LỜI MỞ ĐẦU
Để đạt được những hiệu quả nhất định, trước khi đọc Bạch Thoại Phật Pháp nên đọc lời cầu nguyện dưới đây:
“Cảm tạ Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Xin gia trì cho đệ tử __(họ tên) để con đọc và hiểu được nội dung của Bạch Thoại Phật Pháp, để năng lượng của Bạch Thoại Phật Pháp gia trì bổn tánh của con, phù hộ cho con khai sáng trí tuệ, tiêu trừ nghiệp chướng, mọi điều kiết tường. Con xin cảm tạ Bồ Tát”.
Tập 83 - THẬP NIỆM PHÁP (Phần 3)
Sư phụ Lư Quân Hoành giảng giải Bạch Thoại Phật Pháp ngày 06/06/2020
Cuối cùng, Sư Phụ xin nói với quý vị, niệm thứ mười là Niệm Tử. Ai cũng biết kết cục sau cùng của một đời người chính là cái chết, cho nên Niệm Tử được xếp ở cuối cùng, nhưng nó cũng là bước quan trọng sau cùng. Chín niệm ở trên quý vị có làm tốt đến đâu, mà niệm cuối cùng này không làm tốt, thì chín niệm kia cũng chưa thật sự trọn vẹn. Khi chín niệm đầu đều đã làm tốt rồi, thì trên thực tế, niệm cuối cùng này đối với quý vị chính là sự xuất ly quan trọng nhất.
Niệm Tử, vừa nghe qua, mọi người có thể cảm thấy không dễ nghe, có ai lại thường xuyên nghĩ trong đầu: “Ôi, mình sắp chết rồi”? Như vậy thật không hay, thật xui xẻo. Nhưng thực ra, thường xuyên nghĩ về sự vô thường của kiếp nhân sinh, đó chẳng phải là Niệm Tử hay sao? Hãy nhìn xem mình đã bao nhiêu tuổi, đã sống qua bao nhiêu mùa xuân thu? Cho nên, mỗi ý niệm đều có thể hướng về cái chết. Hãy thường xuyên suy ngẫm, đời người thật ngắn ngủi và đáng thương, chỉ vỏn vẹn mấy mươi năm ngắn ngủi, có gì đáng để tranh giành, có gì đáng để đoạt lấy, có gì đáng để đố kỵ? Tự mình ngẫm lại thấy thật đáng thương, sớm muộn gì rồi cũng sẽ về với người xưa. Một khúc gỗ già, nếu được điêu khắc, sau khi chết đi (mục đi) vẫn có thể trở thành đồ cổ; còn con người chết là chết, trở về với cát bụi rồi thì chẳng còn lại gì cả.
Vì vậy, hãy thường xuyên nghĩ rằng sinh mệnh là vô thường, là ngắn ngủi. Có người nói: "Bây giờ tôi còn trẻ, không tu cũng chẳng sao. Đợi sau này tôi về hưu, có thời gian rảnh rỗi, không còn gì để làm, tôi nhất định sẽ chuyên tâm tụng kinh tu Phật". Vô thường sẽ không đợi quý vị tu đâu, vì thời gian rất ngắn ngủi, quý vị có sống được đến ngày về hưu hay không còn chưa biết. Cho nên, các bậc thánh hiền Trung Hoa xưa thường nói: “Mồ hoang không phân biệt già trẻ”. Không phải cứ trẻ là chắc chắn còn sống, cứ già là chắc chắn sẽ chết. Rất nhiều người tuổi đời còn rất trẻ đã ra đi, nhiều vô kể.
Vậy nên, hãy thường nghĩ đến sinh mệnh vô thường, sinh mệnh quý giá. “Nếu tôi không trân quý, tức là tôi đang lãng phí sinh mệnh, là tôi đang tiến gần đến cái chết thêm một ngày.” Vì thế, hãy tu hành ngay trong hiện tại, tu ngay lập tức. Hãy tạm gác lại hết thảy những chuyện phiền muộn, tạp nham, sầu não của thế gian, và bắt tay vào làm những việc ý nghĩa nhất trong cuộc đời: cứu độ chúng sinh, tu tâm thành Phật, quảng kết thiện duyên, phụng hành các điều thiện. Xưa kia có một vị đại sư Phật pháp đã viết một chữ “Tử” thật lớn trong thiền thất của mình. Ngài nói: Chúng ta không trân quý sinh mệnh thì cũng chết, mà có trân quý rồi thì cũng sẽ chết, kết cục sau cùng vẫn là cái chết. Vì vậy, cái chết không có gì đáng sợ, điều đáng sợ nhất là chết rồi mà không biết mình sẽ đi về đâu. Cho nên, phải học cách trân quý.
