LỜI MỞ ĐẦU
Để đạt được những hiệu quả nhất định, trước khi đọc Bạch Thoại Phật Pháp nên đọc lời cầu nguyện dưới đây:
“Cảm tạ Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Xin gia trì cho đệ tử __(họ tên) để con đọc và hiểu được nội dung của Bạch Thoại Phật Pháp, để năng lượng của Bạch Thoại Phật Pháp gia trì bổn tánh của con, phù hộ cho con khai sáng trí tuệ, tiêu trừ nghiệp chướng, mọi điều kiết tường. Con xin cảm tạ Bồ Tát”.
Tập 87 - HIỂU ĐƯỢC VÔ NGÃ CHÍNH LÀ BUÔNG BỎ
Sư phụ Lư Quân Hoành giảng giải Bạch Thoại Phật Pháp ngày 13/06/2020
Lần trước Sư phụ đã nói với quý vị về Vô ngã, hôm nay Sư phụ sẽ nói sâu hơn một chút nữa.
Tất cả quan niệm (tức là suy nghĩ, quan niệm) của người học Phật, tất cả người và sự việc ở nhân gian mà quý vị chấp trước, chỉ cần cảm thấy có "cái tôi" ở trong đó, thì quý vị không thể nào thực sự tìm thấy cảnh giới Vô ngã. Trong mỗi một việc, khi tiếp xúc với mỗi một người, chỉ cần quý vị còn cảm thấy có "cái tôi", thì trong sự việc đó quý vị sẽ có tâm riêng. Lấy một ví dụ đơn giản, hôm nay quý vị muốn giúp đỡ người khác, nhưng nếu quý vị nói "Tôi đang giúp đỡ người khác", thì điều đó hoàn toàn khác với việc quý vị chỉ đơn thuần đi giúp người khác, đây là hai khái niệm khác nhau. Vô ngã mà đi giúp người khác, đó chính là thuần thiện. Còn nếu có "cái tôi", vậy là quý vị có mục đích rồi, ít nhất là muốn họ phải cảm ơn, phải biết ơn mình. Khi nghĩ rằng "Hôm nay tôi đang giúp bạn", thì cảnh giới này đã rơi rớt xuống rồi.
Hai chữ "Vô ngã" nghe có vẻ trống rỗng, vì vô ngã rồi nên cảm giác là rỗng không. Nhưng nói là vô ngã, vậy cái "tôi" có còn đó không? Vẫn còn đó. Vậy làm thế nào để vận dụng cảnh giới vô ngã của mình vào những sự việc và con người hữu ngã? Chính là phải biết dùng cảnh giới của mình để làm việc. Nói đến đây, ở một tầng nghĩa rất sâu, thực ra khi mỗi người làm một việc, có người dùng ngã tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng... rất nhiều tướng để làm việc. Thực ra, chúng ta nên dùng cảnh giới. Cảnh giới càng cao, quý vị càng rời xa ngã tướng, càng làm việc một cách vô ngã, khi đó chữ "ngã" này chính là một không tướng. Tuy nói là "có tôi", nhưng không dùng đến "cái tôi", vậy thì nó chỉ là một danh xưng mà thôi.
Vì vậy, quan niệm về một cái "tôi" rỗng không được sinh ra như thế. Không có tôi, tức là rỗng không; nhưng lại có tôi, cái "tôi" này chỉ là một quan niệm, một danh xưng mà thôi, đây chính là tinh túy của Phật pháp. Giống như trên đường, người khác không quen biết quý vị, nhưng họ có thể gọi quý vị là "thưa ông", "thưa bà". Nhưng "ông", "bà" này không phải chỉ một người cụ thể nào, không phải nhắm riêng vào quý vị, mà chỉ là một danh xưng chung chung, gọi ai cũng được. Nếu người khác gọi quý vị là "thưa ông", có thể quý vị sẽ vô ngã, vì quý vị không biết họ có quen mình không, chỉ là một cái tên người ta gọi bâng quơ, quý vị có thể nhìn xung quanh, trong lòng không khởi lên suy nghĩ gì, đó là vô ngã. Vì họ không gọi tên quý vị nên quý vị có thể buông xuống. Người ta gọi tên người khác, đương nhiên quý vị sẽ buông xuống. Người ta gọi "thưa ông", "thưa bà", quý vị không nhất định sẽ chấp trước; nhưng khi người ta gọi đúng tên quý vị, quý vị sẽ không buông xuống được. Vậy cái tên được gọi đó có phải là giả danh không? Phải, vẫn là giả danh. Nếu cảnh giới đủ cao, biết đó là giả danh thì sẽ không bị phiền não thế gian và tiếng gọi của người khác làm cho quấy nhiễu. Giống như nhiều người có tố chất tâm lý rất tốt, khi người khác chửi mắng, họ sẽ không gán tên mình vào đó; còn một số người lại tự áp vào mình, rồi nhảy dựng lên: "Hắn đang chửi mình, chắc chắn là đang nói mình." Đây chính là tố chất tâm lý và cảnh giới trong tâm.
