LỜI MỞ ĐẦU
Để đạt được những hiệu quả nhất định, trước khi đọc Bạch Thoại Phật Pháp nên đọc lời cầu nguyện dưới đây:
“Cảm tạ Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Xin gia trì cho đệ tử __(họ tên) để con đọc và hiểu được nội dung của Bạch Thoại Phật Pháp, để năng lượng của Bạch Thoại Phật Pháp gia trì bổn tánh của con, phù hộ cho con khai sáng trí tuệ, tiêu trừ nghiệp chướng, mọi điều kiết tường. Con xin cảm tạ Bồ Tát”.
Nếu quý vị có thể thanh tịnh vô ngại, quý vị sẽ tiến thêm một bước là tu thiện – vì thiện tâm của con người vô cùng quan trọng – thường xuyên tu thiện mà không chấp trước vào việc thiện. Đừng nghĩ rằng: “Hôm nay tôi đã làm việc thiện rồi”. Người lương thiện đương nhiên làm việc lương thiện, kẻ ác đương nhiên làm việc của kẻ ác. Quý vị hãy tinh tấn vô vi, tâm không trụ vào đâu cả (vô sở trụ tâm), thì ngay lập tức sẽ được tự tại giải thoát. Cho nên, học Phật làm người, chỉ cần quý vị không chấp trước vào tất cả những gì mình làm, có thể buông bỏ, tinh tấn vô vi, không chấp trước vào từng chút một những gì mình có được và sở hữu, thì tâm quý vị sẽ không vướng mắc vào đâu cả. Điều đó cũng có nghĩa là không có gì có thể làm vướng bận trong tâm quý vị, và tất nhiên quý vị sẽ tự tại giải thoát.
Hôm nay Sư Phụ đã giảng cho mọi người về Thập Ác Pháp, Thập Thiện Pháp và Thập Niệm Pháp. Tiếp theo, Sư Phụ sẽ giảng cho mọi người tại sao học Phật lại chú trọng đến “vô ngã”.
Tu đến cảnh giới vô ngã thật sự không dễ dàng. Khi quý vị tu đến một giai đoạn nhất định, hoàn toàn “ngã không”, không còn để danh lợi của bản thân trong lòng, đó chính là vô ngã. Hôm nay, nghe người khác nói người này thăng quan, người kia phát tài, mà quý vị không còn chút vướng bận nào của thế gian, không đố kỵ, không phiền não, không khởi tâm sân hận, không khởi các loại tâm tham lam như: “Tại sao mình không có mà họ lại có?”, thì người như vậy gọi là vô ngã. Nhưng cảnh giới vô ngã trong Phật Pháp lại tuyệt đối không phải là trống rỗng. Quý vị nói, vô ngã có phải là không còn gì không? “Tôi vô ngã rồi, không còn con người này nữa, tôi chẳng còn xem trọng điều gì cả”, có phải là trống rỗng không? Không hề. Tại sao? Vì quý vị tu thành vô ngã ngay trong cái “bất không” (không trống rỗng), vậy thì cái “không” đó có còn không? Vẫn còn, vì trong Sắc có Không, trong Không có Sắc. Ở cõi nhân gian này, người khác có đủ đầy danh lợi, nhưng quý vị đã nghĩ thông, không tranh giành với họ, đó có phải là quý vị đang ở trong “Không” không? Sắc tức thị không. Nhưng dù người ta nói: “Bạn cái gì cũng không rồi, nghĩ thông rồi”, thì trên thực tế, những thứ như tài, sắc, danh, thực, thùy (ham ngủ nghỉ) mà quý vị thấy ở nhân gian đều hiện hữu cả. Quý vị không phải là không có gì, quý vị vẫn thấy chúng, chỉ là sau khi thấy, quý vị không chạy theo chúng nữa, quý vị đã hóa giải và buông bỏ được rồi.
