Tập 100 - TÂM VẬT NHẤT NGUYÊN, PHẢN QUY BỔN TÁNH

  LỜI MỞ ĐẦU

Để đạt được những hiệu quả nhất định, trước khi đọc Bạch Thoại Phật Pháp nên đọc lời cầu nguyện dưới đây:

“Cảm tạ Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Xin gia trì cho đệ tử __(họ tên) để con đọc và hiểu được nội dung của Bạch Thoại Phật Pháp, để năng lượng của Bạch Thoại Phật Pháp gia trì bổn tánh của con, phù hộ cho con khai sáng trí tuệ, tiêu trừ nghiệp chướng, mọi điều kiết tường. Con xin cảm tạ Bồ Tát”. 

 

Tập 100 - TÂM VẬT NHẤT NGUYÊN, PHẢN QUY BỔN TÁNH

(Khi tâm và vật là một, sẽ quay về với bản tính cội nguồn)

Sư phụ Lư Quân Hoành giảng giải Bạch Thoại Phật Pháp ngày 04/07/2020

Điều quan trọng nhất trong tu tâm là phải nắm vững cương lĩnh. Tu tâm bận rộn cả buổi, vậy rốt cuộc cương lĩnh của tu tâm là gì? Chính là như như bất động. Trong văn hóa truyền thống từng có câu: “Cảm nhi toại thông, tịch nhiên bất động”. Thực ra là để chúng ta hiểu rằng: Ngày nay, đối với bất kỳ việc gì, trước hết ta phải có cảm nhận, phải dụng tâm để làm. Chỉ cần quý vị chậm rãi cảm nhận, chậm rãi thực hành, tư duy của quý vị sẽ dần trở nên sâu sắc, sẽ biến chuyển và thông suốt. “Tịch nhiên bất động” nghĩa là sau khi tĩnh lặng, tâm của quý vị sẽ như như bất động. Vì vậy, một người có thể an tĩnh thì sẽ không vọng động; một khi tâm của người đó động thì họ sẽ có hành động. Hai câu này thực chất đã khái quát lý luận cơ bản về “Tâm vật nhất nguyên” trong triết học văn hóa truyền thống.

“Tâm vật nhất nguyên” là gì? Chính là tâm và vật thực ra là một, đều từ tâm mà ra, đây là lý luận cơ bản. Thực tế, điều này nói về tự tánh và bổn tánh của sinh mệnh, nó vốn tịch nhiên bất biến, vốn như như bất động. Điều này cũng cho chúng ta biết rằng, bản chất nội tại của con người vốn là như như bất động, chúng ta nên giữ cho tâm vững vàng, không nên tranh cãi. Người như như bất động sẽ không tranh cãi, người như như bất động sẽ không tùy tiện nổi nóng hay trở mặt với người khác. Cho nên phải hiểu rằng, bổn tánh là vĩnh viễn không thay đổi. Chỉ khi quý vị tĩnh lặng lại, quý vị mới có thể cảm nhận được sự tồn tại của bổn tánh. Khi quý vị phiền não, quý vị không tìm thấy bổn tánh của mình. Khi dục vọng bành trướng, quý vị đánh mất bổn tánh và Phật tánh của mình. Vì vậy, chỉ có tĩnh lặng mới có thể đạt đến bất động.

Như như bất động, cảm nhi toại thông (Tâm tĩnh lặng, cảm ứng thông suốt). Sư phụ lấy một ví dụ, khi chúng ta dồn mắt và sự chú ý vào một vật thể nào đó, chúng ta sẽ thấy vật thể đó vô cùng rõ ràng, tường tận. Tai của chúng ta cũng là "cảm nhi toại thông", nói cách khác, chỉ cần quý vị dụng tâm, quý vị muốn nghe ai nói thì sẽ nghe được người đó nói, mắt quý vị muốn nhìn ai thì sẽ thấy được người đó. Lấy một ví dụ đơn giản, ngày xưa muốn thấy một người rất khó, bây giờ có dễ không? Bây giờ quý vị muốn thấy ai, chỉ cần lên mạng là thấy được hết; quý vị nhớ ai, chỉ cần mở Internet là lập tức có thể nhìn thấy. Đây chẳng phải là “cảm nhi toại thông” sao? Tai của chúng ta muốn nghe lời ai thì có thể nghe lời người đó. "Hôm nay tôi không muốn nghe bạn nói chuyện, thấy rất khó chịu, tôi không nghe. Tôi muốn nghe Sư phụ giảng Pháp, tôi sẽ nghe Sư phụ giảng Pháp", quý vị có thể khóa chặt vào âm thanh của người mình muốn nghe. Thực ra điều này nói với chúng ta rằng, khi chúng ta dùng nội tâm để chú ý vào một việc gì đó, chỉ cần sự dụng tâm và thành ý đạt đến một mức độ nhất định, sẽ xuất hiện một năng lực cảm tri. Đây chính là lý do tại sao “tâm thành tắc linh”.

