Tập 108 – TỨ DIỆU ĐẾ, THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN

  LỜI MỞ ĐẦU

Để đạt được những hiệu quả nhất định, trước khi đọc Bạch Thoại Phật Pháp nên đọc lời cầu nguyện dưới đây:

“Cảm tạ Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Xin gia trì cho đệ tử __(họ tên) để con đọc và hiểu được nội dung của Bạch Thoại Phật Pháp, để năng lượng của Bạch Thoại Phật Pháp gia trì bổn tánh của con, phù hộ cho con khai sáng trí tuệ, tiêu trừ nghiệp chướng, mọi điều kiết tường. Con xin cảm tạ Bồ Tát”. 

 

Tập 108 – TỨ DIỆU ĐẾ, THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN

Sư phụ Lư Quân Hoành giảng giải Bạch Thoại Phật Pháp ngày 25/07/2020

Được rồi, hôm nay Sư Phụ tiếp tục giảng «Bạch Thoại Phật Pháp» cho mọi người.

Kinh Phật là món ăn tinh thần của chúng ta, cho nên học Phật thì phải học để hiểu kinh Phật. Kinh Phật có dạy rằng (tức là những gì trong kinh Phật đã nói), Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên là khởi đầu của người học Phật, vì vậy cần phải hiểu về Tứ Diệu Đế và Thập Nhị Nhân Duyên. Thực ra chính là nói về nghiệp cảm duyên khởi, bắt đầu từ nghiệp mà chúng ta gieo trồng, có cái duyên này – mười hai nhân duyên, để giải thích cho chúng ta thấy chúng sanh trên thế giới này lưu chuyển thế gian ra sao, và làm thế nào để xuất ly thế gian. Sau khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành Phật, đạo lý Phật giáo sơ khởi nhất mà Ngài giảng cho các đệ tử chính là Pháp Tứ Diệu Đế. Mọi người đều phải hiểu Tứ Diệu Đế là gì, bởi vì một trong những lý luận căn bản nhất của Phật Pháp chính là Tứ Diệu Đế.

“Đế” () thực ra chính là chữ “đế” trong “chân đế” (), có nghĩa đây là một chân lý. “Tứ Đế”, bốn điều này là chân đế tuyệt đối, là chân lý tuyệt đối. Tứ Đế chính là chỉ Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế và Đạo Đế.

Khổ, đó là điều không thể kháng cự trong đời người, cái khổ trong nhân sinh chính là sanh, lão, bệnh, tử.

Tập Đế là vì sao lại tập hợp những cái nhân của khổ nạn này, rốt cuộc nguyên nhân là gì. “Tập” chính là tích tụ hai mươi lăm cái nhân dẫn đến quả khổ. Con người có rất nhiều khổ, vô cùng khổ, hết thảy chúng sanh từ vô thỉ kiếp đến nay, từ phiền não do tham-sân-si khởi lên, tạo nghiệp, tạo ra rất nhiều ác nghiệp, từ đó chiêu cảm quả khổ sanh tử trong ba cõi. Thực ra, Tập Đế chính là cho chúng ta biết, cái khổ từ đâu mà đến.

“Diệt” chính là Niết Bàn, Niết Bàn thực ra không có nghĩa là cái chết, mà là một sự giải thoát. Quý vị nhất định phải hiểu rằng, cái chết và sự giải thoát không phải là một khái niệm, cái chết là sự tử vong của thân xác con người, còn giải thoát là sanh tử tương tục, linh hồn của người đó vẫn đang vận hành. Vì vậy phải hiểu về Diệt Đế, chính là “diệt hoặc nghiệp nhi ly sanh tử chi khổ”: “diệt” là phải Niết Bàn, phải diệt trừ nghiệp chướng mê hoặc của bản thân, rời xa cái khổ của sanh tử, chúng ta nhất định phải rời khỏi cái vòng sanh tử này.

“Đạo” chính là giải thoát hoàn toàn, là con đường chân chánh để thực hiện cảnh giới Niết Bàn. Một người học Phật cả buổi trời, cuối cùng lại không phải là chánh đạo, thì rất có thể sẽ trở thành tà đạo (con đường lệch lạc). Sư Phụ đã giảng giải đơn giản cho quý vị về Tứ Đế, đó là bốn loại chân lý – Đức Phật dạy chúng ta rằng, trong Phật Pháp chính là Khổ, Tập, Diệt, Đạo.

Còn có Thập Nhị Nhân Duyên. Vì những điều này nếu giảng riêng ra thì sẽ mất rất nhiều thời gian, nên Sư Phụ sẽ giới thiệu sơ lược cho mọi người về các mắt xích – mười hai mắt xích có liên kết với nhau – trong Thập Nhị Nhân Duyên, đợi sau này có thời gian Sư Phụ sẽ phân giải chi tiết và giải thích cặn kẽ hơn cho quý vị.

