Bạch Thoại Phật Pháp - Quyển 7 (Bộ 12 quyển)

 

BẠCH THOẠI PHẬT PHÁP

(Quyển 7)

Chủ giảng: Đài trưởng Lư Quân Hoành

Ghi chép, chỉnh lý & biên tập: Dương Kim Mai

Hiệu đính: Ban Thư ký Đài Phát thanh Hoa ngữ Đông Phương Úc Châu

Biên tập mỹ thuật: Bàng Thiên Văn

Tổ chức thực hiện: Ban Thư ký Đài Phát thanh Hoa ngữ Đông Phương Úc Châu

Xuất bản: Trung tâm Văn hóa Đài Phát thanh Hoa ngữ Đông Phương Úc Châu (2OR)

Địa chỉ: 54 Meagher St, Chippendale Sydney NSW 2008 Australia

Điện thoại: (+61-2) 9283 2758

Địa chỉ Blog của Đài trưởng Lư Quân Hoành:

http://lujunhong2or.com

Lần xuất bản: In lần thứ 1, Bản thứ 1, tháng 2 năm 2014

Số đăng ký xuất bản: AORP100126

Số lượng in: 10.000 bản 

Lời nói đầu

Các bài viết trong cuốn "Bạch Thoại Phật Pháp" đều được chỉnh lý dựa trên các bản ghi âm và văn bản ghi chép lại những lời giảng và khai thị của Sư phụ chúng tôi – Đài trưởng Lư Quân Hoành – dành cho các đệ tử tại Quan Âm Đường thuộc Đài Phát thanh Hoa ngữ Đông Phương Úc Châu. Sư phụ đã dùng ngôn ngữ của đời sống thường nhật để giảng giải Phật pháp cao sâu, vừa giải thích từ góc độ triết lý nhân sinh, vừa sử dụng những ví dụ gần gũi, dễ hiểu trong cuộc sống hàng ngày. Nhờ đó, thông qua "Bạch Thoại Phật Pháp", người đọc có thể lĩnh hội được những lý luận Phật học thâm sâu và ở tầng thứ cao. Sư phụ dùng phương tiện trí, nói phương tiện pháp, dẫn dắt chúng đệ tử phá mê khai ngộ, ly khổ đắc lạc, đạt đến giải thoát rốt ráo.

Sư phụ truyền dạy chúng ta cách học Phật, tu tâm, tu hành, cách gọt giũa đi những tập khí vô minh trên thân mình, cũng như lý do vì sao phải trì giới, thủ pháp... Mục đích là để khai mở Phật tính của vân vân chúng sinh, khai phát trí tuệ, nâng cao sự giác ngộ, sửa chữa những hành vi sai trái, cải biến vận mệnh của chính chúng ta, để thế giới này ngập tràn tình yêu thương từ bi của Quán Thế Âm Bồ Tát.

Sư phụ còn chỉ dạy chúng đệ tử cách vận dụng lý luận Phật pháp vào đời sống thường nhật để giải quyết muôn vàn vấn đề phải đối mặt trong sinh hoạt, học tập, sức khỏe và công việc; cách vận dụng lòng từ bi và trí tuệ của chư Phật, chư Bồ Tát để giúp chúng ta được tiêu tai kiết tường, sống một cuộc đời thanh tịnh và an lạc giữa xã hội hiện đại.

Trong các bài viết của cuốn "Bạch Thoại Phật Pháp" này, Sư phụ đều vận dụng trí tuệ viên dung của Bồ Tát, dùng ngôn từ giản dị, dễ hiểu để diễn giải một cách sâu sắc về quy luật nhân quả ở thế gian. Các bài viết sau khi được công bố đã giúp cho hàng vạn chúng sinh có duyên như bừng tỉnh cơn mộng, thức tỉnh chúng sinh bước lên đại đạo học Phật, tu tâm, tu hành, thay đổi vận mệnh, đồng thời nhận được sự hoan nghênh nhiệt liệt từ mọi tầng lớp nhân sĩ trên toàn thế giới.

Nhằm giúp cho nhiều người học Phật lương thiện hơn nữa được thấm nhuần lợi lạc, nay chúng tôi xin chỉnh lý lại để in ấn xuất bản, lưu thông miễn phí, rộng kết thiện duyên với chúng sinh.

Tháng 1 năm 2013, tại Sydney

PHẦN MỘT: GIẢNG GIẢI PHẬT PHÁP BẰNG NGÔN NGỮ ĐỜI THƯỜNG

1. Liễu ngộ tự tính, buông xả tà niệm

+

Phải đoạn trừ tập khí, đoạn trừ tâm tính cuồng ngạo. Sự ngạo mạn điên cuồng là khi tự cho mình là tài giỏi lắm, "tôi là người phụ nữ đảm đang nhất thế giới, tiếng Anh của tôi là xuất sắc nhất". Tại sao lại sinh ra các cuộc thi? Chính vì người đó nghĩ mình là giỏi nhất, bạn cũng nghĩ bạn là giỏi nhất, nên người ta mới lợi dụng tâm lý này, thông qua các cuộc thi để tạo ra những cuộc tranh đấu không hồi kết. Bà mẹ này nói: "Con gái tôi là đẹp nhất thế giới". Rồi bà mẹ kia lại nói: "Con gái tôi mới là đẹp nhất". Thế rồi, mọi người rủ nhau đi thi sắc đẹp, để cho người khác bình phẩm, đánh giá. Thế nào là đẹp, thế nào là xấu? Trong mắt mỗi người đều có những quan điểm khác nhau, không có một tiêu chuẩn cơ bản nào cả, tất cả đều là trực giác sinh ra từ những ảo niệm do con người tạo nên. Trực giác này có là vì bạn có ảo niệm; những ý niệm không chân thực mới sinh ra cái cảm giác trực tiếp ấy. Thế nào gọi là tiếng Anh giỏi? Tiếng Anh của bạn có thể giỏi trong lĩnh vực này, tiếng Anh của người kia có thể giỏi trong lĩnh vực khác, làm sao mà so sánh được? Đúng không? Mũi của bạn đẹp, mắt của người kia đẹp, lại có người mắt, mũi, miệng đứng riêng thì không đẹp, nhưng kết hợp lại trên khuôn mặt thì lại rất ưa nhìn; có người ngũ quan tách ra đều đẹp, nhưng đặt cạnh nhau thì lại không ra sao. Tất cả những điều này chỉ là một loại cảm giác, một sự cảm nhận, sao các vị có thể coi những thứ đó là thật được?

Phải hiểu rằng, tâm chúng ta không chính, thì ý niệm chính là ác; tâm mà chính, thì ý niệm phát ra đều là thiện. Trong tâm chúng ta không được phép có dù chỉ một chút tà tư tà niệm. Hôm nay, nếu các vị có một chút tà tư tà niệm với Sư phụ, cảm thấy Sư phụ thiên vị, cảm thấy Sư phụ xử lý việc nào đó chưa được viên mãn, chưa đủ tốt, thì góc nhìn của các vị về Sư phụ nhất định sẽ bị lệch lạc. Lấy một ví dụ đơn giản, khi còn nhỏ chúng ta tuyệt đối tin tưởng cha mẹ, cho dù cha mẹ làm sai, chúng ta vẫn nghĩ cha mẹ là những người tuyệt vời nhất trên đời, họ sẽ không bao giờ làm hại chúng ta, đúng không? Có như vậy, bạn mới nhận được sự yêu thương và bảo bọc của cha mẹ. Nếu từ nhỏ bạn đã thấy cha mẹ thiên vị, sống không tốt, thì trong tâm, bạn sẽ ngày càng xa cách cha mẹ mình, lâu dần, bạn sẽ giống như người không có cha mẹ vậy. Hôm nay các vị theo Sư phụ học Phật, nếu các vị nghi ngờ lời Sư phụ, các vị sẽ ngày càng rời xa Sư phụ. Sư phụ có Bồ Tát quản lý, các vị có Sư phụ quản lý, và cũng có Bồ Tát quản lý. Sư phụ không được may mắn như các vị, tại sao? Vì Sư phụ chỉ có Bồ Tát quản lý, còn các vị lại có thêm một người Sư phụ quản lý. Người Sư phụ ở chốn nhân gian này còn có thể thường xuyên tha thứ cho những việc làm sai trái của các vị, chứ Hộ pháp thần thì nghiêm khắc hơn rất nhiều. Các vị phải theo Sư phụ học hành cho tử tế, phải chân tâm học Phật.

"Ngu giả luyến cuồng" – Kẻ ngốc nghếch thì thích ngông cuồng; "Thánh giả ly cuồng" – Bậc Thánh nhân thì xa rời sự điên cuồng. Người thực sự có tư cách để ngông cuồng thì họ lại không hề ngông cuồng; còn những kẻ chẳng có tư cách gì thì lại đi ngông cuồng khắp nơi. Nói cách khác, ngày nay chỉ cần người nào tự thấy mình rất tài ba, thì người đó chắc chắn chẳng có gì tài ba cả. Người thực sự tài giỏi sẽ không bao giờ tự nói mình tài giỏi, đúng không? Bậc Thánh nhân có tự nói mình tài ba không? Thánh nhân từ đâu mà có? Là do mọi người đều ca ngợi người đó tốt, người đó mới trở thành Thánh nhân. Còn kẻ suốt ngày tự xưng mình là Thánh nhân, tự nói mình tốt đẹp vô cùng, thì có gì mà tài ba chứ? Trước đây Sư phụ từng nói về những khuyết điểm của các MC chương trình phát thanh, họ đều bảo: "Đài trưởng à, cha mẹ tôi còn chưa bao giờ nói tôi như cách ngài nói đâu". Thấy chưa? Ngông cuồng không? Bạn cứ ở nhà bạn mà ngông cuồng, nhưng khi ra ngoài xã hội, làm sao bạn tránh khỏi việc bị người ta dị nghị? Trải qua sự chỉ dạy nghiêm khắc và liên tục của Sư phụ, sau này họ đều được mọi người vô cùng yêu mến, và họ cũng rất cảm ơn Sư phụ. Thực ra Sư phụ đã bỏ ra rất nhiều tâm huyết, nhưng đó cũng là bổn phận của Sư phụ. Sư phụ mệt lắm chứ, lúc đó Sư phụ gặp các MC, gặp ai là nói người đó, nói cho đến khi họ nhổ sạch, mài nhẵn hết những cái gai trên người mình, trở thành người ai thấy cũng thương, thì đương nhiên người khác sẽ yêu mến rồi, và khi ra ngoài xã hội họ sẽ ít gặp phải rắc rối hơn. Các vị bây giờ chẳng phải cũng đang như vậy sao?

Con người đừng nên so sánh. Cứ đi so sánh với người khác là bạn sẽ sinh lòng ghen tị, bởi vì sau khi so sánh mà thua kém, người ta nhất định sẽ ghen tị. Nếu Tiểu Trương và Tiểu Vương đi so sánh xem ai tu tốt hơn, vừa so sánh, nếu Tiểu Trương kém hơn, lập tức tâm ghen tị sẽ sinh ra, và ngược lại cũng thế. Vì vậy, một cuộc sống không so sánh mới là cuộc sống đích thực, cuộc sống thích so sánh sẽ khiến con người sinh ra Tham, Sân, Si. Tu tâm đến giai đoạn sau, tuyệt đối không được có tà tâm, không được có một chút sai lệch, một chút tà tư nào cũng không được có. Đối với Sư phụ, trước tiên các vị phải có sự tin tưởng, "Một ngày làm thầy, cả đời làm cha", đến cả triết lý này mà cũng không làm được, thì sao các vị có thể theo Sư phụ học Phật cho tốt được? Phải tự tánh, phải tự độ. Tôi là người có tự tánh, tôi nhất định có thể tự độ hóa tốt chính mình. Có như vậy, bạn mới hiểu rõ bản thân, mới liễu ngộ được tự tánh. Một người phải hiểu rõ chính mình, phải biết sức mình ăn được mấy bát cơm, việc gì làm được thì làm, không làm được thì đừng có ôm rơm rặm bụng. Người Trung Quốc có câu "Không có mũi khoan kim cương thì đừng nhận nghề sửa đồ sứ", đúng không? Vì vậy, phải buông bỏ mọi vọng tâm, chân chính độ chính mình. Khi bạn buông xả hoàn toàn mọi vọng tâm, đó chính là lúc bạn đang thực sự độ mình. Tâm ghen tị, tâm sân hận, tâm tham lam, mọi loại tâm đều buông xả hết, bạn chính là đang thật sự tự độ mình, đó mới là "Chánh kiến".

Phải dùng trí tuệ để đánh vỡ sự ngu si. Người thông minh sao có thể ngu si được? Người có trí tuệ sao có thể điên cuồng được? Nếu bạn không thể đánh vỡ sự chấp trước, tham đắm, thì bạn chính là kẻ ngu si, sẽ trở thành một con vật không thể kiểm soát bản thân. Bởi vì không thể kiểm soát chính mình, nên bạn muốn cãi nhau là cãi nhau, muốn phát điên là phát điên, muốn điên cuồng là điên cuồng. Đôi khi nhiều người nghĩ không thông, muốn tự sát là tự sát, thực chất đó chính là không kiểm soát được bản thân, nên mới biến thành con vật. Bởi vì bạn là con người, bạn nhất định phải học cách kiểm soát chính mình. Động vật sở dĩ là động vật, vì nó mãi mãi ngu si; chính vì sự ngu si đó, nó mới là động vật. Một người nếu ngu si, người đó sẽ biến thành động vật. Hóa giải sự ngu si, đó mới là hành giả. Phải hóa giải mọi sự ngu si, bạn mới là một người tu hành đích thực.

2. Ly mê ly giác, thường sinh trí tuệ

+

Phải mở rộng cánh cửa trí tuệ của bản thân, nghĩ nhiều nói ít, tư duy nhiều mà bớt nói lại, đó gọi là khai trí. Trừ bỏ hư vọng, tức là đừng có những vọng niệm viển vông, những thứ không thực tế thì đừng nghĩ đến, những việc không làm được thì đừng mơ tưởng. Hiện nay có bao nhiêu người đi mua vé số, chính là vì trong tâm họ có sự hư vọng, không chịu đi làm việc kiếm tiền một cách thực tế, suốt ngày chỉ mộng tưởng trúng mánh khóe bất ngờ. Những ý niệm xấu, tâm vọng tưởng đều không được chứa chấp, một chút suy nghĩ không tốt cũng không được có, phải đấu tranh với những tư tưởng bất thiện của chính mình. Hôm nay tôi vừa có một suy nghĩ không tốt, tôi phải lập tức loại bỏ nó, tuyệt đối không được giữ lại. "Tôi hận chết ông chồng này, tôi chỉ muốn sống mái với ông ta", ý niệm này vừa khởi lên, phải lập tức dập tắt ngay. Không được hận người khác, vì tôi là người học Phật – anh ta hại cả nhà tôi, đó là do kiếp trước tôi nợ anh ta – các vị nghe có hiểu không? Phải hóa giải.

Người học Phật cần tự kiến tánh, cần tự mình nhìn thấy được bản tánh của chính mình. Phải thường có tâm hạ mình, thường xuyên biết đặt cái tôi của mình xuống, xem mình thấp đi một chút, và thấp hơn chút nữa. Hôm nay tôi vì bạn thì đã sao nào? Đừng cho rằng mình cao ngạo lắm, hôm nay tôi xới cơm giúp bạn thì đã sao? Hôm nay tôi rửa bát giúp bạn thì đã sao? Nhìn xem ông Tống kia, trước đây từng là giám đốc nhà máy có bốn ngàn nhân công, nay người ta cũng đang phục vụ các bạn thanh niên đấy thôi. Đừng tưởng mình tài ba lắm, hãy xem mình nhỏ bé lại, đừng quá tự cao tự đại. Sư phụ không muốn khen các vị tốt, nếu Sư phụ khen các vị tốt, các vị sẽ kiêu ngạo; Sư phụ thường xuyên nói các vị chưa tốt, các vị mới biết cảnh giác, mới có thể tiến bộ được. Sư phụ suốt ngày khen các vị thì có ích gì chứ? Các vị đã và đang làm công đức rồi, cứ nỗ lực làm cho tốt. Sư phụ là người chỉ ra khuyết điểm của các vị, chứ không phải để khen ngợi ưu điểm. Ưu điểm không nói thì nó không mất đi đâu cả, nhưng khuyết điểm mà không nói thì hậu quả khôn lường.

Phải thực hành sự "Ly mê ly giác" thực sự, bước đi trên con đường phải là con đường thực sự rời xa sự mê hoặc, rời xa cả cảm giác. Người thực sự khai ngộ, không những phải rời xa sự mê hoặc của mình, mà ngay cả cái "giác" cũng phải rời bỏ. Bạn có cảm giác gì? Không có cảm giác gì cả, đến cái "Tôi" cũng không còn thì còn cảm giác gì nữa. Người ta chửi bạn, bạn có cảm giác gì? Không có cảm giác gì cả. Tôi làm chút việc tốt, người ta khen ngợi tôi, tôi không có cảm giác gì, vì đây là việc tôi nên làm. Hôm nay tôi ở nhà, việc này là bổn phận của tôi, tôi nên làm việc đó. Hôm nay tôi hoằng pháp, tôi độ người, đó là việc đương nhiên. Đến cái cảm giác tự hào, cảm thấy mình đã làm được rất nhiều việc, ngay cả cái "giác" này cũng không được có.

Cứ như các vị bây giờ, ngày ngày nghĩ cho bản thân, động não tính toán những chuyện vặt vãnh, hết chuyện này đến chuyện kia, như thế là không được. Rất nhiều người chạy đến Đài Đông Phương nói: "Sao ở Đài Đông Phương có vài người lại lắm chuyện thế nhỉ?" Ở đâu có người thì ở đó sẽ có chuyện, mọi người đến đây để tu tâm tu hành, chính là vì tự bản thân tu chưa tốt. Sư phụ nói cho các vị biết, nếu các vị đã tu rất tốt rồi, thì không cần đến đây tu nữa. Nếu các vị đều là người tốt, đều là người lương thiện, thì các vị đã không phải đầu thai làm người nữa, các vị đã làm Bồ Tát trên trời rồi. Ở thế gian, có chuyện xảy ra là rất bình thường, người đến đây đều là những người mang theo khuyết điểm. Người vào bệnh viện, có ai là không có bệnh không? Người vào nhà tù, có ai là không có tội không? Hôm nay các vị đến Phật đường tụng kinh, các vị nghĩ mình không có tội nghiệp sao? Mặc dù cái tội đó không phải là tội lỗi ở thế gian, nhưng đó là tội nghiệt trong bản tính của các vị. Các vị phải biết xấu hổ, ngồi dưới nghe Sư phụ khai thị tốt nhất là giấu đầu ra sau ghế đi. Các vị phải tự hỏi xem mình đã xứng đáng với Bồ Tát chưa. Các vị có bản lĩnh ngày nào cũng đối diện với Quán Thế Âm Bồ Tát mà nói: "Lạy Quán Thế Âm Bồ Tát, hôm nay con chưa từng nói xấu ai một câu, chưa từng khởi một ác niệm nào, chưa từng làm một việc xấu nào". Các vị có dám nói vậy không?

Phải ly mê ly giác, thường sinh Bát Nhã, thường sinh trí tuệ. Phải trừ chân trừ vọng, ngay cả cái gọi là "chân thật" cũng phải loại bỏ. Cảm thấy thứ này là thật ư, hãy trừ bỏ nó, bởi vì nó là giả. Anh ấy đối xử tốt với tôi thật lòng mà – anh ấy đối xử tốt với bạn, cũng chỉ là trong đời này kiếp này thôi, sau này sẽ không còn nữa, kết thúc rồi, chẳng phải là đồ giả không mang theo được sao? Ngay cả những thứ là "chân" cũng phải trừ bỏ, bởi vì cái "chân" này sinh ra từ sự giả hợp của nhân gian. Chẳng phải ngày xưa người ta đối xử tốt với bạn là thật sao? Hồi nhỏ đi học, các vị có những người bạn thân thiết lắm đúng không? Bây giờ họ đi đâu cả rồi? Ngày xưa khi còn đi học Sư phụ có rất nhiều bạn tốt, từ nhỏ Sư phụ đã có sức kêu gọi, Sư phụ làm gì là đám trẻ con xúm lại, bọn trẻ đó đối xử với Sư phụ thật tốt biết bao. Sư phụ rất yêu quý chúng, rất nhớ chúng. Sư phụ mỗi ngày giống như một người anh cả, quan tâm chăm sóc chúng. Hãy nghĩ xem, đó là thật sao? Là giả thôi, bây giờ chẳng tìm thấy ai nữa cả. Sư phụ đôi khi nhìn thấy một vài người, nhớ được khuôn mặt nhưng lại không gọi được tên. Các vị cũng vậy thôi, nhớ đến một chuyện gì đó, nó nằm ngay trên môi, in trong đầu rồi đấy, nhưng lại không tài nào nhớ ra tên người đó. Giả phải không? Cho nên, phải "trừ chân trừ vọng, tức kiến Phật tánh", các vị loại bỏ hết những thứ của nhân gian này, các vị sẽ nhìn thấy Bồ Tát.

"Thường niệm tu hành", thường xuyên nghĩ rằng tôi phải tu hành, người đó sẽ có được nguyện lực pháp. Các vị thường xuyên nghĩ "Tôi phải tu tâm", các vị sẽ đắc được nguyện lực pháp. Các vị nghĩ xem có phải vậy không? "Tôi phải tu tâm, tôi phải tu hành, tôi phải tụng kinh", được rồi, bạn tiếp tục tụng kinh, chẳng phải bạn đã có nguyện lực rồi sao? Ngày mai lại nghĩ tiếp "Tôi phải tiếp tục tụng kinh, tôi phải tu tâm", nguyện lực có phải lại đến không? Bạn không thường xuyên suy nghĩ, không thường niệm sự tu hành, làm sao bạn có nguyện lực pháp?

Sám hối, hiểu một cách đơn giản, "Sám" là dừng lại, là đoạn tuyệt; "Hối" là không bao giờ tái phạm nữa, đó mới gọi là sám hối. Tôi phải dừng lại, cắt đứt những việc làm sai trái, sau đó không làm nữa, tôi mới thực sự là đang sám hối. Chỉ sau khi sám hối, con người mới trở nên thanh tịnh. Bạn không sám hối, làm sao con người bạn thanh tịnh được? Rất nhiều người trong số các vị là cha mẹ đơn thân, bạn không sám hối những việc làm sai trái của mình, thì ở nhà ngày nào bạn cũng ôm hận người chồng cũ. Hôm nay bạn cãi vã căng thẳng với con cái, bạn không sám hối thái độ không tốt của mình với con, bạn sẽ còn tiếp tục hận đứa con của mình.

3. Tự tánh mới có thể tự độ

+

Người bố thí bình đẳng mới là người từ bi nhất. Bạn đã biết bố thí rồi, nếu bạn dùng thêm tâm bình đẳng, thì bạn chắc chắn là người từ bi nhất. Hôm nay bạn đối tốt với tất cả mọi người, bạn chính là người từ bi nhất; hôm nay bạn bố thí cho ai cũng giống nhau, bạn chính là người bình dị và dễ gần nhất, bạn là người từ bi nhất. Vì vậy, chỉ cần trong khả năng của mình, những việc bạn có thể làm được, bạn phải đem đi bố thí một cách bình đẳng. Nếu hôm nay bạn làm một việc mà chưa thể đạt đến mức "Chánh đẳng chánh giác", chưa thể đạt đến sự viên mãn, bạn có thể tạm gác lại tâm Chánh đẳng chánh giác, hãy bắt đầu tu từ cái "Vô phân biệt tâm" (tâm không phân biệt) của mình trước. Hôm nay bạn chưa thể viên mãn, làm người tốt chưa đủ độ, làm người thiện còn khiếm khuyết, vậy hãy bắt đầu từ tâm bình đẳng, đối với ai cũng như nhau. Đây chính là nền tảng để củng cố việc bạn đạt đến Chánh đẳng chánh giác.

Người có đại trí tuệ mới có thể nhiếp thọ chúng sinh trong pháp giới. "Nhiếp" nghĩa là quy tụ lại. Người có đại trí tuệ có thể bao dung người khác. Bạn chửi tôi, bạn nói xấu tôi, tôi đều có thể bao dung, đó chính là đại trí tuệ. Bạn đối tốt với tôi, tôi cũng đối xử vậy; bạn không tốt với tôi, tôi vẫn đối xử vậy. Bất kể bạn xảy ra chuyện gì, tôi vẫn một lòng đối tốt với bạn, đó chính là sự bao dung. Dòng nước bẩn chảy ra biển lớn, biển lớn nói: "Hãy bao dung nó". Chảy vào con sông nhỏ, sông nhỏ nói: "Không được vào, nước của chúng tôi rất sạch". Tại sao biển lớn lại trở thành biển lớn? Dù nước của bạn có bẩn đến đâu, khi hòa vào biển cả, biển vẫn làm cho bạn hóa thành màu xanh lơ, xanh biếc; tôi có thể hòa tan sự dơ bẩn của bạn, đó mới gọi là khí lượng. Hãy nhớ, rất nhiều người chạy đến trước mặt người khác và nói: "Tôi nói cho bạn chuyện này, bạn đừng tức giận nhé". Căn bệnh lớn nhất của con người là "lạy ông tôi ở bụi này", rõ ràng biết người ta sẽ tức giận, vậy tại sao còn cố nói, đúng không? Nói với người khác "Hôm nay tôi không phải đang xúi giục chia rẽ đâu nhé", thì chắc chắn bạn đang xúi giục chia rẽ rồi. Trí tuệ của Bồ Tát luôn hiện hữu ở đó. Hãy nghĩ xem, người có đại trí tuệ có thể nhiếp thọ chúng sinh pháp giới, Bồ Tát có đi nói xấu người khác không? Dù các vị có bao nhiêu khuyết điểm, tôi đều có thể bao dung, chẳng sao cả. Đó mới gọi là tấm lòng từ bi.

Phải loại bỏ mọi sự "tà mê" trong tâm chúng sinh, một chút tà cũng không được, có một chút tà là sẽ đi lệch. Những việc làm đúng đắn trên người các vị là những gì một con người nên có, còn tà mê là thứ không nên có, cho nên Sư phụ mới phải nhắc nhở các vị. Những thứ tốt đẹp ở các vị thì có gì mà phải nói? Các vị chạy đến chỗ Sư phụ để khoe mình tốt thế này thế nọ thì có ích gì? Các vị có bản lĩnh thì đến gặp Sư phụ mà nói: "Con đã làm sai chuyện này thế nào", như vậy mới đáng mặt một người học Phật. Chuyện tốt thì đừng mang đến kể: "Sư phụ, sao ngài không hiểu con, ngài xem con đã làm được bao nhiêu việc...". Những chuyện đó Bồ Tát đều biết cả, Sư phụ biết để làm gì? Sư phụ chuyên môn đến để chỉ ra khuyết điểm của các vị, chứ không phải chuyên môn đi tuyên dương. Muốn tuyên dương thì đừng tìm Sư phụ, muốn bị phê bình thì hãy tìm Sư phụ, bởi vì "Nghiêm sư xuất cao đồ" (Thầy nghiêm khắc mới đào tạo được trò giỏi). Phải trừ bỏ tâm tà mê, tâm cuồng vọng, tâm bất thiện, tâm tật đố, tâm ác độc. Tất thảy những loại tâm như vậy, chỉ cần các vị còn giữ chúng, các vị sẽ không thể tu tốt Phật pháp, sẽ mãi là chúng sinh. Bởi vì chúng sinh là những người lạc lối, là những người không khai ngộ.

Tự tánh mới có thể tự độ, bản thân phải biết rõ bản tánh của mình, người đó mới có thể tự độ hóa chính mình. Bạn đến cả bản tánh cũng không tìm thấy, thì làm sao có thể tự độ được? "Tự tánh tự độ, tự minh tự độ". Nghĩa là bản thân hiểu rõ bản tánh của mình, tự mình độ cho mình, người này mới đang thực sự độ chính mình. Thực chất là bản thân biết rõ khuyết điểm của mình, rồi tự mình độ lấy mình, để tự sửa chữa khuyết điểm, đó mới là thực sự đang độ mình. Hãy tu học cho đàng hoàng, các vị còn kém xa lắm. Đến trước mặt Sư phụ, đừng nói thêm lời thừa thãi, đừng có "chưa khảo đã xưng", các vị nghĩ gì trong đầu, làm sao Sư phụ lại không biết? Có gì mà phải trình bày? Sư phụ còn gì để phải nói lại cơ chứ?

Trong đầu các vị tuyệt đối không được khởi lên dù chỉ một chút tà niệm. Nghĩ ít đi thì phiền não sẽ ít đi. Sư phụ rất thích lấy ví dụ: Tiểu Lý bị mọi người trêu chọc rằng anh ta thích một cô gái, thực ra trong lòng anh ta biết rõ là mình thích cô ấy, anh ta đã chột dạ rồi. Người ta đùa: "Anh thích nhiều người lắm nhỉ", thực ra người ta chỉ nói cho vui, đâu có ám chỉ ai, thế mà anh ta lại chối đây đẩy: "Các người đừng có nói bậy, tôi đâu có thích người này, tôi chẳng thích người kia, đừng tưởng tôi thích ai nhé". Anh ta khai tuột tên người ta ra, đúng là "Lạy ông tôi ở bụi này". Các vị tu hành còn kém lắm, chỉ số IQ của các vị cũng chỉ ngang trẻ con thôi, thế mà còn mang mấy trò này ra chơi với Sư phụ, các vị thật sự rất ngốc.

Phải đem những tà kiến, phiền não và chúng sinh ngu si trong tâm mình, dùng Chánh kiến để độ hóa. Nghĩa là sao? Nghĩa là phải dùng phương pháp đúng đắn để nhìn nhận, để độ hóa những suy nghĩ tồi tệ, phiền não và ngu si trong tâm, dùng phương pháp đúng đắn để nhìn nhận sự vật, đó là "chánh pháp sinh thành". Rất đơn giản, nếu bạn dùng phương pháp đúng đắn để nhìn nhận sự vật trên thế gian, thứ bạn nhận được chắc chắn là những hành vi và lý luận đúng đắn. Trong tâm bạn, chánh pháp sẽ được sinh ra, bởi vì bạn nhìn mọi việc rất chân chánh, tức là có "Chánh kiến" – kiến giải chân chính. Dùng trí tuệ Bát Nhã để đánh vỡ sự ngu si, phải dùng trí tuệ của Bồ Tát để phá vỡ sự vô minh của chúng ta. Mê vọng chúng sinh, vì chúng ta ngu si nên chúng ta sẽ mất phương hướng, chúng ta sẽ quên đi rất nhiều việc, vọng tưởng bắt đầu nảy sinh, chúng ta chính là chúng sinh mê vọng. Chúng ta phải tự mình độ mình. Rất nhiều người khi đi độ người khác, lại cứ thích đi vạch lá tìm sâu, tìm khuyết điểm của người ta. Sư phụ nói cho các vị nghe, tại sao nhiều người lại cãi nhau? Khi một người đang nói xấu người khác, thực ra việc người đó chê bai bạn, bản thân người đó cũng có vấn đề. Nhưng trước tiên bạn phải nghe xem người ta nói gì. Nếu họ nói đúng, bạn phải sửa đổi; nếu họ nói sai, bạn phải lấy đó làm răn đe. Căn bệnh của con người là, vừa nghe người ta chê mình không tốt, điều đầu tiên anh ta làm không phải là tự thay đổi, mà là đi tìm lỗi của đối phương để cự cãi rằng "Anh cũng thế thôi", đây gọi là ngu si. Mỗi người đều phải bắt đầu từ chính bản thân mình.

Tà niệm ập đến, phải dùng "Chánh độ". Hôm nay tôi thấy một món đồ rơi bên ngoài, không biết người ta đã trả tiền chưa, tôi có thể lấy đi được không? Tà niệm đến rồi đúng không? Phải "Chánh độ", ngay lập tức phải nghĩ: Không được, tôi là người học Phật, tôi không thể lấy tài sản bất chính, việc này không liên quan đến tôi. Như vậy là bạn đã dùng Chánh tư duy để độ hóa sự việc này. "Độ", không có nghĩa là chỉ đi độ người khác, mà còn có thể độ chính mình. "Độ" còn có một nghĩa khác là độ hóa, hóa giải. Mê hoặc ập đến, dùng phương pháp gì để giải quyết? "Mê lai Ngộ độ" (Mê đến thì dùng Ngộ để độ). Hôm nay tôi u mê rồi, không biết việc này phải làm thế nào, tôi phải khai ngộ. Hôm nay người ta chửi tôi, tôi hận vô cùng, tôi rất muốn chửi lại, làm sao để khai ngộ đây? Hãy nghĩ thế này: Tôi là người học Phật, tôi không thể chửi người ta, nếu tôi chửi lại thì chẳng phải tôi cũng giống hệt người ta sao? "Ngu lai Trí độ" (Ngu si đến thì dùng Trí tuệ để độ). Hiện nay mọi người đổ xô đi mua bất động sản ở Gold Coast, họ bảo mỗi tuần chỉ cần trả 50 đô la Úc là ngôi nhà này thuộc về bạn. Ngu si không? Làm gì có chuyện 50 đô la là có nhà? Bạn tự nghĩ xem, mình có ngốc không? Dùng trí tuệ suy nghĩ một chút: 50 đô la làm sao mua được nhà? Điều đó là không thể. Chỉ cười nhạt một cái rồi thôi, cái tài lộc đó cứ để người khác phát đi, như vậy bạn sẽ không trở nên ngu si. "Ác lai Thiện độ" (Ác đến thì dùng Thiện để độ). Người ta chửi tôi, cái ác ập đến rồi, làm thế nào? Bạn đối xử với tôi không tốt, tôi càng phải đối xử tốt với bạn, tôi xem bạn làm thế nào? Chồng chửi tôi, tôi vẫn bưng cơm rót nước hầu hạ, cứ đối tốt với ông ấy, dùng Thiện để hóa giải Ác. Nếu có thể độ chúng sinh theo cách này, đó gọi là "Chân độ", bạn mới thực sự đang độ hóa chính mình.

"Phiền não vô biên thệ nguyện đoạn" (Phiền não vô biên thệ nguyện dứt). Phiền não của con người là không có điểm dừng. Hôm nay vừa phiền xong chuyện này, ngày mai chuyện khác lại đến làm phiền tiếp, mãi mãi có những chuyện phiền não không dứt. Vì vậy, phải biến bản tánh trí tuệ Bát Nhã của mình, tức là phải luôn để tâm trí mình trở thành một phương pháp vô cùng trí tuệ, có thể giải quyết được mọi việc, đó là sở hữu trí tuệ của Bồ Tát. Người ta chửi bạn, chứng tỏ người ta không có tu dưỡng, không có trí tuệ, chứng tỏ người ta chưa khai ngộ, không hiểu lý lẽ. Người hiểu lý lẽ có đi chửi bới không? Người ta chửi bạn, bạn chửi lại, hai người chính là "kẻ tám lạng, người nửa cân". Bạn là một người khai ngộ, bạn sẽ không cãi cọ với người ta.

Hôm nay Sư phụ vừa đọc được một bản tin, trên chuyến bay của hãng Tiger Airways đến Singapore, một hành khách khi xếp hàng vào nhà vệ sinh đã vô tình va vào một hành khách khác. Chuyện nhỏ như vậy mà hai bên không ai nhường ai, quay ra chửi bới nhau. Chửi qua chửi lại, vừa xuống máy bay là hai người bị cảnh sát bắt ngay. Theo luật pháp Singapore, lăng mạ và phỉ báng người khác nơi công cộng sẽ bị phạt đánh roi và có thể ngồi tù dưới hai năm. Người Úc này còn làm việc trong cục Hàng hải. Các vị thử nghĩ xem, nếu là các vị cãi nhau trên máy bay, các vị có chửi bới không? Các vị tưởng ở nhà quen thói chửi mắng là không sao, lên máy bay chửi người ta, xong rồi, phạt roi nhé, một roi quất xuống là ba tháng không ngồi được. Đừng tưởng làm người ở thế gian này không cần học các loại lễ nghi. Chửi bới, mỉa mai người khác, tất cả đều mang tội, đó chính là tội lỗi nơi âm tào địa phủ; xúi giục chia rẽ, rình mò bí mật của người khác, bới móc đời tư, tất cả những cái này đều là tội lỗi phải đọa địa ngục, chỉ có ma quỷ mới làm những chuyện như thế. Các vị hãy nhìn nữ MC đài phát thanh ở Úc giả danh Nữ hoàng, moi móc đời tư người khác, sau đó đã bị sa thải. Hãy nghĩ xem, đó đều là những việc làm vô tri vô tuệ, tuyệt đối không được làm.

4. Thiện tâm cúng dường, không truy hối

+

"Kiến nhân chi thủ, như kỷ chi thủ" – Thấy người khác giành được thứ gì đó, phải vui vẻ giống như chính bản thân mình có được vậy. "Kiến nhân chi thất, như kỷ chi thất" – Thấy người khác thất bại, sai lầm, tính toán sai, phải cảm thấy buồn bã như chính bản thân mình làm sai vậy. "Bất hiển nhân đoản" – Không phô bày khuyết điểm của người khác thành chuyện tày đình, bêu rếu cho cả thế giới biết. "Bất huyễn kỷ trường" – Không khoe khoang sở trường của bản thân. Phải "Át ác dương thiện" – Kìm hãm, ngăn chặn những thói hư tật xấu của mình, để phát huy những điều lương thiện. Trong cuộc sống, phải biết "Thôi đa thủ thiểu" (Từ chối phần nhiều, nhận phần ít). Người ta cho bạn rất nhiều đồ, bản thân phải biết từ chối, nhận lấy ít thôi. Con người thời nay lấy rồi vẫn muốn lấy thêm, món này cũng muốn, món kia cũng muốn, mình ăn no rồi cũng không nghĩ đến việc nhường lại cho người khác một chút. "Thôi đa" chính là khi người khác cho bạn quá nhiều, bạn phải biết từ chối bớt, tự mình lấy ít đi, thực chất chính là để "Chế tham". Một người ít tiếp nhận, sẽ chặn đứng được lòng tham của họ. Phải "Thụ nhục bất oán" – Hôm nay bạn bị sỉ nhục, bị oan uổng, đừng mang lòng oán hận. Bạn phải biết ơn người ta đã cho bạn cơ hội để rèn luyện sự không tức giận, kiểm soát bản thân. Người khác nói bạn không tốt, đó là Tăng thượng duyên (duyên giúp tiến bộ), nếu không, tự bạn muốn luyện tập nhẫn nhịn không nổi nóng, bạn còn chẳng có chỗ nào để luyện tập. Người ta chửi bạn, chính là cho bạn cơ hội để khắc chế mình. Chồng chửi bạn, hãy kiềm chế, đừng bận tâm đến ông ấy, tôi quyết không cãi lại, đúng không? Đó gọi là chịu nhục không oán. Ai bảo tôi lấy ông ấy, đều là ác duyên của chính tôi, kiếp này mau chóng trả nợ, không có gì phải oán thán cả.

Phải "Thụ sủng nhược kinh" (Được sủng ái mà nơm nớp lo sợ) – Người ta đối xử tốt với bạn một chút, bạn phải thật sự cảm kích: "Sao bạn lại coi trọng tôi thế, bạn còn tặng quà cho tôi, sao bạn lại nghĩ đến tôi chứ". Bây giờ các vị đã quen thói nhận đồ của người khác cho rồi, chạy đến đây để ăn cơm chùa à? Vừa thấy không có cơm là ngồi đợi, đợi cô này mang tới, đợi cô kia mang tới, đợi đến lúc không có thật thì thà chịu đói, cuối cùng cầm vài miếng bánh quy ăn cho qua bữa. Con gái các vị không được lười biếng, không có đồ ăn thì tự tìm cách, đợi ai hả? Người ta cho các vị ăn bất cứ thứ gì, ăn xong cũng không được kén cá chọn canh. Rất nhiều đồ ăn bị vứt bỏ, Sư phụ bảo họ sau này đừng cho các vị ăn nữa. Ngày xưa khi người ta làm công đức, mọi người đều tự mang đồ ăn đến, gặm cái bánh mì khô mà vẫn trả lời thư, làm công đức cho người khác đấy thôi? Các vị bây giờ được chiều chuộng sinh hư rồi, chẳng có một chút cảm giác "thụ sủng nhược kinh" nào cả. Hiện tại Sư phụ đang cho các vị cơ hội làm công đức, để các vị ở bên cạnh Sư phụ, giúp đỡ chúng sinh làm công đức, vậy mà các vị chẳng hề thấy biết ơn hay trân trọng. Phải "Thi ân bất cầu báo" – Hôm nay tôi bố thí, tôi báo ân, tôi đối xử tốt với bạn, tôi không mong cầu sự báo đáp. Có gì mà phải báo đáp chứ? Đây là việc tôi vốn dĩ nên làm, việc người học Phật nên làm, đừng chực chờ người khác đền đáp. Các vị đối với tôi cũng rất tốt, người học Phật nên nghĩ rằng: Tôi đối xử tốt với các vị là điều đương nhiên, đợi báo đáp làm gì? Nếu hôm nay tôi vừa đối xử tốt với người này xong, lập tức ngồi chực xem ngày mai anh ta sẽ đối xử tốt lại với mình thế nào; hôm qua tôi lấy đồ chia cho anh ta, sao hôm nay anh ta có đồ ngon lại không chia cho tôi?

Phải "Dữ nhân bất truy hối". Có nghĩa là trong giao tiếp với mọi người, đừng để bản thân phải hối hận, mãi mãi không bao giờ "truy hối". Nói vài câu là đắc tội người ta, rồi lập tức chạy tới nói "Xin lỗi, tôi không có ý đó", thế chẳng phải là truy hối sao? "Vừa nãy tôi thật không nên nói câu đó, sao tôi lại ngốc thế? Tôi sẽ bị anh ta coi thường mất, tôi mất mặt quá", hối hận thì đã muộn màng. Trong việc xử lý các mối quan hệ giữa người với người, đừng để bản thân có cảm giác hối hận, hãy làm người cho đàng hoàng. Nhiều người khi chửi người khác thì hung hăng tợn, chửi xong lại bảo: "Xin lỗi nhé, anh tát tôi hai cái đi", thế chẳng phải là bị thần kinh sao? Ban đầu tại sao bạn không đối xử tử tế với người ta? "Thiện nhân, nhân giai kính chi". Nếu người này là một người lương thiện, mọi người đều sẽ kính trọng họ. Bạn muốn người khác tôn trọng mình, bạn phải trở thành một người thiện. Người thiện là người không làm việc ác. Hôm nay bạn vẫn còn làm việc ác, bạn không phải là người thiện, thế nên trong kinh Phật mới nói "Thiện nam tử, thiện nữ nhân", trời đất sẽ phù hộ. Nếu bạn là một người thiện, ngoài việc mọi người đều kính trọng, trời đất cũng sẽ giúp đỡ bạn; "Phúc duyên tùy chi" (Phúc duyên theo cùng) – duyên phận phúc báo sẽ luôn theo sát bạn; "Chúng tà viễn chi" (Tà ma xa lánh) – mọi thứ tà ác đều sẽ rời xa bạn; "Thiên địa hữu tình hộ chi" – mọi người đều đối xử tốt và yêu mến bạn, chư Phật, Bồ Tát, Hộ pháp thần sẽ bảo vệ bạn. Nếu bạn là một người thiện, hãy nghĩ xem, bạn có được bao nhiêu lợi ích như vậy, hơn nữa "Sở tác tất thành" – một người lương thiện, nhận được sự giúp đỡ và bảo vệ của mọi người, họ làm việc gì mà chẳng thành công?

Hôm nay các vị có thiện hay không? Động não tính toán, dùng tiểu xảo chính là bất thiện. Người hay dùng tiểu xảo tưởng rằng không ai biết, thực ra trong lòng người ta rõ như ban ngày, rồi người ta sẽ không thèm để ý đến bạn, coi thường bạn, và cho bạn là kẻ tiểu nhân. Vì vậy, người này sẽ không tiến bộ, không nhận được sự giúp đỡ của người khác, không nhận được sự kính trọng của người khác, trời đất quỷ thần cũng không tôn trọng bạn, vậy ai sẽ đến hộ trì cho bạn? Người hay động não tính toán thật đáng thương.

Phải thực sự thấu hiểu lý luận của Phật pháp, chứ không phải đi thấu hiểu một cách giả tạo, hình thức. Lý luận của Phật là gì? Là phải hiểu "Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành" (Mọi việc ác chớ làm, mọi việc thiện nên làm). Hơn nữa, sau khi học lý luận Phật pháp, còn phải hiểu "Thực tu làm gốc", tức là bạn phải chân chính tu hành, chứ không phải hôm nay vì một mục đích nào đó mới tu. Nếu bạn không thực tu, bạn sẽ không nhận được sự cảm ứng. Các vị ngồi dưới đây đông thế này, có mấy người gia đình đang yên ấm, không xảy ra chuyện gì, không có vấn đề gì mà vẫn đến tu tâm? Đều là gia đình có vấn đề rồi mới đến tu tâm, như vậy đâu phải là thực tu. Nếu bạn thực tu, bạn sẽ nhận được hiệu quả từ giáo lý và tác dụng của việc học Phật. Giáo lý là gì? Là hiểu được lý luận Phật giáo, hiểu được tác dụng thực sự của việc học Phật, từ đó hiệu quả sẽ xuất hiện. Khi có hiệu quả rồi, bạn mới có thể kiểm chứng được cảnh giới tu vi của bản thân.

Lý thuyết nói thì dễ, nhưng áp dụng vào thực tế cuộc sống thì rất khó. Hôm nay sau khi nghe Sư phụ giảng bài, các vị có thể áp dụng thử xem. Ví dụ, lát nữa có người mang cơm đến cho các vị, các vị phải biết ơn người ta; người khác lấy cho bạn cái ghế, rót cho bạn cốc nước, bạn hãy đặc biệt biết ơn họ, trong lòng sẽ thấy vô cùng thoải mái. Sau khi áp dụng Phật lý, hiệu quả thực tế sẽ xuất hiện, bạn sẽ cảm thấy: Sao mình lại trở nên thân thiện thế này? Sao mình lại có thể biết ơn người khác đến vậy? Bởi vì bạn đã nhận được kết quả.

Phải biết ơn người khác, người ta giúp bạn một chút, bạn hận không thể mang cả đồ đạc trong nhà tặng lại cho người ta. Quán Thế Âm Bồ Tát đã giúp chúng ta vô số việc lớn nhỏ, chúng ta phải luôn ghi nhớ lòng biết ơn. Đừng vì việc thiện nhỏ mà không làm. Người khác âm thầm quan tâm bạn một chút – những ai đang yêu càng phải lưu ý – một chút quan tâm nhỏ nhoi của người ta cũng chứng tỏ tâm họ đang đặt nơi bạn, các vị phải biết ơn họ, đừng có không nhìn thấy, đừng vô cảm. Người vô cảm thì không dễ khai ngộ; "giác ngộ" là phải có "giác" (cảm nhận, nhận biết) trước, rồi mới có "ngộ" (thấu hiểu).

Thường xuyên biết ơn người khác, dần dần bạn sẽ tự biết mình tu tốt hay không; thường xuyên học Phật, bạn sẽ dần cảm nhận được cảnh giới của mình đang ở đâu. Bồ Tát nói và làm như vậy, bạn cũng làm như vậy, chắc chắn bạn đang hành Bồ Tát đạo; bạn coi người ta chẳng ra gì, chẳng quan tâm, thì bạn đang ở cõi người; người ta đối tốt với bạn, bạn còn chửi lại người ta, thì bạn là súc sinh; người ta đối tốt với bạn, bạn còn chơi xấu sau lưng họ, thì bạn là quỷ rồi. Tự biết mình đang ở cõi nào rồi chứ?

Có chúng sinh nhận được đồ ngon, người đó liền phát khởi tâm đại bi, biết ơn người khác, đó chính là "không có tâm phân biệt". Nếu một người nhận được lợi ích, họ phát tâm bi mẫn, muốn chia sẻ lợi ích đó cho tất cả mọi người, không có tâm phân biệt, đối xử tốt với tất cả, trong lòng hoàn toàn không mong đợi bất kỳ sự báo đáp nào – hôm nay tôi có đồ ngon, "Lại đây, mọi người cùng ăn nhé" – bạn không hề nghĩ đến việc nhận lại đền đáp, thực chất tâm đại bi đó của bạn đã thành công rồi. Sinh nhật người ta tặng bạn cái bánh kem, tại sao bạn lại chia cho mọi người cùng ăn? Đó chính là tâm đại bi, tâm bình đẳng, chia sẻ với chúng sinh. Nhưng có người nào bê thẳng cái bánh về nhà, chỉ cho người nhà mình ăn không? Có chứ, người như vậy là kẻ không có tâm từ bi. Phải biết chia sẻ với mọi người khi có đồ ngon, bồi dưỡng tâm bình đẳng của mình, không có tâm phân biệt. Hơn nữa, tâm đại bi này thậm chí có thể dùng để đối xử bình đẳng với người ăn xin trên phố. Gặp người ăn xin trên đường, bạn đều phải ngồi xổm xuống để cho họ tiền, như vậy bạn là người không còn tâm phân biệt nữa.

Sư phụ nói với mọi người, cái tâm cúng dường Như Lai này, nghĩa là hôm nay đứng trước Quán Thế Âm Bồ Tát, chúng ta cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát, và khi ở trên phố chúng ta cúng dường người ăn xin, tâm của bạn cũng phải giống hệt nhau, cảm thấy con người trên thế gian này đều bình đẳng, đều đáng thương, đều từ bi như nhau. Có như vậy, sự thành kính của bạn mới hoàn toàn đồng nhất. Rất nhiều người khi cho ai vài hào, vài đồng, là vứt toẹt tiền ra đó; nhưng khi cúng dường Phật Bồ Tát, họ lại chắp tay cung kính dâng lên, thực chất người này không có tâm bình đẳng. Các vị nghe điện thoại cũng vậy: "Xin chào! Đài Đông Phương xin nghe. Á – Sư phụ ạ, con chào Sư phụ". Nhưng bình thường nghe điện thoại của người khác, giọng điệu thay đổi hẳn: "Ai đấy? Tìm ai?". Thái độ đó của các vị gọi là không có tâm bình đẳng. Các vị có thiện tâm thì khi nghe điện thoại của bất kỳ ai, đều phải coi đối phương như Sư phụ. Thấy chưa, khuyết điểm của các vị lộ ra rồi đấy?

Bạn không thể hoàn toàn thành kính, bạn sẽ không đạt được sự "Đại pháp thí viên mãn". Bạn có đang bố thí không? Có, nhưng không viên mãn. Bạn có đang tụng kinh không? Có, nhưng bạn tụng kinh chưa tốt, không viên mãn. Vì vậy, mọi việc pháp thí, vô úy thí chúng ta làm đều phải viên mãn, cố gắng làm tốt hơn một chút. Lấy một ví dụ đơn giản, một cái bánh kem dù cắt nhỏ xíu, nhưng cố gắng để ai cũng được chia một miếng để ăn, đó là viên mãn. Không viên mãn là gì? Là cắt mỗi phần bánh quá to, cuối cùng có ba người không được ăn. Dù người ta nói "Không sao đâu", nhưng trong lòng bạn luôn cảm thấy mắc nợ người ta, cảm thấy không viên mãn. Giữa viên mãn và không viên mãn, tự tâm bạn phải viên mãn trước, bạn mới có thể để người khác nhận được sự viên mãn. Những việc đến lương tâm mình còn thấy không yên, làm sao bạn có thể mang lại sự viên mãn cho người khác được?

5. Không để ngoại trần nhiễm trước tâm

+

Hôm nay Sư phụ nói cho các vị biết, người học Phật trước tiên phải biết sám hối. Nếu một người học Phật không biết mình làm sai, họ sẽ không biết sám hối, bởi vì người không muốn sám hối là người không cho rằng mình đã làm sai. Chỉ khi dùng chính tâm mình để minh định rằng mình đã làm sai chuyện gì, người đó mới biết sám hối. Phật Bồ Tát mãi mãi từ bi với chúng sinh, không bao giờ từ bỏ việc cứu độ chúng sinh. Nói cách khác, hôm nay bạn làm sai, khi bạn sám hối rồi, Bồ Tát vẫn tiếp tục cứu độ bạn, bởi vì bạn là chúng sinh có duyên, bạn có duyên phận với Phật Bồ Tát, nên Phật Bồ Tát mới cứu độ bạn. Khi duyên phận học Phật của bạn chín muồi, bạn nhất định sẽ được cứu độ, cuối cùng bạn mới nhận ra rằng: Hóa ra là do chính bạn đã tự cứu mình. Bởi vì khi một người không ngừng sám hối, họ mới cảm thấy bản thân mình còn có cơ hội được cứu rỗi, mọi người thử nghĩ xem có phải vậy không? Hôn nhân rạn nứt, tình cảm xảy ra chuyện, gia đình có vấn đề... khi những chuyện này xảy ra, nếu bạn tự sám hối và nói: "Tôi làm sai rồi, việc này là do lỗi của tôi, là tôi không tốt". Thực chất, lúc này bạn đã có thể tự cứu độ chính mình. Khi biết mình làm sai, bạn mới coi Phật như một tấm gương soi. Khi tấm gương này chiếu rọi vào chính bạn, bạn sẽ dần dần hiểu được bản thân mình. Một người chỉ khi đặt Phật trong tâm, thường xuyên quán chiếu nội tâm và ngoại tâm của mình, bạn mới có thể hiểu được bản thân, người học Phật khi đó mới "Minh tâm kiến tánh". Khi một người biết hối hận, biết sám hối và nói rằng "Sau này tôi sẽ không làm những việc như vậy nữa", người đó mới được coi là người hiểu rõ chính mình. Rất nhiều người làm sai nhưng vẫn ngoan cố cãi lý, cho rằng mình làm đúng, lúc đó bạn sẽ không nhận thức được bản thân, không nhìn rõ được chính mình.

Người học Phật minh tâm kiến tánh, chính là để chứng ngộ Phật tánh của mình. Hôm nay tâm bạn đã sáng tỏ, bạn đã nhìn thấy bản tánh của mình; hôm nay tâm bạn vô cùng thấu hiểu Phật tánh, trong tâm bạn đã có Phật. Vì vậy, tu hành phải kết hợp với trí tuệ và từ bi. Tu bao nhiêu lâu mà bản thân vẫn là một kẻ vô tình vô cảm, không có tâm từ bi; tu bao nhiêu lâu mà đụng chuyện là nhảy dựng lên, vẫn là kẻ không có trí tuệ, vậy làm sao bạn có thể ở nhân gian độ hóa chúng sinh? Không thể độ hóa chúng sinh, bạn sẽ xa rời chúng sinh, vì bạn không có trí tuệ để tiếp cận họ, để độ hóa họ, cho nên bạn sẽ dần xa lánh mọi người. Giống như một người mẹ, bạn không có cách nào tiếp cận đứa trẻ, bạn sẽ dần dần đánh mất đứa con; bạn không có cách nào thường xuyên giao tiếp với con, lâu ngày đứa trẻ sẽ không nghe lời bạn. Vợ chồng cũng vậy, bạn không biết cách giao tiếp với chồng, với vợ mình, lâu ngày chắc chắn sẽ đánh mất đối phương, vì bạn không có cách nào nói chuyện, giao tiếp với người ta. Rất nhiều lãnh đạo không nắm rõ tình hình cấp dưới, những người suốt ngày tiếp xúc với lãnh đạo sẽ trụ lại làm việc lâu dài trong công ty. Còn có những người ít tiếp xúc với lãnh đạo, tự cho mình là thế này thế nọ, lâu ngày sẽ nảy sinh khoảng cách với sếp; sếp không hiểu họ, cuối cùng xử lý mọi việc không thấu tình đạt lý, người chịu thiệt thòi cuối cùng vẫn là bản thân họ. Thế nên, xét theo góc độ học Phật, chúng ta phải "Quảng kết thiện duyên" (kết duyên lành rộng rãi); xét theo góc độ làm người, chúng ta cũng phải chủ động kết duyên với mọi người nhiều hơn.

Con người ai cũng có tập khí, mỗi người sinh ra đều mang theo tập khí. Các vị ngồi đây, có ai là không mang trên mình đầy rẫy khuyết điểm? Ích kỷ, tư lợi là căn bệnh số một. Các vị trả lời Sư phụ xem, có ai trong các vị bớt ích kỷ đi một chút được không? Lúc nào cũng nghĩ cho mình, lúc nào cũng nghĩ cho gia đình mình, đều là những kẻ ích kỷ tự lợi. Một chút việc nhỏ cũng toan tính, thời gian thì tính toán cho bản thân, tranh danh đoạt lợi cho mình, chuyện tiền bạc lúc nào cũng nghĩ cho mình trước. Thế nên, tập khí của con người bắt buộc phải bị đoạn trừ, và phải "đoạn hậu bất khởi". Có nghĩa là, tập khí phải chặt đứt, và sau khi chặt đứt thì không được tái phạm. Nếu vẫn còn tập khí đó, thì coi như bạn chưa hề đoạn trừ nó. Thế nào gọi là sám hối? Đoạn trừ được tập khí mới là sám hối. Không đoạn trừ được, vẫn cứ phạm lại sai lầm cũ, thì đó không phải là sám hối, tụng kinh cũng vô ích.

Phải khắc phục tâm tà mê, tâm cuồng vọng, tâm bất thiện, tâm ghen tị và tâm ác độc. "Tâm tà mê" là gì? Là việc chính đáng không làm, lại đi làm việc tà vạy. Ví dụ, nhiều đứa trẻ khi đi thi, không nhớ được bài nên viết sẵn đáp án ra tay, hoặc làm ký hiệu, chúng thấy rất đắc ý, cái đó gọi là "tà", rồi nó làm u mê tâm trí của bạn. Bề ngoài ra vẻ tốt với người ta, nhưng thực chất không phải vì muốn tốt cho người ta, cái đó cũng gọi là tâm tà mê. Nhiều người ra ngoài tiếp thị sản phẩm, nói hươu nói vượn, khen sản phẩm tốt tận mây xanh, thực chất chẳng phải chỉ vì muốn moi tiền của người ta sao? Đó cũng gọi là tà mê. Nếu có bản lĩnh, hãy toàn tâm toàn ý cống hiến thực sự, tôi không kiếm tiền của bạn, tôi không có yêu cầu gì, tôi thật lòng muốn tốt cho bạn, giúp bạn khỏe mạnh, có cuộc sống tốt, đó mới gọi là "chánh tâm". "Tâm cuồng vọng" là gì? Là việc rõ ràng không làm được nhưng lại cứ nghĩ mình làm được. Những người học Phật các vị có như thế không? Quá nhiều là đằng khác. Cuồng vọng tự đại, tự cho mình là giỏi giang, việc gì cũng làm được. Được thôi, làm thử xem có ra hồn không? Làm sai rồi lại không chịu nhận lỗi, luôn cho rằng mình mãi mãi đúng, đó gọi là tâm cuồng vọng. "Tâm bất thiện" là tâm không lương thiện. Nghe tin người khác gặp chuyện xấu, trong lòng lập tức vui mừng khấp khởi, nghĩ thầm "Đáng đời!", đó chính là không có tâm thiện. "Tâm ghen tị" thì Sư phụ không cần nói nữa, ai chẳng có tâm ghen tị, đến một đứa trẻ con cũng biết ghen tị. "Tâm ác độc" là cái tâm vô cùng ác hiểm, tôi sẽ tìm cách hại anh, và phải làm cho anh tức nghẹn họng không nói nên lời, khiến anh dở khóc dở cười. Những cái tâm tồi tệ này nhất định phải loại bỏ. Chỉ cần mang trong mình những cái tâm này, người đó chỉ là một phàm nhân; người mang những cái tâm này được gọi chung là "chúng sinh". Không tu hành, thì là chúng sinh. Nếu chúng sinh ôm giữ những cái tâm này, thì bạn là một phàm phu tục tử; nếu bạn gột rửa sạch những cái tâm này, bạn sẽ trở thành một bậc Thánh.

Người học Phật phải "tự tánh tự độ". "Tự tánh" là bản thân phải làm chủ được bản tánh của mình; "tự độ" là phải biết rõ mình đã làm gì, phải tự soi xét lại bản thân, phải hiểu chúng ta tự độ mình như thế nào – đó chính là sửa đổi khuyết điểm. Nếu bạn không sửa được bao nhiêu khuyết điểm đó, bạn không thể tự độ; người không thể tự độ, lâu ngày làm sao có thể đi độ người khác? Tự độ rồi mới có thể độ nhân. Người không thể tự khai ngộ thì không thể độ được chính mình, vì vậy muốn độ người khác trước tiên phải độ mình. Hãy buông bỏ tất cả những cái tâm của bản thân, những cái tâm mà Sư phụ vừa nhắc đến tuyệt đối không được giữ. Hôm nay các vị thử nghĩ xem, mình có tâm tà mê không? Có tâm cuồng vọng không? Có tâm bất thiện không? Có tâm tật đố không? Có tâm ác độc không? Các vị có những cái tâm này không? Buông xả tất cả vọng tâm, người đó mới thực sự đang tu hành, gọi là "chân tu". Chân tu mới có thể chân đắc. Người thật tâm thật ý học Phật, nhất định sẽ thực sự đắc được Phật pháp; kẻ giả tâm giả ý học Phật, sẽ không bao giờ đắc được chân Phật. Những kẻ ngày ngày chỉ diễn kịch làm màu, sẽ không nhận được sự gia trì của Phật Bồ Tát. Vậy nên, học Phật làm người, trước tiên chúng ta phải "Chân" (chân thành, chân thật), rồi chúng ta mới "Đắc" (đạt được).

Người học Phật nên "Mẫn nhân chi hung" – tức là, khi người ta gặp hung tai, xui xẻo, bạn phải biết thương xót họ. Phải "Nhạc nhân chi thiện" – tức là, người ta làm việc thiện, bạn phải vui vẻ tiếp nhận và tùy hỷ. Hôm nay người ta giúp đỡ bạn, bạn phải cảm ơn họ, phải thực sự biết ơn họ, phải đón nhận những điều thiện lành mà họ mang đến cho bạn với một thái độ hoan hỉ. Người ta đến nấu cơm cho thanh niên đoàn các vị, các vị có tâm biết ơn không? Đến giờ là vác bát ra ăn, có nghĩ xem ai nấu cho mình không? Bản thân các vị ở nhà nấu cơm cho một người ăn còn lười, người ta nấu cho ngần ấy người ăn, phải đi chợ, rửa rau, thái rau, xào nấu, làm xong còn phải đóng gói mang tới đây, có dễ dàng không? Các vị phải suy ngẫm, phải biết ơn họ, phải "Nhạc nhân chi thiện" – vui vẻ đón nhận lòng tốt của người ta, phải cảm ơn họ. Việc này cũng mang lại công đức, đó là nguyên tắc cơ bản của việc làm người. Phải "Tế nhân chi cấp" – tức là, khi người ta gặp khó khăn, có vấn đề, bạn phải cứu tế, giúp đỡ họ trong lúc cấp bách, "cấp nhân sở nan" (lo lắng, giúp đỡ cái khó của người khác). Lúc người ta đang gặp vô vàn khó khăn, tôi phải nhanh chóng ra tay giúp đỡ. Rất nhiều kẻ thấy người ta gặp rắc rối là lập tức chuồn êm, sợ rước họa vào thân, hạng người đó có bao giờ giúp đỡ ai không? Phải "Cứu nhân chi nguy" – tức là, khi người ta đang trong cơn nguy kịch, khốn khó, đáng thương, bạn phải dang tay cứu vớt họ. Phải biết "Kiến nhân chi đức" – phải nhìn thấy được đức hạnh, đạo đức của người khác. Làm người luôn luôn phải nhìn vào điểm tốt, nhìn vào đạo đức của người ta. Nhìn thấy đạo đức của người khác, tự bản thân bạn mới có đạo đức; bạn thấy người khác tốt, tự bản thân bạn mới thực sự trở nên tốt đẹp.

6. Trí tuệ chân thật, thành tựu trang nghiêm chân chánh

+

Phải loại bỏ cái tôi, trừ bỏ mọi sự chấp trước của con người. Chúng ta không được có sự chấp trước của con người, đừng lúc nào cũng "Tôi cho là thế này, tôi chắc chắn là đúng, tôi đáng lẽ phải thế này, quá khứ tôi đã thế kia...". Không có đâu, bạn vẫn chỉ là bạn của ban đầu, bạn là ai chứ? Đừng ra ngoài làm đàn anh đàn chị, ra ngoài phải thường xuyên biết cúi đầu; càng cao ngạo sẽ càng tự chuốc lấy phiền phức. Vì vậy, chúng ta không nên chấp trước vào bất kỳ ai: "Tôi nhất định phải thế này, anh nhất định phải thế kia."

