LỜI MỞ ĐẦU
Để đạt được những hiệu quả nhất định, trước khi đọc Bạch Thoại Phật Pháp nên đọc lời cầu nguyện dưới đây:
“Cảm tạ Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Xin gia trì cho đệ tử __(họ tên) để con đọc và hiểu được nội dung của Bạch Thoại Phật Pháp, để năng lượng của Bạch Thoại Phật Pháp gia trì bổn tánh của con, phù hộ cho con khai sáng trí tuệ, tiêu trừ nghiệp chướng, mọi điều kiết tường. Con xin cảm tạ Bồ Tát”.
Tập 89 - QUÁN THÂN BẤT TỊNH, LÌA DỤC SINH LIÊN
Sư phụ Lư Quân Hoành giảng giải Bạch Thoại Phật Pháp ngày 13/6/2020
Luân hồi và Niết Bàn thực chất đều như nhau, chỉ khác ở chỗ một bên là giác ngộ, một bên là chưa giác ngộ. Chưa giác ngộ thì ở trong luân hồi, giác ngộ rồi thì chính là Niết Bàn. Đối với người đã chứng đắc Phật đạo, nhờ vào nguyện lực mà cho dù có phải đối mặt với luân hồi, họ vẫn xem đó là Bồ Đề. "Chính vì biết rằng mình không thể tiếp tục luân hồi, nên tôi mới phát tâm tu hành Bồ Đề". Nhờ vậy, họ sẽ không bị nghiệp lực của chúng sinh lôi kéo, không còn phải chìm nổi trong biển nghiệp. Con người sống trong nghiệp lực, đôi khi chuyện xui rủi ập đến, giống như bị nghiệp lực cuốn đi, muốn thoát cũng không được, cứ mãi trôi lăn trong sinh tử. Vì vậy, chúng ta phải tu để loại bỏ lòng tham ái, sự vô minh và tà kiến của nhân tính. Mỗi người phải niệm kinh để chuyển hóa tư duy, chuyển hóa khởi niệm, để viên mãn công đức của mình.
Hôm nay Sư phụ xin nói thêm một câu, tại sao lại gọi là "công đức viên mãn"? Nhiều người làm rất nhiều công đức nhưng lại không viên mãn. Khái niệm không viên mãn và viên mãn là gì? Lấy một ví dụ đơn giản: một biến Chú Đại Bi mà quý vị niệm được một nửa, hay hai phần ba rồi dừng lại, thì đó gọi là không viên mãn. Niệm trọn vẹn một biến Chú Đại Bi thì gọi là viên mãn. Công đức cũng vậy. Nếu quý vị làm một việc công đức cho đến nơi đến chốn, thì năng lượng tạo ra có lớn không? Nếu quý vị chỉ làm hơn một nửa công đức, so với việc làm trọn vẹn, có đầu có cuối, thì bên nào có công đức hơn? Hãy nỗ lực tu sửa lòng tham và tà kiến (tức là thói quen luôn nhìn người khác theo hướng xấu). Hãy chăm chỉ niệm kinh, thay đổi quan niệm của mình, nếu không thì cái chết cũng không phải là sự kết thúc của quý vị. Mọi người hãy nhớ kỹ câu này. "Cái chết không phải là sự kết thúc" nghĩa là gì? Quý vị tưởng rằng chết là hết chuyện sao? Sau khi chết, có người còn bị đọa địa ngục, có người còn phải chịu trừng phạt.
Triệt ngộ chính là giải thoát khỏi Lục đạo luân hồi. Phải cầu xin Quán Thế Âm Bồ Tát mới có thể liễu thoát sinh tử. Pháp Môn Tâm Linh chính là lòng từ bi của Quán Thế Âm Bồ Tát. Nói theo ngôn ngữ hiện đại, cõi người chính là một trạm trung chuyển trên con đường tiến về cõi Phật, và tất cả quý vị bây giờ đều đang ở trong trạm trung chuyển này. Nếu ở trạm trung chuyển này quý vị vượt qua được các bài khảo nghiệm, nỗ lực thay đổi bản thân, thì sẽ được chuyển lên cõi trời, tiến vào Phật giới. Ngược lại, quý vị có thể sẽ bị chuyển vào Lục đạo luân hồi, có thể là cõi súc sinh, cõi người, cõi ngạ quỷ hay địa ngục, tất cả tùy thuộc vào việc hiện tại quý vị làm người có tốt hay không.
