Tập 98 - NHÂN DUYÊN KHỞI SINH, PHẬT THUYẾT TỨC KHÔNG

  LỜI MỞ ĐẦU

Để đạt được những hiệu quả nhất định, trước khi đọc Bạch Thoại Phật Pháp nên đọc lời cầu nguyện dưới đây:

“Cảm tạ Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Xin gia trì cho đệ tử __(họ tên) để con đọc và hiểu được nội dung của Bạch Thoại Phật Pháp, để năng lượng của Bạch Thoại Phật Pháp gia trì bổn tánh của con, phù hộ cho con khai sáng trí tuệ, tiêu trừ nghiệp chướng, mọi điều kiết tường. Con xin cảm tạ Bồ Tát”. 

 

Tập 98 - NHÂN DUYÊN KHỞI SINH, PHẬT THUYẾT TỨC KHÔNG

Sư phụ Lư Quân Hoành giảng giải Bạch Thoại Phật Pháp ngày 01/07/2020

Vì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni hiểu được rằng con người và sự vật trong vũ trụ đều là vô chủ tể (vô chủ tể - không có gì chi phối), không một ai có thể sống mãi, không một ai có thể làm chủ thế gian, không một việc gì có thể không thay đổi, cho nên không có cách nào kiểm soát được nó. Dùng lời hiện đại để nói chính là “tôi không có cách nào kiểm soát người này, tôi cũng không có cách nào kiểm soát sự vật này”, bởi vì nó không phải tự nhiên mà có. Vạn vật đều do “nhân duyên sở sinh Pháp” (tất cả đều do nhân duyên, đều là vì hôm nay quý vị làm việc này mà sinh ra cái duyên này, rồi cái duyên này lại khiến quý vị sinh ra một cái duyên khác, gọi là “tục duyên”. Cho nên con người sinh trong duyên, diệt trong duyên, đây chính là vô thường quán). 
Vì vậy, “Ta nói thảy đều là không”, Không chính là bản thể của vũ trụ. Quý vị hãy nghĩ xem, khi trong lòng không vui, thấy một món đồ mình thích bị người khác mua mất, hoặc một việc gì đó đã vuột mất, lúc này quý vị hãy nhìn lên bầu trời, quý vị sẽ cảm thấy mình thật nhỏ bé, sẽ cảm thấy vạn vật trong vũ trụ đều là không tướng. Trên đời này có gì là thể diện, có gì là không buông bỏ được? Ngẩng đầu nhìn không gian vũ trụ, mới thấy bao la, vĩ đại biết bao, nên nghĩ lại mới thấy lòng mình nhỏ bé dường nào. Thật ra, phiền não của con người chỉ là do nhân duyên đang khởi lên những gợn sóng trong tâm quý vị, trong quá trình bị nhân duyên chi phối, nó chỉ là những tác động lên bản thể (bản tính của con người) mà thôi. “Bạn kích động tôi, khiến tôi sinh khởi ngũ dục lục trần”, đó chỉ là một quá trình. Cho nên trong cõi Phật Pháp mới gọi đó là Duyên khởi Tánh không.
Khi duyên phận bắt đầu, quý vị phải hiểu rằng bản chất của nó đến cuối cùng nhất định là vô thường, là không. Chính vì tánh là Không nên duyên mới có thể khởi. Giống như chúng ta đi giúp đỡ một người, chúng ta và người này nhất định có duyên phận. Quý vị đi độ một chúng sinh, quý vị và chúng sinh này nhất định có duyên với nhau. “Vì tôi muốn học Phật, vì tôi là người học Phật, tôi học Đại thừa Phật Pháp, tôi phải đi cứu độ chúng sinh”, cho nên quý vị sẽ dùng trí tuệ, thời gian, năng lực của mình để giúp đỡ họ, để tư duy của họ hiểu được ý nghĩa chân thật của Phật Pháp. Có lúc quý vị sẽ dùng tài vật để bố thí cho họ, rồi sẽ thuyết Pháp để họ được giải thoát, loại nhân duyên được sinh ra như vậy chính là “nhân duyên sở sinh