lư tôi tính khí
(tính nết) thế này tôi không sửa được. Các bạn ai có thể nói cho tôi biết thế
nào gọi là Tính khí (Tỳ khí)? Đài trưởng Lư nghĩ một chút, không biết mọi người
có đồng ý không. Tính khí chính là thói quen hình thành do bạn làm lâu dài, tự
cho là đúng. Trẻ con sinh ra có tính khí gì đâu? Là do chiều chuộng, là do tự
cho là đúng. Rất nhiều cô gái tự cho là đúng, cho rằng bạn trai phải đối tốt
với tôi, phải chiều chuộng tôi, liền không coi người nam ra gì, cô ấy dần dần
hình thành tính khí rất cao ngạo, cảm thấy tôi chính là như vậy, tôi chính là
tính khí này yêu thì yêu, không yêu thì thôi. Xong rồi, đợi đến 50 tuổi, không
ai yêu nữa. Cái gì hại cô ấy vậy? Là tính khí. Cho nên đừng tưởng rằng cái gì
cũng không thể sửa, con người tôi chính là tính khí này - tôi nói cho bạn biết,
tính khí này của bạn chính là Mệnh của bạn, sửa tính khí là có thể sửa đổi mệnh
của bạn. Rất nhiều người khi không làm ăn thì cao ngạo vô cùng, vừa làm ăn thì
mặt mày tươi cười, bởi vì trong quán cơm không có ai đến ăn, nhìn thấy một
người bước vào liền đón tiếp: "Chào anh chào anh, mời vào, món ăn của
chúng tôi rất ngon." Đây chẳng phải là sửa tính khí của bạn rồi sao? Bạn
không sửa tính khí mở quán cơm gì, kiếm tiền gì chứ. Không sửa tính khí vợ cũng
chạy mất, chồng cũng bay mất, con cái cũng bỏ nhà ra đi. Tại sao rất nhiều đứa
trẻ rời bỏ cha mẹ? Cha mẹ tôi người rất tốt, chỉ là tính khí không tốt. Nói cái
gì vậy? Tính khí không tốt chính là người không tốt, cả ngày mắng người người
này tốt sao? Cho nên đừng lấy cái cớ để che đậy thói xấu trên người mình.
Nhưng
Đài trưởng muốn nói với mọi người, nói câu tốt cho mọi người nghe một chút, câu
gì? Chính là những lỗi lầm này, không thể trách hoàn toàn các bạn, rất nhiều
người tính khí không tốt quả thực trên người có quỷ, còn quả thực trong nhà có
"đồ vật" (vong), cho nên rất nhiều người đàn ông về đến nhà là nổi
hỏa vô minh (nổi nóng vô cớ), chưa nói mấy câu đã không vui đập đồ đạc, anh ta
không biết đâu, không biết tại sao đang nói chuyện đàng hoàng, vì một câu nói
liền trở mặt, người thời nay trở mặt còn nhanh hơn thời tiết thay đổi, chính là
đạo lý này, bởi vì có khí trường ảnh hưởng anh ta. Hơn nữa rất nhiều người có
một thói xấu, tức giận ở chỗ khác sẽ phát tiết ở một chỗ khác. Cái này gọi là
Khí trường chuyển dịch. Ví dụ Trung Quốc có rất nhiều người làm cảnh sát, ở bên
ngoài bị người ta mắng hoặc bị người ta huấn luyện về đến nhà chỉ vào vợ mà
mắng, cho nên rất nhiều người không muốn gả cho cảnh sát, nói là bệnh nghề
nghiệp. Thực ra anh ta hay phải chịu bực mình (ăn khí), khí trường rất không
tốt, cho nên trong lòng anh ta thường cảm thấy khó chịu, khí không có chỗ phát
tiết, tìm một lỗi nhỏ là bùng nổ.
Là
một con người thì phải kiểm soát cảm xúc của mình, nếu một người không biết
kiểm soát sự nóng giận của mình, kiểm soát tính cách của mình, loại người này
thực ra khoảng cách với người khác đã rất xa rồi, nên nói là gần với động vật.
Sự khác biệt giữa động vật và con người nằm ở chỗ con người có thể kiểm soát tư
duy và hành vi của mình, còn động vật không thể kiểm soát tư duy của mình, động
vật muốn làm gì thì làm, chó đã rất hiểu chuyện rồi, biết bạn không vui, nó
không nói (sủa), biết bạn vui, nó liền nhảy nhót với bạn, nhưng bạn nói xem chó
ở ngoài đường mắc tiểu tiện đại tiện nó có để ý cái khác không, nếu là người
thì chắc chắn sẽ không như vậy, đây chính là sự kiểm soát của tư duy.
Tiếp
theo tôi muốn nói với mọi người là, cây có gốc, nước có nguồn. Có Duyên mới
đến, duyên rất sâu thì thành người một nhà, ví dụ kiếp trước các bạn duyên phận
rất sâu, kiếp này là quan hệ cha mẹ, anh chị em, huynh tỷ; nếu duyên rất nông,
kiếp này làm bạn bè họ hàng xa. Vợ chồng thực ra ở bên nhau, nói dễ nghe một
chút là duyên phận vợ chồng, nói khó nghe một chút là Oan gia. Thời xưa gọi là oan
gia. Nhưng oan gia này có thiện duyên, cũng có ác duyên. Cái này gọi là Vô
duyên bất lai (không có duyên không đến). Hôm nay các bạn kết hôn bạn chính là
oan gia của người đó.
Tại
sao có những cặp vợ chồng cãi nhau cả đời, họ không ly hôn? Bị chồng mắng cả
đời, bà ấy cũng không ly hôn, đây là vì sao? Tại sao có người ở bên nhau,
khoảng thời gian trước khi kết hôn cảm thấy cực kỳ tốt, sau khi kết hôn, anh
nói một câu tôi cũng thấy ghét; anh làm một việc tôi liền thấy phiền phức, hai
người cả ngày cãi nhau, đây là vì sao? Đây chính là một vấn đề rất lớn, tức là
duyên phận đến rồi, đến lúc này sẽ cãi nhau, cho nên nói thời gian cãi nhau có
một định luật: Thông thường 3 năm, 5 năm, trong 3 năm sẽ liên tục đi vào vận
suy, tình cảm vợ chồng không tốt; sau 3 năm sẽ tốt một khoảng thời gian, khoảng
thời gian này thường cũng là 3 năm đến 5 năm. Qua 3 năm đến 5 năm này, lần sau
nữa lại sẽ cãi nhau tiếp. Nhưng đừng xem nhẹ một vấn đề khác chính là: Mỗi khi
trước tiết Thanh Minh rất nhiều người sẽ bị bệnh, rất nhiều người sẽ không
thoải mái đau đầu; còn có tháng Bảy tiết Quỷ (tháng Cô hồn), còn có trước Đông
chí mà người Trung Quốc nói, vong nhân tổ tông quá cố thường đều sẽ đến, các
bạn không nhìn thấy. Nhưng rất nhiều người hơi có chút tu luyện sẽ nằm mơ thấy.
Ví dụ mọi người đều sẽ nằm mơ, bạn nói: "Hôm nay tôi mơ thấy bà nội tôi,
ái chà, hôm nay bà báo mộng cho tôi." Vậy bạn hỏi Đài trưởng Lư làm thế
nào? Rất đơn giản, bà báo mộng cho bạn, nếu bạn có thể giúp bà niệm kinh siêu
độ, bà sẽ rất vui; nhưng bạn không biết niệm kinh không biết siêu độ, tiếp theo
bạn sẽ đau đầu khó chịu, sau đó sẽ cãi nhau.
Nói
thêm một điểm, chuyện vợ chồng cãi nhau, đôi khi các bạn không nhìn ra, chính
là khi hai người này đang cãi nhau, đối phương hoặc một người nào đó bất kể là
nam hay nữ trên người có "đồ vật", đồ vật này là gì? Mọi người đều
hiểu, chính là quỷ hồn trên người - oan gia trái chủ của chính họ hoặc là cha
mẹ hoặc ông bà quá cố của chính họ. Khi một cặp vợ chồng đang cãi nhau, tôi
nhìn thấy rất rõ ràng một vị trưởng lão lớn tuổi, mặt rất khó coi, giống như
cái dáng vẻ lúc người ta nói là lúc đi, lúc qua đời vậy, đang nằm sấp trên
người vợ ông ta. Người vợ này bình thường rất dịu dàng rất tốt, chưa bao giờ
cãi nhau với chồng, tại sao hôm nay lại chỉ vào chồng mắng như phát điên, nói
ra rất nhiều ngôn ngữ mà ngay cả bản thân cũng không thể chấp nhận, chưa bao
giờ như vậy, tại sao hôm nay cô ấy lại mắng tôi như vậy, hơn nữa nói những lời
khó nghe nhất, hơn nữa khi mắng tay đều chỉ trỏ, dáng vẻ đó hoàn toàn không
giống cô ấy; ngược lại tôi cũng thấy rất nhiều người chồng cũng như vậy. Cái
này chính là trên người anh ấy (cô ấy) có "đồ vật".
Tại
sao rất nhiều cặp vợ chồng cãi nhau cả đời ly hôn cũng không ly hôn được, mỗi
lần cãi nhau trong miệng luôn phải mang theo vài câu: "Chúng ta ly hôn đi,
tôi không cần anh/cô nữa, cái thứ nhà anh/cô." Tôi thường nói khi cãi nhau
thì không phải là người bình thường nữa, bạn nhìn xem khuôn mặt này bình thường
rất quy củ khi cãi nhau mặt đều biến đổi, người ta nói khi cãi nhau biến thành
giống như quỷ, dáng vẻ hung dữ hận không thể ăn tươi nuốt sống vợ; tất nhiên
cũng có những bà vợ cũng rất hung dữ, khi hung dữ cũng hận không thể ăn tươi
nuốt sống chồng, lời mắng ra đều không thể chấp nhận, rất lợi hại rất nghiêm
trọng, hận không thể mắng chết bạn. Thực ra lúc này trên người đã có quỷ nhập
rồi. Có một cặp vợ chồng đến chỗ tôi, ở trong văn phòng tôi nói nói nói ý kiến
không hợp cãi nhau ngay tại trận, khi cãi nhau người nam liều mạng mắng, tôi
liền nhìn, vừa nhìn thấy trên vai người nam này có một con quỷ nhỏ ngồi đó, con
quỷ nhỏ này đang dùng tay kéo tóc anh ta, cứ kéo một cái người nam này liền
liều mạng mắng, tôi liền dùng ý niệm nói với con quỷ nhỏ: Ngươi có thể đi rồi,
ngươi đừng ở đây, lát nữa ta sẽ bảo cặp vợ chồng này niệm kinh trả ngươi, siêu
độ ngươi. Vừa nói xong con quỷ nhỏ hai chân tung lên trời liền đi mất. Vừa mới
đi khỏi, người đàn ông này liền quay sang tôi nói rất lịch sự: "Ngại quá,
thất lễ thất lễ, đến chỗ ngài cãi nhau." Lập tức quay sang vợ: "Xin
lỗi, xin lỗi." Bạn xem sự khác biệt này rõ ràng biết bao.
Kiểu
cãi nhau này có cách có thể giải quyết. Lưỡi và răng hợp tác bao nhiêu năm đôi
khi cũng có chút mâu thuẫn, vậy khi vợ chồng cãi nhau, dùng cách gì giải quyết?
Khi bạn cãi nhau với vợ hoặc bạn gái, hoặc bạn cãi nhau với chồng, cách giải
quyết tốt nhất là gì? Thứ nhất, bạn phải nghĩ đến chỗ đáng thương của chồng
bạn, ví dụ đôi khi anh ấy về bạn đã ngủ rồi, nhưng anh ấy còn chưa ăn cơm, anh
ấy chỉ có thể tự mình vào bếp làm. Anh ấy về rất u sầu, vì ở cơ quan bị ông chủ
mắng, hoặc ở cơ quan bị người ta bắt nạt, lúc này trong lòng rất buồn bã v.v.,
bạn chỉ cần nghĩ đến những chỗ đáng thương này của anh ấy, sẽ không cãi nhau
với anh ấy nữa. Vậy thì là một người vợ, bạn phải tha thứ cho người đàn ông bên
cạnh.
Đàn
ông tại sao thường chết sớm? Tôi ở đây nói đại khái nhé, UNESCO đã thống kê
rồi. Bởi vì phụ nữ có vài điểm ưu thế, nên tuổi thọ khá dài. Đầu tiên phụ nữ có
gì thì phải nói ra, phát tiết những thứ trong lòng ra, trong lòng sẽ không quá
khó chịu, ví dụ bị người ta bắt nạt, cô ấy sẽ về nhà nói không ngừng, nói rất
nhiều, nói với con "mẹ bị người ta bắt nạt" thế này thế kia, nói với
chồng "người này thế này thế kia", thực ra sau khi cô ấy nói xong thì
thoải mái rồi, người thoải mái là tốt rồi, tại sao đàn ông áp lực lại lớn hơn
một chút? Bởi vì nam giới sống trong sự kìm nén lâu dài, người Trung Quốc chúng
ta thường nói "Nam nhi hữu lệ bất khinh đàn" (Đàn ông có nước mắt
không dễ rơi), tức là khi đàn ông có áp lực, họ sẽ không nói ra một cách sảng
khoái như phụ nữ, đa phần buồn bực trong lòng, khó chịu không thoải mái.
Dựa
theo quan điểm này, bạn thử nghĩ xem, anh ấy nén cả đời, đến 50 tuổi 60 tuổi
thời gian dài như vậy, anh ấy có khả năng áp lực quá lớn mà dẫn đến tử vong,
thực sự sẽ sớm hơn phụ nữ. Bạn nghĩ như vậy thì sẽ bỏ qua thôi. Tuy nhiên là
đàn ông mà nói, bạn thử nghĩ xem một người phụ nữ đáng thương biết bao, cô ấy
gả cho bạn, lại giúp bạn sinh con, ở nhà lại phải chăm sóc cha mẹ, nấu cơm nấu
nước, còn phải chăm sóc con cái, có người phụ nữ còn phải ra ngoài làm việc, cô
ấy thực sự rất đáng thương. Cho nên là một người đàn ông bạn hãy thương xót cô
ấy, cô ấy giao cả đời cho bạn rồi, bạn còn muốn cãi nhau với cô ấy, từ trong
lòng mà nói bạn có thấy áy náy không. Chỉ cần hai bên đặt mình vào hoàn cảnh
người khác để suy nghĩ cho đối phương, phụ nữ cũng đều có thể tha thứ cho đàn
ông, đàn ông cũng đều có thể tha thứ cho phụ nữ. Như vậy tôi cảm thấy, bạn nghĩ
nhiều đến chỗ đáng thương của đối phương thì cũng sẽ không cãi nhau lắm đâu.
Dưới
đây nói về vấn đề con cái, con cái và cha mẹ, người ta từ nhỏ nói một câu là
"Thảo trái quỷ" (Quỷ đòi nợ). Thế nào gọi là quỷ đòi nợ? Chính là con
cái sinh ra không phải đến đòi nợ thì là đến trả nợ. Làm thế nào có thể nhìn ra
đứa trẻ này là đến đòi nợ hay trả nợ? Nếu đứa trẻ này là đến đòi nợ, thì vừa
sinh ra sức khỏe nó đã không tốt lắm. Hôm nay mắc bệnh này, tiêu tiền của cha
mẹ, ngày mai mắc bệnh kia tiêu tiền của cha mẹ, sau đó hôm nay khó chịu, ngày
mai khó chịu, vì con cái vợ chồng sẽ cãi nhau, sau đó lớn hơn một chút đòi cái
này đòi cái kia, hơn nữa không nghe lời. Những đứa trẻ như vậy về cơ bản 70-80%
là đến đòi nợ; còn có những đứa trẻ vô cùng đáng thương, sinh ra vô cùng ngoan,
muốn khóc cũng khóc trộm, ăn đồ cũng không tiếng động giống như con mèo nhỏ
vậy, những đứa trẻ như vậy chính là đến trả nợ.
Cho
nên một người nhất định phải hiểu con bạn là đến trả nợ hay đến đòi nợ. Nếu
hiểu điều này rồi, bạn sẽ cảm thấy: Ồ, con tôi là đến đòi nợ, vậy tôi đừng đánh
nó nhiều nữa, cũng đừng mắng nó nhiều nữa, tôi phải đối tốt với nó một chút, ít
nhất về mặt dân gian mà nói tôi coi như xong. Như vậy trong lòng bạn sẽ cân
bằng hơn một chút, bình tĩnh hơn một chút. Rất nhiều thính giả nghe chương
trình rất lâu rồi, đều biết tại sao tình cảm mẹ và con đặc biệt thân thiết,
thân thiết đến mức độ nào? Thân thiết đến mức hơn cả chồng. Vốn dĩ trong nhà vợ
đối với chồng rất tốt, sau khi con chào đời, vợ liền toàn tâm toàn ý tốt với
con. Tôi nghe rất nhiều thính giả nói với tôi: "Đài trưởng ơi, ngài biết
không, tôi lúc đó, ở nhà nói gì cũng được tính, vợ tôi cũng rất tốt với tôi,
kết quả vợ tôi sau khi sinh con xong, cô ấy liền nói một câu 'em muốn dành tất
cả tình yêu của em cho con em' tôi rất buồn, một chút cũng không để lại cho
tôi." Đây là vì sao? Tức là nói cô ấy đã dành tất cả tình yêu cho con, từ
tướng mệnh học mà nói là cô ấy nợ con.
Cho
nên rất nhiều người không hiểu, thông thường con gái sinh ra đều là đến trả nợ,
con trai thông thường đều là đến đòi nợ, người ta mắng lên chính là nói mày cái
đồ quỷ đòi nợ này, mọi người đều biết chứ. Cho nên phải hiểu đạo lý này. Con
trai nghịch ngợm không làm đàng hoàng cho bạn, gây rắc rối cho gia đình cha mẹ
rất buồn, mẹ cả ngày ôm con nhỏ trong lòng cho nó bú sữa, uống nước, chăm sóc
tỉ mỉ, cái này chính là đang trả nợ. Cho nên chúng ta từ một cách nói khác của
nhân gian chính là, là một con người bạn không thể không hiếu thuận với cha mẹ,
bởi vì không hiếu thuận với cha mẹ, lập tức cho bạn biết mặt (nhan sắc khán),
hiện thế báo. Hiện thế báo thế nào, chính là sau này con cái bạn sẽ vào lúc
tuổi già của bạn trong kiếp này, không hiếu thuận với bạn. Mọi người có thể
hiểu đạo lý này thì tốt rồi. Cho nên quan hệ giữa con và mẹ, Đài trưởng nhìn
thấy rất nhiều người kiếp trước đều là vợ chồng, tôi thường lấy ví dụ cho mọi
người: Có một người mẹ bị con bắt nạt cả đời, đến chỗ Đài trưởng khóc, con trai
còn đuổi bà ra ngoài, hơn nữa rất nhiều lần rồi, người mẹ này chạy đến chỗ tôi:
"Đài trưởng Lư ơi, cầu xin ngài giúp tôi, xem xem tôi rốt cuộc đã tạo
nghiệp gì. Nó đối xử với tôi như vậy, bắt nạt tôi cả đời rồi." Đài trưởng
liền xem cho bà ấy, tôi vừa nhìn thấy trước một ngôi nhà cổ kính có một cặp vợ
chồng đứng đó, người nam chính là bà lão đang nói chuyện với tôi bây giờ, người
nữ đó (vợ của người nam) chính là con trai của bà lão, mọi người hiểu đạo lý
chưa. Nghĩa là kiếp trước chồng bắt nạt vợ mình cả đời, kiếp này để vợ ông ta
biến thành con trai ông ta đòi nợ ông ta đến bắt nạt ông ta. Thú vị nhất là,
đến cuối cùng bà lão này còn khóc nói: "Đài trưởng Lư ơi, ngài giúp tôi
xem xem con trai tôi còn có tiền đồ không." Bạn nói xem cái này không phải
là Nợ thì là gì? Nợ nặng lắm, nợ không phải một chút đâu, cái này nợ vô cùng vô
cùng nặng. Còn quan hệ mẹ chồng nàng dâu tại sao luôn không tốt? Bởi vì quan hệ
mẹ chồng nàng dâu cũng là nợ kiếp trước.