Cho nên, kinh Phật dạy chúng ta phải học được rằng: “Biết được Vô ngã, tức là buông bỏ”. Phải tìm ra nguồn cội của sinh mệnh, thấy rõ "cái tôi" này chỉ là một ngã tướng trong cuộc đời, không phải là "cái tôi" trong cảnh giới của Phật, nó chỉ là một cái "tôi" giả danh, làm gì có "cái tôi" chân thật? Kinh Phật có Tam Tạng Mười Hai Bộ, rất nhiều kinh văn phải dựa vào việc tự mình tu tâm để từ từ khai ngộ, dựa vào sự tu trì của chính mình. Một người nếu có thể quên mình, trong đầu toàn là người khác, người đó chính là vô ngã, họ làm gì có chính mình? Nếu một nhóm người chỉ vì người khác mà không nghĩ đến bản thân, thì nhóm người đó là những chúng sinh vô tư. Bởi vì trong đầu toàn là người khác, đó chính là chúng sinh vô ngã, cảnh giới được nâng cao chính là như vậy.
Đức Phật thuyết pháp bốn mươi chín năm, Ngài Thích Ca Mâu Ni nhận ra rằng tất cả mọi thứ trên thế gian đều là vô thường, đều sẽ biến đổi không ngừng, nhưng đến cuối cùng, không có gì thuộc về "tôi". Nói cách khác, cái "tôi" mà quý vị nghĩ, thực ra chỉ là một danh xưng giả tạm, rỗng không và không tồn tại. Nếu trong cuộc sống hằng ngày, quý vị dùng quan điểm này để sống, quý vị sẽ không còn tức giận nhiều như vậy nữa. "Hắn đang mắng tôi", có phải là ngã tướng không? "Tôi thiệt thòi quá, tôi không có được, tôi không vui", khi bỏ đi cái "tôi" này, chủ ngữ không còn nữa, thì tất cả đều nằm trong tánh Không. Cho nên cuối cùng, chữ "tôi" này cũng là rỗng không.
Tương tự như vậy, tất cả khổ nạn trên thế gian này thực ra đều là rỗng không; tất cả pháp hỷ, niềm vui, hạnh phúc trên thế gian cũng là rỗng không. Bởi vì chủ ngữ "tôi" là rỗng không, nên không có niềm vui chân thật, cũng không có hạnh phúc rốt ráo. Hạnh phúc là gì? Hạnh phúc phải là vĩnh viễn thì mới là hạnh phúc. Hạnh phúc ngắn ngủi sẽ mang đến cho quý vị nỗi khổ vô hạn. Không có một đạo tràng nào có thể chứa đựng hạnh phúc mãi mãi, bởi vì cõi người không phải là nơi có thể gìn giữ được cuộc sống hạnh phúc vĩnh viễn, rốt ráo. Cho nên tất cả rồi sẽ qua đi, chính là điều giới Phật giáo gọi là "tất cả đều không". Trên thế gian này tất cả đều là không, nên hạnh phúc không thể vĩnh viễn, khổ nạn cũng không thể nắm bắt. Quý vị có nắm bắt được khổ nạn không? Quá nhiều kiếp nạn khiến quý vị chìm đắm trong đau khổ mà không thể thoát ly. Hôm nay quý vị khổ, quý vị có biết vài ngày nữa sẽ có chuyện gì xảy ra không? Hôm nay quý vị gặp chuyện, rồi một tuần, một tháng sau, lại xảy ra chuyện gì nữa? Tất cả đều ở trong khổ nạn, và không có gì tồn tại mãi mãi.