Hôm nay chúng ta quỳ trước Bồ Tát, chỉ cần thành tâm thành ý, chúng ta sẽ có được năng lực cảm nhận rằng Bồ Tát biết chúng ta đang cầu Ngài, khi đó chúng ta sẽ hiểu được “cảm nhi toại thông”. Mọi người có hiểu ý Sư phụ nói không? Tức là khi quý vị cảm nhận được một việc gì đó, khi toàn bộ tinh thần và năng lượng của quý vị dồn vào, sự chú ý hoàn toàn tập trung để phán đoán một sự vật, thì sự nhạy bén của chính quý vị sẽ xuất hiện.

Ví dụ, khi quý vị chưa từng đề phòng một người nào, quý vị sẽ không có sự nhạy bén. Hôm nay có người bảo quý vị: “Anh phải cẩn thận đấy, hôm nay anh ta sẽ nói xấu anh trước mặt nhiều người, nên anh tuyệt đối đừng đắc tội với anh ta. Anh chỉ cần nói một câu không vừa ý là anh ta sẽ mắng anh ngay trước mặt mọi người.” Lúc này, khi đến bữa tiệc, quý vị sẽ đặc biệt cẩn thận, sợ chọc giận anh ta, đến nỗi không dám nói chuyện với anh ta. Có phải quý vị đã có cảm giác đó rồi không? Đây là điều Sư phụ nói với mọi người, một người chỉ khi tĩnh lặng mới phát hiện ra bảo bối, một người chỉ khi năng lượng tập trung vào một điểm, quý vị mới có thể cầu được sự từ bi quan tâm của Bồ Tát, và quý vị có thể cảm nhận được điều đó.

Sư phụ từng kể một câu chuyện nhỏ trong Pháp hội. Có một người cha sắp trễ giờ đi làm, ông loay hoay tìm chiếc đồng hồ mãi không thấy nên tức giận ném đồ đạc lung tung. Đứa con trai sợ hãi ngồi nép một bên không dám lên tiếng. Cuối cùng, đứa bé nói: "Bố ơi, đồng hồ ở đây ạ." Chỗ này người cha vừa mới tìm qua, ông cảm thấy kỳ lạ, nó bị một chiếc áo đè lên, sao đứa trẻ này lại biết được? Người cha hỏi: "Con trai, sao con biết đồng hồ ở đây?" Đứa bé trả lời: "Bố ơi, con chỉ ngồi yên ở đây không nói gì cả, nên con mới nghe được tiếng kim giây tích tắc." Câu chuyện này cho chúng ta thấy rằng, một người tĩnh có thể sinh tuệ, an tĩnh mới có thể phát hiện được những hoạt động trong nội tâm của mình.

Tâm quý vị đang nghĩ gì, đôi khi quý vị hoàn toàn không kiểm soát được; chỉ khi an tĩnh lại, quý vị mới biết mình đang nghĩ gì. Đôi khi an tĩnh lại, quý vị cảm thấy "Sao mình lại có thể nghĩ như vậy? Sao mình lại nghĩ lung tung thế? Sao mình lại nghĩ về người ta như thế?", chính mình cũng cảm thấy hổ thẹn, khi đó chính là trí tuệ đã đến. Cho nên, để nghiệm chứng Phật Pháp, chỉ có thể dựa vào sự tĩnh lặng, dựa vào như như bất động, quý vị mới có thể cảm nhận được sự tồn tại của Phật Pháp. Người an tĩnh có thể thấy được Phật, người an tĩnh có thể cảm nhận được Phật ở trong tâm mình, có thể cảm nhận được trí tuệ trong bổn tánh. Tại sao tĩnh có thể sinh tuệ – an tĩnh có thể sinh ra trí tuệ? Tại sao phải tịch diệt? Thực ra, tịch diệt chính là Niết-bàn, là triệt ngộ chân lý. Và trong Phật Pháp truyền thống, "tịch nhiên bất động", "như như bất động" chính là Niết-bàn, là một loại trí tuệ, là sự nâng cao cảnh giới, cùng một đạo lý.