Có
một cặp vợ chồng đến hỏi tôi: "Tình cảm chúng tôi cũng khá tốt, nhưng hai
chúng tôi đều rất lạ, cứ không thích làm chuyện vợ chồng đó, Đài trưởng ngài
giúp tôi xem xem kiếp trước chúng tôi là gì?" Tôi vừa nhìn, kiếp trước họ
là anh em, tôi ban đầu không muốn nói, sau đó anh ta cứ nhìn chằm chằm tôi hỏi.
Tôi liền nói hai người các bạn là anh em. "A, thảo nào, ái chà, hai chúng
tôi lúc cãi nhau lúc hòa thuận, hai chúng tôi tính khí đều rất bướng bỉnh, tình
cảm lại rất tốt, ly hôn cũng không ly được." Tuyệt nhất là sau khi nói cho
họ biết, còn gọi điện cho tôi: "Đài trưởng ơi, sau khi ngài nói cho chúng
tôi biết, hai người buổi tối trên giường, anh nhìn tôi tôi nhìn anh ai cũng
thấy kỳ cục." Cho nên Đài trưởng rút ra bài học này về sau không nói nữa.
Chuyện quá khứ, ví dụ người đã khuất, cha của bạn, mẹ của bạn, ông bà của bạn ở
tầng trời nào tôi sẽ nói cho mọi người, mọi người có thể niệm kinh tu tâm,
người kiếp này, tốt nhất thì đừng biết. Biết rồi, ngược lại không tốt. Bởi vì
tôi từng nhìn thấy một chuyện rất thảm, người này nuôi một con chó, thích vô
cùng, ôm ấp chiều chuộng. Hôm đó tôi đúng lúc đến nhà anh ta làm chút việc, anh
ta nhân lúc Đài trưởng đến hỏi thêm nói: "Đài trưởng ngài xem xem, con chó
này và tôi có duyên phận gì?" Tôi vừa nhìn: "Con chó này là bà ngoại anh
đấy." Nói ra xong, anh ta bừng tỉnh đại ngộ, nói: "Đài trưởng ngài
biết không, tôi cứ nhìn nó đều giống như trưởng bối của tôi." Anh ta buổi
tối ôm nó ngủ, cho nó ăn đồ ngon nhất. Bạn biết thức ăn cho chó rất đắt, điều
kiện kinh tế anh ta không tốt lắm, bản thân ăn rẻ tiền, nhưng đều đến hàng thịt
mua cho chó những loại thịt tươi, xương tươi đó. Mọi người thử nghĩ xem đây là
quan hệ gì.
Cho
nên khi bạn không biết, bạn có thể không sao, nếu bạn biết rồi thì thực sự phải
cẩn thận. Con cái đều là có quan hệ với bạn, cái này gọi là Duyên phận, vợ
chồng cũng là có duyên mới đến. Chỉ có một đoạn duyên phận này, mọi người nhất
định phải trân trọng, đoạn duyên phận này đi hết rồi thì không còn nữa. Rất
nhiều người ly hôn rồi là hết, giống như chuyện quá khứ phải quên đi vậy, đoạn
duyên phận này bạn đi cho tốt, niệm niệm kinh còn có thể kéo dài, nếu bạn không
cẩn thận không yêu quý, đoạn duyên phận này sẽ không còn, bạn muốn tìm lại một
ông chồng hoặc một bà vợ tốt một chút cũng chưa chắc có thể tìm được người tốt
hơn người đầu tiên. Cho nên mọi người phải nói rõ điều này với con cái, người
từng trải chúng ta đã từng có những trải nghiệm này rồi, không sao cả, trả hết
nợ coi như xong, nhưng đừng để con cái lại như vậy nữa. Hy vọng mọi người hiểu
những đạo lý này.
Ngoài
ra tôi nói thêm một điểm: Trong số thính giả của chúng ta, tôi từng trong mấy
tháng trước nhìn ra rất nhiều thính giả dạ dày đường ruột có "đồ
vật", anh ấy ngay trên đài phát thanh, tôi nói đường ruột anh có khí đen
có thể có rắc rối rất lớn. Anh ấy nói: "Ồ, tôi không có cảm giác mà."
Tôi nói: "Anh đi khám xem kiểm tra xem." Kết quả vị tiên sinh này qua
3 tháng xếp hàng đến bệnh viện kiểm tra, sau khi kiểm tra ra đến đài phát thanh
tìm tôi cầm theo tờ đơn bác sĩ đưa cho anh ấy, giống như bản đồ bộ phận cơ thể
người vậy, bác sĩ vẽ cho anh ấy, bị ung thư ruột rồi, anh ấy nói với tôi:
"Đài trưởng Lư, mạng tôi sắp mất rồi, cả người tôi suy sụp rồi." Tôi
liền nói với anh ấy một điểm: "Anh không cần thiết phải bi thương như vậy,
tôi dạy anh mấy cách anh mau chóng giải quyết nó đi." Tôi liền dạy anh ấy
phóng sinh, niệm kinh gì, anh ấy tối hôm nay cũng có mặt tại hiện trường của
chúng ta. Còn có một vị thính giả 3 năm trước gọi điện đến đài, tôi nhìn ra hai
người họ cũng là đường ruột không tốt, tôi nói trong ruột có khí đen mau đi
kiểm tra. Kết quả, kiểm tra ra hai người đều là ung thư ruột, ở Mỹ là bà con
bạn bè của cô ấy. Kết quả thì chết rồi... Vị thân nhân này hôm nay cũng ở đây.
Còn
có quá nhiều rồi, vị thính giả này hôm nay cũng ở đây tên tôi không muốn nói,
gan của anh ấy hỏng rồi, hỏng rồi thì cả cái gan phải cắt bỏ, vốn dĩ sau khi
cắt bỏ giữ lại một chút, nhưng sau đó gan vô cùng vô cùng không tốt, tế bào ung
thư lại di căn. Sau khi di căn tôi bảo anh ấy niệm kinh, sau khi niệm kinh, tôi
lại dạy anh ấy phương pháp khác, cuối cùng anh ấy thực sự khỏi rồi, sau khi
khỏi anh ấy khoảng một tháng sau nói với tôi: "Đài trưởng Lư, lại không
được rồi, di căn rồi." Anh ấy rất chán nản, đều là người rất trẻ, sau đó
tôi lại bảo anh ấy niệm. Bây giờ khoảng hai tháng rồi, sau khi làm CT, siêu âm,
phát hiện cái gì cũng không sao nữa rồi.
Tôi
không phải bảo mọi người đừng đi khám bệnh, không tiêm thuốc uống thuốc, ý là
trong khi khám bệnh, tiêm thuốc uống thuốc, dù thế nào cũng phải nhận thức được
trên tâm linh linh hồn cũng có một phương pháp chữa trị. Bởi vì có rất nhiều
bệnh, con người sống trên đời bệnh có hai loại: Một loại là thực sự bị bệnh,
chính là cảm mạo thật đó. Khi một người kiểm tra nửa ngày, nói tôi không kiểm
tra ra bệnh này là bệnh gì, cái này về cơ bản có thể nói 90% là bệnh nghiệp
chướng, tức là trên người có quỷ rồi.
Một
người bà con bạn bè của Trương Quốc Vinh từng nói với tôi, Trương Quốc Vinh
trước khi chết, có mấy lần ngồi cùng bạn bè, đột nhiên anh ấy đứng dậy rất vui
vẻ, trên mặt mang theo nụ cười đi ra ban công, đi đến ban công chân liền bước
lên trên, bạn bè anh ấy nhìn thấy "Này! Này! Cậu làm gì thế!" liền
kéo anh ấy lại. Anh ấy nói: "Ồ, không sao, tớ cảm thấy bên ngoài cực kỳ
tốt, vừa rồi có người bạn gọi tớ ra ngoài xem." Nghe nói có hai đến ba lần
như vậy. Có một ngày trong nhà không có ai, anh ấy cứ thế nhảy lầu xuống. Cái
này là điển hình trên người có "đồ vật". Đến bệnh viện khám, làm sao
cũng không kiểm tra ra, nhưng cứ chỗ này hoặc chỗ kia khó chịu, cái này bạn dù
thế nào cũng phải nghĩ đến đây là một loại bệnh nghiệp chướng.
Cuối
cùng tôi nói với mọi người, tôi muốn để Quan Âm Bồ Tát hiển linh, có thể để
Quan Âm Bồ Tát cho mọi người một pháp bảo, để mọi người cảm nhận một chút
không. Tức là bất kể bạn tin hay không, ví dụ dạy tôi một động tác để mọi người
học theo, có thể có lợi cho sức khỏe, bởi vì tôi chưa bao giờ hiểu khí công,
cũng không biết đánh Thái Cực quyền hay quyền gì đều không biết. Sau khi tôi
hỏi xong câu này, liền nhìn thấy Quan Âm Bồ Tát hiện ra, lúc đó là 8 giờ sáng
ban ngày, sau khi hiển linh, tôi liền cầu Quan Âm Bồ Tát, Quan Âm Bồ Tát sau đó
liền dạy tôi một động tác. Động tác này rất đơn giản, chính là thế này: Tay giơ
lên, năm ngón tay thả lỏng tự nhiên giống như hai đóa hoa sen vậy.
Các
bạn giơ lên như vậy, bạn chỉ cần đầu óc rỗng một chút (không suy nghĩ), năm
ngón tay lập tức sẽ có cảm giác tê tê, làm 3 phút là được. Khi thu động tác
đừng để lãng phí khí này, đem 4 ngón tay gập vào ngón cái chụm lại cuối cùng là
có thể thu rồi, bất cứ lúc nào bất cứ nơi đâu đều có thể làm, động tác này thực
ra giống như rèn luyện thân thể vậy. Nếu bạn làm như vậy một lần, gần như 90%
thính giả ngón tay sẽ tê, lòng bàn tay sẽ nóng, mọi người đều có thể thử xem.
Tôi sau khi biết động tác này cảm thấy rất vui, nhưng tôi không biết giải thích
theo y học. Một hôm, bác sĩ Trần Thế Mẫn đến đài chúng tôi làm chương trình.
Tôi nói với bà ấy Quan Âm Bồ Tát dạy tôi một động tác, tôi nói có thể giúp tôi
giải thích một chút trên phương diện y học hoặc từ phương diện đánh quyền của
các vị không. Kết quả bác sĩ Trần vừa làm xong bà ấy liền nói: "Woa, cái
này tuyệt đối là anh đang thu khí trên trời." Hôm nay tôi giới thiệu động
tác này cho mọi người. Hy vọng mọi người tiếp tục tu tâm cho tốt.
Cuối cùng chúc mọi người vạn sự thuận lợi, sức khỏe dồi dào!
II. Những cảm ứng và phản hồi thần kỳ chân thực sau khi theo Lư Đài trưởng thật tâm học Phật niệm kinh
Do
giới hạn về độ dài, ở đây chỉ liệt kê một phần nhỏ những cảm ngộ và phản hồi
chân thực của các thính giả và cư dân mạng sau khi theo Lư Đài trưởng học Phật
niệm kinh. Nếu muốn tìm hiểu thêm nội dung, vui lòng truy cập trang Blog của Lư
Đài trưởng.
Địa
chỉ Blog của Lư Đài trưởng:
1. Diệu Thông kính dâng Lư Đài trưởng một bài thơ
Kính
chào Lư Đài trưởng kính yêu cát tường! Ban thư ký cần mẫn cát tường!
Tu
theo pháp môn của Đài trưởng đã lâu, trong lòng luôn giữ niềm cảm kích và xúc
động khó diễn tả bằng lời, đột nhiên nảy ra ý tưởng, phỏng theo một bài thơ,
kính dâng lên Đài trưởng! Xin mượn bài thơ này để bày tỏ lòng tri ân đối với
Đài trưởng!
Ngày hôm đó Đêm hôm đó Khoảnh khắc đó Phút chốc đó
Ngày
hôm đó
Con
lạc lối trong màn sương mù vô tận, chợt phát hiện
Đôi
tay hợp thập của Người chống đỡ bến bờ sinh mệnh
Đêm
hôm đó
Con
dừng chân ngoảnh đầu bên bể khổ, không vì đốn ngộ
Chỉ
để tìm kiếm ánh hào quang phản chiếu từ ấn đường của Người
Khoảnh
khắc đó
Con
nhắm mắt mở đôi bàn tay, không vì thiền định
Chỉ
để cảm nhận lòng từ bi rung chuyển đất trời của Người
Phút
chốc đó
Con
nước mắt đầm đìa, chẳng phải bi thương
Chỉ
vì nhìn thấy nụ cười Người nở rộ như đóa sen thanh khiết
Kiếp
sống này
Con
thắp hương trì chú tụng kinh văn, chẳng vì tu kiếp sau
Chỉ
nguyện có thể đi theo dấu chân Từ Hàng phổ độ của Người
——
Dẫu cho, chỉ có thể trong mơ, đi theo Người...
— Diệu Thông, ngày 19 tháng 7 năm 2010
2. Cảm ngộ chân thực sau khi theo Lư Đài trưởng học Phật
Đường
tu hành đằng đẵng, đời người khổ ngắn ngủi, thời gian trôi vô tình, minh sư
thật khó tìm. Là lòng từ bi của Quan Thế Âm Bồ Tát, để con cừu non lạc lối là
con đây, cuối cùng cũng bước ra khỏi mê cung.
Lư
Đài trưởng kính mến, con đã mày mò trong mê cung hơn 30 năm rồi, cuối cùng con
cũng may mắn nghe được phúc âm mà Ngài truyền bá, nội tâm con chấn động mạnh
mẽ. Đó là lần đầu tiên gặp gỡ Ngài, lúc đó còn chưa hẹn trước, vừa gặp mặt chưa
nói quá ba câu, Ngài đã một lời phá tan bến mê, điểm trúng vào chỗ yếu hại của
con, khiến con đốn ngộ. Đây không phải là năng lực mà người bình thường có thể
đạt được. Chỉ vài giây đồng hồ đối với một người trung niên vốn không quen
biết, tổng hợp khái quát, một lời nói toạc ra, chỉ có Phật mới có năng lực này.
Bởi vì "trên đầu ba thước có thần linh", hành vi của chúng ta lúc nào
cũng có thần linh ghi chép, chỉ có tìm được ghi chép từ thần linh mới là đầy đủ
và không sai sót nhất. Là Quan Thế Âm Bồ Tát đã ban cho Ngài năng lực siêu
nhiên, để cứu vãn nhiều người hơn nữa. Ngài chính là sứ giả của Quan Thế Âm Bồ
Tát!
Biết
Ngài hơn một năm nay, nhìn thấy xung quanh ngày càng nhiều người sau khi theo
Ngài niệm kinh tu hành đều lần lượt tốt lên, Ngài đã dẫn dắt một cộng đồng lớn
bước vào thiên đường tại nhân gian. Con vô cùng trân trọng duyên phận được nghe
lời giáo huấn của Ngài, chỉ những ai đã trải qua ma nạn mới càng thêm trân quý;
minh sư khó cầu, chỉ người có trí tuệ mới có thể nhận ra bậc đại trí tuệ chân
chính.
Cha
con từng nhắc nhở con rằng: "Người tiếc phúc thì đắc phúc". Khi đó
con còn quá trẻ, không coi ra gì, chẳng mấy năm sau phúc báo nhanh chóng dùng
cạn, tâm linh gần như sụp đổ. Con thường hối hận vì sự coi thường của bản thân,
20 năm đã trôi qua, dù con có tự trách thế nào thì sự thật cũng không thể cứu
vãn. Bây giờ con mới hiểu, tất cả Quả đều do Nhân tạo thành. Có trải nghiệm
này, con mới bắt đầu hiểu được ý nghĩa chân chính của việc Tiếc Duyên, Tiếc
Phúc.
Lư
Đài trưởng, 20 năm qua con đã sống trong sự tự trách, hơn 20 năm sắp tới, nhờ
có sự chỉ điểm của Ngài, con sẽ ngày ngày niệm kinh, thường thường tu tâm, niệm
niệm thiền hỷ, luôn luôn phát tâm. Trước đây con luôn cảm thấy đường tu hành xa
vời vợi, không biết đi từ đâu, đi đi lại lại, hoa nở rồi lại tàn. Từ khi biết
Ngài, Ngài là như vậy, đến từ một gia đình ba người có vợ có con, đây là cấu
trúc gia đình bình thường, khiến chúng con cảm thấy sự thân thiết. "Phật
pháp nhân gian" mà Ngài kiến tạo khiến mọi người ý thức được rằng, con
đường tu hành nằm ngay dưới chân, mỗi ngày tiến bộ một chút. Trong dòng sông
dài của sinh mệnh, đời người chỉ là một trạm dừng chân, đời người vô thường,
đừng làm đảo lộn thật giả. Đời người giống như học sinh làm bài tập trên lớp,
bản thân bài tập không có tác dụng quá lớn, chỉ là lúc đó giúp học được một
phương pháp. Đời người đều là giả, chúng ta ở trong vở kịch giả mà đối đãi một
cách nghiêm túc, lấy đó để thăng hoa cái tôi chân thực —— linh hồn của chúng
ta.
Tuy
tu hành không dễ, như đi trên băng mỏng, nhưng không phải là xa không thể với
tới. Chỉ cần chúng con tinh tấn, nỗ lực phụng hành Từ Bi Hỷ Xả, dưới sự chỉ đạo
của Lư Đài trưởng, chúng con nhất định sẽ đạt được sự thăng hoa.
Lư
Đài trưởng, Ngài có đại nguyện phi phàm cứu độ chúng sinh. Mười năm sự nghiệp
đài phát thanh của Ngài, đối với một giọng nói xa lạ từ phương xa, Ngài lại đối
đãi bằng cả tấm lòng nhiệt huyết, như vậy chẳng phải có sự kỳ diệu giống như
Quan Thế Âm Bồ Tát "tầm thanh cứu khổ cứu nạn" (nghe tiếng kêu mà cứu
khổ cứu nạn) sao? Đây chính là lý do không ít người thường nghĩ đến Ngài liền
lập tức cảm ứng được: Quan Thế Âm Bồ Tát đang ở nhân gian.
Con
thay mặt người nhà, cảm tạ Quan Thế Âm Bồ Tát, xin khấu bái Quan Thế Âm Bồ Tát;
cảm tạ sứ giả của Quan Thế Âm Bồ Tát - Lư Đài trưởng, xin khấu bái sứ giả của
Quan Thế Âm Bồ Tát - Lư Đài trưởng. Chúc mừng Lư Đài trưởng, năm mới vạn sự đổi
mới.
Nam
Mô Quan Thế Âm Bồ Tát!
— Hồng Sâm Lâm
3. Tu pháp môn chính xác, đi con đường chính, là đại lộ thênh thang, đại lộ ánh dương
Kính
thưa Lư Đài trưởng, kính thưa các vị bằng hữu: Chào mọi người buổi chiều! Tôi
học Phật niệm Kinh thời gian còn quá ngắn, nên cũng không có thể hội gì nhiều.