Phải trừ tướng chúng sinh, nghĩa là phải trừ bỏ sự chấp trước của con người vào mọi thứ trên thế gian. Nói cách khác, mọi chúng sinh đều là người tốt, tôi không có ý kiến gì với mọi chúng sinh, tôi không có sự chấp trước nào cả, các vị hiểu không? Trừ tướng thọ giả, chính là phá trừ sự chấp trước vào thời gian, vào nhiều đời nhiều kiếp, vào tuổi tác. Sống trên đời chấp trước điều gì cơ chứ? Rằng "Kiếp trước tôi nợ anh ấy, tôi không có cách nào trả hết". Nhiều người phụ nữ là như vậy, hôn nhân đổ vỡ cảm thấy mình mắc nợ con trai, liền không ngừng đối xử tốt với con, tốt đến mức cuối cùng đứa con trèo lên đầu ngồi mà bà ấy vẫn đối tốt với nó. Thực ra, bà ấy lại đang tạo nghiệp mới, bà ấy khiến con trai tạo nghiệp, kiếp sau đứa con đó lại phải trả nợ cho bà ấy. Vì vậy, đừng chấp trước vào những thứ này, đừng cảm thấy mình nợ nần người ta từ nhiều đời nhiều kiếp, nợ cái gì chứ? "Những gì tôi phải trả, tôi cũng đã trả gần đủ rồi" – thực ra khi bạn nói ra được câu này, bạn cũng đã thực sự trả gần đủ rồi, nếu không bạn sẽ cứ phải trả mãi, mà đã trả mãi thì không bao giờ hết được, hãy buông bỏ đi. Buông bỏ rất đơn giản: khi xem tivi hãy học cách buông bỏ, đang xem đến đoạn gay cấn nhất, người ta chạy đến tắt tivi đi, bạn có tức không? Không tức giận, đó gọi là tu dưỡng, đó gọi là buông bỏ. Bạn nhẫn nhục, cười hề hề nói: "Đằng nào tôi cũng định tắt, tôi đi ngủ đây." Buông bỏ rồi, mọi thứ tối đen. Nếu bạn nổi trận lôi đình, nhảy dựng lên, hét lớn: "Anh là đồ ích kỷ, tại sao lại làm vậy?" Người như thế tu có tốt không?

Sư phụ nói cho các vị nghe, chúng ta chỉ có thể bước vào bản ý của Phật khi phá trừ được những sự chấp trước ở các phương diện này. Ý nghĩa vốn có của Phật chính là để các vị đạt được trí tuệ của tánh Không. Người học Phật tu học bao lâu nay chính là để học lấy ý nghĩa đó. Nếu các vị học Phật bao lâu mà không học được chân lý thực sự của Phật, thì các vị có ý nghĩa gì chứ? Học uổng công rồi. Trí tuệ tánh Không là gì? Là tùy duyên, sao cũng được. "Ôi, anh ta lừa hết tiền của tôi rồi, tôi không sống nổi nữa", "Ôi, nó là con trai tôi, tôi nuôi nó lớn ngần này, sao nó có thể đối xử với tôi như vậy? Tôi không muốn sống nữa"... Bất kỳ khó khăn nào cũng là cảnh giới dành cho chúng ta, bất kỳ khó khăn nào cũng là những bậc cầu thang, tôi phải bước lên, vượt qua nó, giẫm nó dưới chân. Sống trên đời này có con đường nào là không thể bước qua?

"Đoạn phiền não là tu, liễu sinh tử là hành." Đây đều là những danh ngôn. Đoạn phiền não chính là đang tu tâm, bạn chặt đứt được phiền não, tức là bạn đang tu tâm; bạn tu tâm chính là để đoạn phiền não. Không còn phiền não nữa, bạn đã thành công, tâm đã tu tốt rồi. Vậy, "liễu sinh tử" nghĩa là gì? Tôi căn bản không biết người ta còn sống hay sẽ chết, bởi vì chết tức là sống, sống tức là chết; bởi vì chết rồi lại sống, sống rồi lại chết, sinh sinh tử tử là không có điểm dừng. Bởi vì bản thân con người đang sống trong sự tuần hoàn, nên gọi là luân hồi. Bạn hiểu được đạo lý của sinh tử, bạn mới có thể tu tâm thành công; tu tâm thành công tức là bạn đã thoát khỏi phiền não.

Việc không mang lại lợi ích cho chúng sinh, cũng chẳng mang lại lợi ích cho mình thì đừng làm; việc mang lại lợi ích cho chúng sinh, dù không có lợi cho mình, chúng ta vẫn phải làm; việc có lợi cho chúng sinh, lại vừa có lợi cho mình, chúng ta nhất định phải làm – đây chính là phương pháp chỉ đạo cách làm người cho các vị. Hôm nay các vị đi chửi người, đi cãi nhau, có lợi ích gì cho người ta không? Không, những việc như thế đừng làm. Có lợi ích gì cho bản thân không? Tức muốn chết, cũng chẳng có lợi gì, đừng làm. Phải làm nhiều những việc giúp tăng trưởng lòng từ bi. Nếu làm việc này giúp tăng trưởng tâm từ bi của bạn, bạn phải làm nhiều hơn. Hôm nay các vị đi phát sách của Sư phụ cho mọi người, các vị thấy nhiều người thật đáng thương, đến cuốn sách hay như thế của Sư phụ mà cũng không biết, Bạch Thoại Phật Pháp Sư phụ dạy hay thế này mà người đó lại không hay biết gì? Từ bi đúng không? Cảm giác từ bi lúc các vị đi phát sách sẽ giúp các vị nhận được rất nhiều công đức. Việc có lợi cho chúng sinh, dù không có lợi cho mình cũng phải làm; tuy không có lợi ích gì lớn cho bản thân, nhưng chỉ cần giúp được người khác là tôi vui rồi, tôi sẽ làm, hy sinh bản thân cứu người.

Phải tự thức tỉnh rằng mình đã ở trong lục đạo quá lâu rồi, làm sao mới có thể giải thoát? Bạn phải thường xuyên cảm nhận về bản thân: Mình đã ở trên cõi đời này rất lâu rồi, mình làm sai quá nhiều chuyện, tuổi cũng không còn nhỏ, mình yêu đương lầm lỡ năm lần, tình cảm chịu nhiều dằn vặt, mình bị người ta lừa gạt tiền bạc, mình cãi nhau với cha mẹ không biết bao nhiêu lần, con cái mình bây giờ bị mình dạy dỗ thành ra thế này... Thời gian quá dài rồi, tại sao mình vẫn chưa hiểu ra? Tại sao mình vẫn chưa chịu thay đổi bản thân? Phải nhanh lên, phải giải thoát, phải biết mình đã làm sai rất nhiều chuyện, như vậy bạn mới có thể tương ưng với tâm của người khác. Bởi vì bạn cảm thấy sốt ruột rồi, tâm bạn mới có thể chạm được vào tâm của người ta. Nói theo ngôn ngữ hiện đại, nhiều cô gái lúc trẻ lấy chồng luôn cho rằng mình rất xinh đẹp, đợi đến lúc năm sáu mươi tuổi, mặt đầy nếp nhăn rồi mà vẫn học cái điệu bộ nhõng nhẽo đòi hỏi "em muốn cái này, em muốn cái kia" với chồng như hồi hai ba mươi tuổi, người ta đã vứt bỏ bạn từ lâu rồi. Lúc nào thì nói lời nấy, đúng không? Hoàn cảnh nào thì làm việc nấy.

Phải biết thấu hiểu tâm của người khác mới có thể tương ưng với tâm của họ. Bạn phải có tấm lòng yêu thương người khác hơn cả yêu chính bản thân mình. Người như vậy mới là một người có thiện tâm. Kẻ chỉ biết yêu bản thân, chưa từng biết yêu thương người khác, sao có thể trở thành một người lương thiện được? Yêu người khác hơn yêu bản thân mới gọi là "ái nhân" (yêu thương con người). Các vị bây giờ ai cũng ích kỷ, chỉ biết yêu bản thân, làm gì có chuyện yêu thương người khác? Thế nên, đó là những kẻ ích kỷ.

Kinh Phật có giảng về Hai loại trang nghiêm. Trang nghiêm có hai loại:

Một là Trí tuệ: Ngày xưa khi còn đi học, tại sao có nhiều bạn nhỏ thích bạn, tại sao có nhiều bạn nhỏ đi theo bạn? Vì bạn là người có trí tuệ, gặp chuyện gì cũng nghĩ ra được cách giải quyết, nên bọn trẻ mới theo bạn. Nói đơn giản, đứa trẻ này có đầu óc, có trí tuệ; trang nghiêm chính là kết tinh của trí tuệ.

Hai là Phúc đức: Bởi vì bạn có đạo đức, bạn mới có phúc báo; người có phúc báo, chắc chắn có đạo đức.

Phúc đức và trí tuệ là hai yếu tố bổ trợ cho nhau: người có trí tuệ, họ sẽ có phúc đức; người có phúc đức, họ sẽ có trí tuệ. Vì vậy, phải trang bị đầy đủ trí tuệ của Bồ Tát. Nếu bạn là Bồ Tát, bạn bắt buộc phải có đủ "hai loại trang nghiêm" này. Nói cách khác, nếu hôm nay bạn là Bồ Tát, thứ nhất bạn phải có trí tuệ, thứ hai bạn phải có phúc đức.

Sư phụ nói ngược lại, chúng ta hiện nay học làm Bồ Tát, trước tiên chúng ta phải học trí tuệ, phải có một chút phúc đức. Kinh tế không tốt, rất nhiều việc công đức không thể làm; phẩm đức không tốt, học Phật sẽ không thành, đúng không? Thời xưa, người khuyết tật không thể trở thành Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni, đây là quy định do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đặt ra. Nếu bạn là người cụt tay cụt chân, bạn không thể làm hòa thượng hay ni cô, bởi vì cái nhân kiếp trước của bạn đã tạo ra cái quả kiếp này; vì ác nghiệp kiếp trước, kiếp này bạn vẫn đang phải chịu đựng cái quả báo đó – đó là đạo lý. Do đó, người học Phật nhất định phải có đạo đức.

Sư phụ nói cho các vị biết, muốn liễu ngộ Phật tánh, người học Phật bắt buộc phải có hình tướng trang nghiêm. Đây là lý do Sư phụ bảo các vị bớt đùa cợt trước mặt người khác, bởi vì người hay đùa cợt là người không trang nghiêm, còn người trang nghiêm thì không dễ dàng đùa cợt. Các vị hãy nhìn những vị lãnh đạo lớn, những vị tổng thống xem, họ không dễ gì buông lời đùa cợt. Cứ mở miệng ra là đùa giỡn tùy tiện thì người đó không hề trang nghiêm, hiểu không?

Nếu người này phân biệt cõi Phật, thì người đó mang Hữu vi hình tướng. Nghĩa là trong tâm bạn, trên mảnh đất học Phật này, nếu bạn sinh tâm phân biệt, bạn sẽ có tư duy hình tướng, tức là tư duy có hình có tướng. Còn "nói tự mình có thể thành tựu", nghĩa là có những người học Phật lại nói rằng tự tôi có thể thành Phật, thành Bồ Tát, điều này gọi là "Bỉ thả trụ trước sắc thanh đẳng cảnh", "Trụ trước" nghĩa là, nếu bạn thường xuyên khoe mình tu tốt lắm, tự nói mình có thể đạt được thành tựu ra sao, thì bạn tương đương với việc đang dừng lại ở cảnh giới của sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Thực chất có nghĩa là bạn không hề tiến bộ, vì bạn còn bị tác động, bạn vẫn rất coi trọng thế giới sắc thân này, không thể thoát ly khỏi nó, thực chất bạn sẽ không thể thoát khỏi lục đạo luân hồi. Cho nên, "phi chân trang nghiêm tự tri", tức là tuyệt đối không phải là sự trang nghiêm thực sự tự mình biết rõ. Nếu người này nói với bạn: "Tôi tu tốt lắm, tôi đã đạt đến cảnh giới của Bồ Tát rồi, tôi có thể làm thế này thế nọ." Vậy thì người này không trang nghiêm, tự mình bốc phét, người ta sẽ coi thường bạn. Nếu tự bạn không chấp tướng, tu hành đến mức không cho rằng mình tu tốt, tu đến mức không nhìn thấy bất cứ thứ gì ở nhân gian, không còn sắc thanh hương vị xúc pháp, không còn để cho mình có những cảm giác hay cảm thụ đó nữa, thì bạn đã đạt đến tướng trang nghiêm, tức là tướng trang nghiêm của Bồ Tát.

Trang nghiêm là phải có tâm thanh tịnh, không trụ chấp vào đâu cả. Trang nghiêm là gì? Là người trong tâm không có tạp niệm, người đó mới có thể trang nghiêm. Lấy ví dụ đơn giản, hôm nay bạn đi khám bác sĩ, tại sao có người lại coi thường một bác sĩ nào đó, cho rằng vị bác sĩ này chỉ biết kiếm tiền, nói vài ba câu là đuổi bệnh nhân đi? Bác sĩ như vậy có trang nghiêm không? Cùng là bác sĩ, bác sĩ Bethune thời xưa có trang nghiêm không? Ông ấy không nhận tiền, lặn lội đường xa đến Trung Quốc giúp người, không lấy một đồng, trang nghiêm không? Người ta kính trọng ông ấy, đúng không? Một bác sĩ không nhận tiền, chỉ biết giúp đỡ mọi người, vị bác sĩ đó vô cùng trang nghiêm, vĩ đại và cao thượng. Nếu một bác sĩ vì chút tiền mà khám bệnh cho người ta, nhân cách của vị đó lập tức trở nên thấp kém.

Chúng ta phải dựa vào trí tuệ chân thật, tức là nương tựa vào trí tuệ chân thật của chính mình để thông suốt con đường đi đến tự tánh, dùng trí tuệ thật sự để làm sạch mảnh đất bản tánh của mình, "Duy tâm hiển hiện" (chỉ có tâm hiển hiện). Lúc này, vì trí tuệ của bạn đã hiển lộ, tâm bạn thực sự rất lương thiện, bạn sẽ có thể hiển hiện ra ánh sáng và tâm từ bi vô hạn. Ví dụ đơn giản, người này chưa bao giờ có ác ý, những lời họ nói ra, những việc họ làm, hành vi và suy nghĩ trong đầu họ chắc chắn đều là những điều lương thiện. Duy tâm hiển hiện, thuận theo tâm không ngừng hiển lộ ra những điều lương thiện, đó là "Chánh trí thành tựu Phật độ", gọi là Chánh trang nghiêm. Nói cách khác, bởi vì bạn có trí tuệ chân chính, bạn trở thành cõi Phật chân chính trong tâm mình, bạn chính là Chánh trang nghiêm. Có nghĩa là gì? Nếu giả vờ đạo mạo, thì đó là sự trang nghiêm bất chính, ăn mặc có đàng hoàng đến mấy, người ta cũng bảo là "mặt người dạ thú". Chánh trang nghiêm là khi cái tâm đoan chính, cho nên tướng mạo và hành vi làm ra mới đều đoan chính, đó gọi là Chánh trang nghiêm. Hôm nay Sư phụ giảng hơi sâu một chút, nhưng Sư phụ đã cố tình giảng chậm lại; giảng chậm để cho các vị có nhiều không gian suy ngẫm, hy vọng các vị học cho tốt.

7. Trừ bỏ gốc rễ của luân hồi

Trước đây chúng ta nói đến Tài, Sắc, Danh, bây giờ có thêm hai chữ nữa là Thực, Thùy (ăn, ngủ) – gộp lại là Ngũ tham (5 sự tham lam).

Tài (Tiền tài): Không được tham;

Sắc (Sắc dục): Nữ sắc, nam sắc đều không được tham;

Danh (Danh vọng): Đừng theo đuổi danh và lợi;

Thực (Ăn uống): Không ăn quá no, cắm đầu cắm cổ ăn cũng là tham. Ăn quá nhiều cũng là một loại tội nghiệp; người ăn quá no não bộ sẽ kém linh hoạt. Các vị cứ nhìn xem, những người cực kỳ lanh lợi thường gầy, còn những người rất béo thì ít khi thích động não. Người ăn no dễ buồn ngủ, vì máu cung cấp lên não không đủ, con người sẽ ngày càng đần độn.

Thùy (Ngủ nghỉ): Người thích ngủ nướng, suốt ngày không muốn ra khỏi giường.

Tất cả những điều này đều là những điều cấm kỵ của người học Phật.

Tiếp theo Sư phụ nói cho các vị biết, "Tài, Sắc, Danh, Thực, Thùy" được gọi là năm gốc rễ lớn dẫn xuống địa ngục. Nếu năm gốc rễ này của các vị không tốt, xin lỗi, các vị có thể sẽ phải đọa địa ngục, mọi người thử nghĩ xem có đúng không? Tham tiền quá mức, vì kiếm tiền mà hại người, có phải xuống địa ngục không? Sắc, bao nhiêu kẻ vì sắc dục mà cuối cùng phải vào tù, chịu án phạt, đúng không? Vì một chữ Danh, tranh danh đoạt lợi, cuối cùng bất chấp thủ đoạn hại chết người ta, đúng không? Thực, vì miếng ăn mà làm hỏng cơ thể mình, tự hại chết chính mình; người ta thấy bạn cắm đầu ăn liền bảo bạn là ma đói đầu thai. Ở nhân gian ăn uống phải có chừng mực, nhiều kẻ ăn uống cứ thích tranh giành nhau, đó chính là ma đói đầu thai đấy, người lớn trong nhà chưa từng dạy các vị sao? Tiếp theo là ngủ, ngủ mê mệt, suốt ngày chỉ thích ngủ. Đến thế gian một đời, không tu gì cả, không học gì cả, lãng phí thời gian, chuyện xấu thì dốc sức làm, cuối cùng đọa địa ngục. Người không tu rất dễ bị đọa xuống dưới; phàm là làm sai mà không tu sửa, người đó sẽ đọa xuống. Thực ra con người thức khuya tất nhiên là không tốt, nhưng phải dậy sớm. "Kế hoạch một ngày nằm ở buổi sáng, kế hoạch một năm nằm ở mùa xuân", nếu buổi sáng bạn không dậy nổi, ngủ nướng mất khoảng thời gian tươi đẹp nhất thì thật sự rất đáng tiếc. Bạn đã đánh mất rất nhiều thứ lẽ ra bạn nên có, đó chính là trường khí. Cho dù hôm nay bạn không dậy nổi, bạn cũng có thể thức dậy một lát vào lúc 8, 9 giờ sáng, sau đó mới đi ngủ tiếp, như vậy vẫn tốt hơn là bạn ngủ một mạch đến 11, 12 giờ trưa, nghe có hiểu không?

Người học Phật phải biết tùy thuận. Tùy thuận là gì? Là anh muốn làm gì, tôi nương theo anh mà làm, sao cũng được. Vợ mua một món đồ muốn đặt ở đây, bạn bảo "Được, được"; nếu người đàn ông nói "Không được, cô đặt ở đây tôi không vui", bạn cứ mặc kệ anh ta, anh ta thích đặt đâu thì đặt, đúng không? Thuận theo tự nhiên, một người biết tùy thuận người khác, bạn sẽ thấy tự nhiên, sẽ không cảm thấy gượng gạo. Sau khi thuận theo tự nhiên, bạn sẽ không cưỡng cầu, đó gọi là "Nhậm vận" – trong lòng rất tự nhiên, để tâm trí mình vận hành một cách tùy ý, tôi muốn làm gì thì làm, đúng không? Lấy một ví dụ đơn giản, một chiếc xe buýt đến, trên xe rất trống, nhưng cửa không mở mà chạy vọt qua luôn. Các vị đi xe buýt đã bao giờ gặp trường hợp này chưa? Chiếc xe đi trước chật cứng, người nhét không lên nổi, tiếp đó một chiếc xe trống trơn chạy đến, cứ thế chạy thẳng đi mất, bạn tức giận chứ? Tùy thuận, chính là thuận theo tự nhiên – "Ồ, chiếc xe đằng sau không có người nào, chắc là xe hỏng rồi, mình đợi chuyến tiếp theo vậy", tự nhiên rồi đúng không?

Để tâm mình tự vận hành, gọi là nhậm vận (vận hành tự nhiên). Cho nên, chúng ta phải ở trong thế giới thanh tịnh mà nhậm vận độ hóa chúng sinh. Tức là sự thanh tịnh nằm ở trong tâm mình, chứ không phải sự bình yên bề ngoài. Nhà bạn có sạch sẽ đến mấy, thế giới này có sạch sẽ đến mấy, nhưng tâm bạn không tịnh thì cũng vô ích. Có những quốc gia rất đẹp, nhưng con người ở đó rất ác; có những quốc gia vô cùng sạch sẽ, nhưng tỷ lệ tội phạm lại rất cao, bạn nói đó có phải là thanh tịnh không? Sự thanh tịnh thực sự nằm ở trong tâm, không phải ở bề ngoài.

Sư phụ nói cho các vị biết, người đi cứu độ người khác tâm mới tịnh được. Bởi vì khi bạn thuyết pháp cho người ta, chính tình cảm, đạo đức của bạn cũng được rèn giũa thêm một lần. Thế nên, người đi cứu người, đi thuyết pháp cho người khác là người thông minh nhất. Bởi vì khi bạn nói cho người ta nghe, bạn còn nhận được sự gia trì của Bồ Tát; khi được Bồ Tát gia trì, bạn có biết mình nhận được bao nhiêu năng lượng không? Vậy chẳng phải bạn nên cảm ơn người mà hôm nay bạn đi độ sao? Bạn có tâm biết ơn đó, bạn sẽ không bao giờ oán hận người ta. Hôm nay bạn nghe điện thoại của một thính giả, đối phương không khai ngộ, bạn có thể nói với Quán Thế Âm Bồ Tát: "Lạy Quán Thế Âm Bồ Tát, xin ngài hãy giúp con, cho người ấy được khai ngộ." Bồ Tát lập tức sẽ chiếu một luồng ánh sáng lên người bạn. Xem kìa, các vị nghe một cuộc điện thoại có thể nhận được rất nhiều ánh sáng của Bồ Tát. Nếu các vị vừa nghe điện thoại vừa cáu gắt, các vị sẽ không nhận được ánh sáng của Ngài. Vì vậy, phải giúp đỡ mọi người nhiều hơn.

Người đời phiền não nhiều, các loại tạp niệm, vọng niệm không bao giờ dứt. Tất cả mọi người trên thế giới đều không ngừng có tạp niệm, hôm nay nghĩ xong chuyện này, ngày mai lại nghĩ chuyện kia. Ngay lúc các vị đang ngồi đây, cũng sẽ nghĩ: "Lát nữa nghe Sư phụ giảng xong mình phải làm thế này, thế kia." Các vị lập tức lại có việc rồi, đúng không? "Ở nhà mình còn thứ gì chưa dọn dẹp, mình còn việc gì chưa làm, ngày mai mình phải thế nào..." – các vị sẽ không bao giờ có lúc dừng lại. Vì vậy, các vị bắt buộc phải lắp một cánh cổng chắn trong não, đôi khi "rụp" một cái đóng cổng lại, không cho tạp niệm đi vào, không có gì cả, rất sạch sẽ, các vị hiểu không?

Phải nhớ rằng, người đời nhiều phiền não, các loại tạp niệm, vọng tưởng, sự u mê giống như mạng nhện quấn chặt lấy tâm trí bạn, thắt chặt trái tim bạn. Bắt mỗi người các vị ngồi đây nghĩ về một nỗi niềm riêng của mình, mặt các vị lập tức sẽ buồn thiu, trường khí ở đây lập tức trở nên vẩn đục; nếu mỗi người các vị nghĩ về một chuyện vui vẻ, các vị sẽ vui ngay lập tức, trường khí ở đây lập tức tốt lên – trường khí này Sư phụ có thể nhìn thấy. Khi Sư phụ kể một chuyện khiến mọi người vui vẻ, mọi người vừa cười một cái, toàn bộ không gian phía trên là một màn sương trắng. Khi Sư phụ kể chuyện khiến các vị buồn bã, đau lòng, trên đầu rất nhiều người tỏa ra toàn hắc khí (khí đen), các vị có biết không? Các vị có nhìn thấy không? Trên người mỗi người đều có khí trắng và khí đen, phải kiểm soát cho tốt cái khí đen đó, để khí trắng thường xuyên thoát ra, như vậy người các vị mới thường xuyên mang trường khí lương thiện, nghe hiểu không?

Sư phụ nói cho các vị biết, phiền não chính là gốc rễ của luân hồi. Nếu lúc chết đi mà các vị vẫn còn phiền não, xin lỗi, các vị nhất định sẽ phải luân hồi. Một người khi sắp lâm chung, tuyệt đối không được có phiền não. Sư phụ dạy dì Châu vài chiêu: nếu khi dì sắp ra đi, dì hãy nghĩ rằng: Đời này mình đã được tận hưởng những thứ người ta chưa từng được hưởng; những nỗi khổ mình từng nếm, những tai nạn mình từng chịu, mình đều đã trả hết rồi; tuổi già mình có thể lên trời, có thể có Quán Thế Âm Bồ Tát đến đón, đời này của mình thế là quá đủ rồi. Bây giờ dù ra đi lúc nào mình cũng biết đủ rồi, mãn nguyện rồi, mình không biết mình đã sướng hơn người ta bao nhiêu lần. Dì nghĩ như vậy, dì sẽ không còn phiền não nữa. Dì còn phiền não gì nữa? Cháu chắt, vợ chồng, nhà cửa, xe cộ sao? Rất nhiều người lớn tuổi đặt lịch gặp Đài trưởng, không bao giờ hỏi cho bản thân, toàn hỏi xem cháu mình thi cử thế nào... Đó là vì nợ nần chưa trả hết, con con cháu cháu là những món nợ không bao giờ có hồi kết, nghe hiểu không? Chặt đứt phiền não, chính là chặt đứt luân hồi, phải học trí tuệ tánh Không của Phật. Trí tuệ tánh Không là gì? Là quên đi bản thân, không có cái "Tôi", là Không; vì tâm bạn Không, bạn mới có trí tuệ.

Trừ tướng ngã, trừ tướng nhân, trừ tướng thọ giả – những điều này trong Kinh Kim Cang đều có giảng, Sư phụ sẽ giải thích một chút cho các vị nghe. Trừ tướng ngã là quên đi cái tôi, gặp chuyện gì cũng đừng đặt cái "Tôi" lên trước, tôi chẳng có cái tướng gì cả. Nhiều người không thể bỏ qua thể diện, chết cũng vì thể diện. Trừ tướng nhân là đừng nhìn thấy người khác là thấy ghét, thứ bạn nhìn thấy không phải là người, mà phải coi tất cả mọi người đều là Bồ Tát. Hôm nay bạn nhìn dì Châu là Bồ Tát, bạn đừng nhìn vào khuyết điểm của dì ấy, bạn hãy nhìn vào ưu điểm của dì ấy; bạn cứ chằm chằm vào khuyết điểm, bạn sẽ không nhìn thấy ưu điểm. Vợ chồng cãi nhau là vì bạn không nhìn thấy ưu điểm của đối phương, cho nên bạn mới cảm thấy người đó ngày càng đáng ghét, đó là vì bạn không ngừng bới móc khuyết điểm của người ta. Nếu một người có hai mặt, một mặt làm người, một mặt làm quỷ, bạn không nhìn thấy phần người của họ, bạn sẽ suốt ngày thấy họ giống như quỷ, ngày ngày bạn sống cùng một con quỷ, đúng không? Trừ tướng thọ giả là không phân biệt cao thấp sang hèn, không phân biệt tuổi tác. Lấy ví dụ đơn giản, các vị đi khám Đông y, có hai vị bác sĩ Đông y: một vị trẻ tuổi vừa qua đào tạo nửa năm, một vị tốt nghiệp trường cao đẳng chuyên ngành để râu dài, các vị sẽ khám ai? Chắc chắn là khám vị lớn tuổi rồi, trong lòng nghĩ: Ông ấy râu dài thế kia, chắc chắn khám Đông y rất có kinh nghiệm. Các vị nhầm rồi, đó chính là tướng thọ giả; người lớn tuổi không nhất định là làm đúng, nghe hiểu không? Thanh niên các vị bây giờ cũng biết cha mẹ có lúc sai mà, đúng không? Lẽ nào cứ lớn tuổi thì chắc chắn là đúng?

8. Giác, chân, vọng, mê đều phải buông bỏ

+

Tuyệt đối không mang tâm nhẫn nhục có tính chất ép buộc – điều này vô cùng quan trọng. Có nghĩa là đừng cảm thấy tôi đang phải nhẫn nhục đây, tôi đau khổ quá, tôi kìm nén muốn chết, đó là kiểu nhẫn nhục ức chế. Nếu bạn thật sự khó chịu, hãy ra ngoài đi dạo một vòng; nếu thật sự muốn chửi, hãy tìm chỗ không người chửi bới vài câu, sẽ không ai bảo bạn bị thần kinh đâu. Tuy với bạn, cục tức này bắt buộc phải xả ra, nhưng tốt nhất là không nên để cơn tức đó hình thành. Nước đã sôi thì không thể không bốc hơi, chỉ đành tìm chỗ để xả nó ra. Phải có tấm lòng dung nạp vạn vật, ngàn con sông đổ về biển lớn, dù nước có dơ bẩn đến đâu, biển cả đều có thể tiếp nhận. Vì vậy, con người phải học cách thông minh hơn một chút, gặp ai cũng cười hề hề. Tôi là biển lớn, anh chửi tôi thì đó là nước bẩn, tôi cũng cười hề hề tiếp nhận; anh nói tốt về tôi, đó là dòng nước trong xanh, tôi cũng tiếp nhận anh, mãi mãi luôn cười hề hề, không tức giận, tốt biết mấy, "biển dung nạp trăm sông" mà. Vài người trong các vị bây giờ cảnh giới đã nâng cao, cho dù gặp kẻ rất đáng ghét, không muốn nói chuyện nhiều, cũng vẫn chạy tới cười giả lả với người ta; nhưng thực chất, trong lòng bạn vẫn đang bực tức. Nếu bạn là người có tu dưỡng, nếu bạn không thích người này, mặc kệ người ta nói gì với bạn, bạn đến cái nụ cười giả tạo đó cũng không cần diễn, đúng không? Mặc xác anh ta, sao cũng được. Còn khởi ý niệm tức là tu chưa tốt, phải tu đến mức ngay cả cái ý thức đó cũng không mảy may tồn tại, thế mới gọi là thuần khiết. Nếu không, giọng nói của bạn chỉ cần biến đổi một chút, bạn tưởng người ta không nhận ra sao? Đó gọi là ngu ngốc, nghe hiểu không?

Phải khai ngộ, gọi là "Ngộ vô sở đắc", "Mê lai ngộ độ". Nghĩa là sao? Khai ngộ là cảm thấy không có thứ gì quan trọng đến mức sống chết cả, tôi không đạt được gì, tôi sao cũng được, đó gọi là "Ngộ vô sở đắc". Sự mê hoặc đến, bạn dùng sự khai ngộ để hóa giải nó; khi bạn suy nghĩ không thông, bạn hãy nghĩ xem kẻ khai ngộ sẽ cư xử thế nào? Nếu bạn nghĩ thông suốt rồi, đó gọi là khai ngộ, đúng không? Có như vậy mới có thể đoạn trừ phiền não. Lấy một ví dụ đơn giản, ở cơ quan có vô vàn việc không bao giờ làm hết, giống như Sư phụ bây giờ, trên bàn làm việc toàn là tài liệu, không ngừng viết, xử lý, phê duyệt, bận rộn không dứt. Đốn ngộ là gì? Chao ôi, kiểu gì bạn chẳng phải đến giờ về nhà? Kiểu gì bạn chẳng đến lúc phải rời đi? Buông xuống đi, đặt hết đống đồ hôm qua lên bàn, tắt đèn, về nhà, đó chính là đốn ngộ. Những người làm kinh doanh các vị, thấy hôm nay buôn bán đắt hàng quá, cắm đầu cắm cổ làm, kiếm tiền, không có thời gian về nhà nữa. Đốn ngộ chính là: Hôm nay tôi kiểu gì cũng phải về nhà nghỉ ngơi, tôi buông xuống, thế là tôi buông xuống được. Những người làm kinh doanh, việc ở công ty, việc ở cửa hàng làm mãi không hết. Nếu bạn luôn nghĩ: Mình làm nốt chỗ này rồi về. Bạn sẽ mãi mãi không bao giờ hết việc. Nếu bạn buông xuống được thì là buông xuống được, ngày mai chẳng phải vẫn có thể làm tiếp sao? Đốn ngộ, cắn răng một cái, hết chuyện. Ở cơ quan phiền phức vô cùng, người trong công ty cứ kèn cựa lẫn nhau, tan làm rồi, bạn không bận tâm nữa, đóng cửa, đi về hết, về nhà xem tivi, đi ngủ – đốn ngộ rồi, buông xuống rồi, có chuyện gì ngày mai hẵng hay.

Phải hiểu rằng, phiền não là vô biên vô tận, phiền não không bao giờ dừng lại. Nếu nói có ngày nào đó phiền não có thể kết thúc, thì chúng ta thà chịu mệt một chút cũng cam tâm. Giống như bạn gả cho một ông lão, ông ấy cứ lải nhải bên tai bạn mãi; giống như bạn lấy một bà lão, bà ấy không ngừng cằn nhằn bên tai bạn, bạn phải chuẩn bị tâm lý nhé. Phiền não là vô biên vô tận, nó sẽ cứ phiền phức mãi như thế, vậy bạn bảo vì cái phiền não ngày hôm nay mà nổi điên lên thì có ích gì? Bởi vì ngày mai nó vẫn sẽ làm bạn phiền, vậy thà rằng bạn không phiền não còn hơn. Phải làm được đến mức nó làm phiền còn bạn thì không bận tâm, thế thì còn ai phiền được bạn nữa?

Sư phụ nói cho các vị biết, chính vì phiền não là vô tận, nên Thiền học mới nói phải Minh tâm, phải Văn Tư Tu. Minh tâm là gì? Trong lòng tôi rất rõ, người ta có nói bao nhiêu đi nữa, bất kể người ta nói gì, bạn đều nghĩ thầm trong bụng: người ta đều là muốn tốt cho mình thôi, đó gọi là Minh tâm. Văn Tư Tu là gì? Văn là bạn nghe thấy người ta đang nói chuyện; Tư là bạn lập tức tư duy suy nghĩ; sau đó không ngừng Tu sửa hành vi và ngôn ngữ của mình. Nghĩa là những gì bạn nghe được, trước tiên phải qua đầu óc suy ngẫm, sau đó bạn mới tu sửa, rồi mới đưa ra quyết định chính xác. Nhiều người không có đầu óc, người ta nói gì là lập tức cho là thật ngay, như thế chẳng phải là bị mắc lừa sao? Nghe được một việc, trước tiên phải suy nghĩ, tư duy xong, dùng phương pháp tu tâm để chỉnh lý lại lối tư duy đó, đây gọi là Văn Tư Tu.

Sau khi Minh tâm mới có thể Kiến tánh. Nói cách khác, ông chồng này ngày nào cũng làm phiền bạn, khiến bạn rất bực mình, bạn hãy nghĩ thầm trong bụng: Ông ấy làm thế là vì mục đích gì? Bạn đứng trên góc độ của ông ấy mà nghĩ: "Ồ, hóa ra ông ấy vì mục đích này, ông ấy cũng thật đáng thương, mình đã hiểu lầm ông ấy rồi." Bạn nghĩ như vậy, bạn đã nhìn thấy bản tánh. Bạn không những nhìn thấy bản tánh của ông ấy, mà còn nhìn thấy bản tánh của chính mình, vậy thì bạn sẽ không cãi nhau với ông ấy, đúng không? Sau khi kiến tánh, phải giúp đỡ chúng sinh. Nếu bạn thường xuyên thấu tình đạt lý, bạn có thể bắt đầu giúp đỡ chúng sinh.

Rất nhiều người tự mình hiểu rõ nhưng lại không chịu đi giúp đỡ người khác. Hôm nay có một đệ tử trực điện thoại lại chê người ta phiền phức. Các vị nói xem, người như vậy đã khai ngộ chưa? Các vị nghe điện thoại, thấy đối phương phiền vô cùng, giọng điệu như muốn cãi nhau, các vị nói người này đã khai ngộ chưa? Người ta gọi điện đến là muốn xin ý kiến của chúng ta, muốn được giải thoát. Bạn không những không giúp người ta giải thoát, mà còn tự rước phiền não vào mình, các vị bảo người này có vấn đề, chưa khai ngộ đúng không? Bạn bị tạp niệm của đối phương, bị sự vô minh của đối phương ảnh hưởng, cho nên bạn mới tức giận, mới phiền não. Ví dụ đơn giản, người ta gọi điện đến hỏi vấn đề, người ta là bệnh nhân, bạn là bác sĩ, bác sĩ lại đi la hét với bệnh nhân sao? Nếu người ta từ bệnh viện tâm thần đến, tâm thần người ta có vấn đề mới tìm đến bạn, bạn là bác sĩ cũng la hét giống y như họ, thế chẳng phải bạn cũng là bệnh nhân tâm thần sao? Sư phụ nói cho các vị biết, nghe điện thoại thôi cũng đủ thấy một người có tu dưỡng hay không, có văn hóa hay không, có trình độ hay không, bạn độ người ta như thế nào. Phải trừ bỏ phiền não, mới có thể độ chúng sinh.

Phải giúp chúng sinh ly mê ly giác. Chữ "giác" này không phải là "giác ngộ", mà là "cảm giác"; người muốn thoát khỏi màn sương mù mê lầm thì không được có cảm giác. Hôm nay người ta gọi điện đến, cãi nhau với bạn trên điện thoại, được rồi, họ đang u mê, bạn phải "ly mê" (rời xa sự u mê) – rời xa họ, đừng bị cuốn vào những lời của họ; sau đó, bạn phải "ly giác" (rời xa cảm giác), bạn đừng có cảm giác rằng người này rất đáng ghét. Bạn không có cảm giác đó, bạn sẽ không tức giận, hiểu không? Phải ly giác, có nghĩa là chúng ta làm người, đến cả cái "cảm giác" cũng không được có. Người ta chửi bạn, bạn không có cảm giác; làm một việc thấy vui quá, cảm giác này cũng đừng giữ; tôi làm chuyện này thấy buồn quá, không vui, cũng đừng có cảm giác đó. Như vậy, bạn mới rời khỏi chốn phàm trần.

Hôm nay, "Sủng nhục bất kinh" (được sủng ái hay bị sỉ nhục cũng không kinh sợ) – được ưu ái tôi cũng chẳng thấy lạ, bị người khác nhục mạ tôi cũng cư xử như vậy. Người như thế mới chịu đựng được thử thách. Các vị làm kinh doanh chẳng phải thế sao? Chạy ra ngoài, người ta ưng ý sản phẩm của bạn: "Trời ơi, anh tốt với tôi quá, sản phẩm công ty anh tuyệt quá", khi người ta muốn mua đồ của bạn, người ta nịnh bợ bạn; qua một thời gian người ta không mua nữa, bạn bỏ luôn không làm ăn nữa à? Phải sủng nhục bất kinh chứ! Các cô gái khi yêu đương cũng phải sủng nhục bất kinh, khi một chàng trai theo đuổi bạn, họ nâng bạn lên như nữ hoàng, đợi lúc tán đổ rồi, họ lại coi bạn như nô lệ. Cuộc sống mặt trái hay mặt phải đều như nhau cả, nghe hiểu không?

Không có cảm giác (vô giác), bạn sẽ nhìn thấu sự chân – giả của thế giới này. Vì bạn không có cảm giác, bạn sẽ biết thế giới này chỉ là ảo giác, bạn sẽ không sinh ra vọng tưởng. Không có vọng tưởng, bạn sẽ không u mê chấp đắm, đúng không? Chẳng phải rất nhiều người đều như vậy sao? Hồi nhỏ chúng ta ra công viên chơi, thấy cái cầu trượt, trước lúc công viên đóng cửa lúc 5 giờ, chạy lên trượt một cái rồi tuột xuống, lại chạy lên tuột xuống, liều mạng theo đuổi cái cảm giác đó. Đến 4 giờ 50 phút công viên sắp đóng cửa, vẫn cắm đầu cắm cổ chạy lên trượt thêm mấy cái. Về đến nhà nhìn lại, quần thì rách, chân thì xước đỏ. Nghĩ xem, ngốc không? Liều mạng chạy theo một thứ ảo giác, đó gọi là u mê. Muốn gỡ gạc lại, bạn có gỡ lại được không? Rất nhiều người khi thất tình, muốn đòi lại số tiền đã tiêu cho đối phương, nhưng tình cảm thì có đòi lại được không?

Học Phật là phải học ý cảnh, phải hiểu thế nào là sự thoát ly thực sự, chính là giác, chân, vọng, mê tất cả đều không được giữ, đó mới là sự thoát ly đích thực.

9. Trí tuệ Tam muội

+

Hôm nay Sư phụ giảng Phật pháp rất sâu, các vị phải chú ý lắng nghe. “Dữ nhất thiết hữu tình khởi từ tâm” (Khởi tâm từ bi với tất cả loài hữu tình), có nghĩa là đối với tất cả chúng sinh hữu tình trên thế giới này, bao gồm cả con người, chó, động vật... phàm là những chúng sinh có tình cảm, đều phải khởi lòng từ bi với họ. Tại sao bây giờ không được giết hại động vật? Tại sao "từ tâm bất nhẫn" (lòng từ bi không nỡ lòng nào)? Chúng ta không ăn cá, không ăn sinh vật sống, chính là vì lòng từ bi; đến con kiến cũng không được giẫm chết nó, đó là vì bạn có lòng từ bi, nên gọi là Từ tâm Tam muội. Tam muội (Samadhi), thực chất chính là một trạng thái cảnh giới. Bạn vận dụng tâm từ bi của mình, bạn đã bước vào Tam muội của chính mình, tức là bạn đã sử dụng lương tâm bản tính của mình. Các vị phải học cho đàng hoàng nhé, đây đều là những kiến thức người ta học trong Học viện Phật giáo đấy.

Tiếp theo Sư phụ sẽ nói về Vô tướng Tam muội. Đó là khi bạn không thể nhìn thấu mọi việc trên đời, bạn không nhìn thấy, bạn thấy sao cũng được. Bạn cảm thấy trên thế giới này không có thứ gì mang hình tướng, bởi vì bạn đến nhân gian này với hai bàn tay trắng, lúc ra đi cũng là tay trắng. Xin nhớ kỹ, hai chữ "trống không" xuyên suốt sự sống và cái chết của bạn. Vậy những thứ "trống không" đó có phải là thứ không có hình tướng không? Lấy ví dụ đơn giản, lúc chúng ta vừa sinh ra, bà nội còn nhìn thấy chúng ta; lúc chúng ta năm sáu tuổi, chúng ta vẫn còn nhìn thấy bà nội; đợi đến lúc chúng ta bảy tám tuổi, bà nội qua đời. Mười mấy năm sau, hai mươi mấy năm sau, thời đó cũng chẳng có ảnh chụp, bạn còn nhớ được hình dáng của bà nội không? Bạn có còn nhớ được đây từng là bà của mình không? Vô tướng Tam muội – mất rồi. Thế giới tôi nhìn ra trống không chẳng có gì, quá khứ là đã qua đi, đã kết thúc, là giả tạo, là mộng ảo, vì thế, tôi không chấp trước vào Vô tướng Tam muội.

Vô nguyện Tam muội. Tôi nói hôm nay tôi đi hoằng pháp, tôi có nguyện lực; người tu tâm tốt đến mức ngay cả nguyện lực cũng cảm thấy không còn nữa, mà cái nguyện lực tự nhiên nó tự phát ra, hơn nữa lại là một sự tự nhiên thuộc về bản năng. Tại sao con người bây giờ lại thích hương vị nguyên bản? Có những người nấu canh không cho dầu mỡ, không cho bột ngọt, không cho bất cứ thứ gia vị nào, chỉ dùng lửa nhỏ để vị nguyên thủy của rau củ từ từ tiết ra. Vì vậy, người học Phật phải hiểu, hôm nay tôi phát nguyện đều là vì mong cầu, hôm nay tôi phát nguyện đều là một chữ Tham, tôi phải tụng kinh đến mức "vô nguyện" (không mong cầu). Thực chất, bạn vô nguyện chính là đã có nguyện rồi. Tôi có nguyện lực gì cơ chứ? Bản thân tôi là con người, đến với nhân gian này, tôi nên làm việc tốt. Nếu có người phát nguyện: Đời này con thề không bao giờ vượt đèn đỏ nữa. Đó là cái nguyện gì vậy? Bạn làm người, sống ở nhân gian, bạn bắt buộc phải tuân thủ luật lệ giao thông. Nếu bạn nghĩ trong đầu "Mình không được vượt đèn đỏ", thì cảnh giới của bạn đã quá thấp rồi. Bạn nên vô nguyện: thấy đèn đỏ thì tự nhiên tôi phải phanh lại, thấy người khác chịu khổ thì tôi phải giúp đỡ. Một bà cụ bị ngã, tôi bước tới đỡ bà ấy dậy; nếu bạn còn phải nói: "Lạy Bồ Tát, con có nguyện lực, con muốn giúp đỡ tất cả những người đau khổ", sau đó mới đỡ bà cụ lên, thì bản thân cảnh giới của bạn đã không phải là vô nguyện nữa rồi, hiểu không?

Tam muội chính là trí tuệ, nghĩa là trí tuệ của việc hành "vô tướng", trí tuệ của việc hành "vô nguyện". Tam muội chính là chỉ những ý thức sâu thẳm, tiềm thức còn sót lại và được sở hữu trong ý thức của bạn. Thường nghe các vị nói: "Sư phụ ơi, con thấy người này tốt lắm mà, kết cục người này lại là kẻ xấu." Lúc con lấy anh ấy, anh ấy là một người rất tốt – đó là tiềm thức; đợi đến sau khi lấy anh ta, bạn phải chịu đựng đủ đắng cay tủi nhục từ anh ta, thì điều đó đã đi vào trong ý thức tầng sâu của bạn, bạn sẽ vĩnh viễn không bao giờ quên, ít nhất bạn sẽ không tìm loại bạn trai như vậy nữa, hiểu không? Nhưng chính cái tiềm thức của các vị đã làm hại các vị.

Phải hiểu rằng, học Tam muội chính là để nhìn ra được trạng thái và đặc điểm của loại ý thức này. Ý thức tuy không nhìn thấy được, trí tuệ cũng không nhìn thấy được, nhưng khi áp dụng vào đời sống, nó lại có thể thể hiện ra. Tại sao người ta gặp chuyện thì nghĩ thông, còn bạn gặp chuyện lại nghĩ không thông? Trạng thái đó là gì? Hôm nay bạn muốn làm một việc, bạn nói bạn có Tam muội, bạn có trí tuệ bộc phát, vậy cái trí tuệ đó có trạng thái và hình dạng không? Không đúng, ngay cả "hình tượng" (hình ảnh/hình dạng) cũng mang tư duy.

 

Âm nhạc cũng có hình tượng. Ví dụ, kẻ xấu xuất hiện sẽ có âm nhạc của kẻ xấu, bạn xem phim mà xem, âm nhạc của kẻ ác vừa nổi lên, kẻ ác lập tức xuất hiện. Vừa nghe thấy tiếng nhạc đó, tuy bạn chưa nhìn thấy người, nhưng bạn lập tức cảm nhận được kẻ xấu sắp ra mặt, đó gọi là hình tượng âm nhạc. Tại sao bạn thích bài hát này? Vì bài hát này vừa vặn khớp với những gì trong tâm trí bạn; thực chất bản thân nó chính là một sự giải phóng của tâm hồn, nó có hình dáng. Các vị có biết hình dáng của sự lương thiện là gì không? Sư phụ nói cho các vị biết, hình dáng của lương thiện chính là "Vô hình" (không có hình tướng), đã có hình tướng tức là không lương thiện rồi. Nói cụ thể hơn cho các vị nghe, người ta nói kẻ này "ác hình ác trạng" (hình dáng gớm ghiếc, thái độ dữ tợn), đúng không? Những thứ để lộ hình tướng ra ngoài thì không còn bình thường nữa; sự tự nhiên mới là cái đẹp. Không khí tự nhiên đẹp biết bao, một cơn gió thổi qua, rất tự nhiên; nếu bạn bật máy lạnh, sẽ làm cơ thể sinh bệnh. Người ta nói cái máy lạnh đó chính là "ác hình", vì nó lạnh, lạnh quá mức, không nằm trong phạm vi cơ thể bạn có thể thích nghi, nghe hiểu không?

Phải hiểu rằng, đặc trưng và trạng thái của trí tuệ là phải tìm kiếm và giải quyết trong sự biến đổi vô hình, lúc đó bạn sẽ sinh ra một đặc trưng khác. Ví dụ, người này hỏi: "Làm thế nào bây giờ?" Tôi sẽ chỉ cho anh làm thế nào, câu nói đó, phương pháp đó chính là một đặc trưng. Tôi lỡ tông xe làm người ta bị thương rồi, làm sao đây? Đặc trưng lộ ra rồi đúng không? Làm thế nào? Bỏ chạy hay dừng lại, hay tính sao? Đó chính là đặc điểm tâm lý của bạn. Các vị phải học nhé, Sư phụ phải đào sâu khuyết điểm của các vị để giúp các vị sửa đổi.

Phải chấm dứt sự oán hận trong tâm, phải dập tắt mọi sự thù hận chất chứa trong lòng. Nghĩa là trong lòng bạn không được có cái tố chất thù hận người khác, phải dừng lại, phải nguôi giận, không được hận người ta. Các vị ngồi bên dưới đây có hận ai không? Có chứ, có lúc còn hận cả những người thân yêu nhất của mình; thấy ông chồng này đáng ghét vô cùng, bà vợ này ghét muốn chết, đứa con này bực không chịu nổi. Cái sự thù hận đó giống như một ngọn lửa, tâm sân hận là lửa, sẽ thiêu rụi cả nội tâm và ngũ tạng của bạn. Thế nên bắt buộc phải chấm dứt nó, tương đương với việc bạn dùng trí tuệ tiêu diệt hết mọi kẻ thù. Khi bạn ngừng thù hận người khác, thực chất giống như bạn đã tiêu diệt toàn bộ kẻ thù của mình, hơn nữa sự tiêu diệt này không cần bạn phải tốn một chút sức lực nào. Vốn dĩ tôi rất hận một người, đột nhiên tôi không hận anh ta nữa, tôi ngừng thù hận, vậy chẳng phải tôi đã tiêu diệt kẻ thù này rồi sao? Bởi vì tôi không hận anh ta nữa, anh ta không còn là kẻ thù của tôi nữa. Nếu bạn hận anh ta, anh ta có phải là kẻ thù của bạn không? Tôi không thù hận ai, tôi lấy đâu ra kẻ thù chứ, đúng không? Nếu không, trong lòng bạn sẽ luôn chất chứa nỗi hận, ngọn lửa sẽ mãi thiêu đốt tim phổi bạn. Vì thế, chúng ta không cần tìm cách chế ngự kẻ thù từ thế giới bên ngoài, không cần thù hận người này, thù hận người kia: "Tôi phải liều với nó, tôi phải thế này thế nọ..." Mà từ sâu trong nội tâm, phải biết chấp nhận và lượng thứ cho người khác, bởi vì lương tâm con người ai cũng rất lương thiện. Người thường xuyên tha thứ cho người khác chính là người học Phật.

Phải chấp nhận sự không viên mãn của người khác. Sư phụ nói cho các vị nghe, người ta làm không tốt, làm không viên mãn, thực chất bạn phải chấp nhận nó. Sau khi chấp nhận sự không viên mãn của họ, bạn mới có thể nhẫn nhục. Lấy ví dụ, chồng bạn rất hay làm hỏng chuyện, mỗi lần thấy ông ấy làm sai là tức điên lên được; mỗi lần thấy ông ấy lười biếng, cũng ghét cay ghét đắng. Nếu bạn chấp nhận ông ấy, tính tình ông ấy là thế rồi, không còn cách nào khác, coi như tôi nợ ông ấy vậy, tôi làm nhiều thêm một chút cũng chẳng chết mệt được, dù sao ông ấy cũng đã đóng góp rất nhiều cho gia đình ở những mặt khác. Bạn nghĩ như vậy, bạn đã chấp nhận sự không viên mãn của ông ấy, vậy là bạn có thể nhẫn nhục, bạn sẽ không oán hận nữa, nếu không bạn sẽ chửi mắng ông ấy ngay lập tức.

Khi chửi bới người khác, chính là ngọn lửa đang tự thiêu đốt chính bạn, lúc đó bạn mới chửi. Lấy một ví dụ đơn giản, khi đun nước bằng ấm, khi nào thì ấm reo lên? Vì khi ngọn lửa bên dưới cháy bùng lên, hơi nước trong ấm sẽ phát ra tiếng rít. Khi một người tích đầy khí tức trong lòng, muốn chửi người, ngọn lửa trong tâm họ càng cháy càng vượng, giống như cái vòi ấm nước đang kêu ré lên, kìm không nổi nữa thì bắt đầu chửi người. Vậy lúc chửi bới chẳng phải là đang tự đốt chính mình sao? Có khó chịu không? Ngày xưa có loại ấm đun nước, ở miệng ấm có một cái giống như cái còi, đợi lúc hơi nước bốc lên nó sẽ kêu rất to. Thực chất cái miệng của con người cũng giống hệt cái vòi ấm đó, người Thượng Hải xưa gọi là "Đồng điếu" (ấm đun nước bằng đồng). Nghĩa là sao? Khi một người đầy ứ sự tức giận, miệng họ sẽ thốt ra lời chửi rủa; người không tức giận thì miệng họ không chửi bới ai cả. Tại sao lại tức giận? Vì ngọn lửa cứ không ngừng thiêu đốt họ, thiêu đốt từ nội tâm! Các vị nhìn ấm nước đó xem, lúc chưa sôi hẳn, hơi nước xì ra khỏi vòi, nước trong ấm đã nóng rực rồi. Khi một người đang tức giận, lục phủ ngũ tạng của bạn có chịu đựng nổi sự thiêu đốt đó không?

Sư phụ đang giảng Bạch Thoại Phật Pháp thực sự cho các vị, hy vọng các vị nghiêm túc tu học.

10. Chân thật diệu quán

+

Hôm nay Sư phụ sẽ nói cho mọi người biết, những chúng sinh bình thường như chúng ta, nếu không tu định trong một thời gian dài, tâm sẽ không thể tĩnh lại được. Nếu một người không có khả năng giữ cho tâm tĩnh lặng trong thời gian dài, bất luận gặp chuyện gì cũng bồn chồn bất an, lâu dần, người này sẽ không còn thường xuyên ở trong trạng thái "Định". Ví dụ, nhà chính là nền tảng của sự định tâm; người thường xuyên ở nhà là người có nền tảng vững vàng, là người "ngồi yên" được. Nếu một người không thể giữ tâm tĩnh lại trong thời gian dài, nghĩa là người đó không thể ngồi yên, không thể đứng vững, người đó không thường xuyên ở trong Định, giống như việc người này không thường xuyên ở nhà vậy. Người ta bảo, đứa trẻ không hay ở nhà là đứa trẻ lang bạt, hoang dã. Người không tĩnh tâm được thì tâm cũng đã đi hoang rồi, sẽ không tu tâm tốt được. Cho nên, nhất định phải có Định.

Nếu không có Định, thì nhất định sẽ không có Tuệ. Nghĩa là, nếu một người tâm không tĩnh lại được, người đó sẽ không thể có trí tuệ. "Không có tuệ thì không định" nghĩa là gì? Nếu bạn là người không có trí tuệ, tâm bạn chắc chắn sẽ không thể an định. Phải có Định có Tuệ, một người phải để tâm tĩnh lại thì trí tuệ mới tăng trưởng, mới có thể phương chứng Niết Bàn (chứng đắc Niết Bàn). Phương chứng Niết Bàn là gì? Nghĩa là mới có thể minh chứng rằng người này có khả năng tự kiểm soát bản thân. Thực chất, Niết Bàn là sự vắng lặng (tịch tĩnh), Niết Bàn là để bạn quy y vào sự tĩnh lặng tuyệt đối; nói cách khác, người này có khả năng tự làm chủ bản thân, để tâm mình lắng lại, an tĩnh và trầm lắng.

Phải biến sự định tâm của mình thành một thói quen, gọi là "Tập hành tịch tĩnh" (Tập thói quen giữ sự tĩnh lặng). Ví dụ đơn giản, rất nhiều người thích nổi cáu, thích cãi vã, bởi vì họ đã hình thành thói quen đó, hơi một tí là cãi nhau. Còn tại sao có những người gặp chuyện lại rất bình tĩnh, không nói nhiều? Vì người này có một năng lực. Năng lực gì? Chính là tự bản thân họ có thể đạt đến sự vắng lặng (tịch định), họ đã tạo thành thói quen rồi, bất luận gặp chuyện gì họ cũng có thể tĩnh tâm lại được. Những người đã hình thành được thói quen này, gọi là "Thích chí ư quán", nghĩa là loại người này rất thích hợp để tự nhìn nhận lại bản thân. Các vị thử nghĩ xem, có đúng vậy không? Một người không nổi nóng mới có thể nhìn thấu chính mình, tức là họ biết quan sát mọi sự vật hiện tượng xung quanh, biết quán chiếu bản thân, quản lý được cái tôi. Khi một người nổi trận lôi đình, đến chính họ còn không biết mình đang nói gì. Nếu một người có thể thấy rõ mình đang làm gì, có thể kiểm soát được bản thân, thì tiện đường được giải thoát, người này sẽ rất dễ dàng đạt được sự giải thoát.

Người học Phật chúng ta phải có "Chân thật diệu quán". Chân thật diệu quán là gì? Nghĩa là, những thứ chân thật mà bạn nhìn thấy, bạn cũng không được coi nó là thật; bạn phải dùng sự khéo léo, vi diệu để nhìn nhận những vấn đề đó, vì chúng vẫn sẽ còn biến đổi. Bạn thấy không, người kia ban nãy vừa mới nhảy chồm chồm, nổi trận lôi đình cơ mà? Một lát sau anh ta lại như không có chuyện gì xảy ra. Bạn thấy người này vừa nãy còn vui vẻ hòa nhã với bạn như bạn thân, đột nhiên anh ta quay ra nổi nóng. Vậy thứ bạn nhìn thấy rốt cuộc có phải là chân thật không? Đây gọi là chân thật diệu quán. Phải nhìn vào tương lai của họ, nhìn vào cảnh giới họ đang chịu đựng hiện tại – bây giờ họ đang nổi nóng, lát nữa sẽ khỏi thôi; rồi bạn sẽ nghĩ: "Người này sẽ không nổi nóng nữa đâu", đó là phải có chân thật diệu quán. Người này ban nãy đối xử rất tốt, mình kết bạn với anh ta, chuyện gì cũng tâm sự. Lúc này ngàn vạn lần phải cẩn thận, vì rất có thể anh ta sẽ đột nhiên trở mặt không nhận người quen, phủi sạch mọi tình nghĩa kết giao lúc ăn uống vừa nãy. Cho nên, nhìn nhận vấn đề phải có "diệu quán", tức là phải nhìn nhận một cách khéo léo và vi diệu.

Người học Phật phải có Tùy thuận quán, tức là nhìn nhận vấn đề phải thuận theo duyên, xuôi theo con đường đó mà nhìn. "Ồ, hôm nay anh không rảnh à?" "Bận rồi." "Ồ, hôm nay anh có hẹn với tôi, tôi đợi anh nửa ngày rồi." Người ta gọi điện báo không đến nữa, "Không sao đâu, hẹn anh dịp khác nhé." Đây chính là tùy thuận quán. Tuy bạn nương theo họ, thuận theo họ, nhưng bạn đã nhìn thấu bản chất của người này: đây là kẻ nói lời không giữ lấy lời, lần sau bạn đừng bận tâm đến anh ta nữa. Nếu lúc đó bạn cãi nhau ầm ĩ với người ta thì cũng chẳng được gì, không có tác dụng. Lúc đó bạn có cãi cọ thế nào, anh ta vẫn không đến, bạn cũng chẳng làm gì được anh ta. Cho nên, thà không cãi nhau còn hơn, lần sau không thèm hẹn nữa là xong, đúng không? Còn có một loại gọi là Tùy duyên quán, nhìn nhận vấn đề nương theo duyên phận. Hôm nay chuyện thành công rồi, chúng ta sẽ nhìn nó theo hướng thành công; hôm nay chuyện không thành, chúng ta sẽ nhìn nó theo hướng không thành. Hôm nay tình cảm người này với tôi rất tốt, tôi sẽ đối xử tốt với họ; hôm nay người này với tôi tình cảm sứt mẻ, tôi cũng sẽ tùy duyên, tôi không coi người đó như bạn bè tốt như trước nữa, vì hiện tại họ đã không còn tốt với tôi. Tôi chỉ đành nương theo cái ác duyên vừa đến, tôi thuận theo duyên phận mà bước đi, dùng "tùy duyên quán" – đó chính là người có trí tuệ. Nếu bạn cứ nghĩ mãi: "Chao ôi, trước kia anh ta đối xử với mình tốt thế cơ mà, mình đối với anh ta tốt biết bao, sao bây giờ anh ta lại đối xử với mình như thế?" Đó không gọi là tùy duyên quán. Thiện duyên đến, bạn phải thuận theo thiện duyên mà quán chiếu; nếu ác duyên đến, bạn phải tùy theo ác duyên mà quán chiếu.

Phải hiểu rằng, tu hành phải nương vào ý thức mà tu. Người tu hành, phải tu dựa theo ý thức. Ý thức là gì? Là những gì bạn đang suy nghĩ trong đầu. Hôm nay một bà cụ nói: "Tôi tu hành là để muốn sống thọ", bà liền thuận theo ý thức của mình mà tu: "Tôi tụng kinh nhiều, tôi phóng sinh nhiều, tôi sẽ được sống thọ", sau đó cứ từ từ mà tu; thực chất là đang tu dựa vào ý thức của bản thân. Hôm nay bao nhiêu người trong các vị đến tu hành, chẳng phải là vì mong cầu chút việc sao? Ai trong các vị mà chẳng có tâm sự thỉnh cầu? Ở nhà có chuyện gia đình, con cái có chuyện con cái, vợ chồng có chuyện vợ chồng, đúng không? Cho dù bạn muốn đi hoằng pháp, bạn cũng có mục đích cả đấy. Ví dụ: "Sau này tôi ít nhất không muốn đầu thai làm người nữa, tôi muốn làm Bồ Tát", đó cũng gọi là ý thức. Nhưng ý thức không phải là một điều xấu, đúng không? Thuận theo ý thức mà tu, nương theo ý thức sẽ dễ dàng nhập định hơn.

Sau khi nhập định, "Quán trí tức thục" (trí tuệ quán chiếu sẽ dần chín muồi). Nhập định là gì? Là không cáu gắt nữa, nghĩ thông suốt rồi, hiểu thấu đáo rồi, tâm lý ổn định rồi. Sau khi nhập định, phải quán chiếu lại trí tuệ của bản thân. Thực chất, khi bạn có thể nhập định, trí tuệ của bạn đã khá trưởng thành. Phải hiểu rằng, sau khi nhập định, "quán trí tức thục", tức là trí tuệ sẽ dần trưởng thành và chín muồi. Khi đó bạn mới có thể đạt đến Tam ma địa (Samadhi), Tam miệu tam bồ đề (Samyak-sambodhi - Chánh đẳng chánh giác).

Người ta gọi trong tâm có Tam ma địa. Tam ma địa là gì? Tam ma địa chính là cảnh giới khi trí tuệ đã chín muồi, là sự kết tinh của trí tuệ. Có nghĩa là khi trí tuệ của một người đạt đến đỉnh cao, nó sẽ kết tinh lại. Lúc này, "Quán nhất thiết pháp không" (quán tất cả các pháp đều là không), tức là nhìn nhận vạn vật ở nhân gian, pháp giới toàn bộ đều là không, tình cảm giữa người với người cũng là không, đúng không nào? Ngày xưa tình cảm các vị chẳng phải cũng rất tốt sao? Bố mẹ của vài người cũng đã qua đời, có những cặp vợ chồng tình cảm tan vỡ phải chia tay, vậy tình cảm đâu rồi? Đi đâu mất rồi? Không còn nữa. Cho nên gọi là "Quán nhất thiết pháp không", mọi thứ bạn nhìn thấy đều là không. Trước khi ăn chay, các vị thấy ăn thịt ngon lành biết bao; bây giờ bảo các vị ăn lại, có ai còn muốn ăn nữa không? Vì vậy, mọi thứ đều là không. Chửi người xong thì cũng kết thúc; nói xấu người ta xong cũng kết thúc; con người tranh giành cấu xé nhau xong cũng kết thúc. Tôi từng đi du lịch ở một nơi, cảm giác vui vẻ lúc đó giờ cũng kết thúc rồi, không tìm lại được nữa. Lúc đi chơi các vị vui vẻ thế nào, bây giờ còn cảm giác đó không? Muốn lôi lại từ trong ký ức cũng chẳng lôi lại được bao nhiêu.

Sư phụ nói cho các vị biết, xét theo khía cạnh tâm lý học, những việc một người từng làm trong quá khứ, cảm nhận trực tiếp của họ sau một năm sẽ chỉ còn đọng lại 20% so với cảm xúc lúc đó. Nghĩa là, lúc đó bạn cực kỳ phấn khích vì một việc: "Tôi nhất định phải làm việc này!", lúc làm vui sướng tột độ. Sư phụ nói cho bạn hay, một năm sau, cảm giác hưng phấn của bạn chỉ còn lại 20%, căn bản không còn cái ý thức hưng phấn mãnh liệt đó nữa. Giống như dì Châu bây giờ đã 82 tuổi, từ năm 10 tuổi đến nay dì đã trải qua biết bao nhiêu chuyện vui vẻ, biết bao nhiêu chuyện không vui; bây giờ những chuyện vui vẻ chỉ còn đọng lại 20% trong tâm trí dì ấy. Tuy nhiên, các nhà tâm lý học nghiên cứu và chỉ ra rằng, những chuyện không vui lưu lại trong tâm trí lại chiếm đến 50%. Cho nên, con người đến tuổi xế chiều thì chuyện buồn không bao giờ quên, chuyện vui thì quên sạch sành sanh. Các vị bây giờ chưa chết mà đã như thế rồi, nghe hiểu không? Vậy nên, phải hiểu một đạo lý: bớt làm những chuyện không vui, làm nhiều những chuyện vui vẻ lên. Tăng cái 20% kia lên, giảm cái 50% kia xuống, thì tuổi già của các vị sẽ trở nên vô cùng hạnh phúc.

Dưới đây là bản dịch tiếng Việt cho các phần tiếp theo của tài liệu. Bản dịch tiếp tục bám sát nguyên tác, giữ vững văn phong gần gũi, thiết thực nhưng cũng rất nghiêm khắc và thâm sâu của Sư phụ, đồng thời sử dụng các thuật ngữ Phật giáo chuẩn xác.