Đầu tiên là Vô Minh. Mọi người đều biết vô minh, vô minh là vô tri, không hiểu biết. Quý vị biết được điều gì? Quý vị không biết, nên mới gây họa; vì quý vị không hiểu, nên mới phải luân hồi trong sáu cõi; vì quý vị không biết sự nghiêm trọng của sự việc, nên quý vị mới gặp chuyện.

Thứ hai là Hành. Vì có vô minh rồi quý vị mới đi “hành”, do vô minh mà sanh ra các hành vi thiện và bất thiện. Mọi người hãy nghĩ xem, thiện và bất thiện, đôi khi bản thân mình không biết được. Quý vị tưởng mình làm một việc thiện, nhưng thực ra nó không phải là việc thiện. Lấy một ví dụ đơn giản, vợ chồng người ta cãi nhau, quý vị nói: “Đối phương bắt nạt cô như vậy, cô ly dị với anh ta cho xong”, quý vị tưởng là đang giúp cô ấy, nhưng thực ra quý vị đã tạo nhân quả rồi. Cho nên, “hành” chính là những hành vi thiện và bất thiện phát sanh từ vô minh.

Tiếp theo là Thức, chữ “thức” trong ý thức, chính là sự hình thành ý thức trước và sau khi đầu thai, là những gì do ý thức trong tâm tạo ra. Mọi người đừng cho rằng một đứa bé sơ sinh trong lòng mẹ thì không biết gì cả, thực ra nó đã có cảm giác rồi. Chỉ cần phôi thai hình thành, linh hồn của nó rót vào, nó sẽ có cảm giác, cũng sẽ phát sanh hỉ-nộ-ái-ố. Hành vi ý thức trong tâm phát sanh chính là ý thức của quý vị, trước và sau khi đầu thai đều sẽ có cảm giác này; khi còn ở dưới địa phủ, cảm giác này còn mãnh liệt hơn.

Thứ tư là Danh Sắc, tương đương với sự hình thành khái niệm về phương diện tinh thần và vật chất trước và sau khi đầu thai.

Tiếp theo là Lục Nhập. “Lục” thì mọi người đều biết – mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Thông qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đi vào cơ quan tư duy của quý vị, vậy thì các cơ quan cảm giác khi nghe được âm thanh hay, âm nhạc hay, người ta sẽ phấn chấn, ăn được món ngon, người ta sẽ đặc biệt vui vẻ. Lục Nhập này đi vào các giác quan trong thế giới nội tâm của quý vị – các cơ quan cảm giác.

Tiếp theo là Xúc, tức tiếp xúc. Xúc tương đương với việc sau khi đầu thai, quý vị tiếp xúc với tất cả sự vật bên ngoài. Một người sau khi đầu thai, được sinh ra, sẽ dần dần tiếp xúc với mọi sự việc trên thế gian, sẽ biết được việc này là tốt hay xấu, có thể làm hay không thể làm, là dựa vào sự tiếp xúc. Giống như chúng ta thường nói, người với người cần phải tiếp xúc, tiếp xúc rồi, cảm thấy người này tốt, quý vị có thể sẽ trở nên rất thân với họ.

Thứ bảy là Thọ. Thọ là gì? Là sự cảm nhận về khổ và vui. Người này cảm thấy có khổ, họ mới cảm nhận được có niềm vui; đã từng có niềm vui rồi, khi nhiều chuyện khổ sở xuất hiện, họ sẽ cảm thấy đây là khổ. Đây chính là Thọ.

Thứ tám là Ái. Rất nhiều triết gia và văn hào khi viết tiểu thuyết, họ thường nói một câu: thế giới này được tạo nên từ tình yêu (ái). Con người không thể chỉ xem “ái” một cách hạn hẹp là tình yêu nam nữ, tình yêu vợ chồng, tình yêu với anh chị em, thực ra nó có thể trở nên rất cao thượng; nếu hạ thấp nó xuống, thì trong Thập Nhị Nhân Duyên ở cõi người, chữ “ái” này thực chất là ái dục và dục vọng, “tôi thích món đồ này”, “tôi thích căn nhà này” và “tôi thích người này”, đều thuộc về dục vọng của ái.

Thứ chín là Thủ. Thủ, có nghĩa là đoạt lấy, thu lấy. Thủ chính là truy cầu, “tôi đi lấy cái này, lấy cái kia”. Con người thường là “tôi thích món đồ này”, “tôi đi theo đuổi những danh sắc này, cái danh lợi này”, “tôi thích đóa hoa này”, “tôi thích cái chức hội trưởng này, chủ tịch này”… những cái danh này và những thứ mà các giác quan của quý vị cảm thấy vô cùng tốt đẹp – tức danh sắc, sẽ kích thích vật dục của quý vị (dục vọng đối với sự vật, đồ vật). Đây chính là Thủ, vì quý vị sẽ đi giành lấy nó.