Sư phụ nói thêm với mọi người, khi đã tịch diệt (nếu người này tịch diệt, tức là không còn; ngôi nhà yêu thích không còn, tức là đã tịch diệt), thì tâm quý vị tất nhiên sẽ như như bất động. Ví dụ, quý vị vốn vướng bận căn nhà này, cuối cùng nó bị người nhà bán mất rồi, vậy là quý vị cũng buông bỏ được cái tâm đó. Quý vị rất vướng bận một người, cuối cùng có người cho quý vị hay rằng người bạn mà quý vị quyến luyến cả đời ấy đã qua đời rồi, có phải lúc đó quý vị sẽ như như bất động, sẽ buông bỏ không? Quý vị sẽ tịch nhiên bất động, vì người đó đã tịch diệt. Phật Pháp dạy chúng ta rằng, con người đến cuối cùng rồi cũng sẽ tịch diệt, sẽ không còn gì cả, vậy tại sao bây giờ quý vị lại phải vướng mắc?

Tiền của quý vị sẽ tiêu hết, nhà của quý vị một ngày nào đó cũng không còn là của quý vị, thân thể này cũng không phải của quý vị, tất cả những gì quý vị sở hữu đều sẽ tịch diệt, vậy tại sao quý vị lại phải vướng bận trong tâm? Cho nên Phật Pháp nói đến cùng, cái cốt tủy trí tuệ của nó nằm ở chỗ "Vốn dĩ ta phải tịch diệt, ta không nên động cái tâm này, vì cái tâm ban đầu của ta vốn phải như như bất động, dù đó là nhà hay người, đối với ta đều phải như như bất động". Nó giống như sự tỉnh thức nguyên sơ. Vì vậy, không thể vì một sự việc, sự vật hay con người nào đó mà khơi dậy cái tâm ham muốn của mình, phải biết rằng tất cả đều là khổ, không, vô thường. Sư phụ lấy một ví dụ đơn giản, khi quý vị mới năm tuổi, hiểu biết đôi chút, có người nói với quý vị: "Lúc con đến đây chẳng có gì cả, bây giờ con còn muốn gì nữa?" Có lẽ đứa trẻ sẽ nghĩ: "Đúng vậy, mình chẳng có gì cả." Nhưng đợi đến khi nó có đủ mọi thứ trong đời: nhà cửa, xe cộ, vợ con... thì nó lại không thể buông bỏ được nữa.

Cho nên, phải hiểu được đạo lý của tịch diệt, cũng chính là quy nguyên – quay về số không. Vì thế tại sao lại gọi là "Nguyên Đán"? Đó là một sự bắt đầu mới, "nguyên" là quy nguyên. Điều này cho chúng ta biết, chỉ cần quý vị có cái tâm tĩnh lặng này, quý vị sẽ thực sự thấy rằng không có người hay vật nào trên thế giới này thay đổi cả, tất cả vẫn như như bất động. Lấy một ví dụ đơn giản, những người nam đã kết hôn đang ngồi nghe giảng hôm nay, quý vị không vướng bận gì về người vợ ở nhà. Vậy hãy thử nghĩ xem, nếu là hai mươi, ba mươi năm trước, khi quý vị còn độc thân, không có gia đình này, có phải quý vị ngồi đây cũng chỉ một mình không? Ngày hôm nay có giống ba mươi năm trước không? Tâm quý vị không động, không thay đổi. Vậy nghĩ xa hơn nữa, lúc quý vị sinh ra là một mình, lúc chết cũng không ai đi cùng, có phải là một-đối-một không? Có phải từ khởi đầu đến kết thúc đều là một không? Vì thế gọi là quy nguyên.

Vậy nên Sư phụ nói với mọi người những điều này, quý vị mang cái tâm tĩnh lặng từ nhỏ theo mình, đến cuối cùng khi ra đi, tâm của quý vị lại quy về tĩnh lặng, vẫn là cái tâm đó. Điều này giống như một bài hát có câu "Tôi vẫn là tôi của ngày xưa". Quý vị chẳng mất mát gì cả. Khi quý vị một mình ra đi, quý vị mất gì chứ? Thế giới này vẫn vậy, sáng mặt trời mọc, tối mặt trời lặn. Con người chúng ta cũng thế, bởi vì tịch diệt không phải là một cái chết cố định, nó diệt rồi sẽ lại sinh, sinh rồi sẽ lại diệt. Đức Phật trong Duy Thức Luận đã dạy rằng, tâm của con người luôn biến đổi, những gì có được hôm nay rồi sẽ thay đổi. Vì vậy, quý vị phải dùng cái tâm như như bất động của mình để nhận biết nó, để lý giải nó, để biết rằng nó vốn như như bất động, và cuối cùng vẫn là quy nguyên. Như vậy, tâm của quý vị sẽ không có tham, không có hận, không có si, và quý vị sẽ có một cảm giác siêu việt thời không.