11. Hằng tâm tu Phật, gian khổ học Phật

+

Phải hiểu rằng, tâm Phật và tâm chúng sinh là bất nhị (không hai). Ngày hôm nay, tất cả các vị ở đây, tâm Phật và tâm chúng sinh đều bình đẳng, không có gì khác biệt. Phật đang truyền bá tâm đại quang minh, tâm đại bi, tâm đại ái, "âm dương lưỡng lợi, tức hiện quang minh". Nghĩa là, chư Phật Bồ Tát truyền bá ở nhân gian chính là "Minh tâm". Thế nào gọi là tâm quang minh? Đại minh tâm chính là trong lòng bạn mang một cái tâm rộng lớn và ngập tràn ánh sáng. Cho nên người ta mới nói tâm người này rất quang minh (trong sáng), còn tâm kẻ kia rất u ám. Các vị cứ nhìn xem, một người lương thiện bình thường, lúc cười rạng rỡ vô cùng; còn kẻ u ám, cười lên là toàn những nụ cười nhạt gượng gạo. Người học Phật không được như vậy. Ở đây chúng ta từng có một người hay làm việc thiện, làm công đức, anh ta từng rất nỗ lực giúp người khác làm nhiều việc tốt. Nhưng sau này nội tâm trở nên u ám, thường xuyên nói xấu sau lưng người khác, làm việc xấu, thế là mặt u ám liền hiện rõ ra, các vị thấy chưa? Bởi vì tâm anh ta đã thay đổi, nên mới chuyển thành đen tối. Thế nên phải hiểu, đại minh tâm là tâm phải trong sáng, tôi không có gì mờ ám cả, tôi vui thì thể hiện thế này, tôi không vui thì thể hiện thế kia, quang minh thì không u ám. Có ánh sáng thì sẽ không có bóng tối; nơi nào có bóng tối, nơi đó chắc chắn không có ánh sáng.

Phải có tâm đại bi, tâm đại bi là phải từ bi với mọi người. Phải có tâm đại ái, thế nào gọi là đại ái (tình yêu thương rộng lớn)? Phật Bồ Tát dạy rằng, hãy coi tất cả những người già như bậc trưởng bối của mình, coi tất cả những người trẻ như con cái của mình. Còn tâm "tiểu ái" (tình yêu ích kỷ) là gì? Đây là con trai tôi, đây là con gái tôi, đây là của tôi, kia là của tôi...

"Âm dương lưỡng lợi, tức hiện quang minh". Nghĩa là gì? Tức là học Phật vừa phải để cho người trên dương thế nhận được lợi ích, vừa phải để cho chúng sinh cõi âm (minh phủ) nhận được lợi ích, đó chính là "âm dương lưỡng lợi". "Tức hiện quang minh" – thứ ánh sáng này chiếu soi khắp vạn vật vũ trụ và đại địa, các vị hiểu chưa? Vì vậy, bất kỳ một người học Phật nào, đều là vừa giúp chính mình, vừa giúp đỡ cho những người đã khuất và tổ tiên của mình. Các vị bây giờ tụng Ngôi Nhà Nhỏ, chẳng phải là âm dương lưỡng lợi đó sao?

Thành thật làm người, sẽ có một cái "Hằng tâm" (tâm kiên trì). Một người sống thành thực, một người sống ngay thẳng thật thà, người đó sẽ có hằng tâm. Các vị cứ nhìn mà xem, những người cứ lẳng lặng, cặm cụi, thành thật làm việc, người đó nhất định rất kiên trì, các vị chưa cảm nhận được sao? Nếu một người cứ khoác lác, chạy đến nói: "Tôi đã độ được bao nhiêu người, tôi thế này thế nọ, tôi đã cống hiến...", hạng người đó không bao giờ có hằng tâm. Có một số người lúc mới đến chỗ Sư phụ, vừa quỳ lạy, vừa sám hối, khóc lóc thảm thiết, đến cuối cùng biến mất tăm, thì có ích gì? Thành thành thật thật học Phật, chân tâm thành ý học Phật, người đó mới có được sự kiên trì. Hằng tâm thường trụ, người đó mới học Phật tốt được.

Tu thành chính quả là điều không hề bình phàm. Một người tu tâm đến giai đoạn sau, càng tu càng "Chính", điều đó là không hề dễ dàng. Bởi vì tu tâm rất dễ bị chệch hướng, vì tâm người không chính thì sẽ bị lệch. Hôm nay bạn nghĩ không thông, bạn chắc chắn đã lệch rồi; bạn cảm thấy mọi người đều đang bắt nạt bạn, bạn đã mất đi sự "Chính" rồi. Bởi vì bạn nghĩ người ta bắt nạt bạn, trong khi thực tế người ta chỉ đang nói với bạn những lý lẽ thường tình, không hề ức hiếp bạn, nhưng tự bạn lại cho rằng họ đang ức hiếp mình. Vậy rốt cuộc là ai ức hiếp ai? Là tâm bạn đang tự lừa dối bạn. Cho dù người ta có thật sự bắt nạt bạn, bạn cũng không nên coi đó là sự ức hiếp. Tại sao? Đó là "Tăng thượng duyên" (duyên giúp ta tiến bộ) dành cho tôi! Người ta tu không tốt, người ta sẽ chịu quả báo, tại sao bạn lại đi tức giận? Một đạo lý đơn giản như thế, một đạo lý làm người thực tế đến vậy, tại sao bạn lại nghĩ không thông, nghĩ không hiểu?

Phải sửa đổi tập tính vô minh. Tập tính vô minh là gì? Là không hiểu nhưng lại cứ cho rằng mình hiểu; rất nhiều người không biết mà cứ tỏ ra hiểu biết, đó chính là tập tính vô minh. Hôm nay các vị có rất nhiều việc không hiểu, chưa từng nghe, chưa từng gặp, đó chẳng phải là vô minh sao? Không hiểu, lâu ngày không hiểu sẽ sinh ra thói hư tật xấu. Thấy người ta hút thuốc: "Chà, mình chưa hút bao giờ, hút thử xem sao", hút một cái là nghiện, chẳng phải thành tập tính rồi sao? Rất nhiều đứa trẻ từ nhỏ dựa dẫm vào cha mẹ, cha mẹ lại quá ích kỷ, vì tình cảm cá nhân mà ly hôn, làm tổn thương trái tim con cái, đứa trẻ bỗng chốc ngơ ngác: "Sao từ nay mẹ không quan tâm đến mình nữa? Sao tự nhiên mình không còn bố?" Bạn chưa từng trải qua, cho nên bạn mới vô minh! Bạn không hiểu à, cha mẹ không làm sai sao? Cha mẹ hại cái nhà này tan nát rồi sao? Một người không có trí tuệ thì học Phật nỗi gì.

Tiếp theo Sư phụ sẽ nói một chút về Thiền học, xem như phần kết của bài giảng hôm nay. Bởi vì Sư phụ đang hoằng dương văn hóa Thiền của Pháp Môn Quan Âm Tâm Linh, Sư phụ nói cho các vị biết, Thiền học thực sự vô cùng trí tuệ. Thiền học nói: "Nhất trảm nhất thiết trảm, nhất nhiễm nhất thiết nhiễm." (Chặt một nhát là đứt tất cả, nhiễm một vết là bẩn tất cả). "Nhất trảm nhất thiết trảm", nghĩa là đem phiền não và mọi thứ khác một đao chặt xuống, chặt đứt tất cả. "Nhất nhiễm nhất thiết nhiễm" nghĩa là gì? Ví dụ, hôm nay bạn mặc một chiếc áo sơ mi trắng, chỉ cần bạn làm dính một chút vết bẩn thôi, thì cả chiếc áo đó đã bị coi là áo bẩn, không thể mặc đi dự tiệc được nữa. Vì vậy, trong tâm các vị bây giờ không được phép có một chút ô nhiễm nào, không được có một chút ý niệm xấu nào. Chỉ cần bạn có một chút ý đồ xấu, bạn đã không còn là người tốt, vì bạn có vết nhơ rồi. "Hôm nay tôi có chút khuyết điểm, có chút tật xấu, tôi một đao chặt đứt, từ nay về sau tôi không làm nữa", thì bạn lại là người tốt. Còn cứ giữ lại một chút thứ dơ bẩn trên người, bạn chẳng phải là kẻ dơ bẩn sao? Lấy ví dụ đơn giản, vừa mới tắm xong, nhưng nhiều đứa trẻ tắm không rửa mặt, để dử mắt tèm lem chạy ra, các vị bảo đứa trẻ đó có bẩn không? Phải rửa ráy sạch sẽ toàn bộ, đó mới là người lương thiện. Phải hiểu nhé, học Phật thực sự không dễ, trăm mối tơ vò phiền não phải một đao cắt đứt. Tại sao cứ phải lưu luyến mãi với những thứ dơ bẩn đó? Hết rồi là hết rồi. "Trước đây anh ta từng hại tôi" – tôi không muốn nghe nữa, tôi không muốn nhớ lại nữa, từ nay về sau quên đi là hết, tại sao tôi lại phải ôm giữ những thứ tồi tệ trong quá khứ ở trong tâm để rồi không ngừng nhớ lại cơ chứ? Ngốc nghếch!

"Nhất tức đa, đa tức nhất" (Một tức là nhiều, nhiều tức là một). Nghĩa là gì? Một cái "Một", chính là rất nhiều, nghe hiểu không? Hôm nay tôi nắm vững được một pháp môn, thực chất là tôi đã nắm vững được tất cả các pháp môn; "Đa" – có nhiều pháp môn đến mấy, bạn học đến cuối cùng cũng là "Vạn giáo quy nhất" (muôn đạo chung một gốc), đó gọi là một là nhiều, nhiều là một. Vì thế, Sư phụ bảo các vị "Nhất môn tinh tấn" (chuyên tâm tu một pháp môn), sẽ học được vạn pháp. Chỉ cần bạn thi đỗ đại học, vào trong đó đâu phải bạn chỉ học một môn, bạn sẽ học rất nhiều môn, đúng không? Bạn mà không đỗ đại học thì bạn chẳng học được gì cả.

Sư phụ nói với các vị, nhất môn tinh tấn sẽ học được vạn pháp. Còn "Vạn pháp vô tự" (vạn pháp không có đầu mối) – nghĩa là vạn pháp không có gốc rễ để bám vào, bạn học chỗ này một tí, chỗ kia một tí, pháp nào cũng học một chút, cuối cùng "mười tám ban võ nghệ môn nào cũng lỏng lẻo", bạn chẳng học được thứ gì nên hồn. Cho nên gọi là vạn pháp vô tự, làm sao sánh bằng một pháp? Người môn võ nào cũng biết, rốt cuộc chẳng có chiêu nào xuất chúng để mang ra đấu cả. Các vị cứ nhìn xem, thời xưa trong võ lâm, có kẻ đao, thương, kiếm, côn môn nào cũng múa may quay cuồng, múa kiếm có vẻ ra trò lắm. Nhưng khi gặp một cao thủ chuyên môn dùng kiếm, người ta vung hai đường cơ bản là đánh gục anh ta. Rồi anh ta lại rút cây côn tam khúc ra, chưa đánh đã khua kêu loảng xoảng, kết quả lại bị một người chuyên đánh côn gõ cho hai nhát là gục. Bạn chẳng có một thứ gì đủ sức để cầm ra thực chiến. Chỉ khi bạn nhất môn tinh tấn: "Tôi chỉ học Pháp Môn Quan Âm Tâm Linh", tôi dung hội quán thông nó, lý luận bên trong tôi có thể giảng giải rành mạch, cái gì tôi cũng hiểu – bạn nói xem chẳng phải bạn đang học được nhiều hơn sao? Lẽ nào trong Pháp Môn Tâm Linh của Sư phụ không có tinh hoa của các pháp môn khác? "Bác thải chúng trường" (chắt lọc tinh hoa của muôn nhà), Phật pháp của Bồ Tát vốn dĩ đều cùng một cội nguồn.

Chúng ta là những người cầu Phật gian khổ. Người cầu Phật vô cùng gian khổ, không khổ, làm sao chúng ta có thể trở thành người cầu Phật? Ngày ngày khổ sở quan sát sự thật của thế gian này, chúng ta mỗi ngày đều đau đáu suy nghĩ, nhưng nghĩ mãi không thông: Tại sao tôi phải chịu nhiều đau khổ như vậy? Tại sao nhà người ta thì tốt? Tại sao nhà tôi vốn tốt, giờ lại không tốt? Nghĩ đi nghĩ lại, nghĩ không thông: Tại sao hôm nay tôi lại chạy đến Úc? Tại sao tôi lại lấy anh ta? Tại sao tôi phải kết hôn đến hai lần?... Khổ sở đi tìm hiểu thế gian này, tìm mãi tìm mãi, muốn tìm ra một chân lý, có tìm được không? Nhưng thật khó để tìm ra chân lý ở cõi người. Nhân gian vốn dĩ chỉ là nơi để bạn đi ngang qua, vốn dĩ chỉ để bạn dạo qua một vòng, rất ngắn ngủi, đến rất nhanh và đi cũng rất nhanh. Nhìn lại các bậc tiền bối, nghĩ đến con cháu mình, rồi tự nhìn lại bản thân, bạn sẽ thấy thời gian trôi qua quá nhanh. Bạn đã bao nhiêu tuổi rồi? Đúng không?

Người tu hành càng sâu, làm người càng phải cẩn trọng, càng phải khiêm tốn. Sư phụ có hai phương châm sống: Một là "Vô dục tự nhiên tâm như thủy" (Không có dục vọng thì tâm tự nhiên phẳng lặng như nước), đừng mang dục vọng, tâm bạn sẽ bình yên. Hai là "Như lý bạc băng" (Như bước trên băng mỏng), học Phật giống như đang đi trên một lớp băng mỏng, chỉ cần lơ là một chút, bạn sẽ rơi xuống vực sâu vạn trượng.

 

Ma quỷ từ đâu mà ra? Chính là học Phật không đến nơi đến chốn, mới biến thành ma. Người học Phật không được nói người khác là ma; nói người khác là ma, bạn chính là ma; kẻ đi chửi mắng người khác, kẻ đó chính là người xấu. Phải hiểu nhé, Sư phụ thấy các vị rất đáng thương. Phải hiểu, "Tri mộng đắc mộng" (Biết là mộng thì đắc được mộng). Bạn biết nhân gian là một giấc mộng, chúng ta phải "mượn cái giả để tu cái thật" ở chốn nhân gian này. Chúng ta nắm giữ được giấc mộng này, để nó tồn tại chân thực bên cạnh mình, mỗi ngày tỉnh giấc, thấy mình đang sống một cách chân thực thêm một ngày, đó chính là "Tri mộng đắc mộng".

Hôm nay giảng đến đây thôi, hy vọng mọi người trí tuệ ngày càng viên dung, học Phật ngày càng tinh tấn.

12. Tam nghiệp thanh tịnh tăng phúc Tăng tuệ

+

Năng lực làm việc của một người thực chất được gọi là "Tài cán". "Ôi, người này giỏi làm việc lắm, người này có nhiều phương pháp hay", đó là tài cán, là thứ của nhân gian, không có gì kỳ lạ, rèn luyện mà ra, học hỏi mà có được, đó gọi là tài cán. Còn chữ "Tài" của người học Phật, chính là trí tuệ của Bồ Tát. "Tài" của người học Phật là gì? Là dùng Diệu pháp để cứu người, việc đó có mang trí tuệ. Cho nên, ở nhân gian này bạn càng có tài cán, nhưng nếu tâm bạn không chính, bạn sẽ càng đi sai đường, đi càng xa. Chính những kẻ thông minh, tự cho mình là khôn ngoan, khôn hết phần thiên hạ, cuối cùng lại là những kẻ đi lệch hướng nhất. Họ có tài không? Có chứ. Các vị cứ nhìn xem, những người ở trong tù, rất nhiều người có tài cán xuất chúng. Các vị có bản lĩnh mở được két sắt ngân hàng không? Bọn họ đều biết bẻ khóa số, biết tính toán thời gian, biết dùng máy tính công nghệ cao, nhưng họ đã đi sai đường. Vậy những kẻ chuyên chèn ép, hãm hại người khác có tài cán không? Có, nhưng cuối cùng cũng bị người ta đánh gục. Tất cả những thứ đó đều là tài cán của nhân gian, không phải là trí tuệ.

Con người phải biết tự kiểm điểm bản thân, phải biết sám hối. "Hôm nay mình lại làm sai rồi; ngày mai sao mình lại sai nữa, sao mình kém cỏi thế này? Sao mình lại không giữ được cái miệng? Dạ dày mình kém, sao mình lại tham ăn thế này?" Phải kiểm điểm nhiều hơn, sám hối nhiều hơn, phải thường xuyên đối chiếu. Đối chiếu với cái gì? Bảo các vị đi tìm ai để đối chiếu đây? Phải đối chiếu với tâm của chính mình, đối chiếu với Bồ Tát: Hành vi của mình có giống Bồ Tát không? Có như vậy, bạn mới đang "Chân tâm thực tu để tránh tai nạn". Người thường xuyên tự sám hối có thể tránh được rất nhiều tai họa. Vừa sắp bị người ta chửi, bị người ta đánh, lập tức nói "Tôi xin lỗi" – Sám hối rồi phải không? Thế là xong, người ta không đánh bạn nữa, đúng không? Vừa sắp phải ra tòa kiện tụng, sắp mất tiền, nói một câu "Xin lỗi", người ta không kiện bạn nữa. Chẳng phải bạn vừa tránh được một kiếp nạn sao?

Bạn muốn kiến Phật tính, nhìn thấy bản tính của Bồ Tát, trước tiên phải tương ưng với Phật, tức là tâm phải tương ưng với Bồ Tát. Bồ Tát nghĩ gì, bạn nghĩ đó; Bồ Tát đang muốn cứu người, bạn cũng cứu người; Bồ Tát muốn bạn làm việc tốt, bạn làm việc tốt, đó mới gọi là "Tâm tâm tương ưng". Bạn cầu Bồ Tát đương nhiên sẽ linh nghiệm. Tương ưng với Phật, tâm mới có thể thanh tịnh. Tâm bạn tương ưng với Bồ Tát rồi, tâm bạn mới thanh tịnh, bạn mới nhận được sự gia trì của Phật, "Cam lộ nhập tâm", dòng nước cam lộ của Phật Bồ Tát mới có thể đi vào trái tim bạn.

Phải nhớ, làm cho bản thân thanh tịnh, tâm Bồ Tát mới đi vào tâm bạn được. Bản thân không thanh tịnh, cầu Bồ Tát, Bồ Tát sẽ không đến đâu, nghe hiểu không? Tâm quá ích kỷ đi cầu Bồ Tát, Ngài cũng không đến, bởi vì tâm Bồ Tát không bao giờ ích kỷ. Rất nhiều người cái gì cũng muốn, một con người ở thế gian cứ mải mê theo đuổi, cái này muốn, cái kia cũng muốn. Sư phụ tóm tắt thành một vế đối: Truy cầu, truy cái này, cầu cái kia, truy cầu không dứt; Phiền não, phiền cái này, não cái kia, phiền não không ngừng. Bạn cứ mải mê truy cầu, phiền não của bạn sẽ không bao giờ chấm dứt. Thế nên, Đức Phật dạy: Vô sở đắc – có được cũng như không được. Chúng ta ở nhân gian, vô sở đắc, không có gì cho bạn đạt được cả; nhưng "Vô sở bất đắc". Thực chất, khi vô sở đắc – bạn không mong cầu đạt được – thì thứ gì bạn cũng đạt được. Bạn liều mạng theo đuổi, khát khao có được, cuối cùng bạn chẳng có được gì. Chẳng phải vậy sao? Giống như câu nói: "Hữu tâm tài hoa, hoa bất khai; Vô tâm sáp liễu, liễu thành âm" (Có lòng trồng hoa, hoa chẳng nở; Vô tình cắm liễu, liễu mọc râm). Bạn cứ vô tư đi làm việc tốt, cuối cùng bạn trở thành người hùng Lôi Phong; bạn liều mạng đuổi theo một thứ gì đó, chưa chắc đã nhận được kết quả tốt.

Phải tu đến mức Thân, Khẩu, Ý tam nghiệp thanh tịnh. Tại sao cả Thân, Khẩu, Ý đều phải thanh tịnh? Cơ thể (Thân) là thứ đi đầu, Thân là dễ thanh tịnh nhất. Các vị ăn mặc sạch sẽ, dáng vẻ thành kính, người ta nhìn vào thấy ngay đây là người học Phật, Thân rất nhanh được thanh tịnh, đúng không? Miệng (Khẩu) xếp vị trí thứ hai. Quá nhiều người không giữ được miệng; cơ thể còn quản được chứ cái miệng nhiều người không giữ nổi, hiểu không? Nhưng khó nhất là quản lý Ý niệm (Ý). Không ai có thể nhìn thấy ý niệm, cho nên ý niệm càng phải được quản lý chặt. "Hôm nay tôi thấy tiền, tôi không tham, tôi là Bồ Tát, tôi phải quản lý ý niệm; hôm nay tôi thấy cô gái này rất đẹp, tôi phải giữ ý niệm, tôi không nghĩ bậy; hôm nay người ta rủ rê làm ăn có lợi nhuận, tôi không nhận, tôi đang học Phật" – tất cả những điều này đều phải dựa vào sự kiểm soát ý niệm. Thực chất, trong ba nghiệp Thân - Khẩu - Ý, kiểm soát được ý niệm là bạn kiểm soát được cái miệng và hành động của mình. Đến ý niệm bạn còn không khởi lên suy nghĩ xấu, làm sao miệng bạn nói lời tồi tệ được? Làm sao hành vi của bạn làm việc ác được? Thế nên, phải tu Thân, Khẩu, Ý tam nghiệp thanh tịnh. Đem tam nghiệp thanh tịnh đó Nhập, Trụ, Hóa. Nghĩa là gì? Là phải sạch sẽ, bạn phải để những điều tốt đẹp "nhập" (đi vào) tâm điền của mình trước, sau đó "trụ" (lưu giữ) ở trong đó, không cho nó thoát ra ngoài, cuối cùng mới "hóa" (tiêu hóa) nó. Việc này rất giống với ăn uống. Thấy món này ngon, trước tiên nó phải vào miệng bạn (Nhập), sau đó dừng lại trong dạ dày (Trụ), cuối cùng được dạ dày tiêu hóa, hòa tan (Hóa) – đây chính là "Nhập, Trụ, Hóa".

Tiếp theo Sư phụ sẽ nói cho các vị biết, tu Thân, Khẩu, Ý tam nghiệp thanh tịnh sẽ có lợi ích gì. Trước tiên, nếu tu tốt, bạn có thể Diệt tội trừ tai (diệt tội nghiệp, trừ tai họa). Ví dụ đơn giản, miệng bạn phạm tội, nhưng bắt đầu tu tâm rồi, từ nay về sau miệng không nói lời ác nữa, chẳng phải là không phạm tội nữa sao? Chẳng phải là diệt tội rồi sao? Bạn hay làm những hành động thô lỗ, khi nhận ra, từ nay không làm nữa, có phải tai họa tan biến rồi không? Ở Úc lúc lái xe, bạn giành đường với người ta, giơ ngón tay làm một hành động hạ lưu, người ta chạy tới thụi cho một đấm. Sau này bạn sửa đổi Thân - Khẩu - Ý, không làm những động tác hạ lưu đó nữa, chẳng phải bạn đã tiêu trừ được một tai họa sao? Cho nên, học Phật không dễ đâu, phải thấm nhuần vào tận tâm can. Phải Trừ bệnh hoạn. Thân, Khẩu, Ý có thể trừ bệnh hoạn, các vị có biết không? Tu tốt ba nghiệp này, các vị sẽ không sinh bệnh nữa. Ví dụ, bệnh tim là do tức giận mà ra, cao huyết áp là do tức giận mà ra. Nếu cơ thể bạn không làm việc xấu, ý niệm không thù hận, không tham, sân, si; miệng không nói xấu ai, người khác cũng sẽ không nói xấu bạn. Bạn chắc chắn sẽ không tức giận. Vậy chẳng phải bạn đã trừ được mầm bệnh sao?

Phải hiểu, tu Tam nghiệp có thể Tăng phúc tuệ. Bởi vì khi một người không có bệnh tật, tai ương, phúc báo của họ sẽ đến. Người nay ốm mai đau thì có phúc không? Nếu Tam nghiệp thanh tịnh, bạn sẽ được Tăng kính ái (Tăng thêm sự tôn kính và yêu thương). Mọi người đều sẽ thích bạn, quý mến bạn. Tại sao? Vì con người bạn không bao giờ làm hành động hạ lưu, miệng không bao giờ nói xấu ai, ý niệm lúc nào cũng sạch sẽ trong sáng. Bạn bảo người ta có kính trọng và yêu thương bạn không? Ngay cả cha mẹ các vị, nếu mở miệng ra là nói tục chửi bậy, một câu "cái đồ tồi", hai câu "đồ khốn nạn", các vị có kính yêu họ nổi không? Các vị đi xem mà xem, có rất nhiều cha mẹ văn hóa thấp, mở miệng là văng tục, con cái đến buổi họp phụ huynh cũng không muốn cho họ đi. Cho nên, tu tốt Thân, Khẩu, Ý, bạn sẽ nhận được sự tôn trọng.

Tu tam nghiệp thanh tịnh, bạn còn giảm bớt tranh giành cãi vã, hơn nữa còn đẩy lùi mọi kẻ thù, không còn oan gia. Bởi vì miệng tôi không nói xấu ai, trong đầu không trù ẻo ai, hành động không đánh đập ai, chẳng phải tôi không còn oan gia sao? Người học Phật ai cũng biết nói Thân, Khẩu, Ý, Tham, Sân, Si. Nhưng đem phân tích chi tiết ra để áp dụng vào đời sống thường nhật, các vị làm được không? Còn kém xa lắm. Cho nên, đau khổ vô lượng là điều không thể tưởng tượng nổi. Thực chất, nếu các vị có thể tu tốt Tham - Sân - Si, Thân - Khẩu - Ý, các vị sẽ không phải chịu khổ nữa, các vị sẽ có công đức vô lượng không thể nghĩ bàn.

"Ngô Phật tức ứng, thân thị Phật thân" (Phật của ta tức là ứng thân, thân ta chính là Phật thân). "Ứng" là Ứng thân Phật, chính là vị Phật đang ngự trị trên người bạn, thân chính là Phật thân. "Ngô ngôn tức Kinh" (Lời ta nói ra chính là Kinh). Các vị không hiểu câu này, ngày nào các vị cũng tụng kinh, lời nói phát ra từ miệng các vị bây giờ chính là kinh văn đấy! Sao các vị còn có thể chửi bới, xúi giục chia rẽ, còn có thể nói dối được? Bởi vì ngôn từ bạn tụng kinh là ngôn ngữ của Bồ Tát, khi phát ra từ miệng bạn, đó chính là kinh văn. Người tụng kinh bắt buộc phải sạch sẽ. Cho dù bạn có ác cảm với ai, cho dù bạn không tốt với họ, cho dù bạn có suy nghĩ gì, bạn có thể không nói ra cơ mà? Không nói thì có chết đâu! Bạn thốt ra rồi, nó tạo thành trường khí, thiên địa quỷ thần đều biết, bạn lại vừa tạo nghiệp.

"Ngô niệm tức quán" (Ý niệm của ta chính là sự quán chiếu). Ý niệm của tôi chính là thứ tôi nhìn thấy. Ý niệm của các vị có nhìn thấy được không? Nhìn thấy được chứ. Chính bạn sẽ nhìn thấy ý niệm của mình đang nghĩ gì. Tôi thấy hôm nay mình là người tốt, ý niệm của tôi sẽ chuyển hướng tốt; hôm nay tôi là kẻ xấu, ý niệm của tôi sẽ chuyển hướng xấu. "Quán" là quán chiếu vạn vật bình đẳng. Hôm nay bạn phải nhìn tất cả chúng sinh với tâm bình đẳng. "Nhất niệm tức quán bản" (Một ý niệm là nhìn thấy bản tính). "Niệm" chính là chiếu soi nội tâm, chính là Phật quang của Phật Bồ Tát chiếu rọi vào bản tính của bạn, hiểu chưa? Nhìn một ý niệm là có thể thấy ngay bản tính của các vị. Hôm nay trong đầu bạn nảy sinh ý nghĩ: "Người này hả, mình có thể kiếm chác được chút lợi ích từ họ đây". Đây có phải là bản tính của bạn không? Có nhìn thấy không? Hôm nay bạn buông lời xúi giục chia rẽ, người ta nhìn vào là biết ngay bạn không phải người tốt. Đây gọi là "Nhất niệm quán bản". Người tốt có nói những lời như thế không? Người tốt có tùy tiện xúi giục, nói dối ráo hoảnh không? Tiếng Anh có câu ngạn ngữ: "Kẻ nói dối phải có trí nhớ tốt". Lời nói dối mình thốt ra, qua một thời gian tự mình quên mất, lại đem ra nói, thế là lộ tẩy. Nếu bạn không nói dối, bạn sẽ không bao giờ phải sợ mình quên.

13. Thường sám hối, không vướng bận

+

Phàm phu thật đáng thương, căn cơ quá mỏng. Căn cơ là gì? Là cái gốc học Phật của chúng ta quá mỏng, Phật duyên không sâu. Định lực quá mỏng, chúng ta không thể kìm hãm được chính mình, đụng một tí chuyện là lập tức nhảy dựng lên, đụng một tí chuyện là lập tức nói người khác không tốt. Huệ lực của chúng ta quá mỏng, chúng ta không có trí tuệ, gặp chuyện là ngớ người ra, gặp chuyện là mất hết trí tuệ. Tâm tư lợi cá nhân của chúng ta quá nặng, bởi vì chúng ta chỉ nghĩ cho bản thân, chưa bao giờ nghĩ cho người khác. Kẻ tư lợi quá nặng, lấy đâu ra định lực, lấy đâu ra huệ lực? Kẻ ích kỷ chỉ biết đến chữ "Tôi", chỉ biết có mình, bạn bảo hắn ta có trí tuệ được sao? Trí tuệ được đúc kết từ chúng sinh mà có. Lấy một ví dụ đơn giản, một vấn đề một người không giải quyết được, nhưng mở cuộc họp mọi người cùng thảo luận, có phải cách do số đông chúng sinh nghĩ ra sẽ tốt hơn cách của một mình bạn không? Thế mới gọi là chúng sinh mang lại trí tuệ cho bạn, còn cái do một mình bạn nghĩ ra chỉ gọi là "ý tưởng", mà là ý tưởng nhỏ nhặt, ích kỷ.

Nếu sức mạnh của sự sám hối không đủ lớn, bạn sẽ không thể thoát khỏi cái tâm tư dục của mình. Nhất định phải chân thành sám hối: "Lạy Quán Thế Âm Bồ Tát, con thực sự đã làm sai rồi, trước đây con đã làm sai rất nhiều chuyện. Xin Bồ Tát tha thứ cho con, con nhất định sẽ sửa đổi". Nguyện lực của bạn càng lớn, sự ích kỷ của bạn càng ít đi, huệ mạng của bạn sẽ ngày càng lớn mạnh. Vì thế, rõ ràng biết rằng "sống không mang đến, chết chẳng mang đi", rõ ràng biết có những thứ không thể mang đến cũng chẳng thể mang theo, thế mà con người vẫn tham lam, không tham là không vui. Nếu hôm nay tôi không được lấy nhiều hơn người ta một chút, không được ăn nhiều hơn người ta một chút, tôi sẽ không vui – cái này đã trở thành căn bệnh của con người rồi, đúng không? Đi ăn buffet tốn mấy chục tệ, không ăn cho bằng độ lẹ lấy lại vốn là không thấy vui. Kết quả, ăn đến sinh bệnh đường ruột, nửa đêm phải nhập viện vì bục dạ dày. Tại sao phải làm thế cơ chứ?

Phải hiểu rằng, hãy học hỏi thật nhiều cảnh giới cao thượng của Phật. Các vị phải học Sư phụ nhiều vào. Sư phụ thường xuyên Bế quan trong tâm trí, các vị có biết không? Nếu không, chẳng ai có thể chịu đựng nổi một áp lực lớn đến như vậy. Trong tâm phải thường xuyên bế quan. Bế quan là gì? Đóng cửa lại, nơi đó liền hóa thành thâm sơn cùng cốc; đóng chặt tâm lại, nơi đó liền hóa thành Cực Lạc, thành tịnh độ. Phải đóng cửa trái tim mình lại. Đóng bằng cách nào? Không nghĩ ngợi gì cả, không âu lo gì cả, cảm thấy mình như đang ở trong môi trường chân không, cảm thấy mình đã vượt ra khỏi không gian vũ trụ, không còn ở nhân gian nữa. Giống như khi người ta nghĩ không thông, nhìn lên bầu trời, nhìn ra biển cả, lúc đó bạn sẽ suy nghĩ thông suốt, hiểu không? Người tự sát ở trong phòng, càng nghĩ càng bế tắc, không chịu bước ra ngoài, rồi lấy sợi dây tự kết liễu đời mình. Một người dù gặp chuyện khó khăn đến mấy, nếu đi mua sắm cùng mọi người, tham gia tiệc tùng, đi chơi đùa, lúc đó người ta sẽ không nghĩ đến việc tự tử. Cho nên, phải thường xuyên bế quan. Bởi vì sau khi tâm bạn được dọn sạch phiền não trong một khoảng thời gian, dù sau đó phiền não mới có xâm nhập vào, tâm bạn vẫn đủ sức để chứa đựng và tiêu hóa nó. Nếu bạn không bế quan, không dọn dẹp phiền não trong tâm, khi hết lớp phiền não này đến lớp phiền não khác dồn dập ập đến, giới hạn chịu đựng của sinh mệnh sẽ bị thách thức, bạn sẽ không gánh nổi sức nặng của phiền não, và bạn sẽ phát điên.

Thường xuyên bế quan, thường xuyên dọn dẹp. Sư phụ khuyên mọi người, có những lúc hãy "không nghe chuyện ngoài cửa sổ". Hôm nay bạn đóng cửa lại, ở nhà không nghe điện thoại, không xem tivi, tôi chỉ ngồi đây tụng kinh, giống như thế giới này chỉ có một mình tôi, rồi lấy sách ra đọc. Bạn sẽ chẳng còn thị phi nào để bàn tán nữa, lấy đâu ra thị phi để nói? Thị phi của con người từ đâu mà ra? Là do chính các vị tự nói ra, tự bàn tán ra, tự tạo ra. "Thế gian vốn dĩ không có chuyện, chỉ có kẻ dung tục tự làm phiền mình". Bạn thử ở nhà bế quan một tuần xem, bạn còn có thị phi gì nữa không? Đến nghĩ về thị phi bạn cũng chẳng nghĩ ra được. Phải "Vô nhân ngã vãng lai" (Không có sự qua lại giữa ta và người), "Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng". Sư phụ đang giảng lại kinh văn cho các vị nghe đúng không? Phải không có cái tôi, không có bất kỳ ai, không có chúng sinh nào cả. Lúc này tôi và vũ trụ đất trời hòa làm một, bạn chính là người vĩ đại nhất. Bởi vì não bạn trống rỗng, tâm bạn sẽ thanh tịnh, bạn sẽ không có tạp niệm, lúc này bạn chính là Bồ Tát.

Chúng ta phải Vô khẩu quá (Không mắc lỗi ở miệng) và Vô thân quá (Không mắc lỗi ở thân). Chúng ta không được phép nói sai, không được phép làm sai. Các vị thử nghĩ xem, có bao nhiêu người phạm tội là do hành động của cơ thể? Quan chức có to đến mấy, cơ thể phạm tội là tiêu tùng. Cái miệng chúng ta không được nói bừa, nói bừa là sinh chuyện. Không được nói bậy, đó gọi là vô khẩu quá, vô thân quá, không được có những khuyết điểm này. Vô khẩu quá, vô thân quá, bạn phải dọn dẹp cho nội tâm thanh tịnh. Thế nào là dọn dẹp nội tâm thanh tịnh? Chính là dọn dẹp sạch sẽ nội tâm của bạn. Quét cho sạch, dọn cho quang, tâm bạn sẽ thanh tịnh. Hãy nghĩ xem, chuyện này chẳng sao cả, chuyện kia cũng chẳng hề gì, đó chính là đang làm sạch trái tim bạn. Vì vậy, mọi vật ngoài thân đều không liên quan, không cản trở gì đến tôi. Tức là mọi vật ngoài thân không có sức ảnh hưởng gì đến tôi, Tâm vô quái ngại (Tâm không vướng bận). Nghĩ thử xem, bạn đối với mọi sự vật ngoài thân trên thế giới này đều thấy "sao cũng được", bạn không đi so đo, tính toán với nó, chẳng hề gì, vậy chẳng phải tâm bạn đã vô quái ngại rồi sao? Không có chuyện gì vướng bận trong lòng, bạn đã buông xuống được rồi.

Nhất định phải hiểu rằng, nếu bạn đã buông bỏ được mọi thứ, mọi vật ngoài thân, thì bạn mới đang thực sự sám hối. Lấy ví dụ, bạn sám hối: "Lạy Quán Thế Âm Bồ Tát, con làm sai rồi, con không nên đánh nó". Nếu ngay lúc đó bạn cảm thấy mọi thứ trên đời này đều chẳng sao cả, bạn có đánh nó nữa không? Bạn không còn vướng bận rồi đúng không? Tại sao bạn lại đánh đứa trẻ này? Vì bạn vướng bận, bạn nghĩ rằng bạn nuôi nó lớn ngần này, tại sao nó lại đối xử với bạn như thế? Bạn đang vướng bận phải không? Bạn buông nó xuống, thế nào cũng được, đúng không? Phải đưa sự sám hối vào trong lời nói và hành động. Hôm nay sau khi tôi sám hối, lời tôi nói ra không được sai nữa, hành vi của tôi không được có bất kỳ sai sót nào. Các vị thử nghĩ xem, lúc các vị ở trong thanh niên đoàn ngồi nói chuyện người này, bàn tán người kia, các vị có nghĩ rằng, lâu ngày những lời này sẽ truyền tai nhau không? Làm sao Sư phụ lại không biết? Hôm nay các vị nói bất cứ lời nào, phải nghĩ đến "Quả". "Hôm nay mình nói câu này, sau này người ta nhất định sẽ biết. Vì vậy, mình không nói, người ta sẽ không biết". Tại sao lại phải nói? Sư phụ thấy các vị thực sự rất đáng thương. Đừng tưởng mình bằng cấp cao, thực ra IQ và EQ của các vị đều rất thấp. Sư phụ thường thấy xấu hổ thay cho các vị, nhưng vẫn phải gia trì cho các vị.

Đợi đến khi định lực đủ, chúng ta mới có thể độ tận chúng sinh. Bản thân bạn phải có định lực trước, bạn mới độ được chúng sinh. Bản thân vừa học Pháp Môn Tâm Linh được vài ngày, hôm nay vác mặt đi độ người ta, người ta học các pháp môn khác mười mấy năm, tùy tiện hỏi bạn vài câu, bạn ú ớ không trả lời được. Người ta quay ra giảng ngược lại cho bạn, cuối cùng, bạn chưa độ được người ta, người ta đã độ luôn bạn đi rồi. Có loại người như vậy không? Kêu người ta đến đây độ Sư phụ xem nào? Đó gọi là không có định lực. Chỗ này cầm quyển sách, chỗ kia cầm cái gì đó chạy đến giảng giải, người ta học Phật mười mấy năm, xổ ra vài câu Phật pháp, bạn ngớ người ngay lập tức.

Phải hiểu rằng, định lực sinh ra nhờ huệ lực, người có trí tuệ mới có định lực. Bạn muốn đi độ người, bạn phải học cuốn "Bạch Thoại Phật Pháp" của Sư phụ cho đàng hoàng. Nếu bạn có thể dung hội quán thông, thấu hiểu từng bài giảng, hoặc thậm chí thuộc lòng nó, thì khi bạn nói về Pháp Môn Tâm Linh, người ta nói gì, bạn mới đối đáp trôi chảy được, đúng không? Giảng pháp cho người khác không phải là để tranh luận, mà là để họ hiểu thấu. Người ta trước đây học rất nhiều về Phật, học nhiều Pháp môn, chứng tỏ nền tảng của họ rất tốt, nhưng chưa chắc họ đã hiểu được sự ảo diệu bên trong. "Bạch Thoại Phật Pháp" hôm nay của chúng ta, giúp con người hiểu được chân lý của nhân sinh, hiểu được sự vi diệu thực sự của Phật pháp, để người ta nhìn là ngộ, nghe là ngộ, cảm nhận là ngộ. Vừa tiếp xúc với Pháp Môn Tâm Linh, vừa có cảm giác là lập tức khai ngộ, thế chẳng phải gọi là giác ngộ sao?

14. Người học Phật làm chút việc tốt không hề khó

+

Học Phật phải chỉ chuyên tâm tu hành tinh tấn một Pháp môn. Tôi cứ dốc sức tinh tấn mà học, bởi vì bất cứ một pháp môn nào, chỉ cần bạn tinh tấn, bạn đào sâu vào nó, điều đó gọi là "nhất thông bách thông" (hiểu một thứ là hiểu trăm thứ), "cử nhất phản tam" (nêu một biết ba). Bạn có thể thông qua một pháp mà thấu triệt vạn pháp, nghe hiểu không? Ở mỗi pháp môn, khi bạn tu tâm đúng đắn, chỉ cần bạn tu thật "Chính", bạn đã lấy một pháp để ứng phó với vạn pháp rồi. Ví dụ đơn giản, hôm nay tôi không cần đi học cách làm người tốt việc tốt. Người ta bảo, anh ra đẩy xe giúp người ta đi, anh ra giúp người già làm việc này việc nọ đi. Tôi không biết mấy chuyện đó, tôi cũng không học. Tôi chỉ học một thứ: tôi phải có cái Tâm lương thiện. Chỉ cần bạn có Tâm lương thiện, gặp bất cứ việc thiện nào bạn cũng sẽ làm. Vậy chẳng phải bạn đã dùng một pháp để thông vạn pháp rồi sao? Bạn không cần thiết phải học cách làm tất cả mọi việc tốt trên đời, việc tốt làm sao mà hết được. Nhưng bởi vì bạn có cái thiện tâm này, việc thiện nào bạn cũng sẽ làm. Vì vậy, chỉ khi tương ưng với Bồ Tát, trong tâm bạn mới có "Pháp". Bởi vì tâm Bồ Tát đã nhập vào tâm bạn rồi, bạn mới có Pháp, mới có sự tương ưng.

Người học Phật, đến cuối cùng ngay cả "Pháp" cũng phải xả bỏ. Bởi vì bạn đã tu thành rồi. Pháp môn là một con đường; khi bạn đang đi trên con đường này, bạn không thể từ bỏ nó. Nhưng khi bạn đã đi hết con đường, bạn không thể giữ khư khư con đường đó trong tâm nữa, bạn phải xả bỏ nó. Đến cùng, ngay cả Pháp môn cũng không còn, thì bạn mới thực sự tu thành. Bởi vì học Phật không có đường lui, bạn chỉ có thể dũng cảm tiến bước. Phải đến được bến bờ bên kia (Bỉ ngạn), bạn mới có thể xả bỏ, ngay cả Pháp môn này cũng không cần nữa, bạn có thể trở thành Bồ Tát, trở thành Phật. Khi chúng ta tu đến một cảnh giới nhất định, đạt đến đích, chúng ta thành Phật, thành Bồ Tát rồi, chúng ta mới có thể xả bỏ cái pháp này.

Quá trình tu hành vô cùng gian nan và đau khổ, tâm thường xuyên phiêu định, lơ lửng. Tại sao có một số người lúc mới bắt đầu tu tâm học Phật, đôi khi cảm động rơi nước mắt tòng tọc, nhưng có lúc lại quên khuấy mất Phật? Tại sao vậy? Chính vì tâm họ phiêu lãng, không kiên định. Cho nên, người học Phật vừa phải học Phật học Pháp, vừa phải tu một chữ "Định pháp". Định pháp là gì? Là làm sao để tĩnh tâm lại trước, bạn mới có thể làm tốt mọi việc.

Ví dụ, ngày xưa đi học khi chúng ta đến muộn, các bạn đã ngồi ngay ngắn trong lớp. Bạn đi trễ một mình, lạch bạch chạy vào: "Thưa thầy, em xin lỗi, em đến muộn". Ngồi xuống một cái là cuống cuồng lấy hộp bút, lấy sách vở ra. Lúc này tâm bạn đang hoảng loạn, năm đến mười phút đầu tiên khi vừa ngồi xuống, bạn căn bản không biết thầy giáo đang giảng gì. Đó gọi là "Bất định" (Không định tâm), đúng không? Tại sao Sư phụ yêu cầu các vị khi nghe giảng bài vào thứ Tư, tâm nhất định phải tĩnh lại, không được đi muộn? Người đi muộn sẽ không nghe lọt bài giảng. Mọi người đều biết, ở các nhà hát kịch hay phòng hòa nhạc danh tiếng, người đi muộn không được phép vào cửa. Tại sao? Nghe nhạc cũng như đọc một bài thơ, bạn phải cảm nhận được ý cảnh của bản nhạc. Khi một vở kịch bắt đầu, tâm của người trên sân khấu và dưới khán đài đã hòa quyện vào nhau. Nếu lúc này đột nhiên có một người bước vào, lăng xăng chạy qua chạy lại, bạn sẽ làm tâm trí người khác bị phân tán. Lần này Sư phụ tổ chức Pháp hội, những người phụ trách quay phim phải chuẩn bị máy quay cho sẵn sàng, bớt đứng lên ngồi xuống, bớt làm người ta phải chú ý đến mình. Tâm tĩnh lại được mới có "Pháp", nên mới gọi là Định Pháp.

Sư phụ nói, Pháp không thể lập tức xả bỏ được. Bước vào tuổi trung niên chỉ chuyên một pháp, bạn sẽ không "nhị tâm sở hành" (mang hai lòng mà làm việc). Bạn học Phật một lòng một dạ, bạn sẽ không sinh nhị tâm. Đức Phật từng dạy: "Cái ban đầu cũng chính là cái cuối cùng, cái bình thường nhất cũng chính là cái sâu sắc nhất". Có nghĩa là gì? Rất rõ ràng, cái ban đầu cũng là cái cuối cùng – khi một người mới sinh ra, chẳng phải là lúc ban đầu sao? Có giống với lúc cuối cùng không? Trước khi sinh ra, không có con người bạn; đến cuối cùng cũng chẳng còn con người bạn nữa. Lời Phật dạy chứa đựng triết lý vô cùng sâu sắc. Các vị đến nhân gian trong một cuộc đời ngắn ngủi, các vị đã làm được những gì? Ngày ngày tự tổn thương mình, đùa cợt mình, tàn hại chính mình. Hút thuốc chẳng phải là đang đùa cợt sinh mạng sao? Thổi phồng khoác lác chẳng phải là đang tự tổn thương mình sao? Sân hận người khác chẳng phải là tự làm hại mình sao? Dùng tiểu xảo tính toán để rồi bị người ta nhổ bọt, khinh bỉ, chẳng phải là tự hại mình sao? Sư phụ đã nói với các vị bao nhiêu lần rồi, học Phật phải "Chính", không phải là chuyện mang ra đùa chơi. Đức Phật dạy, cái bình thường nhất chính là cái sâu sắc nhất. Khi bạn dùng cái tâm bình dị, thường tình nhất để lễ Phật, thực chất bạn đang dùng cái tâm sâu thẳm nhất. Bạn tưởng vái lạy vài cái là người ta không nhìn ra sao? Bạn ngày ngày lạy, tháng tháng lạy, năm năm lạy, lạy đến cuối cùng, cầu gì được nấy. Lẽ nào đó không phải là thứ cao siêu nhất, sâu sắc nhất? Bởi vì người ta "Tích tiểu thành đại", vì người ta được tính toán cộng dồn. Đừng tàn hại bản thân nữa! Bệnh tự kỷ là do tự mình phong bế chính mình; bệnh tâm thần cũng là do tự tàn hại mình mà ra. Nghĩ không thông, nghĩ không thông, tôi nhất quyết không nghĩ thông, cuối cùng phát điên luôn. Không phải bạn tự hại mình thì là ai hại bạn đây? Những đạo lý của Phật này, các vị không thể ngẫm nghĩ một chút sao? Tại sao con người lại tự tàn hại mình? Vì các vị không có trí tuệ.

Một người làm chút việc tốt không khó; cái khó là cả đời làm việc tốt, không làm việc xấu. Chúng ta vẫn thường nói, làm chút công đức không khó, cái khó là cả đời làm công đức, không làm ác nghiệp. Ngày hôm nay các vị vừa làm việc tốt, lại vừa không ngừng làm việc ác, lấy đâu ra công đức? Lấy đâu ra "hữu cầu tất ứng"? Sư phụ nhìn các vị thấy rất đáng thương. Sư phụ thấy nhiều người giống như từng tên hề đang biểu diễn trên sân khấu này. Các vị đáng thương lắm, cứ tưởng mình thông minh, xúi giục chỗ này, đâm thọc chỗ kia, đến cuối cùng thì sao? Sao cứ phải quậy tung lên thế? Các bạn thanh niên đến đây thì hãy chăm chỉ làm chút công đức. Vài người còn hay trách Sư phụ quá nuông chiều các bạn thanh niên; các bạn cũng phải cố gắng làm Sư phụ hãnh diện chút chứ! Chém gió, nói dối đã thành cơm bữa rồi, các vị tu hành cho tốt kiểu gì đây? Dùng từ hiện đại mà nói, bạn phạm tội ngoài xã hội, cảnh sát còn tạm thời chưa bắt được bạn; nếu bạn chạy vào đồn cảnh sát để phạm tội, chạy đến trước mặt Hộ pháp thần để phạm tội, thì thật sự quá bi ai!

Khi Đức Phật mới truyền pháp, Ngài giảng về "Tứ Diệu Đế", đó chính là "Khổ, Tập, Diệt, Đạo". Ngài giảng về cái khổ của kiếp nhân sinh. Cõi người là khổ nhất; "Diệt" là dập tắt, là kết thúc, đúng không? Nhưng cái "Đạo" này bạn đã tu thành rồi. Khổ, Tập, Diệt, Đạo – giảng xuyên suốt từ khi con người mới sinh ra cho đến lúc kết thúc sinh mệnh. Thế nên, đây chính là "Chân đế pháp": Khổ, Tập, Diệt, Đạo.

Phải hiểu rằng, biết đó là thiện hạnh, là thiện công đức nhưng bạn không chịu làm, hoặc không làm ra hồn. Một người nhìn thấy việc tốt mà không muốn làm, thấy những việc giúp người rất dễ dàng mà lại không muốn giúp, điều đó không đạt được tiêu chuẩn "Biết lỗi tất sửa". Bạn không muốn làm, tức là bạn đã sai rồi. "Tôi biết sai rồi nhưng tôi vẫn không muốn đi làm", đó gọi là "Biết lỗi không sửa". Vì thế, có những người giúp người khác làm việc thiện, nhưng trong lòng lại không vui vẻ gì; có người giúp ai làm gì là mặt nặng mày nhẹ; có người giúp xong nhưng trong lòng cứ gợn những băn khoăn, tính toán. Đó gọi là công đức có rò rỉ.

Người hay nói dối (vọng ngữ), họ sẽ càng nói càng trơn tru. Người hay khoác lác, chém gió càng lúc càng to, họ đã lấy việc nói dối làm niềm vui rồi. Hãy nghĩ đến cha mẹ các vị, có người như vậy không? Lại tự nghĩ xem bản thân mình có thế không? Tùy tiện khoác lác, tùy tiện dối trá, đến tận cùng, cái gốc rễ này sẽ chui vào "Bát thức điền trung" (A Lại Da Thức), nó đã lấy việc nói dối làm niềm vui mất rồi. Hãy nhớ lại hồi trẻ, các vị có phải hay bốc phét tùy tiện không? "Không nói dối" cũng là một trong Năm giới. Thường xuyên nói dối sẽ vô tình rơi vào cái thói quen dối trá, giống như đứa trẻ con thích hái trộm rau, không hái trộm nó bứt rứt, nó quen tay rồi. Phải nhớ, rất nhiều thói quen tốt và thói quen xấu đều do bạn vô tình hình thành từ từ. Tại sao có người chém gió nhanh thế? Vì họ chém quen rồi. Tại sao có người ăn cơm nhanh thế? Vì họ có thói quen ăn nhanh, đúng không? Đạo lý chẳng phải là như vậy sao, vô tri vô giác chính là hại người.

Người học Phật không thể rõ ràng biết mình phạm lỗi, lại cứ thích lôi kéo người khác vào. Một người học Phật, bạn là Bồ Tát, bạn không thể tự mình làm sai rồi lập tức cãi: "Không phải tôi, là anh ta đấy. Đáng lẽ nếu anh ta không rủ tôi thì tôi đã...". Loại người như vậy không phải là người học Phật, các vị có biết không? Lôi kéo người khác, khăng khăng nói rằng người ta hại mình, đổ hết mọi lỗi lầm lên đầu người khác, thế có phải là người học Phật không? "Vợ tôi thế này thế nọ... cho nên... không những... mà còn..."; "Chồng tôi thế kia, cho nên tôi mới thế này". Vừa nãy có một thính giả cũ của Sư phụ đến, vì chồng cô ấy thế này thế nọ, bây giờ một mình cô ấy phải đèo bồng ba đứa con, thật tội nghiệp. Người chồng không qua được ải "Đào hoa kiếp", vừa làm hại chính mình, vừa làm hại người khác. Vì vậy, làm người phải biết sai thì sửa, phải biết đừng đổ lỗi cho người khác. Nếu bạn "Biết lỗi không sửa, biết thiện không làm, tội mình kéo người" – nghĩa là, bạn biết mình làm sai nhưng không sửa; bạn biết mình nên làm việc thiện nhưng không làm; bản thân bạn có tội, bạn còn kéo theo rất nhiều rắc rối, điều này chứng tỏ bạn hiểu về Phật pháp vẫn chưa đủ sâu, chưa đủ triệt để. Cho nên, khi một người mở miệng ra là nói: "Là anh ta đấy, không phải tôi, là thế này, là thế kia..." Nói dài nói dai, cuối cùng vẫn là nói người khác không tốt. Thực chất, kẻ đó chắc chắn cũng chẳng ra gì.

15. Nhất môn tinh tấn là thượng sách

+

Hôm nay Sư phụ sẽ nói cho mọi người biết, chúng sinh và Bồ Tát đều hòa làm một. Thực chất, giống như một gia đình vậy. Trong một gia đình, nếu có một thành viên chịu khổ, cả gia đình đều rất khổ; nếu mỗi thành viên đều sống tốt, thì cả gia đình sẽ tốt đẹp. Tình cảm và mối quan hệ giữa chúng sinh và Bồ Tát là vô cùng gần gũi. Một người trong nhà không khỏe, sẽ liên lụy đến cả nhà; một chúng sinh gặp tai kiếp, Bồ Tát cũng sẽ đau xót. Một vị Bồ Tát nếu không có tâm từ bi, Ngài sẽ không được gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát; hôm nay chúng ta là chúng sinh, chúng ta học Phật mà không có tâm từ bi, thì chúng ta không phải là Bồ Tát Ma Ha Tát. Vì thế, Bồ Tát chính là biểu tượng của lòng từ bi.

Vậy, người học Phật chúng ta muốn hòa làm một với Bồ Tát, trước tiên chúng ta bắt buộc phải có tâm từ bi; phải xả bỏ bản thân, đem lòng từ bi đối xử với người khác. Tâm từ bi như vậy được gọi là "Từ bi cực điểm". Có nghĩa là gì? Là có thể xả bỏ cái tôi để từ bi với mọi người, chứ không chỉ đơn thuần là từ bi với người khác mà không chịu hy sinh lợi ích của bản thân. Những người chỉ biết ban phát chút tình thương mà không dám hy sinh, đó chỉ là lòng từ bi thông thường. Từ bi đích thực là "Xả bỏ tiểu ngã, thành toàn đại ngã". Nói cách khác, người có thể dốc lòng giúp đỡ chúng sinh mới là người có lòng từ bi đến tột cùng. Yêu thương người khác hơn yêu thương chính mình, đây không phải là điều người bình thường có thể làm được. Chỉ có Bồ Tát mới có thể lấy chính thân mình để gánh vác thay tội nghiệp của chúng sinh, cho nên bệnh tật của chúng sinh tự nhiên sẽ chuyển lên người Bồ Tát. Bồ Tát vì chúng sinh mà hy sinh bản thân, đây là cảnh giới từ bi đích thực.

Có câu: "Đường núi gập ghềnh, cừu dễ mất mạng". Nghĩa là con đường trên núi quanh co khúc khuỷu, con cừu tìm mãi tìm mãi vẫn không thấy đường về nhà, nó cứ đi, đi mãi trên núi, không bao giờ dừng lại, cuối cùng kiệt sức mà chết. Lại có câu: "Tu hành nhiều pháp thì táng thân". Nghĩa là, khi con người tu hành, vì học quá nhiều pháp môn, chỗ này tu một tí, chỗ kia tu một tẹo, tu đến cuối cùng chẳng đạt được thành tựu gì, nhưng sinh mạng thì đã cạn kiệt. Đây chính là lời cảnh tỉnh mà chúng ta phải khắc ghi: Trên con đường học Phật tu tâm, bản thân không được dao động ngả nghiêng.

Chúng ta có quá nhiều người, thấy pháp môn này tốt, lại thấy pháp môn kia cũng hay, cuối cùng cái pháp môn thực sự tốt cho chính mình thì lại không học được. Học Phật tu pháp, đừng mải mê theo đuổi và học quá nhiều thứ. Khi chúng ta đã sở hữu rồi, đừng đi tham lam nữa, đừng cho rằng cái này cũng tốt, cái kia cũng hay. Thực chất, cái "tốt" này có đạo lý của nó, cái "hay" kia có nguyên lý của nó, còn cái "tốt" của chúng ta có Phật lý của nó. Tựu trung đều chung một đạo lý, quan trọng là bạn chọn cái nào. Vì vậy, tu pháp đừng cứ mải mê chạy theo (truy cầu), chỉ cần chuyên tâm tu một pháp, chuyên tâm theo một pháp môn là đủ rồi. Chỉ cần bạn nắm vững được Phật tính và bản tính, bạn sẽ không bao giờ tu lệch. Trong quá trình học Phật tu pháp, bất luận bạn học vị Phật nào, tu theo pháp nào, chỉ cần bạn nhớ rằng bạn là Bồ Tát, bạn là Phật, bạn sẽ không bao giờ đi chệch hướng.

Chúng sinh chúng ta, một đời làm sai quá nhiều chuyện. Khổng Tử từng nói: "Ngô bất kiến, hiếu đức giả dã" (Ta chưa từng thấy ai yêu cái đức hạnh cả). Nghĩa là ông chưa từng thấy một người nào thực sự có đạo đức. Khổng Tử lại nói: "Chính nhân quân tử, ngô vị kiến dã" (Người chính nhân quân tử, ta chưa từng gặp). Nghĩa là, đến một người chính nhân quân tử còn không thấy, người có đạo đức càng hiếm gặp hơn. Vì vậy, một người nếu có thể học hỏi những người tốt một chút, làm việc tốt một chút, chỉ cần kiên trì có hằng tâm, điều đó đã không hề dễ dàng rồi.

Chúng sinh sau khi phạm lỗi, kẻ không giác ngộ thì tuy có sám hối, nhưng không cưỡng lại được cám dỗ, sẽ lại chứng nào tật nấy. Căn bệnh của con người là, bản thân phạm rất nhiều lỗi, cũng biết sám hối rồi, nhưng một thời gian sau, họ không thể chống lại sự cám dỗ. Việc này lại có sức hút với họ, họ sẽ lại tái phạm tật cũ. Giống như có người thấy tiền là động lòng tham; có người thấy nữ sắc là không kiềm chế nổi. Họ không vượt qua được, trong khi bản thân từng mắc sai lầm y hệt. Quá khứ họ từng tự tát vào mặt mình thề thốt: "Tôi sẽ không bao giờ làm thế nữa". Nhưng khi cám dỗ đến, họ lại phạm lỗi cũ. Đây chính là nguyên nhân khiến họ sai lần một, sai lần hai, sai lần ba, đến cuối cùng vẫn không thể sửa đổi! Thật đáng thương, những người này không thể sửa đổi tật xấu trên người. Không sửa đổi được, thì họ không thể có được sự sám hối chân chính.

Thực chất, tu tâm là phải tu từ trong tâm. Sư phụ năm lần bảy lượt dặn các vị, người học Phật tu tâm phải tu từ tận đáy lòng. Chuyên tâm tinh tấn tu hành, tu từ trong tâm, gói gọn trong một chữ "Thành" (chân thành); chuyên tâm tinh tấn tu hành, gói gọn trong một chữ "Dũng" (dũng cảm). Mọi người phải nhớ, một người dũng cảm tiến bước là họ đang dốc sức học tập, dốc sức tu hành, dốc sức tu tâm.

Người học Phật, chỉ cần tương ưng với Phật, bạn sẽ có thể thành Phật. Thế nào gọi là tương ưng? Hôm nay ngôn từ bạn nói ra là lời Phật; hôm nay động tác bạn làm là cử chỉ của Bồ Tát; hôm nay mọi việc bạn làm, nếu tương ưng với Bồ Tát, bạn có thể thành Phật. Bình thường, ý niệm của một người chỉ cần xuất hiện một chút lương thiện, ngay lúc đó Bồ Tát lập tức xuất hiện. Thế nên, phải thường xuyên khởi thiện niệm, Bồ Tát sẽ luôn ở bên bạn. Vừa khởi một thiện niệm, Bồ Tát liền đến; vừa khởi một ác niệm, Bồ Tát lại rời đi. Lúc lâm chung, "Nhất niệm Phật, tức đắc vãng sinh Cực Lạc thế giới" (Khởi một niệm Phật, lập tức được vãng sinh về thế giới Cực Lạc) – điều này ý nói phải dựa vào việc bình thường ngày ngày làm việc thiện, làm công đức, học Phật tu tâm, không làm việc ác. Có như vậy, đến lúc lâm chung, cái "nhất niệm" đó mới thực sự phát huy năng lượng của nó, người đó mới có thể vãng sinh về cõi Cực Lạc. Một người nếu có thể bay thẳng về thế giới Tây Phương Cực Lạc, họ sẽ có một đặc quyền, đó là không phải đi qua giai đoạn "Thân trung ấm", không phải xuống âm phủ chờ đợi phán xét. Điều này là vô cùng tốt đẹp.

Đừng học quá nhiều pháp môn, hãy Nhất môn tinh tấn. Sư phụ từng nói với các vị, tám vạn bốn ngàn pháp môn đều là do chư Phật Bồ Tát tùy theo tám vạn bốn ngàn loại phiền não ở nhân gian mà ứng vận sinh ra. Thực chất cũng là để "đo ni đóng giày", giúp đỡ cho những đối tượng khác nhau. Giống như đi xe ô tô bây giờ, có người mua xe Đức, người mua xe Nhật, người mua xe Úc. Bất kể bạn mua xe gì, trên mỗi chiếc xe đều có những chức năng mà xe bạn không có: xe này tự động đóng cửa sổ, xe kia tự động mở cốp sau... Tóm lại luôn có những tính năng khác biệt. Không thể nào tập trung tất cả mọi tính năng ưu việt nhất vào duy nhất một chiếc xe của bạn được. Đó gọi là "Nhân vô thập toàn, kim vô túc xích" (Con người không ai hoàn hảo, vàng không có vàng nguyên chất 100%). Làm gì có một con người hoàn mỹ? Làm gì có vàng nào nguyên chất 100%? Phải hiểu rằng, chuyên tâm một pháp (nhất môn tinh tấn) là có thể thành Phật ngay trong kiếp này. Bởi vì bạn tinh tấn, Phật sẽ thường trú trong tâm bạn, bạn có thể tức thân thành Phật, hiển hiện bảy sắc Phật quang, tức là ánh sáng hào quang ngũ sắc trên người bạn sẽ hoàn toàn tỏa sáng.

Chúng ta học Phật tu pháp, khi còn trẻ có thể ỷ vào trí nhớ tốt, hãy nghe nhiều một chút, học hỏi nhiều một chút. Đến tuổi trung niên, đó là lúc bạn phải lựa chọn chuyên khoa. Giống như đứa trẻ học lên cấp ba, phải chọn xem mình sẽ chuyên tâm vào môn nào. Vì vậy, con người đến tuổi trung niên, phải "nhất môn tinh tấn ", tìm một vị Minh Sư, quyết định xem cả phần đời còn lại mình sẽ tu trì theo pháp môn nào làm "chung thân pháp môn". Các vị cứ nhìn xem, bất kể trong công việc hay kinh doanh, những người giữa chừng chuyển nghề, việc kinh doanh hay sự nghiệp của họ không bao giờ qua nổi những người luôn kiên trì làm một nghề từ đầu. Bởi vì "Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh", mỗi nghề đều có bí quyết riêng. Bạn muốn áp dụng kinh nghiệm của người khác lên người mình là điều vô cùng khó, vì kinh nghiệm phải dựa vào sự tích lũy.