Bây giờ tôi xin báo cáo với các vị một số ứng nghiệm và cảm nhận mà tôi và gia
đình tôi nhận được sau khi niệm kinh.
Tôi
đến từ Thẩm Dương, Trung Quốc, sang Úc thăm người thân, tục ngữ có câu:
"Hữu duyên thiên lý lai tương hội" (Có duyên ngàn dặm đến gặp nhau),
tôi vượt vạn dặm đến Sydney gặp gỡ Lư Đài trưởng, thật vô cùng khó được! Tháng
11 năm ngoái, một người bạn của con trai tôi nghe nói vợ tôi niệm Kinh tin
Phật, liền tặng chúng tôi một chiếc đài của Đài Phương Đông, cùng các cuốn
sách "Nhất Mệnh Nhị Vận Tam Phong Thủy" và "Thiên
Địa Nhân", chúng tôi như vớ được bảo vật, đọc đi đọc lại nhiều lần,
còn tranh nhau xem. Đối với chương trình của Đài Phương Đông, đặc biệt là
chương trình "Huyền Nghệ Tổng Thuật", chúng tôi nghe trực
tiếp rồi lại nghe phát lại. Cho nên, chúng tôi mong mỏi biết bao có thể gặp mặt
Lư Đài trưởng. Nói ra cũng thật khéo, ngày 19 tháng 12, Đài Phương Đông tổ chức
phóng sinh, cả nhà tôi đều đi, tại sao chúng tôi lại may mắn như vậy? Tôi vừa
ngồi xuống đó, liền có một người bạn tặng tôi một chiếc máy tụng kinh, anh ấy
biết tôi muốn niệm kinh muốn học Phật, người bạn này e là do Quan Âm Bồ Tát
phái đến tặng cho tôi. May mắn hơn nữa là trong buổi giải đáp hôm đó, ông ấy (Đài
trưởng) đã cho tôi cơ hội phát biểu, thật vui mừng khôn xiết, đây là lần đầu
tiên trong đời tôi. Kết quả tôi vừa đặt câu hỏi, cả hội trường đều cười lớn,
ngay cả Đài trưởng cũng cười, chuyện là thế nào? Câu hỏi của tôi là muốn Đài
trưởng xem đồ đằng (Totem), nhưng buổi giải đáp thì không xem đồ đằng, tôi nói
như vậy, Đài trưởng lại thực sự xem cho, tôi hỏi xem cho con gái, kết quả xem
luôn cho cả tôi. Nói quá chuẩn, quá đúng! Quá thần kỳ! Từ đó về sau, tôi tin
Phật rồi, tôi niệm Kinh rồi. Cho nên, cuộc điện thoại đầu tiên tôi gọi cho Đài
trưởng: "Đài trưởng, tôi tin Phật rồi, tôi niệm Kinh rồi", Đài trưởng
vui mừng khôn xiết. Thực ra là tôi khai ngộ rồi, đầu óc tôi thông suốt rồi. Tôi
xuất thân quân nhân, sự giáo dục tôi nhận được đều là tư tưởng duy vật, vợ tôi
nói người như tôi mà có thể học Phật niệm Kinh, quả thực giống như tảng băng
trong nhà tan chảy vậy.
Tiếp
theo tôi xin nói một chút, tôi và Đài trưởng kết duyên chính là bắt đầu từ ngày
phóng sinh 19 tháng 12 đó. Tôi bắt đầu học Phật niệm Kinh, khi tôi niệm Kinh có
chút không giống người khác, quá trình đầu tiên là ngáp, chảy nước mắt và hắt
hơi; quá trình thứ hai là đầu nổi mụn, nổi cục. Mắt đều đỏ lên, cứ nhấp nháy vô
cùng khó chịu. Trong tình huống không có hẹn trước, ngày 16 tháng 2 tôi chạy
đến Đài Phương Đông tìm Đài trưởng, xin Đài trưởng cứu tôi. Tôi vừa vào cửa,
Đài trưởng từ văn phòng đi ra, dường như biết tôi sẽ đến. Ông hỏi tôi: "Cụ
già đến rồi à, có việc gì không?" Nhìn thấy đầu tôi đầy những cục u, liền
hỏi tôi: "Cụ già có phải đang niệm Lễ Phật Đại Sám Hối Văn không?"
Tôi trả lời phải, mỗi ngày 7 biến. Đài trưởng nói: "Không sao đâu, ông về
nhà không ngừng niệm Ngôi Nhà Nhỏ (kinh văn đặc thù), sẽ khỏi thôi." Tôi
tuân theo lời dạy của Đài trưởng, về nhà một ngày niệm một tấm Ngôi Nhà Nhỏ,
tất nhiên có lúc hai ngày niệm một tấm, vì đôi khi trời âm u mưa gió không thể
niệm, cứ như vậy, bây giờ khỏi hẳn rồi. Bình thường ban ngày, trong mắt có rỉ
mắt, rất nhiều, bây giờ khỏi hẳn rồi. Lại nói về gai xương khớp gối hai chân
của tôi, phải dựa vào gậy mới đi được, đau vô cùng, năm nào cũng đi khám bác
sĩ, chụp phim, uống rất nhiều thuốc, mọi phương pháp đều dùng rồi, dùng qua cả
thuốc nhập khẩu từ Mỹ, nhưng mãi không thấy đỡ, chẳng có tác dụng gì. Bác sĩ
bảo tôi thay khớp nhân tạo, 8 vạn tệ. Tôi hỏi thăm vài bệnh nhân đã thay qua,
họ đều nói hiệu quả không lý tưởng lắm, cho nên tôi cũng mãi chưa thay. Sau khi
kết duyên với Đài trưởng, tôi cứ theo tổ hợp Kinh văn Đài trưởng cho mà niệm Kinh,
niệm mãi niệm mãi bây giờ cảm giác đau đớn nhẹ đi nhiều rồi, đi lại cũng nhẹ
nhàng rồi.
Tiếp
theo nói về vợ tôi, bà ấy sức khỏe không tốt, nằm viện suốt, cao huyết áp, bệnh
tim. Ngày 25 tháng 2, đùi bà ấy đột nhiên đau đớn khó chịu, nằm trên giường
động cũng không động đậy được, không biết chuyện gì xảy ra. Kết quả trưa hôm
đó, con gái tôi nằm mơ một giấc mơ, mơ thấy Lư Đài trưởng và đệ tử của ông cùng
nhau khám bệnh cho mẹ nó. Con gái tôi liền kể cho vợ tôi nội dung giấc mơ, và
bảo mẹ yên tâm, nhất định sẽ khỏi. Ngay chiều hôm đó cảm giác đau chân của vợ tôi
giảm rõ rệt, đến ngày hôm sau thì hoàn toàn bình phục. Vợ tôi bắt đầu tin Phật
niệm Kinh từ năm 1995, sau khi kết duyên với Đài trưởng, bắt đầu niệm Kinh theo
tổ hợp kinh văn của Đài trưởng, sức khỏe ngày càng tốt. Huyết áp cơ bản bình
thường, đầu óc cũng minh mẫn, mắt cũng sáng, tinh thần cũng tốt, trước đây ở
nhà, một chút việc nhà cũng không làm được, tất cả việc nhà đều do tôi làm, vợ
tôi bây giờ thường xuyên tranh làm việc nhà với tôi, cho nên, tổ hợp Kinh văn
của Lư Đài trưởng chính là linh đan diệu dược mà Quan Thế Âm Bồ Tát ban xuống
nhân gian.
Mẹ
vợ tôi qua đời năm 1996, chúng tôi cũng đốt không ít tiền giấy và vàng mã cho
cụ, đôi khi còn đến chùa mời hòa thượng siêu độ. Chúng tôi cứ tưởng cụ đã lên
trời rồi, nhưng sau khi gọi điện cho Đài trưởng, Đài trưởng nói cụ đang ở cõi
quỷ, sắp đầu thai làm người rồi, mau chóng niệm cho cụ 21 tấm Ngôi Nhà Nhỏ. Thế
là, chúng tôi theo lời dạy của Đài trưởng, bắt đầu niệm Ngôi Nhà Nhỏ cho cụ.
Khi niệm đến tấm thứ 19, chúng tôi gọi điện cho Đài trưởng, nói đã đến cõi
A-tu-la rồi. Việc mười mấy năm không làm xong mười mấy ngày đã làm xong rồi, Ngôi
Nhà Nhỏ quả thật là loại tốt nhất trong các linh đan diệu dược.
Tôi
lần này đến Úc, có thể kết duyên với Đài trưởng, là phúc phận lớn nhất, phúc
phận khó được nhất của tôi, tôi nhất định phải trân trọng phúc phận này. Tôi
biết người như tôi, bỗng chốc học Phật niệm Kinh con đường phải đi còn rất dài.
Trước đây có người từng nói, kẻ thù của việc học tập là chính mình, tương tự
trên con đường học Phật, bản thân không có quyết tâm, không có niềm tin, không
thành tâm, không hằng tâm (kiên trì), không dụng tâm, không tu tâm tu hành thì
chắc chắn không được. Lư Đài trưởng bảo chúng ta tu Chính pháp đi Chính đạo,
con đường này là đại lộ thênh thang, là đại lộ ánh dương, nếu không sẽ là đường
chết. Chương trình "Huyền Nghệ Tổng Thuật" và "Huyền
Nghệ Vấn Đáp" giúp chúng ta tăng kiến thức, hiểu đạo lý. Sức khỏe
là gì, sức khỏe là hạnh phúc, sức khỏe là tài phú, sức khỏe là phúc. Tôi thống
kê sơ bộ, 80% cuộc gọi tư vấn đều là vấn đề về sức khỏe, muốn có cơ thể khỏe
mạnh, ai có thể cho chúng ta? Lư Đài trưởng có thể cho chúng ta. Lư Đài trưởng
là đặc sứ Quan Thế Âm Bồ Tát phái xuống nhân gian, là hóa thân của Quan Thế Âm
Bồ Tát, làm sự nghiệp vĩ đại và thần thánh, sự nghiệp này chính là để chúng ta
đời đời kiếp kiếp đều tu Phật niệm kinh, làm việc tốt, làm việc thiện, tích
công đức, không làm việc xấu. Có thể tưởng tượng, mọi người đều làm như vậy,
thế giới này tốt đẹp biết bao! Xã hội có thể không hài hòa sao? Tôi từng nói,
Lư Đài trưởng là vĩ nhân thế kỷ, là vĩ nhân thế giới, điểm này không quá đáng
chút nào, cảm ơn Lư Đài trưởng, cảm ơn mọi người!
— Ông Vương, ngày 14 tháng 3 năm 2010
Kính
chào Lư Đài trưởng, trước tiên ở đây tôi xin cúi chào Ngài và các nhân viên Ban
thư ký Đài Phương Đông. Sự chỉ đạo và giúp đỡ vô tư của các vị, khiến những đứa
con sống ở hải ngoại như chúng tôi, tuy không thể tiếp xúc trực tiếp với Lư Đài
trưởng, nhưng có thể kịp thời thông qua BLOG và ghi âm không ngừng học tập, tu
tâm. Các vị vất vả rồi!
Kể
từ khi nghe ghi âm của Lư Đài trưởng, tôi đã hiểu nhân quả, biết niệm Kinh.
Trước đây gặp chuyện không thuận lợi luôn oán trời trách người, bây giờ biết
nguyên nhân rồi, không còn tự bạo tự khí (tự làm khổ mình/buông xuôi) nữa, nỗ
lực sửa đổi. Trước đây tiếp xúc với bạn bè, luôn cảm thấy mình cao hơn người
khác một bậc, không muốn kết giao với người khác, không có mấy bạn bè; bây giờ
bạn bè đều nói, tôi thay đổi rất nhiều, cũng sẵn lòng giới thiệu bạn bè của họ
cho tôi. Chuyện vui nhất là, thông qua niệm kinh, tôi đã tìm được một công việc
FULL-TIME (toàn thời gian) ở Canada. Mặc dù công việc này trong mắt bạn bè bình
thường cảm thấy không ra sao, nhưng đối với tôi, tôi rất trân trọng. Bởi vì từ
nhỏ tôi đều rất tự ti (vì tôi phát âm nhiều âm tiết không tốt thậm chí không
phát âm được, nói chuyện với người khác, nếu gặp người không tốt, nói một lúc
họ liền cười nhạo tôi), khiến tôi ngày càng không dám giao tiếp với người khác.
Du học Canada 4 năm, sau khi tốt nghiệp muốn tìm công việc liên quan đến chuyên
ngành, cuối cùng đều vì vấn đề giao tiếp ngôn ngữ mà thất bại. Có một khoảng
thời gian thậm chí từng nghĩ đi gặp bác sĩ tâm lý, muốn về Trung Quốc, không
muốn ở lại đây nữa. Nhưng nghĩ đến sự mong mỏi của gia đình trong nước, tiến
thoái lưỡng nan.
Sau
này nghe ghi âm của Lư Đài trưởng, biết chỉ cần mình chăm chỉ niệm Kinh, Bồ Tát
sẽ phù hộ. Mỗi ngày ngoài việc học tập cần thiết, tôi bắt đầu niệm Kinh. Được
một tháng rưỡi, bạn bè bảo tôi công ty họ đang tuyển người, bảo tôi thử xem.
Kết quả, tôi thuận lợi được nhận vào làm. Trong lòng vui mừng không thể diễn
tả, đột nhiên nhớ ra viết bài văn này, qua đây cảm tạ Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm
Bồ Tát, cảm tạ Lư Đài trưởng, và các nhân viên Ban thư ký Đài Phương Đông. Tôi
nhất định sẽ tiếp tục tu tâm, niệm Phật thật tốt, dốc sức mình đi giúp đỡ những
người xung quanh để báo đáp các vị.
Một
lần nữa xin cảm ơn!!
— Cô Hoàng
4. Cảm ngộ sau khi theo Lư Đài trưởng học Phật niệm kinh
Chào
các đồng tu Đài Phương Đông!
Bản
thân tôi là một nghiên cứu sinh tiến sĩ kinh tế học toàn thời gian, tôi kết
duyên với Lư Đài trưởng vào tháng 9 năm 2009, đến nay, đã được 7 tháng. Trong
quá trình tu tâm tu hành, học Phật niệm Kinh 7 tháng này, nội tâm tôi rất phấn
chấn, nhiệt huyết học tập của tôi dâng cao chưa từng có. Trong 7 tháng qua, tôi
tổng cộng đã niệm hơn 350 tấm Ngôi Nhà Nhỏ, nghe hơn 400 giờ ghi âm chương
trình của Đài trưởng, viết 7 cuốn sổ ghi chép học tập chương trình của Đài
trưởng tổng cộng hơn 10 vạn chữ. Lời khai thị của Đài trưởng tại buổi giải
đáp "Huyền Nghệ Tổng Thuật" Bắc Sydney ngày 14 tháng
3 năm nay, tôi nghe hơn 10 lần, và chép lại thành văn bản. Trong quá trình tu
tâm tu hành 7 tháng này, tâm linh tôi chịu sự tác động chưa từng có trong đời.
Tôi vô cùng may mắn vì trong chuyến luân hồi nhân gian này có thể gặp được Lư Đài
trưởng, mặc dù hơi muộn. Nhưng tôi tin rằng, sự cần cù tu tập tinh tấn của tôi
sẽ bù đắp sự nuối tiếc này.
Tối
thứ Hai (19 tháng 4) tôi nghe và xem Đài trưởng nói chuyện với các bạn trong
Đoàn thanh niên Đài Phương Đông trên DIMDIM. Nghe đoạn Đài trưởng nói lúc đầu,
tôi không kìm được nước mắt. Đài trưởng nói, bất kể người đến hôm nay nhiều hay
ít, ông đều sẽ giảng như nhau, ông sẽ nói mãi đến khi ông không nói nổi nữa,
xem (đồ đằng) đến khi ông không xem nổi nữa. Đài trưởng còn nói, người có thể thông
linh, thọ mạng sẽ không quá dài, nhiệm vụ ở nhân gian hoàn thành rồi sẽ đi. Khi
tôi nghe những lời này, tôi thực sự rất buồn. Đài trưởng thật là khổ khẩu bà
tâm (tận tình khuyên bảo)! Đài trưởng thực sự là quá vất vả rồi! Ông vất vả như
vậy, một không vì danh, hai không vì lợi. Tâm nguyện duy nhất của Đài trưởng là
muốn mọi người tin tưởng sâu sắc vào Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát, phải
thành tâm thành ý cầu xin sự giúp đỡ của Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát, phải
tin nhân quả báo ứng, phải làm nhiều người tốt, làm nhiều việc tốt.
Tôi
bây giờ có một cảm giác mãnh liệt, đó là: Đời này tôi đến nhân gian, chính là
để biết Lư Đài trưởng. Nếu không, coi như đi một chuyến uổng công. Tôi từ nhỏ
không hứng thú với danh lợi, tôi học trường đại học danh tiếng, tôi có công
việc người khác ngưỡng mộ, tôi lấy người chồng cũng coi là có học vấn. Nhưng
tất cả những điều này đều không phải là việc tôi rất hứng thú. Mãi đến khi biết
Đài trưởng, tôi phát hiện ra thứ tôi thực sự hứng thú, đó chính là tu tâm tu
hành và học Phật niệm Kinh. Tôi sắp nghe hết các bản ghi âm chương trình của
Đài trưởng trên blog rồi, sự quan tâm của Đài trưởng đối với đông đảo chúng
sinh thực sự là vô vi bất chí (tỉ mỉ chu đáo), lớn thì sự nghiệp phát triển,
nhỏ thì chuyện vặt trong nhà, trong chương trình Đài trưởng không lúc nào không
bộc lộ sự quan tâm và tình yêu thương sâu sắc đối với đông đảo thính giả. Tình
yêu này, sao có thể chỉ dùng một chữ "Yêu" để diễn tả!
Tâm
trạng của tôi bây giờ đã quét sạch mây mù 7 tháng trước, trở nên trong sáng và
vui vẻ. Theo sự đi sâu không ngừng của tu tâm tu hành, nụ cười trên mặt tôi
nhiều hơn, thái độ của tôi đối với người nhà tốt hơn, tôi cũng kiên quyết không
nói tục nữa. Đồng thời, sự hiểu biết của tôi về cuộc đời cũng ngày càng rõ
ràng: Vạn ban đới bất tẩu, duy hữu nghiệp tùy thân (Muôn thứ không mang đi
được, chỉ có nghiệp theo mình). Tôi tin chắc, chỉ cần Đài trưởng còn ở thế gian
này, chỉ cần tôi có thể gặp Đài trưởng, thì khó khăn lớn bằng trời, tôi cũng
không sợ. Tại đây, tôi chân thành cảm tạ Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát phù
hộ cho tôi đời này có cơ hội kết duyên với Lư Đài trưởng.
Ngoài
ra, tôi rất ngưỡng mộ các đồng tu sống ở Sydney. Họ có thể có nhiều cơ hội gặp
Đài trưởng như vậy, có thể có nhiều cơ hội lắng nghe lời Đài trưởng nói như vậy,
có thể có nhiều cơ hội đến Quan Âm Đường Đài Phương Đông lạy Đại Từ Đại Bi Quan
Thế Âm Bồ Tát. Tất nhiên, các đồng tu không ở Sydney cũng phải tràn đầy niềm
tin: Chỉ cần chúng ta dùng một trái tim chân thành đi cầu xin Đại Từ Đại Bi
Quan Thế Âm Bồ Tát, chúng ta nhất định sẽ nhận được sự quan ái của Đại Từ Đại
Bi Quan Thế Âm Bồ Tát. Mọi người phải tin chắc: Tâm thành tắc linh!