Pháp”. Một người không quen biết, cuối cùng trở thành bạn tốt của quý vị; một người quý vị từng độ, họ sẽ xem quý vị như Phật, đây chính là một Pháp do nhân duyên sinh ra. Tuy nhiên, sau khi sinh ra rồi thì chính là Duyên khởi Tánh Không, bởi vì họ dần dần trưởng thành, dần dần hiểu ra rất nhiều điều, dần dần càng học càng tinh thông. Vì quý vị đã giúp họ, quý vị làm xong việc này rồi, duyên đã khởi lên rồi qua đi, đến cuối cùng khi họ có thể ngộ ra đạo lý này, quý vị đã hoàn thành nhiệm vụ, duyên cũng theo đó mà không còn nữa. Quý vị không thể nào dìu dắt họ đi cả một đời. Giống như chúng ta bây giờ đã biết lái xe, có ai còn nhớ đến người thầy đã dạy mình trong chiếc xe tập lái hay không? Không còn nữa. Duyên phận chính là đã dạy cho quý vị xong rồi thì kết thúc. Duyên giữa người với người đã khởi lên, đến cuối cùng, quý vị phải hiểu bản chất của nó là không. Rất nhiều người học Phật không thể hiểu được những điều này. 
Câu “Ta nói tức là không” cũng chính là Bồ Tát đã nói, Phật đã nói, thì ngay cả chính lời nói đã được nói ra đó cũng đều là không. Đây là lý do vì sao rất nhiều vị Đại Phật nói: “Ta đã thuyết pháp bao nhiêu năm như vậy, mà chưa từng nói gì cả. Đã nói chưa? Nói rồi. Nói rồi thì nó ở đâu? Không còn nữa. Tôi đã giúp bạn chưa? Giúp rồi. Giúp xong rồi thì sao? Lại không còn nữa. Đây chính là Duyên khởi Tánh không.
Hôm nay tôi xin chia sẻ với đại chúng về Duyên khởi Tánh không đến đây. Cảm ơn đại chúng.
Tôi xin kể cho quý vị nghe một câu chuyện. Ý niệm của con người vô cùng quan trọng, nếu quý vị có một niệm chí thành, thì nhân tuy nhỏ mà quả lại rất lớn. Cho nên nhiều người đừng cho rằng một niệm giúp người khác là “nhân rất nhỏ”, quả báo của nó lớn không thể tưởng tượng được đâu.
Có một lần, Đức Phật đến một quốc thành toàn là người thuộc dòng dõi Bà-la-môn (Ấn Độ có rất nhiều thành, vua và dân trong thành này về cơ bản đều theo Bà-la-môn giáo). Thành chủ nghe nói sức nhiếp phục của Đức Phật rất lớn (tức là rất có sức ảnh hưởng), ông ta thấy người được Phật giáo hóa ngày càng nhiều, trong lòng vô cùng hoảng sợ, lo rằng giáo lý Bà-la-môn sẽ vì thế mà không còn đứng vững (giáo lý của mỗi giáo phái đều khác nhau). Để ngăn chặn tình hình này xảy đến, ông ta đã ra một đạo lệnh: “Phàm ai cúng dường Phật, tiếp nhận Phật Pháp, sẽ bị phạt nặng năm trăm lượng bạc.” Mọi người thấy Pháp lệnh, ai cũng tiếc năm trăm lượng bạc (rất nhiều), cho nên khi Phật và các đệ tử vừa vào thành, nhà nhà đều vội vàng đóng chặt cửa. Cứ thế, liên tục ba ngày, Tăng chúng đều ôm bát rỗng trở về.
Đến ngày thứ tư, một bà lão giúp việc cho một trưởng giả Bà-la-môn, từ trong nhà bưng ra một ít thức ăn đã ôi thiu định đổ đi. Vừa ngước lên, bà thấy hình tướng uy nghi trang nghiêm của Phật Đà, lòng cung kính tự nhiên sinh khởi. Bà rất muốn cúng dường Đức Phật, nhưng nhìn lại thức ăn trong tay vừa thô xấu, lại đã ôi thiu, hư hỏng, làm sao có thể dùng để cúng dường một vị Phật tôn quý như vậy? Bà thầm nghĩ: Phải làm sao đây?