Trong sự biến đổi, chúng ta muốn níu kéo hạnh phúc cũng không được; trong khổ nạn, chúng ta muốn thoát ra cũng không xong. Muốn bản thân thoát khỏi Khổ-Không-Vô thường, Vô ngã, phải hiểu rằng "cái tôi" đó chỉ là một cái tên, một danh xưng mà thôi. Phật pháp nói khổ cũng là không, vui cũng là không, bởi vì chúng ta đang hành không. Muốn thật sự rời khỏi, tức là xuất ly, giải thoát, phương pháp tốt nhất là phải ghi nhớ: vốn dĩ khi đến thế giới này, ta chỉ được ban cho một cái tên, chỉ là một cái "tôi" hư ảo, một khái niệm "có tôi". Ngày xưa người ta nói chuyện mượn xác hoàn hồn, cái "tôi" này liền thay đổi, nó nhập vào thân xác của người kia, biến thành "người đó". Cho nên nhiều người rất đáng thương, cả đời bám chấp vào chút tiền mình kiếm được, cả đời bám chấp vào chút danh lợi mình sở hữu, "Đây là của tôi, đây là của tôi". Đến cả cái tên cũng không phải của quý vị, thân xác này cũng không phải của quý vị, nó chỉ là một khái niệm mà thôi.
Thời Đức Phật tại thế, rất nhiều đệ tử của Ngài y giáo phụng hành (làm theo lời Phật dạy), họ đều chứng được cảnh giới Vô ngã. Nói cách khác, người học Phật ngày nay phải chứng được cảnh giới Vô ngã. Làm sao để chứng được? Không tranh giành với người khác chính là Vô ngã, bởi vì có "cái tôi" thì mới đi tranh giành với người ta – "Tôi muốn tranh với anh ta, tôi muốn hơn thua với anh ta, tôi muốn so bì với anh ta...", cái "tôi" – không thể tách rời. Vô ngã rồi, quý vị có còn gây gổ với người khác không? Có còn cãi nhau với người khác không? Vô ngã rồi, thì không còn trói buộc. Không tranh cãi với người khác, vì không có "cái tôi" nữa. Người ta mắng chửi, mình vô ngã rồi, thì không biết họ đang mắng ai. Người ta tính toán chi li với mình, mình vô ngã rồi, thì không tính toán với họ nữa. Có phải là đã giảm bớt đau khổ không? Bởi vì chứng được Vô ngã, hiểu rằng "cái tôi" này chỉ là một cái tên ở nhân gian mà thôi, hôm nay có thể gọi là Trương Tam, ngày mai có thể gọi là Lý Tứ.
Trong việc hành theo lời Phật dạy, "người tu hành" chỉ là một danh xưng. Tại sao pháp sư sau khi xuất gia phải có một pháp danh mới? Bởi vì cái "tôi" ban đầu đã được thay da đổi thịt, đã không còn nữa, cho nên có một cái tên mới. Cái tên mới của việc tu tâm đó mới là linh hồn chân thật. Tuy là giả danh, nhưng trong quá trình tu hành quý vị tìm thấy Phật tánh chân thật, đó mới là nơi nương về của cảnh giới linh hồn. Cảnh giới linh hồn của một người có nơi nương về không? Có chứ. Rốt cuộc quý vị muốn trở thành người như thế nào? Quý vị muốn học Phật ra sao? Cảnh giới linh hồn chân thật của một người phải thanh tịnh, thì cả đời người đó mới không sống uổng. Nhiều người sống cả đời, nghiên cứu Phật pháp, học rất nhiều pháp môn, nhưng lại không đạt được nơi nương về chân thật của cảnh giới linh hồn. Rốt cuộc quy y điều gì, đây là điều rất quan trọng.