— Isabel, ngày 28 tháng 4 năm 2010
Kính
gửi Lư Đài trưởng kính yêu:
Khi
con nhìn thấy bài viết của vị đồng tu kia về lời Ngài nói với các bạn Đoàn
thanh niên Đài Phương Đông: Bất kể người đến hôm nay nhiều hay ít, ông đều sẽ
giảng như nhau, ông sẽ nói mãi đến khi ông không nói nổi nữa, xem (đồ đằng) đến
khi ông không xem nổi nữa. Đài trưởng còn nói, người có thể thông linh, thọ mạng
sẽ không quá dài, nhiệm vụ ở nhân gian hoàn thành rồi sẽ đi... Nước mắt tuôn
rơi!!! Thực sự đau lòng!! Không muốn lặn (im lặng) nữa, con nhịn không nổi nữa
muốn nói với Đại đức Lư Đài trưởng rằng, chúng con tôn kính yêu mến Ngài như
tôn kính cha mẹ, chúng con đều là con của Ngài, xin Ngài ngàn vạn lần bảo trọng
sức khỏe! Ngàn vạn lần đừng dùng quá nhiều tinh khí thần vào việc xem đồ đằng
cho mọi người, bởi vì chúng sinh vô số kể, nhưng Lư Quân Hoành Đài trưởng chúng
con chỉ có một!
Chúng
sinh hữu duyên tự đến kết duyên, không cần cưỡng cầu bản thân phải thế nào thế
nào, chỉ có Lư Đài trưởng sức khỏe dồi dào trường thọ, mới có thể dẫn dắt mọi
người tu hành tinh tấn hơn, mới có tinh lực đi cứu độ nhiều chúng sinh hữu
duyên hơn! Xin Lư Đài trưởng nhất định nhất định phải lợi tha trên cơ sở tự
lợi, nếu không tuy có hai chữ "Xả Đắc" (xả bỏ và đắc được), nhưng nếu
được không bù nổi mất, đối với bách tính thường dân chúng con, là sự nuối tiếc
lớn nhất. Cũng chân thành khuyên đông đảo thính giả và các bạn tu hành, bạn
nghe được lời nói trực tiếp của Đài trưởng, nghe được giải đáp của Đài trưởng,
cho dù không phải vấn đề của chính bạn không phải đồ đằng của chính bạn, cũng
nên tri túc cảm ân!
Đài
trưởng đã dạy cho chúng ta pháp môn tu hành, tự cứu mình cứu người vô cùng tốt
vô cùng hiệu quả, chúng ta trước tiên tranh thủ tự cứu, mọi điều may mắn và bất
hạnh đều là quả báo đời này của nhân nhiều đời, có nặng có nhẹ có hoãn có gấp,
chúng ta hãy đặt cái tâm ích kỷ trong báo thân đời này xuống trước, nghĩ nhiều
hơn một chút đến nỗi khổ của người khác, bạn tức là tôi, tôi tức là bạn, tôi
tốt bạn tốt, bạn tốt tôi tốt. Cuối cùng, nếu không phải việc lớn liên quan đến
sống chết, xin mọi người trước tiên đừng tìm Lư Đài trưởng xem đồ đằng, đừng
phan duyên (cưỡng cầu duyên), nếu chỉ là một số vấn đề đơn giản trong tu hành
không tiêu hao quá nhiều tinh lực của Đài trưởng, xin mọi người nói ngắn gọn
súc tích, giảm bớt sự ích kỷ, một là để bảo vệ tinh lực của Đài trưởng, hai là
để tiết kiệm thời gian cho những người khác cần sự giúp đỡ hơn. Chân thành cầu
xin Quan Thế Âm Bồ Tát từ bi phù hộ Lư Quân Hoành Đài trưởng pháp thể an khang,
trường cửu trụ thế, tạo phúc chúng sinh!! Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ
Tát!!
Cư dân mạng
Đọc
bài "Cảm ngộ khi theo Lư Đài trưởng niệm kinh học Phật" của
vị đồng tu này không kìm được nước mắt tuôn rơi, cảm ân Đại Từ Đại Bi Lư Đài
trưởng quả thực là quá vất vả rồi, đồng thời cầu xin Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm
Bồ Tát có thể phù hộ Lư Đài trưởng mãi mãi mạnh khỏe trường thọ, hãy để chúng
ta mỗi ngày kiên trì niệm tụng Đại Bi Chú cho Đại Từ Đại Bi Lư
Đài trưởng nhiều nhất có thể nhé, bởi vì chính ông đã chỉ dẫn chúng sinh chúng
ta bước lên con đường học Phật niệm kinh, để chúng ta có thể buông bỏ phiền não
cá nhân, không còn tham sân si nữa, Lư Đài trưởng chính là cứu tinh của chúng
ta, ngọn đèn chỉ đường của chúng ta, chúng con không thể không có Ngài —— Lư
Đài trưởng!
Nguyện
chúng sinh chịu khổ trong thiên hạ có thể có duyên kết giao với Phật pháp của
Lư Đài trưởng nhiều nhất có thể, để được lìa khổ được vui!
Nguyện
Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát có thể từ bi cho Lư Đài trưởng mãi mãi mạnh
khỏe trường thọ!
So
với sinh mệnh, phiền não cá nhân không đáng nhắc tới, Phật pháp mãi mãi trong
tâm ta, người hữu duyên mãi mãi hạnh phúc!
— huayi0181_ f835
5. Pháp môn của Lư Đài trưởng là Tụ Bảo Bồn
Xin
tự giới thiệu, tôi là mẹ của Thẩm (Thẩm mama), là một cư sĩ ở Thượng Hải. Hôm
nay tôi muốn kể về quá trình và trải nghiệm tiếp xúc với sách của Lư Đài
trưởng. Tháng 7, tháng 8 năm ngoái, hàng xóm nói muốn tặng tôi một cuốn kinh
sách, kết quả tặng tôi cuốn "Nhất Mệnh Nhị Vận Tam Phong
Thủy". Vừa nhìn tên sách, tôi liền kết luận, đây không phải kinh sách,
là sách bói toán. Do tò mò, tôi lật vài trang, cảm thấy rất độc đáo, lần đầu
tiên tôi biết đến "Huyền Nghệ Tổng Thuật" của Lư Đài trưởng, lần đầu
tiên biết Đài trưởng xem đồ đằng (Totem) khám bệnh từ xa cho người khác, lần
đầu tiên biết hai chữ "Linh tính". Lúc đó tôi rất muốn đọc tiếp cuốn
sách, nhưng do vừa phẫu thuật đục thủy tinh thể, nên không thể đeo kính đọc
sách. Cuốn sách hay như vậy để không cảm thấy rất tiếc, bèn cho người bạn thân
là dì Mã mượn xem. Dì ấy ban ngày trông cháu gái, buổi tối nhân lúc cháu ngủ,
đọc thông mấy đêm liền. Ngày nào cũng gọi điện cho tôi kể nội dung trong sách.
Dì ấy nói: "Cuốn sách hay thế này, bà kiếm đâu ra vậy? Thật không muốn trả
lại bà". Tôi thấy dì ấy thích như vậy, lại đi hỏi hàng xóm xem còn không,
cho tôi thêm một cuốn, cô ấy không tin Phật, đem cuốn duy nhất còn lại cho tôi.
Tôi và dì Mã mỗi người một cuốn, hai người ngày nào cũng đọc, ngày nào cũng
trao đổi, không biết đọc bao nhiêu lần, không biết gọi bao nhiêu cuộc điện
thoại, càng đọc càng thấy sách hay, càng đọc càng tăng thêm rất nhiều kiến
thức. Cuốn sách này giống như cái Tụ Bảo Bồn (chậu tụ báu vật), bên trong có
những báu vật đãi mãi không hết. Sau đó chúng tôi còn học cách lên blog của Lư
Đài trưởng, học niệm "Ngôi Nhà Nhỏ" (Kinh văn đặc thù), làm thế nào
thắp hương vào mùng một, ngày rằm v.v.
Kể
từ khi tôi có duyên đọc sách của Lư Đài trưởng, cộng thêm sự trao đổi với bạn
bè, thực tiễn của bản thân, tôi tin tưởng sâu sắc không chút nghi ngờ đối với
pháp môn của Lư Đài trưởng. Tổ hợp kinh văn của Đài trưởng, trong sách công phu
sáng tối đều có, có căn cứ để tra cứu, không phải tà môn ngoại đạo. Trong thời
kỳ Mạt pháp, xã hội quá loạn, cám dỗ quá lớn, độ khó của việc tu trì Phật pháp
càng cao. Quan Thế Âm Bồ Tát từ bi, hóa thân thành Lư Đài trưởng để cứu độ
chúng sinh hữu duyên. Tổ hợp Kinh văn của Lư Đài trưởng giúp người hữu duyên tu
trì Phật pháp đi đường tắt. Để Thiên, Địa, Nhân đều được lợi ích, tôi chính là
một trong số đó, dưới đây xin nói về vài việc xảy ra trên người tôi.
Việc
thứ nhất là phát nguyện. Lư Đài trưởng trong sách nói, kiến cũng có linh tính,
không được cố ý làm hại. Năm 1997 trong tấm ngăn nước ở nhà bếp nhà tôi xuất
hiện rất nhiều kiến, bò vào tủ bát, hũ đường, cuối cùng hết cách tôi bèn dùng
bình xịt giết rất nhiều kiến. Tôi là bà nội trợ, bình thường sát sinh cũng rất
nhiều. Năm 2003 bắt đầu khớp ngón chân cái chân trái và khớp đầu gối chân phải
của tôi bắt đầu đau, buổi tối đau không ngủ được, chữa rất lâu có đỡ nhưng
không dứt điểm, thường xuyên tái phát. Đọc chương về kiến của Đài trưởng, biết
rằng đối với động vật đã làm hại phải niệm "Vãng Sinh Chú" siêu
độ. Ngày nắng mỗi ngày niệm 108 biến "Vãng Sinh Chú",
niệm đủ 365 ngày cho những động vật nhỏ từng làm hại trước đây. Từ khi phát
nguyện đến nay đã 5 tháng không đau nữa, hiện tại niệm "Vãng Sinh
Chú" đã niệm được hơn một tháng rồi.
Việc
thứ hai, cuối năm ngoái sau khi có mẫu Ngôi Nhà Nhỏ, trước tiên niệm cho mình 8
tấm, lại niệm cho con trai cả ở Mỹ 12 tấm Ngôi Nhà Nhỏ. Vì con trai cả năm 2009
một năm chặt ba cái cây to mấy chục năm tuổi, đọc sách của Đài trưởng xong,
biết được tính nghiêm trọng của vấn đề. Ngay sáng mùng một Tết năm nay khoảng
7:30, mơ thấy bố chồng đã quá cố, cụ nói với tôi: "Bố đá nó một cái."
Sau đó òa khóc nói: "A! Đồ đạc của tôi bị chúng nó chia hết rồi." Nói
xong ngã vật ra, tôi vội vàng đỡ lấy cụ thì tỉnh dậy. Giấc mơ rất rõ ràng, cẩn
thận nhớ lại cảnh trong mơ, đối chiếu với sách của Đài trưởng, biết là đến đòi
kinh. Bắt đầu từ mùng một Tết, trong năm mới niệm cho cụ 4 tấm Ngôi Nhà Nhỏ,
mỗi lần niệm xong, sống lưng lạnh toát, lỗ chân lông dường như đều mở ra, giống
như trước khi sốt vậy, từng trận từng trận lạnh, tìm không ra nguyên nhân, cho
nên cũng không để ý. Sau này biết đó là linh tính nhập thân, phải mau chóng
niệm Ngôi Nhà Nhỏ.
Việc
thứ ba, từ ngày 3 tháng 3 tức ngày 18 tháng Giêng chính thức mỗi ngày
niệm "Đại Bi Chú", "Tâm Kinh", "Lễ
Phật Đại Sám Hối Văn" mỗi loại 7 biến, tu trì được khoảng nửa
tháng, bệnh đau lưng của tôi tái phát, không động đậy được, không có sức lực,
người rất khó chịu, sắc mặt như giấy vàng. Sau này biết linh tính bị kích hoạt,
phải mau chóng niệm Ngôi Nhà Nhỏ cho chính mình, thế là niệm cho mình 16 tấm Ngôi
Nhà Nhỏ. Do trước tiết Thanh Minh lại niệm cho bốn vị cha mẹ quá cố 10 tấm Ngôi
Nhà Nhỏ. Bây giờ niệm Ngôi Nhà Nhỏ đã không còn cảm giác lạnh nữa, lưng cũng đỡ
hơn một nửa, sắc mặt so với trước đây cũng chuyển biến tốt.
Việc
thứ tư càng tiêu biểu hơn, càng chứng minh pháp môn của Lư Đài trưởng linh
nghiệm đến cực điểm. Con dâu tương lai của tôi là cô gái Đài Loan, ngày 6 tháng
3 đến Thượng Hải. Mọi người đều biết, Thượng Hải hiện nay tìm việc rất khó, tìm
công việc vừa ý càng khó hơn, nhưng tôi đã có tính toán trong lòng, bởi vì tôi
tin tưởng sâu sắc tổ hợp kinh văn của Lư Đài trưởng tuyệt đối hữu hiệu. Ngày 8,
9 tháng 3, tôi hỏi con dâu, con có muốn tìm một công việc vừa nhanh vừa tốt
không? Cháu nói muốn ạ! Tôi nói vậy con nghe lời mẹ niệm Kinh đi. Người Đài
Loan vẫn khá tin tưởng, tôi giới thiệu tổ hợp kinh văn tìm việc của Lư Đài
trưởng: "Đại Bi Chú", "Tâm Kinh", "Lễ
Phật Đại Sám Hối Văn" mỗi loại 7 biến, "Chuẩn Đề
Thần Chú" 49 biến hoặc 108 biến, cháu chọn niệm 108 biến. Tôi
trước tiên cho cháu xem sách của Lư Đài trưởng, cháu cũng đọc rất nghiêm túc,
từ ngày 15 bắt đầu chính thức niệm Kinh, hơn nữa quỳ trước bàn thờ Phật niệm,
khi cháu niệm Kinh tôi cũng niệm cho cháu 8 tấm Ngôi Nhà Nhỏ. Kỳ tích xuất hiện
vào ngày thứ hai sau khi niệm Kinh, liền có điện thoại gọi phỏng vấn, ngày thứ
tư lại có điện thoại gọi phỏng vấn, đến ngày thứ mười là ngày 24 tháng 3. Hiện
tại đã đi làm, lương 6000 nhân dân tệ, mà đơn vị này trước đây con dâu tôi từng
nộp hồ sơ một lần không cho cơ hội phỏng vấn. Sau khi niệm tổ hợp Kinh văn của
Lư Đài trưởng, thế mà mười ngày đã tìm được một công việc vừa ý hài lòng. Thật
không thể tưởng tượng nổi, con dâu bây giờ cũng ngày ngày niệm Kinh. Tôi cảm
kích Lư Đài trưởng phục sát đất, càng vui mừng vì theo Lư Đài trưởng học Phật
lại có thêm một đồng tu trẻ tuổi.
Thứ
nhất, tôi muốn cảm tạ Lư Đài trưởng đại từ, đại bi, cứu khổ cứu nạn truyền cho
chúng tôi pháp môn tốt như vậy, để chúng tôi đi đường tắt trên con đường học
Phật, khiến Thiên, Địa, Nhân đều được phúc.
Thứ
hai, tôi muốn cảm tạ ngòi bút tài hoa của ông Lương Tiêu, đã phát huy pháp môn
của Lư Đài trưởng đến mức tinh tế, xuất thần nhập hóa, từ nông đến sâu, khiến
chúng tôi thích thú không buông tay, nhận được lợi ích không nhỏ.
Thứ
ba, tôi còn muốn cảm tạ các đồng tu cùng nhau học Phật, nhờ sự nỗ lực chung và
giúp đỡ của mọi người, tôi mới có cơ hội hôm nay giới thiệu tình hình với mọi
người. Cảm ơn mọi người!
— Cư sĩ Thượng Hải - Thẩm mama, ngày 9 tháng 5 năm 2010
6. Theo Đài trưởng học Phật, niệm Kinh đã cho tôi cuộc sống mới
Kính
chào Lư Đài trưởng, Ban thư ký, các vị đồng tu!
Trước
tiên tôi muốn cảm ơn Lư Đài trưởng, Ban thư ký, các vị vất vả rồi! Đồng thời
cảm ân Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát và Lư Đài trưởng đã
mang pháp môn tốt như vậy đến cho mọi người, để chúng tôi thụ hưởng lợi ích vô
cùng. Bình thường xem blog của Đài trưởng tôi đều thuộc dạng "tàu
ngầm" (âm thầm theo dõi), hôm nay sau khi niệm 7 biến "Đại Bi
Chú" cho Đài trưởng, trong lòng trỗi dậy một nguyện vọng mãnh
liệt, muốn mượn diễn đàn này để chia sẻ với mọi người cảm nhận của tôi sau khi
theo Lư Đài trưởng học Phật niệm kinh, để nhiều bạn hữu được lợi ích hơn! Chỗ
nào không thỏa đáng kính mong Lư Đài trưởng, Ban thư ký và các vị đồng tu chỉ
chính.
Tôi
từ nhỏ sống trong một gia đình cán bộ, cha mẹ đều rất yêu thương tôi, cuộc sống
trôi qua êm đềm, nhưng tai nạn năm 19 tuổi đã khiến nhân sinh quan và tín
ngưỡng của cả con người tôi thay đổi rất lớn. Đầu tiên là bị một tai nạn xe bất
ngờ làm bị thương chân trái, sau đó lại gặp sự kiện tâm linh, cuối cùng cả
người trở nên rất ngốc nghếch, ngay cả giao tiếp ngôn ngữ bình thường với người
nhà cũng không được, bởi vì lúc đó cảm giác người đã rỗng rồi, linh hồn không
còn, lời trong lòng muốn nói, miệng cũng không diễn đạt ra được, chỉ có thể
dùng bút và giấy giao tiếp với người nhà. Cha mẹ vô cùng lo lắng, chạy chữa
khắp nơi, bệnh viện đưa ra kết luận là hội chứng thiếu Kali và trầm cảm (bây
giờ học Phật xong mới hiểu đây là bệnh phần âm/bệnh linh tính, là có linh tính
nhập thân đòi nợ). Tôi cảm thấy cuộc sống rất vô nghĩa, đối với thế giới này
cũng không còn quá nhiều lưu luyến, cả ngày chỉ nghĩ làm thế nào kết thúc sinh
mạng của mình.
Có
một lần dây thừng treo cổ đã chuẩn bị xong, đang chuẩn bị thực hiện, lúc này
trong đầu đột nhiên có một giọng nói nói với chính mình: Ngươi không thể đi như
thế này được, nếu đi như vậy sao ngươi xứng đáng với cha mẹ cực khổ nuôi nấng
ngươi, hơn nữa lại tự vẫn trong nhà cha mẹ, người khác cũng sẽ cho rằng ngươi
làm chuyện gì mờ ám mới như vậy, ngươi ngàn vạn lần không được làm thế! Nghe
thấy vậy cả người tôi đột nhiên tỉnh táo lại, sau này nghĩ lại vẫn thấy sợ.
Việc này ảnh hưởng rất lớn đến tôi, đến nỗi hơn mười năm để lại bóng ma tâm lý
rất sâu, hơn nữa cứ đến tối là nảy sinh cảm giác sợ hãi, đặc biệt nhát gan. Từ
đó về sau tôi tin thế giới này thực sự có không gian khác và linh hồn tồn tại,
hơn nữa Bồ Tát quỷ thần v.v. cũng không chỉ là miêu tả trong phim ảnh tiểu
thuyết, họ ở ngay bên cạnh chúng ta. Có lẽ cũng là có duyên với Phật, tôi lúc
đó tuy chưa tiếp xúc với Phật pháp, nhưng trong tiềm thức tôi nhận định kiếp
trước chắc chắn là tin Phật, kiếp này khi gặp nguy hiểm Bồ Tát từ bi ra tay cứu
giúp, hơn nữa tôi vô cùng nhận định chính mình là do Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu
Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát cứu, thế là tôi mang theo trái tim biết ơn sống nghiêm
túc mỗi ngày.