Người học Phật chúng ta phải tu theo "thứ đệ viên mãn". Nghĩa là gì? Là khi làm một việc gì, khi tu tâm, đều phải làm cho viên mãn. Khi xem phim, quý vị có mong bộ phim sẽ có một cái kết viên mãn không? Nếu cuối phim kết thúc không trọn vẹn, quý vị có thấy ấm ức trong lòng không? Khi còn nhỏ, chúng ta xem những bộ phim mà nhân vật trải qua muôn vàn gian khó, cuối cùng được gia đình tìm thấy, nhưng rồi lại thất lạc lần nữa. Cảnh cuối phim là một thảo nguyên mênh mông, không thấy bóng người, chỉ có người mẹ đang nhìn về phương xa, dường như thấy con mình đang chạy tới. Màn hình hiện lên hình ảnh đứa con gọi "Mẹ ơi!" và chạy về phía bà, nhưng đó chỉ là ảo giác. Xem một bộ phim có kết cục như vậy, quý vị có vui không? Chắc chắn quý vị sẽ rời rạp chiếu phim với đầy tiếc nuối. Vì vậy, tu "thứ đệ viên mãn" chính là tu tập để đạt đến cảnh giới viên mãn của Bồ Tát, tu từng cấp độ, từng tầng một đi lên. Tức là làm việc gì cũng phải làm cho trọn vẹn, làm việc tốt thì phải tốt đến cùng, giúp người thì giúp cho tới nơi tới chốn, đừng giúp nửa vời rồi quên mất. Làm việc mà luôn có sơ hở, khiếm khuyết (hữu lậu) thì đó chính là không viên mãn. Nếu quý vị có thể tu đến trình độ viên mãn, quý vị nhất định sẽ có Ba-la-mật, trí tuệ Bát-nhã của quý vị cũng từ đó mà sinh ra.
Sự biến đổi của vạn vật trên thế gian không thể tách rời quy luật Thành-Trụ-Hoại-Không, đó là một hiện tượng sinh diệt. Con người sinh ra (Thành), sống trên thế gian này (Trụ), cuối cùng cơ thể lão hóa (Hoại), và rồi chết đi (Không). Không một ai thoát khỏi bốn quá trình này. Ngay cả một ngôi nhà cũng vậy: được xây xong là "Thành"; mọi người dọn vào ở là "Trụ"; dần dần ngôi nhà cũ đi, hư hỏng là "Hoại", dù có sửa sang chắp vá cũng chỉ được một thời gian; cuối cùng, khi không thể ở được nữa, nó bị phá bỏ, đó là "Không". Con người cũng vậy. Đó là một hiện tượng sinh diệt, nó sẽ không thay đổi chỉ vì quý vị lạc quan nghĩ rằng "con người sẽ không chết", hay vì người khác chúc quý vị sống lâu trăm tuổi mà quý vị có thể sống đến 150, 200 tuổi. Nó cũng không phải vì quý vị không học Phật mà vận mệnh của quý vị sẽ khác đi. Nhiều người nói: "Tại sao khi chưa học Phật thì tôi không có nhiều chuyện, mà vừa học Phật thì lại gặp lắm rắc rối thế?". Quý vị cứ thử đi hỏi xem, có phải những người không học Phật còn gặp nhiều chuyện hơn người học Phật rất nhiều không? Biết thấu hiểu và thay đổi, đó mới là chân lý của việc học Phật. Cuối cùng trong đời, ai cũng chẳng có được gì cả. Sự vĩnh hằng không tồn tại ở nhân gian. Chỉ khi quý vị tu dưỡng để bổn tánh chân như của mình hiển lộ, quý vị mới có thể đạt được pháp tánh và trí tuệ sung mãn, công đức viên mãn.
Cuối cùng, Sư phụ sẽ kể cho quý vị nghe một câu chuyện khá thú vị. Thông thường, những câu chuyện về Đức Phật thời xưa mà Sư phụ kể đều ẩn chứa đạo lý và triết lý sâu sắc. Câu chuyện Phật pháp hôm nay thực chất nói về phép "Quán Bất Tịnh". Trong Thiền quán của Phật giáo (dùng trí tuệ của Thiền để quán tưởng), có một phương pháp tu trì quan trọng gọi là "Ngũ Đình Tâm Quán". Thực ra, Ngũ Đình Tâm Quán là để kiểm soát ý niệm, không cho suy nghĩ lung tung. Trong đó có Bất Tịnh Quán, là khi nhìn bất cứ ai cũng không để khởi lên dục vọng nam nữ, vì thân người vốn không sạch sẽ, khi quán chiếu kỹ sẽ thấy nhàm chán; ngoài ra còn có Từ Bi Quán, là nhìn chúng sinh với lòng thương xót; Nhân Duyên Quán; Niệm Phật Quán; và Sổ Tức Quán, là đếm hơi thở ra vào của mình. Sau này Sư phụ sẽ giảng cho quý vị từng pháp một.