Năm xưa, khi Đức Phật 80 tuổi, vào lúc tuổi già sức yếu trước khi nhập Niết-bàn, Đức Phật lại dạy các đệ tử của mình phải học về Thường-Lạc-Ngã-Tịnh. Bình thường Đức Phật đều giảng cho đệ tử về Khổ-Không-Vô thường, nhưng đến cuối cùng, tại sao Ngài lại dạy chúng ta những điều này? Bởi vì "Khổ" là vô thường, cho nên phải đối trị bằng "Lạc"; "Không" là để học cách vui vẻ. "Vô ngã" là vì có chữ "ngã" nên mới đau khổ, học được vô ngã, Đức Phật nói với quý vị rằng, quý vị sẽ được an lạc. "Thường" nghĩa là hằng hữu, lâu dài; "Vô thường" là để chúng ta học cách giữ tâm thanh tịnh, phải quen với thế giới vô thường này. Có như vậy mới tu được Vô ngã tướng, Vô nhân tướng, Vô chúng sinh tướng, Vô thọ giả tướng, đây chính là Vô Tứ tướng. Điều này dạy chúng ta phải xem mọi thứ trên đời là không, hiểu rằng thế sự vô thường, và cũng phải biết chuyển khổ thành vui. Phải biết loại bỏ ngã tướng, và sự tồn tại của cái ngã giả này chính là cái "tôi" để ta "mượn giả tu chân", từ đó tu ra tự tánh của mình, tu ra sự thanh tịnh – đó chính là Thường-Lạc-Ngã-Tịnh.
Sư phụ dạy quý vị phải quán tất cả là Không, học cách buông xả; như vậy quý vị đang hành hạnh Bồ Tát giữa nhân gian, đến mức chính cái “ta” cũng không thể tìm thấy nữa. Nhiều người nói chuyện thì thuận theo người khác, không có quan điểm riêng, họ không làm mất lòng ai, như vậy cũng tốt (nhưng không thể không có nguyên tắc). Trong học Phật, phải "không" đến mức không tìm thấy chính mình, nghĩa là sao? Chính là Vô ngã tướng.
Quý vị hãy xem tật xấu của con người bây giờ: thể diện quan trọng quá! Thể diện của chúng ta có buông xuống được không? Sư phụ bảo rất nhiều bạn đạo hãy buông bỏ, họ đều hiểu rằng buông bỏ sẽ giải thoát khỏi đau khổ, nhưng hễ bắt tay vào việc là chữ "tôi" liền xuất hiện, "Tôi phải làm thế này, tôi phải làm thế kia", và rồi họ đau khổ.
Vì thế, một người học Phật chân chính phải không tìm thấy cái tôi của mình, thì mới có thể thực sự tìm thấy nguồn cội của sinh mệnh. Cần cái thể diện đó để làm gì? Sĩ diện hão chỉ làm khổ mình! Từ nhỏ đến lớn, cả đời quý vị đã cần thể diện bao nhiêu năm rồi? Đến bây giờ vẫn còn cần thể diện, sửa một khuyết điểm cũng cần giữ thể diện. Không có việc gì mà quý vị không có lý do cả. Đây chính là quý vị đã gieo trồng ngã tướng vào trong A-lại-da thức (Thức thứ tám) của mình. Tại sao Đức Phật dạy chúng ta phải trừ bỏ Tứ tướng? Là để chúng ta tìm thấy Phật tánh trong Thức thứ chín, A-ma-la thức, vì chỉ có Phật tánh là vô tướng, vì chỉ có Phật tánh ở trong bản tánh của chúng ta mới là vĩnh hằng bất biến.
Chữ "Thường" mà Đức Phật nói là tương đối với "Vô thường". "Lạc" không phải là "Khổ". Người đạt được Lạc thì lìa khổ, bởi vì người lìa khổ mới có thể an lạc. Câu này mọi người nhất định phải ghi nhớ: "Lạc không phải là Khổ". Người đạt được nó thì đã lìa khổ, mà lìa khổ có phải là được an lạc không? Người lìa khổ mới có thể an lạc, và niềm an lạc chân thật sẽ không bao giờ là khổ đau. Nhiều người nói: "Tôi rất khổ nhưng tôi cũng rất vui", bản thân câu nói này đã mâu thuẫn. Người thực sự hiểu Phật Pháp phải biết rằng lìa khổ mới có thể được lạc. Hôm nay quý vị buông bỏ, vứt bỏ phiền não trên thân, vứt bỏ tham-sân-si của mình, thì quý vị mới có thể thực sự an lạc.