Phàm phu luôn cho rằng trên thế gian này có một cái “tôi” chân thật tồn tại – đó là chân ngã. “Cái này của tôi, cái kia của tôi. Tại sao anh không đưa cho tôi?” Thật ra, trên cõi đời này có gì là của tôi, của bạn? Tất cả đều là của thế gian này. Ngay cả khi quý vị đến thế giới này, quý vị cũng chẳng phải là của quý vị; thân xác này là vay mượn, linh hồn này cũng là vay mượn. Đức Phật đã sớm dạy chúng ta, khi thân xác chết đi, linh hồn sẽ vĩnh viễn rời khỏi. Vì vậy, cái “tôi” đã từng tồn tại ở nhân gian chỉ là một cái “ngã” giả tạo. Mọi người có nghe Đức Phật dạy không? Đó là một cái ngã giả. Thân xác mất đi, linh hồn rời khỏi, vậy cái còn lại chỉ là một cái “ngã” của linh hồn. Vì không tìm thấy một cái “ngã” thực sự của thân xác, nên đó chính là ngã giả.
Linh hồn là một thực thể tồn tại có thật trong cảnh giới ý thức của chính mình. Câu này hơi sâu, Sư Phụ giải thích cho các con nghe. Ý thức thì mờ ảo, là tưởng tượng, là tư duy, thuộc về ngũ uẩn. Linh hồn là một thực thể có thật trong cảnh giới ý thức của bản thân, tức là linh tính, linh hồn bên trong quý vị, nó có tồn tại, có một linh thể như vậy bên trong cơ thể quý vị. Thực ra Bồ Tát dạy chúng ta rằng, thực thể này không phải là con người thật của quý vị, không phải là chữ “ngã” thật sự. Chỉ là khi quý vị sinh ra ở nhân gian, có được thân xác này, quý vị đã “chiêu cảm” linh hồn này. Khi linh hồn muốn nhập vào thân xác quý vị, nó bắt buộc phải có một cái “ngã” giả, chính là một cái tên giả. Ví dụ, một người vốn không có tên, sau khi được đặt cho một cái tên, liền trở thành “ông Trương”. Có người vì là con thứ sáu nên từ nhỏ được gọi là “Tiểu Lục”. Mãi đến khi già, người ta vẫn gọi ông là “Tiểu Lục”, đến lúc mất vẫn ghi là “Vương Tiểu Lục”. Nhưng nếu giữa chừng, ông ấy đổi tên, người ta nói: “Hay đừng gọi là Vương Tiểu Lục nữa, đổi thành Vương Phú Quý đi.” “Được, cứ gọi là Vương Phú Quý.” Thế là từ đó về sau, “Vương Tiểu Lục” biến mất, vì cái ngã giả của ông ấy đã trở thành “Vương Phú Quý” rồi.
Người bình thường khi thấy một thân xác thì tin rằng có một chữ “ngã” tồn tại. Khi quý vị thấy một người, liền nghĩ: “Tôi quen anh ta, anh ta là bạn tôi, tên là Vương..., Trương..., hay Lý...”. Thực ra, cảnh giới của quý vị đã sai lệch, vì cái quý vị thấy là một cái ngã giả. Bồ Tát thì thấy khác. Ví dụ, có người mắng quý vị, quý vị liền biết: “Đây là một cái ngã giả, ngay cả chính ta còn không tìm thấy ta là ai. Người đang mắng ta, nói ta cũng là một kẻ giả tạm.” Tại sao nhiều người lại quá coi trọng thể diện? Vì họ xem mình là một cái ngã thật: “Ôi, tôi mất mặt quá!”, “Ôi, tôi xấu hổ quá!”, “Người ta sẽ nghĩ gì về tôi? Sau này đi làm ở đây không phải mất mặt lắm sao?” Chữ “ngã” đó tồn tại trong thân xác quý vị. Lấy ví dụ đơn giản: quý vị đeo một chiếc mặt nạ, mang khuôn mặt của người khác, khi người ta nói về quý vị, có phải quý vị sẽ cảm thấy: “Họ đâu có nói mình, họ đang thấy một người khác mà”? Như vậy, ngã tướng của quý vị liền biến mất.