Thứ mười là Hữu. Hữu là gì? Môi trường sinh tồn trong hiện thực chính là Hữu. “Quý vị có không?” “Có chứ.”

Thứ mười một là Sanh. Sanh là gì? Chúng ta nói đời sau lại sanh ra, sanh ra rồi lại diệt độ, diệt độ rồi lại sanh.

Thứ mười hai là Lão Tử. Cuộc đời con người cuối cùng sẽ có một ngày kết thúc, đó chính là Lão Tử.

Phải hiểu rằng Thập Nhị Nhân Duyên, chính là từ Vô Minh (không biết gì cả), trải qua Hành, Thức, Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sanh, Lão Tử, hình thành mười hai mắt xích nhân duyên, tất cả đều liên tục nối liền với nhau. Sư Phụ lấy một ví dụ đơn giản: quý vị đến thế gian này rất không minh bạch, có thể trước khi đến thế gian này quý vị đã là vô minh, vô tri, không hiểu rõ bất cứ điều gì. Sau đó, sự vô minh, không biết của quý vị sẽ sản sinh ra rất nhiều điều thiện và ác, vì quý vị không biết đây là thiện hay ác, vô minh tạo ra các hành vi thiện và bất thiện. Rồi tiếp theo, quý vị bắt đầu có ý thức, bắt đầu chuẩn bị đầu thai, trước và sau khi đầu thai, quý vị biết được “sao mình cảm thấy ấm áp quá?”. Người mẹ ăn một que kem, quý vị ở trong bụng mẹ lạnh cóng như ở trên núi băng; mẹ uống một bát canh hầm (người Quảng Đông thích uống canh hầm), đứa trẻ trong bụng mẹ nóng bỏng, vì có người còn thích uống canh rất nóng, thế là đứa trẻ cảm nhận được, khái niệm về phương diện tinh thần và vật chất trước khi đầu thai này dần dần hình thành. Dần dần sau khi ra đời, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý – sáu cơ quan cảm giác bắt đầu tiếp xúc với mọi thứ trong xã hội, tự mình cảm nhận được lạnh, nóng, nghe được âm thanh, rồi đến lưỡi – khi đứa trẻ đói bụng đòi bình sữa, có lúc nó khóc rất dữ, sữa còn chưa pha xong, đứa trẻ cứ khóc, mẹ liền lấy một cái núm vú giả nhét vào miệng nó, lưỡi đứa trẻ vừa chạm vào là nó nín khóc. Thực ra đó là một loại cảm xúc. Sau khi có tiếp xúc, đứa trẻ sẽ cảm nhận được rằng sau khi ăn xong thì vui vẻ, cười; lúc khổ, không được ăn, đói bụng, nó sẽ có cảm thụ. Sau khi có cảm thụ, nó dần dần cảm thấy được mẹ ôm vào lòng thì đặc biệt vui vẻ, ái dục, dục vọng đều bắt đầu xuất hiện, tình yêu giữa người với người, loại dục vọng đó đều nảy sinh. Tiếp theo là truy cầu (Thủ) những danh sắc và vật dục của thế gian. Sau khi truy cầu thì sở hữu (Hữu) được, bèn tồn tại trong môi trường đó, “tôi đã sở hữu nó rồi”. Rồi lại sanh ra, sanh ra những ý nghĩ khác, “tôi còn muốn nữa, tôi còn muốn nữa”. Cuối cùng chính là một ngày nào đó trong đời người sẽ già chết (Lão Tử). Thực ra đây chính là một vòng luân hồi của mười hai mắt xích nhân duyên.

Kinh Phật dạy chúng ta, làm thế nào chúng ta lưu chuyển thế gian, làm thế nào để xuất ly thế gian, chẳng qua cũng là do nghiệp. Chúng ta ở trên thế gian này tạo rất nhiều nghiệp, phạm rất nhiều nghiệp, nên mới lưu chuyển thế gian. Chỉ cần quý vị ở đời này không tu hành cho tốt, đời sau trong sáu cõi luân hồi vẫn sẽ quay lại, đó gọi là lưu chuyển vì nghiệp. Đó là vì quý vị đã tạo nghiệp, nên đời sau quý vị vẫn sẽ quay lại. Nghiệp là do phiền não và vô minh mà ra. Tại sao quý vị lại tạo nghiệp? Vì quý vị phiền não, vì quý vị vô minh, không hiểu rõ chân tướng sự việc. Quý vị không hiểu, làm một việc gì đó, làm tổn thương người khác, tiếp theo tự mình rước lấy khổ đau vô tận, thế là quý vị khởi lên phiền não vô minh; khởi phiền não rồi thì tạo nghiệp, tạo ra rất nhiều nghiệp; sau khi tạo rất nhiều nghiệp rồi, có phải trả không? Đời này trả, trả mãi, trả không hết, vậy thì đời sau lại đầu thai để tiếp tục trả. Cho nên đây gọi là luân hồi tạo nghiệp.