Mãi
cho đến tháng 9 năm ngoái, tôi lại nhìn thấy blog của Lư Đài trưởng trên mạng,
thực sự rất vui rất kích động, nhìn thấy ảnh của Lư Đài trưởng và nghe giọng
nói của ông tôi cảm thấy thật thân thiết, giống như một người trưởng bối trong
nhà mình vậy, tôi cũng dường như tìm thấy cảm giác về nhà. Trước đây tuy có tín
ngưỡng nhưng không gặp được một người thầy giỏi chỉ dẫn, bây giờ tôi đã nhìn
thấy ánh sáng. Từ khi tiếp xúc blog của Đài trưởng tôi liền phát tâm ăn chay
trường, phóng sinh nhiều, làm nhiều việc tốt, làm nhiều công đức. Tôi dựa theo
nội dung giới thiệu trong phần hướng dẫn tài nguyên bài viết của Đài trưởng mà
học tập từng bước, trước tiên học tập tìm hiểu từ "Nhất Mệnh Nhị
Vận Tam Phong Thủy", "Thiên Địa Nhân" về
những điều vốn không ai biết của thế giới này. Tôi muốn nói hai cuốn sách này
thật hay, nó là ghi chép về các trường hợp điển hình trong chương trình của Đài
trưởng, thuộc kiến thức cơ bản, các bạn mới học nhất định phải nhớ đọc. Từ đó
tôi hiểu vấn đề nào thuộc phạm trù này, sau này gọi điện thoại cho Đài trưởng
hỏi vấn đề như thế nào v.v. (mặc dù đến nay tôi vẫn chưa gọi đường dây nóng của
Đài trưởng, vì tôi cho rằng chỉ cần tu thật tốt theo pháp môn Đài trưởng dạy,
rất nhiều việc đều có thể tự mình giải quyết, đồng thời cũng phải nghĩ cho Đài
trưởng nhiều hơn, tiết kiệm Khí của Đài trưởng, Đài trưởng rất vất vả, điện
thoại đường dây nóng nên dành cho những bạn hữu có bệnh cấp tính, bệnh nan y).
Sách
đọc mấy lần, bắt đầu tham khảo đơn thuốc Kinh văn Đài trưởng kê cho người khác
kết hợp với tình hình thực tế của bản thân làm bài khóa (công phu tu tập) mỗi
ngày. Nghiêm túc nghe chương trình ghi âm của Đài trưởng cũng rất quan trọng,
về cơ bản mỗi kỳ chương trình tôi đều không bỏ sót, chỗ quan trọng tôi còn kiên
trì ghi chép lại. Làm bài khóa một thời gian tôi mang tâm lý cầu may, vẫn chưa
niệm Ngôi Nhà Nhỏ cho "người đòi kinh" (oan gia trái chủ) của mình,
chủ yếu là sợ công lực của mình chưa đủ. Nhưng có một lần khi niệm "Lễ
Phật Đại Sám Hối Văn" tự tu (tự sám hối), đột nhiên òa khóc nức
nở, nhớ đến đứa con tôi từng sảy thai trước đây, kết hợp với một giấc mơ đêm
hôm trước, mơ thấy một người bạn dẫn con của cô ấy đến thăm tôi, trong mơ ánh
mắt đứa trẻ đó rất vô vọng, cứ nhìn tôi mãi, ấn tượng sâu nhất là đứa trẻ đó
thế mà không đi giày, cảm giác trong mơ cho tôi thấy rất đáng thương. Sau đó
tôi nghĩ có thể là đứa con sảy thai sợ tôi không nhận ra, nên dùng thân phận
con của bạn hiện ra cho tôi xem, đây chính là đang hỏi tôi đòi Kinh mà! Tôi bắt
đầu nghiêm túc niệm Ngôi Nhà Nhỏ cho đứa con sảy thai, vì giữa chừng đi công
tác không tiện nên gián đoạn mấy ngày, lại nằm mơ rồi, trong mơ có giọng nói
nói với tôi: Ngươi trả hết tiền nợ mua nhà cho ta đi! Trong mơ tôi cho rằng
chất lượng căn nhà không tốt còn không tình nguyện trả hết, sau khi về nhà nghĩ
lại như vậy là không đúng, nợ tiền trả tiền là chuyện thiên kinh địa nghĩa hơn
nữa bản thân phạm phải còn là tội sát sinh, rất nặng mà! Giấc mơ này nhắc nhở
tôi không thể lơ là và khi niệm còn phải chú ý chất lượng, thế là tiếp tục.
Niệm
đến gần hơn 30 tấm lại nằm mơ một giấc mơ, trong mơ vẫn là đứa con của người
bạn đó ăn mặc rất đẹp, tóc tai chải chuốt cũng rất gọn gàng, cười với tôi, còn
làm những động tác vui vẻ trên mặt với tôi, tôi nghĩ lần này cuối cùng cũng
siêu độ xong cho đứa con sảy thai của mình rồi, rất vui đồng thời trong lòng
cũng bình yên hơn rất nhiều. Pháp môn của Đài trưởng thần kỳ như vậy đấy! Còn
một chỗ muốn nói với các đồng tu là chân trái bị tai nạn xe trước đây của tôi
mỗi khi trời mưa là đau, bây giờ sau khi theo Đài trưởng niệm kinh cũng khỏi
rồi, niệm "Giải Kết Chú" quan hệ với chồng cải thiện
rất nhiều, điều khiến tôi an ủi nhất là con gái 8 tuổi cũng có thể chấp nhận
Phật pháp niệm Kinh văn, tôi thực sự rất vui! Đồng thời tôi giới thiệu pháp môn
của Đài trưởng cho một người bạn rất tốt, chúng tôi gần như bắt đầu niệm Kinh
cùng lúc, bạn tôi bây giờ cũng có thu hoạch rất lớn, gia đình tốt lên, sự
nghiệp thuận lợi, con nhỏ mấy tuổi cũng chủ động niệm kinh, mỗi ngày hai chúng
tôi đều phải trao đổi tâm đắc niệm Kinh, từ đó không ngừng cùng nhau học tập,
giao lưu, tiến bộ!
Các
vị đồng tu, sở dĩ tôi viết ra đoạn trải nghiệm đặc biệt này của mình, chủ yếu
là vì sau khi tiếp xúc pháp môn của Đài trưởng tôi đã hoàn toàn bước ra khỏi
bóng ma hơn mười năm trước, cuộc sống xảy ra thay đổi rất lớn, tôi muốn khuyên
nhiều người hữu duyên hơn nữa học tập pháp môn của Lư Đài trưởng, tu tâm niệm Kinh
thật tốt! Tất nhiên so với các đồng tu khác tôi tự nhận thấy mình học tập vẫn
chưa đủ, nghiệp chướng trên người mình cũng rất nặng, sau này phải tiếp tục
tinh tấn tu hành, không phụ ơn cứu mạng to lớn của Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu
Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát! Một lần nữa cảm ơn Lư Đài trưởng, Ban thư ký, các vị
đồng tu! Chúc Lư Đài trưởng mạnh khỏe!
— Phật hữu mmcyly, ngày 26 tháng 6 năm 2010
Tôi
lúc đầu niệm Ngôi Nhà Nhỏ cũng rất sợ, sợ đến mức hơi quá đáng, buổi tối không
dám ngủ, có lúc sợ đến toàn thân run rẩy, buổi tối còn bị bóng đè (quỷ áp
thân), còn có người bóp cổ tôi, thật sự là sợ chết khiếp, may mà vượt qua được,
niệm được 18 tấm Ngôi Nhà Nhỏ rồi, bây giờ thực sự như thay đổi thành một người
khác, đi đường đêm cũng không sợ nữa, vẫn là đường quê ở quê nhà, tất nhiên
phải vừa đi vừa niệm "Đại Bi Chú", hi hi. Còn nữa là cảnh
trong mơ, thần kỳ vô cùng, ví dụ nói chuyện với người trong mơ, để họ nói cho
tôi biết một số việc tôi muốn biết. Hy vọng các đồng tu có nỗi sợ hãi tăng
cường niềm tin, cùng nhau tiến bộ.
Cư dân mạng
Nếu
ai lần đầu nhìn thấy bài chia sẻ này của anh Phan xin ngàn vạn lần đừng nghi
ngờ, tôi tiếp xúc blog của Đài trưởng vào ngày 5 tháng này, ngay hôm đó tôi bắt
đầu niệm Kinh, bởi vì trong nhà tôi có sẵn Kinh văn, nhưng tôi chưa bao giờ
đọc, không phải tôi không tin mà là hoàn toàn không có ai bảo tôi đọc thế nào
và đọc cái gì, tôi tin sâu vào Phật, nhưng bao nhiêu năm nay luôn mù quáng theo
đuổi, không có phương pháp cụ thể, cũng giống như tôi muốn thi vào một chuyên
khoa máy tính, mỗi ngày đi học, đâu có sách thì đến đó xem, không biết nên học
như thế nào, nên xem sách gì mới có thể thi đậu vào chuyên khoa mình muốn.
Tôi
cũng giống anh Phan bị đau lưng, đau hơn một năm rồi, hơn nữa có hai lần cũng
đau đến mức không động đậy được phải đưa đi cấp cứu tiêm thuốc giảm đau, cũng
đi khám Tây y, Đông y rất nhiều, chiếu chụp đủ các loại máy móc tiên tiến, nói
là thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng 3 đốt, kết quả khám là một câu nói của
bác sĩ: "Sau này anh không cần đến khám tôi nữa, nếu đau thì uống thuốc
giảm đau, đợi nghiêm trọng hơn chút tôi giúp anh phẫu thuật." Từ ngày 5
đến nay tôi theo phương pháp Đài trưởng nói bắt đầu niệm kinh chưa đến một
tháng, Ngôi Nhà Nhỏ niệm được 3 tấm, còn chưa đến một tháng, lưng tôi đã khỏi
90%, chỉ là vẫn chưa thể đứng thẳng cúi lưng xuống, nhưng cảm giác đau đớn cơ
bản là không còn nữa.
Trước đây tôi không kiêng ăn bất cứ loại thịt nào, bao gồm cả
thịt bò, hôm kia tôi và bạn đi chơi, gọi món bò viên trước đây rất thích ăn,
đột nhiên cảm thấy rất buồn nôn, không muốn ăn thịt bò nữa, ngày mai tôi định
đến chùa thề nguyện sau này vĩnh viễn không ăn thịt bò nữa. Quá thần kỳ, tôi
cũng cố gắng giới thiệu pháp môn này cho bạn bè. Cảm ơn pháp môn Đài trưởng dạy
đã cứu tôi, không ngờ tốn bao nhiêu tiền chữa không khỏi, chỉ 20 ngày không cần
tốn tiền cũng không cần tốn sức, ở nhà niệm niệm kinh, là có thể chữa khỏi bệnh
của mình, những người còn chưa bắt đầu, các bạn còn đợi gì nữa? Hy vọng Đài
trưởng bảo trọng nhiều!!
7. Căn bệnh dai dẳng lâu năm không khỏi đã được chữa lành nhờ niệm Đại Bi Chú và "Ngôi Nhà Nhỏ"
Kính
gửi Bồ Tát Lư Đài trưởng từ bi:
Con
viết email này với lòng biết ơn vô hạn và sự trang trọng tột cùng, nếu trong
đây có một câu nói dối nào, con xin chịu quả báo xuống địa ngục.
Do
tội nghiệp sâu nặng, 6 năm trước con mắc bệnh phổi, dai dẳng mãi không khỏi,
thường xuyên ho ra đờm có máu, thuốc Tây - thuốc Bắc uống vô số kể cũng không
có hiệu quả bao nhiêu.
Thứ
Tư, ngày 21 tháng 4 năm nay, con cúng dường một vị Thượng sư Tây Tạng, lại tùy
hỷ chút tiền phóng sinh, có lẽ nhờ công đức này, ngay tối hôm đó con đã nhìn
thấy blog của Lư Đài trưởng trên mạng. Cái nhìn đầu tiên thấy ảnh của Lư Đài
trưởng, con đã cảm thấy vô cùng vô cùng quen thuộc, không biết tại sao, có lẽ
kiếp trước con từng theo Lư Đài trưởng học Phật chăng, hi hi, đây là con tự
tưởng tượng thôi. Tiếp đó sau khi xem các bài viết trên blog, con đã bị thu hút
sâu sắc, con cảm thấy mình đã tìm được cứu tinh.
Ngày
hôm sau, thứ Năm, con lại cẩn thận học một lượt các bài viết trên blog của Lư
Đài trưởng, có hiểu biết sơ bộ về Ngôi Nhà Nhỏ (kinh văn đặc thù) và các kiến
thức khác. Thế là vào ngày thứ Sáu, trong giờ chương trình "Huyền
Nghệ Tổng Thuật", con đã gọi được vào đường dây nóng, nhưng hôm đó
chương trình không xem đồ đằng (Totem). Lư Đài trưởng từ bi nghe nói con bị ho
ra máu, liền hướng dẫn con ngay hôm đó niệm 49 biến Đại Bi Chú, nói
niệm xong sẽ không ra máu nữa, sau đó niệm 37 tấm Ngôi Nhà Nhỏ cho "người
đòi kinh" (oan gia trái chủ), lại niệm 28 tấm Ngôi Nhà Nhỏ cho thai nhi bị
phá. Con cúp điện thoại liền bắt đầu niệm Đại Bi Chú, sau khi niệm
xong 49 biến, tự nhiên đau bụng chạy vào nhà vệ sinh một lần, sau đó con nghĩ
chắc chắn là tiêu nghiệp chướng đây, quả nhiên từ ngày niệm Đại Bi Chú đó
đến nay con không còn ho ra máu nữa.
Hiện
tại con kiên trì mỗi ngày niệm 1 tấm Ngôi Nhà Nhỏ, đã đốt được 5 tấm rồi, từ
ngày đầu tiên niệm Ngôi Nhà Nhỏ, bốn loại kinh văn đó con đã có thể thuộc làu,
cho nên tốc độ niệm rất nhanh, nhưng vọng tưởng rất nhiều, khi niệm hay bị phân
tâm, nhất định phải khắc phục, cố lên!
Đây
là trải nghiệm theo Lư Đài trưởng niệm Kinh một tuần của con, tuy thời gian rất
ngắn, không có quá nhiều chia sẻ, nhưng con tin chắc chỉ cần theo pháp mà Lư
Đài trưởng truyền dạy học tiếp, cuộc đời con nhất định sẽ có chuyển biến trọng
đại. Những người có duyên nhìn thấy blog của Lư Đài trưởng, đều là người có
phúc khí, hãy trân trọng nhé.
Cảm
ân Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát! Cảm ân Lư Đài trưởng vô cùng kính trọng!
Ngài nhớ bảo trọng sức khỏe nhé!
— Một học sinh học Phật đầy lòng biết ơn, ngày 3 tháng 7 năm 2010
8. Lư Đài trưởng cứu mạng, cứu hôn nhân
Kính
chào Đài trưởng và các vị đại đức Ban thư ký!
Trước
tiên con xin kiểm điểm, con luôn muốn viết ra ngọn ngành việc con theo Đài
trưởng tu tâm niệm Kinh, để nhiều người hơn nữa có thể tin tưởng và thụ hưởng lợi
ích, nhưng mãi vẫn không có can đảm kể chuyện xảy ra trong nhà cho mọi người
nghe. Đài trưởng đến Mỹ con đã đi, nhìn thấy Đài trưởng, mọi người đều nói Đài
trưởng trông trẻ hơn giọng nói, nói thật lòng, con cảm thấy Đài trưởng trông
mệt mỏi hơn nhiều so với trên ảnh.
Hôm
nay con lấy hết can đảm, nén nước mắt viết ra những chuyện xảy ra với con, chỉ
mong có thêm nhiều người đáng thương có thể thoát khỏi khổ nạn.
Đầu
năm 2009 là thời điểm con thất bại nhất, khốn đốn nhất, đánh mất chính mình
nhất và gần với cái chết nhất trong cuộc đời này. Con nói gần với cái chết,
Ngài có thể cảm thấy khoa trương, nhưng đối với con, một chút cũng không. Không
chỉ một lần con hỏi chồng, em sống không bằng chết, nhưng chết rồi, cha mẹ phải
làm sao. Anh ấy tưởng con bị bệnh, để đưa con về nước chữa bệnh, anh ấy nói
"Em muốn chết anh đi cùng em, nhưng chết chúng ta cũng phải về nước
chết". Chính vào lúc đó, con nhìn thấy bài viết giới thiệu về Đài trưởng
trên diễn đàn Văn Học Thành (Wenxuecity), con dành hai ba buổi tối tìm kiếm tất
cả tài liệu liên quan đến Đài trưởng, đọc hai lần cuốn "Nhất Mệnh
Nhị Vận Tam Phong Thủy" và "Thiên Địa Nhân",
đọc xong liền bắt đầu niệm Ngôi Nhà Nhỏ cho chính mình. Không ít người nhà và
bạn bè của con xem hai cuốn sách này xong vẫn chưa có ý định niệm Kinh, ban đầu
con cảm thấy không thể chấp nhận được, sau này nghĩ lại, điều này ngược lại
chứng tỏ họ hiện tại có lẽ cuộc sống thuận lợi gia đình hạnh phúc, đây đối với
họ không phải chuyện xấu. Nhiệm vụ của con là giới thiệu pháp môn của Đài
trưởng cho họ, đợi đến một ngày, nếu họ trải qua thời khắc bi thảm nhất, không
thuận lợi nhất trong cuộc sống, nghĩ đến pháp môn này, cũng không đến nỗi bó
tay chịu trói trước mọi việc.
Dưới
đây đính kèm bức thư con viết cho Đài Phương Đông năm 2009:
Cầu xin Lư Đài trưởng cứu mạng, cứu hôn nhân
Kính
chào Lư Đài trưởng! Mãi không gọi được vào điện thoại chương trình của Ngài,
đành phải tìm kiếm sự giúp đỡ ở đây. Con sinh năm XX, tuổi X, ở cùng chồng được
mấy năm, tính con đôi khi hơi nóng nảy, nhưng hai người chưa bao giờ cãi nhau.
Nửa năm gần đây, do phát hiện năm ngoái chồng ngoại tình, con mắng anh ấy đánh
anh ấy, lời khó nghe đến đâu cũng mắng ra được, đánh anh ấy đến đầu rơi máu
chảy đưa đi cấp cứu vẫn cảm thấy chưa hả giận. Chúng con còn đặc biệt từ Mỹ về
Trung Quốc, đi khám bác sĩ tâm thần, uống rất nhiều thuốc Đông y, tình hình vẫn
không chuyển biến tốt. Mãi đến tháng Ba sau khi xem sách của thầy Lương Tiêu
biết được sự tích của Ngài, con niệm cho mình gần 20 tấm Ngôi Nhà Nhỏ, tình
hình chuyển biến tốt rõ rệt. Bây giờ kinh văn trên Ngôi Nhà Nhỏ con đều có thể
thuộc làu, mỗi ngày kiên trì ít nhất một biến Lễ Phật Đại Sám Hối Văn.