Khi còn trẻ phải "Đa văn" (nghe nhiều, học hỏi rộng); đến tuổi trung niên phải "Đơn tu nhất pháp" (chỉ tu chuyên một pháp); đến lúc tuổi già thì Đừng nghĩ ngợi gì nữa, chỉ một lòng cầu vãng sanh. "Hôm nay tôi học Phật tu tâm, tôi không nghĩ gì nữa. Tôi đã ngần này tuổi rồi, còn gì để vướng bận nữa? Pháp môn này, pháp môn nọ, chẳng còn gì phải đắn đo nữa. Một lòng cầu vãng sanh, thực sự phải buông xả bản thân mình." Chúng ta phải hiểu, đến lúc tuổi già, nếu bạn vẫn muốn tu mọi pháp, cái gì cũng muốn làm, cái gì cũng muốn cầu; tuổi già rồi mà vẫn tưởng sức khỏe mình còn tốt, còn có thể kiếm tiền, còn có thể làm cái này cái nọ... Cuối cùng, bạn chẳng cầu được một pháp môn nào hết, cả đời này bạn sẽ chẳng cầu thành được việc gì. Đây cũng chính là câu nói mở đầu bài giảng của Sư phụ hôm nay: "Tu hành nhiều pháp thì táng thân". Mạng sống không còn nữa, thời gian không còn nữa rồi, có hiểu không?

16. Vô niệm tức là có Đức

+

"Sự phi kinh quá bất tri nan, vị tằng thường quá bất tri vị" (Việc chưa từng trải qua thì không biết độ khó, món chưa từng nếm thử thì không biết mùi vị). Nghĩa là, nếu một việc không xảy ra với bạn, bạn sẽ không thể biết được sống trên đời này khó khăn đến nhường nào; bạn chưa từng nếm qua món đồ ăn này, bạn có biết mùi vị nó ra sao không? Chúng ta sống trong thế giới mộng ảo ở nhân gian này, đã nếm đủ mọi đắng cay, thậm chí tự làm mình khốn khổ đến mức thê thảm. Đã đến lúc phải tỉnh ngộ rồi, chúng ta không thể hồ đồ mãi được, chúng ta phải tỉnh ngộ thôi! Chúng ta đã làm hại chính mình, làm hại người khác, làm hại biết bao chúng sinh.

Sư phụ nói cho mọi người biết, tâm và thân của chúng ta ly niệm, đó chính là Đức. Tâm và cơ thể chúng ta phải rũ bỏ hết mọi ý niệm, lúc đó chúng ta mới có đạo đức. Phải biết rằng, sau khi tâm bạn rời xa các ý niệm, bạn mới đạt đến tánh Không, bạn mới không để cho những bụi trần dơ bẩn bên ngoài nhiễm vào bản thể của mình. Làm thế nào để không có ý niệm? Vô niệm, tức là không có ý niệm. Tôi không nghĩ ngợi gì, thì chuyện này coi như không có; tôi vừa nghĩ, là bắt đầu sinh ý niệm. Tôi càng nghĩ càng không thông, thì ý niệm đó đã xâm nhập vào ý thức của bạn. Khi một chuyện mà tôi nghĩ đi nghĩ lại vẫn không thông, thì bạn đã trở thành một bệnh nhân tâm thần giai đoạn đầu rồi. Phải rời xa ý niệm, bởi vì những ý niệm không chân thực đó sẽ luôn bủa vây, quấy nhiễu bạn.

Mọi thiện duyên trên thế giới hiện nay, thực chất đều là sự thể hiện của Phật tính. Nói cách khác, những điều tốt và không tốt ngày hôm nay của bạn, những chuyện thuận lợi và không thuận lợi của bạn, tất cả đều là sự thể hiện của Phật tính. Duyên phận chính là quan hệ nhân quả. Tại sao nó lại đầu thai làm con tôi? Tại sao hôm nay hai người chúng tôi lại đến được với nhau? Tại sao hôm nay tôi có thể học Phật? Tất cả mọi thứ đều là nhân quả. Tại sao hôm nay tôi hòa thuận với người này, ngày mai lại xích mích? Vài ngày sau lại tốt, rồi lại xấu? Đều là nhân quả, tất thảy không nằm ngoài nhân quả.

Phải biết biến cái "có ý niệm" thành "không ý niệm". Có nghĩa là, hôm nay tôi vừa khởi một ý niệm, tôi phải coi nó như là không có. Có sao đâu chứ? Tôi không thèm nghĩ đến nó nữa, thế là không còn ý niệm. Có phiền não, phải coi như không có phiền não; hôm nay tôi không vui, tôi có phiền não, tôi coi như không có phiền não, qua vài hôm là sẽ ổn thôi. Khi đó, cái Đức của bạn sẽ lộ diện, bạn đã "ly niệm" rồi, tức là rời xa được ý niệm đó. Bạn càng nghĩ không thông, tức là bạn càng chưa rời xa được ý niệm đó; bạn càng phiền não, chứng tỏ bạn càng thiếu trí tuệ. Cho nên, không phiền não, suy nghĩ thông suốt chính là Đức; có Đức thì mới có Phật tính. Chúng ta phải hiểu, làm việc dựa trên nền tảng của Phật tính thì mới tính là công đức, nếu không, nó chỉ là phúc báo mà thôi.

Cuối cùng Sư phụ nói về Phật tính. Phật là người bình phàm nhất trên thế giới, bởi vì Ngài đã khôi phục lại trạng thái nguyên thủy của con người. Nói cách khác, Phật Bồ Tát là những đấng bình phàm nhất, vì Ngài giúp mỗi người khôi phục lại bản tính của chính họ. Ngay đầu buổi giảng hôm nay Sư phụ đã nói, đứa trẻ ba tuổi cũng hiểu đạo lý, tại sao một ông lão tám mươi tuổi lại làm không được? Thiền sư Ô Khòa từng trả lời Bạch Cư Dị rằng, đạo lý thực sự của việc học Phật rất đơn giản, chỉ gói gọn trong tám chữ: "Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành" (Mọi việc ác chớ làm, mọi việc thiện nên làm). Người thời nay ngày ngày làm việc ác, việc tốt thì không làm, loại người này có thể thành Bồ Tát, thành Phật được không? Hôm nay, Bồ Tát dạy chúng ta ngày ngày làm việc tốt, không làm việc xấu, đây chẳng phải là những điều chúng ta nên hiểu từ khi còn nhỏ sao? Lúc còn nhỏ, chẳng phải thầy cô bảo "Đừng làm việc xấu", chúng ta đáp "Chúng em không làm việc xấu"; thầy cô bảo "Phải làm việc tốt", chúng ta đáp "Thưa thầy, chúng em ngày nào cũng sẽ làm việc tốt" đó sao? Đây là đạo lý đơn giản nhất, vậy mà người đời nay không chịu làm việc tốt, ngày ngày làm việc xấu. Đợi đến khi học Phật rồi, người ta mới khôi phục lại những gì chúng ta đã học từ hồi bé: không làm việc xấu, không xúi giục chia rẽ, không làm ác, phải biết tôn trọng người khác, mọi việc thiện đều phải làm. Điều này chẳng phải là khôi phục lại bản tính của con người sao? Đây chính là bản tính thuở nhỏ của chúng ta. Còn bản tính hiện tại của con người đã rời xa cơ thể chúng ta, để cho những thói hư tật xấu mục nát, vẩn đục, những ngoại tâm, ngoại trần xâm nhập vào cơ thể, làm chúng ta không còn phân biệt được đâu là đúng, đâu là sai. Mọi người đừng u mê nữa!

Sư phụ vừa nói trong buổi khai thị cho Bắc Mỹ rằng, học Phật không được "Một rõ, hai mờ, ba biến mất". Khi mới bắt đầu học Phật, rất rõ ràng minh mẫn, biết mình nên học thế nào, vận dụng ra sao; học một thời gian dần dần trở nên vẩn đục, đầu óc không còn rõ ràng nữa; đến cuối cùng, ngay cả Phật pháp cũng biến mất, Phật cũng chẳng thấy đâu. Hy vọng các vị học Phật cho tử tế, tu tâm cho đàng hoàng, hiểu chuyện, hiểu lý lẽ, biết chúng ta nên học Phật tu tâm một cách như lý như pháp như thế nào để tìm lại bản tính của mình, tìm lại bản tính lương thiện của chính mình.

Sư phụ có phiền não không? Có chứ. Các vị có phiền não không? Cũng có. Vậy thì, chỉ cần còn ở nhân gian, ai cũng có phiền não. Phiền não qua rồi, hãy quên nó đi, trí tuệ của bạn sẽ sinh ra. Việc nên làm, bạn hãy đi làm; việc không nên làm, bạn đừng làm. Một người phải tin vào Bồ Tát, trong tâm mới có chỗ dựa; một người phải tin vào sự tồn tại của Phật, họ mới cảm thấy thế giới này tốt đẹp biết bao. Hy vọng các vị ngày ngày phải đặt Bồ Tát trong tâm, phải tin tưởng Quán Thế Âm Bồ Tát. Sư phụ rất nhiều việc đều cầu xin Quán Thế Âm Bồ Tát. Hy vọng các vị phải biết chân tu, thực tu, quên đi những phiền não của bản thân, quên đi những nỗi bi thương của bản thân, quên đi những vết nhơ trong quá khứ của bản thân, có như vậy mới luôn đón nhận được hy vọng.

17. Sám hối tập khí, thanh tịnh đạo tràng

+

Chúng ta phải học cách sám hối, tức là phải sám hối toàn bộ những tập khí (thói quen, nghiệp chướng) từ nhiều đời nhiều kiếp, những tập khí di truyền, những nghiệp chướng nhiều đời. Hôm nay các vị theo Sư phụ học Phật, các vị quỳ trước Quán Thế Âm Bồ Tát, các vị làm sai một chuyện, các vị sám hối một chuyện, thực chất đó gọi là Tiểu sám hối. Thế nào mới là Đại sám hối đích thực? "Bồ Tát từ bi con, con là phàm phu xác thịt, con không hiểu biết; con đã làm bao nhiêu việc bất thiện từ nhiều đời nhiều kiếp, con xin sám hối toàn bộ. Hôm nay con lại làm sai rồi, lạy Quán Thế Âm Bồ Tát, con xin sám hối một lần nữa". Đó gọi là Đại sám hối. Nếu bạn chỉ nói: "Hôm nay con làm sai một chuyện, xin Bồ Tát phù hộ cho con, xin cho sếp ở cơ quan đừng đuổi việc con". Kiểu sám hối như vậy có tác dụng không? Sám hối là phải sám hối những thói hư tật xấu từ nhiều đời nhiều kiếp của chính mình.

Lấy một ví dụ đơn giản, người này có tính hay ăn cắp, cuối cùng lại bị người ta bắt quả tang. Chính vì từ nhỏ đã có tật tắt mắt, nên hôm nay mới gặt cái quả này. Nếu thực sự sám hối, cậu ta bắt buộc phải nói với thầy giáo: "Thưa thầy, chính vì từ nhỏ em không học hành đàng hoàng, em mới nhiễm thói xấu này. Từ nay em thật sự không làm thế nữa. Em xin sám hối từ thuở nhỏ cho đến tận bây giờ; hôm qua em lỡ làm việc xấu này, ngày mai em chắc chắn không làm nữa". Nhưng vì cái gốc rễ vẫn còn đó, lần sau nghiệp chướng và oán kết từ nhiều đời lại trồi lên, cậu ta sẽ lại đi ăn cắp. Vì thế, phải Đại sám hối, Tiểu sám hối không thể giải quyết được tận gốc vấn đề.

Khi bạn sám hối rồi, con người bạn sẽ biến thành một pháp khí thanh tịnh. Tại sao vậy? Cũng giống như một đạo tràng thanh tịnh, bởi vì sau khi bạn sám hối, tức là bạn đã dọn dẹp sạch sẽ những thứ dơ bẩn trong tâm hồn mình, để những thứ dơ bẩn đó hoàn toàn rời khỏi cơ thể, xác thịt và linh hồn của bạn. Tâm bạn sẽ được an định và trong sạch, giống như một đạo tràng thanh tịnh, Bồ Tát có thể thường xuyên lưu trú trong tâm bạn bất cứ lúc nào. Vì vậy, sám hối là quan trọng nhất. Sám hối tương đương với việc không ngừng lau chùi, tẩy rửa ở nhân gian, bạn sẽ biến thành một pháp khí. Một khi Bồ Tát ngự trên người bạn, Ngài có thể dùng pháp khí của bạn để độ người, giúp người, để cứu người. Nếu không sạch sẽ, làm sao có thể trở thành pháp khí được? Bạn có được một đạo tràng thanh tịnh, bạn mới có thể tiếp nhận sự lưu chuyển của chánh pháp thanh, bởi vì bạn đã trở thành một pháp khí, cho nên bạn mới có thể giữ cho Phật pháp ở lại trong tâm mình.

Phải hiểu rằng, chữ "khó khăn" sẽ nhốt bạn vào trong đó. Người ta nói, khó khăn chính là đờ đẫn (phát mộc - ). Chữ "Mộc" (), nếu thêm bộ Khẩu () ở ngoài, sẽ thành chữ "Ngốc" ( - ngốc nghếch/ngẩn ngơ). Một người ngốc nghếch, sẽ trở nên đờ đẫn; nếu trong tâm bạn có một chữ "Mộc", mà toàn bộ cơ thể bạn vây kín nó lại, đó chính là chữ "Khốn" ( - khốn khó/bế tắc) trong từ khó khăn. Về mặt phong thủy cũng vậy, nếu bạn muốn xây nhà, bạn dựng gỗ ở giữa, rồi rào sân bên ngoài lại trước, thì đó tạo thành chữ "Khốn", ngôi nhà đó của bạn chắc chắn xây không xong, khó khăn trùng trùng, đó chính là đạo lý. Nếu trong lòng chúng ta nghĩ không thông, chúng ta sẽ trở nên đờ đẫn, ngẩn ngơ. Vì vậy, phải nghĩ cho thông, nghĩ cho thấu, người như thế mới có thể được cứu.

Sư phụ hy vọng các vị học Phật phải dùng Diệu pháp. Diệu pháp là gì? Có câu "Biết người biết ta" (Tri kỷ tri bỉ), "Tri tâm đổng tâm" (Biết tâm hiểu tâm). Hiểu được tâm của người ta, bạn mới có thể hóa giải được tâm của họ. Vì thế, học Phật cứu người thực chất chính là cứu tâm. Thực chất tụng kinh chính là tụng cái Khí, tụng cái Tâm. Khí của bạn không thông, miệng bạn vẫn đang chửi bới, trong lòng vẫn đang tức giận, bạn bảo cái ác khí này không những khiến bạn tụng kinh không tốt, mà còn mang theo ác khí vào trong kinh văn, bạn làm như vậy là đang báng bổ kinh Phật. Vì vậy, khí của các vị phải thông, người "tâm bình khí hòa" mới tụng kinh tốt được. Tại sao rất nhiều người đốt rất nhiều Tiểu Phóng Tử nhưng hiệu quả lại không cao? Vì tâm không bình, khí không hòa. Còn có rất nhiều người khi tụng Chú Giải Kết, trong bụng lại rủa cho đối phương tốt nhất là sinh bệnh, hoặc bị xe đụng, trong tâm tràn ngập lòng thù hận. Sư phụ nói cho các vị biết, làm như vậy bạn lại phạm nghiệp rồi, nghiệp chướng lại xâm nhập vào cơ thể bạn, kinh văn làm sao có hiệu quả được? Hy vọng các vị phải nhớ, lúc tụng kinh nhất định phải sạch sẽ, tuyệt đối không được có tạp niệm.

18. Không tánh chính là Tùy duyên

+

Đừng đeo gánh nặng dục vọng trên vai, đây là điều vô cùng quan trọng Sư phụ muốn nhắc nhở các vị. Mọi Ngũ độc: Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi đều bắt nguồn từ đâu? Hôm nay Sư phụ sẽ tiết lộ cho các vị một thông điệp rất quan trọng: Tâm tham lam, tâm sân hận, tâm ngu si, tâm ngạo mạn, tâm nghi ngờ – các vị có biết chúng từ đâu mà ra không? Năm loại kịch độc này đều khởi sinh từ sự chấp trước của con người. Nếu các vị muốn trừ bỏ những thói quen xấu, trừ bỏ Ngũ độc này, trước tiên các vị phải vứt bỏ sự chấp trước. Chấp trước là gì? Chính là "Tôi cho rằng...". Bạn cho rằng sao? Bạn cho rằng bạn đúng, bạn mới sinh lòng Tham; bạn cho rằng bạn đúng, bạn mới sinh lòng Hận; bạn cho rằng người ta là kẻ xấu, bạn mới sinh lòng Ngu si; bạn cho rằng người ta là kẻ tiểu nhân, bạn mới có sự Ngạo mạn; bạn cho rằng người ta đích thị là kẻ ăn cắp, bạn mới sinh lòng Nghi ngờ. Tất thảy mọi thứ đều bắt đầu từ "Ngã chấp". Cho nên, một người học Phật tuyệt đối không được kiêu ngạo, người không kiêu ngạo mới có thể từ bỏ được ngã chấp.

Ngày hôm nay tất cả các vị ngồi đây học Phật, nếu cảm thấy mình đúng, thì các vị đã sai rồi, các vị sẽ bị lây nhiễm Ngũ độc. Ngũ độc này vô cùng lợi hại. Không nói ai xa lạ, cứ nói Robin đi, tại sao cậu ta làm sai? Vì chấp trước đấy: "Không sao đâu, đảm bảo đến giờ sách sẽ tới". Đảm bảo mấy ngày liền trôi qua, chấp trước chưa? Tưởng mình là đúng phải không? Sai rồi chứ? Bạn đừng cho rằng mình đúng, chưa chắc bạn đã không sai. Bạn đừng cố chấp, đừng "Tôi cho rằng...", đừng tự ý nhận định.

Khi chúng ta còn nhỏ, "Căn thức" (tức là Ý căn) của chúng ta chưa đi vào hoạt động trong não bộ. Vì vậy, trẻ con vô cùng trong sáng. Những lời chúng nói ra, những việc chúng làm đều vô cùng thuần khiết, cho nên chúng sẽ không làm sai, trong "Bát thức điền trung" (ruộng Bát thức) của chúng chưa bị ô nhiễm. Tại sao chúng ta thích ở cạnh trẻ con? Sư phụ rất thích chơi với cậu nhóc "Bác ơi, chào bác" của Châu Sư phó. Bộ não của cậu bé "Bác ơi, chào bác" đó sạch sẽ biết bao, đúng không? Tu hành chính là phải "Phản phác quy chân" (trở về với bản tính chân thật, mộc mạc ban đầu). Chúng ta tu đến cảnh giới sau này, chính là phải hồn nhiên vô tà như một đứa trẻ, không có tâm hãm hại ai, cũng không bị người khác hãm hại. Chúng ta không có tâm hại người, chúng ta nhất định sẽ không bị người ta hại; chúng ta nói lời chân thật, trong lòng quang minh chính đại, làm sai thì nói "Xin lỗi", chúng ta sẽ sống vô cùng tự tại.

Chúng ta bây giờ sống mệt mỏi, khổ sở biết bao! Hôm nay phải dùng vô số lời nói dối để che đậy cho một lời nói dối; chúng ta ngày ngày phải gánh chịu hậu quả cho những việc làm sai trái của mình; chúng ta ngày ngày tự làm tổn thương mình vì những lời lỡ miệng nói sai. Chúng ta sống khó chịu biết nhường nào! Vì thế, chúng ta phải thanh tịnh vô nhiễm, phải phản phác quy chân, tấm lòng chúng ta phải mở rộng.

Phải Tùy duyên bất biến. Tùy duyên bất biến là gì? Là bất kể duyên phận nào đến, chúng ta cũng đừng thay đổi. Tùy duyên bất biến chính là một loại khí lượng, một sự bao dung. Một người có tấm lòng rộng lớn, duyên phận nào đến cũng không hề hấn gì. Hôm nay ác duyên đến, tôi cũng thản nhiên đối mặt với nó; nếu thiện duyên đến, tôi vui vẻ đón nhận nó. Tùy duyên là một sự trưởng thành, là sự tự tin và khả năng làm chủ nội tâm của chính mình. Người có thể tùy duyên, mới có thể tìm thấy phương hướng tiến bước cho bản thân giữa dòng đời đầy biến động và trên những con đường đời gập ghềnh chông gai.

"Tùy ngộ nhi an" (Gặp cảnh nào cũng an lòng), "Tùy duyên độ chúng" (Tùy duyên mà độ chúng sinh). Hôm nay độ được, tôi sẽ độ người đó; không độ được, tôi không buồn bã. Hôm nay họ tin tôi nói đúng, cứ để họ tin; không tin tôi cũng chẳng sao, bởi vì tôi vẫn cứ là tôi của thuở ban đầu.

Tùy duyên là sự nhận thức đúng đắn và tỉnh táo về thực tại. Một sự việc ập đến, tôi giải quyết nó một cách tỉnh táo và đúng đắn, tôi nhận thức nó một cách đúng đắn, vậy là tôi rất tỉnh táo, đó gọi là tùy duyên. Tùy duyên không phải là "tùy" một cách vô hướng, mà là "tùy" theo nó một cách tỉnh táo. Thực chất, hai chữ "Tùy duyên" chính là sự tự do về mặt tinh thần sau khi đã triệt ngộ về nhân sinh.

Rất nhiều người khi gặp chuyện thì vô cùng đau khổ, bởi vì họ không thể nương theo cái duyên đó mà bước đi, họ sẽ đau đớn, họ sẽ không thể cởi bỏ nút thắt trong lòng. Nếu có một ngày họ nghĩ thông suốt rồi, chẳng phải họ đã triệt ngộ, giác ngộ rồi sao? Họ nghĩ thông rồi, tinh thần của họ chẳng phải đã được tự do rồi sao? Cứ thuận theo cái duyên đó, chẳng phải sẽ không còn đau khổ nữa sao?

Người ta chửi tôi, không sao cả, họ chưa hiểu tôi thôi, sau này rồi họ sẽ hiểu. Tốt rồi, không tức giận nữa, tinh thần chẳng phải tự do rồi sao? Hôm nay anh ta muốn rời xa tôi, không sao cả, vì anh ta chưa hiểu tôi. Đợi đến một ngày nào đó anh ta hiểu ra, biết đâu anh ta sẽ quay lại tìm tôi. Tinh thần của bạn đã tự do chưa? Bạn đã tùy duyên chưa? Con cái muốn rời xa cha mẹ, tôi nuôi nó lớn ngần này, nó lại muốn rời bỏ tôi, tôi có buồn không? Rất buồn. Nhưng Tùy duyên, vì tôi nghĩ thông rồi: Thứ nhất, con lớn rồi, kiểu gì cũng phải cất bước ra đi; Thứ hai, con cái chưa thấu hiểu cha mẹ, vì nó còn là trẻ con, đợi đến một ngày nó làm cha làm mẹ, nó chắc chắn sẽ tìm về với cha mẹ của mình. Tôi tùy duyên trước, tôi không đau khổ, tinh thần của tôi liền được tự do. Đây mới là thứ "Tùy duyên" đích thực. Chỉ hai chữ này thôi, Sư phụ đã giảng cho các vị biết bao nhiêu triết lý rồi, đúng không?

"Tụ tán ly hợp bản thị duyên" (Hội ngộ hay chia ly vốn dĩ đều là duyên). Hôm nay còn ở đây, ngày mai đã không còn nữa; hôm nay rời xa, ngày kia lại hội ngộ, đây chính là duyên phận. Có duyên dài, có duyên ngắn, đúng không? Ở nhân gian có đủ mọi loại duyên phận. Thử nghĩ xem, duyên phận rất ngắn ngủi là duyên, duyên phận kéo dài dằng dặc cũng là duyên. Vợ chồng còn có lúc bi hoan ly hợp, huống hồ là bạn bè? Ngày xưa có vị hòa thượng ở trong miếu, nghĩ không thông, rời nhà đi xuất gia, ở miếu rồi lại thấy miếu chẳng phải là nhà. Thế là rời miếu, vân du tứ hải, tá túc khắp nơi. Cuối cùng, ông nhận ra vị trưởng lão ở ngôi miếu đầu tiên mới là người có duyên với mình, thế là lại quay về. Những điều này đều là duyên phận.

Tùy duyên chính là sự giải thoát của tư duy tự do, là nghĩ thoáng, nghĩ thông. Mang trong mình tâm tùy duyên, thì bầu trời dù là mây đen vần vũ hay ánh nắng chói chang, cũng giống như sự gập ghềnh hay suôn sẻ trên đường đời; nhưng trong lòng chúng ta mãi mãi giữ vững tâm tùy duyên. Chúng ta sở hữu sự bình yên và thanh tịnh, thì mây đen sẽ không bao giờ che khuất được mặt trời. Tốt hay xấu không phải dựa vào lời nói, mà phải dựa vào sự Giác ngộ. Vì thế, hy vọng mọi người có thể khai ngộ.

Chúng ta học Phật tu tâm trong vũ trụ này, sinh mệnh thực chất chính là tánh Không. Tính Không chính là phải tùy duyên, những thứ hư không thì hãy để nó thuận tự nhiên, bản thân tánh Không là một thực thể tự do. Lấy ví dụ đơn giản, không khí có phải là tánh Không không? Không khí muốn bay đến đâu là bay đến đó, đúng không? Phải hiểu rằng, sinh mệnh bắt đầu từ trạng thái vô minh tĩnh lặng, hỗn mang của tánh Không. Sinh mệnh của chúng ta được bắt đầu trong thế giới này, khởi sinh ý niệm từ trong ý thức tánh Không của vũ trụ. Khi bạn được sinh ra, từ từ lớn lên, bạn có ý thức và ý niệm của riêng mình, lúc này nó trở thành một loại Ý niệm. Khi bạn dần dần có ý niệm, bạn sẽ từ từ sinh ra những mưu cầu. Khi bạn mưu cầu một điều gì đó, bạn sẽ từ từ phát ra một loại Dục vọng. Và rồi dục vọng sẽ khiến "Ý thức sinh mệnh" của bạn, tức là não bộ của bạn, bước vào một thế giới nhân gian hệt như mộng ảo, vô tận, như một trò chơi.

Sư phụ sẽ lấy một ví dụ để giải thích đoạn vừa rồi. Từ lúc chúng ta được sinh ra, đó là lúc sinh mệnh vừa mới chớm nở, chúng ta đến với nhân gian mà chẳng biết gì cả. Chúng ta bắt đầu từ trạng thái hỗn mang, mơ hồ của tánh Không; vì chúng ta là "Không", nên chúng ta không biết gì hết. Sau đó bắt đầu sống trong vũ trụ này, trong quá trình sống, chúng ta dần dần bắt đầu có Ý thức, cảm nhận được tại sao mẹ lại đối xử tốt với đứa trẻ kia, mà không tốt với mình? Sau khi bắt đầu có ý thức, sẽ sinh ra Ý niệm: Tôi phải ghim thù nó, tôi phải đối xử tệ với nó, để mẹ đối xử với tôi tốt hơn. Đây đều là quá trình ý thức chuyển hóa thành ý niệm. Sau đó, khi ý thức đạt đến một mức độ dục vọng nhất định, nó sẽ liên tục đưa ra yêu cầu: Tôi muốn chuyện này phải diễn ra theo ý tôi, tôi muốn chuyện kia phải như thế này. Khi bản thân còn đang mơ hồ, lại bắt đầu nhận ra ai đối tốt với mình, ai không tốt với mình. "Chỉ cần ai đối tốt với tôi, tôi sẽ đối tốt lại". Loại ý niệm này khi phát ra sẽ thu hút dục vọng của đối phương, sau đó ý niệm của bạn càng trở nên mạnh mẽ hơn: "Tôi muốn chiếm hữu anh ta, tôi muốn có được anh ta, tôi muốn theo đuổi anh ta". Dục vọng bắt đầu xuất hiện. Vừa mưu cầu là phát sinh dục vọng. Sau đó, loại dục vọng này, giống như người mẹ đối với đứa con: "Tôi nhất định phải sở hữu đứa trẻ này, vì nó do tôi sinh ra, cho nên, tôi bắt buộc phải sở hữu nó". Khi loại ý thức này càng trở nên mãnh liệt, bạn sẽ bước vào "Ý thức sinh mệnh"; đối phương trong ý thức của họ cũng sẽ lưu lại ý thức của bạn. Đây chính là "tiềm thức”, tiềm thức của bạn luôn thôi thúc: "Anh ta là của mình, mình nhất định phải có được anh ta". Bạn bắt đầu không ngừng cho đi, nỗ lực, đối xử tốt với họ, và cuối cùng, bạn bị cuốn vào trò chơi nhân gian vô tận, tựa như mộng ảo. Bạn đối xử tốt với người ta, người ta đối xử tốt với bạn, vờn qua vờn lại, đến cuối cùng duyên cạn, duyên phận không còn, trò chơi của bạn kết thúc.

Phải hiểu rằng, đời người trải qua trong sự "Mỹ trung bất túc" (việc tốt thường không trọn vẹn) và "Hảo sự đa ma" (việc tốt thường nhiều gian nan). Một người học Phật chẳng phải cũng như vậy sao? Việc tốt thường nhiều trắc trở, mọi thứ chẳng mấy khi được vẹn toàn. Chỉ khi giấc mộng của chúng ta kết thúc, chúng ta mới nhìn thấy chân tướng thực sự lúc mộng tỉnh. Khi vô vàn những chuyện hồi ấu thơ trôi qua, bây giờ chúng ta mới biết tại sao hồi nhỏ mình lại làm sai chuyện này, chuyện kia; vì trải qua bao chuyện, tôi mới thấu hiểu bản chất và chân tướng của nó.

Thử nghĩ xem, chúng ta làm sai biết bao nhiêu chuyện, đều là vì chúng ta không hiểu bản chất và chân tướng của nó. Tại sao nhiều cặp vợ chồng lại ly hôn? Vì họ cảm thấy mình cho đi nhiều, đối phương cho đi ít: "Tôi đối xử với anh ấy tốt như vậy, anh ấy lại không tốt với tôi". Bởi vì không thấu hiểu chân tướng, thực ra tất cả đều do duyên phận mà thành. Cái duyên này, có là có, hết là hết, tại sao bạn cứ khăng khăng phải vượt qua nó, phải sở hữu nó, phải kiểm soát nó một cách tuyệt tình? Rốt cuộc, thứ bạn kiểm soát chỉ là một ảo ảnh. Hồi nhỏ chúng ta xem tivi, thấy một kẻ xấu, chúng ta ghét cay ghét đắng hắn, nắm chặt nắm đấm nhỏ đấm về phía tivi. Bố mẹ thấy vậy liền chuyển kênh; kênh vừa chuyển, kẻ xấu biến mất, đứa trẻ mỉm cười "He". Thực chất, thứ bạn đánh, thứ bạn dùng, mọi thứ của bạn, tất cả đều là ảo ảnh.

Tình cảm giữa con người với con người ngày nay, mối quan hệ giữa các vị, có phải giống hệt một giấc mộng không? Thử nghĩ xem, lúc nhỏ có bao nhiêu người bạn học thân thiết như người nhà; những tình cảm tốt đẹp ngày xưa, tại sao bây giờ các vị quên hết rồi? Những tình cảm tốt đẹp hiện tại rồi cũng sẽ trở thành quá khứ.

Phải tùy duyên, khí lượng phải lớn. Phải hiểu rằng vạn vật mỗi ngày đều "Biến hóa vô thường" (thay đổi không ngừng). Tại sao chúng ta cứ cố chấp bám víu vào sự việc này và cho rằng nó sẽ không bao giờ thay đổi?

19. Hoa mai kiêu ngạo trong tuyết, kiên nhẫn bất khuất

+

Phải hiểu rằng, hãy thông qua ý thức của bản thân để thấu hiểu chính mình, chứ đừng dùng đôi mắt để đánh giá bản thân. Thông qua ý thức của mình: "Ồ, mình làm sai rồi, sau này mình phải cẩn thận". Vậy là thấu hiểu bản thân rồi đúng không? "Tính mình là không bao giờ chịu thiệt, chịu thiệt một tí là lập tức nhảy dựng lên". Bạn hiểu bản thân rồi chứ? Đó là dùng tư duy để thấu hiểu chính mình, chứ không phải dựa vào hai con mắt. Mắt thường bị "Lục trần" (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) làm cho ô nhiễm, nên thường nhìn không rõ. Con người trong tư duy thường làm sai rất nhiều chuyện, vì vậy bắt buộc phải hiểu rõ tư duy của chính mình. Con người chúng ta phải dùng ý thức để thấu hiểu bản thân, để hiểu rõ bản thể của mình. Một khi đã muốn hiểu rõ bản thể, chúng ta phải thấu hiểu giá trị của sự gian khổ và việc chịu đựng gian khổ ở nhân gian. Khi một người nếm chút mùi đời đau khổ, họ sẽ nhận ra giá trị của bản thân. Người càng chịu đựng được gian khổ, càng hiểu rõ chính mình; người không biết chịu khổ, sẽ không thể thấu hiểu bản thân. Bởi vì khi con người chịu đựng đau khổ, trải qua gian truân, họ sẽ tôi luyện được ý chí, họ sẽ trở nên mạnh mẽ hơn. Người mạnh mẽ mới có thể chém gai xẻ góc mà tiến lên, mới có thể vượt qua muôn vàn khó khăn mà thẳng bước. Vì vậy, làm người, lúc đầu cái gì cũng không biết, sau khi trải qua chuyện rồi mới biết thân người là trân quý. Khi đang nắm giữ ở nhân gian chúng ta không biết trân trọng, một khi đánh mất rồi, chúng ta mới biết nó quý giá nhường nào.

Rất nhiều người theo Sư phụ học Pháp Môn Tâm Linh, học một thời gian rồi lại bỏ dở. Một khi không học nữa, người đó mới biết sự mất mát này thống khổ đến nhường nào. Đây là báu vật của nhân gian, đây là pháp bảo mà Quán Thế Âm Bồ Tát ban cho chúng ta, không thể để mất nó, nó là tài sản vô giá của chúng ta. Phải hiểu rằng, con người sau khi trải qua gian nan khốn khó, mới có thể nhìn thấy được nghị lực và trái tim kiên nhẫn bất khuất của chính mình. Sau khi nếm trải đủ đắng cay, tâm hồn một người mới trở nên mạnh mẽ; sau khi chịu bao dằn vặt, tâm họ mới có thể kiên cường bất khuất. Trong Thiền học có câu, "Tuyết hậu đắc mai" (Tuyết tan mới thấy hoa mai). Mọi người đều biết, hoa mai chỉ sau khi tuyết trắng bao phủ mới nở ra những cánh hoa rực rỡ nhất, mới trở thành nhành hoa đẹp nhất trong vườn bách hoa đang khoe sắc. Bởi vì đó là "Hoa mai kiêu ngạo trong tuyết". Con người sau khi nếm trải đau khổ, mới có thể trở thành một người kiên cường bất khuất, tràn đầy tự tin vào bản thân. Người không nếm mùi gian khổ, làm việc gì cũng sẽ không có niềm tin.

Hy vọng các vị hiểu rằng, nếm đủ đắng cay trong cái đắng cay, mới có thể ngộ Thiền mà thành Phật. Trong quá trình tu tâm, phải chịu rất nhiều gian khổ, các vị mới có thể thành đạo trong Thiền học. Các vị bây giờ không khổ sao? Người ta tan làm thì ở nhà nghỉ ngơi, các vị tan làm còn phải đến đây làm công đức; người ta tan làm đi chơi, đi xem phim, các vị vẫn phải ở nhà tụng kinh. Nhưng phải biết rằng, chịu những cái khổ này, các vị mới hiểu được đạo lý; nếm đủ bấy nhiêu đau khổ, các vị mới thấu hiểu thế nào là đạo lý nhân sinh. Hãy nghĩ xem, khi chúng ta đau khổ, nếu không có ai đến cứu vớt, không ai giúp đỡ, chúng ta sẽ khốn khổ đến mức nào. Nếu các vị tụng kinh rồi, các vị chịu khổ rồi, các vị mới biết được ai đang giúp mình – là Bồ Tát đang giúp các vị. Hy vọng mọi người hiểu được những đạo lý này.

Sư phụ nói với các vị, nếu một người cả đời suôn sẻ thuận lợi, người đó sẽ không có sức hấp dẫn từ nội hàm. Một người sống một đời bình lặng, sẽ không bao giờ có được cái khí chất hiên ngang lẫm liệt như "hoa mai ngạo nghễ trong tuyết". Họ giống như bông hoa trong nhà kính, vĩnh viễn nhợt nhạt và yếu ớt. Hoa trong nhà kính không thể lớn nổi, nhợt nhạt yếu ớt; trong khi đó, cây thông xanh trên núi cao, sau khi trải qua phong ba bão tuyết, nó mới có nền tảng vững vàng, mới có đủ độ lượng để chịu đựng. Giống như một số người khi bước ra làm công đức, bị người ta chửi bới, bị người ta vu khống, họ sẽ dần dần rèn luyện được sự độ lượng, khí lượng. Ngày xưa tại sao ở nhà hay cãi nhau? Vì chúng ta không có độ lượng. Bây giờ nếu quay ngược thời gian, có lẽ chúng ta sẽ không còn cãi vã với người thân, người yêu cũ nữa. Bởi vì chúng ta đã chịu được thử thách, chúng ta sẽ không để tâm mình vướng bận vào những chuyện phàm tục ở nhân gian. Đó chính là "Có tâm mà như vô tâm", đúng không? Bây giờ bảo các vị đi cãi nhau nữa, hết hơi để cãi rồi phải không? Bây giờ bảo cãi nhau, thấy chẳng có ý nghĩa gì nữa. Tụng kinh thôi, đều là nhân quả cả, trả nợ thôi, bỏ đi. Ở nhân gian có gì là thật, là giả đâu? Toàn là hư không, cứ chăm chỉ tụng kinh là tốt rồi, như vậy chẳng phải là thành công rồi sao? Có như vậy mới có thể trở thành người làm chủ vận mệnh của chính mình, điều này rất quan trọng.

Đôi khi, vì tiền tài, công danh và tình ái, chúng ta không buông bỏ được bản thân, đó là vì chúng ta chưa nhổ tận gốc rễ tâm tham trong lòng. Một người chỉ cần nói "Tôi không buông được", tức là bạn vẫn còn đang tham. Hôm nay tôi không buông được chuyện này, tức là tôi vẫn còn muốn có nó; hôm nay bạn không buông được đứa con này, tức là bạn vẫn đang đặt nhiều tính toán, kỳ vọng vào nó. Muốn buông thì phải buông, "Có buông" thì mới "Xuống được", không buông thì làm sao mà xuống nổi? Chúng ta phải buông bỏ, thì tâm tham trong lòng mới bị tẩy trừ. Lấy ví dụ đơn giản, người hàng xóm trúng xổ số, bạn mua cùng anh ta, nhưng số của bạn không trúng. Rất nhiều ngày sau đó có thể bạn vẫn không buông xuống được, bạn thắc mắc tại sao anh ta trúng mà mình lại không? Vậy thì, bạn đang có tâm tham.

Hành vi của đối phương chưa chạm đến giới hạn chịu đựng của bạn, nên bạn không thể buông bỏ. Tức là, bạn cảm thấy hành động của một người nào đó chưa vượt quá giới hạn mà bạn có thể chịu đựng, nên bạn không thể buông tay. Tại sao nhiều người khi yêu đến cuối cùng lại buông bỏ được? Vì đau đớn quá! Cô gái kia đối xử rất tệ với anh ta, nhưng anh ta vẫn không nỡ dứt bỏ, bởi vì nó chưa chạm đến giới hạn của anh ta. Giới hạn của anh ta là gì? Chỉ cần thấy cô ấy ra ngoài bị một người đàn ông khác sở hữu, anh ta chắc chắn sẽ không cần cô ấy nữa. Đó chính là giới hạn của anh ta. Cho nên, khi người ta mách anh ta cô gái này bên ngoài có người đàn ông khác, anh ta còn không tin. Dù rất đau đớn, anh ta vẫn kiên quyết không buông tay; đợi đến một ngày tận mắt chứng kiến: "À, hóa ra cô là loại người tồi tệ như thế", lúc đó mới buông bỏ. Phải hiểu rằng, nếu chưa đau đến mức buộc bản thân phải tìm cách giải thoát, bạn sẽ không bao giờ buông tay; khi đã đau đến mức phải buông tay, bạn sẽ được giải thoát. Hãy suy ngẫm thật kỹ những lời này.

Phải hiểu rằng, khi một chuyện trên đời khiến bạn đau đến mức không thể không buông, bạn sẽ tự khắc buông tay. Tại sao cứ phải đợi đến lúc đau đớn? Nếu không muốn bị đau, thì hãy buông tay sớm một chút, đúng không? Nhiều cha mẹ đối với con cái cũng vậy, cứ hết lần này đến lần khác làm tổn thương tình cảm cha mẹ; đến cuối cùng cha mẹ nói: "Tôi không cần đứa con này nữa, mặc xác nó, nó thích làm gì thì làm". Đó là vì đã đau đến giới hạn chịu đựng của họ rồi.

Buông bỏ thực chất chính là một sự Đốn ngộ. Buông xuống được rồi, sao cũng được, tạm thời gác nó qua một bên, đó chính là tôi đã khai ngộ rồi. Tôi vẫn là tôi của thuở ban đầu, đốn ngộ! Sở dĩ chúng ta đau khổ, là vì chúng ta có dục vọng; nếu không có dục vọng, chúng ta sẽ không đau khổ. Chúng ta ngày ngày cõng theo dục vọng mà sống, đương nhiên sẽ rất mệt mỏi. Có phải chúng ta ngày ngày đang cõng theo dục vọng không? Mỗi người đều đang oằn mình cõng dục vọng. Hôm nay tôi muốn có nhà, ngày mai tôi muốn có con trai, ngày mốt tôi muốn làm giám đốc, ngày kìa tôi muốn phát tài... Tất cả những thứ đó đều là dục vọng, chúng ta đều vác nó trên vai, chúng ta không buông xuống được, nên chúng ta mới buồn bã, mới đau khổ. Người khai ngộ, thử nghĩ xem, có gì to tát đâu chứ? Đừng vác nó theo nữa, chúng ta sẽ rất mệt. Chúng ta "Kiến vật hỷ vật" (Thấy đồ vật là sinh lòng ham thích). Dù bụng đã no căng, nhưng thấy trên bàn còn bánh kem, còn nhiều món mình thích ăn; rõ ràng bụng không chứa nổi nữa, nhưng thấy đồ ăn là muốn ăn, đó gọi là kiến vật hỷ vật. Chúng ta "Kiến nhân hỷ nhân" (Thấy người là sinh lòng ham thích). Thấy người này cũng thích, thấy người kia cũng ưng, đó chính là một loại tham dục. Phải hiểu rằng, mỗi người đến nhân gian đều với hai bàn tay trắng, tại sao lòng tham cầu đối với thế gian lại ngày càng nặng nề? Đây chính là "liệt căn tính" (căn tính hèn kém) của con người.

Bậc hành giả, nên biết mọi pháp thế gian đều như mộng huyễn, không đáng để chấp lấy. Hành giả, tức là người tu hành, nên biết rằng mọi pháp trên thế gian này, mọi thứ đều như mộng ảo, không đáng để chúng ta liều mạng, chấp trước theo đuổi. Người tại gia thường nói: "Mệnh lý hữu thời chung tu hữu, mệnh lý vô thời mạc cưỡng cầu" (Trong mệnh có thì cuối cùng sẽ có, trong mệnh không có thì đừng cưỡng cầu). Trong số mệnh bạn có thì chắc chắn sẽ có, trong số mệnh không có thì bạn đừng cố cưỡng cầu. Rất nhiều người nói với Đài trưởng: "Chúng con nộp hồ sơ xin visa cùng nhau, hồ sơ gần như giống hệt nhau, tại sao cậu ấy lấy được visa, còn con thì không?". Đài trưởng bảo họ: "Hai người các con có cùng một duyên phận, các con chắc chắn sẽ lấy được; nếu con cảm thấy duyên phận của mình không giống cậu ấy, thì kết quả của các con sẽ khác nhau. Con đợi vài hôm đi, Ta thấy duyên phận của hai con không khác biệt gì đâu". Qua vài ngày, visa chẳng phải cũng đến rồi sao? Thấy visa của người ta đến trước, đau buồn mất nửa ngày; qua vài hôm visa của mình cũng đến, đó chính là vì không tin vào cái duyên của chính mình, chỉ biết mù quáng chấp trước vào dục vọng và những thứ mình mong cầu.

20. Khắc phục chủ nghĩa "Tam Lợi" mới có thể nhìn rõ Chân ngã

+

Xã hội hiện nay, do giá trị quan và chủ nghĩa hiện thực của con người, nên sinh ra Chủ nghĩa Tam Lợi. Một người thích làm lợi cho bản thân, làm bất cứ chuyện gì cũng chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân, đó gọi là Lợi Kỷ; thứ hai, ở ngoài xã hội, làm người trước tiên phải học cách lập nghiệp, kiếm được nhiều tiền, gọi là Lợi Nhuận; thứ ba gọi là Lợi Quyền (Lợi ích quyền lực). Đây đều là những điều Sư phụ giảng cho các vị. Xã hội bây giờ, con người vì đạt được mục đích: thứ nhất, lợi kỷ; thứ hai, vì cầu lợi nhuận; thứ ba, lợi quyền. Suy cho cùng chẳng phải vì danh vì lợi sao? Do đó, những kẻ theo chủ nghĩa Tam Lợi sẽ bất chấp thủ đoạn tổn hại lợi ích của người khác để bản thân được hưởng lợi.

Thử nghĩ xem, tại sao người ta nói "Mười người buôn thì chín người gian"? Bởi vì để kiếm được tiền của người khác, họ sẽ làm tổn hại đến lợi ích của người ta. Để tranh giành quyền lực, họ lừa lọc, chèn ép, lừa đảo, chuyện gì cũng dám làm. Có tranh đấu sẽ có tổn thương, nên Sư phụ bảo các vị đừng đi cạnh tranh với người khác, cạnh tranh chắc chắn sẽ mang lại tổn thương. Cho dù hôm nay bạn đi thi sắc đẹp, bạn cũng sẽ gây tổn thương cho những đứa trẻ. Một đứa trẻ vốn rất trong sáng, nhưng tâm hồn sẽ bị ô nhiễm. Đừng đi cạnh tranh, bởi vì trong chủ nghĩa Tam Lợi, chúng ta đã đánh mất lòng từ bi, đánh mất sự thuần khiết. Vì một vài danh lợi ở nhân gian, chúng ta cũng đánh mất luôn tấm lòng bao dung, cho nên, chúng ta đã đánh mất bản tính của mình. Thử nghĩ xem, vì danh, vì lợi, vì quyền, chúng ta có phải đã đánh mất lòng từ bi không? Nghĩ xem, lúc chúng ta hận người khác, lấy đâu ra lòng từ bi? Nghĩ xem, vì một chút tiền bạc, chúng ta đã đánh mất bản tính bao dung, nguyên tính từ bi lương thiện của chính mình, chúng ta đã đánh mất Phật tính.

Trong Thiền học có câu, "Hữu tâm bất dụng tâm, hữu Phật bất cầu Phật, hữu pháp bất thuyết pháp" (Có tâm không dùng tâm, có Phật không cầu Phật, có pháp không thuyết pháp). Đây chính là "Cá trung Tam muội" (sự huyền diệu bên trong), là điểm tinh túy nhất mà chúng ta cần thấu hiểu. Sư phụ giải thích cho các vị nghe: Chúng ta "Có tâm không dùng tâm", đang có cái tâm gì vậy? Vì chúng ta đang có cái Phàm tâm (tâm phàm tục) của nhân gian, chúng ta phải quên nó đi, coi như tôi không có tâm. Vậy nên người ta mới nói "Vô tâm vô phế" (vô tư lự, không để bụng), người như vậy sẽ không có chướng ngại, không có phiền não. Thực chất đạo lý là như nhau. Thứ bạn có là Phàm tâm, thứ bạn có là tâm Sân hận, thứ bạn có là tâm Tham lam – đây là những cái tâm làm hại bạn. Cho nên bạn vừa "Có tâm", lại vừa "Không có tâm".

Hôm nay rất nhiều người học Phật các vị nói chuyện vẫn kiểu "Mày một câu, tao một câu", Sư phụ thấy rất không hay. Bạn tưởng một câu nói của người ta là đang mỉa mai bạn, bạn lập tức đâm thọc lại một câu, đó chính là bạn "Có tâm" rồi. Người học Phật, người khác nói gì, bạn đừng nghĩ người ta theo hướng xấu. Ví dụ, sư muội Học Đông đến, nếu có người trêu cô ấy: "Chà, dạo này phim em quay càng ngày càng đẹp nhỉ". Là người học Phật, tiểu sư muội đừng nên nghĩ nhiều: "Chắc họ đang mỉa mai mình, mình vừa vặn còn mấy bộ phim làm chưa xong". Thế là bạn đã nghĩ lệch rồi. Hãy đón nhận lời của người khác bằng Chính niệm, bạn nên cảm ơn: "Em nhất định sẽ nỗ lực hơn nữa". Nếu tiểu sư muội nghĩ: "Anh đang mỉa mai tôi đấy à, tôi quả thực không bằng các anh; thực ra các anh luyện tập một chút cũng quay được thôi". Nói thử xem, bạn có phải là "Có tâm" rồi không? Phải "Vô tâm" cơ! Người ta nói bạn, bạn đừng coi đó là lời xấu, hãy coi đó là lời tốt, đúng không? Căn bệnh của con người là người ta vừa nói một câu, bạn luôn nghĩ người ta theo hướng tồi tệ, thế thì bạn gọi là "hữu tâm". Loại tâm này thà không có còn hơn, thế nên Thiền học mới nói "Hữu tâm tự vô tâm" (Có tâm mà như không có tâm).

Câu thứ hai là "Hữu Phật bất cầu Phật" (Có Phật không cầu Phật). Hôm nay có Quán Thế Âm Bồ Tát ở đây, chúng ta không cầu Quán Thế Âm Bồ Tát, tức là bạn đang cầu Phật. Tại sao? Bởi vì bạn dùng chính vị Phật trong tâm mình để giải quyết những vấn đề ở nhân gian của bạn, vậy bạn còn cầu vị Phật nào nữa? "Cầu Phật bái Phật không bằng cầu chính mình". Có câu: "Cầu người không bằng cầu mình, cầu Phật không bằng cầu mình". Nhiều người khi xảy ra chuyện, chạy ngược chạy xuôi cầu cạnh lạy lục, người ta đều không giúp giải quyết được, cuối cùng vẫn phải tự mình giải quyết. Tình cảm của các vị có vấn đề, các vị đi tìm người này kể, tìm người kia lể, cuối cùng vẫn phải tự mình nghĩ cho thông, chuyện mới được giải quyết. Bạn kể lể nửa ngày, cuối cùng chẳng có một ai có thể giúp bạn giải quyết. "Cầu người không bằng cầu mình, giải chuông phải tìm người buộc chuông", đúng không? Làm người phải hiểu, hôm nay bạn muốn cầu Phật, bạn phải lôi cái Phật tính của mình ra, đó không phải là bạn đang cầu Phật, mà thực chất bạn đang cầu chính mình. Dùng trí tuệ của bản thân để giải quyết mọi rắc rối ở nhân gian, bạn chẳng phải là Phật sao? Bạn đánh mất trí tuệ, tức là bạn không có trí tuệ; hôm nay bạn không coi vị Phật trong tâm mình là Phật để mà cầu, thì trong tâm bạn "Vô Phật", vị Phật bạn cầu cũng là Phật Không, không kết nối được khí trường với Phật, nghe hiểu không? Bạn không biết Phật đang nghĩ gì, làm sao bạn cầu được Phật? Hôm nay hai vợ chồng cãi nhau, bạn không biết chồng mình đang nghĩ gì, làm sao bạn giao tiếp được với anh ta? Nếu bạn biết anh ta nghĩ gì, bạn chắc chắn sẽ giao tiếp được. Phàm một người có lòng tin thuyết phục người khác, bạn nhất định phải biết người đó đang nghĩ gì. Nếu bạn không hiểu đối phương, không biết họ đang nghĩ gì mà lại muốn đi thuyết phục họ, bạn chắc chắn sẽ rước lấy thất bại.

Câu thứ ba là "Hữu pháp bất thuyết pháp" (Có pháp không nói pháp). Nghĩa là gì? Là để tự bạn ngộ ra. Hôm nay có nhiều Phật pháp như vậy, nếu bạn cứ đọc lung tung rất nhiều sách Phật giáo, biết ngày nào bạn mới hiểu? Bạn ngày ngày nghe Phật pháp, biết ngày nào bạn mới minh ngộ? Có pháp không? Có chứ. Tôi không đi cầu pháp, tôi dựa vào chữ "Ngộ", tôi có thể ngộ ra rất nhiều điều. Nếu bạn ngày ngày cầu pháp: "Lạy Bồ Tát, xin cho con một phương pháp để giải quyết chuyện này đi", bạn sẽ không giải quyết được đâu. "Băng dày ba thước, đâu phải do cái lạnh của một ngày". Bởi vì trong đó có nhân duyên quả báo, có nhân duyên, lại có quả báo. Cho nên, khi bạn muốn đi cầu một cái pháp để giải quyết việc này, bạn chắc chắn sẽ "Bất đắc pháp" (không đạt được pháp). Việc đắc pháp thực sự của bạn là gì? Tôi không cầu, tôi chỉ tụng kinh tu tâm. Dần dần bạn sẽ hiểu: Tại sao anh ta lại đối xử tệ với mình như vậy? Tại sao mình lại gặp kiếp nạn này? Đó chính là Duyên, đó chính là Quả báo.

Phải hiểu rằng, bất luận trong việc gì, con người đều không thể tự hiểu rõ bản thân mình. Thực chất khi xử lý rất nhiều vấn đề, con người đều không hiểu rõ chính mình. Bạn có biết hôm nay lái xe bạn sẽ bóp còi không? Bạn có biết mình sẽ nổi cáu và nhận ra hôm nay mình làm sai chuyện không? Thử nghĩ xem, hồi trẻ bạn làm sai nhiều chuyện như thế, đó là do bạn hiểu rõ bản thân sao? Nếu bạn thấu hiểu bản thân, bạn đã không làm sai nhiều chuyện như vậy. Chính vì chúng ta không hiểu chính mình, chúng ta mới làm ra những chuyện đó.

Có người nói, tôi rất sợ những chuyện tình cảm; có người lại bảo, tôi không sợ những chuyện tình cảm, vì tôi có thể kiểm soát tốt bản thân. Thực ra bạn sai rồi. Chính vì trong chuyện tình cảm bạn không thể kiểm soát được bản thân, nên bạn mới làm sai, đúng không? Nhiều người trước khi xuất gia thề thốt: "Con xin dâng trái tim này cho Phật, biển cạn đá mòn tâm không đổi; con quyết vứt bỏ cuộc đời này, con nhất định phải tìm thấy bến bờ bên kia". Rồi sau đó lên chùa xuất gia. Rất nhiều ngôi sao cũng vậy, cạo đầu, lên núi; được một thời gian ngắn lại hoàn tục. Bởi vì họ không thấu hiểu bản thân. Các vị thử nghĩ xem, trong số các vị có mấy người thấu hiểu được chính mình? Nếu gặp chuyện, các vị sẽ làm gì? Các vị cứ tưởng mình chắc chắn sẽ làm thế này, nhưng cuối cùng tự mình lại thay đổi, lại làm sai.

Phải hiểu rằng, chúng ta không thấu hiểu bản thân. Nếu muốn hiểu rõ chính mình, trước tiên phải tách khỏi chính mình, hiểu không? Nếu bạn muốn biết mình là người có tính cách như thế nào, trước tiên bạn phải bình tĩnh bước ra khỏi bản thân, nhìn lại xem cả cuộc đời mình đã làm được những gì, việc nào đúng, việc nào sai? Bạn phải tách khỏi bản thân trước, bạn mới có thể nhìn rõ tố chất bản thể của mình. Rất nhiều người không biết tố chất của mình ra sao, giống như nhiều kẻ đang mở miệng chửi người, người ta bảo hắn đang chửi bậy, hắn còn hỏi ngược lại là hắn chửi lúc nào. Đạo lý là như vậy đấy. Hy vọng các vị phải suy nghĩ cho kỹ, các vị mới có thể nhìn rõ cá tính và bản chất của mình, các vị mới biết phải tu như thế nào.

Ngày xưa khi tọa thiền, ngồi xuống thiền định, đôi khi hồn phách sẽ từ từ rời khỏi nhục thân. Lúc này, bạn sẽ nhìn thấy rất nhiều khuyết điểm trên người mình. Sư phụ không khuyến khích các vị tu luyện theo cách này, vì lỡ hồn phách không về được thì rất rắc rối. Nhưng ngày xưa trên núi, rất nhiều người phát đại nguyện tu hành dám làm như vậy.

Hy vọng các vị phải thấu hiểu bản thân. Khi một người đang khoe khoang chính mình, thực chất là họ đang khoe khoang một loại hình tượng sinh ra từ trong ý thức của họ. Thứ họ khoe khoang không phải là bản thân họ, mà là cái hình tượng mà trong ý thức họ tưởng tượng ra là nó vĩ đại đến nhường nào. Con người thật của họ có gì tài ba đâu? Cái họ khoe khoang là sự vĩ đại do chính họ tưởng tượng ra. Một đứa trẻ cũng biết làm vậy: hôm nay bố mẹ vắng nhà, nó liền quét nhà, dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ. Bố mẹ vừa về, nó khoe ngay: "Mẹ nhìn xem, hôm nay nhà mình sạch chưa này! Toàn bộ là do con làm đấy". Khoe khoang bản thân, thực chất đứa trẻ này không phải đang khoe khoang chính nó, mà là đang khoe khoang việc nó đã làm được một chuyện vĩ đại trong ý thức của nó. Sư phụ hôm nay giảng cho các vị là triết học của Phật pháp, là những triết lý; yêu cầu các vị phải hiểu rằng thứ khoe khoang ra toàn là những thứ hư ảo, không phải là thứ tồn tại chân thực, nó chỉ là một hình tượng hư cấu – là "Bản ngã" (cái Tôi) mà thôi. Những gì các vị đạt được cũng là thứ hư ảo, các vị không đạt được thứ chân thật, bởi vì bản thân các vị chưa hề thấu hiểu chính mình. Con người các vị đều là hư cấu, việc các vị làm cũng là hư ảo, thứ các vị khoe khoang là Bản ngã. Bản ngã này không phải là "Chân ngã" (Cái Tôi chân thật), cho nên nó cũng là thứ hư ảo.

Đôi mắt chúng ta có thể nhìn thấy mọi thứ bên ngoài, nhưng chúng ta lại không thể nhìn thấy chính đôi mắt của mình. Trong số các vị, ai có thể nhìn thấy đôi mắt của chính mình? Các vị nhìn người khác thì rất rõ ràng, ai làm đúng, ai làm sai; nhưng các vị có thể nhìn thấy chính mình không? Cùng một đạo lý, con người chỉ biết nhìn vào khuyết điểm của người khác, mà không bao giờ nhìn thấy khuyết điểm của chính mình. Sinh ra hai con mắt chỉ biết nhìn người, không biết nhìn mình; không nhìn thấy mình, đây chính là sự hư ảo của con người. Đến nhìn còn không nhìn thấy mình, làm sao bạn có thể thấu hiểu bản thân? Quả thực không thể nhìn thấy đôi mắt của mình, còn Huệ nhãn thực sự lại tồn tại trong cái trạng thái vô hình đó. Nghĩa là sao? Hai con mắt này là để bạn nhìn sự vật ở nhân gian. Còn thứ thực sự giúp bạn nhìn thấy trái tim mình, nhìn thấy lương tâm mình, nhìn thấy bản tính, nhìn xem mình có Tâm Phật, có Tâm Từ bi hay không – không phải dùng hai con mắt thịt này để nhìn, mà phải dùng Huệ nhãn để nhìn. Tại sao Sư phụ khi xem Đồ đằng (Đồ đằng) lại phải nhắm mắt lại? Vì mở mắt ra là nhìn thấy thế giới hư không hiện thực; còn ngay lúc nhắm mắt lại, bạn mới nhìn thấy thế giới chân thực, bởi vì lúc đó bạn đang dùng Huệ nhãn để nhìn. Trên thế giới này, có người có "tặc nhãn" (mắt gian xảo, trộm cắp), có người có "sắc nhãn" (mắt dâm dục), có người mê tiền, có người mê quyền. Những thứ này đều dùng hai con mắt thịt nhìn ra, thực chất đều là hư không, mờ ảo, vô định, đều là giả dối.

21. Bao dung là trí tuệ

+

Ngày hôm nay trong tâm các vị, bất kể gặp chuyện gì cũng phải "Chính" (ngay thẳng, đúng đắn). Chúng ta không được thiên vị bất kỳ ai. Khi xử lý công việc, chúng ta luôn có sự khác biệt, bởi vì đứng ở góc độ nhân đạo, làm bất cứ chuyện gì cũng sinh ra tâm phân biệt. Lấy một ví dụ đơn giản, khi các vị nhìn ảnh một người, đôi khi thấy ai đó thuận mắt, các vị sẽ đối xử tốt với họ hơn một chút; thấy ai đó không thuận mắt, thì các vị lạnh nhạt hơn – đó cũng gọi là thiên lệch, gọi là "bất chính", hiểu không? Bởi vì tự thân con người sẽ sinh ra một loại ý niệm, và ý niệm này chuyên làm cho bạn đi chệch hướng. Khi suy nghĩ một vấn đề, ý niệm này nổi lên, bạn nhất định sẽ đi chệch hướng, đó chính là điều chúng ta thường gọi là "có sự sai khác", ở nhân gian gọi là "có sự khác biệt", người học Phật gọi là "tâm phân biệt".

Làm người cũng đừng "tùy ba trục lưu" (hùa theo số đông, trôi theo dòng nước). Rõ ràng biết mình làm sai mà vẫn tiếp tục làm, đó gọi là tùy ba trục lưu. Phải dám tự kiểm điểm bản thân, dám tự điều chỉnh chính mình. Con người trong đời sống hiện thực, chúng ta không thể vì muốn bảo vệ bản thân mà a dua theo những khuynh hướng xấu, vứt bỏ đi cái tâm tốt đẹp ban đầu của mình. "Vì ông ấy là sếp của tôi, vì ông ấy là người thân của tôi, nên tôi phải nghe theo ông ấy" – làm như vậy là không được. Phải hiểu rằng, trong đời sống thực tế, khi xử lý mọi việc, chúng ta không thể vứt bỏ đi cái Tâm tốt đẹp thuở ban đầu, phải kiên định với cái Tâm học Phật của mình, kiên định với tín niệm: Đã là người học Phật, tôi nhất định phải học những điều "Chính".

Tâm từ bi, tâm thuần phác, mãi mãi phải khắc ghi trong lòng. Chúng ta không tin tưởng người khác, nhưng lại muốn vô hạn đòi hỏi từ người khác – đó tuyệt đối là một phương thức sinh tồn không lành mạnh. Hôm nay Sư phụ giảng cho các vị là Thiền học, các vị không hiểu đúng không? Sư phụ chưa nói thẳng ra cốt lõi của Thiền học đâu. Thiền học chính là giúp con người thấu hiểu và rõ ràng mọi việc mình đang làm. Bởi vì con người có thể vô hạn đòi hỏi từ người khác, nhưng đồng thời lại không tin tưởng họ. Đây chính là một nguyên tắc và đạo lý sai lệch của con người, đây cũng chính là "tâm phân biệt" mà Sư phụ vừa nói, đúng không? Thử nghĩ xem, đi xin ý kiến của người ta, không ngừng thích nghe người ta khen ngợi, nhưng lại nghi ngờ người ta, không tin người ta, đúng không nào? Con người chúng ta bây giờ chẳng phải như vậy sao? Ví dụ đơn giản, chúng ta đi hỏi đường, trong đầu đã mường tượng ra "đường này chắc phải đi hướng này", khi người ta chỉ cho bạn: "Anh đi hướng này, rồi rẽ vào kia, rồi đi đường đó", bạn nghe họ giải thích, nhưng trong bụng lại nghĩ: "Ông này nói sai rồi, mình phải đi đường này mới đúng, không nên đi đường kia". Không tin người ta, nhưng lại cứ thích đi hỏi – đó chính là tâm thái của con người hiện đại.

Phải mở ra cảnh giới "Vô ngã", chính là Bao dung xã hội. Nếu bây giờ chúng ta mở rộng tấm lòng, không còn cái "Tôi" nữa; càng không có cái Tôi, càng có thể bao dung mọi người và bao dung xã hội này. Trong xã hội có rất nhiều chuyện chướng tai gai mắt, nhưng người học Phật đang nâng cao cảnh giới, bạn biết đây là nhân đạo. Ví dụ đơn giản, nếu bây giờ bạn xuống cõi quỷ xem thử, dưới đó rất nhiều tiểu quỷ đang làm chuyện xấu. Bạn biết chúng đều là quỷ, nên chúng mới làm việc xấu, bạn sẽ không làm ầm ĩ với chúng, vì cảnh giới của bạn đang ở nhân đạo. Còn bây giờ, bạn tu cảnh giới của mình lên Bồ Tát đạo, rồi bạn nhìn lại mọi thứ ở nhân gian, bạn sẽ không còn đau lòng, không còn buồn bã nữa, đúng không? Bởi vì bạn biết Bồ Tát đạo không như thế này. Cảnh giới của bạn nâng cao rồi, bạn có thể bao dung xã hội. Bởi vì xã hội hiện tại chính là không thấu tình đạt lý như thế, chính là lừa lọc lẫn nhau như thế, chính là hay làm trò bỉ ổi hại người sau lưng như thế. Xã hội đã như vậy rồi, bạn bắt buộc phải sinh ra một tâm thái bao dung. Bởi vì bạn cảm thấy những việc này không phải việc Bồ Tát làm, không phải việc chính nhân quân tử nên làm. Bạn nghĩ được như vậy, bạn có thể nhảy thoát ra khỏi xã hội để bao dung xã hội, nhảy thoát ra khỏi sự tranh đấu nhỏ nhen của cá nhân để bao dung đối phương. Người học Phật chính là phải như vậy.