Câu chuyện hôm nay là về Bất Tịnh Quán. Thực ra, Bất Tịnh Quán và Sổ Tức Quán (Sổ Tức Quán là quán sát hơi thở: thở ra, hít vào, cảm nhận được hơi thở, một, hai, ba, bốn... lúc này tâm trí quý vị sẽ thanh tịnh, không còn nghĩ đến chuyện nam nữ hay những ham muốn khác; Bất Tịnh Quán là thấy được thân người này rất dơ bẩn) được gọi là hai "Cam Lộ Môn" trong Phật giáo – hai pháp môn như nước Cam Lộ của Quán Thế Âm Bồ Tát, giúp cho tâm trí và tư duy của quý vị trở nên thanh tịnh. Quán thân bất tịnh cũng là một trong Tứ Niệm Xứ.
Bất Tịnh Quán là phương pháp quán tưởng về những thứ nhơ bẩn, không sạch sẽ trong thân mình và thân người khác, nhằm đoạn trừ lòng tham luyến ái dục. Đây là phương pháp cốt lõi để đối trị tham dục. Nhiều vị Pháp sư, để diệt trừ dục vọng trong tâm, thường phải dùng đến Sổ Tức Quán và Bất Tịnh Quán. Quý vị thử nghĩ xem, một người đàn ông hay một người phụ nữ, hễ là con người thì dơ bẩn biết bao! Mỗi lỗ chân lông đều tiết ra những thứ không sạch. Thực ra, đó chính là bất tịnh, con người vốn không trong sạch. Bất Tịnh Quán là một pháp tu rất quan trọng của Thiền môn. Từ đây, Sư phụ xin kể một câu chuyện rất thú vị về Đức Phật từ 2.500 năm trước.
Tôn giả A Nan, một trong mười đại đệ tử của Đức Phật, có tướng mạo vô cùng đoan chính (nói theo ngôn ngữ hiện đại là rất tuấn tú), vô cùng trang nghiêm. Dù đã xuất gia, ngài vẫn có ba mươi tướng tốt (Đức Phật có ba mươi hai tướng, tương truyền Tôn giả A Nan có ba mươi tướng, tức ba mươi tướng của một vị Phật). Một lần nọ, nhân một pháp hội, Đức Phật dẫn theo các đệ tử đi thọ nhận cúng dường. Lúc ấy Tôn giả A Nan đi chậm nên bị tụt lại phía sau, khi Đức Phật và mọi người đã đi khá xa. Tôn giả A Nan một mình ôm bát, đi về hướng Tây. Đi một quãng rất xa mà bát vẫn trống không, chưa khất thực được gì. Ngài vừa nóng, vừa đói, lại vừa khát, cổ họng khô khốc.
Vừa lúc đó, ngài đi đến một cái giếng cổ, nơi có một cô gái đang múc nước. Tôn giả A Nan bèn tiến lại bên giếng. Cô gái ngẩng đầu lên, thấy vị tu sĩ, đôi mắt sáng rỡ, trong lòng thầm tán thán: "Ôi, một vị Tỳ-kheo sao mà trang nghiêm đến thế!". Cô gái tên là Ma Đăng Già, ngay từ cái nhìn đầu tiên, trong lòng cô đã nảy sinh một tình yêu mãnh liệt đối với Tôn giả A Nan. Vì thế, cô vui vẻ đổ nước vào đầy bát của ngài, rồi cứ thế nhìn ngài không chớp mắt cho đến khi ngài rời đi.
Về đến nhà, Ma Đăng Già vui mừng khôn xiết, liền nài nỉ mẹ mình phải tìm cách để cô có được Tôn giả A Nan. Người mẹ biết rằng các vị Tỳ-kheo là bậc thánh, không thể xâm phạm, tình yêu của con gái mình là điều không thể nào thành sự thật. Nhưng con gái cứ sống chết van xin, một lòng chỉ yêu vị Tỳ-kheo ấy. Vì quá thương con, người mẹ đành tìm cách giúp con. Bà mời một người biết niệm chú (nói theo cách ngày nay có thể là một thầy phù thủy) đến, dùng tà thuật để mê hoặc Tôn giả A Nan. Thời xưa có một loại tà thuật, sau khi niệm chú có thể dùng ý niệm để dẫn dắt người bị trúng phải bùa chú, khiến họ cứ mơ màng đi theo sự điều khiển của mình, giống như điều khiển từ xa ngày nay vậy.