Đang lúc bà do dự không quyết, Đức Phật mỉm cười phóng quang (nụ cười của Phật Đà, từ ánh mắt sẽ tỏa ra Phật quang), hoan hỷ dùng bát nhận lấy phần thức ăn ôi thiu từ tay bà lão, rồi quay sang bảo A Nan: “Này A Nan, bà lão này một lòng chí thành, nhờ công đức cúng dường Phật với tâm thành kính này, về sau bà sẽ được sinh lên cõi trời hưởng phúc lạc trong mười lăm kiếp, sau mười lăm kiếp sẽ hạ sinh làm người, có đủ nhân duyên xuất gia tu hành.” (Đức Phật sẽ nói về nhân duyên.)
Người chủ của bà lão tình cờ nghe được, lập tức từ trong nhà bước ra, ông ta nghĩ thầm: “Những lời Đức Phật nói thật bất khả tư nghị!” (Có mấy ai biết được mười lăm kiếp sau ở trên trời, rồi mười lăm kiếp sau nữa lại xuống nhân gian, cuối cùng còn được thành tựu nhân duyên xuất gia?)
Đức Phật bèn hỏi vị trưởng giả Bà-la-môn: “Này trưởng giả, ông đã từng thấy những việc bất khả tư nghị nào khác chưa?” (Đức Phật rất đáng yêu, liền hỏi ông ta, ông đã từng thấy việc bất khả tư nghị nào khác chưa? Ông vừa nghe chuyện này đã thấy bất khả tư nghị rồi.)
Trưởng giả đáp: “Dạ có. Một lần, chúng tôi có năm trăm cỗ xe ngựa cùng nhau du ngoạn, vì thời tiết oi bức nên đã tìm một cây cổ thụ để nghỉ chân. Cây đại thụ này lớn đến mức có thể chứa đủ cả năm trăm cỗ xe ngựa mà bóng râm vẫn còn thừa. Thưa Đức Phật, cây lớn như vậy thật là bất khả tư nghị!”
Đức Phật liền hỏi: “Vậy ông có biết hạt của cây đại thụ đó lớn chừng nào không?”
Trưởng giả nói: “Nhỏ như hạt cải ạ.”
Đức Phật dạy: “Đúng vậy, đây chính là đạo lý nhân nhỏ quả lớn. Quả báo của bà lão cũng đồng một đạo lý này.” Nhân người học Phật bố thí cho Phật tuy nhỏ, nhưng lòng tin thanh tịnh, thành kính lại rất lớn, cho nên sẽ nhận được quả báo to lớn như vậy. 
Chúng ta đến Quan Âm Đường lạy một lạy, dường như là việc rất nhỏ, nhưng quý vị có biết rằng việc đó có thể che chở cho gia đình, cho bản thân, và che chở cho tất cả những người mà quý vị nghĩ rằng cần được che chở không? Quý vị lạy vài lạy, thành tâm cầu xin Bồ Tát, Bồ Tát đều sẽ mãn nguyện cho quý vị. Một cái nhân nhỏ như vậy – hôm nay quý vị cúng đèn dầu, có thể đôi mắt của quý vị sẽ tránh được một lần phẫu thuật hay bệnh đục thủy tinh thể; hôm nay quý vị thành tâm lạy Phật, gia đình có thể tránh được nhiều kiếp nạn. Đây chính là nhân nhỏ quả lớn.
Trưởng giả nghe Phật thuyết giảng, thấy rất có đạo lý, lời Phật nói không một câu hư dối. Ông lại thấy thân Phật phóng quang, vô cùng trang nghiêm, liền lớn tiếng gọi hàng xóm láng giềng: “Này mọi người! Thiên Nhân Đạo Sư, Đức Phật đã hiện ra trước mắt chúng ta, giáo Pháp của Ngài có thể dẫn dắt chúng ta thoát khỏi phiền não, mọi người mau đến đây!” Vì vị trưởng giả này (là một người lớn tuổi, có uy tín trong thành) vừa lên tiếng, tất cả mọi người đều ùn ùn bước ra khỏi nhà. Họ đồng thời bị ánh quang minh và sự trang nghiêm của Đức Phật nhiếp phục (cũng như khi quý vị thấy một người rất trang nghiêm, quý vị sẽ rất kính trọng họ). Đức Phật liền ngồi xuống thuyết Pháp cho họ nghe.