Thế nên, đối với những sự tranh đấu mang tính tự nhiên này cũng phải buông bỏ. Hôm nay tôi không đấu đá với ai, tôi không tranh giành với ai, hôm nay tôi chỉ tập trung học Phật, mọi thứ tôi đều có thể buông bỏ. Thực chất, mọi thiện ác ở nhân gian đều chỉ là cái thiện và ác mang tính tạm thời, chúng chẳng qua chỉ là nền tảng để chúng ta lợi dụng nhằm tiến tới một con đường khác mà chúng ta đã chọn. Trước khi thi đại học, trước khi tốt nghiệp, các vị đã học rất nhiều thứ, hôm nay có dùng đến không? Nhiều người không cần dùng đến nữa rồi. Bất kỳ sự vật nào từng học, làm gì có cái gì dùng được cả đời? Nhưng vấn đề là khi bạn đi học, bạn bắt buộc phải dùng nó. Đó chính là cảnh giới mà con người bắt buộc phải có; cảnh giới này giúp bạn có thể buông bỏ mọi mối đe dọa của thế giới tự nhiên đối với bạn. Sự đe dọa của tự nhiên đối với con người là rất đáng sợ, mọi người có hiểu không?

Sự ngạo mạn "lấy bản thân làm trung tâm", cũng có thể coi là một thử thách đối với con người hiện đại. Mỗi người chúng ta đều tự coi mình là trung tâm, đều cho rằng mình là người đúng – thực chất đây là một bài kiểm tra đối với con người. Bố bảo bố đúng, mẹ bảo mẹ đúng, tiếp theo là cãi nhau; con cái bảo chúng đúng, bố mẹ bảo bố mẹ đúng, đây cũng là một thử thách. Đây chính là nền tảng tạo ra rắc rối, mâu thuẫn và phiền não. Vì vậy, con người không thể chỉ nghĩ đến mình. Sống trong xã hội này mà lấy bản thân làm chủ thể, bạn đã sai ngay từ nền tảng rồi. Thiền học gọi là "Vô ngã, vô nhân, vô tha" (Không có ta, không có người, không có kẻ khác). Đến bản thân mình còn chẳng có, lấy đâu ra người khác? Đến bản thân còn không có, lấy đâu ra "bạn"? Bản thân không có, thì bất kể là ai cũng đều không tồn tại, vì không có "Tôi", nên cũng chẳng tồn tại "bạn, tôi, người ấy". Tôi không còn, bạn không còn, anh ta cũng chẳng còn. Đây là thử thách thực tế khá đau đớn mà con người bắt buộc phải trải qua để nhận thức về nhân sinh. Con người không thể lấy cái "Tôi" làm trung tâm; rất nhiều chuyện chính vì đặt cái "Tôi" lên trên hết mới sinh ra mâu thuẫn, sinh ra phiền não.

Người học Thiền, không có điểm kết thúc. Người học Phật pháp thực chất không có sự kết thúc. Hôm nay bạn học, bạn đừng nói: "Tôi đã học hết tất cả rồi", điều đó là không thể. Không có điểm dừng, không có kết thúc, phải học mãi mãi. Bởi vì khi bạn nghĩ rằng mình đã giác ngộ, đó lại chính là khởi đầu cho một sự u mê mới của bạn. Bạn không hiểu, có rất nhiều việc bạn không thể hiểu được. Thử nghĩ xem, bất kể là tôn giáo phương Đông hay phương Tây, thực chất đều phải chịu rất nhiều gian khổ; Tôn giáo phương Tây cũng chịu nhiều khổ đau, Phật giáo phương Đông cũng chịu nhiều khổ cực. Chỉ với điều kiện tiền đề là "Khổ tu" (tu hành gian khổ), chúng ta mới có thể tu tâm, tu hành. Một con đường bằng phẳng, người ta chỉ có thể bước qua, bước qua rồi nhưng lại không đến được đích. Còn con đường gian khổ do tự mình mở ra, là con đường chưa ai từng đi, nó chắc chắn vô cùng chông gai; nhưng chỉ khi bước qua con đường đó, chúng ta mới có thể tìm thấy con đường mà sinh mệnh của chính mình nên có.

Chúng ta tu hành không phải là tu nghiệp. "Tu nghiệp" là gì? Là tu cho tốt sự nghiệp của mình, tu cho tốt thiện nghiệp của mình. Tu nghiệp là có mục tiêu: "Hôm nay sự nghiệp này thành công rồi, là kết thúc; hôm nay tôi tu sự nghiệp này, tôi tu tâm đạt được sở cầu rồi, thành công rồi; tôi làm rất nhiều công đức, tôi nhận được rồi, là kết thúc". Tu nghiệp có mục tiêu, có tiền đồ, có vị trí. Còn Tu hành là vô tận. Tức là bạn mãi mãi phải tu vi tiếp, nó hướng tới một mục tiêu vô biên vô hạn. Bởi vì cảnh giới của Bồ Tát là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, không có đỉnh cao nhất, không có kết thúc. Nó liên quan đến hướng đi nơi sâu thẳm của linh hồn, bởi vì người học Phật phải hiểu rằng, chúng ta tu là tu linh hồn. Nơi sâu thẳm của linh hồn chúng ta rốt cuộc sẽ đi về hướng nào, đó chính là tu hành.

Người học Phật phải Biết rõ không thể đạt được, nhưng vẫn phải sửa đổi bản thân. Sống ở nhân gian, chúng ta rõ ràng biết là rất khó, nhưng chúng ta vẫn phải làm rất nhiều việc tu hành, chúng ta phải khổ tu, phải nhẫn nhục tinh tấn. Mọi thứ đều rất khó; thử nghĩ xem, ngay cả việc giao tiếp với người khác cũng khó như vậy. Đôi khi là con cái của mình, nhưng mẹ lại không dám mở miệng mắng; đôi khi là vợ chồng, một câu nói rất đơn giản nhưng cả bố và mẹ đều không dám nói với đối phương; hỏi một vấn đề phải đắn đo suy nghĩ mãi, xem có gây ra phản ứng phụ gì không.

Con người rất khó sống, con người rất khó làm; ba chữ đảo qua đảo lại đều là khó: "Nhân nan tố, nan tố nhân, tố nhân nan" (Người khó làm, khó làm người, làm người khó). Làm người là điều khó nhất. Cho nên, học Phật làm người chính là để thoát khỏi khổ nạn của nhân sinh, thoát khỏi phiền não của nhân gian, bạn mới làm được người tốt. Hôm nay bạn không thay đổi bản thân, làm sao bạn có thể thành người được? Bởi vì con người có rất nhiều khuyết điểm. Do đó, bạn học Phật bao lâu, nhưng nếu bạn không biết sửa đổi khuyết điểm, không hiểu về giới luật, thì bạn đang thực hiện "Vô công đức hạnh" (hành vi không có công đức). Nghĩa là, bạn làm rất nhiều việc nhưng lại không mang lại công đức. Một người vì lòng ích kỷ, vì tu cái nghiệp của mình, vì cầu xin một chuyện nào đó, mặc dù ngày ngày làm những việc tốt, nhưng lại tu vì những mưu cầu cá nhân, thì người đó đang "Vô công đức hạnh". Tách bốn chữ này ra để giải thích: "Vô công đức hạnh", bạn làm bao nhiêu lâu mà lại là những hành vi không có công đức, từ đó sẽ dẫn đến "Vô sở đắc hạnh" (hành vi không thu được gì). Bạn làm mọi việc tu hành mà không có công đức, bạn sẽ chẳng nhận được gì cả, gọi là "Vô sở đắc hạnh".

22. Học Phật cầu "Chánh" là Đạo

+

Hôm nay vào khoảng hơn một giờ trưa, Sư phụ đã có một buổi khai thị qua điện thoại với các nhóm cộng tu từ hơn mười khu vực ở Bắc Mỹ. Sư phụ vô cùng cảm động. Họ ở tít Bắc Mỹ xa xôi nhưng lòng luôn hướng về Sư phụ, ai cũng đang rất nỗ lực tu hành Pháp Môn Tâm Linh, và tu rất tốt. Sư phụ cũng rất cảm khái, muốn hoằng dương Pháp Môn Tâm Linh, bắt buộc phải dựa vào sức mạnh của chúng sinh.

Hôm nay Sư phụ nói với mọi người, học Phật nói thì dễ, nhưng làm thì vô cùng khó. Một người học Phật, ngoài miệng nói: "Hôm nay tôi phải tu học cho đàng hoàng". Nhưng khi bắt tay vào hành động, họ sẽ thấy rất mệt mỏi, rất khó khăn, và thường xuyên cảm thấy lúng túng. Giống như chúng ta ngày nào cũng dặn lòng sáng phải dậy sớm; nhiều người bảo: "Sáng mai tôi sẽ dậy sớm", nhưng đến giờ, lại không dậy nổi.

Ngày xưa chúng ta hay nói một đứa trẻ ba tuổi cũng biết làm người tốt như thế nào. Bởi vì ngày xưa khi một đứa trẻ lên ba, nó đã biết phải yêu thương cha mẹ ra sao, biết chia một nửa đồ ăn cho người khác, biết làm hỏng của công thì phải đền... Đó đều là những đạo lý làm người cơ bản. Còn con người ngày nay, vì bị vật dục làm mờ mắt, nên rất khó làm được những điều đó. Vì thế, người thời nay đã đánh mất bản tính nguyên thủy nhất của chính mình, tâm của người hiện đại không còn thuần khiết như người xưa nữa. Càng lớn tuổi, học được càng nhiều thói đời tục tĩu, thì những thứ thuộc về bản tính thuần khiết thực sự lại càng ít đi.

Mọi người đều biết đến nhà thơ nổi tiếng Bạch Cư Dị. Năm xưa ông đi hỏi Đạo Thiền sư Ô Khòa – vị Thiền sư này bình thường toàn ngủ trên cây. Lúc bấy giờ Bạch Cư Dị đang làm quan lớn, ông đến bái phỏng Thiền sư Ô Khòa, muốn học chút thiền đạo của nhà Phật. Khi tìm thấy Thiền sư, ông nói: "Thưa Pháp sư, ngài ngày nào cũng ngủ trên cây, ngài không thấy nguy hiểm sao?".

Thiền sư Ô Khòa đáp: "Tôi ngày nào cũng ngủ trên cây chẳng thấy nguy hiểm chút nào. Tôi thấy các ngài mới là nguy hiểm, bởi vì các ngài 'Gần vua như gần cọp'. Các ngài bây giờ ở cạnh hoàng thượng, nói không chừng ngày nào đó mất mạng, tôi chẳng nguy hiểm gì sất".

Bạch Cư Dị bèn hỏi: "Thiền sư Ô Khòa, ngài có thể giảng cho tôi nghe về chân lý của việc học Phật, chân lý của Thiền học được không?".

Pháp sư liền nói với ông: "Thời nay, chuyện đứa trẻ ba tuổi làm được, thì ông lão tám mươi lại không làm được". Tức là, lương tâm và bản tính của người thời nay không bằng được cái "Sơ tâm" (tâm thuở ban đầu). Sơ tâm chính là tâm nguyên thủy. Cho nên, tâm hồn con người đều đang thay đổi, điều này khiến họ không thể có được một kết quả viên mãn.

Câu chuyện này cho thấy, phải hiểu được "không làm được" là gì. Cuối cùng, Thiền sư tặng Bạch Cư Dị tám chữ: "Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành". Đứa trẻ con cũng làm được, thế mà người lớn chúng ta lại làm không được. Mọi việc thiện chúng ta đều phải làm, mọi việc ác chúng ta đều không được làm. "Tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo" (Tự làm trong sạch ý niệm của mình, đó là lời chư Phật dạy). Nghĩa là, tự bản thân bạn gặp việc tốt đều phải làm, gặp việc xấu đều không được làm, hơn nữa ý thức của bạn phải vô cùng sạch sẽ: "Tôi không thể làm những chuyện như thế này". Có như vậy, bạn mới đắc được chân lý của Phật. Nếu một người trong tâm cả ngày chỉ nghĩ đến chuyện xấu, làm sao bạn đắc được chân lý của Phật Bồ Tát?

Một người học Phật, ma sẽ bám theo họ; một người có ma, Phật cũng sẽ ở trên người họ, là do Phật muốn cứu họ. Cho nên, Phật và ma đều tồn tại trên một con người ở những mức độ khác nhau. Nếu một người không biết có ma trên người mình, thì Phật tính của người đó sẽ ngày càng ít đi; nếu một người cảm nhận được có Phật trên người, thì ma chắc chắn sẽ tránh xa họ.

Sư phụ từng lấy một ví dụ: Trên một lối đi sạch sẽ, đột nhiên có rất nhiều rác do người khác vứt ra. Nếu bạn định đi nhặt rác lên, sẽ có một giọng nói văng vẳng bên tai: "Sẽ có người nhặt thôi, có lao công mà, không cần mày phải nhặt đâu". Bạn không nhặt nữa, tức là bạn đã bị con ma trên người mình khống chế. Bạn có khuyết điểm, bạn không tự sửa chữa, bạn nghĩ rằng đằng nào rồi cũng sẽ sửa được thôi, thì bạn đã bị ma khống chế rồi.

Các vị hiện tại trên người đang có khuyết điểm, bắt buộc phải sửa đổi ngay lập tức, kiên quyết sửa đổi, có như vậy các vị mới không bị ma khống chế. Nếu đến ngày hôm nay, các vị vẫn cứ "chứng nào tật nấy", ảo tưởng rằng "sau này rồi mình sẽ tốt lên thôi". Xin lỗi, sẽ không có "sau này" đâu!

Đời người chúng ta vốn dĩ đã có một cái Tâm Phật, cái Tâm Phật này chính là tấm lòng từ bi hiếm có. Một cái Tâm Phật hiếm có không thể để cho con ma trên người mình giẫm đạp. Muốn chiến thắng ác niệm, phải bắt đầu từ Sơ tâm. Sơ tâm là gì? Sơ tâm nghĩa là, tôi làm bất cứ việc gì, phát tâm phải thiện, phát tâm phải tốt. Bất kể làm việc gì, ngay từ lúc bắt đầu, tôi phải dùng bản tính và lương tâm lương thiện để làm. Đó gọi là Sơ tâm. Một người ngay cả khi về mặt tâm lý chưa thể lập tức chấp nhận một số lý luận hay những điều lương thiện, hoặc bạn chưa phân định được đâu là thiện đâu là ác, thì bạn cũng không được lùi bước, vẫn phải kiên trì tiến lên, đi tìm kiếm sự lương thiện và từ bi.

Những gì Sư phụ giảng cho các vị là triết lý nhân gian, là Phật pháp nhân gian, con người không được chùn bước. Con người chúng ta sống trên cõi nhân đạo này, phiền não trùng trùng, chướng ngại lớp lớp; con người không phân biệt được cái nào đúng cái nào sai, hơn nữa lại hay dùng những chướng ngại trong tâm mình để gạt bỏ đi những ý niệm lương thiện vốn có. Một người ngồi trên ghế xe buýt, thấy một cụ già lên xe, anh ta không muốn nhường ghế, bèn nghĩ cách giả vờ ngủ gật. Tại sao vậy? Anh ta viện cớ rằng sức khỏe mình cũng không tốt; anh ta có thể dùng đủ mọi ý niệm xấu để khống chế bản tính lương thiện đó. Bản tính lương thiện chính là phải lập tức đứng lên nhường ghế cho người già, không nói hai lời, không viện bất cứ lý do nào. Khi bạn viện ra được một lý do, hai lý do, ba lý do... thì thực chất, Sơ tâm của bạn, bản tính của bạn đã thay đổi mất rồi. Vì vậy, khi bản thân sinh ra ác niệm, phải lập tức sửa đổi. Khi bạn đứng lên nhường ghế, sẽ có rất nhiều ánh mắt tán dương nhìn bạn; bạn không đứng lên, sẽ có rất nhiều ánh mắt căm phẫn nhìn bạn. Người giả vờ ngủ thì mãi mãi không bao giờ gọi dậy được, bởi vì bạn đang giả vờ ngủ, bạn đang làm giả, việc bạn làm bị chi phối bởi một bản tính đã vấy bẩn.

Một người khi học Phật không tinh tấn, người đó sẽ vĩnh viễn không bao giờ tu học tốt được. Những triết lý, những đạo lý này giúp các vị hiểu rằng: Nếu con người không học tập, tâm chúng ta sẽ rất đau khổ; nếu con người không tiến bộ, tâm chúng ta sẽ rất khó chịu. Thử nghĩ xem, bản tính của chúng ta sẽ khiến chính chúng ta cảm thấy vô cùng áy náy, giống như hôm nay chúng ta làm sai một việc. Thực ra, dùng quan niệm của người thời nay thì hoàn toàn có thể coi như không có chuyện gì; nhưng dùng bản tính để soi xét vào bản chất của hành động đó, chính bạn sẽ thấy vô cùng day dứt. Người học Phật chúng ta bỗng dưng chửi thề, bạn có thấy cực kỳ khó chịu không? Bạn có thể ngụy biện rằng: "Thì nó cũng chửi tôi mà". Nhưng chính bản thân bạn sẽ vô cùng day dứt, bởi vì bạn là một người lương thiện, bởi vì bạn là người học Phật, bởi vì bạn là người đang tu tâm, nên bạn chắc chắn sẽ day dứt hơn những người khác. Điều này chứng tỏ bản tính của bạn vẫn còn tồn tại.

Sư phụ nói cho các vị biết, chúng ta là người, dựa vào bản thân con người thì rất khó học thành Phật. Mới nghe câu này, bạn sẽ nghĩ: "Vậy chúng ta là người, chúng ta rất khó học thành Phật, thế thì chúng ta không học nữa". Sư phụ nói cho các vị biết, càng khó khăn, càng phải học, bởi vì Phật là điều tốt đẹp, cho nên chúng ta phải học. Giống như ngày xưa chúng ta bảo học tập gương Lôi Phong vậy, vì Lôi Phong là người tốt, nên mọi người đều phải học anh ấy.

Học Phật phải có Trực tâm (Tâm ngay thẳng). Trực tâm là gì? Là hôm nay cái tâm này của tôi không quanh co uốn khúc, hôm nay cái tâm này của tôi rất chân thực. Tôi không nói dối, tôi không khoác lác, tôi không làm bất cứ việc xấu nào, đó gọi là trực tâm. Vì bạn sở hữu trực tâm, bạn mới có được Đạo tràng. Đạo tràng là gì? Đạo tràng chính là nơi chốn học Phật, là căn cứ học Phật. Thử nghĩ xem, hôm nay các vị đã có đạo tràng, nếu tâm các vị rất trong sạch, trong tâm các vị đã chứa đựng Bồ Tát, thì các vị đang sở hữu Đạo tràng của Phật. Nếu hôm nay các vị gặp bất cứ chuyện gì cũng nghĩ không thông, thấy đau khổ, thì các vị không có trực tâm, các vị không sở hữu đạo tràng. Cho nên, chúng ta học Phật bắt buộc phải dùng trực tâm, đó chính là chính khí, là sự cương trực và tấm lòng thuần phác. Các vị rốt cuộc có thuần phác không? Cho đến ngày hôm nay, các vị làm người có chính trực không? Các vị có vì người ta có quyền có thế mà hùa theo họ, từ bỏ cái Sơ tâm của mình, vứt bỏ đi lòng từ bi của mình không?

Phải có cái Đạo trực tiếp phù hợp với cái tâm chân thực, như thế mới trở thành cái "Chánh" được. Nghĩa là sao? Nghĩa là chúng ta làm người, làm bất cứ việc gì, phải sát với thực tế, tức là tùy duyên, là cái Tâm đi tìm chân lý, tâm mới có thể "Chánh" được. Chúng ta làm bất cứ việc gì, phải tìm một phương hướng đúng đắn. Ví dụ, hôm nay chúng ta xích mích với người này. Bạn thử nghĩ xem, nếu xét về sự việc này, chúng ta có thể xích mích; nhưng xét về một ý nghĩa nào đó, tôi không nên khó chịu với họ. Bởi vì họ không tu tâm, còn tôi đang tu tâm; bởi vì họ không làm người tốt, tôi đang làm người tốt. Vì bạn là người học Phật, bạn phải tha thứ cho người ta, bạn đang tìm kiếm một con đường Chánh Đạo để bản thân có một đạo tràng. Lần sau nếu gặp chuyện tương tự, điều đầu tiên bạn nghĩ đến là phải tha thứ cho người ta, trong tâm bạn sẽ có Đạo tràng của Phật. Phải hiểu rằng, phải mài giũa bản thân trong chính đạo tràng đó.

Tâm học Phật nếu dùng không chánh (không ngay thẳng), sẽ bị chệch hướng. Nếu hôm nay người học Phật chúng ta dùng tâm không ngay thẳng, lập tức sẽ đi lệch. Nghĩa là sao? Tâm phải Chánh. Ví dụ, ở nhà, khi nói chuyện với chồng, nếu bạn không dùng Chánh tâm (tâm ngay thẳng), thì bạn đang "thiên tâm" (thiên vị, tư lợi). Hôm nay bạn vì đứa con mà đi nói chuyện với giáo viên, nếu bạn không công bằng với đứa trẻ, bạn cũng gọi là thiên tâm. Bạn học Phật không ngay thẳng, chẳng phải là thiên tâm sao? Hãy nghĩ xem, đừng thiên vị ai; một khi bạn đã thiên vị, bạn sẽ không đắc được sự "Chánh", và sự lệch lạc sẽ luôn đeo bám bạn.

23. Tâm không thì Nhân không - Quả không

+

"Bồ Tát vì chúng sinh mà vào đường sinh tử", nghĩa là gì? Bồ Tát vì muốn cứu độ chúng sinh, Ngài mới xuống nhân gian. Bởi vì nhân gian chính là chốn sinh tử; vì bạn xuống nhân gian, chắc chắn có Sinh thì sẽ có Diệt, có Tử. Vì chúng sinh mà vào đường sinh tử, cho nên mới chịu cảnh sinh tử, Bồ Tát cũng sẽ bị sinh bệnh. Bồ Tát giáng trần, chính là vì chúng sinh mà đến. Chúng sinh ở cõi Sa Bà, từng phút từng giây đều đang kẹt giữa lằn ranh sinh tử. Các vị có phải đang từng phút từng giây kẹt giữa sinh tử không? Lấy ví dụ đơn giản, các vị đang đi bộ bình thường trên đường, chỉ cần một kẻ say rượu lái xe đâm sầm vào, có phải các vị có thể mất mạng chỉ trong vòng một giây không? Hắn ta say rồi! Phải hiểu rằng, từng phút từng giây đều là sinh tử.

Nếu Bồ Tát không có lòng Đại từ bi và tinh thần Đại vô úy, sao Ngài có thể xuống cái chốn sinh tử này để cứu các vị? Sư phụ đôi khi cũng nghĩ, Bồ Tát giáng trần, rồi cũng có ngày phải chết đi, nghĩ cũng thật bi đát. Ở trên trời tốt biết bao, chưa bao giờ có khái niệm về cái chết, thế mà xuống nhân gian lại phải chịu quả báo sinh tử, có khổ không? Quán Thế Âm Bồ Tát khi giáng trần làm Công chúa Diệu Thiện, Ngài biết sẽ có ngày phải ra đi; Tế Công Bồ Tát cũng biết có ngày Ngài phải viên tịch. Nhưng khi nhục thân từ giã cõi đời, ít nhiều cũng phải chịu đau đớn. Đức Thích Ca Mâu Ni Phật khi nhập diệt, cũng phải chịu cơn đau đầu ba ngày, cũng phải chịu quả báo của nhân gian. Thử nghĩ xem, tinh thần Đại vô úy và Đại trí tuệ của Bồ Tát, chúng sinh bình thường không bao giờ học theo được. Có ai chịu nhảy vào đống lửa cùng người khác không? Ngoại trừ Bồ Tát, chẳng có ai tự nguyện nhảy vào hố lửa, bước vào con đường sinh tử cả.

Thực chất, Sư phụ gọi nhân gian là "Con đường sinh tử". Ở nhân gian có hai chuyện lớn nhất: một là Sinh, hai là Tử. Trong quá trình sinh tử, mọi thứ khác đều không phải là chuyện lớn, hễ cái gì sẽ trôi qua thì nó không phải là chuyện lớn; chỉ có sống và chết mới là việc trọng đại. Vì vậy, nhân gian này chính là con đường sinh tử. Thế nhưng, chúng sinh vẫn cứ vì dăm ba cái danh lợi tạp nham mà tranh giành, đấu đá. Để làm gì chứ? Học Phật rồi mà vẫn cứ soi mói người này không tốt, người kia chẳng ra gì, vẫn còn phải tranh thủ làm việc này việc nọ, bạn làm thế chẳng phải đang hủy hoại huệ mạng của chính mình sao? Bạn học Phật nỗi gì? Chúng ta mơ mơ màng màng sinh ra, không thể mơ hồ mà ra đi được. Chúng ta đến nhân gian, việc lớn nhất cần giải quyết chính là "Liễu thoát sinh tử" (Giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi). Đến sinh tử bạn còn không giải thoát nổi, bạn xuống nhân gian làm gì?

Bồ Tát tu tâm là để thoát khỏi luân hồi sinh tử, tức là đóng kín cửa ải tử sinh. Bồ Tát chính là để phong ấn cái ải sinh tử này lại, cho nên Bồ Tát mới tìm cách siêu thoát Lục đạo, bước vào Tứ Thánh Đạo, đạt được sự giải thoát hoàn toàn. Nhưng hôm nay, Bồ Tát phát nguyện đời đời kiếp kiếp cứu độ chúng sinh. Vì là Bồ Tát, Ngài phát nguyện cứu vớt chúng sinh khỏi vòng nước sôi lửa bỏng. Cho nên, nhìn thấy nhân gian là cái hố lửa này, Bồ Tát cũng phải nhảy vào, vì Bồ Tát cứu người thì bắt buộc phải đến nhân gian. Bởi vì lính cứu hỏa muốn cứu người khỏi hố lửa, anh ta bắt buộc phải lao vào biển lửa. Đó chính là Phật, đó chính là Bồ Tát. Bồ Tát vì đã phát đại nguyện, Bồ Tát nói rằng sẽ đời đời kiếp kiếp cứu độ chúng sinh, nên Ngài sẵn lòng đồng hành cùng chúng sinh trải qua đời sống nhân gian kiếp kiếp đời đời. Xung quanh các vị đều có Bồ Tát, quanh các vị đều là Bồ Tát. Cho nên đừng đối xử tệ với những người bên cạnh mình. Đối xử tệ với người bên cạnh, thực chất là đang đối xử tệ với Bồ Tát, vì chúng sinh chính là Vị Phật Tương Lai. Vậy nên phải biết yêu thương chúng sinh.

Cuối cùng Sư phụ nói với các vị, Pháp thân phải "Như như bất động". "Như lai như khứ" (Đến tự nhiên, đi tự nhiên) – có đến sẽ có đi, vốn chẳng có gì đến, cũng chẳng có gì đi, mọi thứ đều "Như như" (vốn dĩ là thế), dường như có đến có đi. Nghĩa là, cơ thể và tâm của bạn đừng xao động. Tâm bất động thì Ý thanh tịnh, ý niệm sẽ rất sạch sẽ. Như lai như khứ, có đến có đi; tâm vọng động đến thì là như vậy, đi rồi cũng là như vậy. Lúc bạn đang mải suy nghĩ, cái tâm bay đến đó; nghĩ xong rồi, cái tâm lại chạy đi mất, các vị bảo có đúng không? Khi bạn lo lắng một chuyện: "Tôi lo nhất là...", một lát sau quên sạch sành sanh, cái tâm chẳng phải đã trôi đi rồi sao, đúng không? Vốn chẳng có gì đến, không đến không đi. Thực chất, cái tâm của bạn vốn dĩ không hề tồn tại, cái tâm này là thứ "Ngoại tâm" do bạn tự sinh ra. Thế nên, bạn chưa từng đến, lấy đâu ra việc bạn rời đi? Tâm cũng biến mất, mọi thứ đều "Như như", không đến không đi.

Cho nên người ta mới nói, suy nghĩ nửa ngày hóa ra uổng công. Nhiều người khi cãi nhau, sẽ nghĩ ngợi rất nhiều. Vợ chồng vừa cãi nhau, lập tức nghĩ: "Tôi hận chết anh ta, tôi không thể sống chung với anh ta nữa, tôi đi tìm người khác thôi, tôi phải làm việc này việc nọ...". Nghĩ ngợi nửa ngày, lúc đang đau khổ biết đâu còn gửi tin nhắn cho bạn trai cũ, bạn gái cũ, giãi bày tâm sự. Cuối cùng thì sao, mọi chuyện lại đâu vào đấy, tất cả đều tan biến. Các vị lúc yêu nhau có gặp tình huống này không? Lúc cãi nhau, có phải lập tức động não tính toán đủ trò không? Thật là vô cùng ngu muội. Mọi thứ đều là "Như như", không đến không đi.

Người học Phật quan trọng nhất là phải hiểu được "Hằng tại thường trụ". Sự vĩnh hằng nằm ở chỗ "thường trụ" (trụ lại không đổi). Người học Phật chúng ta muốn học Phật một cách vĩnh hằng, phải để cái Tâm thường trụ này "bất biến dị", tức là không được thay đổi. "Hôm nay tôi bắt đầu học Phật, ngày mai tôi cũng học Phật, ngày mốt tôi vẫn học Phật như thế, tôi mãi mãi học Phật như vậy", thế là bạn thành công.

"Như như bất động bất biến dị, pháp thân Phật bản chất như như". Thế nào gọi là Như như? Cái tâm này của bạn đang ở nhân gian, tuy bạn mang xác phàm, nhưng nhục thân của cái tâm này và chính cái tâm này đã tu thành Pháp thân rồi, đã là Bồ Tát rồi. Bạn rất thuận tự nhiên, mọi thứ của bạn đều rất tự nhiên, tự tại như như, hằng tại thường trụ, đúng không? Trong tâm các vị là Phật, thân thể các vị cũng giống Phật, thế thì các vị "Trí đức viên mãn", trí tuệ, đạo đức và phẩm hạnh của các vị chắc chắn sẽ viên mãn.

Bước khắp pháp giới, đã mang Phật thân, Phật ngôn, Phật tư duy. Lấy ví dụ, toàn bộ pháp giới, bạn có một sự "Siêu tư lượng" (Suy nghĩ siêu việt), "Vô thủy vô chung" (Không có bắt đầu, không có kết thúc), "Phi tu phi chứng" (Không tu không chứng). Siêu tư lượng nghĩa là gì? Vì bạn mang tư duy của Bồ Tát, bạn nhìn nhận vấn đề sâu sắc hơn, xa rộng hơn người thường, bạn nghĩ đến sự vô thủy vô chung. Thế giới này vốn dĩ không có khởi đầu, cũng chẳng có kết thúc – trong lòng vui biết mấy. Rất nhiều người chẳng phải vì nghĩ "Mình bị ung thư rồi, qua kiếp nạn này là chết thôi" nên lúc nào cũng đau khổ sao? Nếu tâm lượng của bạn giống như Bồ Tát, nghĩ rằng "Mình sẽ vĩnh viễn không bao giờ chết, đời đời kiếp kiếp, sau này mình còn đầu thai, sau này mình còn thế này thế kia..." – đương nhiên cảnh giới của kiểu suy nghĩ này rất thấp, nhưng "vô thủy vô chung" có nghĩa là nhìn xa, nghĩ rộng, sẽ giúp bạn thoát khỏi những khổ đau ở nhân gian.

"Phi tu phi chứng". Rất nhiều người nói: "Tôi muốn chứng ngộ Phật pháp". Thực ra người học Phật chứng ngộ tại Tâm: Tôi vốn dĩ là như vậy, bản tính của tôi là như vậy, tôi chính là một vị Phật đã chứng ngộ, tôi không cần ai phải công nhận tôi. Lấy một ví dụ đơn giản, bạn là giáo sư, đi trên đường, bạn có đeo cái bảng "Tôi là giáo sư" không? Bạn đâu cần ai phải chứng nhận, bạn vốn dĩ đã là giáo sư rồi. Rất nhiều kẻ huyênh hoang, sợ người ta coi thường, muốn khoe mình có tiền, đến cửa hàng nào cũng lôi ví ra đếm tiền, loại người này ai cũng khinh rẻ. Việc muốn thể hiện bản thân đã là minh chứng cho sự không khai ngộ. Bạn vốn dĩ là Bồ Tát, bạn vốn dĩ là Phật, tại sao bạn còn phải "Phi chứng phi tu phi ngộ" làm gì?

Tâm thực chất là không có sự biểu hiện. Rất nhiều người tưởng rằng Tâm có thể biểu hiện ra ngoài, thực chất Tâm bị "Ngoại tâm" thể hiện ra. Nội tâm không có hành động. Cho nên, người thực sự tu tâm tốt, tâm đã nhập Định rồi, thì không còn sự biểu hiện nữa. Tâm đã lắng lại rồi thì còn biểu hiện gì? Chiếc xe đang đỗ có di chuyển không? Vì vậy, tâm là không có sự biểu hiện, vốn dĩ nó đã là cái Tâm to lớn của vũ trụ rồi. Tâm của chúng ta to lớn như vũ trụ, căn bản không có sự biểu hiện; vũ trụ, bầu trời, tương lai, mọi thứ vẫn y nguyên như cũ, mọi thứ đều tự nhiên, có biểu hiện gì đâu? Sau đó, "Thuần tịnh bản tâm", trong sạch không có tâm phân biệt; "Minh không", hiểu rõ mọi thứ đều là hư không – đó mới là chân tâm của bạn.

Chân tâm thực sự chỉ chứa đựng sự "Tri thức", không có Nhân, cũng chẳng có Quả. Bởi vì "Ngoại tâm" của Tâm, là do sau khi bạn tiếp xúc với Lục trần, những thói hư tật xấu bạn nhiễm phải xâm nhập vào Ngoại tâm, khiến tâm bạn trở nên dơ bẩn, hạ lưu, vô liêm sỉ. Nhưng Nội tâm thực sự thì sao? Chỉ cần tỏa ra ánh sáng của Phật, quét sạch mọi thứ dơ bẩn của Ngoại tâm bên ngoài, không có Nhân, mới không có Quả.

Chúng ta vốn dĩ là như vậy, chúng ta căn bản không cần nhẫn nhục. Bạn đừng nghĩ ngợi gì cả, lấy đâu ra nhẫn nhục? Lại còn nói "Đoạn phiền não tận" (Chặt đứt mọi phiền não). Đại thừa Phật pháp chân chính nhắc đến việc chặt đứt mọi phiền não. Nhưng nếu bạn không có phiền não, bạn cần gì phải chặt đứt phiền não? Tôi không tạo ra phiền não, tôi lấy đâu ra phiền não? Không tăng cũng không giảm, cho nên, Tâm là hoàn toàn bình đẳng, là thanh tịnh, "Bất tăng bất giảm, bất cấu bất tịnh" – nói đến Tâm Kinh rồi đúng không? Phải hiểu rằng, Tâm chưa từng khởi, Tâm chưa từng gợn sóng, Tâm căn bản là bất động, vốn dĩ là Không, cho nên, "Nhân duyên câu diệt" (Nhân và Duyên đều tan biến), Nhân của bạn không còn, Duyên phận của bạn cũng không còn.

Thực chất, đời người đến cuối cùng cũng chỉ là một hiện tượng. Bạn sống ở nhân gian chỉ là một sự giả tạm, trống rỗng, giống như con rối gỗ, chẳng phải chỉ là đến lượn một vòng sao? Nếu tâm bạn bất động, bạn có thể làm được việc gì? Không cần làm việc gì cả, tôi chỉ muốn giải quyết vấn đề sinh tử – đó mới gọi là tu cao. Tôi xuống nhân gian, tôi chẳng cần gì, tôi muốn giải thoát sinh tử. Thế nên, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật cuối cùng đã ban cho nhân gian con đường giải thoát sinh tử, giúp mọi người tìm thấy Phật pháp, sáng lập ra Phật giáo. Sư phụ hy vọng các vị phải "Chân học", không dễ đâu! Học Phật là học Tâm, cho nên, Tâm pháp rất quan trọng.

Thấy các vị hôm nay nghe giảng rất vui, Sư phụ sẽ nói thêm một chút về Chân tướng của Nhân quả Luân hồi. Các vị chỉ biết Nhân quả là như thế nào, Luân hồi là như thế nào, thấy nó sợ ơi là sợ, nhưng các vị có biết chân tướng của nó ra sao không? Sư phụ sẽ giảng một chút về chân tướng cho các vị nghe. Trước hết, chân tướng của Nhân quả Luân hồi bắt nguồn từ những "Tạo tác" của Ngoại tâm (tạo tác tức là tạo nghiệp), cộng thêm sự "Vọng động" (động niệm bừa bãi) của Ngoại tâm. Không nên khởi niệm mà lại khởi niệm, ý niệm xuất hiện rồi, cái "Nhân" của bạn bắt đầu được tạo ra, hiểu không? Sự điên đảo, mộng tưởng, chấp trước, phiền não của Ngoại tâm bạn đã tạo ra một vấn đề rất nghiêm trọng, gây nên sự luân hồi của bạn, đó chính là Bất Chánh Kiến. Bởi vì bạn nhìn nhận mọi việc không đúng đắn, nên bạn mới tạo nghiệp, mọi người nghe hiểu không? Chúng ta giữ tâm không Vọng niệm. Đừng có những niệm tưởng viển vông, "Tình tính tự bản vô" (Tình tính tự nó vốn không). Bởi vì tâm bạn không có những ý niệm vọng tưởng, thì bản tính của bạn tự nhiên cũng vốn dĩ không có, gọi là tính tự bản vô. Cho nên, người học Phật nhất định phải "Minh" (Sáng suốt/Thấu hiểu), chứ không được "Vô minh". Bởi vì vô minh thì không thể giải thoát, bởi vì vô minh mới chính là đại mầm mống gây ra luân hồi cho bạn.

Cuối cùng, Sư phụ dạy các vị tám chữ có thể giúp siêu thoát phiền não, siêu thoát nhân quả luân hồi: "Kỷ sự kỷ minh, tự nhiên giải thoát" (Việc của mình mình phải tự hiểu rõ, tự nhiên sẽ được giải thoát). Nghĩa là, tôi làm bất cứ chuyện gì, tự bản thân tôi phải hiểu rõ mình làm đúng hay sai. Muốn giải thoát nhất định phải hiểu rõ mình đã làm những gì, đừng hồ đồ làm việc. Thế nên, nhân quả là tự làm tự chịu. Hy vọng mọi người sáng tỏ nhân quả, thấu hiểu đạo lý.

24. Điều phục những tập tính từ nhiều đời

+

Tu tâm nhất định phải học Thiền định. Không phải bảo các vị ngồi thiền (đả tọa); các vị chưa đủ tư cách để đả tọa đâu, đả tọa hồn phách rất dễ xuất khiếu. Bởi vì tâm bạn chưa tĩnh, bạn mới không tu được cái tâm này. Tâm không tĩnh, lấy đâu ra "Ngộ cảnh" – cảnh giới giác ngộ? Hy vọng các vị hiểu rằng, tâm thanh tịnh, mới có thể điều phục được cái tâm tán loạn. Người có thể tĩnh tâm lại, mới có thể điều phục được những cái tâm xấu xa của mình. Khi cái tâm tán loạn nổi lên: muốn báo thù, hận thù người ta, muốn tham của người ta, bạn phải nhanh chóng điều phục cái tâm của mình.

Phải hiểu, "Chế tâm nhất xứ" (Khống chế tâm ở một chỗ), chính là ép cái tâm của mình phục tùng tại một nơi. Khi tụng kinh, đôi khi tâm trí các vị rất rối bời, tạp niệm bay tứ tung, các vị phải đặt tâm mình vào chỗ "đang nghĩ về Quán Thế Âm Bồ Tát", lắng nghe giọng nói của chính mình để chuyên tâm tụng kinh, đó gọi là "chế tâm nhất xứ". Đặt tâm vào một chỗ, mới có thể chứng đắc được sự giác ngộ thực sự, mới có thể thực sự thấu hiểu bạn đã giác ngộ như thế nào. Giác ngộ thực sự là thu gọn tâm lại, bạn mới có thể "Giác", mới có thể "Ngộ". Tâm bạn không an định, làm sao bạn có cảm giác? Bạn không có cảm giác, làm sao bạn khai ngộ được? Hôm nay tất cả những người học Phật các vị, chẳng phải vì sau khi tụng kinh bái Phật, các vị "có cảm giác" rồi sao? Từ đó các vị mới có "Cảm ngộ" đấy thôi!

Trên người chúng ta có rất nhiều khuyết điểm. Chúng ta muốn chế phục tất cả những thứ đó, muốn chế phục mọi tập tính từ nhiều đời nhiều kiếp, nhất định phải biết "Điều phục". Phải dùng Phật pháp để điều phục nó, điều phục phải lấy Thiền định làm nền tảng. Nếu một người gặp bất cứ chuyện gì, lập tức nói: "Không sao đâu, để tôi nghĩ xem, tôi sẽ sắp xếp, tôi sẽ xử lý". Người này có cái Tâm điều phục, thực chất người này có Thiền định, tâm có thể tĩnh lại được. Nếu học trò chạy đến hốt hoảng nói: "Thưa thầy, bác sĩ nói thầy bị ung thư gan rồi". Thầy giáo rất điềm tĩnh: "Các em, đừng quá xúc động. Thầy là người lương thiện, người tốt sẽ có báo đáp tốt. Ngày mai thầy sẽ đi khám lại, đôi khi bác sĩ cũng nhầm lẫn, chuyện này vẫn hay xảy ra mà. Các em đừng quá căng thẳng, tấm lòng các em yêu thương thầy, thầy hiểu, thầy rất cảm ơn các em. Thầy là người tốt, sẽ không mắc căn bệnh này đâu". Vài ba câu đã làm cho đám trẻ cười vui vẻ vỗ tay. Vài hôm sau, thầy giáo đi khám lại thật, quả nhiên không có vấn đề gì. Thử nghĩ xem, người như thế chính là có Thiền định, tâm tĩnh tại vững vàng. Vì vậy, các vị bất luận gặp chuyện gì cũng đừng cuống cuồng lên. Các vị tin tưởng Bồ Tát, có Sư phụ ở đây, các vị sợ gì chứ?

Người thực sự muốn học Phật phải hiểu rằng, người học Phật sợ nhất là "Vô sở y xứ" (/Không nơi nương tựa). Người học Phật học đến cuối cùng, bạn không biết mình đang theo học vị Bồ Tát nào, bạn không biết phải tụng kinh văn gì, bạn không biết phải làm như thế nào. Thế chẳng phải là "vô sở y xứ" sao? Bạn học Phật kiểu gì vậy? Bạn học đi đâu rồi? Bởi vì bạn "Tự Phật bất quy" (Phật của bản thân không trở về). Người vô sở y xứ, học Phật đến giai đoạn cuối, vì "tự Phật bất quy" – tức là Phật bản tính của bạn chưa quay về, trong tâm bạn không có Phật, làm sao bạn học? Trên bàn thờ nhà bạn chẳng có Bồ Tát, bạn lạy vào đâu? Mọi người hiểu không? Bạn tương đương với việc không có chỗ nương tựa, rất khó để làm được "Tự quy y Phật" (Tự mình quy y nương tựa vào Phật). Vị Phật trong nhà bỏ đi mất rồi, bạn quy y Phật kiểu gì? Nhà bạn đến cái máy tính còn không có, bạn bảo bạn lên mạng kiểu gì?

Vì thế, năm xưa Đức Phật chỉ lên trời chỉ xuống đất nói: "Thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn" (Trên trời dưới đất, chỉ có 'Ta' là tôn quý nhất). Ý Ngài là bản thân Ngài đã Minh tâm kiến tánh, Ngài đã nhìn thấy Phật tánh, nên Ngài mới dám nói duy ngã độc tôn. Bởi vì chữ "Ngã" (Ta) mà Ngài nói chính là Phật, mà Phật thì đương nhiên là duy ngã độc tôn. Nhiều người không hiểu, học Phật bao lâu lại tưởng Bồ Tát kiêu ngạo. Vì Đức Phật đã làm chủ được vị Phật trong tâm mình, minh tâm kiến tánh, trong tâm thấu tỏ mọi bề, đã nhìn thấy bản tánh, đã nhìn thấy Phật tánh, nên Ngài mới dám nói duy ngã độc tôn. Vì Ngài đã nhận thức được Phật tánh của bản thân, đó là cái "Duy Ngã" của TÂM chứ không phải của Nhục thân (xác thịt).

Tại sao phải cho mọi người biết về Phật tánh? Phật tánh là ai? Rất đơn giản, Phật tánh chính là "Tôi", cái "Tôi" của bản thể. Học Phật tánh, chính là học chính mình, học cái lương tâm của mình, học cái tâm cốt lõi của mình. Cho nên, ánh sáng của Phật tự thân tỏa ra, là vì bạn đã sở hữu Phật tánh, bạn mới có thể phát ra ánh sáng của Phật, sự tự tại của Phật. Bạn nhìn xem, Phật tự tại biết bao, muốn đến đâu thì đến, muốn cứu ai thì cứu. Tế Công Bồ Tát ngày xưa đi khắp nơi, cứu người khắp chốn, đúng không?

"Kim tức tự ngộ" (Hôm nay lập tức tự khai ngộ). Nếu hôm nay các vị có thể biết rằng mình đang có ánh sáng của Phật, có sự tự tại của Phật, các vị sẽ lập tức khai ngộ. Phải hiểu rằng, Quy y Phật, Pháp, Tăng chính là Quy y Bậc Giác Giả (Người đã giác ngộ). Phật chính là Giác giả, Phật là đấng Giác giả viên mãn, là Đại Giác giả. Các vị đều có thể giác ngộ một chút xíu; các vị giác ngộ xong lại bắt đầu u mê; u mê rồi lại bắt đầu giác ngộ. Đến cuối cùng cứ mê mê giác giác, rồi bước vào Lục đạo luân hồi, đúng không? Còn Bồ Tát thì liên tục giác ngộ, sẽ không bao giờ có lúc u mê, người đó sẽ thoát khỏi Lục đạo, đó gọi là Phật. Sư phụ giải thích rất cặn kẽ cho các vị nghe đấy nhé.

Chúng ta phải hiểu, quy y chính là quy y vào cái Phật tánh mà bản thân mình phải tu tâm mới có được. Rất nhiều người hỏi: "Thưa Sư phụ, Phật tánh chẳng phải là thứ ai cũng có sẵn sao? Tại sao chúng ta lại khó tu tâm như vậy? Chẳng phải trong mỗi chúng ta đều có Phật tánh sao? Tại sao chúng ta vẫn không thể làm rõ được?". Đúng rồi, Phật tánh là do bạn tu mà ra. Mặc dù vốn dĩ đã sở hữu, nhưng trải qua nhiều đời nhiều kiếp nó đã bị vấy bẩn, bắt buộc phải từ từ tu lại, đào nó lên lần nữa, rửa sạch sẽ. Ví dụ, trong nhà bạn có một món bảo vật, bạn không biết, bạn phải đào nó lên, rửa sạch sẽ, nó mới trở thành báu vật của bạn. Vì vậy, "Tự ngộ" là rất quan trọng, Chánh pháp và Tự tánh đều là do tu mà có. Chánh pháp là gì? Phật pháp tôi đang học hiện tại là "Chánh", bản tính của chính tôi cũng là "Chánh". Tất cả đều do tu mà có; sau khi lau chùi sạch sẽ, món đồ này mới là của bạn.

Các vị phải Quy y Nội tâm Tam Bảo. Tại sao lại là nội tâm Tam Bảo? Là Tam Bảo "Phật - Pháp - Tăng" ở bên trong nội tâm, chứ không phải là Tam Bảo qua hành động bên ngoài, đúng không? Thấy Bồ Tát là lạy, đó là bề ngoài; tâm không động, thì vô ích, nội tâm phải điều tâm. "Nội điều tâm tính, ngoại kính chúng sinh" (Bên trong điều hòa tâm tính, bên ngoài kính trọng chúng sinh). Nghĩa là gì? Đối với bên trong, phải điều hòa thật tốt tâm tính của mình, điều chỉnh Tâm, Phật và Bản tánh của chính mình. Ngoại kính chúng sinh, nghĩa là coi những chúng sinh lớn tuổi như cha mẹ mình, coi những người nhỏ tuổi như con cái mình, phải tôn trọng họ. Bởi vì họ đều là Vị Phật Tương Lai. Làm được như vậy, trong ngoài đều tu thành, vì mỗi chúng sinh đều có Phật tánh, chỉ là bản thân họ chưa nhìn thấy bản tánh của mình mà thôi.

Thực chất, trong nhà mỗi người các vị đều có một "Tụ bảo bồn" (Chậu châu báu). Mỗi người các vị đều có trí tuệ, trong nhà mỗi người đều có một người rất thông minh, nhưng bạn không khai phá, thì bạn đã đánh mất bản tính và trí tuệ của đứa trẻ đó. Sư phụ thấy nhà rất nhiều người có những đứa con cực kỳ thông minh, các vị phải biết cách khơi gợi cho chúng. Từng có một nhà khoa học làm một thí nghiệm: Có một đứa trẻ nhà nghèo, ai cũng bảo nó ngu ngốc. Nhà khoa học nhận nuôi đứa trẻ đó, dùng phương pháp rất khoa học để nuôi dạy nó, khơi gợi ngộ tính của nó, khơi gợi tư duy khoa học của nó, khơi gợi cho nó biết cách hiểu những sự việc trên thế giới. Đứa trẻ này sau đó rất thông minh, và cũng trở thành một nhà khoa học. Cho nên, tuy cái gốc rễ tạo nên kinh điển, nhưng vì nghiệp chướng tích tụ từ nhiều đời, nên không nhìn rõ Phật tánh; nhưng điều đó không có nghĩa nó là "Gỗ mục không thể chạm trổ”, nghe hiểu không? Vì thế, các vị phải khai quật bản tánh của chính mình, lấy nó ra rửa sạch sẽ, đặt lại vào trong, nó sẽ lấp lánh tỏa sáng. Phải hiểu rằng, người học Phật phải tôn trọng Phật tánh bên trong của chính mình, từ đó điều lý Phật tâm từ bên trong, khơi gợi ra cái Tâm Phật đích thực.

Thực chất, đời người "Lai giả vô sở tòng lai, khứ giả vô sở chí" (Người đến chẳng biết từ đâu đến, người đi chẳng biết đi về đâu). Chúng ta đến với nhân gian, chúng ta không biết để làm gì, không biết từ đâu tới; chúng ta sắp ra đi, chúng ta cũng chẳng biết sẽ đi về đâu. Từ sự ngu si (Si) mới sinh ra chữ Tình (Ái). Một người khi yêu sẽ sinh bệnh, nhưng tình yêu hình thành như thế nào? Là do sự ngu si mà thành. Đi yêu một người, yêu sống yêu chết một người, có phải trước tiên là vì ngu si không? Là đờ đẫn, là u mê người ta, là tương tư đơn phương. Thế là xong, "Tòng si hữu ái, nhân tắc tật sinh" (Từ ngu si sinh ra tình ái, con người ắt sinh bệnh tật). Những điều này đều là Sư phụ giảng cho các vị đấy, thử xem trong sách có ai nói những lời này chưa? Nếu tình ái sinh ra từ sự ngu si, bạn chắc chắn sẽ sinh bệnh, nghe hiểu không? Con người vì ngu si, mới sinh ra tham ái; bạn ngốc nghếch, bạn mới tham ái. Rất nhiều người tham muốn trúng xổ số, muốn phát tài, chẳng phải bắt đầu từ sự ngu si sao? Ngày nào cũng đi mua vé số; rõ ràng theo đuổi không được một cô gái, vẫn liều mạng đi theo đuổi, nên theo đuổi không được thì bắt đầu sinh bệnh.

Người thực sự học Phật chúng ta, người có cảnh giới cao, "Chúng sinh hữu bệnh, ngô dã hữu bệnh" (Chúng sinh có bệnh, Ta cũng có bệnh). Bởi vì chúng sinh đều có lúc thân thể không khỏe, chúng sinh đều có phiền não; vì vậy, cơ thể tôi cũng không tốt, tôi cũng có phiền não – đây chính là Bồ Tát. "Dĩ nhất thiết chúng sinh bệnh, thị cố ngã bệnh" (Lấy bệnh của mọi chúng sinh, làm cái bệnh của chính mình). Nghĩa là, vì có bao nhiêu người đang chịu khổ, tôi cũng nhất định phải chịu khổ. Mọi người đều không chịu khổ nữa, Bồ Tát nhất định sẽ vui vẻ. Hôm nay chúng ta tổ chức một bữa tiệc, mọi người đều rất vui, bạn chắc chắn sẽ rất vui; mọi người đến dự tiệc không ai vui cả, bạn bảo làm sao bạn vui nổi? Cho nên, "nhất thiết chúng sinh bệnh, thị cố ngã bệnh", bởi vì mọi chúng sinh đều mắc cái bệnh Tham Ái – đây là lời Bồ Tát dạy. Bởi vì Bồ Tát nhìn thấy tất cả con người ở nhân gian đều mắc bệnh tham ái, cho nên, nếu "Nhất thiết chúng sinh đắc bất bệnh giả" (Mọi chúng sinh đều không có bệnh), nghĩa là nếu tất cả mọi người đều không có bệnh, đều không tham ái mọi thứ ở nhân gian, "Tắc ngô bệnh diệt" (Thì bệnh của ta cũng tiêu tan), thì bệnh của Bồ Tát cũng không còn. Bồ Tát chính là như vậy: Lấy tâm của chúng sinh, coi như tâm của chính mình; lấy cái Đức của chúng sinh, coi như cái Đức của chính mình; lấy cái bệnh của chúng sinh, coi như cái bệnh của chính mình. Đây chính là Bồ Tát. Dùng ngôn ngữ đời thường hiện đại để diễn đạt chính là: "Người thương Ta đau" – người ta bị thương, tôi cũng thấy vô cùng đau đớn, xót xa.

25. Tâm Phật hợp nhất, quy y tự tánh

+

Chúng ta phải hiểu rằng "Nhân tâm tề, Thái Sơn di" (Đồng tâm hiệp lực, dời non lấp biển). Một người và một người khác quan hệ càng ngày càng tốt, hai người này sẽ sinh ra một sức mạnh ngưng tụ hòa thuận. Hai vợ chồng quan hệ càng ngày càng tốt, sức mạnh sẽ bộc phát, tạo thành sự đoàn kết. Vì vậy, "Phật tử nhất tâm" – mỗi một Phật tử đều đồng lòng, "Phổ lợi hữu tình" (Mang lại lợi ích cho muôn loài hữu tình). Mọi người đều là người học Phật, mọi người cùng Sư phụ đi độ người. Thử nghĩ xem, sức mạnh cứu độ lớn đến nhường nào! Sư phụ độ người trong Đại pháp hội, các vị đứng ở cửa độ người còn nhanh hơn cả Sư phụ. Lúc người ta cầm sách, các vị chẳng phải đang giảng giải cho họ sao? Các vị vì muốn cứu người, mỗi người đều chung một lòng, đó chẳng phải là Phật tử nhất tâm, phổ lợi hữu tình chúng sinh sao? Cho nên, "Phật tử tề tâm, phổ độ chúng sinh" (Phật tử đồng lòng, phổ độ chúng sinh). Mọi người đều là Phật tử của Quán Thế Âm Bồ Tát, phổ độ chúng sinh chính là phải cứu vớt từng người một.

Chúng ta phải tích lũy phúc đức, Quảng khai thiện môn (Rộng mở cửa thiện). Mọi người thử nghĩ xem, trong lòng mỗi chúng ta đều có một mặt lương thiện, nhưng rất nhiều người chưa mở được cánh cửa lương thiện đó ra. Họ chưa mở cánh cửa của chính mình. Nói cách khác, người này có thể làm việc tốt, tại sao họ không làm? Vì họ đã đóng chặt cửa lại rồi, mọi người hiểu không? Người này có khả năng giúp đỡ người khác, nhưng lại không chịu giúp, họ đã đóng cửa thiện lại rồi. Bây giờ Sư phụ yêu cầu các vị phải mở rộng cánh cửa thiện lương đó ra.

Con người phải biết Tự quy y, chính mình quy y vào chính mình. Thực chất, tất cả Phật học đều là những thứ bên ngoài; nếu bạn không để nó thẩm thấu vào tâm, nó sẽ không thể đi vào trái tim bạn, bởi vì nó là sự giáo dục của Phật pháp, nằm ở bên ngoài. "Phật học" nghĩa là gì? Là nên học các tác phẩm của Phật, những loại quy củ luật lệ bên ngoài, những triết lý học Phật... những thứ này đều từ bên ngoài đến. Nhưng người thực sự có thể thọ dụng được Phật học lại chính là bạn. Bạn có thể lấy tất cả những Phật pháp, lý luận của Phật đã học được áp dụng một cách thực sự lên chính bản thân mình, đó chẳng phải là bạn đang tự đắc được Phật pháp sao? Rất nhiều người học Phật suốt ngày chỉ biết dựa dẫm vào người khác. Bạn muốn dựa vào ai? Dựa vào Sư phụ không được, dựa vào Bồ Tát cũng không xong; bạn bắt buộc phải dựa vào chính mình để học Phật cho đàng hoàng. Cuối cùng, người thành Phật, người thụ hưởng Phật pháp chính là bạn, chứ không phải người ngoài. Cuối cùng bạn có thể tu đến thành Phật, sự thụ hưởng Phật pháp của bạn chính là việc bạn có thể dùng Phật pháp để giải quyết mọi khó khăn trong cuộc đời mình, không phải là người ngoài, mà chính là bạn. Học Phật học được trí tuệ, có phải chính bạn đang thụ hưởng không? Học Phật học được cách không cãi vã, bởi vì bạn hiểu Phật lý Phật pháp, hiểu nhân duyên, có phải chính bạn đang thụ hưởng không? Học Phật đến mức bạn có thể dùng tư tưởng của Phật để cứu độ chúng sinh, sau này bạn có thể lên trời, đến thế giới Tây Phương Cực Lạc. Nghĩ mà xem, có phải chính bạn đang thụ hưởng không?

Dùng Phật pháp để thành tựu chính mình. Chúng ta phải dùng pháp của Phật để thành tựu chính mình, tức là để cho Tâm Phật của mình hiển lộ. Thực chất học Phật đến cuối cùng, bạn muốn thành tựu bản thân trở thành Phật, Tâm Phật của bạn cuối cùng sẽ xuất hiện. Tâm Phật là gì? Là vị Phật nguyên sơ nhất, cội nguồn nhất trong tâm bạn. Quy y chính là quy y vào Phật tính trên chính con người bạn. Sư phụ dùng lời lẽ đời thường để nói cho các vị nghe, Tam quy y Phật - Pháp - Tăng chính là quy y vào Phật tính trên người các vị.

Trong quá trình tu hành, con người không được buông thả bản thân, phải nghiêm khắc giám sát hành vi của chính mình. Hôm nay các vị là người học Phật, bắt buộc phải lấy cảnh giới của Phật Bồ Tát để yêu cầu nghiêm ngặt từng lời nói, từng hành động của bản thân. Mỗi một ý niệm, mỗi một cử chỉ đều phải giống Phật; nếu không, cái "Tự tánh Tam quy y" trên người bạn sẽ mất sạch. Phật - Pháp - Tăng; Phật chạy mất rồi, do bạn không tuân theo quy củ, giới luật của Phật để hành xử; làm việc ở nhân gian không như lý như pháp, thì Pháp cũng mất luôn; bản thân bạn không giống một người xuất gia, không giống một người học Phật, thì Tăng cũng chạy mất. Vì thế, phải kiểm soát nghiêm ngặt hành vi của mình.

Học Phật nhìn mọi việc đều có tính hai mặt. Sư phụ nói cho các vị nghe một chút triết học của Phật: Một người sau khi học Phật, họ nhìn bất cứ chuyện gì cũng sẽ thấy tính hai mặt, "Cương nhu tương tế" (Cứng mềm kết hợp). Cho nên, người thực sự học Phật thì "Cương" lại càng "Cương", "Cương" thì càng "Chính Cương", "Cương" hơn nữa, càng lúc càng kiên cường. Tôi kiên định tín niệm học Phật, tôi vĩnh viễn không bao giờ thay đổi; "Nhu", nhu tình tựa nước. Thấy chúng sinh chịu khổ, thấy chúng sinh cần được cứu vớt, đó là tâm từ bi, đây chính là "Nhu tâm" (tâm mềm mỏng). Cho nên, phải hiểu rằng: đối với giới luật của bản thân phải Cương (cứng rắn), đối với niềm tin học Phật của bản thân phải Cương; còn đối với việc khuyên nhủ những thói hư tật xấu của chúng sinh, đối với mọi việc thiện ở đời muốn làm, thì phải ngày càng Nhu (mềm mỏng).

Phải biết thỉnh cầu Quán Thế Âm Bồ Tát Gia trì căn bản. Các vị bình thường hay nói: "Xin Quán Thế Âm Bồ Tát gia trì". Gia trì cái gì? Thực chất, gia trì vào bề ngoài của sự việc đang cầu xin là không có tác dụng. Khi lạy Phật các vị cầu: "Xin Quán Thế Âm Bồ Tát phù hộ cho con giải quyết xong chuyện này!". Bồ Tát gia trì cho bạn, bạn giải quyết xong chuyện này rồi, nhưng chuyện tiếp theo của bạn lại ập đến. Phải thỉnh Quán Thế Âm Bồ Tát "Gia trì căn bản", tức là gia trì vào Phật tánh trong tâm bạn, để tự Phật tánh, Phật quang trên người bạn phát ra. Lúc đó bạn sẽ chẳng còn chuyện xui xẻo nào nữa, đúng không? Như vậy mới giải quyết được vấn đề tận gốc.

Ví dụ, két nước ô tô bị rò rỉ, bạn tìm kỹ sư đến sửa. Kỹ sư bịt lỗ rò lại, có phải ông ấy đã "gia trì" cho bạn rồi không? Nhưng một thời gian sau nó lại rò tiếp, vì két nước này chỗ nào cũng hỏng cả rồi. "Gia trì căn bản" chính là thay mới luôn cái két nước hỏng của bạn, nó còn rò rỉ nữa không? Cái kiểu "Dỡ vách đông vá tường tây" là vô tác dụng, phải gia trì căn bản! Cho nên, khi cầu Bồ Tát, chúng ta phải biết cách cầu: "Lạy Quán Thế Âm Bồ Tát, xin Ngài gia trì cho bổn căn của con, thủ hộ bổn căn, thành tựu bổn căn. Lạy Quán Thế Âm Bồ Tát, con nhất định sẽ thủ hộ bổn căn". Bổn căn là gì? Là Phật tính nguyên sơ nhất của chính bạn, Bồ Tát nghe là hiểu ngay. Bạn xin Bồ Tát gia trì bổn căn của mình, Bồ Tát sẽ hỏi: "Vậy con định làm thế nào?". Bạn phải nói: "Lạy Quán Thế Âm Bồ Tát, con nhất định sẽ bảo vệ bổn căn của con. Cố gắng gìn giữ Bản tính, không để nó chạy lung tung, không để nó lạc lối, cuối cùng thành tựu bổn căn, thành tựu Phật tính của con". Quán Thế Âm Bồ Tát gia trì cho bạn, bạn giữ vững được Phật tính này, cuối cùng bạn sẽ thành công, thành tựu được Phật tính của mình.

Người tu hành phải hiểu rõ, Sự tu tâm của mình đang đặt ở đâu, phải dùng tâm để khai ngộ, thấu tỏ. Phải hiểu rõ, bản thân bạn tu tâm là đang tu cái gì? Bạn đã tu cái tâm đi đến đâu rồi? Thử nghĩ xem, tâm của bạn hôm nay đang ở đâu? Các vị ngồi đây hôm nay, có mấy người tâm đang thực sự đặt ở Quan Âm Đường? Có những người ngồi đây, nhưng tâm hồn lại bay đi nơi khác mất rồi. Bạn tu tâm bao lâu, nhưng cái tâm bạn đang tu nằm ở đâu? Thực chất chính là Huệ mạng của bạn đang ở đâu, đúng không? Hồn của bạn đi đâu rồi? Ai xem "Tây Du Ký" đều biết, Tôn Ngộ Không hóa phép biến thành một ngôi nhà đứng yên ở đó, nhưng người thì đã bay đi mất, thực chất là hồn đã rời khỏi xác. Tu tâm là phải tu xem tâm mình đang ở đâu, phải "Dụng tâm", khai ngộ minh tâm, bạn mới có thể nhìn thấy Tâm Phật! Tâm phải hiểu đạo lý. Các vị học Phật bao lâu mà không hiểu đạo lý, làm sao các vị tu thành Phật tánh được?

Phải Quy y vào sự giác ngộ của Tự tánh. Nghĩa là, bạn đừng đi quy y cái này, quy y cái nọ; bạn phải quy y vào sự giác ngộ của tự tánh. Tức là sao? Là bản thân bạn phải cảm nhận được, bạn mới có thể giác ngộ. Chính bạn còn không có cảm giác, làm sao bạn giác ngộ được? Các vị bây giờ đang theo Sư phụ tu tâm, nếu sau khi tụng kinh, tự các vị cảm nhận được Bồ Tát đang cứu mình, có phải các vị mới giác ngộ không? Nếu Sư phụ bảo các vị học Phật tụng kinh rất linh nghiệm, nhưng các vị không tụng kinh, tự các vị không có "Giác" (cảm nhận), thì lấy đâu ra "Ngộ" (thấu hiểu)?

Sư phụ giảng Phật pháp cho các vị, đều là giảng theo chuỗi. Quy y vào Chính pháp mà bạn đang tu. Bạn tu càng "Chánh", bạn càng có thể "Tự quy y". Tại sao? Trong lòng bạn chưa bao giờ nghĩ đến điểm xấu của người khác, trong lòng bạn chưa bao giờ oán hận người khác; gặp chuyện gì, bạn đưa ra quyết định, bạn chắc chắn là đúng, phải không? Đó gọi là "Chánh quy y", Chánh pháp. Quy y vào mọi Giới luật của bản thân. Bạn phải quy y vào những giới luật mà chính bạn đã tự đặt ra cho mình, tức là luôn giữ giới. "Hôm nay tôi không được làm chuyện này, hôm nay tôi không được làm chuyện kia" – vậy là bạn đã tự giữ giới, đó là Giới luật của bản thân.