Trước đây mỗi ngày phát bệnh rất nhiều lần bây giờ một hai ngày mới phát một
lần. Vấn đề nằm ở chỗ, bây giờ mỗi lần phát bệnh là đánh chồng rất dữ, anh ấy
cũng đánh lại rất dữ, hai người thường xuyên liều mạng đánh nhau sống chết, ngủ
chung giường cũng không yên ổn, sợ đối phương nhân lúc mình ngủ sẽ phát bệnh,
thật sự cảm thấy sống thế này còn khó chịu hơn chết. Ngoài ra, gần đây con có
mấy lần nằm mơ thấy có người chết, không phải một hai người, mà là từng mảng
người, tỉnh dậy cảm thấy rất sợ hãi, thật không biết kiếp trước đã tạo nghiệt
gì. Con không biết trên người còn bao nhiêu nghiệp chướng bao nhiêu linh tính,
nếu chỉ cần đọc Ngôi Nhà Nhỏ là có thể chữa khỏi bệnh của con để con cảm thấy
sống còn có ý nghĩa, thì niệm bao nhiêu con cũng nguyện ý, chỉ cầu xin Ngài chỉ
cho con một con đường sáng!
Dưới đây là phản hồi của Ban thư ký:
Lư
Đài trưởng đã xem xong đồ đằng của bạn, phát hiện áp lực của bạn rất lớn, trên
người có linh tính. Đơn thuốc kê cho bạn như sau:
Ngôi
Nhà Nhỏ 19 tấm, "Đại Bi Chú" mỗi ngày 7 biến, "Tâm
Kinh" mỗi ngày 7 biến, "Giải Kết Chú" mỗi
ngày 21 biến.
Ngoài
ra, tốt nhất còn nên đi phóng sinh và đến trước mặt Bồ Tát hứa nguyện. Bởi vì
Phóng sinh, Hứa nguyện, Niệm kinh là ba pháp bảo lớn mà Đại Từ Đại Bi Quan Thế
Âm Bồ Tát dạy cho Lư Đài trưởng để cứu chữa bệnh ác, bệnh nặng, chỉ cần vận
dụng thỏa đáng, là có thể thuyên giảm bệnh tình, thuốc vào bệnh hết! Đừng nôn
nóng, từ từ thôi, mọi chuyện đều sẽ tốt lên.
Hơn
một năm rồi, con mỗi ngày niệm kinh làm bài khóa, mỗi tháng phóng sinh một đến
hai lần, trong nhà lập bàn thờ Phật, trước mặt Bồ Tát hứa nguyện một tháng ăn
chay 5 ngày (hiện tại đã là ăn chay trường rồi), tổng cộng niệm cho mình gần
200 tấm Ngôi Nhà Nhỏ v.v. Cuộc sống tốt lên không chỉ một chút, cứ qua 3 tháng
quay đầu nhìn lại cuộc sống công việc tình cảm đều có chuyển biến tốt rõ rệt.
Hai vợ chồng bắt đầu tìm hiểu lại đối phương, chăm sóc lẫn nhau, vun đắp lại
tình cảm, phàm việc gì cũng đứng ở góc độ đối phương suy nghĩ nhiều hơn, tình
cảm tốt hơn bất cứ lúc nào trước đây rất nhiều, hoàn toàn sẽ không đi cãi nhau,
ngay cả tức giận cũng không, con sợ tổn hại công đức mà. Còn nữa, trong công
việc vốn dĩ áp lực rất lớn, suốt ngày tăng ca còn phải chịu bực mình, bây giờ
không cần tăng ca bực mình cũng hết rồi.
Quan
trọng nhất là cuộc đời đã có mục tiêu. Mục tiêu hồi nhỏ là học giỏi, lớn lên là
phải ra nước ngoài, sau đó ra nước ngoài học tập làm việc, rồi sau đó mất
phương hướng, người cũng lười biếng làm gì cũng không có động lực, sau khi niệm
kinh cả con người thay đổi, tính khí tốt lên, tinh thần tốt lên, mục tiêu lâu
dài cũng có rồi, không sợ Ngài cười con không tự lượng sức mình, mục tiêu của
con không phải lên trời mà là tu tốt rồi về Tịnh độ, đây là một. Thứ hai, hy
vọng dốc sức mình để ngày càng nhiều người Trung Quốc ý thức được tầm quan
trọng của đạo đức truyền thống, đừng để Trung Quốc rộng lớn trở thành một xã
hội kim tiền xốc nổi, để nhiều người hơn nữa tin Phật niệm Phật. Phật giáo
không phải khoa học, Phật giáo tiên tiến hơn khoa học rất nhiều, như cựu hiệu
trưởng Đại học Khoa học Kỹ thuật Trung Quốc Chu Thanh Thời từng nói: "Khi
các nhà khoa học vất vả trèo lên đỉnh núi, các bậc đại sư Phật học đã đợi ở đó
từ lâu rồi!"
Cuối
cùng, tại đây chân thành cảm ơn các nhân viên của Đài Phương Đông, cảm ơn các
vị đã để những người không ở Sydney như chúng con có thể kịp thời chính xác
nhận được tin tức của Đài trưởng, ghi âm chương trình, cảm ơn các vị kiên nhẫn
tỉ mỉ nghe điện thoại trả lời thư từ. Đối với Đài trưởng, con làm thế nào cũng
không báo đáp được ân tình của Ngài, chỉ có từng bước từng bước làm tốt chính
mình giúp đỡ người khác, chỉ cầu không phụ tấm lòng khổ tâm của Ngài, không phụ
lòng đại từ đại bi của Bồ Tát.
— Cô Trần, ngày 10 tháng 7 năm 2010
9. Sau khi theo Lư Đài trưởng tu hành niệm kinh đã từ bỏ ý định tự sát, có được cuộc sống mới
Chào
mọi người: Trước tiên tôi muốn cảm tạ Bồ Tát, cảm tạ Đài trưởng, cảm tạ tất cả
các bạn ở Đài Phương Đông. Là Bồ Tát, là Đài trưởng đã cho tôi cơ hội được tái
sinh.
Tôi
bắt đầu nghe chương trình của Đài trưởng từ tháng 8 năm ngoái. Trước tiên nói
về tôi trước khi niệm Kinh đốt Ngôi Nhà Nhỏ, khi đó tôi bất kể nhìn thấy việc
gì cũng cảm thấy không thuận mắt, còn rất hay nổi nóng, lại hay cãi lời cha mẹ,
tâm trạng mỗi ngày đều rất tồi tệ, không có cách nào tập trung sự chú ý, nghiêm
trọng hơn là lúc đó tôi còn bị trầm cảm, luôn cảm thấy mình rất thất bại, tuyệt
vọng, sống đau khổ, rất muốn chết. Cho đến một ngày tôi như phát điên ngồi trên
cửa sổ ban công, ở đó vừa khóc vừa hát, chỉ muốn nhảy xuống, may mắn là một
người bạn tốt của tôi ở nhà, đã kéo tôi xuống.
Khoảng
thời gian đó tôi sống rất đau khổ, có lẽ là ông trời thương xót tôi, từ bi của
Phật Bồ Tát đã cho tôi gặp được Đài trưởng. Nhớ lần đầu tiên nghe chương trình
của Đài trưởng tôi đã khóc không ngừng, không thể kiểm soát bản thân, giống như
một đứa trẻ lạc đường tìm thấy đường về nhà, vô cùng xúc động, tôi biết tôi đã
nhìn thấy hy vọng rồi. Thông qua nghe chương trình của Đài trưởng biết được bản
thân trước đây như vậy nhất định là có vấn đề, có linh tính rồi, tôi liền bắt
đầu niệm Kinh niệm Ngôi Nhà Nhỏ cho mình, ngoài ra viết email cho Đài trưởng,
xin Đài trưởng giúp tôi xem đồ đằng. Không lâu sau Đài Phương Đông trả lời
email cho tôi, Đài trưởng thật lợi hại, nhìn thấy tôi không phải ngày nào cũng
kiên trì niệm Kinh, khoảng thời gian đó thực sự là như vậy, sau đó Đài trưởng
bảo tôi niệm 21 tấm Ngôi Nhà Nhỏ. Ngôi Nhà Nhỏ thực sự rất kỳ diệu, trong quá
trình tôi niệm Ngôi Nhà Nhỏ đã có sự thay đổi rất lớn, đầu tiên là tâm trạng
ngày nào cũng chuyển biến tốt, làm việc có sự nhẫn nại, dần dần không còn nổi
nóng vô cớ nữa, bất kể gặp chuyện gì đều có thể bình tĩnh đối mặt, cho dù lúc
đó có chút phiền não, nhưng qua 2 ngày sẽ bình tĩnh lại, có niềm tin vào cuộc
sống, càng biết trân trọng người và việc xung quanh hơn. Ngoài ra thông qua học
Phật biết được không được có suy nghĩ và ý niệm tự sát, hơn nữa đối với cha mẹ
cũng không còn cãi lời nữa, phải hiếu thuận với cha mẹ thật tốt. Cho nên kiếp
này chúng ta có thể gặp được Đài trưởng chính là phúc báo lớn nhất, là Đài
trưởng đã đưa chúng ta lên con đường về nhà, chúng ta càng nên trân trọng thật
tốt. Sau này tôi đã phát nguyện trước mặt Phật Bồ Tát sẽ ăn chay trọn đời,
phóng sinh nhiều, làm nhiều việc thiện, sau này độ người độ mình. Chỉ có như
vậy mới xứng đáng với Phật Bồ Tát, mới xứng đáng với tấm lòng khổ tâm của Đài
trưởng!
Trên
đây là thể hội của chính bản thân tôi, nguyện có nhiều người hữu duyên hơn nữa
có thể kết duyên với Lư Đài trưởng.
Cuối
cùng chúc Đài trưởng sức khỏe dồi dào, cảm tạ Bồ Tát, cảm tạ Đài trưởng, cảm tạ
tất cả các bạn ở Đài Phương Đông. Xin cảm ơn!
— Cư dân mạng Joy, ngày 30 tháng 7 năm 2010
10. Pháp môn học Phật mà Lư Đài trưởng truyền thụ hiệu quả vô cùng thù thắng
Theo
Lư Đài trưởng trì giới, học Phật, tu tâm, niệm Kinh được gần một năm rồi, tâm
đắc và thể hội quá nhiều quá nhiều! Pháp môn Phật học mà Lư Đài trưởng truyền
thụ là pháp môn mà mỗi một người học Phật tại gia đều có thể thực hành được,
hơn nữa hiệu quả vô cùng thù thắng! Tôi cảm thấy hơn một năm qua bản thân thay
đổi rất lớn, khí trường của mình cũng mạnh lên, diện mạo tinh thần của con
người cũng đổi mới hoàn toàn.
Trước
đây chưa bao giờ dám tắt đèn ngủ vào buổi tối, bây giờ ngược lại bật đèn ngủ sẽ
cảm thấy người rất khó chịu.
Trước
đây sợ độ cao nhất, đặc biệt sợ nhìn từ trên thang máy xuống, bây giờ ngồi
thang máy quan sát cảnh vật (thang máy kính) đi lên đi xuống nhìn ra xa cũng
không sợ nữa.
Trước
đây chỉ cần ngủ là nằm mơ, hơn nữa mơ toàn ác mộng không tốt, giấc mơ rất tản
mạn, giấc mơ không có chút ý nghĩa thực tế nào, cảm giác hồn phách của mình bị
tan rã, trôi nổi khắp nơi; bây giờ ngủ cũng nằm mơ, nhưng trong mơ tôi rất có
sức mạnh, hơn nữa luôn mơ thấy những giấc mơ có tác dụng báo trước (ví dụ: một
số chuyện kiếp trước kiếp này của bản thân và người thân bạn bè, trong nhà ai
sẽ gặp rắc rối, bây giờ cần niệm kinh văn gì, ai lại báo mộng xin tôi niệm mấy
tấm Ngôi Nhà Nhỏ cầu siêu độ v.v.). Trước đây trước mặt chồng tôi thở mạnh cũng
không dám, anh ấy bảo đông tôi tuyệt đối không dám sang tây, khi xảy ra
"nội chiến" chỉ có phần một mình rơi lệ. Vô số lần anh ấy làm nhục
tôi trước mặt người thân bạn bè và người đi đường, tôi đều không thể và cũng
không dám biện bạch hay cãi lại (để người nhà bạn bè không bị mắng mỏ vô cớ,
cho nên không thể kể khổ với cha mẹ và người thân bạn bè, chỉ có thể một mình
âm thầm chịu đựng), bắt buộc phải làm theo ý đồ của anh ấy bất cứ việc gì anh
ấy muốn làm, không được có bất kỳ suy nghĩ và thái độ nào của riêng mình. Sau
khi theo Lư Đài trưởng học Phật, bây giờ thay đổi rất rõ rệt, anh ấy không còn
gầm thét với tôi nữa, không còn làm khó tôi nữa, không còn ép buộc tôi bắt buộc
phải nghe theo ý thức của anh ấy nữa, anh ấy cũng chủ động kiềm chế tính nóng
nảy và thói đa nghi của mình, khi gặp lúc tôi không vui, anh ấy sẽ chủ động đến
tìm tôi hòa giải, cuộc sống gia đình chúng tôi ngày càng hòa thuận và dân chủ.
Cảm
ân Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát phù hộ cho con bình an cát
tường! Cảm ân pháp môn từ bi cứu người của Lư Quân Hoành Đài trưởng đã cho con
cuộc sống mới!
Đến
nay, con đã niệm cho bản thân và người nhà hơn một trăm tấm Ngôi Nhà Nhỏ, đồng
thời mỗi ngày cũng niệm Kinh văn tự tu. Thông qua thực tiễn, cá nhân tôi cho
rằng mỗi ngày niệm Kinh văn tự tu là quá quan trọng! Quan trọng giống như một
người mỗi ngày đều phải ăn ba bữa cơm vậy, không ăn cơm người sẽ không có sức
lực làm việc và sinh sống, tương tự, không niệm Kinh văn tự tu, bản thân cũng
sẽ không có năng lượng đủ và siêu mạnh để niệm Ngôi Nhà Nhỏ siêu độ oan thân
trái chủ. Ăn cơm phải ăn đồ có dinh dưỡng, mới có thể có được thể lực và tinh
lực sung túc, tương tự, niệm Kinh văn tự tu nào cũng phải "đo ni đóng
giày" (lượng thể tài y) dựa trên tình hình thực tế của mỗi người, đây
chính là chỗ thần kỳ của Lư Đài trưởng, thông qua việc Lư Đài trưởng xem đồ
đằng, chúng ta có thể biết mình cần niệm Kinh văn nào, phải niệm bao nhiêu Ngôi
Nhà Nhỏ để siêu độ. Nhưng điện thoại đường dây nóng chương trình xem đồ đằng
của Lư Đài trưởng muốn gọi được quả thực quá khó quá khó, hiện nay người Hoa
trên toàn thế giới đều đang gọi số điện thoại này, có người vì chênh lệch múi
giờ nửa đêm dậy gọi điện thoại, có người vừa niệm Kinh vừa gọi điện thoại, có
người gọi cả năm trời cũng không gọi vào được, nhưng cho dù khó gọi như vậy,
điện thoại đường dây nóng vẫn "nóng" đến cực điểm. Lư Đài trưởng từ
bi suy xét đến nhu cầu cấp thiết của mọi người, mỗi tuần lại tăng thêm một lần
thời gian xem đồ đằng. Có thể thấy Đài trưởng xem đồ đằng chuẩn xác và được
hoan nghênh biết bao! Vậy thì, những người không gọi được điện thoại như chúng
ta, có thể thông qua việc học tập các bài viết và ghi âm chương trình trên blog
của Lư Đài trưởng để học tập pháp môn của Đài trưởng, trước tiên tự mình tu cho
tốt, từ từ linh cảm của bạn sẽ ngày càng mạnh, bất luận trong cuộc sống hiện
thực hay trong giấc mơ đều sẽ cho bạn sự gợi ý.
— Cư dân mạng Duyên Lai, ngày 26 tháng 7 năm 2010
11. Lư Đài trưởng chữa bệnh cho mẹ Đằng qua mạng
Dưới
đây là nội dung email qua lại giữa mẹ Đằng (Teng Mama) và Ban thư ký Đài Phương
Đông, kể về câu chuyện cảm động có thật về việc Lư Đài trưởng chữa bệnh cho bà
qua mạng:
Thư của mẹ Đằng (Thư thứ nhất) ngày 8 tháng 11 năm 2009
Kính
chào Lư Đài trưởng:
Tôi
là một tín đồ Phật giáo ở Trường Xuân, Đông Bắc, Trung Quốc, mẹ tôi cũng là cư
sĩ tu hành tại gia. May mắn được biết từ bạn đạo rằng Lư Đài trưởng có thể xem
đồ đằng (Totem) và cũng có được phương pháp tụng niệm Ngôi Nhà Nhỏ, tôi vô cùng
cảm kích...
Lư
Đài trưởng, hiện tại tín nữ có một việc cầu xin, mong Lư Đài trưởng trong lúc
bận rộn giúp đỡ chỉ điểm bến mê! Mẹ tôi sinh năm 1955, tuổi Mùi, đầu năm nay
bắt đầu nôn mửa, ban đầu điều trị theo hướng viêm dạ dày, lúc đó qua vài ngày
bệnh tình có thuyên giảm, nhưng kể từ lần phát bệnh đó, cứ cách khoảng nửa
tháng lại tái phát một lần, hơn nữa lần sau nghiêm trọng hơn lần trước. Qua hơn
nửa năm kiểm tra cũng không tìm ra nguyên nhân bệnh, mãi đến tháng 8 năm nay
làm nội soi ruột non tại Bệnh viện số 1 Đại học Y khoa Trường Xuân mới biết bị
tắc ruột non, đã phẫu thuật vào ngày 28 tháng 8 năm nay, sau đó kết quả bệnh lý
cho biết mắc bệnh ung thư tuyến ruột không (hỗng tràng). Nhưng sau phẫu thuật
hai tháng lẻ vài ngày đi tái khám phát hiện tế bào ung thư đã di căn sang các
bộ phận khác (là di căn đa điểm). Theo bác sĩ nói thì không còn cách nào phẫu
thuật nữa, do bệnh tình phát triển vô cùng nhanh chóng, người nhà để bệnh tình
không tiếp tục xấu đi định cho làm hóa trị, nhưng tính từ hôm nay (ngày 8 tháng
11) còn phải ba bốn ngày nữa mới có thể tiến hành hóa trị, cho nên hiện tại
bệnh tình cấp bách ngay trước mắt không biết phải làm sao, mong Lư Đài trưởng
chỉ điểm... (Hiện tại vẫn đang uống thuốc Đông y).
Ngoài
ra, mẹ tôi cũng là người tu Phật, từng niệm "Địa Tạng Kinh", "Phổ
Môn Phẩm", "Di Đà Kinh", "Vô Lượng
Thọ Kinh" v.v., cũng từng tụng Ngôi Nhà Nhỏ, hơn nữa các bạn đạo
của mẹ chiều hôm qua (ngày 7 tháng 11) cũng cùng đến nhà tôi giúp mẹ tụng Ngôi
Nhà Nhỏ. Mẹ tôi cũng thành tâm sám hối trước Phật, phát đại nguyện, nhưng vẫn
rất mơ hồ, hy vọng Lư Đài trưởng chỉ giáo, giúp đỡ xem đồ đằng mẹ tôi bây giờ
nên làm thế nào cho tốt. Tôi lại có thể làm gì cho mẹ tôi? Do bệnh tình phát
triển rất nhanh, hơn nữa xét về pháp thế gian đã không còn phương pháp điều trị
nào khác, nên hy vọng Lư Đài trưởng sớm giúp đỡ xem tình hình hiện tại của mẹ
tôi, sắp xếp một chút, xin nhờ cả vào Lư Đài trưởng! Xin hãy cứu mẹ tôi một
mạng!!!!!!