Cho nên, cái ngã giả tạm, hư không ở nhân gian này thực chất là tứ đại giai không. Tại sao là tứ đại giai không? Vì nó là sự tồn tại của ý thức. Địa, Thủy, Hỏa, Phong (Đất, Nước, Lửa, Gió) rồi cũng tan biến. Đất sẽ mất đi, nước sẽ trôi đi, lửa sẽ cháy tàn, gió sẽ thổi đi. Con người cũng vậy. Chúng ta thường nói thân người là do tứ đại giả hợp mà thành: “địa” là xương cốt; “phong” ví như người bị cảm mạo, trong người có phong hàn; “thủy” là máu, các loại dịch thể trong cơ thể như nước bọt; “hỏa” như khi ta nói “nóng nảy, bốc hỏa”, thực chất là do máu lưu thông nhanh, tuần hoàn máu tăng tốc, gây sung huyết ở một bộ phận nào đó, không thể điều hòa về trạng thái bình thường, thế là hỏa khí sinh ra. Hỏa khí bốc lên, lửa đốt gan, nên can hỏa vượng thì dễ cãi vã, tính tình nóng nảy. Cho nên tất cả đều là giả, là một dạng ý thức. Quý vị có thể nổi giận, cũng có thể lập tức hết giận. Sư Phụ chẳng phải đã từng kể câu chuyện có một người đang ngủ trên ghế trong công viên, rồi một người khác đi tới ngồi lên người anh ta đó sao? Anh ta tức giận đứng bật dậy, vừa định mắng thì thấy đối phương là người mù, thế là cơn giận lập tức tan biến. Tại sao vài giây trước còn bừng bừng hỏa khí, vài giây sau đã hết sạch? Vì anh ta hiểu ra: “Đây là giả, người ta không cố ý, không phải thật tâm muốn ngồi lên người mình.” Vì hiểu được đạo lý này, nhân duyên liền chuyển hóa trong nháy mắt, đó chính là tứ đại giai không, tất cả đều là không.
Ý thức đều là không. Quý vị vừa định làm việc này, tại sao đột nhiên lại không làm nữa? Có người đang nói chuyện, vừa định nổi nóng, bỗng nhiên lại thôi, đó là do hình thái ý thức của họ đã thay đổi. Ví dụ, có việc gì đó quý vị từng không làm được, nhưng quý vị tưởng tượng: “Mình đã đi làm việc đó, đã hoàn thành nó, mình đã thành công rồi.” Cuối cùng, chính quý vị cũng không nhớ rõ việc đó là thật hay giả. Ví dụ, hôm nay tôi bảo quý vị đi mua đồ, quý vị không đi, nhưng trong đầu quý vị tưởng tượng: “Mình vừa mới ra ngoài, đi bộ mệt quá, lại gặp trời mưa. Một lúc sau mưa tạnh, mình mua đồ về, xách nặng ghê, rồi mình về đến nhà.” Chỉ cần ý thức này tồn tại, sau một tuần, hai tuần, hay một tháng, bỗng có người hỏi: “Lần trước bảo cậu đi mua đồ, cậu mua chưa?” Quý vị sẽ đáp: “Hình như đi rồi, còn gặp mưa nữa thì phải.” Chính là ý này. Tức là, ý thức của con người là tồn tại. Con người chỉ cần tưởng tượng ra một việc, việc đó liền tồn tại. Con người từ bỏ ý thức đó, không có sự tưởng tượng đó nữa, thì ý thức đó liền không tồn tại. Quý vị tưởng tượng người khác sẽ cười chê mình, quý vị sẽ đỏ mặt tía tai, tranh cãi với họ; đến khi quý vị nghĩ rằng người khác không xem trọng mình đến thế, “Mình là ai chứ? Người ta cũng đâu để ý đến mình”, thì cơn giận của quý vị lập tức nguôi ngoai. Đây chính là điều Phật Pháp giúp chúng ta hiểu về tứ đại giai không.