Hôm nay có một cô gái nhỏ đến đây, cô bé biết mình làm sai rất nhiều chuyện, cứ liên tục sám hối, liên tục khóc, người cứ run bần bật. Sư phụ đã giúp cô bé gia trì một chút, tiêu trừ được rất nhiều nghiệp chướng. Bởi vì cô bé hiểu, cô bé "Ngộ", thế nên, cô bé mới có thể sửa đổi. Phật pháp chính là từ những câu nói mở đầu phía trên dẫn dắt đến đây. Phật pháp là một lời dẫn; đến giai đoạn sau, chữ "Giác" rất quan trọng. Sau khi có cảm giác rồi, tự các vị sẽ biết thế nào là Chánh, thế nào là Tà. Khi đã biết "Chánh", con người sẽ trở nên sạch sẽ: "Mọi việc tôi làm đều là việc Chánh, thì con người tôi có phải cũng trở nên sạch sẽ rồi không?". Trong Phật pháp giới gọi là "Giác - Chánh - Tịnh" (Giác ngộ - Ngay thẳng - Thanh tịnh). Sư phụ có thể phân tích từng câu từng chữ cho các vị nghe, để các vị hiểu rằng: Làm người, chúng ta nên làm thế nào để đạt được sự Giác ngộ thực sự, một cái Tâm "Chánh", và một linh hồn thanh tịnh.

Chúng ta ngày nào cũng muốn đến thế giới Tây Phương Cực Lạc. Nhưng với cái bộ dạng của các vị bây giờ, có thể lên đó được không? Đã không Giác ngộ, lại không Chánh (ngay thẳng), lại còn Thiên tà (lệch lạc, tà vạy), hơn nữa lại chẳng sạch sẽ, thì làm sao đến được thế giới Tây Phương Cực Lạc? Muốn thành tựu Phật quả, thoát khỏi Lục đạo, phải dựa vào ai? Nhiều người nói "Dựa vào Bồ Tát". Thực ra là phải dựa vào chính các vị. Các vị muốn thành tựu Phật quả, thoát khỏi Lục đạo; bản thân các vị chính là Phật. Không dựa vào các vị thì dựa vào ai? Sư phụ có thể cứu các vị sao? Sư phụ cứu được bao nhiêu người?

Ngày xưa Sư phụ có một vị đệ tử. Sư phụ trước đây của cậu ấy pháp lực cũng rất thâm hậu, nhưng chỉ có sáu người đồ đệ. Vị Sư phụ đó ngày nào cũng đi bắt ma cho đồ đệ, hôm nay đấu với con ma này, đôi khi tự mình lại ốm một trận thập tử nhất sinh. Qua vài hôm tụng kinh khỏi bệnh, lại tiếp tục đi bắt ma giúp đồ đệ. Các đồ đệ đều rất yêu quý vị Sư phụ đó, đối xử với ông rất tốt. Cuối cùng, Sư phụ đó nhanh chóng qua đời.

Hôm nay Sư phụ dạy các vị là dùng chính Phật tánh của các vị để thành toàn cho vị Phật mà các vị đang mong cầu. Đây mới gọi là "Phật Phật tương ưng". Học Phật học đến "Cứu cánh". Cứu cánh là gì? Cứu cánh chính là chạm đến tận đáy, là hoàn toàn thấu hiểu rằng: Mọi thứ chính là bản thân mình. Hôm nay có một đệ tử gọi điện cho Sư phụ nói: "Thưa Sư phụ, con cảm thấy phiền não chính là do con tự chuốc lấy". Vậy tại sao con còn đi rước lấy phiền não? Cho nên, học Phật đến mức cứu cánh, sẽ hoàn toàn hiểu rõ: Mọi thứ chính là bản thân, chính là "Bản sơ". Bản sơ là gì? Là bản tính vốn có, gốc rễ, nguyên sơ nhất. Đây chính là "Tự quy y Phật" (Tự quy y vào vị Phật của chính mình).

Chúng ta không cần nói đến việc quy y vị Phật nào khác. Chúng ta đừng đi nói là quy y vị Bồ Tát này, quy y vị Sư phụ kia. Bạn chỉ cần làm thật tốt việc quy y vào vị Phật của chính mình; Tự tính Phật đang nằm ngay trên người bạn, bạn còn cần đi quy y người khác nữa sao?

26. Lý niệm theo đuổi cảnh giới nhân sinh cao hơn

+

Chúng ta phải thuận ứng tự nhiên, phải cảm ngộ chân lý của nhân sinh. Thuận ứng tự nhiên chính là thuận theo duyên phận: Duyên đến thì cứ làm, duyên hết cũng đừng buồn bã. Cảm ứng nhân sinh chính là cảm ngộ nhân sinh, phải thấu ngộ đạo lý của đời người: Ta đến nhân gian đời này rốt cuộc là để làm gì? Ta vì cái gì mà đến? Sống hoài sống phí, ăn uống vui chơi? Tiêu dao khoái lạc chốc lát? Tranh danh đoạt lợi? Đây đều không phải là ý nghĩa thực sự của đời người. Ý nghĩa thực sự của đời người là "Tá giả tu chân" (Mượn cái giả để tu cái thật). Chúng ta chỉ mượn cái cơ thể giả tạm này, để tu thành cái Phật tính chân thực của chính mình. Đó mới gọi là cảm ngộ nhân sinh, không ngừng dò dẫm mà tinh tấn, vừa dò dẫm, dù có chướng ngại vẫn liều mạng chạy về phía trước.

Lấy một ví dụ đơn giản, các vị đi bộ đi tìm người nhà đi lạc, lúc bị thất lạc các vị sẽ làm gì? Phía trước không có đèn pin, miệng thì gào thét, chân thì liều mạng chạy bộ, bản thân còn dễ ngã xuống vũng bùn, ngã đau điếng rồi lại phải bò dậy. Thực chất, đời người chúng ta chính là phải dò dẫm mà tiến bộ, dò dẫm mà tinh tấn, tức là không ngừng dốc sức liều mạng làm việc này. Khi đi tìm mẹ, bất cứ ai cũng đều rất "tinh tấn".

Giải mã giá trị chân thực của chân lý. Thế nào gọi là chân lý? Trên thế giới này, rất nhiều người có thể đưa ra vô vàn lý do, họ cho rằng đó chính là chân lý của họ; vậy cái "lý" thực sự là cái lý gì? Đó là Phật lý. Chân lý là gì? Bạn nắm vững Phật lý, tức là bạn đã nắm vững chân lý.

Sư phụ nói cho các vị biết, giá trị chân thực của chân lý là gì? Giá trị chính là phạm vi ứng dụng của nó. Ví dụ, món đồ này vô giá, bởi vì phạm vi của nó đang được đặt ở đó, phạm vi của nó là ai ai cũng biết, cho nên nó vô cùng quý giá, vì vậy giá trị rất quan trọng. Chúng ta nói trong thế giới vật chất ở nhân gian này, chúng ta đều bàn luận về "Quan điểm về giá trị”. Thực chất, giá trị quan là: bạn cho nó là tốt, thì nó là tốt; bạn cho nó là không tốt, thì nó là không tốt – đó là giá trị quan của cá nhân bạn, hiểu không? Bạn cho rằng nó đáng tiền, thì nó đáng tiền; bạn cho rằng nó không đáng tiền, thì nó không đáng tiền. Cho nên, chúng ta phải "Kiến chứng bản chất, ấn chứng Phật tính". Kiến chứng bản chất nghĩa là, bạn nhìn một người phải nhìn vào bản chất của họ, xem người này rốt cuộc có tốt không? Có phải là người học Phật không? Bạn xem xét bản chất của họ rốt cuộc có tốt hay không. Ấn chứng Phật tính, tức là sau khi nhìn thấy bản chất rồi, bạn mới biết người này rốt cuộc có Phật tính hay không, rốt cuộc có tốt hay không. Thế nên người ta mới nói: "Tôi đã nhìn thấu bản chất của anh, anh rất lương thiện, lương tâm anh rất tốt, anh là một người tốt".

Trong quá trình học Phật, chúng ta phải biết Tự do chi phối thời gian. Chỗ này lại nói đến chuyện ở nhân gian rồi. "Tự do chi phối thời gian" là nghĩa thế nào? Rất nhiều người nói: "Tôi không có thời gian, bởi vì chúng ta đang học Phật, chúng ta bây giờ là cư sĩ, chúng ta học Phật rất khó, không có thời gian". Thực chất, tự do chi phối thời gian, sự tự do nằm ở Tâm bạn. Tâm bạn lúc nào muốn tụng kinh, bạn có thể tụng kinh; tâm bạn lúc nào muốn bái Phật, bạn có thể bái Phật. Thời gian giống như nước trong miếng bọt biển vậy, đều có thể vắt ra được. Rất nhiều người sáu giờ đi làm, bốn giờ đã thức dậy tụng kinh rồi. Còn kẻ không muốn tụng kinh, thì có cho thêm bao nhiêu thời gian đi nữa, họ cũng sẽ không tụng.

Lấy một ví dụ đơn giản: Rõ ràng hôm nay có người rủ bạn đi hẹn hò, bạn lười, không muốn đi. Rõ ràng bạn có thời gian, nhưng bạn lại lấy cớ là không đi, đúng không? Nhưng nếu hôm nay bạn không có thời gian, lại có một chuyện rất quan trọng đối với bạn, dù chỉ có nửa tiếng đồng hồ, bạn cũng sẽ liều mạng lao đến, làm cho xong chuyện đó, rồi liều mạng lao về. Đó chính là bạn đang tự chi phối thời gian.

Thực chất, chi phối thời gian chính là bản thân của tài phú và trí tuệ. Các vị đều không hiểu. Nếu một người có thể khéo léo sử dụng thời gian để tụng kinh, khéo léo dùng thời gian làm việc thiện, các vị nói xem người này có trí tuệ không? Người này làm nhiều việc thiện như vậy, tụng nhiều kinh văn như vậy, các vị nói xem người này có tài phú không? Bản thân họ vốn dĩ đã sở hữu tài phú và trí tuệ rồi, nên họ mới có thể tự do chi phối thời gian. Hiện tại chúng ta dành toàn bộ thời gian cho việc cứu độ chúng sinh, bạn sở hữu trí tuệ rồi, bạn nhất định sẽ sở hữu tài phú. Bởi vì bạn biết rằng, sau này khi ra đi, chúng ta sẽ quay về trong vòng tay của Người mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát – đó chẳng phải là trí tuệ sao? Trong quá trình liều mạng tu tâm độ người, bạn đã đạt được những gì? Điều này chẳng lẽ không gọi là tài phú sao?

Vì vậy, tu hành là phải dùng sinh mệnh hữu hạn và chút thời gian ít ỏi còn lại để hoàn thành chân lý sinh mệnh vô hạn. Sư phụ giảng bài này cho các vị hôm nay là có đạo lý, hy vọng mọi người biết trân quý thời gian. Sư phụ phát hiện rất nhiều người vẫn đang lãng phí thời gian, ném sinh mệnh vào những không gian vô vị. Sư phụ hy vọng các vị phải chi phối thời gian thật tốt, hy vọng các vị phải dùng sinh mệnh hữu hạn và một chút thời gian ít ỏi còn lại để hoàn thành sinh mệnh vô hạn. Sinh mệnh vô hạn là gì? Là cái sinh mệnh vĩnh viễn không bao giờ chết đi, đó chính là "Huệ mạng" của chúng ta ở trên trời. Chân lý là gì? Là cái “Rễ” thực sự. Học Phật phải học tận gốc. Bạn học Phật bao lâu rồi, mà vẫn đi ngồi lê đôi mách, chê người này không tốt, nói người kia chẳng ra gì, chẳng phải bạn đang lãng phí huệ mạng của mình sao? Chẳng phải bạn đang lãng phí thời gian sao? Loại người này thật đáng thương.

Chúng ta phải bắt đầu từ Giới – Định – Tuệ để nhổ bỏ cái hạt giống tập tính Tham – Sân – Si trên người. Người học Phật ai cũng biết nói "Giới Định Tuệ", ai cũng biết nói "Tham Sân Si". Thực ra, sáu chữ này là bổ trợ cho nhau: Có Giới luật, có thể trừ bỏ lòng Tham của bạn; Tâm bạn tĩnh (Định) lại được, bạn sẽ không Hận (Sân); bạn mở mang Trí tuệ (Tuệ), bạn sẽ không ngu ngốc (Si) nữa. Vì vậy, ba độc Tham Sân Si có thể dùng Giới Định Tuệ để tiêu trừ; phải tiêu diệt cho bằng sạch cái mầm mống tập tính này. Cho nên, chúng ta phải chuyển hóa cái Tham Sân Si đã ăn sâu bén rễ đó.

Sư phụ nói với các vị, tại sao ba loại kịch độc Tham Sân Si lại đáng sợ đến vậy? Phật Bồ Tát giảng Pháp bao nhiêu năm, chưa bao giờ tách rời việc giảng về Tham Sân Si của các vị. Bởi vì trên cái "Căn tính" của chúng ta đã có sẵn ba loại độc này, đây là thứ chúng ta tích lũy từ nhiều đời nhiều kiếp, ăn sâu bén rễ. Đôi khi, công việc hằng ngày của chúng ta chỉ là để đổi lấy sự sinh tồn và duy trì cái thể xác này, có phải vậy không? Các vị ngày ngày đi làm chẳng phải là vì cơ thể này sao? Vì sự sinh tồn của thể xác và duy trì sự sống sao? Kiếm chút tiền, đó thuộc về sự theo đuổi vật chất. Vì thế, những người làm thuê đều thuộc dạng theo đuổi vật chất. Nói như vậy, rất nhiều người liền hiểu ra: Tại sao nhiều người lại nguyện ý xuất gia, vứt bỏ cả gia đình? Tại sao? Rất đơn giản, họ không muốn theo đuổi sự sinh tồn và duy trì thể xác nữa, họ chỉ muốn theo đuổi sự hưởng thụ cao cả và một nơi nương tựa về mặt tinh thần và huệ mạng.

Học Phật chính xác là theo đuổi sự tự do bất hủ về mặt tinh thần. "Bất hủ" chính là sự tự do vĩnh viễn không bao giờ hư hoại. Tinh thần tự do rồi, vui không? Muốn làm gì thì làm, có những chuyện không làm được thì nghĩ đến thôi cũng thấy vui rồi. Có người đến tự do suy nghĩ cũng không dám nghĩ, có không? Đó chẳng phải là không có tự do tinh thần sao? Bạn thử tự ngẫm lại xem, đi nghĩ về một chuyện bạn muốn làm, chuyện bạn đang nghĩ đâu có ai biết, thế mà bạn cũng không dám nghĩ; bạn nói xem bạn có tự do tinh thần không? Thể xác chắc chắn sẽ thối rữa và mục nát, nhưng tầng nấc tinh thần thì tồn tại vĩnh hằng. Một người nếu tinh thần luôn vui vẻ, họ sẽ không bao giờ hư mục, cho nên "tinh thần bất diệt" là rất quan trọng. Tại sao ca sĩ nhạc pop hát được vài năm rồi chẳng ai biết tới nữa; trong khi Quán Thế Âm Bồ Tát, Thích Ca Mâu Ni Phật và biết bao vị Bồ Tát khác, tại sao mấy nghìn năm qua mọi người vẫn đang lễ bái họ? Mọi người vẫn đang cung kính họ? Bởi vì các Ngài mới là sự “Đời đời bất diệt” đích thực, bất diệt không phải ở nhục thân, mà là linh hồn của các Ngài.

Nếu có thể hòa nhập việc tu hành vào đời sống, vào công việc của bạn, thì tu hành của bạn chính là Công đức. Tụng kinh có phải là công việc không? Sư phụ thấy những người ngồi tụng kinh ở đây rất tuyệt, giống như đang đi làm vậy; Sư phụ nhìn thấy bên trong có người tụng kinh là thấy vui. "Tu hành chính là công việc”, đó mới là Đại viên mãn. Nói cách khác, một người sống trên đời này, thời gian sinh hoạt và làm việc rất dài; mỗi ngày trừ 8 tiếng ngủ, còn lại 16 tiếng. Nếu bạn có thể liên tục tụng kinh trong 16 tiếng đó, vắt kiệt thời gian ra để tụng kinh, thì công việc của các vị chính là đại viên mãn.

Nếu toàn thế giới mọi người đều tụng kinh, thế giới sẽ không bị sa đọa thành một thế giới dung tục sáo rỗng, mà chắc chắn sẽ sáng tạo ra những lý niệm nhân sinh ở tầm cao mới. Sư phụ nói cho các vị biết, phải từ trong lý luận của Phật pháp mà thấu hiểu những điều này. Bởi vì nhân gian hiện tại là sáo rỗng. Bồ Tát dạy "Sắc tức thị không, không tức thị sắc"; thế giới vật chất này là hư không, đúng không? Đến cuối cùng chẳng có gì cả, chẳng phải là hư không sao? Vậy tại sao còn phải thêm hai chữ "dung tục"? Bởi vì con người sống trong thế giới này, trong cái thế giới vật chất này, trong cái chốn hồng trần này, bản thân họ đã vô cùng dung tục, chắc chắn không thể sáng tạo ra nhiều tư duy và cảnh giới ở tầm cao mới. Nói cách khác, nếu bạn ở trong đám người có đẳng cấp rất thấp, tối ngày khoe khoang bản thân, con người bạn sẽ vĩnh viễn không bao giờ nâng tầm được cảnh giới của chính mình. Chỉ cần một người cứ bô bô với các vị: "Tôi thế này, tôi thế nọ, tôi tài giỏi lắm", thì kẻ đó chắc chắn là kẻ bất tài. Người thực sự có tài là người không khoe khoang, thế mới gọi là người tài thật sự.

Xét ở nhân gian, rất nhiều người coi "Cảnh giới cao" như một thứ lý tưởng, đúng không? Chúng ta sống ở Úc, việc đổ xăng và rất nhiều chuyện khác không cần ai quản lý, bốt điện thoại công cộng luôn sạch sẽ. Nhưng ở một số nơi, cảnh giới con người không cao, dây điện thoại bị cắt trộm, đổ xăng xong rồi bỏ chạy. Đây chính là "Phần cứng" của thế giới vật chất thì tốt, nhưng "Phần mềm" trong đầu óc con người lại có vấn đề. Cảnh giới và tư duy của con người cũng giống như phần mềm máy tính vậy, phải liên tục cập nhật, điều chỉnh mới đúng.

27. Đi tìm sự tự do trong tâm

+

Hôm nay Sư phụ nói với các vị, một người học Phật khi chưa đạt đến mức "Cứu cánh viên mãn" (hoàn toàn viên mãn thấu đáo) – tức là vẫn chưa biết thực chất việc học Phật rốt cuộc là như thế nào, thì thực ra sự giác ngộ của chúng sinh đều sẽ có sai sót. Nói cách khác, nếu một người chưa thực sự khai ngộ, tất cả Phật pháp họ học đều có thể là "Hữu lậu" (có thiếu sót). Không ai có thể tuyên bố rằng toàn bộ Phật pháp họ học đều đúng 100%, không có chuyện đó đâu; trước khi đạt đến sự cứu cánh, chắc chắn sẽ có sự thiếu sót.

Một số người học được chút đạo tu hành đối nhân xử thế, liền bắt đầu xỉa xói, phê bình lẫn nhau. Họ phê bình nghe có vẻ rất có lý, nhưng đó là thứ đạo lý mang đầy thành kiến, đó gọi là đạo lệch lạc. Cho nên, những kẻ thường xuyên đi bình phẩm người khác tu học ra sao, kẻ đó chắc chắn đã đi chệch hướng. Trong quá trình học Phật, nếu chúng ta gặp phải hay nghe thấy những lời nói bất lợi cho việc học Phật của mình, bạn tuyệt đối đừng đi phản kích. Bởi vì kẻ thích công kích người khác, đến bản thân hắn cũng chẳng thể ngụy biện, lấp liếm cho lý lẽ của chính mình, nên luận điệu của hắn không đánh tự sụp. Trong quá trình học Phật, chúng ta nhất định phải hiểu rằng: khi chúng ta sống ở nhân gian chưa đạt đến mức cứu cánh viên mãn, thì sự giác ngộ của chúng ta sẽ có sai sót; mọi sự giác ngộ đều "Hữu lậu", tức là sự giác ngộ không hoàn toàn.

Hạt giống Thiện - Ác có nảy mầm hay không, thực chất phải xem vào "Người gieo hạt". Không làm chuyện tốt, thì hạt giống Thiện sẽ không nhúc nhích; không làm việc ác, thì hạt giống Ác sẽ nằm im. Nó giống như quá trình ngủ đông vậy, đó là hạt giống có duyên, duyên phận đến nó mới nảy mầm (chín muồi). Nói cách khác, hạt giống hôm nay bạn gieo xuống, nếu duyên phận là thiện duyên, thì rất nhanh nó sẽ đơm hoa kết trái; nếu bạn gieo ác duyên, nó cũng sẽ trổ quả. Nhưng nếu bạn thường xuyên làm việc tốt, không làm việc ác, thì cái Ác duyên của bạn sẽ không chín muồi. Nhưng điều đó không có nghĩa là cái ác chủng và ác nhân trên người bạn đã biến mất, nó vẫn còn đó, chỉ là nó đang "ngủ đông", nó không bị kích hoạt. Thực ra bạn đã chịu khổ rồi. Vì vậy, chúng ta không làm việc xấu, chỉ làm việc thiện, thực chất là đang đẩy nhanh sự chín muồi của thiện duyên. Nếu bạn không làm việc xấu, bạn thường xuyên làm việc tốt, thì thiện duyên của bạn sẽ nhanh chóng chín muồi, việc tốt sẽ nhanh chóng tìm đến bạn.

Khi một người cầu xin một việc gì đó, nếu bạn không làm chuyện xấu, việc bạn cầu xin sẽ nhanh chóng thành công. Hạt giống vẫn còn đó, nhân quả vẫn còn đó, bởi vì hạt giống này đã nằm trong ý thức của các vị, trong Bát thức điền (Ruộng thức thứ tám) của các vị. Chỉ cần hạt giống này còn, nhân quả của bạn sẽ không trốn chạy được đâu, vẫn sẽ có quả báo. Vì vậy, nếu bạn không cung cấp dưỡng chất, nước uống cho Ác quả, thì hạt giống này sẽ không lớn lên. Tức là, những chuyện sai trái trước đây bạn đã làm, bây giờ bạn không tiếp tục phạm sai lầm nữa, không đi kích hoạt hạt giống ác, thì nó vẫn sẽ không nảy mầm. Ác quả không lớn lên, thì tai nạn sẽ không chín muồi, cũng không phát sinh báo ứng. Rất nhiều người đã mang theo những thứ không tốt trong quá khứ trên người lúc ra đi bằng hình thức "Đới khinh nghiệp vãng sinh" (Mang theo nghiệp nhẹ vãng sinh). Do đó, bất kỳ sự việc gì thực chất đều do con người cố tình "đụng chạm" vào nó; chính vì bị tác động, nên quá trình sinh trưởng của nó mới bị đẩy nhanh.

Tiếp theo, Sư phụ sẽ nói với các vị một vấn đề rất quan trọng: Đã mang "Định nghiệp" (Nghiệp đã định sẵn) rồi, chúng ta có thể thay đổi được cái định nghiệp này không? Sư phụ nói thật lòng với các vị, định nghiệp rất khó thay đổi. Phật Bồ Tát sẽ không giúp các vị sửa đổi định nghiệp, cũng không thể sửa đổi được định nghiệp. Nhưng có thể để cho định nghiệp chuyển hóa thành Phật lực. Nghĩa là, những việc xấu xa các vị làm ngày hôm nay, Bồ Tát cũng không thể giúp các vị thay đổi được, các vị chắc chắn sẽ phải chịu quả báo. Nhưng sau khi các vị học Phật tu tâm, cái định nghiệp này sẽ chuyển biến. Sức mạnh gia trì của Phật Bồ Tát cộng thêm Tâm sám hối của chính các vị, thì định nghiệp của các vị sẽ từ từ thay đổi được. Đây không gọi là "Đổi" (Cải), mà gọi là "Chuyển" (Xoay chuyển). Chuyển có nghĩa là cái định nghiệp này vẫn còn, nhưng sẽ dần dần chuyển hóa thành một loại Thiện nghiệp khác.

Chúng ta phải biết dùng Từ bi nhãn (Đôi mắt từ bi) để nhìn chúng sinh. Các vị thử nhìn xem, đôi mắt của Bồ Tát không hề nhắm tịt, cũng không hề mở to. Mắt Bồ Tát là "Ba phần mở, bảy phần nhắm". Nghĩa là sao? Bởi vì Bồ Tát nhìn thấy nhân gian đều là cõi giả tạm. Tại sao lại phải mở to mắt ra làm gì? Nhiều kẻ trố mắt lên, là vì tưởng rằng những thứ này đều là thật: "Thật á?" – mắt có mở to không? "Tôi kể cho bạn nghe chuyện này nhé" - "Ồ, thật vậy sao?" – mắt bạn có mở to không? Bởi vì bạn tưởng đó là sự thật. Còn Bồ Tát nhìn nhân gian, Ngài biết chốn nhân gian này toàn là sự ảo mộng, không chân thực, là giả dối.

Thực ra, mỗi người đều có Phúc phận. Thế nào gọi là phúc phận? Người thường làm thiện nghiệp, thường sinh tâm từ bi, chắc chắn sẽ có phúc phận. Ngược lại, kẻ làm quá nhiều ác nghiệp, phúc phận sẽ bỏ bạn mà đi. Nếu bạn theo Quán Thế Âm Bồ Tát tu hành, bạn làm rất nhiều thiện nghiệp, phúc phận sẽ luôn ở bên bạn. Vậy cái Phúc này rốt cuộc từ đâu đến, tại sao có, tại sao mất? Thực chất Sư phụ đã nói rất rõ ràng rồi. Người không làm việc ác, phúc thường trực bên mình; kẻ hay làm việc ác, phúc sẽ bỏ bạn mà đi.

Chúng ta làm bất cứ việc gì cũng phải Như lý như pháp. Rất nhiều người hỏi: "Như lý như pháp là gì?". Bởi vì mỗi người đều có một tiêu chuẩn riêng. Mỗi người sau khi tu tâm, họ đều có một bộ đạo lý và chuẩn mực trong lòng; họ tưởng rằng việc làm này phù hợp với Phật lý. Nhưng cái chuẩn mực này là do HỌ tự đặt ra, chứ không phải dựa trên nền tảng Phật pháp. Vậy là họ lại đi lệch rồi. Nhiều người tự phụ: "Việc tôi làm là rất như lý như pháp". Vậy bạn lấy tiêu chuẩn nào để đo đếm? Bạn lấy cảnh giới của Phật Bồ Tát để đo lường tiêu chuẩn của mình, hay lấy hành vi cá nhân và tiêu chuẩn trải nghiệm học Phật tu tâm của chính bạn để đong đếm xem mình có như lý như pháp hay không? Giống như nhiều kẻ cãi nhau vậy, ai cũng khăng khăng mình có lý, thì hai người mới cãi nhau to được. Chúng ta phải lấy Phật lý làm tiêu chuẩn, tức là chúng ta phải có sức phán đoán. Sức phán đoán thực chất chính là khả năng thấu hiểu Phật pháp. Bạn hiểu Phật pháp càng sâu, sức phán đoán của bạn càng sắc bén. Cái Tâm nông cạn, không viên mãn, đầy sai sót của bạn sẽ dần dần bị loại bỏ. Bạn càng trong sạch, sức phán đoán của bạn càng chân thực, bạn sẽ càng không đánh mất Phật pháp.

Có những người đã hiến dâng hơn nửa cuộc đời cho những phiền não vô tận. Thử nghĩ xem, có phải chúng ta đang như vậy không? Một nửa sinh mệnh của chúng ta trôi qua trong vô vàn những phiền não triền miên. Con người luôn cho rằng, mỗi một sự việc trên đời đối với mình đều vô cùng cấp bách, rất căng thẳng, và luôn hy vọng trong khoảng thời gian hữu hạn, có thể làm được càng nhiều việc càng tốt – đó chính là con người, đó chính là tư duy của con người. Đồng thời, họ còn ôm ấp một tín niệm, cảm thấy rằng công việc thì chẳng thể làm ai chết vì mệt được. Nhân sinh là quá trình tích lũy danh dự, tiền tài, địa vị và thành tựu vô cùng phong phú một cách cực kỳ mù quáng, nhưng cái giá phải trả lại là sức khỏe, tình thân, tình bạn và tình yêu. Vì thế, con người cứ tưởng mình đã đạt được, nhưng lại không nhìn thấy những gì mình đã đánh mất. Không ai hiểu được rằng Ma bệnh có thể ập đến bất cứ lúc nào, đang đe dọa sinh mạng của bạn; vậy mà bạn vẫn tiếp tục gào thét bất chấp tính mạng, tiếp tục liều mạng theo đuổi, mưu cầu, cắn răng bước tiếp, chưa bao giờ tìm cách khám phá sự giải thoát tự nhiên từ nơi sâu thẳm của nội tâm.

Thực chất, trong tâm người học Phật có sự tự do; còn trong tâm kẻ không học Phật thì đầy rẫy những chướng ngại. Tại sao người học Phật lại có được sự tự do? Thử nghĩ xem, nếu là một người xuất gia, tư duy của họ tự do, hành vi của họ tự do, họ không vướng bận, "Vô quái ngại cố" (Không bị cản trở), đương nhiên là họ tự do. Còn các vị hiện tại đang bị gia đình níu chân, bị tiền đồ trói buộc, bị đủ mọi thứ ở nhân gian lôi kéo, làm sao các vị có thể hít thở được bầu không khí tự do? Tự do là do chính các vị lựa chọn. Rất nhiều kẻ đang bị trói gông, không có tự do, nhưng hắn vẫn tự mãn cho rằng mình rất tự do. Sự "giải thoát tự nhiên” chính là việc để Phật tính của bạn được tự do giải phóng một cách tự nhiên.

Con người hiện đại không biết dùng Phật tính để đưa tâm hồn mình vào trạng thái hoàn mỹ nhất, các vị không biết dùng Phật pháp để giữ tâm mình ở trạng thái hoàn thiện nhất. Bởi vì trái tim con người chỉ khi hợp nhất với trái tim của Bồ Tát, nó mới trở nên viên mãn nhất; những lúc khác đều không viên mãn. Tại sao? Bởi vì tâm tham, tâm hận, tâm si, tâm đố kỵ – tất cả những loại tâm này đều không viên mãn. Chỉ khi tâm bạn hợp nhất với tâm Phật Bồ Tát, bạn mới ở trạng thái hoàn mỹ. Bởi vì tâm Bồ Tát là tâm Từ bi. Khi một người biết từ bi với người khác, người này là hoàn mỹ; khi một người "Từ bi hỷ xả", người này là viên mãn nhất; khi một người không còn "Tham sân si", thì đó mới là một con người hoàn mỹ.

Vì vậy, “Nhìn lại bản thân mình”, chúng ta hãy tự soi lại mình. Trái tim và thể xác của chúng ta, chỉ có cách duy nhất là tiến gần đến Bồ Tát, tìm thấy bản tính của chính mình, phải luôn bảo vệ và gìn giữ bản chất cốt lõi của sinh mệnh.

Hôm nay Sư phụ giảng cho các vị những điều rất thâm sâu. Chất lượng của sinh mệnh là nhờ vào việc chúng ta giữ giới mà thành. Một người có phẩm chất tốt cũng là nhờ vào những giới luật do chính họ đặt ra. Bởi vì anh ta không nói dối, không uống rượu, không ăn chơi trác táng, không làm việc ác – người này chính là có được bản chất của sinh mệnh. Bản chất lương thiện và bản chất sinh mệnh của một người dựa vào sự gìn giữ và giữ giới của chính họ, nghe hiểu không? Phải hiểu những đạo lý này, phải rõ ý nghĩa và lý do tại sao chúng ta đang sống. Chúng ta sống để làm gì? Ý nghĩa của việc các vị giữ giới là gì? Chúng ta sống ở nhân gian là mượn cái nền tảng nhân gian này để tiến lên một cảnh giới cao hơn. Giống như bạn học cấp hai là để thi lên cấp ba, học cấp ba là để thi vào đại học vậy.

Cho nên, chúng ta phải tìm được Người Thầy Dẫn Đường Thực Sự của sinh mệnh. Sư phụ hỏi các vị, người thầy dẫn đường thực sự của sinh mệnh là ai? Đó chính là Phật tính của chính bạn. Dùng Phật tính và Bản tính để dẫn dắt cuộc sống của bạn, bạn đã có một người thầy rồi. Vì vậy, một người có lương tâm, cả đời họ sẽ không bao giờ làm sai trái; lương tâm chính là người thầy dẫn đường của họ.

28. Khống chế ý thức, thăng hoa sự giải thoát

+

Sư phụ thường xuyên nói với các vị về Ý thức thứ tám. Thực chất, Ý thức thứ bảy chính là "Ý căn" trong hệ thống ý niệm. Theo nguyên lý của Duy Thức tông – nói về nguyên lý duy nhất của ý thức – thì "A-lại-da thức" (Tàng thức) chính là Ý thức thứ tám. Vậy Ý thức thứ chín và Ý thức thứ mười, thực chất chính là Chân tri (sự thấu biết chân thực) của A-lại-da thức. Khi bạn đã làm chủ được Ý thức thứ tám, tức là bạn đã có thể chạm đến Phật lý ngay trong "Bát thức điền" (Ruộng Bát thức) của mình.

Sư phụ khuyên các vị, nếu đã lỡ làm việc xấu, tuyệt đối đừng để nó lưu lại. Nếu việc xấu đã xâm nhập vào Ý thức thứ tám của các vị, thì cái gốc (căn) của người này bắt đầu thối rữa rồi. Nằm ở Ý thức thứ sáu thì không sao; nên Phật mới dạy: Trong Bát thức điền chỉ được gieo những hạt giống tốt, không được gieo những hạt giống mục nát. Gieo mầm thiện, thì Ý căn vẫn còn cứu vãn được, có thể nhanh chóng chuyển hóa ý niệm; nhưng khi nó đã thực sự đi vào A-lại-da thức, thì thực chất là bạn đã nhìn thấy Phật tính rồi.

Hôm nay Sư phụ giảng cho các vị chính là Kiến chứng Phật tính. Kiến chứng Phật tính là gì? Bạn phải phát hiện ra Phật tính, bạn mới có thể kiến chứng Phật tính. Ví dụ, khi bạn đàm đạo về Phật pháp với người này, lúc đầu họ không chịu nghe; bạn từ từ phân tích lý luận cho họ. Chẳng hạn, bạn hỏi họ: "Anh nhìn thấy ô tô cán chết người, anh có cảm giác gì?". Họ đáp: "Tôi thấy rất đau xót, rất buồn". Vậy là trong ý thức của người này đã tồn tại Ý thức Phật rồi, tức là trong Ý căn của họ đã có những mầm mống lương thiện, hiểu không? Khi đó bạn có thể độ họ được.

Nhiều nhà tâm lý học đã nghiên cứu và chỉ ra rằng, ý thức của con người có thể chuyển hóa: Từ ý thức thứ sáu chuyển sang ý thức thứ bảy, rồi chuyển hóa vào ý thức thứ tám, đi sâu vào Bát thức điền. Nếu cái ý thức lương thiện này được gieo trồng tốt đẹp, thì ý thức thứ chín, thứ mười của bạn thực chất chính là Ý thức của Phật, Ý thức của Bồ Tát. Nếu vậy, não bộ của con người này chắc chắn rất sạch sẽ, chắc chắn sẽ không bao giờ làm sai chuyện gì. Giống như hồi nhỏ thầy cô hay bảo: "Các em phải động não đi, phải suy nghĩ cho sâu xa vào". Cái "Sâu" này chính là Ý thức, là Ý thức điền đấy, mọi người nghe hiểu không?

"Duy thức" chính là phải biết được cảnh giới tu hành của chính mình. Hôm nay với "Duy nhất đích ý thức" (Ý thức duy nhất), tôi phải biết rằng tôi cần tu hành, tôi tu hành là để thăng hoa. Phải biết được cảnh giới tu hành, những nấc thang tu hành của mình; bạn bắt buộc phải biết mình đang đứng ở nấc thang nào. Bạn đang sống ở nhân gian, bạn thử nghĩ xem, nếu bây giờ bạn đang ở Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, bạn sẽ thuộc Thượng đẳng Thượng phẩm, Thượng đẳng Trung phẩm hay Thượng đẳng Hạ phẩm? Hay Hạ đẳng Thượng phẩm, Hạ đẳng Trung phẩm, Hạ đẳng Hạ phẩm? Bạn phải biết việc học Phật hiện tại của mình đang ở giai đoạn sơ cấp, trung cấp hay cao cấp? Bạn bắt buộc phải thấu hiểu bản thân: Hiện tại bạn là người tốt hay kẻ xấu? Gặp những chuyện này, bạn sẽ xử lý thế nào? Đó chính là ý thức.

Phải sửa đổi tập tính, phải trừ bỏ những phần chưa thanh tịnh của Thân – Khẩu – Ý. Có như vậy, ý thức của bạn mới bước lên một nấc thang mới; nếu không, bạn vẫn cứ mãi luân hồi trong Lục đạo. Cắm mặt tu nửa ngày, vẫn cứ chạy loanh quanh trong Lục đạo không thoát ra được, thế chẳng phải là uổng công tu hành sao? Lái một chiếc xe nhưng không biết đường, cứ đi vòng vèo vòng vèo, cuối cùng vẫn về lại chỗ cũ, hiểu chưa? Bắt buộc phải biết mình đang đi con đường nào, đang bước lên nấc thang nào. Phải biết rằng: Phiền não phải chặt đứt, sinh tử phải giải thoát. Chúng ta sống ở nhân gian là để chặt đứt phiền não, chết đi là để giải thoát sinh tử; rời khỏi Lục đạo mới có thể tu ra ánh sáng. Bởi vì trong Lục đạo là vòng luân hồi, nên nó vô cùng đau khổ, không bao giờ có ánh sáng. Chỉ khi tu thoát khỏi Lục đạo, mới có được ánh sáng; có ánh sáng rồi, Tâm mới bừng sáng – cho nên gọi là "Quang Minh Tâm". Phát Tâm Bồ Đề, chính là để đi hóa độ muôn loài chúng sinh. Hôm nay chúng ta phát Tâm Bồ Đề, chính là để đi độ hóa hết thảy chúng sinh.

Sư phụ dặn các vị, trong quá trình học Phật có ba điểm vô cùng quan trọng:

Thứ nhất, phải học cách khai ngộ, học cách giác ngộ. Nhiều người nói Giác ngộ là nhờ "Ngộ" mà ra. Thực tế, học Phật thật sự có thể "Học" ra được ngộ tính, "Cảm nhận" ra được ngộ tính. Cái "Ngộ" này từ đâu đến? Là do bạn Học mà ra, là do bạn Ngộ mà ra. Khai ngộ là phải đi "Ngộ", học cách Giác ngộ là bạn phải đi "Học".

Thứ hai, bắt buộc phải đi trên con đường Chánh Pháp. Sư phụ đã nói rồi, "Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố". Mọi thứ đều là đến cũng hư không, đi cũng rỗng không, đều là không có thật. Thử nghĩ xem, bạn còn lại được những gì? Đây gọi là thấu hiểu cái "Chánh" (Ngay thẳng/Đúng đắn). Bất luận thế nào cũng phải xóa bỏ sự u mê của bản thân đối với nhân gian, phải trừ khử Tham Sân Si, người này mới dễ trở nên "Chánh". Lấy ví dụ, hôm nay bạn không "Chánh" rồi, bạn đi độ người, bạn thấy cô này, bạn rất thích, bạn đi độ cô ấy. Độ người vốn dĩ là một Pháp rất "Chánh" (Chánh pháp); nhưng vì bạn thích cô ấy, bạn thấy cô ấy trẻ đẹp, bạn thích nên bạn mới độ cô ấy, thực chất bạn đã "Bất chánh" rồi. Vậy tại sao dựa vào chữ "Chánh" lại đánh giá được bạn đang bất chánh? Trước tiên, bạn thử nghĩ xem có phải mình đang Tham không? Vì bạn thích cô ấy, bạn nổi lòng tham rồi đúng không? Trong Tham Sân Si, bạn chắc chắn đã dính một chút. Hôm nay bạn không muốn đi độ người này, bạn học Phật đã đi chệch hướng, vì trong lòng bạn có sự Sân Hận, đúng không? Hôm nay rất nhiều người trong các vị thấy người ta có chút tiền, liền liều mạng xúm vào độ họ, tốt nhất là kéo họ làm ăn buôn bán chung. Các vị tuyệt đối đã đi lệch hướng rồi, vì các vị đang mang lòng Tham. Thế nên, Ba độc Tham Sân Si không trừ, tâm các vị không thể nào "Chánh" được.

Thứ ba, phải thanh tịnh bản thân, tức là lúc nào cũng phải giữ cho mình sự thanh tịnh. Sư phụ nói cho các vị biết, "Thanh tịnh tâm" là điều khó nhất, khó vô cùng. Các vị tự nhìn lại những người đến đây mà xem, bảo các vị ngồi yên một chỗ trong thời gian dài, ai nấy đều không ngồi nổi. Các vị xem người ta làm Pháp sư, ngồi đó vài tiếng đồng hồ không nhúc nhích. Vì tâm họ tĩnh lặng, họ mới có thể ngồi yên bất động. Còn các vị thì ngọ nguậy liên tục, tâm các vị không tĩnh được, nên "Hành" của các vị mới xao động; làm sao qua mắt được người khác? Thử nghĩ xem, vì bạn không thể thanh tịnh tâm trí, bạn sẽ ngày càng lấn sâu vào tà kiến và u mê.

Sư phụ từng kể với đồ đệ, lần đầu tiên Sư phụ đến Hồng Kông, có một người họ hàng của một tỷ phú giàu nhất Hồng Kông mời chúng tôi ăn cơm. Sư phụ không kể cho các vị nghe, vì nếu nói ra, tâm của rất nhiều người sẽ bắt đầu nhảy nhót: "Phải thế này mới được, phải thế kia mới được". Tâm không sạch sẽ mà! Người ta có tiền thì liên quan gì đến bạn? Tiền của người ta là của người ta, của bạn vẫn là của bạn. Thứ bạn có, người ta không có; thứ người ta có, bạn không có – đó là chuyện rất bình thường. Tại sao lại phải u mê lạc lối? Tại sao lại phải mê muội điên đảo? Vì vậy, phải "Thiểu dục trí kiến". Nghĩa là, dục vọng của bạn càng ít, những thứ bạn thực sự nhìn thấy mới càng nhiều, bạn mới nhìn thấy được những thứ thuộc về trí tuệ.

Thực ra, học Phật dù ở tôn giáo nào, tông phái nào, đến cuối cùng cũng chỉ tu theo hai con đường. Hôm nay vì có rất nhiều bậc Cao tăng Đại đức ở đây, Sư phụ sẽ giảng sâu hơn một chút, các vị phải cố gắng mà học nhé. Một đường là "Giải Thoát Đạo", một đường là "Bồ Đề Đạo". Sư phụ phân tích cho các vị nghe. "Giải Thoát Đạo" là gì? Là phải thoát khỏi Lục đạo luân hồi, kiếp sau không bao giờ tái sinh lại nữa, không phải chịu khổ nữa. "Bồ Đề Đạo" là gì? Là không chỉ tự giải thoát cho chính mình, mà còn phải Phát Tâm Bồ Đề, đi giáo hóa chúng sinh giúp họ giải thoát giống như mình. Thực chất, giải thích ra là các vị hiểu ngay: Một đường Giải thoát đạo, là giúp bản thân giải thoát khỏi Lục đạo, tức là bước vào cõi A-la-hán, chính là Đạo Thanh Văn, Đạo Duyên Giác; còn đường thứ hai là Đạo của Bồ Tát và Phật, các Ngài không chỉ tu tốt cho bản thân mà còn đi cứu độ chúng sinh. Các vị nghe hiểu không?

Các vị tu tâm bao lâu nay, Sư phụ bây giờ đang giảng về hai con đường then chốt nhất đấy. Dùng Bạch Thoại Phật Pháp (Phật Pháp Đời Thường) để nói cho các vị nghe: Con đường thứ nhất là tu thật tốt cho bản thân trước, không còn nghiệp chướng, không còn linh tính, sạch sẽ tinh tươm, có thể thoát khỏi Lục đạo – đây là con đường thứ nhất: Giải Thoát Đạo. Con đường thứ hai là sau khi bạn thăng thiên, thoát khỏi Lục đạo rồi, bạn lại giáng phàm cứu người, bạn làm Bồ Tát – đó chính là con đường thứ hai, là Tâm Bồ Đề. Chúng ta phải hiểu rằng, con đường thứ nhất thực chất chính là cõi Duyên Giác và A-la-hán, thuộc về Giải Thoát Đạo, là con đường để đoạn trừ phiền não. Ít nhất khi ở nhân gian họ có thể không còn phiền não, họ mới cầu được giải thoát; bởi vì người còn phiền não thì không bao giờ giải thoát được.

"Vô sở đắc", thực chất chính là đoạn trừ phiền não. Nãy giờ Sư phụ giảng cho các vị về Vô sở đắc, chính là trên thế giới này chẳng có bất cứ việc gì đạt được cả. Vô sở đắc chính là "Vô sở vị" (Sao cũng được/Chẳng hề gì); vô sở đắc chính là phải biết chặt đứt phiền não. Phiền não từ đâu mà ra? "Hôm nay tôi mất một món đồ rồi, hôm nay tôi có được một món đồ rồi" – bắt đầu nảy sinh phiền não: "Tại sao lại mất? Tại sao lại được?". Thế là phiền não kéo đến. Vô sở đắc – không có cái "Đạt được", thì chắc chắn sẽ không có cái "Mất đi"; không hề đạt được thì lấy đâu ra mất đi? Lấy ví dụ đơn giản, bạn đi mua vé số, bạn muốn trúng thưởng, kết quả là không trúng, thì bạn bị mất (tiền). Nếu bạn còn chẳng thèm mua, thì lấy đâu ra trúng thưởng hay không trúng thưởng? Sẽ không có mất mát.

Không theo đuổi "Tài - Sắc - Danh - Thực - Thùy" (Tiền tài - Sắc dục - Danh vọng - Ăn uống - Ngủ nghỉ) chính là đoạn trừ phiền não. Không theo đuổi tiền tài, không mưu cầu sắc dục, không ham hố danh vọng, không kén chọn đồ ăn ngon, cũng không tham ngủ nướng. Nhiều người ngủ li bì, đó cũng là một loại nghiệp chướng xấu đấy. Các vị có biết không, một người nếu ngủ quá 8 tiếng, đầu óc sẽ trở nên mụ mẫm. Thử nghĩ xem, nếu các vị ngủ mười mấy tiếng đồng hồ, lúc tỉnh dậy có phải chân bước không nổi không? Đầu óc có phải cứ lâng lâng không? Vì thế, Bồ Tát dạy chúng ta ngủ nghỉ cũng phải có chừng mực; ngủ quá nhiều cũng là một loại Tham.

Phải hiểu rằng, Không theo đuổi chính là Đoạn trừ phiền não. Tôi không theo đuổi danh lợi nữa, phiền não của tôi liền tan biến, đúng không? Các vị hãy nhìn xem bao nhiêu chính trị gia, hôm nay đang ngồi ở vị trí chót vót, nhưng khi rớt đài, họ chẳng còn lại gì cả (Vô sở đắc), đúng không? Hãy nhìn nhà lãnh đạo cũ của Đài Loan, lúc làm Tổng thống thì oai phong lẫm liệt, bây giờ ông ta mất chức, Vô sở đắc, chẳng còn gì trong tay, lại còn bị tống vào tù. Lúc đương nhiệm, tại sao ông ta không nghĩ nhiều cho dân một chút, bớt tham lam cho bản thân một chút? Đó chính là vì không có trí tuệ.

29. Học "Trung Quán", luyện "Duy Thức"

+

Ở nhân gian, có người quan tâm bạn, đó là Duyên; không có ai quan tâm bạn, cũng là Duyên. Nói cách khác, mỗi người ở nhân gian có rất nhiều người quan tâm, thì người này có Duyên; nếu chẳng ai thèm ngó ngàng tới họ, họ vẫn sở hữu cái Duyên, chỉ là "Nghịch duyên" (Duyên trái ngang) mà thôi. Vì thế, đừng thường xuyên oán thán bản thân "Có tài mà không gặp thời”, bị người ta hàm oan, tri kỷ khó tìm. Chi bằng tự ngẫm lại xem, bạn đã có "Đồng Thể Đại Bi" chưa? Từng câu từng lời Sư phụ giảng, các vị hãy về nhà nghiền ngẫm cho kỹ. Người luôn mang tâm "Đồng thể đại bi" sẽ không bao giờ oán thán nhiều, họ sẽ men theo "nghịch duyên" để tìm thấy "thiện duyên".

Đồng thể đại bi là gì? Là "Người thương Ta đau", dùng ngôn ngữ hiện đại chính là "Đặt mình vào vị trí của người khác để suy nghĩ”. Vì vậy, "Biết người ta khổ, sẽ khai ngộ" – đây đều là Sư phụ giảng cả đấy. Bạn chỉ khi biết được nỗi khổ của người khác, tự bạn mới có thể khai ngộ. Thấy mẹ bị ung thư, sẽ lập tức suy nghĩ tại sao mẹ lại bị ung thư? Đó là vì mẹ chưa học Phật, ngày xưa ăn quá nhiều hải sản sống, nên không có Bồ Tát phù hộ. Bởi vì con người khi mọi chuyện đang quá êm đẹp, rất dễ đánh mất chính mình. Tình cảm suôn sẻ, sự nghiệp thuận lợi, cảm thấy mọi thứ của mình đang quá trơn tru; lúc này, con người bắt đầu sinh lòng mê muội. Dùng ngôn ngữ hiện đại gọi là: "Con người không được để sự thuận lợi làm cho lú lẫn đầu óc".

Sư phụ nói với các vị, phàm làm chuyện gì chúng ta cũng đừng luôn cho rằng mình là người đúng. Lâu dần như vậy, chính bạn sẽ tự hại chết mình. Vì thế phải học cách “Quy y vào bản tính của chính mình” (Tự tánh quy y). Sau đó, bạn phải có sự Giác ngộ, tâm bạn phải "Chánh" (ngay thẳng), hơn nữa bản tính phải "Tịnh" (trong sạch), như vậy thì bạn sẽ "Tà mê bất trụ". Nghĩa là sao? Nghĩa là những ý niệm tà ác, những tư duy u mê sẽ không thể "thường trụ" (trú ngụ) trong tâm bạn, cũng không có cơ hội nảy sinh. Vì vậy, bắt buộc phải "Chánh".

Làm người chúng ta phải "Thiểu dục tri túc" (Ít dục vọng và biết đủ). Người dục vọng càng ít, càng dễ biết đủ. Tôi rất biết ơn rồi; hôm nay tôi có miếng cơm ăn, tôi cảm ân; hôm nay tôi có chỗ ngả lưng, tôi cảm ân; có cái nhân gian này để tôi được học Phật, để tôi từ chốn nhân gian này tiến thẳng vào Tứ Thánh Đạo hay Tây Phương Cực Lạc thế giới, tôi phải cảm ân – mọi thứ đều nằm trong sự cảm ân. Trong sự cảm ân, bạn mới có thể Tự tánh quy y. Vì vậy, "Thiểu dục tri túc, năng ly tài sắc" (Ít dục vọng biết đủ, mới có thể tránh xa được cám dỗ tiền tài và sắc dục).

Tự tâm quy y vào cái "Chánh", thì từng ý niệm mới "Vô tà kiến" (Không có cái nhìn sai lệch/tà vạy). Tự tâm quy y Chánh là gì? Là tâm bạn mới nảy sinh Chánh niệm. Khi tâm bạn đã có Chánh niệm, mỗi ý niệm phát ra mới "vô tà kiến", mới không nhìn nhận sai lầm. Cho nên gọi là Nhờ không có tà kiến. Đầu óc bạn toàn là sự "Chánh", nên bạn không khởi sinh tà kiến; đó mới thực sự là không có "Tà tri" (tri thức sai lệch), không có tà kiến.

Đừng "Nhân ngã" (phân biệt ta - người), đừng Cống cao (kiêu ngạo), đừng Tham ái và Chấp trước. Nhiều người nghĩ mình oai lắm rồi, làm được bao nhiêu công đức, tưởng mình ghê gớm lắm, hay chê bai người ta thế này thế nọ; đó chính là sự khởi đầu của Tham ái và Chấp trước nơi bản thân. Vì vậy, người thực sự học Phật phải biết tự giải thoát cho chính mình, phải biết hóa độ chúng sinh. Phải nghĩ cho thoáng ra! Chúng ta chịu khổ ở nhân gian, thực chất là chúng ta đang "Ăn tẩm bổ" đấy. Tẩm bổ cái gì? Tẩm bổ bù đắp lại những nghiệp chướng do sai lầm trong quá khứ gây ra, trám lại cái lỗ hổng đó. Chịu khổ chính là ăn bổ đấy. Mặc dù bạn chịu khổ, nhưng bạn đã vá được lỗ hổng rồi.

Phát Tâm Bồ Đề, chính là phải chuyển hóa "Thanh Tịnh Tâm" (Tâm thanh tịnh) thành "Thanh Tịnh Tín" (Niềm tin thanh tịnh). Tâm bạn trước tiên phải thanh tịnh, thì tín niệm của bạn mới khởi sinh. Tín niệm là vô cùng quan trọng. Sư phụ yêu cầu các vị trước tiên tâm phải thanh tịnh, sau đó mới chuyển hóa thành Thanh tịnh tín. Trong Bát Nhã Tâm Kinh có câu: "Dĩ vô sở đắc cố. Bồ đề tát đỏa". Các vị thử nghĩ xem, sức nặng của câu này trong Phật pháp là cực kỳ lớn. "Dĩ vô sở đắc" chính là ngộ ra được chữ "Vô sở đắc" (Không đạt được gì). Tức là bạn ngộ ra thế giới này vốn dĩ chẳng có gì cả, gọi là "Ngộ Vô"; mọi thứ trên cõi đời này đều không thể nắm giữ được mãi, gọi là "Vô Đắc". Vô đắc mới có thể đoạn trừ phiền não, mới có thể không chấp trước. Cho nên, nếu một người có thể ngộ ra không đạt được bất cứ thứ gì, họ sẽ cảm thấy thế giới này là "Ngộ vô sở đắc", họ sẽ không có phiền não. Vô sở đắc chính là "Vô sở trụ". Bạn không lấy được, thì lấy đâu ra cái tâm để mà bám víu (trụ), và bạn sẽ bám víu vào đâu? Bạn không đi truy cầu những thứ đó, trong lòng bạn không có những thứ đó, vậy làm sao chúng có thể lưu lại và đồn trú trong tâm bạn được?

Vô sở đắc chính là Vô sở trụ; theo cách nói ở nhân gian gọi là "Vô sở vị" (Sao cũng được). Mất rồi thì thôi, sao cũng được. "Bất vô sở đắc" (Không phải là không đạt được gì), thực chất là bạn đã thực sự nhìn thấu nó, bạn cảm thấy mình chẳng được cái gì. Bất vô sở đắc tức là "Đắc", là bạn lại nhận được rồi; bạn buông bỏ được rồi, đó cũng chính là bạn đã đạt được. Bởi vì thứ bạn đạt được là "Không", "Không" mới sinh ra Trí tuệ, "Không" mới lưu trữ được trí tuệ. Tạp niệm quá nhiều, lấy đâu ra trí tuệ trường tồn? Mọi người phải hiểu, "Dĩ vô sở đắc cố", phải lấy sự "Vô sở đắc" làm cốt lõi tu tâm. Bạn phải hiểu rằng mọi thứ trên thế gian đều là không có thực, đừng cố truy cầu những thứ vốn dĩ không thuộc về mình – đó chính là cái gốc của việc học Phật. Không Tham chính là Gốc đấy. Mọi thứ đều là "Không"; khi nghĩ thông suốt rồi, mọi vật chất trên thế gian này đến cũng hư không, đi cũng trống rỗng.

Trong Phật pháp có hai khái niệm quan trọng nhất: một là Trung Quán, hai là Duy Thức. Duy Thức là chỉ có ý thức.

Trước hết giảng cho các vị về Trung Quán. Trung Quán nghĩa là đem mọi việc đặt vào vị trí "Trung" (Ở giữa/Trung dung) để quan sát. Trung quán không ở bên trong, không ở bên ngoài. Nghĩa là, chúng ta tu tâm đừng quá chú trọng vẻ bề ngoài, cũng đừng chỉ bo bo chú trọng nội tâm. Không ở ngoài, không ở trong, thế thì ở đâu? Chẳng phải là ở giữa sao? Bạn nhìn nhận một vấn đề, không coi nó là nghiêng trái, cũng không coi nó là lệch phải, vậy là bạn đang nhìn vấn đề một cách trung lập. Hai bên cãi nhau đều mách bạn đối phương tồi tệ, bạn không nói bên này đúng, cũng không hùa theo bên kia sai, bạn đứng ở chính giữa – đó gọi là Trung Quán.

Bởi vì "Bất thường kiến" (Không thường xuyên nhìn) mới có thể "Đoạn kiến" (Chặt đứt cái nhìn phiến diện). Chúng ta không thường xuyên va chạm với những chuyện phiền não, chúng ta thường xuyên tránh tiếp xúc với những rắc rối, bẩn thỉu chốn hồng trần, thì bạn mới có thể "đoạn kiến". Nghĩa là sao? Nhiều người rất thích hóng hớt: "Ông ấy nói gì, kể cho tôi nghe đi". Thế là hắn ta bắt đầu có cái "Kiến" (Cách nhìn/Thành kiến). Đoạn kiến chính là cắt đứt toàn bộ những kiến văn, hiểu biết của mình, coi như không có. Có như vậy bạn mới duy trì được sự trung lập, bạn mới có thể "Trung quán". Thấy đồ vật mà coi như không thấy, đó gọi là Đoạn kiến. Nhiều người tu hành tốt, khi gặp người khác kích động: "Ông ta nói anh thế này thế kia kìa". - "Ồ, tôi chưa nghe thấy gì cả". Người đó đã tự chặt đứt cái "Ngu kiến" của chính mình. Cho nên, nằm giữa Thường kiến và Đoạn kiến, chính là Trung Quán. Thường xuyên nhìn thấy nhiều chuyện, nhưng căn bản không để trong lòng, giống như tôi chưa từng nhìn thấy. Vừa trái vừa phải; đến cuối cùng, bạn nhìn thấy mà như không thấy, chưa thấy mà như đã thấy. Thực tế nhiều người khi trả lời câu hỏi: "Anh có nhìn thấy không?" - "Không thấy". Thực ra là hắn đã thấy rồi. Lại có rất nhiều người: "Anh nhìn thấy không?", hắn thấy rồi, lại bảo "Không thấy". Đây chẳng phải là Trung Quán sao? Nhìn thấy rồi, nhưng tôi coi như chưa nhìn thấy; những việc đã biết, tôi không coi đó là hiện thực, mà coi đó là ảo ảnh. Vì vậy, tôi mới bắt đầu từ cái "Trung kiến". Dùng ngôn ngữ của người học Phật hiện đại, đó chính là Phép biện chứng duy vật.

Điểm thứ hai vô cùng quan trọng trong Phật pháp là Duy Thức. Nghĩa là: bên ngoài, ngoại giới, ngoại trần – mọi thứ bên ngoài cơ thể bạn – đều là hư không; ý thức nội bộ của con người mới là ý thức duy nhất. Nói cách khác, ý thức trong tâm bạn mới là ý thức duy nhất; gọi là "Ngoại Không Nội Hữu" (Bên ngoài rỗng không, bên trong hiện hữu). Những thứ bạn cảm nhận được ở bên ngoài đều là không có thực, đều là giả dối; còn những gì bạn cảm nhận trong tâm, đó mới là sự thật. Sư phụ lấy ví dụ cho các vị nghe: Người ta bảo ngoài kia lạnh lắm, nhưng bạn đang ngồi trong nhà ấm áp, bạn sẽ không cảm nhận được cái lạnh, đúng không? Khi bạn mở cửa bước ra, một luồng gió lạnh thấu xương lùa vào cơ thể; lúc đó, "Duy Thức" của bạn mới bắt đầu hoạt động. Bởi vì bề mặt của bạn đã trực tiếp cảm nhận và truyền đến ý thức trong tâm bạn. Cái ý thức này gọi là Duy thức, một ý thức duy nhất: "Mình cảm thấy đúng là lạnh thật". Nếu không phải là "Duy thức", thì mặc kệ người ta nói gì, trong ý thức của họ sẽ không bao giờ tin lời người khác. Tại sao Sư phụ bắt các vị học những thứ này? Các vị có biết tại sao chúng ta phải tìm hiểu những thứ này không? Thực chất đây chính là kinh điển của việc học Phật. Nếu không, bạn sẽ không độ được người khác đâu. Bạn không biết trong ý thức của người ta đang nghĩ gì, bạn có nói rát họng, đưa sách hay đưa đĩa cho họ xem, ý thức của họ vẫn cứ trơ trơ như thế, bạn căn bản không độ nổi. Vì vậy, các vị bắt buộc phải hiểu rõ những ý thức này.

Nội chính là Tâm. Tâm có hai loại: Ngoại Tâm và Nội Tâm. Bề ngoài nói ra nghe "Tâm tôi thế này, Tâm tôi thế kia"; thực chất tâm chia làm rất nhiều loại. Cảm nhận của Ngoại Tâm giống như Tâm là sở chỉ huy, nhưng nó lại có rất nhiều nhân viên chỉ huy. Những nhân viên chỉ huy đó là ai? Chính là Nhãn - Nhĩ - Tỷ - Thiệt - Thân - Ý (Mắt - Tai - Mũi - Lưỡi - Thân - Ý niệm). Cái tâm của họ dựa vào những gì mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, cơ thể cảm nhận và những gì ý niệm có thể hiểu được để khiến cái tâm này dao động. Chúng chính là căn cứ và điều kiện làm biến đổi cái tâm của bạn. Tại sao có những người tâm lại thay đổi? Vì họ nghe người ta gièm pha quá nhiều – có phải do Tai nghe không? Vì người ta rủ rê: "Anh qua đây mà xem, sự việc là thế này này". Mắt họ vừa nhìn thấy, tin sái cổ, họ thay đổi ý thức. Thế là tâm họ bắt đầu chuyển biến, ý thức họ bắt đầu thay đổi. Cho nên mới gọi đó là Ngoại tâm (Tâm chịu tác động từ bên ngoài).

30. Quy y Tự tánh Tam Bảo

+

Phải học cách biết vượt qua nghịch cảnh, học Phật không được phép dừng bước. Hôm nay nghịch cảnh ập đến một chút, ngày mai phiền não kéo tới đôi phần, tôi càng phải tu tập cho đàng hoàng hơn. Mỗi một ngày, mỗi một giờ, tôi học Phật một cách vô tư, vui vẻ, sở hữu Phật tính, tăng trưởng trí tuệ. Tôi coi mỗi nghịch cảnh như một "Tăng thượng duyên" (Duyên trợ lực thăng tiến) – chính là suối nguồn gia tăng động lực vươn lên cho tôi. Khó khăn càng nhiều, rắc rối càng lớn, mâu thuẫn càng chồng chất, trí tuệ của tôi càng được khai phá triệt để. Trong Phật pháp giới có câu: "Phiền não tức Bồ Đề". Nghĩa là, khi có phiền não, bạn mới sinh ra trí tuệ để khắc phục nó; không có phiền não, bạn sẽ chẳng bao giờ trèo qua được ngọn núi này, vượt qua được rào cản kia. Sư phụ hy vọng mọi người hiểu rằng: Trên thế giới này, đôi khi chúng ta cứ ngỡ mọi chuyện còn xa xôi lắm; nhưng thực chất, khoảng cách giữa sự Sống và cái Chết vô cùng ngắn ngủi. Chúng ta thường ảo tưởng rằng sống trên đời còn lâu mới tới lúc chết, nên con người ta cứ thả mình chìm trong sự buông lung, lười biếng, để rồi đánh mất sinh mạng quý giá lúc nào không hay.

Sư phụ vừa nhận được một cuộc điện thoại đường dài của một vị Pháp sư. Vị Pháp sư kể rằng, suốt dọc đường đi, ông liên tục suy ngẫm, hồi tưởng lại những ngày ở Quan Âm Đường. Ông ngộ ra rất nhiều điều, xúc động sâu sắc, nói chuyện với Sư phụ rất lâu, vô cùng quyến luyến không nỡ rời xa Sư phụ. Ông cảm nhận được thế nào là sự quan tâm thực sự dành cho mình, thế nào là sự khai ngộ đích thực; những điều này đều phải dùng Tâm để cảm nhận. Vừa nãy còn ngồi cạnh nhau, hôm sau đã từ biệt, mỗi người một phương. Con người chúng ta đừng quá bận tâm khoảng cách xa gần. Thực ra, chúng ta luôn tưởng Phật ở xa tít tắp, nhưng thực chất Phật đang ở ngay bên cạnh chúng ta. Chúng ta mãi mãi không biết rằng: Phật đang yêu thương chúng ta, Phật ngày ngày đang giúp đỡ chúng ta; ngay cả những chuyện nhỏ nhặt nhất, Phật vẫn luôn ân cần quan tâm chúng ta như thế.