Những người có mặt ở đó nghe Pháp đều Pháp hỷ tràn đầy, sau đó họ lần lượt đi nộp tiền phạt. (Cho nên tại sao thời xưa, vừa nghe Phật Pháp là có thể chứng được rất nhiều quả vị? Người xưa thật sự rất thành thật, rất tốt. Thời xưa đâu cần luật sư? Quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy. Còn người thời nay, dù luật sư ký tên rồi họ vẫn có thể chối bay, không thành thật. Những người đó đã lần lượt đi nộp phạt để được cúng dường Phật, nghe giáo lý của Ngài.) Thành chủ Bà-la-môn cảm thấy vô cùng kỳ lạ: “Tiền là thứ ai cũng yêu thích, tại sao mọi người lại bằng lòng chịu mất nhiều tiền như vậy để đi nộp phạt cúng dường? Trong đây nhất định có đại nhân duyên.” (Bản thân ông ta cũng chưa từng được nghe.) Lúc này, vị thành chủ cũng vì thế mà cảm động cung thỉnh Đức Phật vào hoàng cung thuyết Pháp, và toàn bộ người dân trong thành đều được Đức Phật giáo hóa.
Nhờ lòng thành kính của bà lão, Đức Phật đã bố thí nụ cười phóng quang (nụ cười của Phật có thể khiến chúng sinh được nhiếp phục, cảm nhận được lòng từ bi). Nhờ nhân duyên phóng quang ấy mà đã xóa tan đi sự nghi ngờ của mọi người (có những người nói chuyện, người khác liền tin họ, vì ánh sáng toát ra từ mắt họ là sự chân thật, không lừa dối. Đức Phật đã dùng ánh mắt, nụ cười của Ngài để giải tỏa nghi ngờ của mọi người về Phật và Phật Pháp). Đây chính là “dĩ phương tiện Pháp ứng cơ thiết giáo” (dùng phương tiện thiện xảo để tùy căn cơ mà giáo hóa). Quý vị xem, chúng ta đến chùa thấy tướng Phật rất trang nghiêm, chưa từng có bức tượng nào Đức Phật cười. Nhưng để cứu độ chúng sinh, Đức Phật đã mỉm cười. Tiếp đó, Đức Phật lại tiếp tục ban mưa Pháp, dạy cho chúng sinh con đường giải thoát, đây chính là “phá hoặc trừ nghi, từ thể khởi dụng” (phá tan mê lầm, trừ sạch nghi ngờ, từ bản thể mà khởi phát ra diệu dụng).
Câu chuyện này muốn nói với chúng ta rằng, muốn cứu người, chúng ta phải thấy được thiện căn chân thật trong tâm của người khác, đừng nhìn vào những ý niệm khiến quý vị không vui trong tạng thức thứ bảy, thứ tám của họ, đừng cố ý suy đoán ý nghĩ của người khác. Nếu quý vị không có trí tuệ, kinh nghiệm và sự phán đoán đúng đắn, thông thường những suy đoán của quý vị về người khác chắc chắn sẽ sai lầm. Phật muốn chúng ta hiểu được cách sở hữu tình thương từ bi, tự mình không chấp trước để hóa giải sự chấp trước trong lòng người khác. Sự hợp tan, ly biệt là quy luật tất yếu, đừng lãng phí sinh mệnh của mình vào những nơi chắc chắn sẽ khiến mình hối hận. Đến hôm nay mà chúng ta không chịu học Phật cho tốt, đã lãng phí biết bao năm tháng thanh xuân, ngày ngày sống trong khóc lóc, trong truy cầu, trong dục vọng, để rồi thứ nhận được là mất mát và tuyệt vọng. Cho nên người học Phật đừng lãng phí sinh mệnh vào những việc chắc chắn sẽ khiến mình hối hận. Việc gì làm không được thì đừng làm. Một người cứ cố ép mình trở nên tốt đẹp, đó chỉ là cái hương thơm bề ngoài. Danh tiếng và sự tôn quý đến từ tài năng và học thức thật sự, có đức tự nhiên thơm.
Hy vọng mọi người học Phật cho tốt, tu tâm cho tốt, một cách thực tế, từng bước một vững chắc, tiến về hành trình vĩ đại của chư Phật. Cảm ơn đại chúng.
>> Tập 98
Mới hơn Cũ hơn