Khi tu đến nhân tướng, ngã tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì Tứ Tướng này cũng phải không. Cái “Tứ Tướng giai không” này và cái “Tứ Đại giai không” kia, thực chất đều là không. Con người đã không, lúc ra đi chúng sinh cũng sẽ không, thọ giả cũng sẽ không, ngã tướng cũng sẽ không. Cho nên, quý vị phải tìm ra cái “ngã” bản lai của sinh mệnh. Mà cái “ngã” đó, bề ngoài là quý vị đã tìm thấy một cái “ngã” trong linh hồn, gọi nó là “ngã”, nhưng cái “ngã” này cũng là giả hợp, làm gì có cái “ngã” chân thật? Sư Phụ đã từng giảng, nếu một người tạo nghiệp rất sâu, bị phán xuống địa ngục, hồn phách bị đánh cho tan nát, thì cái “ngã” này liền không còn nữa, từ đó về sau không còn cái “ngã” này nữa. Vì thế, không ai nên nghĩ rằng trên thế giới này có một cái “tôi” chân thật. Ý thức của chúng ta trong ruộng thức thứ chín (Cửu Thức Điền), đó mới là Phật tánh, là chân tâm, cũng không thể gọi là một cái “ngã”. Nó là linh hồn của quý vị, gọi nó là bản tánh, Phật tánh trong ruộng thức thứ chín, gọi thế nào cũng được, chỉ là một cái tên. Quý vị gọi nó là gì cũng không đúng, vì nó vốn là một ý thức, một linh thể chân thật không có tên gọi.
Kinh Kim Cang từng nói: “Tu Bồ Đề! Phàm phu giả, Như Lai thuyết tức phi phàm phu, thị danh phàm phu.” Câu này nghĩa là gì? Đức Phật nói với đệ tử Tu Bồ Đề rằng: “Phàm phu, Như Lai nói tức chẳng phải phàm phu, đó chỉ là tên gọi phàm phu.” Nghĩa là, Phật nói: Người này là phàm phu, nhưng thực ra cũng chẳng phải là phàm phu, chỉ là cái tên gọi người đó là phàm phu mà thôi. Lấy ví dụ đơn giản, tôi nói quý vị là người lười biếng, thì “lười biếng” đó chỉ là một cái tên, không phải là bản chất lười biếng thực sự của quý vị, vì sau này quý vị không lười nữa, thì cái tên đó cũng không còn. Mọi người hiểu không? Chỉ là một cái tên “người lười biếng”. Vậy tại sao Phật nói vừa là phàm phu, lại vừa chẳng phải phàm phu? Vì đó là tên gọi. Tên gọi là “cậu bé lười”, “cô bé béo lười”; đến khi lớn lên, trở nên vô cùng siêng năng, thì “cậu bé lười” đó còn không? Nó chỉ là một cái tên từng được gọi mà thôi.
Vậy nên, phàm phu thực ra qua học Phật tu tâm có thể trở thành phi phàm phu (chẳng phải phàm phu). Ai nói quý vị là phàm phu? Ai nói quý vị là kẻ tục tử? Quý vị thay đổi rồi, quý vị đã là phi phàm phu. Quý vị thay đổi rồi, quý vị đã là phi tục tử. Người học Phật ở trong cõi hồng trần mà không xuất gia, nên chỉ có tên gọi là phàm phu. Chúng ta không xuất gia, là người tại gia, nên gọi là phàm phu. Nhưng cảnh giới của chúng ta lại đã thoát ly khỏi phàm phu tục tử, nên chúng ta là phi phàm phu. Kinh Kim Cang đặc sắc chính là ở chỗ này. Người học Phật và phàm phu tục tử, Thánh nhân và Bồ Tát, thực ra đều là những cái tên giả. Vì phàm phu có thể trở thành Thánh nhân, mà Thánh nhân cũng có thể trở thành phàm phu; tục tử có thể trở thành Bồ Tát, mà Bồ Tát cũng có thể trở thành tục tử. Điều này cho chúng ta biết, trên thế giới này không có phàm phu chân thật, chỉ là trên danh xưng gọi là phàm phu, trên danh xưng gọi là Bồ Tát, trên danh xưng gọi là Phật mà thôi. Một phàm phu tìm thấy bản tánh của mình thì tức là phi phàm phu. Quý vị tìm thấy bản tánh rồi, quý vị còn là phàm phu nữa không? Một đứa trẻ rất lười, từ nay biết rằng không được lười, phải nỗ lực chăm chỉ, nó đã không còn là một đứa trẻ lười biếng nữa. Một người cư sĩ có thể sở hữu Phật tánh, người ấy chính là Phật, tức chẳng phải phàm phu tục tử.