Ban thư ký Đài Phương Đông trả lời (Lần 1) ngày 8 tháng 11 năm
2009
(Trả
lời theo mẫu và xếp hàng chờ)
Thư của mẹ Đằng (Thư thứ hai) ngày 12 tháng 11 năm 2009
Người
nhà và người trợ niệm tổng cộng đã niệm được 40 tấm Ngôi Nhà Nhỏ, nhưng vẫn
chưa có hiệu quả.
Ban thư ký Đài Phương Đông trả lời (Lần 2) ngày 20 tháng 11 năm
2009
Lần
này Lư Đài trưởng đặc biệt chiếu cố mẹ bạn, đã xem ngay cho bà rồi. Lư Đài
trưởng xem đồ đằng của mẹ bạn, phát hiện kinh các bạn niệm hiệu quả không tốt,
Lệ quỷ (quỷ dữ) trên người mẹ bạn đều chưa nhận được, cho nên Lư Đài trưởng bảo
chúng tôi hỏi một chút, tên của mẹ bạn viết có đúng không? Còn nữa, trợ niệm
đôi khi hiệu quả sẽ không tốt như vậy, bởi vì trợ niệm cần công lực và phát tâm
rất mạnh. Ngôi Nhà Nhỏ tốt nhất là tự mình niệm, hiệu quả tốt nhất. Bây giờ bảo
mẹ bạn siêu độ ngay 21 tấm Ngôi Nhà Nhỏ. Về việc siêu độ Ngôi Nhà Nhỏ như thế
nào, có thể tham khảo phần "Kiến thức thường thức về Ngôi Nhà Nhỏ"
bên phải trang chủ blog của Lư Đài trưởng.
Thư của mẹ Đằng (Thư thứ ba) ngày 2 tháng 12 năm 2009
Cảm
ơn Lư Đài trưởng trong lúc trăm công nghìn việc đã đặc biệt chiếu cố mẹ tôi, cả
nhà tôi vô cùng cảm kích ân tình này của Lư Đài trưởng!!! Đồng thời xác nhận mẹ
tôi sau 20 tuổi đã từng đổi tên.
Thư của mẹ Đằng (Thư thứ tư) ngày 16 tháng 12 năm 2009
Kính
chào Lư Đài trưởng kính mến!
Trong
lúc bận rộn lại làm phiền Ngài và Ban thư ký Đài Phương Đông một lần nữa, vô
cùng vô cùng cảm ơn sự quan tâm yêu thương của Lư Đài trưởng đối với mẹ tôi,
ban cho mẹ tôi cơ hội sự sống lần thứ hai, cũng cảm ơn Đại Từ Đại Bi Quan Thế
Âm Bồ Tát đã ban cho mẹ tôi cơ hội tái sinh. Kể từ sau khi Lư Đài trưởng chỉ
điểm bến mê, mẹ tôi lần này xuất viện ở nhà một tuần, tự mình tụng niệm 10 tấm Ngôi
Nhà Nhỏ, bạn đạo đến nhà tôi giúp tụng niệm 2 tấm Ngôi Nhà Nhỏ. Lần trước Lư
Đài trưởng bảo mẹ tôi nên tranh thủ thời gian niệm trước 21 tấm Ngôi Nhà Nhỏ,
hiện tại mẹ tôi tự mình chỉ tụng niệm khoảng 10 tấm. Ngoài ra tôi muốn bày tỏ
lòng biết ơn sâu sắc đến từng nhân viên của Ban thư ký Đài Phương Đông và Lư
Đài trưởng, kể từ khi niệm Ngôi Nhà Nhỏ xong bệnh tình của mẹ tôi đã có chuyển
biến tốt, mấy hôm trước đi bệnh viện kiểm tra, trong nhiều khối u ác tính có
một chỗ đã chuyển biến tốt rõ rệt nhỏ đi rồi. Kỳ tích thực sự đã xảy ra, điều
này thực sự phải cảm ơn Lư Đài trưởng.
— Mẹ Đằng, ngày 16 tháng 5 năm 2010
12. Quá thần kỳ, hai chị em cùng mơ một giấc mơ!
Vô
cùng cảm kích Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát, cảm kích Lư Đài trưởng
đáng kính!
Tôi
là cô Tô mới đến Úc, nhờ ơn Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát phù hộ, tôi có
duyên biết đến pháp lực và phương pháp niệm kinh của Lư Đài trưởng đại từ đại
bi, thế là tôi bắt đầu niệm Ngôi Nhà Nhỏ với tâm trạng xúc động. Có một hôm,
tôi niệm liên tục rất lâu, buổi tối cảm thấy chóng mặt, thế là lên giường đi
ngủ sớm. Đêm hôm đó tôi mơ một giấc mơ, có một vị cao nhân đến dạy tôi cách
niệm "Tâm Kinh". Vị Sư phụ này mặc một chiếc áo màu vàng
nhạt.
Sáng
sớm hôm sau tôi kể cho em gái nghe: Đêm qua chị mơ thấy một vị cao nhân dạy chị
niệm "Tâm Kinh", sau lưng ông ấy là ánh sáng vàng rất
mạnh. Em gái nghe xong rất kinh ngạc, cô ấy nói: "Đêm qua em mơ thấy Lư
Đài trưởng đến nhà chúng ta, ông ấy đến chữa bệnh cho chị. Chị biết không ——
sáng nay em rể chị cũng nói tối qua mơ thấy Lư Đài trưởng đến nhà chúng ta
đấy." Em gái vừa nói, vừa lấy ra một tấm ảnh của Lư Đài trưởng hỏi tôi
người tối qua mơ thấy có phải người này không? Tôi thấy người trong ảnh béo hơn
người tôi mơ thấy một chút, thế là tôi nói không béo như trong ảnh. Em gái lập
tức nói đúng rồi, tấm ảnh này béo hơn Lư Đài trưởng bây giờ một chút, ông ấy
bây giờ gầy hơn rồi.
Một
thời gian sau, tôi tìm cách đến bái kiến Lư Đài trưởng, trước đó tôi chưa từng
gặp Lư Đài trưởng. Khi tôi vừa nhìn thấy ông, tôi giật mình kinh ngạc, ông cũng
mặc áo màu vàng, dáng vẻ chính là người dạy tôi niệm kinh trong giấc mơ hôm đó.
Lư Đài trưởng ân cần dạy bảo tôi, tôi lập tức nhận ra Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm
Bồ Tát quả thật pháp lực vô biên, từ bi vô hạn!
Trước
đây tôi chưa từng đích thân trải qua thần tích như vậy, đây là Quan Thế Âm Bồ
Tát cảm hóa tôi, để tôi gấp rút giác ngộ gấp rút tu luyện. Thế là, tôi thầm hạ
quyết tâm, phải bỏ ra nỗ lực lớn hơn tin theo sự giáo hóa của Quan Thế Âm Bồ
Tát, tu hành thật tốt, làm nhiều việc thiện, giúp đỡ nhiều người cần giúp đỡ
hơn!
— Cô Tô, ngày 7 tháng 8 năm 2010
13. Lư Đài trưởng —— Bồ Tát trong lòng tôi, là Ngài đã cứu mạng tôi, thay đổi cuộc đời tôi
1. Niệm kinh 7 ngày chữa khỏi cơn ho dai dẳng không dứt của tôi
Tôi
là một bệnh nhân ung thư máu, mắc bệnh đã 7 năm. Trong 7 năm qua phải dựa vào
thuốc để duy trì, định kỳ đến bệnh viện xét nghiệm máu, bệnh tình lúc tốt lúc
xấu. Ngày 3 tháng 5 năm nay, tôi bị nhiễm cúm, sốt, ho. Đến bệnh viện điều trị
hơn một tháng thì hết sốt. Nhưng ho không dứt. Đột nhiên một ngày, trước ngực,
bụng, mặt trong hai đùi, lòng bàn tay, lòng bàn chân tôi nổi rất nhiều nốt nhỏ
như hạt gạo. Bác sĩ nói là dị ứng thuốc, bảo tôi dừng thuốc kháng viêm. Lúc này
bệnh tình của tôi vẫn không chuyển biến tốt. Hết cách, ngày 18 tháng 6 tôi đi
cầu cứu Đông y. Đông y nói tôi nội hàn hỏa đại (trong lạnh ngoài nóng), kê
trước ba thang thuốc Bắc. Bảo tôi uống xong lại đến khám. Cứ như vậy tôi đã đi
khám Đông y 6 lần, uống 20 thang thuốc Bắc. Các nốt trên người tôi bắt đầu bong
da, trong miệng lở loét, không dám ăn đồ nóng, hai môi trắng bệch, kèm theo
bong da và vết loét. Sắc mặt vàng vọt, cân nặng từ 80kg giảm xuống còn 70kg.
Ngày nào cũng ho không dứt. Bác sĩ Đông y cũng không chủ trương cho tôi đi khám
nữa. Người hàng xóm tốt bụng nói với vợ tôi: "Sắc mặt chú không tốt, cô
tẩm bổ thêm cho chú đi." Bản thân tôi cũng cảm thấy sắc mặt khó coi, không
dám soi gương. Mỗi ngày ho khiến tôi cả đêm khó ngủ. Cho dù mơ màng ngủ được,
cũng chốc chốc lại rên rỉ. Sắc mặt vàng vọt, đôi môi trắng bệch bong da, cơ thể
không ngừng gầy đi, đây là lần đầu tiên trong 65 năm tôi mắc căn bệnh khó chữa
như vậy.
Ngày
4 tháng 7 vợ tôi gặp được quý nhân của tôi, người đó kể cho vợ tôi rất nhiều
câu chuyện về việc Đài trưởng đài phát thanh dùng công năng thần kỳ chữa bệnh.
Tôi lần đầu tiên nghe nói Sydney có một Đài phát thanh Hoa ngữ Phương Đông Úc
Châu, hơn nữa Đài trưởng là một nhân vật rất thần kỳ. Tôi ôm tâm trạng thử xem
sao, ngày 5 tháng 7 dưới sự dẫn dắt của quý nhân đã tham gia buổi giải đáp trực
tiếp "Huyền Nghệ Tổng Thuật" quy mô lớn do Lư Đài trưởng tổ chức. Tại
đại hội Lư Đài trưởng xem đồ đằng, có thể nói ra quá khứ, hiện tại, tương lai
của bạn. Xem linh tính, nhìn thấy các tầng thứ khác nhau trên trời, dưới đất,
xem sức khỏe, có thể chỉ ra chứng bệnh hiện tại và tương lai của bạn. Xem phong
thủy, nói cho bạn biết làm thế nào thay đổi thành một môi trường tốt. Tôi bị
chấn động bởi công năng thần kỳ của Lư Đài trưởng, càng cảm động bởi tấm lòng
Bồ Tát từ bi, lương thiện, kiên nhẫn cứu độ chúng sinh của Lư Đài trưởng. Hội
nghị vừa kết thúc, tôi không kìm được chạy lên đài, báo ra năm sinh và tuổi cầm
tinh của mình. Xin Lư Đài trưởng giúp tôi xem, hy vọng Lư Đài trưởng có thể cứu
tôi. Lư Đài trưởng nói: "Sang năm ông sẽ chết." Tiếp đó lại thêm một
câu: "Tôi nói chết, nhất định sẽ chết." Lúc đó đầu óc tôi ong lên một
cái. Tôi biết mình có bệnh, nhưng chưa bao giờ nghĩ sẽ chết nhanh như vậy, sau
đó không còn nghe rõ Lư Đài trưởng nói thêm gì nữa, cứ thế ngơ ngẩn đi xuống
đài, đầu óc trống rỗng, cả người tôi ngây dại. Tôi không tin lời Lư Đài trưởng
là thật, nhưng lại tận mắt chứng kiến công năng thần kỳ của Lư Đài trưởng, tôi
lại không thể không tin, tôi lẳng lặng đi ra khỏi hội trường, lúc đang đợi xe ở
bãi đậu xe, đột nhiên cảm thấy muốn đi vệ sinh, tôi lại quay lại hội trường,
khi tôi đi đến cửa nhà vệ sinh, tình cờ Lư Đài trưởng đẩy cửa từ trong nhà vệ
sinh đi ra, Lư Đài trưởng nhận ra tôi, nói với tôi: "Không sao đâu, ông
vẫn còn cứu được, về nhà niệm 49 tấm Ngôi Nhà Nhỏ." Tôi nghe xong tâm
trạng lập tức phấn chấn, Lư Đài trưởng nói tôi còn cứu được. Đây chẳng phải Quan
Thế Âm Bồ Tát đang giúp tôi sao?
Về
đến nhà, tôi không đi lang thang đâu nữa, từ sáng đến tối liều mạng niệm Ngôi
Nhà Nhỏ. Ban đầu một ngày chỉ có thể niệm một tấm, sau đó một ngày niệm hai
tấm, một tuần sau kỳ tích đã xảy ra, tôi thế mà trong tình trạng không uống bất
kỳ loại thuốc nào đã vô tri vô giác không còn ho nữa, cái mũi chảy mủ cũng
không còn viêm nữa. Hàng xóm kinh ngạc nói: "Mấy hôm nay sắc mặt chú đẹp
hơn mấy hôm trước rồi." Bản thân tôi cũng cảm thấy rõ ràng cơ thể không
còn khó chịu như trước nữa. Ngày 17 tháng 7 quý nhân mà tôi suốt đời không
quên, lại giúp tôi thỉnh cầu Lư Đài trưởng trong lúc trăm công nghìn việc xem
bệnh cho tôi. Lư Đài trưởng nói: "Nghiệp chướng trên người ông quá nhiều
là từ kiếp trước, khi tôi xem đồ đằng cho ông hai cánh tay và sau lưng tôi đều
toát ra khí lạnh, ông về nhà ngoài việc niệm Ngôi Nhà Nhỏ, mỗi ngày còn phải
làm bài khóa (công phu tu tập), niệm 3 biến "Tâm Kinh",
21 biến "Đại Bi Chú", 7 biến "Lễ Phật Đại
Sám Hối Văn", tôi đảm bảo lần sau ông đến bệnh viện xét nghiệm kết quả
sẽ tốt hơn bất cứ lần nào trước đây." Lư Đài trưởng lại bổ sung nói:
"Con người ông ban đầu còn không tin, phải không?" Tôi lại một lần
nữa bị thuyết phục bởi công năng thần kỳ của Lư Đài trưởng, ông ấy thế mà ngay
cả trong lòng tôi tin hay không tin cũng đều có thể nhìn ra. Về đến nhà tôi nỗ
lực gấp bội, càng thành kính niệm kinh hơn.
Quả
nhiên ngày 27 tháng 7 khi tôi đến bệnh viện xét nghiệm bác sĩ nói: "Kết
quả xét nghiệm của ông đều trong phạm vi bình thường, sau này không cần một tháng
xét nghiệm một lần nữa, đổi thành ba tháng một lần." Điều này lại một lần
nữa kiểm chứng công năng thần kỳ của Lư Đài trưởng. Ngày 31 tháng 7 Quan Thế Âm
Bồ Tát một lần nữa giúp tôi, để tôi cầu được ước thấy gọi thông đường dây nóng
của chương trình "Huyền Nghệ Tổng Thuật", Lư Đài trưởng
khen ngợi tôi rất có tiến bộ, nói tôi ban đầu không tin, một khi đã tin thì rất
ghê gớm, và bảo tôi chú ý hai bộ phận cổ họng và phổi, nói vốn dĩ hai bộ phận
này sắp mọc thứ gì đó (u/bướu). Lư Đài trưởng sợ tôi nghe không hiểu, lại nhấn
mạnh nói: "Ông biết mọc thứ gì đó nghĩa là gì không?" Tôi nói:
"Biết." Lư Đài trưởng nói: "Bây giờ tốt rồi, định lại rồi, sẽ
không mọc nữa." Đồng thời dạy tôi thường xuyên nghĩ phổi của mình có màu
trắng. Cùng với sự chuyển biến tốt của bệnh tình, tâm trạng tôi càng thoải mái
hơn, niệm Kinh càng khắc khổ hơn, tốc độ niệm Ngôi Nhà Nhỏ cũng nhanh hơn.
Ngày
9 tháng 8 tôi tham gia hoạt động phóng sinh của Đoàn thanh niên, bên bờ biển Lư
Đài trưởng từ xa đi về phía tôi, chủ động bắt tay tôi, tôi thực sự cảm thấy vô
cùng hạnh phúc, bởi vì trong lòng tôi Lư Đài trưởng chính là Quan Thế Âm Bồ
Tát, được bắt tay với Lư Đài trưởng, chính là Bồ Tát đang bắt tay với tôi. Lư
Đài trưởng nói: "Thận của ông thiếu nước, phải uống nhiều nước vào."
Lại nói: "Ông đã được tăng thọ rồi." Sau đó nói với những người vây
quanh: "Người này vốn dĩ chỉ còn thọ mạng vài tháng, bây giờ đã được tăng
thọ rồi." Những người có mặt đều vỗ tay mừng cho tôi. Tôi chân thành cảm
tạ Quan Thế Âm Bồ Tát, cảm tạ Lư Đài trưởng. Là Bồ Tát để Lư Đài trưởng hết lần
này đến lần khác cứu tôi. Mỗi lần tôi gặp mặt Lư Đài trưởng, đều nhận được sự
chỉ điểm và giúp đỡ khác nhau. Lư Đài trưởng là ân nhân cứu mạng của tôi.
2. Lư Đài trưởng đã thay đổi cuộc đời tôi
Lư
Đài trưởng nói con người tôi cũng khá tốt, chỉ là tính tình quá bướng bỉnh. Câu
này nói thật chuẩn. Do tôi tính tình bướng bỉnh thích chui vào ngõ cụt, không
thể nhìn vấn đề một cách toàn diện, không thể dễ dàng bao dung người khác,
không hợp ý liền tranh cãi với người ta, tạo rất nhiều khẩu nghiệp. Vì thế cũng
từng phải trả giá rất nhiều. Mấy lần cơ hội thăng chức nhìn thấy sắp thành rồi,
cuối cùng vẫn thất bại. Nhận thầu công trình bản thân bỏ ra rất nhiều, khi đòi
tiền luôn xuất hiện vấn đề, vô duyên vô cớ bị trừ mất một phần tiền, những ví
dụ thực tế như vậy quá nhiều rồi. Bây giờ thông qua niệm Kinh, tôi khai ngộ
rồi, tôi cảm thấy đầu óc thông minh hơn trước nhiều, gặp vấn đề có thể nhìn
nhận khách quan, dùng kiến thức Phật pháp để giải quyết, mọi việc tùy duyên,
gặp chuyện nhẫn nhịn. Tôi thường xuyên nghe chương trình của Lư Đài trưởng, mỗi
thứ Bảy đến Quan Âm Đường lạy Bồ Tát, lắng nghe Lư Đài trưởng khai thị, mỗi lần
đều có thu hoạch khác nhau. Lư Đài trưởng luôn dạy chúng tôi niệm Kinh phải
dùng "Tâm" để niệm, làm người phải làm người tốt, không được làm việc
xấu, phải làm nhiều việc thiện, phóng sinh nhiều. Tuân theo lời dạy của Lư Đài
trưởng, tôi nỗ lực thay đổi bản thân, thông qua niệm Kinh tâm trạng tôi tốt
lên, phiền não ít đi, quan hệ với những người xung quanh cũng tốt lên, sức khỏe
cũng hồi phục rồi. Lư Đài trưởng chính là Quan Thế Âm Bồ Tát, ông không những
chữa khỏi bệnh cho tôi, kéo dài tuổi thọ cho tôi, còn dạy tôi làm thế nào làm
một người tốt, làm thế nào hành Bồ Tát sự, đi tạo phúc cho người khác, tạo phúc
cho xã hội, là Lư Đài trưởng đã thay đổi cuộc đời tôi.