Rất nhiều người tín Phật luôn mỏi mắt mong chờ Phật Bồ Tát hiển linh cứu độ chúng sinh, nhưng lại không tin tưởng rằng Phật Bồ Tát sẽ thực sự dang tay cứu vớt mình. Đây chính là sự "Mê muội" của con người, nên họ mới "Điên đảo". Cho nên, Mê muội và Điên đảo luôn đi đôi với nhau. Một người chỉ cần mê muội, thì ngay sau đó, họ chắc chắn sẽ làm sai – đó chính là sự điên đảo: Nghi ngờ xem Bồ Tát có linh hay không linh. Đôi khi, họ cũng mượn vài câu Phật ngữ răn dạy bạn: "Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn phao ảnh... ưng tác như thị quán" (Mọi pháp hữu vi, đều như giấc mộng, ảo ảnh, bọt nước... nên quán chiếu như vậy). Nhưng hỏi tu thế nào, học ra sao thì họ mù tịt. Thực tế, tối ngày oán trách cái này, than vãn cái kia, thì bạn làm sao mang kinh điển của Phật Bồ Tát ra thực hành được? Không thể bẻ cong, cắt xén kinh điển của Phật Bồ Tát. Phải hiểu rằng Phật và Phật tính thường xuyên xuất hiện trong trái tim chúng ta. Không phải là Đức Phật trên những dòng chữ, cũng không phải là Đức Phật trong sách vở hay kinh điển. Phải biết rằng, vị Phật thực sự xuất hiện trước mặt các vị, chính là Tâm Phật của các vị. Trong tâm có Phật, đó chính là "Như thị quán" (Quán chiếu như vậy); bạn đã sở hữu Tâm Phật. Trong tâm có Chánh Phật (vị Phật ngay thẳng/chân chính), bạn sẽ làm chủ được Tâm Phật của chính mình.

Ngay khi bước vào thế giới này, chúng ta đã chìm vào cõi hồng trần. Sinh, Lão, Bệnh, Tử; Tài, Sắc, Danh, Thực, Thùy; Hỷ, Nộ, Ái, Ố – tất thảy đều không tồn tại mãi mãi, bắt buộc phải nhìn thấu, bắt buộc phải buông bỏ. Chúng ta sinh ra ở nhân gian như một ảo giác; đợi đến khi "Vô thường" ập tới, mọi danh lợi, vinh hoa ở nhân gian đều hóa thành hư vô. Vì vậy, sống ở đời nhất định không được cố chấp. Sư phụ chỉ cho các vị một phương pháp tuyệt hay: Người không chấp trước sẽ không bao giờ sinh tâm oán hận, mọi chuyện cứ để Tùy duyên sinh.

Học Phật chính là học sự Thuần khiết, Thiện lương và Tốt đẹp (Thuần - Thiện - Mỹ). Chỉ có sự trong sáng và lương thiện mới làm toát lên vẻ đẹp thực sự của bạn. Cái Đẹp không cần lý trí; khi tâm hồn được tự do, cái Đẹp sẽ tuôn trào một cách tự nhiên. Người học Phật, người luôn giúp đỡ kẻ khác, chẳng cần bạn mở lời nhờ vả, họ sẽ tự động đưa tay tương trợ – đó là thứ Mỹ đức tuôn chảy tự nhiên. "Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín" của Nho gia cũng là nền tảng của cái Đẹp. Thế nhưng, sự ích kỷ, tham lam, tàn ác, xảo trá và thất tín của con người thời nay thực chất đã xúi giục nhân loại mặc sức lộng hành, dung túng cho dục vọng bùng phát giữa cái thế giới vô thường này. Họ đã đánh mất đi nguyên tắc "Nhân giả ái nhân" (Người nhân ái yêu thương con người) vốn có của loài người. "Nhân giả ái nhân" chính là biểu hiện của Từ Bi theo cách nói của Phật pháp giới.

Kẻ có "Chính nghĩa" là kẻ biết chữ "Nhẫn". Một người vỗ ngực tự xưng: "Tôi là Phật chính nghĩa, tôi học Phật rất đoan chính", người này chắc chắn phải có khả năng nhẫn nhịn. Nếu một người không biết nhẫn nhịn, hở chút là cãi vã, chỉ thẳng mặt mắng chửi người khác; loại người này thực chất không thể thành Phật, loại người này tuyệt đối không phải "Chánh tín" (người có đức tin đúng đắn).

Chúng ta đừng nghĩ cho bản thân, hãy chỉ nghĩ cho chúng sinh. Chúng ta đừng chỉ nghĩ đến tư lợi, phải hiểu rằng chỉ có làm mọi việc vì lợi ích của chúng sinh mới là điều đáng quý. "Quân tử không lấy tài sản bất nghĩa", đây chính là nền tảng "Lợi sinh" (làm lợi cho đời) của người học Phật. Nghĩa là sao? Nghĩa là một người học Phật, nếu bạn là người "Chánh", bạn tuyệt đối sẽ không làm bậy, không bao giờ lấy những đồng tiền bất nghĩa. Đây thực chất là gốc rễ lợi sinh của người tu Phật. Muốn làm người, trước tiên phải thấu hiểu: Bạn không được chiếm đoạt tài sản bất chính của người khác, đây là một điểm cơ bản của đạo làm người, thế nên mới gọi là Lợi sinh.

Đời người ngắn ngủi chớp mắt, danh lợi vụt sáng rồi cũng vội tàn. Chúng ta có được thân người, lại phóng túng phạm giới, không biết hối cải, trong mệnh liên tục bị nghiệp lực kéo vào vòng luân hồi. Thử nghĩ xem, có phải chúng ta đang luân hồi như vậy không? Hôm nay chịu nỗi khổ này, ngày mai vẫn phải nếm mùi đắng cay này, ngày kia lại tiếp tục chịu đựng – đó chính là vì đang kẹt trong vòng luân hồi. Chúng ta không biết hối cải. Kẻ không biết hối cải, chính là kẻ không biết vượt khỏi kiếp sống đầy đọa đày. Một kẻ không chịu sửa đổi những thói hư tật xấu trên người, thực chất kẻ đó không muốn có hạnh phúc, nghĩa là hắn sẽ vĩnh viễn sống ngụp lặn trong đau khổ. Chính vì bị sự đau khổ giày vò, nên hắn mới không khai ngộ, mới không chịu sửa chữa khuyết điểm. Tại sao Sư phụ lại nghiêm khắc với đệ tử đến vậy? Là vì muốn các vị phải sửa đổi khuyết điểm, ngày nào cũng phải sửa, các vị mới không bị chìm đắm trong đau khổ triền miên. Có những người mang được thân người, dành cả thanh xuân đi tìm kiếm chân mệnh giải thoát, con đường giải thoát; nhưng kiếp người vốn đã ngắn ngủi, chưa kịp tìm ra pháp môn giải thoát, thì vòng quay luân hồi bất tận lại tiếp tục khởi động. Nghĩ lại xem, thời gian trôi nhanh tựa bóng câu, chúng ta nhất định phải trân quý sinh mạng này.

Tiếp theo, Sư phụ sẽ nói với các vị về chuyện Quy y. Bởi vì rất nhiều người hỏi về việc quy y trong Pháp Môn Tâm Linh. Thực chất, cư sĩ tại gia có thể làm việc "Tự tánh quy y" (Quy y vào bản tính của chính mình) trước, gọi là Tự quy y. Quy y Phật chính là quy y "Giác" (Sự giác ngộ); vì Phật là đấng giác ngộ, nên quy y Phật tức là bạn trở thành người giác ngộ, Phật là Giác giả. Quy y Pháp, chính là quy y cái "Chánh"; Chánh là gì? Vì Phật pháp là Chánh pháp. Vậy Quy y Tăng là gì? Vì chúng ta chưa phải là Tăng nhân (người xuất gia), nên chúng ta quy y sự Tịnh (sạch sẽ, thanh tịnh) của tự tánh. Ba cái quy y (Tam quy y) khi học Phật, chính là Giác – Chánh – Tịnh mà chúng ta, những cư sĩ, cần phải ghi nhớ. Cho nên, quy y vào Phật tánh của tự tánh, chính là Tự quy y. Bởi vì mỗi người đều mang trong mình Phật tánh. Đức Phật từng nói, giữa đất trời và vạn vật, ai ai cũng có Phật tánh; đó chính là việc hiểu được Phật tánh.

Chúng ta đến nhân gian, nên "Bất lai tướng nhi lai, bất kiến tướng nhi kiến" (Đến với hình tướng không đến, nhìn với hình tướng không nhìn). Nghĩa là sao? Chúng ta xuống nhân gian, chúng ta không bị ô nhiễm bởi những thói hư tật xấu chốn phàm trần, đó gọi là "bất kiến tướng nhi kiến". Bất lai tướng nhi lai: Chúng ta đến với nhân gian, chúng ta không nhìn thấy những thứ dơ bẩn; chúng ta đến nhân gian, giống như chưa từng đến, dường như có đến mà lại không, phi đến cũng vô đến. Bất kiến tướng nhi tướng: Những vật chất chốn nhân gian đập vào mắt, chúng ta coi như không nhìn thấy. Chúng ta đến nhân gian, coi như chưa từng đến; chúng ta đi đến nơi nào, chúng ta coi như chưa từng đi. Bởi vì đó đều là ảo ảnh, lấy đâu ra chuyện "đến" hay "đi"? Bạn đã đi đến đâu? Bởi vì bạn đã "về" rồi, nên bạn không có đến, đúng không? Bởi vì bạn chưa từng đến, nên không tồn tại chuyện bạn phải quay về. Vì bạn đã từng quay về, hoặc hiện tại bạn đã quay về rồi, thì điều đó đồng nghĩa với việc bạn chưa từng đến. Thực chất, đây là một triết lý muốn nhắn nhủ các vị: Đời người chỉ gói gọn trong một chữ "Không".

Người học Phật ngày nào cũng rêu rao phải Buông bỏ, phải "Không". Tại sao Sư phụ lại dạy các vị hai câu này? Chính là để các vị hiểu thế nào là cái "Không" đích thực. Vừa khởi ý niệm nghĩ đến điều này, chính là Đoạn (Cắt đứt). Chính là khi nghĩ tới: "Chà, con người vốn dĩ là hư không", bạn liền bắt đầu sở hữu pháp bảo để chặt đứt phiền não. Nếu trong đầu bạn hiểu được rằng: Mọi thứ trên thế gian này đến rồi đi vô thường, cuối cùng đều hóa thành hư không, trong tâm bạn sẽ nảy sinh ý niệm "Đoạn" (Cắt đứt); tức là ý niệm đoạn trừ phiền não bắt đầu bén rễ. "Hữu trung tự vô, vô trung hựu hữu" (Trong cái Có dường như Không, trong cái Không lại có cái Có), chính là cắt đứt cả hai phía "Có" và "Không". Nghĩa là gì? Nghĩa là bên trái là Có, bên phải là Không. Mối quan hệ giữa cái Có và cái Không là: Có rồi sẽ mất (thành Không), mất rồi lại có (thành Có). Hữu trung tự vô, vô trung hựu tự hữu, đó chính là "Không". Có rồi sẽ mất, mất rồi lại có, tức là ngộ được cái "Không pháp". Tôi có thể nghĩ thông suốt, nghĩ cho rõ ràng, tôi chính là đã Khai ngộ. Tôi nhận ra rằng mọi thứ trên cõi đời này đều "Đến vội vàng, đi cũng vội vàng"; tôi thấu hiểu những đạo lý này, tôi chính là Ngộ Không. Các vị ngày nào cũng mải miết gọi Tôn Ngộ Không, các vị còn chẳng biết cái "Pháp ý" (Ý nghĩa Phật pháp) của cái tên đó chính là Ngộ Không, là yêu cầu hắn phải "Khai Ngộ" đấy!

31. Sinh trí tuệ từ trong phiền não

+

Phải hiểu rằng, Trí tuệ và Thiền định có thể tiêu diệt sạch sẽ mọi thứ phiền não trong cả cuộc đời. Mọi người thử nghĩ xem, câu này có ý nghĩa gì? Khi một người sở hữu trí tuệ, và tâm người đó có thể định lại được – tức là có Thiền định, thì người đó có thể tiêu trừ mọi phiền não. Khi phiền não ập đến, nó sợ nhất là người có trí tuệ; khi phiền não kéo tới, nó sợ nhất là người có tâm tĩnh lặng (Định). "Thôi chết, có chuyện rồi!" - "Có chuyện gì anh cứ bình tĩnh nói tôi nghe". Lập tức sẽ có cách giải quyết, trí tuệ bắt đầu sinh ra. Không luống cuống, không vội vàng, liền có thể giải quyết được sự việc. Phải hiểu rằng, Thiền định cộng với Trí tuệ, có thể xóa sạch muôn vàn phiền não của bạn.

Căn bệnh của con người thực chất là Tự chuốc lấy phiền não. Phiền não là do tự bạn rước vào người. Đời vốn dĩ vô sự, chỉ do kẻ tầm thường tự làm rối mình lên mà thôi. Bạn rước phiền não về, bạn lại không có "Định tính", bạn lại chẳng có trí tuệ, làm sao bạn vứt bỏ nó đi được? Giống hệt như việc bạn mang rác về nhà, nhưng lại không thể dọn dẹp quăng nó đi, thì rác trong nhà bạn sẽ ngày một nhiều thêm.

Khí trường (năng lượng) và trí tuệ của con người có liên quan mật thiết với Duyên phận của người đó. Người có khí trường kém rất dễ bị trúng tà. Cho nên, khi con người bị ốm, khi cảm thấy đầu óc lờ đờ uể oải, đó là lúc họ dễ đưa ra những quyết định sai lầm nhất. Các vị cứ nhìn mà xem, những kẻ lừa đảo muốn gạt người, trước tiên chúng phải nói cho đối phương mụ mị đầu óc, sau đó mới ra tay lừa gạt. Nếu khí trường của một người suy yếu, họ sẽ bị trúng tà.

Sư phụ dạy các vị, nhiều người khi nhìn thấy đám ma, nhìn thấy máu trên đường là về ốm liệt giường. Tại sao vậy? Rất đơn giản, trong tướng học gọi là "Bát tự thấp" (Bản mệnh yếu), tức là bát tự có cấu cặn, không sạch sẽ. Hôm nay Sư phụ giảng điều này cho các vị nghe, chính là để làm bước đệm cho việc giảng Phật pháp ở phần sau. Bát tự của bạn thấp, thì "Trọc khí" (Khí dơ bẩn) của bạn sẽ dâng cao. Khi trọc khí bốc lên, nếu một người vừa chết đi, các linh hồn âm dương sẽ đến đón; vì vậy thể xác và linh tính sẽ hội tụ lại – tức là bụi trần trở về với cát bụi, còn linh hồn thì bay lên trời (Linh bay lên trên, Hồn phách chìm xuống dưới, nên gọi là Linh Hồn). Tại sao trong những trường hợp như thế này lại xảy ra sự tụ hội? Sư phụ nói cho các vị biết, một người nếu trọc khí (khí ô uế) quá nặng, âm khí quá sâu, sẽ dần dần khiến họ dễ bắt sóng (tiếp khí) với linh giới. Nếu có người suốt ngày đứng trước mặt bạn thở vắn than dài, Sư phụ khuyên các vị phải cẩn thận, đừng nói chuyện nhiều với người đó. Chúng ta phải tụng nhiều Chú Đại Bi và Tịnh Khẩu Nghiệp Chân Ngôn. Hai bài kinh chú này có thể chống đỡ được rất nhiều trọc khí và cái mà linh giới gọi là âm khí.

Học Phật phải bớt sinh phiền não. Một người sống mà cả đời chìm trong phiền não, đó là biểu hiện của sự Vô trí (Không có trí tuệ). Tất cả các đệ tử các vị hôm nay ngồi dưới nghe giảng, trông có vẻ rất thanh tịnh. Nhưng các vị thử tưởng tượng xem, nếu hôm nay các vị vẫn còn phiền não, các vị chắc chắn sẽ không có trí tuệ. Chửi bới người khác, đâm thọc thị phi đều là vô trí. Vô trí thì bạn sẽ chẳng nhận được bất cứ thứ gì, "Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố". Sư phụ hy vọng các vị phải hiểu những đạo lý này.

Một người Niệm Phật chính là Niệm Tâm (Tụng kinh chính là tụng cái tâm). Tâm bạn có động, Phật mới động theo bạn. Bạn tụng kinh mà tâm không động, làm sao bạn khiến Bồ Tát cảm động được? Giống như bạn muốn kể một câu chuyện để làm người khác cảm động, bản thân bạn còn chẳng thấy cảm động, làm sao bạn khiến người ta cảm động được? Đạo lý đều như nhau cả. Sư phụ hy vọng các vị phải chịu được khổ. Người học Phật phải chịu được khổ, phải hoằng dương Chính pháp. Chính pháp là gì? Là Tâm phải chính, Hành phải chính, Ý phải chính. Một người như thế, việc làm ra chắc chắn sẽ là "Chính" (ngay thẳng, đúng đắn).

Phải nhất tâm nhất ý, tuyệt đối không được sinh "Khinh mạn tâm" (Tâm coi thường, lơ là). Đừng cảm thấy Bồ Tát thế nào cũng được: "Hôm nay tôi thích thì tụng, không thích thì thôi; hôm nay không cần rửa tay tôi cũng lạy Phật". Không được tùy tiện một chút nào. Đó đều là những vết nhơ trong tâm hồn bạn; thời gian qua đi, bạn sẽ tích tụ những vết nhơ này trong lòng, sau này muốn gột rửa cũng không sạch được. Đó chính là biểu hiện của việc tại sao trong lòng bạn lại có vết nhơ (cấu cặn). Khinh mạn chính là không coi trọng. Từng cử chỉ hành động của Phật, chúng ta đều phải vô cùng cung kính, coi trọng. Thử nghĩ xem, người ta đối xử với Phật, với Bồ Tát tôn kính nhường nào, tại sao tôi lại không làm được?

Phải thường xuyên thành tâm nhớ nghĩ đến Sư phụ, thường xuyên thành tâm nhớ nghĩ đến Bồ Tát, sẽ nhận được nhiều sự gia trì. Tiêu diệt chướng ngại, gạt bỏ phiền não, bạn sẽ có được phúc báo. Nhiều người không hiểu: "Tại sao tôi chẳng có tí phúc khí nào cả? Tại sao tôi làm cái gì cũng hỏng?". Thực chất là do phúc báo của họ không đủ. Phúc báo từ đâu mà ra? Tôn trọng người khác, thành kính với Sư phụ, thành kính với Bồ Tát, thấu hiểu "Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín", hiểu được rằng tuyệt đối không sinh tâm khinh mạn. Một người như vậy sẽ từ từ tốt lên.

Trân quý sinh mệnh, dũng cảm "Hỷ Xả". Người hiểu được "Từ Bi Hỷ Xả" chính là người đang trân quý sinh mạng của chính mình. Khó khăn, khó khăn – càng khốn đốn lại càng gian nan. Bạn bị mắc kẹt trong khó khăn không thoát ra được, thời gian càng lâu, bạn sẽ càng thấy gian nan. Giải thoát, giải thoát – càng tháo gỡ càng thoát khỏi. Hôm nay tháo gỡ một chút, ngày mai tháo gỡ một chút, lâu dần tôi có thể giải thoát. Phiền não giống hệt như một sợi dây thừng, muốn giải thoát, thì hôm nay nới lỏng một chút, ngày mai nới lỏng thêm chút, dần dần sẽ lỏng ra. Tu tâm, tu hành, tâm càng tu càng sạch sẽ. Tâm không sạch sẽ, tức là tu tâm chưa tốt; tâm càng trong sạch, chứng tỏ bạn tu càng tốt.

Người thực sự học Phật, đặc biệt là người hiểu Phật pháp, tuyệt đối không được phép ở nhân gian u sầu buồn bã suốt cả một ngày. Nếu hôm nay từ sáng đến tối bạn cứ hậm hực ủ dột, toàn bộ trí tuệ của một ngày đó sẽ bay sạch. Bởi vì Trí tuệ và Phiền não không bao giờ tồn tại song song. Phiền não nhiều, tức là không có trí tuệ; người có trí tuệ, sẽ không có phiền não. Vì vậy, khi bạn buồn bực cả một ngày, mang khuôn mặt đầy thê lương, phiền muộn, thực chất là bạn đã đánh mất đi toàn bộ trí tuệ mà lẽ ra bạn phải nhận được trong ngày hôm đó.

32. Tùy duyên mà định

+

Hôm nay Sư phụ nói với các vị, bất kỳ pháp môn tu hành nào cũng đều chú trọng vào một chữ "Định". Bất kể ai tu học pháp môn nào, thực chất Định là vô cùng quan trọng. Trong tâm có Định, thì trong Định sẽ không loạn. Nếu một người trong tâm không có Định, họ không thể tĩnh lại được, họ chắc chắn sẽ làm loạn: Tâm loạn, Hành loạn. Vì vậy, người có trí tuệ thực sự phải tu cho bằng được "Tâm trung hữu định, định trung bất loạn" (Trong tâm có tĩnh, trong tĩnh không loạn). Bất kể gặp chuyện gì cũng đừng hoảng loạn. "Thiên tâm bất xâm" (Cái tâm thiên lệch/bất chính sẽ không thể xâm nhập); bởi vì khi một người có thể tĩnh tâm lại, những suy nghĩ và ý niệm bất chính trong tư duy sẽ không thể xâm nhập vào tâm hồn họ, tâm họ sẽ càng trở nên vững vàng. Tu tâm chính là tu một chữ Định. Tâm con người tĩnh lại được, mới có thể vững vàng, mới có thể tu tốt Phật pháp. Chỉ có Định, mới tu tốt được Tâm; tâm bạn vừa rối loạn, là bạn đã văng ra khỏi hàng ngũ của những người tu hành. Thực chất, "Tâm Định" mà Phật pháp nói tới, chính là Thiền định.

Sư phụ nói với các vị, đời người chính là một chuyến du lịch không có điểm bắt đầu, cũng chẳng có điểm kết thúc. Từ lúc đến nhân gian cho đến lúc kết thúc, nó không có khởi điểm; bởi vì người chết đi, tiếp sau đó lại bắt đầu một điểm khởi đầu mới của việc đầu thai. Điểm khởi đầu mới bắt đầu, lại tiến gần đến điểm kết thúc. Đời người không có điểm kết thúc, chỉ có Sinh và Tử mang tính "giả định". Chưa sinh ra thì gọi là điểm bắt đầu, chết đi là điểm kết thúc giả định. Nhân loại chỉ là những vị khách qua đường trên Trái Đất. Nỗi khổ của nhân sinh thực chất là quả báo từ đời trước hiện tiền; niềm vui của kiếp này cũng là quả báo từ đời trước; nỗi khổ của kiếp này cũng là nghiệp báo từ đời trước. Vì vậy, người tu hành học Phật không nên tiếp tục "đi du lịch" một cách "Vi nghịch đạo" (trái đạo). Nghĩa là sao? Chúng ta đã đến điểm du lịch này, chúng ta đã đến nhân gian này, chúng ta không được phép làm trái với Đạo, cái Đạo này chính là Phật Đạo. Chúng ta không thể rời bỏ Phật đạo, không thể rời bỏ lương tâm mà tiếp tục chuyến "du lịch" trái với lương tâm, tiếp tục sống một cách sai trái.

Khổ và Vui đều do Nhân Duyên mà định, do nhân duyên mà sinh ra. Khổ và vui đều được định đoạt và sinh ra bởi nhân duyên. Cái khổ và cái vui này chỉ là một loại cảm giác, cảm nhận; và những cảm giác này đều là tạm thời, không trường tồn. Bởi vì những cái khổ này nảy sinh từ cái "Nhân" do chính bạn gieo trồng, và lại do bạn "Tùy theo cái Duyên" mà định đoạt. Cho nên chúng ta mới nói, nương theo "Thiện duyên" làm việc thiện, chúng ta sẽ nhận được Thiện quả và Thiện báo. Nếu chúng ta ngày nào cũng đuổi theo "Ác duyên", thì nhân duyên của bạn sẽ men theo những nỗi thống khổ mà sinh ra.

Nhân duyên ở nhân gian đều là Vô thường. Thắng - Bại, Khen - Chê, chúng ta không cần quá chấp trước. Vì vậy phải "Thuận theo Nhân mà kết Duyên”. Nghĩa là sao? Hôm nay tôi đã gieo cái Nhân này, vậy thì tôi sẽ gieo nó cho thật tốt, hướng nó về phía thiện. Hôm nay tôi nhận được cái Thiện nhân này, tôi sẽ nương theo thiện duyên đó mà làm việc, đừng đi ngược lại ý nguyện, đừng đi ngược lại duyên phận. Đừng làm những việc trái với lương tâm và ý nguyện của chính mình. "Tùy duyên dụng tâm, tùy nhân kết duyên", đó chính là phù hợp với cái Tâm của Đạo Tự nhiên.

Nghĩa là gì? Lấy ví dụ, sắp qua năm mới rồi, năm mới lại đến. Rất nhiều người liều mạng muốn níu giữ tuổi tác, níu giữ thanh xuân, đó gọi là "Châu chấu đá xe, không biết tự lượng sức mình". Thực chất, chúng ta nên níu giữ cái Tâm và Bản tính của chính mình, đừng để Tâm và Tính của mình đuổi theo những nhân duyên vốn dĩ đã là "thế sự vô thường" một cách vô vị.

Chúng ta phải hiểu, phù hợp với tâm của Đạo tự nhiên, nghĩa là chúng ta làm gì, học gì cũng đều vô cùng thuận tự nhiên. Đời người sống trên thế gian, vạn sự vạn vật đều là Hư Không (Giai không). Người học Phật chúng ta "Vô sở cầu" (Không mong cầu), đó chính là Chính Tu, Chính Hành. Chúng ta ngày nào cũng leo lẻo "Vô sở cầu", nhưng chúng ta hoàn toàn không biết ba chữ này quan trọng đến nhường nào. Nếu một người đã Vô sở cầu rồi, người đó chính là Chính Tín, người đó chính là Chính Hành! Nếu hôm nay các vị vẫn còn đang cầu xin một điều gì đó, thì các vị "Bất Chính" (không ngay thẳng). Nếu hôm nay các vị vẫn còn mang trong mình bao nhiêu dục vọng, thì các vị không phải là Chính tu. Nếu muốn Minh tâm kiến tánh, tức là để trong lòng vô cùng sáng suốt, thường xuyên nhìn thấy bản tính của mình, thì trước tiên sống ở nhân gian phải học cách Không oán hận. Nhưng trên thực tế, chúng ta ngày nào cũng sống trong sự oán hận. Cho nên, đừng oán hận nữa, phải biết "Tích phúc" (Trân trọng phúc báu), phải Tùy duyên! Phải Vô sở cầu! Có như vậy, bạn mới giữ được Chính niệm thường trú trong tâm.

Có Chính niệm không dễ đâu! Nhiều người hay hỏi Sư phụ: "Phật con đang học, Pháp con đang theo rốt cuộc là Chính hay Tà, bản thân con không biết?". Người này bảo Pháp của họ Chính, người kia bảo của họ Chính. Vậy tự bạn chỉ cần nghĩ xem: Mình có phải là một người biết Tích phúc không? Có phải là người không oán hận người khác không? Có phải là người Tùy duyên không? Một người như vậy, chính là đang học Phật một cách tương đối "Chính".

Trong chuyến du lịch ở nhân gian này, "Căn Linh" bên trong chúng ta sẽ dần dần sinh sôi. Căn Linh là gì? Căn là cái Rễ học Phật, cái Rễ bản tính, cái Rễ của Phật. Còn Linh là gì? Căn là nền tảng học Phật, nếu có sự rung cảm tâm ngự trị trên đó, nó sẽ bắt đầu xao động. Nghĩa là, người này chỉ cần khởi tâm Từ bi, chạm đến phần Căn (gốc) của họ, thì tiếp đó, họ sẽ ngày càng trở nên từ bi. Đây chính là lúc "Linh động tính" (Tính xao động của linh tính) của họ bắt đầu khởi động, gọi là Căn Linh. Do đó, cái Tự tính "Bản Giác" (Sự giác ngộ vốn có) sẽ hiển lộ. Tức là, cái bản tính lương thiện và Phật tính vốn có, sẵn mang sự giác ngộ của bạn sẽ từ từ bắt đầu sáng tỏ. Cái Tự tính Bản Giác, chính là căn tính giác ngộ vốn có của mỗi con người. Giống như việc một người, có người khuyên mãi không tỉnh, nhưng đổi người khác khuyên một câu lại tỉnh ngộ ngay. Tại sao vậy? Bởi vì sự giác ngộ trong bản tính của họ vẫn luôn nằm sẵn trong tâm.

33. Không có điều Ác, tức là Thiện

+

Phải hiểu rằng, nếu đem trí tuệ áp dụng vào trong đời sống, bạn sẽ "Tức đắc Như Lai chân thực ngữ" (Lập tức có được lời nói chân thật của Như Lai). Nghĩa là, chỉ cần bạn sống và làm người một cách thật thà trong đời sống, ăn nói chân thành: Hôm nay tôi làm được thì bảo làm được, không làm được thì bảo không; tôi làm sai tôi liền thừa nhận; khi đó bạn sẽ đắc được "Như Lai chân thực ngữ". Bồ Tát có nói lời chân thật không? Như Lai chính là Phật tính vốn có của bạn. Người nói lời chân thật có phải rất tự nhiên không? Tại sao trẻ nhỏ lại dễ dàng nhận được sự tha thứ của người lớn? Vì chúng chân thật! Làm sai chuyện, bố mẹ nói: "Không sao, lần sau cẩn thận hơn là được". Nó lập tức khôi phục lại cái "bản tính Như Lai" của mình.

Sư phụ dặn các vị, phải trân trọng "Bất hoại thân" (Thân thể không bị hoại diệt/tổn thương). Nếu bạn luôn biết trân trọng từng chút từng chút của bản thân, không nói dối, không làm điều ác, không làm việc xấu, sẽ chẳng có ai hãm hại được bạn cả. Tại sao nhìn thấy cảnh sát bạn lại sợ hãi? Vì bạn vừa vượt đèn đỏ! Đó là do bình thường trong tâm bạn chứa mầm mống của thói quen xấu. Sư phụ dạy các vị phải hiểu, để đảm bảo được "Bất hoại thân", không có ý niệm xấu, không nói dối, thì sẽ chẳng có ai có thể làm hại bạn. Những kẻ bị bắt vào tù, bạn vào hỏi hắn: "Ai đã hãm hại anh?". Câu cuối cùng hắn nói chắc chắn là: "Là tôi tự hại chết chính mình". Đúng không? Vậy tại sao bạn lại tự hãm hại bản thân? Chẳng phải con người ai cũng rất ích kỷ sao? Là bởi vì bạn không còn là con người của thuở ban đầu nữa, bạn mới tự hại mình. Sư phụ hy vọng mỗi người các vị ngồi bên dưới đều nghe lọt tai, các vị sẽ có thể tiếp nhận trí tuệ của Bồ Tát, tiếp nhận năng lượng của Bồ Tát.

Phải nhận thức được rằng: Tôi không thể làm người xấu nữa. Trong quá khứ chúng ta đã làm quá nhiều việc xấu, quá nhiều chuyện sai trái. Phụ nữ các vị làm quá nhiều việc tệ bạc, đàn ông các vị làm quá nhiều điều ác độc. Hôm nay theo Sư phụ học Phật mà vẫn còn rắp tâm nghĩ xấu, cả ngày ăn nói hàm hồ (vọng ngữ), các vị đang mang Bồ Tát ra làm trò đùa đấy à? Nghe hiểu không?

Cho nên, một người có "Bất hoại thân", không ai hại được bạn, bạn cũng sẽ không làm hại "Quyến thuộc" (người thân) của mình. Sư phụ nói điều này rất sâu sắc. Thế nào gọi là hại quyến thuộc? Hai vợ chồng, một người thường xuyên ăn cá sống, một người không ăn; cuối cùng người ăn cá sống chết sớm, người kia vẫn còn sống. Người chết đi có phải đã làm hại người còn sống không? Bạn có phải đã làm hại quyến thuộc của mình không? Nếu bạn thường xuyên nói dối, hay làm chuyện xấu, bạn phải chịu quả báo, bạn mắc bệnh ung thư; đối phương phải chăm sóc, hầu hạ bạn, có phải bạn đang làm khổ người nhà không? Bạn tưởng bạn sống trên đời này chỉ có một mình sao? Vì thế, bạn phải học Phật cho tử tế, làm người lương thiện cho đàng hoàng, không ai hãm hại được bạn, cũng không ai phá vỡ được sự hòa thuận trong gia đình bạn. Bạn chỉ cần sống một cách chân thật, thiết thực trong nhà, sẽ không có kẻ nào chen chân vào phá nát gia đình bạn được. Rất nhiều người chính vì trong nhà suốt ngày cãi vã, kẻ thứ ba mới có cơ hội chen chân vào, đúng không? Suy cho cùng, chẳng phải do tự bạn làm hại gia đình mình sao?

Phải có Tín dự (Uy tín), trả lại Bản tính, thì Nghiệp mới được Thanh tịnh. "Trả lại bản tính" là gì? Bạn mang bản tính của mình ra, thực chất chính là trả lại cho bạn, tương đương với việc bạn tìm lại được bản tính. Sau khi bản tính được trả lại, nghiệp của bạn sẽ được "thanh toán" sạch sẽ. Lấy ví dụ đơn giản: Bạn có một khoản tiền gửi ở nước ngoài, trong khi ở Úc bạn lại đang nợ nần người ta. Bạn tìm mọi phương pháp để rút khoản tiền ở nước ngoài đó ra, nhưng không rút được; vậy bạn chính là một “Người mang nghiệp”, là một con nợ. Đợi đến khi bạn tìm thấy khoản tiền đó, bạn không những hết nợ, mà còn trở thành một người giàu có. Khi các vị tìm lại được lương tâm, bản tính của chính mình, mọi thói hư tật xấu trên người các vị sẽ tự nhiên tan biến. Nếu bạn không tìm thấy Phật tính này, bạn chính là một kẻ ác, một kẻ mang theo nghiệp chướng.

Sư phụ mong các vị phải nuôi dưỡng một cái tâm kiên định, Đừng phá hoại sự "Pháp hành" của tự tâm. Tức là, người học Phật phải kiên định ý chí của mình, đừng phá hoại "Tự tâm pháp hành" – chính là những hành vi lương tâm trong việc thực hành Phật pháp. Bởi vì tâm bạn đang vận động; khi bạn học Phật, thì Phật chính là Pháp. "Tự tâm pháp hành" nghĩa là trên con đường thực hành tu học Phật pháp, hành vi của tôi phải vô cùng kiên định.

Chúng ta Không được thiếu cung kính với "Thiện tri thức". Nói cách khác, nếu bạn không biết kiềm chế bản thân, kiêu ngạo, ngông cuồng, thì bạn sẽ trở nên bất kính với Thiện tri thức. "Thiện tri thức" ở đây chỉ người dẫn đường cho bạn, người hoa tiêu của bạn, là Sư phụ của bạn, là những người truyền đạt cho bạn kiến thức Phật học đúng đắn... Một chữ "Thiện" đại diện cho việc bạn không có chữ "Ác". Vì thế, trong bất kỳ bộ kinh Đại thừa nào, câu mở đầu luôn là "Thiện nam tử, Thiện nữ nhân". Chữ Thiện này, các vị có làm được không? Một người hễ đã là Thiện nam tử, người đó chắc chắn không dính lấy một chút mầm mống Ác nào. Các vị có phải là "Thiện nữ nhân" không? Sự tàn ác của các vị còn nhiều lắm, các vị chưa xứng đáng được gọi là Thiện nữ nhân đâu. Phải không có một chút mầm Ác nào, mới xứng đáng được gọi là Thiện. Đối với Thiện tri thức, ví dụ như đối với Sư phụ của mình, phải hết sức tôn kính. Đừng tưởng mình học được chút Phật pháp là kiêu ngạo, ngông cuồng, không biết thu mình lại.

Phải Tránh xa "Ác khẩu" (Tránh buông lời ác), kiên quyết không được chửi rủa người khác, phải "Ngôn xuất thụ ích" (Lờ nói ra phải mang lại lợi ích). Tức là, lời bạn nói ra, bạn nhất định phải làm cho bản thân mình được hưởng lợi, đồng thời người khác cũng được hưởng lợi. Sư phụ bây giờ đang giảng bài cho các vị, Sư phụ có được hưởng lợi không? Có chứ. Các vị có được hưởng lợi không? Các vị cũng được hưởng lợi. Lời nói phải đi đôi với Đạo lý. Ngày xưa có câu "Ngôn xuất tất hành" (Nói là phải làm), Sư phụ bây giờ yêu cầu các vị không cao đến vậy. "Ngôn xuất tất lý" – nghĩa là lời tôi nói ra hôm nay, các vị bắt buộc phải ngẫm nghĩ về nó. Tuy tôi chưa làm được, nhưng tôi khắc ghi trong lòng. Như thế, người ta mới có thể chấp nhận được, người ta mới thấy bạn có uy tín, kín kẽ không có kẽ hở, không khiến người ta cảm thấy bạn đang nói dối, khoác lác. Bản thân bạn thấy không hổ thẹn với chính mình, cũng không hổ thẹn với người khác.

Nếu một người sửa đổi những thói hư tật xấu trên người, để phát huy những hành vi lương thiện, thì người đó sẽ ngày càng trở nên tốt đẹp. Nếu người đó không biết sửa đổi thói xấu, thì hành vi tốt của họ sẽ ngày một ít đi, việc xấu sẽ ngày một nhiều lên, sau này họ sẽ trở thành một kẻ ác.

Một người nếu Không "Ỷ ngữ" (Nói lời thêu dệt/hoa mỹ sáo rỗng), không thiên vị, sẽ được "Trí nhân sở ái" (Người có trí tuệ yêu mến). Ví dụ hôm nay sếp bảo bạn: "Cậu Lý, cậu thử nói quan điểm của mình xem". Nếu cậu ấy có thể phân tích rõ ràng rành mạch 1, 2, 3; sếp nghe xong thấy rất thực tế. Vậy là xong, người có trí tuệ chắc chắn sẽ thích bạn. Bởi vì bạn không nói lời thêu dệt, không thiên vị, sự việc vốn thế nào bạn nói thế ấy; bạn chắc chắn sẽ được người có trí tuệ yêu mến.

Rất nhiều người ở đây nói chuyện thường xuyên thiên lệch. Rõ ràng là làm sai, các vị lại cứ tưởng là tốt, thực chất là hại người ta. Các vị bao che, nói đỡ cho con cái, thực chất là hại nó. Các vị ở Quan Âm Đường phải vạch ra những khuyết điểm trên người khác, đó mới là giúp họ, chứ không phải hại họ. Tất cả những người trẻ đang ngồi dưới kia, nếu Sư phụ không chỉ ra khuyết điểm của các vị, các vị sẽ không bao giờ biết mình là những kẻ đầy rẫy tật xấu. Chính vì Sư phụ ngày ngày nói về khuyết điểm của các vị, các vị sửa chữa rồi, các vị mới được người ta coi là người tốt. Lời Sư phụ nói vẫn còn chừa đường lui đấy: Được người ta coi là người tốt, tức là vẫn chưa thực sự là một người tốt trọn vẹn đâu.

Dùng trí tuệ để trả lời và kết duyên với chúng sinh, tức là phải dùng trí tuệ để giải đáp vấn đề, để kết thiện duyên với chúng sinh. Làm được vậy sẽ "Đắc nhân thiên uy đức tối thắng" (Nhận được uy đức vĩ đại nhất của Trời và Người). Một người có uy tín, là vì họ không nói dối; người không nói dối mới có uy tín! Nhìn lại xem, kẻ hay nói dối ai mà có uy tín? Nếu ai cũng biết hắn là kẻ chuyên nói dối khoác lác, hắn có uy tín không? Thiên Thượng có ban uy tín cho hắn không? Uy đức Nhân Thiên mất hết, không còn sự oai phong, không còn cái đức hạnh đó nữa. Giống như một bậc trưởng bối suốt ngày khoác lác, con cái sẽ không tôn trọng ông ta: "Bố ơi, bố bớt bốc phét đi!" – Bố lấy đâu ra uy đức nữa? Sư phụ dặn các vị, phải hiểu thế nào là "Vô hữu hư vọng" (Không bao giờ giả dối, viển vông). Tức là vĩnh viễn đừng có "Hư" (Hư giả/Giả tạo). "Vọng" chính là khoác lác, phát séc khống. Vừa đạo đức giả, vừa hay vọng ngữ; loại người này có uy đức của Trời Người không? Một người làm cha mẹ, hay một viên quan, tối ngày chỉ biết bốc phét, thì lấy đâu ra Đức? Nhìn cuộc bầu cử ở Úc chúng ta mà xem. Ông này hứa: "Nếu tôi đắc cử thống đốc, tôi sẽ lập tức thông tuyến đường sắt này". Đắc cử rồi, nhưng tuyến đường sắt có thông không? Vẫn không thông. Ông ta có uy tín không? Không có, rồi bị người ta la ó đuổi đài. Vì thế, giới chính khách hay bị coi thường, vì họ hay nói dối.

Sư phụ hy vọng các vị Tu học phải thật lòng thật dạ, đừng lãng phí huệ mạng của chính mình. Bất kể làm chuyện gì, cũng phải không hổ thẹn với lương tâm, đừng vọng ngữ. Bất kỳ một tật xấu nhỏ nào trên người cũng có thể hãm hại chúng ta cả đời. Lần trước Sư phụ kể, có một người bố tát một cái làm đứa con điếc luôn lỗ tai; chính vì một câu vọng ngữ của đứa trẻ mà khiến người cha phải ân hận cả đời. Đôi khi tuyệt đối không được ăn nói lung tung; thà ít nói một chút, chứ không được nói năng hàm hồ, bừa bãi. Lời nói từ miệng thốt ra, sẽ đại diện cho việc con người bạn nặng mấy lạng, mấy cân. Nhiều cô gái sinh ra rất xinh đẹp, đứng im không nói gì, những người đàn ông liền tìm cách gợi chuyện để cô ấy mở miệng. Bạn biết tại sao không? Hắn muốn "cân đong" xem trọng lượng của bạn thế nào. Lời từ miệng thốt ra sẽ cho thấy con người bạn có "sức nặng" hay không.

Sư phụ ngày nào cũng giảng "Pháp lý nhân gian" cho các vị nghe. Giống như một người cha, Sư phụ không ngừng chỉ ra những khuyết điểm trên người các vị. Các vị phải biết cảm ân Sư phụ, phải hiểu rằng Sư phụ đang thực tâm giúp đỡ các vị, là vì muốn tốt cho các vị. Nếu các vị không chịu sửa đổi thói hư tật xấu, các vị có biết mình sẽ trở nên nông nỗi nào không? Bất cứ một tật xấu nhỏ nào cũng có thể đẩy con người ta vào chỗ chết; nói cách khác, không được phép giữ lại những thói quen xấu, một khuyết điểm nhỏ cũng có thể kéo theo một lỗi lầm lớn. Sư phụ thấy các vị làm trái không được, làm phải không xong; Sư phụ nói ra, các vị nhất định phải tiếp thu. Thực chất, khuyết điểm mà Sư phụ chỉ ra có thể đối với bạn lúc này chưa nghiêm trọng, nhưng thời gian lâu dài sẽ rất nguy hiểm, có thể dẫn đến hậu họa khôn lường. Hơn nữa, lúc Sư phụ phê bình, chính là lúc đang bồi dưỡng khả năng "Nhẫn nhục tinh tấn" cho các vị. Xã hội bây giờ, chẳng ai thèm chỉ ra khuyết điểm của người khác nữa, vì chẳng có ai chịu tiếp thu ý kiến của người khác cả.

Thế giới này quá phức tạp, thế giới này quá không hoàn mỹ, thế giới này có quá nhiều điều bất đắc dĩ, thế giới này có quá nhiều phiền não. Không tu tâm thì làm sao mà sửa? Lấy ví dụ đơn giản, bão cát quá lớn, thổi đến mức mở mắt không lên; bạn không chịu đeo kính chắn gió, không chịu quấn khăn chống cát, bạn chắc chắn sẽ bị bụi mù lấp mặt. Sống trong xã hội này, bạn không giữ cho mình sạch sẽ, không học Phật, bạn chắc chắn sẽ bị nhiễm vô số thói hư tật xấu.

"Nhược yếu nhân bất tri, trừ phi kỷ mạc vi" (Muốn người không biết, trừ phi mình đừng làm). Chỉ có cách Sửa Sai, không có con đường thứ hai. Giống hệt như việc lái xe vậy; khi tiến về phía trước, để không đi lạc, chúng ta chỉ có cách không ngừng điều chỉnh vô lăng: lúc đánh lái sang trái một chút, lúc sang phải một chút, thì mới đến được bờ bên kia. Tuyệt đối không có đường tắt. Các vị cứ thử nhìn mà xem, những kẻ đi đường tắt, cuối cùng lại hóa ra đường vòng. Lúc lái xe chúng ta hay nghĩ: Đường này chưa đi bao giờ, đi qua đây biết đâu gần hơn. Chúng ta thường hay suy nghĩ chủ quan, kết quả càng đi càng xa, thậm chí còn lạc đường. Mỗi người các vị đều có trải nghiệm sâu sắc hơn Sư phụ: Đôi khi càng vội, thời gian càng gấp, cứ cố tìm một con đường tắt, kết quả lại đâm đầu vào ngõ cụt. Tức là, khi một người đánh mất phương hướng cuộc đời, họ thường muốn tìm một đường tắt để giải quyết vấn đề, cuối cùng con đường tắt đó lại hại chết họ. Nhân sinh lẽ nào không phải như vậy sao?

Hôm nay Sư phụ giảng đến đây thôi. Sư phụ hy vọng mọi người phải thường xuyên khởi sinh Tâm cảm ân, cảm tạ Quán Thế Âm Bồ Tát.

34. Thường xa rời Vọng ngữ, Tam nghiệp thanh tịnh

+

Sư phụ nói với các vị, cũng giống như cơ thể của mỗi người vậy, phải Thường xuyên không có bệnh tật. Cơ thể phải thường xuyên không mắc bệnh, thì sinh mạng và tuổi thọ của bạn mới kéo dài. Nếu một người hôm nay bệnh này, ngày mai bệnh nọ, toàn thân đều là bệnh, tuổi thọ của họ làm sao mà dài được? Nếu người này trong đời sống, nhìn ai cũng thấy chướng mắt, đố kỵ người ta, hận thù người ta; các vị nói xem người này có phải là người tốt không? Đạo lý chẳng phải cũng giống nhau sao? Hôm nay đau đầu sổ mũi, ngày mai ầm ĩ cãi vã, ngày mốt lại khóc khóc cười cười; các vị bảo có giống kẻ thần kinh không? Loại người này tuổi thọ có dài được không? Phải hiểu rằng: Đầu óc không có bệnh, trong tâm sạch sẽ.

Phải Biết chịu khổ. Người chịu được khổ sẽ Không gặp ác mộng, không có những giấc mơ tồi tệ, ngủ cũng thấy vui vẻ, ngủ rất an giấc. Nhiều kẻ không biết chịu khổ, chỉ biết hưởng lạc, hắn ngủ cũng chẳng ngon giấc. Lấy ví dụ đơn giản: Các cô gái lấy chồng giàu, nếu không biết chịu khổ, thì ngày nào cũng làm bạn với ác mộng. Tại sao? Bạn sợ người chồng giàu có một ngày nào đó không cần bạn nữa; khi đó, bạn sẽ phải chịu khổ, bạn hết tiền, bạn mất tất cả. Bởi vì bạn không chịu lao động, trong nhà thuê người giúp việc, muốn ở nhà lầu, muốn ăn đồ ngon, muốn dùng hàng hiệu. Bạn dựa dẫm vào chồng, bạn nghĩ xem bạn có thể không gặp ác mộng sao? Nếu bạn dựa vào chính sức lao động của mình, dựa vào đôi bàn tay mình để kiếm tiền, bạn đặt lưng xuống là ngủ khò khò. Cho nên, chịu khổ rất quan trọng. Một người chịu được khổ mới có thể nhẫn nại, cần cù.

Sư phụ yêu cầu các vị phải "Diệt trừ oán kết". Đừng đi gây thù chuốc oán với người ta, đừng đi kết oán với người ta. Hôm nay Sư phụ được phóng viên phỏng vấn đăng báo; các vị thì vui, Sư phụ lại lo. Bởi vì Sư phụ nghĩ đến việc sẽ có rất nhiều kẻ sinh lòng đố kỵ, không vui. Vì vậy, Sư phụ cầu Bồ Tát phù hộ cho được bình an. Vừa phải hoằng pháp, vừa phải bình an. Các vị thấy báo đưa tin Sư phụ thì vui sướng, nhưng nhiều kẻ khác xem xong lại nổi máu ghen ăn tức ở thì sao? Nên phải nghĩ cho người khác. Người ta tu chưa tốt, đó vẫn là nghiệp chướng của người ta; bạn là Bồ Tát, bạn có trách nhiệm giúp họ tiêu trừ nghiệp chướng đó. Nên sự việc không được làm quá rùm beng, phải khiêm tốn, kín kẽ.

Chúng ta học Phật, phải "Chúng oán tự giải" (Mọi oán hận phải tự mình hóa giải). Nghĩa là, mọi thù hằn, oán ghét của tất cả mọi người, bạn phải tự mình hóa giải. Hôm nay bạn xích mích với ai, bạn phải tự đi cởi nút thắt đó. Hôm nay bạn cãi nhau to với con trai, hai bên không thèm nhìn mặt nhau; đến cuối cùng bạn vẫn phải tự mình đi hòa giải. Thấy con lầm lì không nói gì, bạn chạy tới hỏi: "Con ăn cơm chưa?". Đó chẳng phải là tự bạn đang đi hóa giải sao? Bạn cãi nhau ỏm tỏi với chồng, bạn vẫn phải tự đi nói chuyện với anh ấy! Cho nên, chỉ cần có oán khí, bạn bắt buộc phải tự mình đi hóa giải nó.

Vô oán mới có thể vô khủng bố. Bạn không có ân oán với người ta, bạn mới không sợ; bạn cãi nhau với người ta, có oán kết rồi, bạn sẽ luôn nơm nớp lo sợ bị hãm hại. Vô khủng bố, chính là không sợ hãi trước Ác đạo. Ác đạo là gì? Ở nhân gian cũng có ác đạo. Ác đạo ở nhân gian là gì? Là khi tư tưởng, tư duy của bạn bước vào con đường tội lỗi, bạn sẽ hoang mang, sợ hãi. Bạn càng hận một người, bạn càng thấy sợ. Bạn thử xem? Bạn hận kẻ này, bạn sẽ luôn cảm thấy hắn định giở trò đâm sau lưng bạn, bạn ngày càng khiếp sợ. Ở cơ quan, bạn càng hận người nào, mắt bạn càng không dám nhìn thẳng người đó. Đối phương sẽ biết tỏng là bạn đang hận họ, và tiếp theo, họ sẽ tìm cách "triệt" bạn, đúng không? Hôm nay bạn tức tối vì sếp không tăng lương cho bạn; bạn nhìn thấy sếp là hậm hực, mặt sưng mày xỉa không cười nổi, bạn quay mặt đi. Sếp bước tới chào mọi người: "Chào cả nhà!", bạn mặt như đưa đám không nặn nổi một nụ cười. Sếp thừa biết trong lòng bạn đang bất mãn với ông ta. Bạn đã tự tay gieo xuống cái "Ác nhân", vài ngày nữa người đầu tiên bị đuổi việc chính là bạn! Sư phụ giảng có đúng là Phật pháp nhân gian không? Phải hiểu những đạo lý này. Bạn coi nhẹ mọi thứ, sẵn sàng chịu thiệt một chút, bạn sẽ "Vô khủng bố" (không sợ hãi).

Làm người phải Năng khuất năng thân (Biết mềm mỏng vươn lên, biết lùi biết tiến). Phải biết rằng trên thế giới này, mọi thứ thật mà như giả, mọi thứ giả lại như thật. Rất nhiều phu nhân của những gia đình cực kỳ giàu có, nhẫn kim cương bà ấy đeo trên tay chẳng có cái nào là hàng thật. Bà ấy đeo nhẫn kim cương lên tay, những người xung quanh lác mắt xuýt xoa: "Ôi đẹp quá, đúng là vô giá!". Phú bà cười tủm tỉm đáp: "Toàn đồ giả đấy!". Nhưng người khác lại bĩu môi: "Bà Vương, bà đùa kiểu gì vậy, bà nói giả, người ta lại tưởng là thật". Một người phụ nữ nghèo lấy một gã đàn ông, cô nói với chồng: "Em chẳng mong ước gì cao sang, anh chỉ cần mua cho em một chiếc nhẫn mấy carat là được rồi". Cô đeo chiếc nhẫn kim cương trên tay khoe với mọi người: "Hàng thật đấy, đẹp không?". Nhưng người ta lại chép miệng: "Xì, đồ rởm!". Tại sao lại như vậy? Điều này chứng tỏ, tâm thái của bạn thay đổi, thì hành vi và tư duy của bạn cũng sẽ thay đổi theo. Cho nên, ở nhân gian thật giả khó lường, đừng tham lam của người khác.

Con người phải Thường ly Vọng ngữ (Thường xuyên tránh xa lời nói dối). Ở Quan Âm Đường, tại sao Sư phụ không cho phép bọn trẻ các vị nói dối? Vì người nói dối sẽ tự làm giảm giá trị của bản thâ. Kẻ nói dối sẽ bị người ta nhìn thấu; từ ánh mắt, từ cử chỉ hành động, từ lời nói của bạn, người ta nghe là biết ngay bạn đang nói thật hay nói dối. Phụ nữ lại càng không nên nói dối, người ta sẽ khinh bỉ bạn. Bạn tưởng người ta không nhìn ra à? Người ta chỉ không thèm nói toẹt ra thôi, người ta đâu phải là Sư phụ của bạn! Sư phụ mắng các vị, là để sau này các vị nhận được sự tôn trọng của người khác. Chớp mắt một cái là tuôn ra một lời nói dối, người ta sẽ coi thường các vị. Rất nhiều quý cô ở đây, ngày xưa bốc phét tiện mồm tiện miệng, kể cả bây giờ các vị vẫn còn tật bốc phét. Nói nhanh quá, bên này còn chưa nói dứt câu, đoạn sau đã lộ ngay cái đuôi nói dối. Các vị có thấy nhục nhã không? Lại còn lật đật thanh minh: "Sư phụ ơi, xin lỗi Sư phụ, ý con không phải thế".

Phải thường ly vọng ngữ, đừng dính dáng đến những lời nói dối. Kẻ hay nói dối chính là một kẻ Vọng nhân (kẻ cuồng vọng, dối trá), mà vọng nhân thì chẳng khác nào đống rác rưởi. Nếu một người không nói dối, họ sẽ nhận được lời tán thán từ Thiên giới. Bồ Tát có nói dối không? Có rất nhiều Thần và Tiên trên trời, tại sao họ lại bị giáng xuống nhân gian? Vì họ làm sai! Họ nói dối ở Thiên giới – trên đó quản lý rất nghiêm ngặt, nên bị trừng phạt đày ải xuống đây. Nhân gian chúng ta có một loại "Vỏ bọc bảo vệ" khiến người ta phải ôm hận nhục nhã, đó chính là Vọng ngữ. Bởi vì khi lời nói dối này tuôn ra, khiến bạn bẽ mặt, xấu hổ, nhục nhã; bạn cứ tưởng mình đang bảo vệ được bản thân mình, nhưng thực chất ai cũng biết, chỉ là bạn đang tự lừa dối chính mình mà thôi. Cho nên phải hiểu rằng, khi rời xa được vọng ngữ, Thiên Thượng sẽ tán thán, và cơ thể sẽ được thanh tịnh. Các vị thử nghĩ xem, nếu một ngày từ sáng đến tối bạn không nói một câu dối trá nào, buổi tối bạn sẽ thấy vô cùng nhẹ nhõm, khoan khoái. Nói dối rồi, trong lòng sẽ vô cùng day dứt.

Sư phụ lấy một ví dụ cho các vị nghe: Các vị đi siêu thị mua đồ, bây giờ đều có máy tự thanh toán (self-checkout). Trong đầu các vị chỉ cần sượt qua một ý niệm: "Hôm nay mình tính thiếu một món đồ". Ngay sau đó, các vị sẽ thấy mặt đỏ tía tai, toàn thân nóng bừng, bứt rứt khó chịu, cảm thấy mình hệt như một kẻ ăn cắp. Các vị thử xem? Đừng đi làm thật, các vị chỉ cần thử Nghĩ đến thôi; người có chút đỉnh Tâm học Phật, lập tức mặt sẽ đỏ lựng, lúc đó cảm giác sẽ hoàn toàn khác biệt, cơ thể không còn thanh tịnh nữa, tâm trí không tĩnh lại được, cứ thấy mình giống như một kẻ xấu.

Hôm qua khi Sư phụ trả lời câu hỏi của Đoàn Thanh Niên, có một cô gái đến hỏi Đài trưởng: Cô ấy sinh một đứa con với một người xuất gia, đây là tâm bệnh không thể xóa nhòa của cô ấy, và cô ấy biết đây là tội nghiệt phải đọa địa ngục. Các vị có biết không, lúc làm chuyện đó, cô ta có nghĩ đến hậu quả này không? Sư phụ ngày nào cũng dặn các vị: Đừng đợi đến khi Quả báo ập tới, mới hối hận quay lại nhìn cái Nhân của mình. Đừng phạm giới! Căn bệnh lớn nhất của con người là tự mình làm khổ mình, thường xuyên phạm giới. Phạm giới rồi, con người sẽ trở nên hạ tiện, bẽ bàng nhục nhã lắm! Một người thà dằn vặt kiềm chế dục vọng của bản thân, còn hơn là làm chuyện đê tiện. Bởi vì sau khi trở nên đê tiện, sau này sẽ phải "đi xuống" (đọa địa ngục), nghe hiểu không? Nợ người ta, rốt cuộc cũng phải trả!

Muốn khiến chúng sinh tin phục, phải thường xuyên dùng Ái ngữ để an ủi chúng sinh. Bạn muốn người ta tin phục bạn, bạn phải thường xuyên dùng những lời nói quan tâm, yêu thương để an ủi họ; có như vậy người ta chắc chắn sẽ đối xử tốt với bạn. Chẳng hạn, anh Tống nói với người ta: "Bác đừng lo, bác mắc bệnh này không sao đâu. Chỗ chúng tôi có rất nhiều người đã khỏi bệnh rồi. Chỉ cần bác tin Quán Thế Âm Bồ Tát, bác chắc chắn sẽ vượt qua khó khăn, không chết được đâu". Sau khi bạn nói xong những lời quan tâm này, người ta có phải đã tin phục bạn rồi không? Người ta sẽ cảm ân Bồ Tát, cảm ân bạn; chẳng phải bạn đang thay Bồ Tát đi độ người sao?

Phải làm gương cho người khác, phải hiểu chuyện một chút. Các vị không thể sáng nắng chiều mưa. Phải "Phát ngôn thành chứng" (Lời nói ra thành bằng chứng), nghĩa là sao? Chỉ cần bạn thốt ra câu này, thành một câu nói, thì gọi là "Phát ngôn". Bạn bắt buộc phải làm cho bằng được điều đó, thì gọi là "Thành chứng". Nếu không, lời bạn nói ra bị coi là Vọng ngữ. Lời nói chưa suy nghĩ thấu đáo thì bớt nói lại! Các vị phải học cho tử tế, nghe cho cẩn thận, áp dụng cho đàng hoàng. Nếu các vị không biết "Phát ngôn thành chứng", thì Tam Nghiệp của các vị sẽ không bao giờ thanh tịnh. Nếu các vị hiểu được: Những lời mình nói ra chắc chắn mình làm được, thì Tam Nghiệp của các vị mới thanh tịnh. Người không nói dối, đầu óc họ có sạch sẽ không? Có chứ. Họ không nói dối, họ không cần phải bịa chuyện để che đậy bản thân, ý niệm của họ có thanh tịnh không? Chắc chắn là có. Người không nói dối, miệng của họ cũng thanh tịnh; người không nói dối, hành vi của họ chính là hành vi của một người không nói dối. Như vậy là họ đã Tam nghiệp thanh tịnh.

Người tam nghiệp thanh tịnh, nói chuyện sẽ không bao giờ lỡ lời, vì vậy họ thường xuyên sinh tâm hoan hỷ. Kẻ mở miệng là ăn nói hàm hồ, bừa bãi, trong lòng sẽ không bao giờ có được sự vui vẻ.

Lúc các vị mới theo Sư phụ học Phật, có ai là chưa từng nói dối? Đám Đoàn Thanh Niên các vị, hễ Sư phụ mắng một câu là lập tức cãi lại nhem nhẻm một câu, nói dối không chớp mắt. Hãy nhìn lại quá khứ của mình, rồi nhìn lại hiện tại của các vị; các vị mới thấy, "Thường ngôn vô ngộ" (Nói chuyện thường xuyên không mắc sai lầm), người như vậy sẽ ngày càng vui vẻ. Người không nói dối, sống rất nhẹ nhõm; kẻ hay nói dối, sống vô cùng khổ sở, có đúng không nào? Tại sao lại phải nói dối? Một lời nói dối phải dùng mười lời nói dối khác để che lấp; bạn bắt buộc phải nặn ra mười lời nói dối thì mới lấp liếm nổi một lời nói dối. Hơn nữa, tâm bạn sẽ vẩn đục, ý niệm của bạn sẽ chẳng còn sạch sẽ. Sư phụ ngày nào cũng dặn: Nói dối nhiều quá, sau này toàn bộ sẽ đọa địa ngục đấy. Thà bây giờ sống thật thà một chút, thà bây giờ sống trong sạch một chút.

Nói chuyện phải biết tôn trọng người khác. Người thường xuyên tôn trọng người khác, được gọi là "Nhân Thiên phụng hành" (Trời Người đều tuân theo/ủng hộ). Thường xuyên biết tôn trọng người khác, ngay cả Thiên Thượng cũng sẽ trợ giúp bạn. Đối xử với các bà, các bác vô cùng lễ phép, ai nhìn mà chẳng quý mến? Đó chẳng phải là Thiên ý sao? Trời đang giúp người đó đấy. Một người nếu chẳng tôn trọng bất kỳ ai, sẽ tự đi rước rắc rối khắp nơi, tạo thêm nghiệp chướng cho chính mình. Không nói dối sẽ thường sinh tâm hoan hỷ, trí tuệ thường xuyên siêu việt (Thù thắng), thường xuyên bình an tịnh tâm. Các vị xem, chỉ một lời nói dối, một câu vọng ngữ, có thể mang lại cho bản thân vô vàn rắc rối. Các vị còn không biết bao nhiêu rắc rối của người khác chẳng phải đều từ cái mồm điêu ngoa nói dối mà ra sao? Về đến nhà, tình cảm vợ chồng vốn đang rất tốt, chồng hỏi vài câu, vợ chót nói dối một câu; thế là xong, đối phương tóm được thóp, bắt đầu cãi vã, cả một đêm không yên lành. Bạn nói thật thì có sao đâu? Vì thế, nếu bạn là kẻ hay nói dối, vì tâm của bạn đã biến thành Vọng tâm (Tâm hư vọng), bạn sẽ không thể chế phục được Vọng tâm của chính mình, mà nó sẽ biến thành Giả tâm (Tâm giả dối).

35. Dùng tâm viên mãn để chứng đắc Vô thượng Bồ Đề

+

Phải học cách "Chư ác vĩnh đoạn" (Mọi điều ác phải vĩnh viễn chặt đứt). Tất cả những thứ độc ác, tôi phải vĩnh viễn đoạn tuyệt sạch sẽ, không được viện bất cứ lý do nào. Làm sai, chỉ cần trên người mình có điểm sai, là phải thừa nhận mình sai, hơn nữa phải vĩnh viễn đoạn trừ nó. Không thể nói hôm nay sửa, ngày mai lại tái phạm; đó không gọi là "vĩnh đoạn".

Phải "Thiện pháp viên mãn" (Mọi việc thiện phải trọn vẹn). Nghĩa là, làm bất cứ việc thiện nào, bạn phải làm cho viên mãn. Hôm nay bạn đến Quan Âm Đường dập đầu lễ Phật, bạn phải chắp tay bái cho đàng hoàng; nếu bạn không dập đầu, thì không viên mãn. Hôm nay bạn dập đầu rồi, nhưng bạn không tụng kinh, lại là không viên mãn. Hôm nay bạn muốn giúp đỡ một người, bạn chỉ hỏi han họ một câu, gọi một cú điện thoại, bạn chưa có hành động giúp đỡ thực chất, bạn chính là không viên mãn. Mọi sự việc không viên mãn đều sẽ gây ra "Hữu lậu" (Sự rò rỉ/thiếu sót) ở nhân gian. Nếu có rò rỉ, bạn sẽ không thể tích lũy được, càng rò rỉ càng hao hụt. Hồi nhỏ, túi quần chúng ta bị thủng một lỗ, nhét vài đồng xu vào đó, đinh ninh rằng đồng xu to thế này làm sao lọt ra ngoài được. Bạn thử xem? Vài ngày sau, tiền rơi sạch sành sanh. Cho nên, tuyệt đối không được để xảy ra sự "hữu lậu", đây là điều quan trọng nhất.

Phải biết "Chứng Vô thượng Bồ Đề Đạo" (Chứng ngộ con đường Vô thượng Bồ Đề). Nghĩa là, chúng ta làm bất cứ việc gì, phải hiểu thế nào là viên mãn. "Vô thượng" nghĩa là gì? Là không có tỳ vết, liên tục vươn lên cao nhất, làm bất cứ việc gì cũng không có giới hạn, không có bờ bến. Hoặc là không làm, đã làm thì phải làm cho tốt. Làm tốt việc gì? Chính là Bồ Đề Đạo, là việc của Bồ Tát, Tâm của Bồ Tát, Hành của Bồ Tát.