Có lẽ quý vị chưa có cảm giác này, Sư phụ giải thích cho quý vị. Hai người kiện nhau năm năm trời, mỗi lần nghĩ đến vụ kiện là lại khổ sở, vấn đề nan giải này mãi không được giải quyết. Phải làm sao đây? Cảm giác bị mắc kẹt dài đằng đẵng về thời gian và không gian (thời không). "Cứ kiện tiếp cũng chưa chắc thắng, thôi vậy, nói chuyện với họ, đôi bên giải quyết cho xong chuyện, đừng kiện cáo nữa." Lúc này, đối phương đồng ý, cả hai đều đã mệt mỏi, và khi vấn đề được giải quyết trong nháy mắt, có phải cảm giác thời không đã được rút ngắn lại không? Cho nên, đôi khi vợ chồng kiện nhau, không gặp mặt tại tòa mà đều cử luật sư, cứ mãi không gặp, không nói chuyện, cảm thấy hai người cách nhau rất xa, có khoảng cách về thời gian và không gian. Tuy nhiên, một khi đã nghĩ thông, không thể kéo dài như thế này nữa, bèn gọi một cuộc điện thoại: "Chúng ta ra ngoài nói chuyện nhé?", đối phương cũng muốn nói chuyện, hai người giãi bày mọi việc rõ ràng, có phải đã rút ngắn thời không rồi không? Có phải hai người lập tức ở bên nhau không? Vì vậy, khi có được cảm ứng, sẽ không còn bị trói buộc bởi thời gian và không gian nữa (siêu việt được thời không).

Đây là điều mà giới Phật giáo nói, khi có một sự "cảm" (cảm nhận) với ngoại duyên và nội duyên, thì mới có một sự "giác" (giác ngộ). Không có cảm ngộ, làm sao có giác ngộ? Khi một sự việc xảy ra, ta khởi lên một cái "cảm", tức là cảm giác, thì mới có thể có giác ngộ. Cho nên, chúng ta sống trên đời này, tư duy và tưởng tượng của chúng ta đều đã rời xa bản thể. Kinh Phật thường dạy chúng ta phải "phản quy ư thể" – quay về với bản thể, mà bản thể của chúng ta chính là Phật tánh. Con người đôi khi cãi nhau trông không giống người, lúc đau khổ cũng không giống người, vì họ đã rời xa bổn tánh, mà bổn tánh chính là Phật tánh của họ. Đức Phật nói "Chúng sinh giai cụ Phật tánh" (Chúng sinh đều có Phật tánh), bây giờ không còn Phật tánh nữa, nên mới đánh nhau, mắng chửi nhau như loài vật, đã rời xa bổn tánh nguyên sơ của chúng ta.

Vậy nên bất cứ ai làm việc gì cũng phải thực sự hiểu rằng: "Hôm nay tôi làm việc này, cuối cùng cũng sẽ quay về với bản thể của chính tôi." Hôm nay quý vị mắng người khác, cuối cùng người ta sẽ mắng lại quý vị, vẫn là quay về với quý vị. Hôm nay quý vị đánh người khác, người ta sẽ tìm người đánh lại quý vị. Hôm nay quý vị hãm hại người khác, người khác nhất định sẽ hãm hại lại quý vị. Hôm nay quý vị nói xấu người ta trước mặt người khác, thì người ta cũng sẽ nói xấu quý vị trước mặt người khác. Điều này chính là quay về với bổn tánh của quý vị, quay về với bản thân, bản thể của quý vị. Mọi người thử nghĩ xem, đời người có phải là như vậy không? Hãm hại nhau, đến cuối cùng thì sao? Chẳng còn gì cả, chỉ có mất mát.