Chúng sinh bình đẳng. Sư Phụ đem những lời kinh điển của Thiền Tông nói cho đại chúng nghe: Chúng sinh bình đẳng. Thiền Tông cho rằng văn hóa Thiền chính là trí tuệ. Tâm, Phật, chúng sinh, cả ba không khác biệt. Tâm của quý vị, Phật, và chúng sinh, đều không có gì khác nhau. Tâm là gì? Tâm khai ngộ rồi, nó chính là Phật; tâm tức là Phật. Cho nên tâm và Phật là một, gọi là tâm Phật hợp nhất. Vì tâm này tức là Phật, mà Phật nếu chưa ngộ đạo thì chính là chúng sinh. Vì chúng sinh và phàm phu là một, nên cả ba không khác biệt. Chúng ta thường nói: Quý vị tu cho tốt, quý vị chính là Phật; quý vị tu cho tốt, quý vị chính là Bồ Tát. Quý vị vốn là Bồ Tát từ trên trời thừa nguyện tái lai, nhưng nếu không chịu tu hành, quý vị chính là phàm phu tục tử.
Đức Phật từng nói, chúng ta không độ chúng sinh – năm xưa kinh văn được dịch như vậy. Vậy tại sao Phật lại nói chúng ta không độ chúng sinh? Khi quý vị đã khai ngộ, đã vô ngã, thì ai đến độ chúng sinh? Không phải là quý vị. Vô ngã rồi, còn có ai đến độ chúng sinh nữa? Không phải là quý vị, cho nên là vô ngã. Khi quý vị tu trì chứng đắc được cái vô ngã chân thật, thì ai đang độ chúng sinh? Không có ai độ chúng sinh cả. Vì đã vô ngã, chúng ta đi đâu rồi? Không còn nữa. Giống như: “Hôm nay tôi giúp người khác một việc tốt, làm xong rồi, tôi hoàn toàn quên mất, vô ngã rồi.” Quý vị còn nhớ mình đang làm việc tốt không? Không còn nữa. Làm xong việc tốt đó, nó liền tồn tại trong không gian, mà không gian chính là không. Vì vậy, nhiều người làm việc tốt không lưu lại tên tuổi, cảnh giới của họ rất cao. Còn người làm việc tốt mà cứ khoe: “Việc này tôi làm, việc kia tôi làm”, cảnh giới của người này không cao, vì họ chưa chứng đắc được không tánh. Bây giờ Sư Phụ giảng những lời này, quý vị có hiểu không? Cho nên, Sư Phụ bảo quý vị phải hiểu Phật là gì. Phật chính là đã đoạn trừ ngã tướng, không còn ngã tướng nữa, thì quý vị chính là Phật, đã chứng đắc được không tánh của sự giác ngộ.
Việt dịch chú thích tham khảo:
Phàm phu: Nhấn mạnh về mặt Tư tưởng, Tâm Linh - một người
chưa chứng ngộ chân lý, còn chìm đắm trong vô minh, nhận biết sai lầm.
Tục tử: Nhấn mạnh về mặt Lối sống và Hành vi - một người
có tâm trí chỉ xoay quanh những ham muốn của trần thế như tiền tài, danh vọng,
sắc dục, ăn uống, hơn thua, tranh đấu... Họ suy nghĩ và hành động theo lề thói
của thế tục.