Bấy giờ, Tôn giả A Nan trong trạng thái mơ hồ, không làm chủ được thân mình, từng bước rời xa Tăng đoàn. Khi trời vừa rạng sáng, Đức Phật chuẩn bị thuyết pháp thì phát hiện Tôn giả A Nan đã biến mất. Với tuệ giác của mình, Đức Phật biết Tôn giả A Nan đang gặp nạn, liền phái Bồ Tát Văn Thù đến gần nhà của Ma Đăng Già để tìm ngài về. Đức Phật biết ngài đang ở quanh đó, và yêu cầu tất cả các vị Tỳ-kheo phải nhất tâm trì tụng Chú Lăng Nghiêm.
Bấy giờ, Tôn giả A Nan đang ở trong phòng của Ma Đăng Già. Ngay thời khắc sắp sửa phá giới, ngài bỗng nhiên tỉnh ngộ, lập tức rời khỏi Ma Đăng Già, chạy về nơi Đức Phật đang tu hành. Ma Đăng Già thấy Tôn giả A Nan đột ngột đứng dậy bỏ đi, lòng đau như cắt, vì cô yêu ngài tha thiết. Cô liền chạy đuổi theo, đuổi mãi cho đến Tăng đoàn của Đức Phật, rồi quỳ sụp xuống trước mặt Ngài, khẩn khoản: "Xin Đức Thế Tôn hãy thành toàn cho con!"
Đức Phật hỏi: "Này cô Ma Đăng Già, cô thật sự yêu A Nan sao?"
Ma Đăng Già đáp: "Bạch Thế Tôn, con thật sự rất yêu ngài, con yêu ngài rất nhiều."
Lúc ấy, Tôn giả A Nan vừa tắm xong trong phòng. Đức Phật bèn cho người mang chậu nước tắm của Tôn giả A Nan ra, rồi hỏi tiếp Ma Đăng Già: "Cô thật sự yêu A Nan ư? Không hối hận chứ? Cô yêu điểm nào ở A Nan?"
Cô gái đáp: "Con yêu toàn thân A Nan, tất cả mọi thứ con đều yêu."
Đức Phật nói: "Nếu cô đã yêu A Nan đến thế, đây là chậu nước ngài vừa tắm xong, cô hãy uống nó đi."
Ma Đăng Già hoảng hốt: "Bạch Đức Thế Tôn! Ngài là bậc Đại từ bi! Nước dơ bẩn như vậy sao lại bảo con uống?"
Đức Phật liền nói: "Thân thể của mỗi người vốn dĩ đều dơ bẩn như vậy. Ngay cả khi A Nan khỏe mạnh mà cô còn chê nước tắm của ngài là bẩn, vậy thì sau này, khi ngài già yếu, bệnh tật, thân thể hoại đi, cô sẽ nghĩ thế nào?"
Nghe lời Phật dạy, Ma Đăng Già bỗng nhiên có thể quán chiếu được sự bất tịnh của thân người. Cô nghĩ đến và thấy được sự dơ bẩn của thân thể, lòng yêu thương bỗng chốc tan biến. Cô nghĩ: "Thì ra thân thể A Nan cũng dơ bẩn đến vậy, có gì đáng để yêu chứ?". Từ đó, mọi ái niệm, tham luyến của cô đều tiêu trừ. Cô đốn ngộ và chứng đắc Sơ quả.
Đây chính là Bất Tịnh Quán. Vì vậy, Bất Tịnh Quán có thể đối trị lòng tham của quý vị. Chỉ có thực hành Bất Tịnh Quán, nếu biết cách vận dụng, thì những nhiễm ô và ái dục của cõi hồng trần sẽ bị tiêu diệt.
Người học Phật chúng ta phải ghi nhớ từng lời dạy của Phật trong tâm, để những đạo lý chân thật, bất biến của Ngài được lưu lại lâu dài trên thế gian và ở trong tâm chúng ta. Có như vậy, chúng ta mới có được đạo tràng của Phật trong tâm, mới có thể chống chọi với những phiền não của hồng trần. Vì vậy, hy vọng mọi người hãy nỗ lực tu tâm học Phật, quán chiếu lại chính mình, và hiểu rằng con người rồi sẽ thay đổi, nhưng thay đổi là đau khổ, cũng như hoa sen phải vươn lên từ bùn nhơ. Chúng ta nhất định phải học được pháp môn Không - Vô Tướng - Vô Nguyện, thì mới có thể siêu thoát Lục đạo, đạt đến Phật đạo.
Được rồi, hôm nay Sư phụ xin giảng đến đây. Hẹn gặp lại quý vị trong chương trình lần sau. Xin cảm ơn quý vị