Đức Phật từng dạy các vị Tỳ-kheo: “Vì chúng sinh gieo tạo căn nguyên của mười điều ác (Thập Ác), nên tương lai sẽ phải gánh chịu cảnh môi trường bên ngoài trở nên cằn cỗi, suy thoái.” Dịch lại lời của Đức Phật khi đó là như vầy: vì chúng sinh có gốc rễ của Thập Ác, nên cuộc sống sẽ nghèo nàn, cằn cỗi và suy vong (rất đáng thương, nghèo đói, tàn lụi), huống hồ chi là ác báo của chính bản thân mỗi người? Cho nên, báo ứng luôn như hình với bóng.
Đó chính là Mười Niệm mà Sư Phụ giảng cho quý vị hôm nay. Lần sau, Sư Phụ sẽ tiếp tục giảng về Thập Ác – những điều khiến người ta phải đọa địa ngục, không thể tái sinh làm người. Hy vọng quý vị nỗ lực học Phật tu tâm. Đời người, thực chất là một hành trình tìm kiếm chân lý, tìm kiếm cảnh giới vô ngã, và tìm lại chân như bản tánh của mình.
Tiếp theo, Sư Phụ xin kể cho quý vị một câu chuyện nhỏ. Câu chuyện này rất thú vị, quý vị hãy lắng nghe và tự suy ngẫm trong tâm.
Có hai anh em nọ cùng có chí nguyện đi xa tu Đạo. Nhưng ngặt nỗi cha mẹ đã già yếu, các em còn thơ dại, nhà người anh cả lại có người vợ bệnh tật và con thơ yếu ớt, nên họ vẫn chưa thể lên đường.
Một hôm, có một vị cao tăng đi ngang qua nhà. Hai anh em thấy cao tăng đại đức đến thì vội mời vào nhà, quỳ xuống đảnh lễ và thưa: “Chúng con xin bái Ngài làm Thầy”, rồi kể lại hoàn cảnh khó khăn của gia đình. Vị cao tăng chắp tay, khẽ nhắm mắt, rồi lẩm bẩm một mình: “Xả-đắc, xả-đắc, không có ‘xả’ thì làm sao có ‘đắc’? Ngộ tính của hai con đều chưa đủ, mười năm sau ta sẽ quay lại.” Nói rồi, ngài nhẹ nhàng rời đi.
Người anh nghe xong liền đốn ngộ, tay cầm kinh sách, dứt khoát ra đi, bỏ lại tất cả gia đình phía sau. Người em nhìn cha mẹ già, rồi lại nhìn chị dâu bệnh tật và đứa em gái nhỏ (anh trai đi rồi, chỉ còn lại chị dâu và em gái), cuối cùng không nỡ lòng xả bỏ.
Thời gian thấm thoắt thoi đưa, mười năm sau, người anh trở về, miệng tụng kinh Phật không ngớt, phong thái phiêu diêu, cốt cách thoát tục, nhìn qua đã thấy khí chất phi phàm. Nhìn lại người em, lưng đã còng, mặt mày già nua, nét mặt đờ đẫn, phản ứng chậm chạp.
Vị cao tăng đúng hẹn quay trở lại và hỏi hai người: “Mười năm đã qua, các con thu hoạch được gì rồi?”
Người anh thưa: “Thưa Sư Phụ, trong mười năm qua, con đã đi khắp núi non sông ngòi, viếng hết các chùa chiền đạo quán, thuộc lòng hàng ngàn quyển kinh, cảm ngộ được vô vàn đạo lý.”
Người em thưa: “Thưa Sư Phụ, trong mười năm, con đã lo ma chay cho cha mẹ, chị dâu nay đã mạnh khỏe, em gái cũng đã yên bề gia thất. Nhưng vì lao lực quá, con không có thời gian đọc tụng kinh văn, e rằng đã vô duyên với đại sư.”
Vị cao tăng mỉm cười, rồi đột nhiên quyết định nhận người em làm đệ tử. Người anh vô cùng ngạc nhiên: “Tại sao không nhận con? Em con chỉ ở nhà, sao lại nhận nó?” Anh liền hỏi nguyên do: “Xin hỏi Sư Phụ, tại sao lại như vậy?”
Cao tăng đáp: “Phật ở trong tâm, không ở nơi danh sơn đại xuyên. Lòng có thiện, thì hơn cả đọc ngàn quyển chân kinh. Đến cha mẹ mình còn chẳng biết yêu thương, thì nói gì đến chuyện cứu độ chúng sinh? Con đã bỏ gốc theo ngọn, nên cuối cùng thành ra vô duyên với Phật.”