Tạo nghiệp là do hoàn cảnh như thế nào mới tạo nghiệp? Điều quan trọng nhất để tạo nghiệp chính là Tâm. Vì tâm của quý vị sẽ tạo ra rất nhiều nghiệp báo, người tạo nghiệp tất sẽ chịu quả báo. Thuyết nghiệp báo trong Phật Pháp Tiểu thừa chính là nói về nhân quả duy tâm. Vì tâm của con người sẽ tạo tác, tạo nghiệp, vậy thì nghiệp báo của quý vị là bắt đầu từ tâm, gọi là thuyết nghiệp báo. Đây chính là nền tảng tư tưởng cơ bản của Phật giáo, là cơ sở của việc học Phật. Tam giới duy tâm, chỉ nghiệp báo của ba cõi, nghiệp đến sẽ có báo ứng, báo ứng rồi lại tạo nghiệp, tạo nghiệp rồi lại có nghiệp báo… tại sao sanh tử luân hồi không thể thoát khỏi những nghiệp báo này? Vì tâm của quý vị, quý vị không cam tâm. Đây là lý do tại sao một vụ kiện rõ ràng đã thắng, lại bị người ta kháng cáo, rồi lại tiếp tục kiện tụng. Quý vị thắng, họ kháng cáo; họ thắng, quý vị kháng cáo. Đây chính là do tâm của quý vị tạo ra, vì quý vị không chấp nhận, vì quý vị cho rằng họ sai, tại sao họ lại thắng. Đây chính là sanh tử luân hồi.

Cho nên vạn Pháp duy tâm tạo, vạn Pháp duy thức. Mọi sự việc trên thế gian này đều là do ý thức của quý vị cho rằng việc này là không đúng, nên mới tiếp tục hành vi của mình. Ví dụ, hôm nay quý vị cảm thấy việc này là mình sai, có phải quý vị sẽ không tranh cãi với người ta nữa không? Quý vị cảm thấy việc này mình đúng, có phải quý vị sẽ không ngừng tranh cãi với người ta không? Người ta tìm lý do, quý vị lại đi bác bỏ họ. Cho nên vạn Pháp duy thức, nhận thức hết thảy, quý vị bắt buộc phải nhận thức tất cả các hiện tượng trên thế gian. Hôm nay mọi người đều đang nói về quý vị, quý vị nên hiểu rằng nghiệp báo đã bắt đầu đến rồi. Vì quý vị một thời gian dài không để ý đến người này, không để ý đến người kia, không tốt với người này, không tốt với người kia, đến khi mọi người đều đứng ra chỉ trích quý vị, quý vị nên dừng lại, không nên đi tìm lý do nữa, vì nghiệp báo của quý vị đã đến. Rất nhiều người ngốc nghếch, đột nhiên trong cơ quan có vài người nhảy ra đấu với mình, thực ra mọi người ở sau lưng đều đã nói về quý vị rồi, hai người nhảy ra, rồi những người xung quanh hùa theo, thực ra nhân duyên của quý vị đã rất kém rồi. Bởi vì nội tâm quý vị vẫn không chấp nhận, ý thức quý vị vẫn không chấp nhận, vẫn cho rằng mình đúng, thế là gây ra sự phân biệt trong nội tâm.

Duy thức, sự phân biệt của ý thức, quý vị cho rằng việc này đúng, quý vị sẽ cứ chấp trước như vậy mãi. Ý thức là gì? Ý thức chính là ý nghĩa của sự phân biệt. Phải nhớ rằng, quý vị có ý thức này, thực ra là quý vị có tâm phân biệt này. “Tôi cho rằng người này không thể sửa đổi được nữa”, chính là trong tâm quý vị có tâm phân biệt; “tôi cho rằng anh ấy nhất định sẽ sửa đổi được”, quý vị cũng là có tâm phân biệt. Bởi vì trong tâm quý vị, ý thức “năng phân biệt” là tác dụng của tâm. “Sở phân biệt” là gì? Chính là đối tượng mà tâm quan sát. Tâm của quý vị đi quan sát sự vật này hoặc đối tượng này, tác dụng của quý vị với nó, gọi là sở phân biệt. Phật giáo bất luận là Đại thừa hay Tiểu thừa, tư tưởng trung tâm nói về điều gì? Chính là nhân quả duy tâm.

>> Tập 109
Mới hơn Cũ hơn