Một người từ lúc sinh ra, trải qua một đời, cuối cùng bước vào tuổi già, vẫn chỉ là một mình. Một mình cô độc đến thế giới này, cuối cùng cũng một mình cô độc ra đi. Quý vị nói cho tôi biết, có phải đó chính là quay về bản thể, quay về bổn tánh của mình, rồi tịch lặng biến mất không? Khi về già, an an tĩnh tĩnh nằm trên giường, rồi người đó vô thanh vô tức mà biến mất. Sau đó lại đầu thai, lại bắt đầu từ khi còn nhỏ, linh hồn này không thay đổi, tâm của nó ở trong tĩnh lặng, rồi lại từ từ bắt đầu lại. Còn sự thay đổi chính là cái thân xác mà quý vị thấy.

Thực tế, nhiều người nói "Tôi đã thay đổi rồi", sự thay đổi đó chính là các hiện tượng vốn có Tánh Không của quý vị đang thay đổi, còn bản thể của quý vị thì không thay đổi, vẫn như như bất động. Cho nên nhiều người nói: "Ôi, sao tôi không nhận ra chính mình nữa?", đúng vậy, bởi vì ngoại trần của quý vị quá nhiều, nghiệp chướng của quý vị quá nặng, nên quý vị không thể thay đổi được tật xấu của mình, đến nỗi làm thay đổi cả bổn tánh, không còn giống như con người ban đầu nữa. Chỉ cần quý vị thay đổi được ngoại trần, thay đổi được tật xấu, thì quý vị vẫn còn có bổn tánh như như bất động của mình.

Cảm giác của linh hồn luôn có tác dụng trong thân thể con người chúng ta, cho nên chỉ cần một người có linh hồn, họ sẽ có cảm giác. Người ta thường nói "Anh mất hồn rồi", tức là con người đó đã không còn cảm giác nữa. "Sao đến chuyện này mà anh cũng không hiểu?" "Ôi, thật vậy, tôi quên mất." Quý vị đã đánh mất nó rồi.

Phật giáo ví bổn tánh của chúng ta như mặt nước biển, bị ngọn gió của ngoại cảnh thổi qua, bổn tánh của chúng ta liền nổi sóng. Đây chính là "cảm nhi toại thông". Bởi vì quý vị cảm nhận được sự thay đổi của môi trường bên ngoài, quý vị mới dần dần cảm nhận được: thứ nhất, sự tồn tại của bổn tánh tâm linh của mình; thứ hai, quý vị sẽ bị cuốn theo dòng đời. Nhưng bổn tánh của mình, quý vị vẫn có thể thấy được. Nếu không có gió, sẽ không có sóng. Vậy thì khi quý vị tĩnh lặng như thuở ban đầu, tâm sẽ lại trở về với đại dương bình lặng. Vì vậy, Bồ Tát dạy chúng ta phải như như bất động. Tại sao lại có gió, tại sao lại có sóng? Chính là vì tâm quý vị đang động. Tư duy và cảm xúc của con người chúng ta cũng vậy. Nếu chúng ta vốn không suy nghĩ nhiều, nhưng bị môi trường tác động, chúng ta sẽ nghĩ rất nhiều.

Lấy một ví dụ đơn giản, quý vị vốn có quan hệ rất tốt với người này, nhưng chỉ cần một người nói với quý vị rằng anh ta đã nói xấu quý vị ở bên ngoài, tâm quý vị liền bắt đầu nổi sóng, quý vị sẽ không thể dùng lời nói, tư duy và hành vi tốt đẹp để cảm hóa, giúp đỡ anh ta được nữa. Đây là do tâm quý vị đã bị hoàn cảnh tác động mà dao động, và quý vị sẽ sinh ra rất nhiều năng lượng tiêu cực. Tương tự, khi quý vị nghe người khác nói rằng người đồng nghiệp này đối với quý vị tốt vô cùng, đang âm thầm cầu nguyện cho quý vị, làm việc vì quý vị, trong lòng quý vị sẽ sinh ra năng lượng tích cực. Đây cũng là một loại sóng, nhưng tất cả những con sóng của thế gian cuối cùng đều sẽ trở về với sự bình lặng, giống như đại dương yên tĩnh. Sau khi tư duy và cảm xúc của một người an tĩnh lại, dòng suy nghĩ của họ sẽ trở nên bình ổn. Khi một người đang cãi nhau, họ không có lý trí; đến khi họ không cãi nữa, họ sẽ bình tĩnh lại, và lúc đó, những cảm xúc hỷ-nộ-ái-lạc của họ sẽ "tịch nhiên bất động".
>> Tập 101
Mới hơn Cũ hơn