Câu chuyện này dạy chúng ta rằng, con người phải chân tu. Chúng ta không chỉ học Phật, mà học rồi phải hành. Bản tánh của con người vốn là thiện lương nhất, nếu xa rời bản tánh này, thì quý vị đặt Phật ở đâu trên thân mình? Cho nên, người thật sự học được Phật phải có căn cơ tốt.
Cũng giống như người học Phật tu tâm nhập định. Sau khi nhập định, trong tâm có còn ý niệm không? Nhiều người nói: “Tôi đã nhập định, đầu óc tôi trống rỗng rồi.” Sai rồi, vẫn có đấy! Tại sao? Vì dù quý vị đã nhập định, cảm thấy mình không còn suy nghĩ, không còn ý niệm, nhưng thực ra, cái trạng thái “không có niệm” ấy cũng là một loại niệm. Đó gọi là “tư duy sau khi nhập định”. Dù không gian của tưởng tượng không còn, nhưng vẫn còn tư duy vi tế sau định. Trong kinh Phật, khi lý giải về nhân tính và Phật tính, có một khái niệm gọi là “tư duy trước khi nhập định”. Bởi vì trước khi nhập định quý vị đã có suy nghĩ rồi, nên cho dù sau khi nhập định đã loại bỏ được những suy nghĩ đó, thì chính cái sự nhập định của quý vị cũng là một loại tư duy.
Phật pháp dạy chúng ta, nhìn thấu mà suy ngẫm, trong lúc suy ngẫm mà nhìn thấu, đó chính là trí tuệ. Nói cách khác, hôm nay quý vị nhìn thấu, buông bỏ, đó cũng là một ý niệm. Hôm nay quý vị nói: “Tôi đang cân nhắc, tôi chưa hoàn toàn buông bỏ được, tôi đang tu tâm” – đó cũng là quý vị đang tư duy. Sự khác biệt về bản chất nằm ở trí tuệ. Bởi vì tư duy là âm thanh phát ra từ trí tuệ; quý vị có bao nhiêu trí tuệ thì tư duy của quý vị sẽ đạt đến cảnh giới bấy nhiêu.
Lấy một ví dụ đơn giản: Quý vị là người luôn nghĩ cho người khác. Khi quý vị làm một việc tốt, những người có cảnh giới thấp hơn sẽ nói: “Cảm ơn bạn, bạn tốt quá, lúc nào cũng vì mọi người.” Còn tự quý vị lại nghĩ: “Tôi có làm gì đâu? Đây là việc nên làm mà. Tôi làm từ nhỏ đến lớn, cha mẹ tôi cũng đâu có khen tôi tốt, cha mẹ tôi dạy rằng tôi phải giúp đỡ người khác, làm nhiều việc thiện.” Đây chính là sự khác biệt về cảnh giới. Khi một việc tốt đã trở thành bản chất tự nhiên trong tâm quý vị, thì mọi việc đều trở nên vô ngại. Còn khi quý vị khởi tâm “Tôi muốn đi làm một việc tốt”, bản thân nó đã là một ý niệm, và sẽ tạo ra một chướng ngại trong tâm. Cho nên, mang cái tâm hữu vi để tu tâm, thì rất khó tu thành chân tâm; dùng tâm vô vi để tu tâm, mới có thể tu ra chân tâm.
Khi quý vị đã nhìn thấu, đã thấy được tánh không, quý vị sẽ tiến vào cảnh giới của “Như Thực Tướng”. Tức là quý vị đã nhìn thấu suốt, đã thấy nó là không, thật sự không còn cảm giác gì nữa, lúc đó quý vị đã bước vào cảnh giới của “Chân Thực Như Lai Tướng”. Quý vị hãy nắm vững tính chân thật của cảnh giới chân như, kiên trì với lý niệm “nhìn không, nhìn thấu, buông bỏ”. Khi đó, gặp phải bất kỳ vấn đề nào trong nhân gian, quý vị nhất định sẽ có lý niệm này làm điểm tựa, sẽ không còn sợ hãi bất cứ chướng ngại nào của thế gian, và quý vị sẽ đạt được đại tự tại.
Vì thế có câu: “Cảnh giới hết thảy vô ngại chính là trí tuệ, vô vi và chuyển hóa của Phật Pháp Đại thừa.” Cuối cùng, Sư Phụ muốn nói với quý vị rằng, trí tuệ của Phật Pháp Đại Thừa mang lại cho quý vị sự vô ngại. Sự vô vi của Phật Pháp Đại Thừa mang lại cho quý vị sự khai thị và giải thoát. Sự chuyển hóa của Phật Pháp Đại Thừa mang lại cho quý vị lý ngộ và giác ngộ.
Hy vọng quý vị tinh tấn học Phật, chuyên tâm tu hành. Bài khai thị 《Bạch Thoại Phật Pháp》hôm nay đến đây là kết thúc. Hẹn gặp lại quý vị lần sau.