3. Lư Đài trưởng nghiêm khắc bồi dưỡng đệ tử, đệ tử của ông ai
ai cũng có một trái tim Bồ Tát.
Lư
Đài trưởng dùng tấm lòng từ bi rộng lớn phổ độ chúng sinh hữu duyên, đồng thời
cũng bồi dưỡng ra một lứa đệ tử ưu tú có tấm lòng từ bi như Bồ Tát, hành việc
Bồ Tát cứu khổ cứu nạn. Họ đều đang giúp Lư Đài trưởng hoằng dương Phật pháp,
phổ độ chúng sinh. Họ giới thiệu cho tôi pháp môn tu học và sự tích cứu người
của Lư Đài trưởng. Đưa tôi đi tham gia pháp hội ngày 5 tháng 7, là họ kiên nhẫn
dạy tôi niệm Kinh thế nào, niệm Ngôi Nhà Nhỏ thế nào, giúp tôi lấy Ngôi Nhà Nhỏ
từ đài phát thanh về, dẫn tôi đi phóng sinh, và mời Lư Đài trưởng đích thân xem
bệnh cho tôi. Tôi cảm thấy tự hào vì bản thân, vì tôi sống bên cạnh Lư Đài
trưởng, có thể nhận được sự giúp đỡ của Lư Đài trưởng bất cứ lúc nào, tôi càng
may mắn vì mình đã biết niệm Kinh, cũng đang nỗ lực thay đổi bản thân, có thể
giống như các đệ tử của Lư Đài trưởng làm việc vì những người cần sự giúp đỡ.
Tôi mỗi ngày niệm "Đại Bi Chú" cho Lư Đài trưởng,
chân thành chúc phúc Lư Đài trưởng mạnh khỏe. Cảm ơn Lư Đài trưởng! Cảm ơn Quan
Thế Âm Bồ Tát!
— Ông Vương, ngày 4 tháng 9 năm 2009
14. Tu học pháp môn của Đài trưởng niệm kinh, niệm Ngôi Nhà Nhỏ, phù hộ tôi hồn không lìa khỏi xác
Từ
nhỏ đã theo mẹ thắp hương, lạy Bồ Tát nhưng lại không biết niệm Kinh, giống như
Lư Đài trưởng nói chỉ nhìn thấy trường đại học danh tiếng rất tốt, nhưng không
vào trong học tập, không có tài học thực sự! Không nhận được hiệu quả tốt nhất.
Kể từ sau Tết năm 2008 nghe chương trình "Huyền Nghệ Tổng
Thuật" của Lư Đài trưởng, tôi lập tức phục sát đất đối với pháp
môn của Lư Đài trưởng! Than thở bản thân tại sao không kết duyên với pháp môn
của Lư Đài trưởng ngay khi mới đến Úc, đến nỗi để bản thân chịu bao nhiêu khổ
cực trong cuộc sống!
Ngàn
vạn lần cảm tạ! Cảm tạ Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát cho con
có duyên theo Lư Đài trưởng tu tâm niệm Kinh, để sức khỏe của con có sự thay
đổi rất tốt... Nhớ ngày vừa nhận được Ngôi Nhà Nhỏ Đài Phương Đông gửi cho con,
vì ngày nào cũng đi làm, con định đợi khi nghỉ lễ sẽ niệm cho mẹ (mẹ đã qua
đời), kết quả đêm hôm đó nằm ngủ, sáng sớm hôm sau liền nghe thấy mẹ dùng giọng
gấp gáp gọi tên cúng cơm của con dưới lầu, con giật mình tỉnh dậy hiểu ý của
mẹ, ngay hôm đó liền vội vàng niệm Ngôi Nhà Nhỏ cho mẹ... Chuyện linh nghiệm
rất nhiều, ở đây con xin kể một ví dụ. Năm 2001, do một số việc khiến tâm trạng
con rất không tốt! Tiếp đó cơ thể xuất hiện một số vấn đề, chính là hễ đói bụng
mà không kịp thời bổ sung thức ăn, sẽ chóng mặt, không phải chóng mặt bình
thường, rất lợi hại! Có một buổi sáng 6 giờ dậy, mặc quần áo chải rửa xong con
liền không biết gì nữa, kỳ lạ là con không ngã xuống, còn có thể đi lại, không
biết qua bao lâu, chỉ nghe thấy con trai nói với con "mẹ ăn kẹo đi",
con rất nghe lời ăn một viên kẹo sô cô la, chỉ nghe thấy con trai lại nói
"mẹ ăn thêm một viên kẹo nữa đi". Con lại ăn, lúc này mới tỉnh lại,
nhìn đồng hồ đã chín giờ rồi, mấy tiếng đồng hồ này con không biết đã trải qua
thế nào?! Không có một chút ký ức nào, chỉ thấy một màu đen kịt! Con trai lúc
đó 16 tuổi, thấy mẹ tỉnh lại rồi mới òa khóc nức nở vì lo sợ! Sau này đi bệnh
viện kiểm tra mới biết là hạ đường huyết nghiêm trọng. May mà từng dặn con
trai, nếu thấy mẹ chóng mặt, thì phải cho mẹ ăn kẹo, sau này chỉ cần ánh mắt
con không đúng, con trai luôn nói câu này "mẹ mau đi ăn đồ đi!", sau
đó lại xảy ra mấy lần, chỉ cần con ăn chậm một chút, người liền bắt đầu trở nên
ngốc nghếch, bình thường một người rất ổn, có thể thuộc lời bài hát rất dài,
đồng nghiệp làm cùng đều khâm phục khả năng tính nhẩm của con, nhưng chỉ cần
đói là không được, không biết đếm số, máy móc cũng không biết tắt, phản ứng
chậm chạp. Có hai lần tan làm lái xe về nhà, con chỉ nhìn thấy quãng đường hai
mét phía trước, trong túi đầy kẹo, bánh quy, lại không biết ăn, quãng đường một
tiếng đồng hồ cũng không biết lái về nhà thế nào, bây giờ nghĩ lại những chuyện
này vẫn còn sợ hãi!
Kể
từ sau khi theo Lư Đài trưởng tu tâm niệm kinh, căn bệnh này của con bắt đầu
chuyển biến tốt, những hiện tượng đó rất ít khi xảy ra, nhưng năm ngoái khi về
nước, do không nghiêm túc hoàn thành bài khóa mỗi ngày, lại xuất hiện một lần
khá nghiêm trọng, nhưng vẫn còn chút tri giác. Mãi đến hai tháng trước một lần
hẹn xem đồ đằng tại văn phòng Lư Đài trưởng, Đài trưởng chỉ ra mấu chốt bệnh
tình của con, mới khiến con bừng tỉnh đại ngộ! Hôm đó Lư Đài trưởng giúp con
xem đồ đằng nói: "Kỳ lạ, hồn phách của bà sao cứ chạy đi rồi lại chạy về
thế nhỉ?!"
Về
nhà con nghiêm túc nhớ lại từng câu nói của Đài trưởng, mới nghĩ ra hóa ra con
bị hồn phách không đầy đủ (hồn phách bất tề)! Sau đó con gọi thông chương
trình "Huyền Nghệ Vấn Đáp", hỏi Lư Đài trưởng có thể tự
gọi hồn cho mình không? Đài trưởng nói "Có thể". Còn phải thêm một
câu "Trí tuệ sung mãn" (trí tuệ đầy đủ), Đài trưởng nói đây là thông
tin mới nhất Quan Thế Âm Bồ Tát cho chúng ta, sau đó con liền mỗi ngày bài khóa
cộng Ngôi Nhà Nhỏ cộng gọi hồn (đều vào lúc 8 giờ sáng, nếu là giờ làm việc con
liền hướng về ánh mặt trời tự gọi mình 30 lần). Bây giờ hoàn toàn khỏi rồi,
chính là buổi tối ăn cơm rất sớm, ngủ rất muộn, hôm sau cuối tuần không đi làm,
dậy muộn đầu óc vẫn tỉnh táo, trước đây điều này là hoàn toàn không thể, nhất
định phải ăn kẹo, ăn điểm tâm. Đã rất lâu không nghe thấy con trai nói
"mẹ, mau đi ăn đồ đi!" nữa. Tốt biết bao!! Sống trên đời này, có rất
nhiều việc con người không giải quyết được, chỉ có tu tâm cho tốt, niệm kinh,
Quan Thế Âm Bồ Tát sẽ giúp chúng ta giải quyết! Ở nhân gian, bất luận là người
thân, bạn bè, đồng nghiệp luôn có lúc cảm thấy phiền với bạn, chỉ có Bồ Tát,
vĩnh viễn sẽ không chê bai chúng ta! Vĩnh viễn sẽ không chán ghét chúng ta! Chỉ
cần chúng ta tu tâm niệm kinh cho tốt.
Trước
khi đến Úc, từng có một người thông linh nói với con "bà đi nước ngoài rất
tốt", đến mười mấy năm, bây giờ mới biết tại sao tốt, bởi vì con ở đây đã
kết duyên với Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Lư Đài trưởng! Đây là chuyện may
mắn nhất trong cuộc đời con! Con sẽ mãi mãi theo Lư Đài trưởng tu tâm thật tốt!
Niệm kinh thật tốt!
Nam
Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát!
Nam
Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Lư Đài trưởng!
— Cô Tống, ngày 6 tháng 7 năm 2010
15. Theo Lư Đài trưởng học Phật niệm Kinh siêu độ tiên nhân (người quá cố)
Kính
gửi Lư Đài trưởng cùng các vị đại đức Ban thư ký:
Tình
cờ nhìn thấy blog, khiến con thắp lên niềm hy vọng trong lòng, hiện tại con đã
niệm Kinh cho cha con rồi, con vẫn đang tiếp tục niệm. Con muốn nuôi mà cha mẹ
chẳng còn, đợi đến khi mất đi con mới biết người yêu con nhất là cha con, cha
con bây giờ có ổn không? Những ngày khi cha rời xa con chỉ biết lặng lẽ rơi lệ
vào ban đêm, bây giờ thông qua Lư Đài trưởng con biết được hóa ra niệm Kinh có
thể siêu độ cha đến nơi tốt đẹp, con sẽ làm theo. Khi cha còn sống con không
biết trân trọng, nay cha không còn nữa con chỉ có thể bù đắp để cha có thể đến
được nơi tốt đẹp. Lư Đài trưởng, Ngài thật là tấm lòng Bồ Tát, cứu giúp những
người đáng thương như chúng con, con rất muốn siêu độ cha con lên trời, để cha có
thể thoát khỏi bể khổ, lìa khổ được vui.
Con
muốn báo cáo với Lư Đài trưởng một số việc, con niệm Ngôi Nhà Nhỏ cũng đã được
hơn ba tháng rồi, hơn nữa chồng con và mẹ con cũng đang tu theo phương pháp của
Lư Đài trưởng. Cách đây không lâu con có một giấc mơ, vì trước khi ngủ con từng
cầu Bồ Tát, nói cho con biết nên đọc bao nhiêu tấm Ngôi Nhà Nhỏ cho cha, trong
mơ có giọng nói của một người nam trang nghiêm nói rất ngắn gọn một câu: 30
tấm. Hiện tại con đã đọc cho cha được 35 tấm Ngôi Nhà Nhỏ, mẹ con đọc cho cha
được 10 tấm Ngôi Nhà Nhỏ, tổng cộng là 45 tấm Ngôi Nhà Nhỏ.
Việc thứ hai: Cũng cách đây không lâu khi đang niệm "Đại
Bi Chú", con nghe thấy một giọng nói rất trang nghiêm (cảm giác rất
giống Lư Đài trưởng), nói với con rất rõ ràng "nhẹ một chút", bởi vì
con càng đọc giọng càng to.
Việc thứ ba: Tết Thanh Minh lần này đi tảo mộ cho cha, vì trước Thanh Minh
một ngày là ngày sinh của Quan Thế Âm Bồ Tát, con và chồng con cùng mẹ con ba
người cả ngày không đi ra ngoài, ở nhà niệm Kinh trọn một ngày, và ăn chay cả
ngày. Sau đó ngày hôm sau đi tảo mộ cho cha, hôm đó gió rất lớn, nhưng tro
hương đốt lên cuộn lại rất lâu không rơi, đều cuộn thành những vòng tròn, trong
lúc đó nến bị gió thổi tắt nhiều lần, nhưng tất cả hương thắp lên đều cuộn
thành vòng tròn cho đến khi cháy hết tận gốc. Mẹ con đều cảm thán chưa bao giờ
nhìn thấy hương cháy như vậy. Cảm tạ Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát, cảm tạ
Lư Đài trưởng đã cho những người bình thường như chúng con có sự theo đuổi, cảm
nhận được ý nghĩa của cuộc sống, hóa ra con người còn có thể sống ở tầng bậc
cao hơn.
Lư
Đài trưởng, con thực sự rất ngưỡng mộ những người đang ở Úc, con thậm chí còn
có xúc động muốn di dân sang Úc, con và chồng con cũng đã đi nghe ngóng, nhưng
ngưỡng đầu tư di dân rất cao, chúng con đang nỗ lực vì điều đó, rất muốn được ở
gần Ngài hơn một chút lại gần hơn một chút, có Sư phụ chỉ dẫn và không có Sư
phụ chỉ dẫn là hai chuyện khác nhau. Thực sự rất ngưỡng mộ những người bạn ở
Úc, Lư Đài trưởng, khi nào Ngài về quê hương Thượng Hải chỉ điểm bến mê cho bà
con quê hương đi, chúng con giống như những đứa trẻ lạc đường, đang chờ sự chỉ
dẫn của Ngài. Lư Đài trưởng, nói với Ngài một câu thật lòng, Ngài từng nói
trong chương trình rằng hãy coi Bồ Tát như mẹ của mình, Quan Thế Âm Bồ Tát rất
từ bi, con cảm thấy Ngài trong lòng con cũng vô cùng khiến người ta muốn thân
cận, giống như đang làm nũng với cha của mình vậy. Xin đừng trách móc, thật
đấy, đứa con mất cha bây giờ con mới cảm nhận sâu sắc được, là rất đáng thương.
Ngài quá bận rộn rồi, phải chú ý sức khỏe, con không dám thường xuyên viết thư
cho Ngài, nhưng trong lòng con cảm thấy Ngài giống như người thân của con vậy.
— Cô Cung, ngày 10 tháng 6 năm 2010
HẬU KÝ
Đài
Phát thanh Hoa ngữ Phương Đông Úc Châu (2OR Australia Oriental Radio) là đài
phát thanh Hoa ngữ 24 giờ đầu tiên tại Sydney, Úc do người di dân mới có bối
cảnh từ Trung Quốc đại lục sáng lập, lấy tiếng Phổ thông làm chủ đạo. Năm 2009,
đài vinh dự nhận giải thưởng phát thanh Hoa ngữ cao quý nhất toàn cầu —— Giải
thưởng Đài phát thanh Đặc biệt Phi thăng (Special Flying Radio Award). Đài Phát
thanh Hoa ngữ Phương Đông Úc Châu có uy tín lớn trong xã hội chủ lưu và cộng
đồng người Hoa tại Úc, đồng thời được Chính phủ Úc và Chính phủ Trung Quốc coi
trọng. Thủ tướng Úc Julia Gillard, Tổng lãnh sự Trung Quốc tại Sydney Đoàn
Khiết Long v.v. đều từng đến thăm và thị sát công việc của đài.
Đài
Phát thanh Hoa ngữ Phương Đông Úc Châu nhằm mục đích xây dựng một nền tảng giao
lưu hữu nghị về kinh tế, thương mại, văn hóa, nghệ thuật, chính trị, ngoại giao
và giáo dục giữa Trung Quốc và Úc, thúc đẩy sự phát triển toàn diện của quan hệ
Trung - Úc, phát huy vai trò cầu nối vốn có của truyền thông, kịp thời đưa tin
tức mới nhất, không tiếc công sức mang đến cho thính giả người Hoa những chương
trình chất lượng cao được ưa thích, truyền bá văn hóa truyền thống ưu tú của
Trung Hoa, trở thành người bạn tri âm của thính giả người Hoa. Đài Phát thanh
Hoa ngữ Phương Đông Úc Châu có hơn 7 triệu thính giả trên toàn cầu.
Đài
trưởng Lư Quân Hoành là một kiều lãnh (lãnh đạo kiều bào) nổi tiếng tại Sydney,
tham gia và đảm nhiệm chức vụ Hội trưởng và Chủ tịch các hội đoàn Hoa kiều,
đồng thời giữ chức Đài trưởng Đài phát thanh Hoa ngữ Úc Châu đã gần 20 năm, có
uy tín rất cao trong lòng thính giả người Hoa.
Đài
trưởng Lư Quân Hoành hiện giữ chức Đài trưởng Đài Phát thanh Hoa ngữ Phương
Đông Úc Châu (2OR), chủ trì chương trình trực tiếp xem đồ đằng (Totem) vô cùng
nổi tiếng trong cộng đồng người Hoa toàn cầu mang tên "Huyền Nghệ
Tổng Thuật". Lư Đài trưởng từ nhỏ đã nghiên cứu Huyền học, sau đó lại
có duyên được nhiều vị danh sư chỉ điểm. Phó Chủ tịch Hiệp thương Chính trị Tây
Tạng Chu Khang Hoạt Phật (Zhu Kang Rinpoche) và sáu vị Hoạt Phật khác khi đến
Úc tuyên truyền Phật giáo Tạng truyền và giảng bài trên toàn nước Úc, đều do Lư
Đài trưởng tháp tùng toàn bộ hành trình. Lư Đài trưởng trên cơ sở đặc dị công
năng xem đồ đằng vốn có, lại được Hoạt Phật quán đỉnh gia trì điểm hóa, truyền
thụ chân lý Phật học, nên sở hữu công năng xem đồ đằng càng thêm chuẩn xác, và
dùng đó để giúp đỡ đông đảo Phật hữu và thính giả giải quyết khó khăn trong
cuộc sống cũng như dẫn dắt mọi người học tập Phật giáo Chính tín, dùng phương
pháp đặc biệt của Huyền nghệ để hoằng dương Phật pháp, và để các Phật hữu học
tập cuốn "Phật Giáo Niệm Tụng Tập" của ông Triệu
Phác Sơ.
Đài trưởng Lư Quân Hoành yêu mến đất nước quê cha đất tổ, mấy chục năm qua đã có nhiều đóng góp thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa hai nước Trung - Úc. Tại Đài Phát thanh Hoa ngữ Phương Đông Úc Châu có hàng triệu thính giả, ngoài những thính giả kiều bào bình thường, còn có 7 triệu thính giả tin Phật giáo. Để có thể dẫn dắt giúp đỡ họ giải quyết khó khăn trong cuộc sống, Lư Đài trưởng từng được mời đến khắp nơi tại Úc, Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Đan Mạch, Hồng Kông (Trung Quốc), Malaysia v.v. để diễn thuyết, phát huy Phật pháp Chính tín, hoằng dương văn hóa Trung Hoa, học tập tinh túy Phật giáo, nghiên cứu thế giới đồ đằng, bồi dưỡng tinh thần Nho học; để chúng sinh tại Úc và trên toàn thế giới theo Đài trưởng học Phật cũng có thể học tập kiến thức Phật học, hoằng dương văn hóa Trung Hoa; để chúng sinh thông qua niệm kinh học Phật cải thiện vận mệnh của mình, học tập, làm việc và sinh sống tốt hơn, đối xử thiện lương với mọi người, phục vụ tốt hơn cho sự phát triển của quốc gia và xã hội.