Vì thế, bắt buộc ở nhân gian phải hiểu về sự "Thiện duyên thành thục" (Thiện duyên chín muồi). Chúng ta kết thiện duyên với người khác, nhưng cũng phải chờ nó chín muồi. Thế nào gọi là chín muồi? Chín muồi giống như đợi quả trên cây chín rồi mới có thể hái xuống. Nói cách khác, khi chúng ta đi độ người, người này vẫn chưa hoàn toàn tin tưởng, chứng tỏ Phật duyên của họ vẫn chưa chín muồi. Hôm nay chúng ta làm công đức, mới chỉ bái Phật, mà chưa tụng kinh, chúng ta vẫn chưa chín muồi. Thiện duyên chín muồi mới có thể kéo theo Cơ duyên chín muồi. Khi cơ duyên của một người đã chín, họ mới có thể làm thành công một việc nào đó. Người ta vừa hẹn hò với bạn được vài ngày, bạn chưa có danh phận gì, đã nằng nặc giục người ta mau cưới đi; đối phương lập tức bỏ chạy mất dép. Đây thuộc về Thiện duyên chưa chín muồi, thì Cơ duyên cũng không chín muồi. Đợi đến khi anh ấy tự nguyện kết hôn với bạn, tự nguyện đối xử tốt với bạn, đó mới là cơ duyên chín muồi.

Học Phật không dễ đâu! Đừng làm bừa, đừng có tư tưởng "Dĩ vi căn bản, nhi đắc thành tựu" (Tưởng rằng đó là cái Gốc, mà đắc được thành tựu). Nghĩa là, đừng tưởng rằng chúng ta vừa làm được một chút việc tốt, là chúng ta đã có thể nhận lại kết quả tốt. Rất nhiều người vừa mới lạy Phật, hôm nay dâng được bó hoa cho Bồ Tát, đã kêu ca: "Sao tôi cầu mãi mà không linh? Sao chuyện của tôi vẫn chưa khởi sắc?". Đừng tưởng như vậy là có thể thành tựu. Thực chất, phải dựa vào Căn bản thực sự mới có thể thành tựu. Căn bản là gì? Lương tâm của bạn, thiện tâm của bạn, Phật tính của bạn – chính là căn bản của bạn, bạn mới có thể thành tựu. Bạn xây nhà, bắt buộc phải có một cái nền móng cực kỳ vững chắc. Nền móng đó chính là lương tâm, sự lương thiện, tâm từ bi của bạn, là hiểu được Tâm Pháp hỷ, hiểu được Tâm Bố thí. Có được những cái tâm này rồi, nó mới trở thành "Căn bản" của bạn; và khi đã có những căn bản này, bạn mới có thể xây nhà, ngôi nhà mới xây cao được.

Phải biết năng làm Thập Thiện Nghiệp (Mười nghiệp lành): Vĩnh viễn dứt bỏ Sát sinh, Không trộm cắp, Không tà dâm, Không vọng ngữ, Không lưỡng thiệt, Không ác khẩu. Vọng ngữ là gì? Là nói dối. Lưỡng thiệt là gì? Là nói hai lời đâm thọc, chia rẽ. Ác khẩu là chửi rủa người khác. Những thứ này đều sẽ khiến việc học Phật cả đời của bạn không được viên mãn, những tật xấu này các vị đều mắc phải đấy. Còn có Ỷ ngữ, tức là bóp méo, xuyên tạc lời nói của người khác. Lại còn không được Tham - Sân - Si, không được Tà Tri Tà Kiến (Tri thức và góc nhìn tà vạy/lệch lạc).

Tà tri tà kiến là gì? Rất nhiều đứa trẻ tưởng rằng mình từ nhỏ đã có tài cãi chày cãi cối, đúng không? Có một cậu bé, người ta bảo cậu: "Tóc cháu dài thế này, sao không đi cắt đi?". Cậu đáp: "Bên ngoài người ta toàn để thế này mà". Hỏi cậu: "Sao cháu không đánh răng?". Cậu bảo: "Tại tối qua thức khuya quá". Hỏi cậu: "Cái anh kia ngồi ăn trên bàn trông tướng ăn khó coi thế nhỉ?". Cậu đáp: "Thế mới là hot trend của bọn cháu". Đây chính là Tà Tri; cậu ta không biết thế nào mới là chuẩn mực đúng đắn! Những gì cậu ta biết toàn là Tà (sai lệch). Tà Kiến: Cậu ta cho rằng điều này là Đúng (Chính), thực chất trong bụng thừa biết nó là Bất Chính, nhưng vẫn cố sống cố chết bới móc lý do ra để ngụy biện. Tà Tri: Đa phần bản thân không biết đó là Tà, lại tưởng là Chính, nên cả ngày chỉ lo ngụy biện cãi chày cãi cối.

Làm nghề môi giới bất động sản chính là như vậy. Rõ ràng chỗ này nắng không chiếu tới, họ lại bảo: "Mùa hè ở đây mát mẻ dễ chịu lắm". Hắn biết thừa đây là điểm yếu, nhưng hắn cứ bốc phét là điểm tốt. "Chỗ này sao không có bãi đỗ xe vậy?" - Họ đáp: "Đi bộ một chút xíu, coi như tập thể dục tốt cho sức khỏe mà". Đây có phải là Tà tri, Tà kiến không? Hắn bới móc ra những lý do "Cùn" đến mức không thể coi là lý do, và hắn cho rằng nó hoàn toàn hợp lý. Đối với hắn, đây chính là Tà tri, Tà kiến, nhưng hắn luôn cho là mình có lý.

Nhiều người học Phật thường xuyên đem cái tà tri tà kiến của mình ra nói với người khác: "Bồ Tát đứng trơ ra đó không nhúc nhích, làm sao tôi biết Bồ Tát có chứng giám cho tôi hay không?". Đây chính là tà tri tà kiến. Vì thế, các vị làm kinh doanh gì, làm chuyện gì, cũng đều có tà tri tà kiến nảy sinh. Sư phụ vừa lấy ví dụ về nghề môi giới nhà đất. Thử nghĩ xem, người mua kiểu gì chả bới ra được vài lỗi; bới ra lỗi rồi, bạn có thể nói: "Ừ, bác nói đúng đấy. Bác nói rất có lý, không thì sao nhà này lại rẻ thế được?". Đạo lý đơn giản vậy thôi. Đừng đi cãi cùn kiểu: "Người ta bán căn này được ngần này, ngần này vạn tệ đấy". Bạn lúc nào cũng cho rằng mình có lý, đó chính là Tà tri.

Một người phải biết Đa Thí Vô Úy (Năng bố thí sự không sợ hãi), năng giúp đỡ chúng sinh. Nghĩa của "Đa thí vô úy" là phải thường xuyên "Đại vô úy" (Cực kỳ can đảm, không màng bản thân); bản thân mình sao cũng được: "Tôi sao cũng được hết, tôi đối xử với ai cũng như vậy, tôi đối với ai cũng rất tốt". Vô úy chính là có khả năng giúp đỡ người khác; có vô úy mới có thể Vô tư (không ích kỷ). Người này mới không có tư tâm. Đại vô úy, tức là dốc sức giúp đỡ người khác đến mức tối đa. Trong số các vị, có mấy người chịu giúp đỡ người khác? Các vị có Đại vô úy không? Vô tư là gì? Là không được phép có dù chỉ một mảy may ích kỷ. Mọi tư tâm lợi kỷ đều không được tồn tại – điều này vô cùng khó thực hiện. Các vị có làm được không?

Các vị nói chuyện với một người, đôi khi còn thấy phí thời gian, vì người đó chẳng mang lại lợi ích gì cho các vị. Rất nhiều người ngồi đây đều như vậy: Thấy người có tiền thì liều mạng xun xoe bắt chuyện, vì nghĩ sau này nhờ vả được; thấy người nghèo, đến nửa câu cũng lười nói. Đó gọi là İch kỷ! Sư phụ chẳng thấy mấy ai ra nói chuyện với tiểu Từ cả, bởi vì trên người cậu ấy các vị không vớt vát được lợi lộc gì; thế gọi là İch kỷ. Các vị đã ăn mì xào của người ta chưa? Cô Châu chạy qua chạy lại cười tươi như hoa, gật đầu chào từng người một. Các vị có niềm nở đáp lại người ta không? Các vị tưởng Sư phụ không nhìn thấy à? Các vị mang tiếng là người học Phật, nhưng "Liệt căn tính" (căn tính tồi tệ) trong bản tính các vị đã phơi bày ra hết rồi. Thấy cô Châu nhiệt tình với các vị như vậy, chẳng có lấy một ai nán lại nói với cô ấy vài câu; thế gọi là İch kỷ! Thấy khuyết điểm của mình lộ ra chưa? Đã biết mình sai ở đâu chưa?

Chúng ta phải thường sinh Đại bi tâm (Tâm đại từ bi). Sư phụ vừa nói phải vô tư giúp đỡ chúng sinh, giúp đỡ người khác mà không cần bất cứ lý do tính toán nào, phải thường xuyên có lòng xót thương người khác. "Dũng đoạn nhất thiết sân hận tập khí" (Dũng cảm chặt đứt mọi thói quen sân hận), nghĩa là: Phải vĩnh viễn tiêu diệt mọi ý niệm hận thù trong con người mình. Khi một người không còn hận thù ai nữa, họ sẽ sinh ra Tâm Đại Bi. Lấy một ví dụ đơn giản: Nếu hồng cầu là Tâm Từ Bi; khi bạch cầu (sự hận thù) sản sinh ra quá nhiều, hồng cầu của bạn sẽ bị sụt giảm. Vì tâm sân hận của bạn quá lớn, bạch cầu của bạn quá cao, tương ứng với việc hồng cầu của bạn sẽ cạn kiệt, con người bạn chắc chắn sẽ sinh bệnh.

Phải hiểu rằng, tuyệt đối không được để trong lòng vương lại nửa điểm oán hận người khác. Khó lắm đấy! Sư phụ không đòi hỏi ở các vị quá cao. Lúc mới bắt đầu, chưa sửa được ngay, sự căm hận từ từ bùng phát một cách tự nhiên. Khi nó vừa nhú ra, phải lập tức dập tắt ngay! Bạn không được để nó lan rộng tự nhiên, không được để nó phát triển; nếu không, Tâm Từ Bi trong lòng bạn sẽ ngày một cạn kiệt.

36. Tâm sinh chủng chủng pháp sinh, tâm diệt chủng chủng pháp diệt

+

Hôm nay Sư phụ giảng cho các vị nghe, tâm không thể "Kiến sắc kiến thủ" (thấy hình sắc liền muốn chiếm lấy), tức là cái tâm của một người không thể cứ thấy đồ vật là muốn, thấy đồ vật là muốn vơ về cho mình. Chữ "Sắc" này không đơn thuần chỉ là nam nữ sắc dục, mà là chỉ tất cả mọi thứ trên thế giới này, cho nên những vật chất nhân gian này mới gọi là "Thế giới hữu sắc". Chính là tất cả mọi thứ trên thế gian này, các vị không thể cứ nhìn thấy là muốn chiếm lấy, bởi vì những thứ nhìn thấy được đều thuộc về hư vọng.

"Chư pháp tập khởi", nghĩa là gì? Tất cả các pháp thực chất đều tụ hội cùng nhau. Nói cách khác, chúng ta làm bất cứ việc gì ở nhân gian cũng đều là những thứ giả tạm, trống rỗng, hư vọng; các vị đừng cho rằng nhìn thấy nó thì tưởng như đó là thứ mình có thể nắm lấy được, cho nên gọi là "Chư pháp tập khởi".

Thực ra mọi thứ trên thế gian đều là "Vô pháp vô ngã", chính là ở nhân gian không có cái "Tôi". Bạn đến nhân gian này rồi bạn nhất định sẽ rời bỏ nhân gian này; bạn đến nhân gian này, bạn là giả tạm, là Không, cho nên không có cái "Tôi" này. Lúc vừa sinh ra bạn có biết mình là ai không? Sau khi chết bạn lại biết mình là ai? Vô ngã, không có chính mình, đến cũng vội vàng, đi cũng vội vàng. "Vô pháp" là gì? Là tất cả những việc bạn trải qua ở nhân gian đều là hư không. Chúng ta nói Pháp giới, Sắc pháp giới, chính là tất cả mọi thứ ở nhân gian, ngay cả đồ đạc, nhà cửa, mọi danh lợi, những chúng sinh hữu tình hay chúng sinh vô tình nhìn thấy được, tất cả mọi thứ đều là hư không; cho nên vô pháp lại vô ngã – tôi cũng chẳng còn, vì tôi đến nhân gian cũng là giả tạm, sau này rồi phải ra đi; hôm nay tôi xây một ngôi nhà, ngôi nhà trăm năm sau cũng sẽ hỏng; hôm nay tôi làm ra một thứ gì đó, hỏng rồi là mất sạch, thế nên gọi là "Vô pháp vô ngã".

Thực chất con người ở thế gian này gọi là "Tùy nghiệp", tức là khi bạn đến thế giới này thì chỉ có thể đi theo cái nghiệp của chính mình mà thôi; ở nhân gian "Sở hiện bất đồng" (biểu hiện ra ngoài không giống nhau), nghĩa là ở nhân gian chẳng qua chỉ là nhìn thấy một số tình huống, cảnh giới khác nhau, nhưng thực chất quy tụ lại đều là vô pháp vô ngã, đều là Không, là giả tạm. Lấy một ví dụ đơn giản, hôn nhân chẳng phải là hai người kết hôn sao? Nhưng hình thức biểu hiện của nó là cãi vã, lúc thì mặn nồng, lúc lại làm loạn, lúc thì đổi người đàn ông này, lúc lại thay người đàn bà kia; suy cho cùng cũng chỉ là một nam một nữ lập thành một gia đình, tuy hình thức biểu hiện khác nhau nhưng mục đích cuối cùng đều như nhau cả.

Ở nhân gian, tuy bề ngoài khác nhau nhưng thực chất chính là "Vô trung sinh hữu" (Từ không mà sinh ra có). Chúng ta đến thế giới này, chẳng phải vốn dĩ ban đầu không có người như bạn sao? Mảnh đất này của chúng ta trước khi khai hoang, chẳng phải là không có nhà cửa sao? Chẳng phải là từ không mà bắt đầu sinh ra có sao? Các vị sinh con đẻ cái ra, chẳng phải là vô trung sinh hữu sao? Các vị làm cho thế giới này dần biến đổi ra, chẳng phải là vô trung sinh hữu sao? Ngày xưa không có máy bay, bây giờ có máy bay rồi, chẳng phải là vô trung sinh hữu sao? Đây không phải là nghĩa bịa đặt trong ngôn ngữ hẹp hòi của con người, mà thực tế là thế giới này vốn dĩ không có gì cả, rồi sau đó từ từ càng lúc càng nhiều lên, giống như một người đến nhân gian, dần dần có con trai, có cháu trai, có vợ, cái gì cũng có, đều là do bạn sinh ra cả.

Cho nên, hiểu rõ tất cả những điều này thì mọi pháp trên thế gian – bất cứ thứ gì chúng ta cũng đều gọi là pháp – thảy đều bất khả tư nghị. Bởi vì "Tự tính như huyễn" của nó, tức là tự tính của nó, bản tính của chính nó như mộng huyễn bào ảnh, không nắm bắt được, không có một việc gì mà bản tính của mình có thể nắm giữ được cả; như mộng huyễn bào ảnh, nghĩa là tự tính bản thân vốn dĩ không có gốc rễ căn cơ. Bởi vì sau khi bạn đến nhân gian, bạn vốn dĩ chẳng biết mình từ đâu tới, bạn cũng không biết mình là ai, đây chính là sự mê lầm tạm thời của bản tính. Rất nhiều người khi đã mất phương hướng thường sẽ nói rằng họ còn chẳng biết mình làm sai chuyện này, họ thậm chí đến bản thân mình là ai cũng không biết. "Anh có biết việc này là việc anh nên làm không?" - "Tôi không biết, sao tôi lại làm chuyện này cơ chứ". Họ không còn tự tính nữa, không còn bản tính của chính mình nữa. Nhiều người cãi nhau đến cuối cùng giết chết đối phương, làm ra những chuyện không thể tưởng tượng nổi, chính vì họ không thể kiểm soát được bản tính, tự tính của mình, nên mới làm ra những việc mất đi tự tính.

Phải thấu hiểu: "Trí giả tri dĩ, ứng tu thiện nghiệp" (Người có trí tuệ biết rõ rồi thì nên tu thiện nghiệp). Người có trí tuệ thì thấu hiểu cái Nhân, gieo cái Nhân này xuống; "Ứng tu thiện nghiệp" tức là đã và đang tu rất nhiều thiện nghiệp. Bởi vì tôi hiểu rằng hôm nay tôi gieo xuống Nhân lành thì nhất định sẽ có Quả ngọt, vậy nên cái Nhân này gieo xuống là bạn đã sinh ra một cái Quả lành rồi. Giống như các vị nộp hồ sơ xin định cư vậy, các vị nộp đơn lên cục di trú không có nghĩa là cục di trú lập tức phê duyệt cho các vị; nhưng cái Nhân này đã gieo xuống rồi, các vị tin tưởng mình sẽ trở thành người thường trú. Cho nên, người biết Nhân thực chất chính là người hiểu Quả; người hiểu Quả thì họ nhất định biết cái Nhân này. Lúc chúng ta còn nhỏ chưa hiểu chuyện, bố mẹ đã biết việc này làm ra sẽ làm tổn thương đến ai, trẻ con không hiểu nhưng bố mẹ hiểu. Vì vậy, phải biết "ứng tu thiện nghiệp", tức là hễ người hiểu cái Nhân này thì họ sẽ liều mạng làm việc thiện, không làm việc ác, hơn nữa làm người "Giai tất đoan chính", chính là hoàn toàn đoan chính lại tâm thái của mình.

Tâm thái của con người vô cùng quan trọng, nếu người này không biết điều chỉnh tâm thái thì người này nhất định không hiểu cái Nhân. Nếu tâm thái người này không tốt, thực chất họ đã đang gieo nhân ác rồi – thấy người ta tốt lên thì mình khó chịu, mình không đạt được thì u uất muộn phiền, vậy là người này đã bắt đầu đi xuống dốc rồi. Ngày hôm nay tâm thái của các vị có tốt hay không sẽ quyết định cái Nhân các vị gieo xuống hôm nay có tốt hay không. Hôm nay tâm thái tôi rất tốt, tôi thấy người ta có tiền, tôi thấy bản thân mình cũng rất giàu có rồi, tôi không muốn tham lam thêm nhiều tiền nữa. Người này tâm thái tốt, họ sẽ gieo xuống nhân lành; còn nếu người này đố kỵ người ta, suốt ngày đòi danh đòi lợi, người này nhất định sẽ gặp chuyện, bởi vì họ gieo nhân ác.

Sư phụ dạy mọi người phải hiểu: "Chúng sinh hoan hỷ, vi ngã hoan hỷ" (Chúng sinh vui mừng chính là niềm vui của ta). Chuyện mà ai ai cũng vui vẻ thì chúng ta đều phải vui vẻ; việc mà ai ai cũng phải làm là giúp đỡ chúng sinh, cứu độ chúng sinh, thì tôi phải đi làm. Sự lương thiện và phúc báo của con người thảy đều do tu tích thiện nghiệp, phúc đức mà sinh ra. Nghĩa là sự lương thiện và phúc báo của một người, tại sao người đó lại rất lương thiện, tại sao người đó lại có phúc khí, thực chất đều do chính họ tu tích thiện nghiệp, phúc đức mà nên. Người này tích phúc tích đức tu thiện thì mới sinh ra sự lương thiện và phúc báo. Nói một cách đơn giản, khi một người liều mạng làm việc thiện, họ chính là đang tích lũy cái thiện của mình, thứ họ nhận được cũng là cái thiện. Khi một người liều mạng tu phúc khí, họ bỏ ra cái phúc thì cuối cùng thứ họ nhận được chính là phúc báo, đạo lý chính là như vậy.

Phải thấu hiểu: "Tâm sinh chủng chủng pháp sinh, tâm diệt chủng chủng pháp diệt". Câu này nói lên điều gì? Chính là trong tâm bạn sinh ra một sự việc nào đó thì sự việc đó liền xảy ra, là do trong tâm bạn nghĩ ra; nếu tâm bạn không nghĩ đến nữa thì tất cả mọi thứ thảy đều diệt vong. Rất nhiều người trước khi hầu tòa thấy rất khổ sở, rất oán hận, đầu óc ngày nào cũng canh cánh chuyện này, luôn lo lắng kiện tụng thế nào, có gây ra hậu quả gì không. Nghĩ đi nghĩ lại, chính là "tâm sinh chủng chủng pháp sinh". Đợi đến khi bạn nghĩ thông: "Thôi bỏ đi, chẳng phải cũng chỉ có chút đồ này thôi sao? Có gì mà phải tranh giành, mình không đi kiện nữa". Con người liền nhẹ nhõm, cũng chẳng còn lo lắng, tất cả đều buông bỏ, đó chính là "tâm diệt chủng chủng pháp diệt". Cái "Pháp" này là những việc các vị phải làm ở nhân gian, thế nên cái Tâm là vô cùng quan trọng.

Nếu chúng ta không tu Thân - Khẩu - Ý, không tu sửa cho tốt những tật xấu trên thân thể mình, không tu sửa thói ăn nói hàm hồ của cái miệng, không tu sửa những ý niệm bất chính, thì chúng ta sẽ phải "Tùy nghiệp thụ báo", tức là nương theo nhân quả, nương theo cái nghiệp do bạn tạo ra mà chịu quả báo này. Cho nên phải "Chính kiến bất động", nghĩa là những việc tôi làm ngày hôm nay nếu là "Chính", là tốt, thì tôi như như bất động. Đương nhiên bạn phải có Chính tư duy thì mới sản sinh ra Chính kiến. Nếu cả ngày trong đầu bạn chỉ nghĩ đến những chuyện xấu xa, lệch lạc thì bạn sẽ không bao giờ có Chính kiến. Các vị thử nghĩ xem, mỗi ngày trong đầu mỗi người các vị có 50 chuyện là Chính, có 100 chuyện là Tà; có những người là 50 chuyện Tà, 100 chuyện Chính, người này trong một ngày đã được coi là người tốt rồi. Một cái ý nghĩ của các vị động lên, nếu là ích kỷ tư lợi vì bản thân chứ không phải vì chúng sinh, thì đó chính là đi lệch rồi.

Đừng quên các vị là người học Phật, các vị đang học theo Bồ Tát chứ không phải học theo chính mình, tất cả những tạp niệm thảy đều phải chịu báo ứng, gọi là tùy nghiệp thụ báo. Thế nên phải giữ Chính kiến, đừng đi nghĩ ngợi những lý luận trùng trùng ở nhân gian. Nghĩa là bạn đừng đi nghĩ cái đạo lý ở nhân gian này; đạo lý nhân gian chẳng có đạo lý gì để nói cả, Chính là Chính mà Tà là Tà. Khi trong đầu bạn muốn làm một việc gì đó, bạn cho rằng việc này phù hợp với lương tâm của bạn, thì đó là "Chính"; còn nếu bạn lại nghĩ ra bất kỳ lý do nào khác, một trăm thứ lý do, thì thảy đều là lệch lạc. Cho nên chỉ cần người lương thiện ở nhân gian bảo bạn sai, và chính bạn cũng biết việc này là sai, thì bạn không được phép đẻ ra đủ thứ lý do để bảo việc này là đúng nữa; nếu không bạn chính là tà vạy, lệch lạc, ít nhất là tại một điểm nào đó đã làm sai rồi, mà đã là làm sai thì chắc chắn là làm sai, không có lý do gì để bào chữa cả.

Ví dụ như hôm nay các vị không cẩn thận khạc nhổ bừa bãi, bị người ta nhìn thấy bắt quả tang, thì bạn phải bảo: "Xin lỗi, lần sau tôi không làm thế nữa", chứ không thể bảo: "Hôm nay tôi vừa vặn bị cảm cúm" v.v... Tất thảy những thứ đó đều thuộc về lệch lạc, tà vạy. Bạn cứ thừa nhận mình sai còn tốt hơn là bạn tìm ra nghìn vạn thứ lý do. Hôm nay bạn đi học muộn, chẳng có gì phải giải thích cả, ví dụ bảo "bố mẹ tôi vừa mới đến sân bay", nếu muốn tìm thì ai cũng có thể bới ra nghìn vạn thứ lý do, nhưng nếu bạn muốn ở trong sự thật mà tìm ra muôn vàn lý do để giải thích cho mình, thì càng giải thích càng đi lệch. Có gì đáng để giải thích đâu? Sai là sai rồi, một câu "Xin lỗi" chẳng phải đều giải quyết xong rồi sao? Càng nói với người ta cái đạo lý mà mình cho là đúng thì lại càng vô lý; càng muốn giải thích cho người ta hiểu rõ thì lại càng không giải thích nổi, lấy đâu ra đạo lý để mà phân bua? Vợ chồng cãi nhau ai cũng có lý, cuối cùng ai là người có lý đây? Chẳng ai có lý cả, đúng không? Các vị bảo là vợ ở nhà bỏ ra nhiều hơn, hay chồng ở nhà bỏ ra nhiều hơn? Các vị bảo là quá khứ bỏ ra nhiều hơn, hay hiện tại bỏ ra nhiều hơn? Các vị là trước khi kết hôn bỏ ra nhiều hơn, hay sau khi kết hôn bỏ ra nhiều hơn? Trước khi kết hôn lúc yêu nhau người ta đã bỏ ra rồi, bạn có thể bảo người ta không bỏ ra không? Tất thảy những điều này đừng có đi tìm cái đạo lý đích thực trong mớ lý luận tục gia ở nhân gian.

37. Tri khổ đắc lạc thường trừ tham niệm

+

Vì "Vô sở đắc" nên mới có thể làm được "Vô sở vị". Có cái gì quan trọng chứ? Thế giới này có bạn không thêm, vắng bạn không bớt; cảm ơn bạn đã đi cùng tôi một đoạn đường, mọi chuyện qua đi rồi chẳng phải đã qua rồi sao? Cảm ân người đó đã giúp tôi học được cách nhìn nhận nhân sinh; cảm ơn bạn đã giúp tôi thấu hiểu thế nào là đàn ông, thế nào là đàn bà, thế nào là con cái, thế nào là cha mẹ. Chỉ khi ở trạng thái " không còn vướng bận", bạn mới có được niềm vui. Có gì ghê gớm đâu chứ?

Cụ bà họ Chu bây giờ tuổi cao thế này rồi, cái gì cũng thấy không vướng bận rồi, đúng không? Cụ còn tư tưởng danh lợi nữa không? Cái gì cũng không vướng bận rồi, cứ thế trống rỗng mà ra đi; lúc đi, Phật pháp có thể đưa tôi lên trời, đó chính là phúc báo nhân gian tốt nhất, sao cũng được rồi. Cô Chu bây giờ thấy không vướng bận rồi, vui vẻ rồi đúng không? Ngày xưa con trai mắng bạn một câu, bạn tức lộn ruột, có thể mấy năm không thèm nhìn mặt nó; bây giờ nó chỉ thẳng vào mặt bạn mắng, bạn cũng chỉ cười xòa với nó. Không vướng bận rồi, thế là bạn vui vẻ; còn bạn cứ để tâm đến người này thì bạn sẽ đau khổ. Cái khái niệm Phật này của Sư phụ chỉ có thể giúp đỡ các vị từng chút từng chút một; nếu một lúc học quá nhiều thứ mang tính khái niệm, các vị sẽ không tiếp thu nổi đâu, bởi vì lý luận của Phật pháp mang tính triết học khá cao.

Niềm vui thực sự của chúng ta bắt buộc tâm phải tịnh mới "Thường tri thị lạc" (luôn biết đó là niềm vui). Nghĩa là trong lòng bạn phải biết đây là niềm vui thì bạn mới vui lên được; chính bạn còn chẳng phân biệt được vui và khổ thì làm sao bạn vui nổi? Rất nhiều người vui quá hóa khóc, đúng không? Nếu không cảm nhận được đây là niềm vui, thì một việc dù có vui đến mấy, qua một thời gian cọ xát điều hòa, đến lúc đạt được rồi lại chẳng thấy đó là một niềm vui nữa.

Lời Sư phụ nói đây, các vị hãy về tự mình chiêm nghiệm lại những sự việc trong cuộc sống của mình xem. Lấy một ví dụ, một đứa trẻ thích ăn cơm rượu nhất, bà ngoại làm xong cơm rượu đặt ở đó, ngày nào nó cũng mở nắp ra, dùng mũi ngửi ngửi thấy dễ chịu làm sao; qua sáu bảy ngày, đợi đến khi cơm rượu làm xong rồi, nó lại chẳng muốn ngửi nữa, bởi vì nó đã bị hơi rượu làm cho chóng mặt váng đầu rồi. Đạo lý chính là như vậy, Sư phụ nói thảy đều là lời thật lòng.

Các vị phải thấu hiểu đạo lý, đừng để cái tâm của mình xao động. Nếu tâm các vị như như bất động thì các vị chẳng sợ bất cứ điều gì. Đáng sợ nhất là "Tâm động", đó chính là gốc rễ sản sinh ra phiền não và niềm vui của bạn đấy. Cho nên, tâm tốt nhất là đừng có động; nếu tâm bạn động, cơ thể bạn sẽ không khỏe mạnh; cơ thể không khỏe mạnh, nhục thân của bạn sẽ bị tổn thương; nhục thân tổn thương thì bạn sẽ không có niềm vui. Các vị tưởng rằng những chuyện các vị nghĩ trong tâm thì nhục thân của các vị chắc chắn sẽ làm được à? Rất nhiều người bả vai nhấc không lên, nhìn một nơi rất gần, cứ ngỡ mình có thể với lấy đồ vật qua được, bạn có làm được không? Bạn không làm được đâu. Nếu Sư phụ đưa tay ra một cái là lấy được đồ vật qua rồi, đúng không? Còn tay của bạn vừa mới đưa qua, vì bạn quên mất mình đang đau, nhưng lập tức liền cảm nhận được nhục thân không đáp ứng nổi việc mà trong tâm muốn làm.

Tâm an tĩnh, Thần mới định. Tâm của một người có an tĩnh thì Thần mới định lại được. Thân khinh an, cơ thể một người có nhẹ nhàng sảng khoái thì họ mới cảm thấy an toàn. Cơ thể không nhẹ nhàng, chân sưng phù, tay đau nhức, mí mắt nặng trĩu muốn ngủ, có khó chịu không? Tâm bạn có an được không? Sư phụ giảng cho các vị không đơn thuần chỉ là Phật pháp, mà là triết lý học Phật đấy! Cho nên, phải đợi đến khi những giả tướng này thảy đều bị khắc phục xong, bạn tự nhiên sẽ vui vẻ. Nếu tâm không an, tâm liền phiền muộn; ví dụ như Sư phụ vừa phê bình bạn một câu, bạn lập tức phiền não ngay: "Chết dở, Sư phụ nhìn ra mình có chuyện gì rồi à?". Trong lòng bạn bất an, lý trí của bạn đại loạn, cái miệng bắt đầu nói năng bừa bãi, hành động loạn cả lên, hiểu chưa?

Bởi vì quá nhiều người vướng phải cái khổ "Cầu bất đắc" (Cầu không được). Ở nhân gian, bạn cầu được sao? Bạn muốn cầu cái gì là có cái đó à? Bạn thích cô gái này, bạn cầu cô ấy, cô ấy liền thuận với bạn chắc? Bạn muốn lấy người đàn ông này, bạn liều mạng cầu anh ta, bạn cầu được không? Bạn muốn cầu ngôi nhà này, là được ngay chắc? Hôm nay bạn đi thuê nhà, nhìn một cái, ngôi nhà này tôi rất ưng ý vừa lòng, nhưng có mười mấy người đang chực giành ở đó kìa, có đến lượt bạn không? Thế gian này không có chuyện gì là vừa lòng đẹp ý hoàn toàn cả, cho nên, nhất định phải hiểu rằng, tâm phải an thì con người mới không có cái khổ.

Chúng ta đôi khi cần một số những ngày tháng cô khổ. Những ngày tháng cô khổ là gì? Là cố ý để bản thân mình chịu khổ một chút. Càng khổ, đợi đến ngày hôm sau khi bạn vui vẻ, bạn sẽ càng cảm thấy nó ngọt ngào, nghe hiểu không? Để bản thân chịu khổ một chút thì có làm sao đâu chứ? Biết ngày mai được ăn món ngon rồi thì hôm nay ăn nhạt một chút; nghĩ ngợi một chút, ngày mai có thể được ăn tốt hơn rồi, cảm giác liền sẽ khác ngay. Các vị còn trẻ thế này, chịu chút khổ thì sợ cái gì? Để bản thân cô đơn một chút cũng chẳng sao. Một mình ở đó, không ai ngó ngàng tới bạn, nhưng trong lòng phải không cô đơn.

Tại sao rất nhiều người ngồi ở đó, nửa ngày không nói năng gì, chẳng ai đoái hoài đến họ, họ vẫn cứ rất vui vẻ? Bởi vì tâm họ không cô đơn; còn rất nhiều người bề ngoài thì vẻ vang, nói đông nói tây, nhưng vừa ngồi ghé xuống một bên là liền nghĩ ngay: "Hai hôm nay người ta lại đến đòi tiền rồi, mình về nhà biết tính sao đây? Bác sĩ bảo tuần sau mình đi kiểm tra sức khỏe kìa, mình còn chẳng biết có làm sao không nữa?". Bạn bảo xem bạn có cô đơn không? Thường xuyên chịu khổ một chút, thường xuyên để tư duy của mình nếm chút mùi khổ sở, có lợi đấy.

Các vị đều biết Sư phụ muốn tốt cho các vị, ai cũng từng bị Sư phụ phê bình, phê bình rất nặng, nói đến mức đôi khi không còn mặt mũi nào. Gần đây có một người bị Sư phụ phê bình vài câu, anh ta bỗng chốc thấy mất mặt, kết quả là đi nói ra nói vào với người khác. Bạn biết người ta nói lại với anh ta thế nào không? "Mấy câu Sư phụ phê bình anh chỉ là mưa phùn thôi. Anh có biết Sư phụ phê bình chúng tôi thế nào không? Anh không có phúc khí, bị Sư phụ nói cho vài câu mà đã thành ra cái bộ dạng này rồi; Sư phụ phê bình chúng tôi, chúng tôi còn được nhận gia trì đấy". Người đó nghe xong cứ trố mắt nhìn đối phương trân trân nửa ngày. Thế nào gọi là gia trì? Thực ra một người trên người có bệnh mà bị đối phương chỉ ra, chính là đang gia trì cho họ. Sư phụ nói cho các vị biết, chịu không nổi chính là câu nói Sư phụ từng giảng cho các vị ở phía trước: họ là "vô chủ tể" (không làm chủ được), bởi vì coi cái "Tôi" quá nặng, nên trên thân thể họ không có sức mạnh để làm chủ bản thân, không thể tự coi mình quá ghê gớm được.

Sư phụ thực ra chẳng muốn phê bình các vị đâu, Sư phụ tại sao lại phải nói các vị như vậy, là để gạt bỏ cái tâm ngạo mạn của các vị đấy! Các vị đều chẳng hiểu gì cả, lúc các vị mới đến, ai nấy đều tự cho mình là ghê gớm lắm, một người tốt nghiệp Đại học Bắc Kinh, một người là nghiên cứu sinh tiến sĩ, lúc mới đến có oai không chứ? Từng người một thảy đều tưởng mình ghê gớm, mắt mọc trên đỉnh đầu; bây giờ Sư phụ kéo hết mắt các vị xuống dưới, ai cũng có tính khí cả, phải biết buông bỏ chính mình. Sư phụ mắng các vị là vì muốn tốt cho các vị, là để loại bỏ cái tâm ngạo mạn của các vị. Sư phụ không nghiêm khắc với các vị thì có được không? Phải biết rằng "Nghiêm sư xuất cao đồ" (Thầy nghiêm khắc mới có trò giỏi).

Thường xuyên phải để bản thân chịu cô khổ một chút, bao gồm cả những cơn đau trên cơ thể mình, đều là chuyện tốt cả. Cứ để các vị đau răng một chút, đau chỗ này chỗ kia một chút, các vị mới biết cách yêu thương thân thể. Các vị có biết tại sao rất nhiều người lại đột ngột qua đời không? Chính vì cả đời họ chẳng có bệnh tật gì cả, đùng một cái phát bệnh là đi luôn. Còn người thường xuyên đau chỗ này, nhức chỗ kia thì lại không chết được, vì họ luôn có sự phòng bị. Phải hiểu rằng, chịu chút khổ thì có làm sao đâu chứ? Thường xuyên chịu khổ một chút, trên cơ thể có chút bệnh tật đau đớn, sẽ không khiến chúng sinh ra lòng tham niệm dư thừa.

Các vị có biết khi nào các vị ít có tham niệm nhất không? Chính là lúc nằm bẹp trên giường bệnh, tay nhấc đồ vật không nổi, chẳng ai ngó ngàng tới các vị, vô cùng cô độc; lúc bấy giờ bạn còn đầu óc đâu mà nghĩ đến chuyện tham lam nữa? Khi một người chịu chút khổ, cơ thể có chút không thoải mái thì tham niệm tự khắc sẽ ít đi. Một người đàn ông lúc cơ thể khỏe mạnh, đi ra ngoài cứ ngỡ mình oai phong tinh tướng lắm, đùng một cái đổ bệnh, nằm trên giường bệnh liền lập tức thấy cuộc đời chẳng có ý nghĩa gì. Đây chính là "Tri vô thường, khứ tham niệm" (Biết vô thường, trừ tham niệm). Những gì Sư phụ giảng cho các vị tuyệt đối là tinh hoa, hãy cố mà nhét vào đầu. Phải hiểu rằng, chịu chút khổ sẽ không sinh ra tham niệm dư thừa; cơn đau tạm thời sẽ giúp chúng ta rời xa, né tránh sự ngu si ở nhân gian.

Rất nhiều người vốn dĩ còn muốn làm cái này cái nọ, có người còn muốn mở lối làm ăn buôn bán, đợi đến khi nằm bệt vào bệnh viện, toàn thân đau nhức, liền nghĩ bụng con người sao lại thành ra cái bộ dạng thế này nhỉ? Lúc bấy giờ bạn còn muốn mở cửa hàng nữa không? Nhiều người vốn dĩ chẳng nỡ bán nhà, vừa thấy mình mắc bệnh ung thư là liền lập tức bán phăng đi ngay; vốn dĩ vì năm mươi vạn đồng, dao động có một nghìn đồng họ cũng chẳng nỡ nhường, vừa đổ bệnh một cái, cơ thể yếu nhược thế này liền chẳng thèm tranh chấp với người ta nữa. Nhiều người đi kiện tụng cũng vậy, đang đi kiện thì đổ bệnh, thế là thôi không kiện nữa, chấp nhận thua; đi kiện tụng chính là sự ngu si. Muốn rời xa, né tránh sự ngu si ở nhân gian, phương pháp tốt nhất chính là đừng để một người lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió

Một người đã nếm mùi khổ sở thì mới biết đi tìm phương hướng; còn một người chưa từng chịu khổ, lúc nào cũng suôn sẻ thì cuối cùng sẽ gây họa lớn. Nhiều kẻ làm quan chính là như vậy, xuôi chèo mát mái, được rồi, cuối cùng hoặc là không có chuyện gì, hoặc hễ có chuyện là chuyện tày đình. Nghĩa là một người đừng có quá suôn sẻ, quá suôn sẻ sẽ hại chết chính bạn đấy. Một đứa trẻ cũng vậy, các vị đừng để nó quá suôn sẻ, bắt buộc phải để nó nếm chút mùi khổ sở. Đứa trẻ vừa sinh ra, bác sĩ y tá đã bắt nó chịu khổ rồi, "bạch bạch" hai cái tét vào mông là lập tức cất tiếng khóc chào đời ngay.

Chỉ có ở trong đau khổ, chúng ta mới có thể có sự suy nghĩ sâu sắc (thâm tư), mới chịu đi nghĩ ngợi một số vấn đề; con người lúc không khổ thì ai thèm đi nghĩ ngợi vấn đề chứ? Người ta bỏ tôi mà đi rồi, tôi mới chịu nghĩ: "Có phải bản thân mình cũng làm sai rồi không? Tại sao họ lại bỏ mình đi nhỉ?" – Bắt đầu thâm tư rồi đúng không? Đau khổ rồi mới biết thâm tư đấy!

Chúng ta muốn loại bỏ sự cố chấp ích kỷ là một việc khó, vô cùng khó. Bởi vì con người rất cố chấp, đôi khi con người vì một chút sĩ diện mà tổn thất rất nhiều; thực ra làm người học Phật, chỉ cần người ta nói đúng là bạn bắt buộc phải sửa. Rất có thể lúc người khác phê bình bạn, chính là Bồ Tát mượn xác họ để nói đấy; chấp trước sẽ hại chết người. Muốn sửa cái tính cố chấp vô cùng khó; các cô gái các vị tại sao mãi không gả đi được? Vì quá cố chấp. Các chàng trai các vị tại sao mãi không lấy được vợ? Cũng là vì quá cố chấp. Đừng quá cố chấp, đừng dùng tâm thái ích kỷ và Tham - Sân - Si để sống ở nhân gian. Người tham tâm nặng, người sân tâm nặng, người si tâm nặng, chẳng phải là một kẻ đại ngu ngốc sao? Liều mạng đi tranh giành những thứ giả tạm về cho mình, những thứ không đáng hận thì căn bản đừng có đi hận, để đến cuối cùng là hận chết chính mình.

Rất nhiều bạn nhỏ kể với Sư phụ, hồi bé đòi một món đồ, mẹ không mua cho liền ngày nào cũng tuyệt thực không ăn cơm, cuối cùng đói đến mức chịu không nổi, bèn thừa lúc mẹ không để ý, lén mở tủ lạnh lấy sữa uống, kết quả bị tiêu chảy bị mẹ phát hiện; đây chẳng phải là tự mình làm khổ mình sao? Tại sao cứ phải chết vì sĩ diện chứ?

Học Phật chính là phải buông bỏ sĩ diện, chính là phải để người ta phê bình, bị phê bình rồi là phải vui vẻ, phải thấy không vướng bận, đồng thời phải sửa sai. Phải học cách sống những ngày tháng dưa muối trà thô, giống như hòa thượng, ni cô vậy. Dưa muối trà thô, ăn được bao nhiêu thì ăn bấy nhiêu, sao cũng được, như vậy mới giữ lại được hạnh phúc. Ngày ngày tùy tiện một chút, tùy ý một chút, bạn liền có thể giữ lại được hạnh phúc, bạn liền có thể thấu hiểu được hạnh phúc của nhân sinh, mới có thể thực sự thấu hiểu hạnh phúc của cuộc đời.

Con người không dễ dàng đâu, các vị thử nghĩ xem, "Trường Giang sóng sau xô sóng trước", bây giờ trên toàn thế giới có biết bao nhiêu người muốn trở thành đệ tử, đệ tử nhập thất và đồ đệ của Sư phụ, nhưng yêu cầu thì ngày một cao; cho nên các vị bắt buộc phải nỗ lực, bạn muốn ngăn cản người ta là không được đâu. Các vị thử nghĩ xem, ngày xưa có mỗi mấy người các vị ở bên trong, các vị mới vui sướng biết bao, bây giờ có thêm nhiều đệ tử như vậy, các vị được ngồi lên phía trước rồi đúng không? Các vị không được bài xích người ta, không được đố kỵ người ta. Phải nhớ kỹ, để người khác tiến bộ thì bạn mới tiến bộ nhanh hơn nữa. Người ta ai nấy đều đang tiến bộ, bạn cũng đang tiến bộ, đó gọi là sóng đánh sóng, sóng đẩy sóng. Cùng một vị trí này liên tục có sóng đẩy bạn, bạn mới có thể tiến về phía trước chứ.

Sư phụ hôm nay giảng cho các vị, chủ yếu là phải hiểu trong lòng phải có Pháp hỷ, phải thực sự vui vẻ, phải cười ra được. Cười thật, tự bạn sẽ thấy rất thoải mái; còn cười giả tạo thì giống như quỳ trước mặt Bồ Tát, giả vờ lạy Phật vậy, vô cùng khó chịu.

Hy vọng các vị học cho tốt, tu cho tốt; các vị sau này phải học được cách khi Sư phụ khen một ai đó tốt, các vị phải vui mừng thay cho họ, các vị sẽ có công đức đấy, các vị đều chẳng hiểu gì cả. Nếu trong lòng các vị khởi lòng đố kỵ, ví dụ bảo họ là một người được Bồ Tát yêu thích, là một người tốt, Sư phụ vừa khen họ tốt, Bồ Tát đều cảm thấy rất tốt; nếu trong lòng bạn khó chịu thì bạn đã đi ngược đường với Bồ Tát rồi, bạn chắc chắn là đang tổn giảm công đức; còn nếu bạn bảo người này tốt, bạn rất vui mừng, thì bạn đã tăng thêm công đức rồi. Kẻ thường xuyên đi đố kỵ người khác sống khổ sở lắm. Không được có tâm đố kỵ, người ta tốt lên bạn phải thấy vui mừng. Bạn bảo ai cũng tốt thì trong đầu bạn toàn là điều tốt; bạn bảo ai cũng xấu thì đầu bạn toàn là một vũng nước bẩn, thế thì bảo sao chẳng sinh ác bệnh? Điều này bắt buộc phải kết nối ánh sáng của Bản tâm và Phật tâm lại với nhau, bạn mới có thể tìm thấy ánh sáng quang minh.

38. An tịnh không ô nhiễm, an định không đảo điên

+

Phải nhớ kỹ, nhất định phải mở rộng tâm lượng của mình. Bắt đầu từ bây giờ, bắt buộc phải rèn luyện bản thân: người ta chửi tôi, tôi cười hì hì, không có sao; người ta châm chọc tôi, không có sao; nhìn thấy người này rất đáng ghét, nghĩ bụng họ cũng thật tội nghiệp – đó gọi là tâm lượng lớn đấy. Còn nếu bạn nhìn ai cũng thấy bên trái không vừa lòng, bên phải không ưng ý, thì trong tâm bạn chắc chắn có Ma. Kẻ nhìn ai cũng thấy ngứa mắt, trong tâm hắn chắc chắn đã có Ma rồi.

Phải giữ cho tâm hồn được bình lặng thì bạn mới tận hưởng được niềm vui ở nhân gian. Câu này vô cùng quan trọng; tâm hồn bạn rất bình lặng, bạn thấy mình rất thỏa mãn rồi, đủ rồi, thế là bạn vui vẻ, đúng không? Tôi không cần tiền, nhưng tôi rất vui. Tôi đòi tiền rồi tôi lại chẳng vui, tại sao? Vì phiền não kéo đến. Sư phụ chẳng phải từng giảng cho các vị rồi sao, phiền não của một người từ đâu mà ra? Vì tâm lượng họ không lớn, vì tâm hồn họ không bình lặng đấy! Họ đòi cái này, muốn cái nọ, có cái này rồi lại muốn cái kia; có cái kia rồi lại thèm cái khác. Có chút đỉnh tiền lại muốn nhiều hơn; có chút đỉnh danh lại muốn cao hơn, thế thì tâm họ làm sao mà bình lặng được; cho nên họ không thể tận hưởng được niềm vui ở nhân gian. Bạn khổ sở rồi thì làm sao bạn tận hưởng được niềm vui ở nhân gian nữa?

Một học sinh học xong đại học rồi, trong lòng không bình lặng: "Người ta vẫn đang học lên tiếp, tại sao mình lại không thể học lên tiếp nhỉ?". Bạn bảo xem đi học có vất vả khổ sở không? Nếu tâm thái bạn rất tùy hòa, học được thì học, không học được thì cũng không sao, không tự gây quá nhiều áp lực cho mình: "Mình vốn dĩ đã tốt nghiệp đại học rồi, tìm một công việc làm mình cũng thấy khá vui rồi", thế chẳng phải bạn cũng được tận hưởng niềm vui sao? Còn nếu tôi nhất định phải học lên tiến sĩ, tự chuốc thêm cho mình bao nhiêu áp lực, thế thì bạn bảo xem bạn có vui vẻ nổi không? Hôm nay bạn bảo với Sư phụ rằng bạn rất vui vẻ, thế thì Sư phụ sẽ rất mừng. Còn nếu bạn bảo hiện tại tâm bạn vẫn chưa bình lặng, bạn nhất định phải học, thì bạn học xong cái này, vẫn còn những cái khác đang đợi bạn học nữa đấy. Cho nên, chúng ta phải hiểu rằng, đừng có đi chấp trước, đừng có cái gì cũng đòi, cái gì cũng muốn.

Chúng ta phải "Thường sinh vô sinh diệt tâm" (Luôn sinh ra cái tâm không sinh không diệt). Nghĩa là tôi chẳng sinh ra cái tâm gì, cũng chẳng cần diệt đi cái tâm gì cả, tôi thấy sao cũng được, người ta nói tôi thì có liên can gì đâu? Hôm nay tôi đến nhân gian cũng giống như bạn, bạn một ngày có 24 tiếng, tôi một ngày cũng có 24 tiếng; bạn một ngày được ăn ba bữa cơm, tôi một ngày cũng được ăn ba bữa cơm, tôi chẳng thiếu thốn cái gì so với bạn cả, tôi với bạn là bình đẳng. Tôi không sinh ra cái tâm gì đặc biệt, cũng chẳng cần phải diệt đi cái tâm gì. Rất nhiều người sinh ra đủ thứ tạp niệm, vì hắn muốn làm cục trưởng nên đau khổ muôn vàn. Lấy một ví dụ đơn giản, bây giờ rất nhiều người muốn đi tranh cử nghị viên; người ta thực sự bỏ công bỏ sức ra, đi gõ cửa từng nhà một, cuối cùng mới được bầu làm nghị viên. Có việc gì mà dễ làm đâu chứ?

Bạn sinh ra cái tâm này rồi thì bạn phải đi diệt nó đi. Bạn có một ngọn lửa rồi thì bạn còn phải đi dập lửa; còn nếu bạn ngay cả ngọn lửa này cũng không có, thì bạn đến cái bình chữa cháy cũng chẳng cần chuẩn bị làm gì, đúng không nào? Người tính khí không tốt phải thường xuyên nhắc nhở bản thân dập tắt tính khí của mình. Năm xưa Lâm Tắc Từ ở trong văn phòng của mình đã viết hai chữ "Chế Nộ", chính là kiềm chế cơn giận của bản thân; Lâm Tắc Từ hễ cứ định nổi cáu, ngẩng đầu lên nhìn thấy hai chữ "Chế Nộ" là lập tức nén cơn giận xuống, có mệt không chứ? Cơn giận sinh ra không phát ra được, uất nghẹn trong lòng sẽ uất chết mất. Sư phụ sớm đã giảng cho các vị rồi, đừng có để nổi giận, thế thì bạn cũng chẳng cần phải chế nộ nữa, có cái gì đáng để mà giận dữ chứ?

"Lạc tắc vô hảo ác" (Vui vẻ thì không có sự yêu ghét phân biệt), nếu người này sau khi đã rất vui vẻ rồi thì họ sẽ không còn sự phân biệt tốt xấu nữa, họ sẽ rất mở lòng. Gặp phải một chuyện: "Chao ôi, mình thật xui xẻo, mình tự làm tự chịu, gieo nhân ác thì bây giờ quả đến, thôi bỏ đi, coi như mình chịu lỗ vậy, coi như mình bỏ tiền ra để tiêu tai giải nạn vậy". Có cái ác (xấu) nào không? Chẳng có cái ác nào cả. Việc tốt đến: "Tốt quá, Bồ Tát hiển linh rồi". Cho nên, người vui vẻ mở lòng thì không có sự phân biệt yêu ghét, họ không tức giận nữa, chẳng có chuyện gì làm họ không vui cả.

Nếu bạn thường xuyên nghĩ đến cái "Tôi", cái bản thân tôi này, bạn sẽ không làm chủ được bản thân. Nghĩa là sao? Chính là bạn làm bất cứ chuyện gì cũng chỉ nghĩ đến cái "Tôi", bạn sẽ chẳng làm tốt được việc gì cả. Một kẻ ích kỷ tư lợi thì sẽ không bao giờ nhận được sự giúp đỡ của người khác. Lấy một ví dụ đơn giản, bạn muốn làm cục trưởng, bạn có mệt không chứ? Nếu bạn liều mạng vì bản thân mình thì sẽ chẳng có ai bầu cho bạn, không ai nói tốt cho bạn, bạn sẽ không làm chủ được, nghe hiểu không? Bạn giống như một cái cây nhỏ dựng đứng ở đó, bên cạnh không có chỗ dựa, rất dễ bị đổ rạp. Cho nên, con người không thể chỉ vì bản thân mình.

Một người nếu đã sạch sẽ rồi thì "Ngã vô nhiễm" (Tôi không bị ô nhiễm); một người sạch sẽ thì sẽ không bị dính bụi bẩn. Lấy một ví dụ đơn giản, một người thường xuyên tắm rửa thì trên người có sạch sẽ không? Một tuần không tắm rửa thì người có sạch không? Một tuần không nghe Sư phụ giảng bài thì trong đầu có sạch sẽ không? Các vị thử nghĩ xem, người ngày nào cũng nghe Sư phụ giảng bài đầu óc sạch sẽ, hay người một tuần mới nghe một lần đầu óc sạch sẽ? Các vị nhìn những đệ tử kia xem, họ một tháng mới được nghe Sư phụ giảng một lần, là họ sạch sẽ hay các vị tuần nào cũng được nghe Sư phụ giảng bài sạch sẽ đây? Họ là một tháng tắm một lần, còn các vị là một tuần tắm một lần, đúng không? Phải ngày ngày thuần khiết hóa ý thức của mình, ngày ngày bài trừ cho sạch những tạp niệm không tốt của bản thân, có thế thì người này mới sạch sẽ được.

So với điều đó, chúng ta không thể để bị nhiễm ô dù chỉ một chút ít, chúng ta không thể để có chút đồ bẩn thỉu nào trên người. Phải biết rằng, hễ có chút đồ bẩn thỉu là tâm các vị liền sẽ cuồng loạn, đúng không nào? Hôm nay có kẻ đến bắt nạt bạn, trong lòng bạn nghĩ không thông, tiếp theo là bạn muốn báo thù, tiếp theo nữa là tâm bạn sẽ phiền muộn bứt rứt không yên. Một số người trong các vị lúc đi độ người cũng phải chú ý, không được quá cuồng loạn; dù có là vì muốn tốt cho Bồ Tát, muốn tốt cho đối phương đi chăng nữa, bạn cũng không được hung dữ với người ta. Các vị thử nghĩ xem, Sư phụ dù có phê bình các đồ đệ các vị thì cũng phải có một giới hạn phạm vi chứ.

Cho nên, không thể không thuần khiết, không thể để bị ô nhiễm; hễ bị ô nhiễm, tâm liền sẽ cuồng loạn, khổ sở, rồi hễ nổi cáu một cái là tâm liền sẽ điên đảo, bởi vì nghĩ không thông mà. Có phải thế không? Có những người chẳng phải như vậy sao? Bận rộn nửa ngày, đến cuối cùng bị Sư phụ phê bình vài câu là liền không vui; cái công đức này rốt cuộc bạn làm cho ai xem vậy? Bạn là vì Sư phụ, hay vì Quán Thế Âm Bồ Tát, hay là vì chính bản thân bạn đây? Thấy chưa, điên cuồng rồi đúng không? Nhất định không được như vậy, nhất định phải sạch sẽ. Một chút chuyện ập đến, lập tức nghĩ ngay: "Bồ Tát có làm như vậy không?". Bồ Tát chắc chắn không làm thế. Nếu Bồ Tát gặp phải chuyện này thì Ngài sẽ thế nào? Bồ Tát bảo đảm sẽ nói: "Không sao cả, nhẫn nhục lại càng phải tinh tiến", đúng không? Để người ta chiếm chút hời thì đã sao chứ? Để bạn nổi chút danh thì đã sao chứ? Bạn cứ làm đi thì đã làm sao? Bạn có phải là vì Sư phụ không? Hoằng pháp chẳng lẽ còn phải vạch ra ranh giới à? Sư phụ đang giúp các vị nâng cao cảnh giới. "Cảnh" chính là một cái môi trường, bạn đến cái môi trường này, ví dụ như bạn đến nước Úc, bạn sống ở đây mười mấy năm rồi, bạn sẽ không khạc nhổ bừa bãi nữa, đó gọi là cảnh giới.

Sư phụ rất nghiêm khắc với các vị đấy; tâm phải không cuồng loạn, tâm phải không điên đảo, tâm phải không nhiễm ô, thì bạn mới không có phiền não. Sau khi bạn không còn phiền não, bạn sẽ không còn thị phi, bạn mới có thể đạt được cảnh giới "Thường Lạc Ngã Tịnh". Sư phụ giảng cho các vị chẳng lạc đề chút nào cả, lại nói vòng trở lại rồi: bạn muốn vui vẻ, bạn phải giữ mình sạch sẽ thì bạn mới có được cảnh giới này; còn nếu bạn động não nghĩ xấu, bạn không sạch sẽ, thì làm sao bạn có thể giữ mình không điên cuồng được chứ? Bạn nghĩ cho người khác thì bạn mới sạch sẽ; bạn không nghĩ cho người khác thì bạn sẽ rất bẩn thỉu. Kẻ chỉ nghĩ đến mình, ích kỷ tư lợi, chẳng phải là bị người ta coi thường sao? Sư phụ sớm đã giảng cho các vị rồi, kẻ ích kỷ thì ai ai cũng coi khinh; cho nên, muốn thực sự đạt được cái ý cảnh Thường Lạc Ngã Tịnh của Phật Bồ Tát – thường xuyên vui vẻ, tôi rất sạch sẽ – thì ở trên con đường nhân gian cuồn cuộn hồng trần này, phải thường xuyên giữ vững con đường vui vẻ.

Người học Phật phải vui vẻ, đừng có căng sưng mặt mũi ra, hãy vui tươi lên một chút, chẳng có ai nợ nần gì các vị cả. Nhân gian này đã là cuồn cuộn hồng trần rồi; thế nào gọi là cuồn cuộn? Nước sôi bỏng chết bạn, bụi mù lăn tới chôn sống bạn. Bụi bặm đấy, một thớt ngựa phi qua là bụi mù làm bẩn hết người bạn; bạn đã đang ở cái nơi bẩn thỉu rồi, nếu bạn còn không vui vẻ nữa, chẳng phải bạn lại càng đau khổ hơn sao?

Phải thường xuyên giữ vững con đường vui vẻ, tuy rất không dễ dàng, nhưng vẫn cứ phải vui vẻ; không phải ngoài miệng nói vui vẻ là vui vẻ ngay được đâu. Hôm nay Sư phụ dạy các vị, mỉm cười nhiều một chút là có thể giải quyết được rất nhiều vấn đề, hễ cứ gặp người ta là mỉm cười nhiều vào. Nhìn con người thời nay xem, thời kỳ Mạt Pháp có mấy ai cười nổi đâu? Nếu Sư phụ bây giờ cũng giống như các vị, nhìn ai cũng thấy đáng ghét, thì có cười nổi không? Trên người mỗi người thảy đều có nghiệp chướng, linh tính một đống lớn, cười nổi sao được? Nhưng bắt buộc phải ở trong nhân đạo mà dò dẫm, mà học cách buông bỏ; bắt buộc phải buông bỏ, chuyện gì cũng đều phải buông bỏ, không được để ở trong lòng. Nếu việc gì cũng găm ở trong lòng thì họ sẽ không buông bỏ được; buông bỏ được thì mới dời đi được chứ, cứ đặt ở trên đó thì làm sao mang đi nổi.

Lấy một ví dụ đơn giản, căn gác mái ở Đông Phương Đài của chúng ta đặt rất nhiều đồ đạc, nếu bạn đến việc mình đặt những đồ gì còn chẳng nhớ nổi, bạn bảo xem làm sao bạn có thể dời nó đi được chứ? Nếu mắt bạn nhìn thấy món đồ này, bạn có thể bảo đem món đồ này xử lý đi, vứt đi, đem tặng người khác v.v... Còn nếu mắt bạn còn chẳng nhìn thấy thì làm sao bạn xử lý nổi nó? Các vị nếu đem những thứ bẩn thỉu, không vui vẻ này thảy đều găm hết vào trong lòng, bạn không buông xuống được thì bạn sẽ không vứt đi được đâu.

Sư phụ bảo mọi người, phải thể ngộ, lĩnh hội, phải thấu hiểu nhân sinh. Thể ngộ nghĩa là gì? Phải đi trải nghiệm (thể nghiệm) thì mới có thể khai ngộ. Việc này tôi làm qua rồi, phải thấu hiểu nhân sinh: "Ồ, hóa ra bố mẹ mình cả đời cũng như thế này, chính mình cũng đang đi con đường của họ, thế nên mình đến để trải nghiệm xem tại sao mình lại như vậy". Bởi vì chúng ta vô sở đắc, bởi vì chúng ta đến nhân gian với hai bàn tay trắng, lúc đi cũng hai bàn tay trắng, chúng ta chẳng đạt được cái gì cả, cho nên chúng ta vô sở đắc, vô sở trụ. Có cái gì có thể đạt được chứ? Hòa thượng, ni cô tại sao không cố định mình ở một ngôi chùa? Chính là để nuôi dưỡng cho họ cái tính vô sở đắc, vô sở trụ, mọi thứ đều là hư không, một chiếc ba lô đi khắp thiên hạ, đến ngôi chùa nào họ cũng có thể tạm trú, đều có thể ở lại đó, chính là nuôi dưỡng cho họ cái tính vô gia, không có nhà cửa.

Đến nhân gian chúng ta vốn dĩ là không có nhà cửa đâu. Các vị có nhà ở chỗ nào chứ? Nhà trước đây của các vị ở Trung Quốc đại lục đúng không? Có người nhà ở Đài Loan đúng không? Tại sao các vị bây giờ lại chạy sang nước Úc này rồi? Các vị có biết đâu rằng qua vài năm nữa nếu bỗng nhiên có thiên tai tai họa gì xảy ra, mọi người đại di cư, cái nhà ở Úc của bạn lại mất sạch; trận cháy rừng ở Úc lần này đã làm cho mấy vạn hộ gia đình lại trắng tay rồi đấy thôi. "Vô sở trụ tâm" nhé, đừng có đem cái tâm trú ngụ vào bên trong; bạn đi một vòng ở nhân gian này, bạn chẳng đạt được cái gì cả, tại sao còn phải đem cái tâm trú ngụ vào bên trong cơ chứ? Vô sở đắc, vô sở trụ.

39. Học Phật học Pháp khoái lạc vô ưu

+

Tâm và Vũ trụ phải hợp lại làm một (Hợp nhị vi nhất). Thế nào gọi là hợp nhị vi nhất? Ví dụ như hôm nay tâm thái của tôi không tốt, thế thì Trời không thể dung nạp cái tâm không tốt này của tôi, cho nên cái tâm này của tôi liền rời khỏi không gian vũ trụ, không thể bắt sóng được với Thiên Thượng, thế là tôi sẽ gặp xui xẻo. Khi cái tâm này của bạn có thể hợp lại cùng cái tâm của Trời, có thể cùng cái đạo lý của Trời hòa vào nhau, hợp nhị vi nhất – Trung Quốc từ cổ chí kim đã có một câu gọi là "Thay trời hành đạo", mọi người nghe hiểu không? Việc các vị làm thế này có còn ý Trời (Thiên ý) nữa không? Có còn đạo lý của Trời (Thiên lý) nữa không? Đến loại chuyện này mà các vị cũng dám làm à? Thế thì đó gọi là Tâm và Trời đã tách rời nhau rồi.

Sư phụ nói chuyện thảy đều có năng lượng đấy, các vị nghe đi nghe lại sẽ nhận được năng lượng gia trì. Hy vọng các vị phải nhìn nhận Đạo tự nhiên là viên dung, hy vọng các vị phải "Tâm bao thái hư" (lòng rộng chứa cả vũ trụ), hy vọng Tâm của các vị và Trời, và Vũ trụ hợp lại làm một; tâm nghĩ như thế nào là phải phù hợp với Thiên ý. Hôm nay tôi làm việc thiện, tôi phù hợp với Thiên ý; hôm nay tôi cứu người, đến cả Bồ Tát cũng sẽ từ bi với tôi. Bạn không làm việc xấu, toàn làm việc tốt, chẳng phải bạn đang phù hợp với Thiên ý sao? Bạn chẳng cần phải đi lo lắng người khác sẽ hại mình; việc tự bạn làm ra, nếu làm cho chính bạn thấy sợ hãi, làm cho bạn thấy không đồng điệu cùng với Trời, thì bạn sẽ rước lấy tai họa ở nhân gian, thực chất bạn đang tự hại chính mình. Nếu bạn tâm lượng rộng mở, bạn thấy mình đối diện không thẹn với Trời, đối xử không thẹn với Người, đối đất không thẹn với Đất, thử nói xem bạn sợ cái gì chứ? Các vị hôm nay theo Sư phụ học Phật, tất thảy những việc hoằng pháp độ người Sư phụ làm đều có thể nói trên sóng phát thanh, có thể đăng trên báo chí; các vị ngày ngày theo Sư phụ đi cứu người độ chúng, các vị còn sợ quỷ đến tìm mình nữa sao?

"Đồng nhất bản nguyên", nghĩa là Tâm của con người và Trời vốn dĩ chung một cội nguồn, vũ trụ chính là bạn; học Phật tu tâm thực chất chính là để Tâm của bạn và Vũ trụ hòa làm một. Mọi người phải dụng tâm nhé, những gì Sư phụ giảng là những thứ vô cùng cao thâm. Sư phụ lúc mở Pháp hội rất thích lấy ví dụ, bởi vì các vị đều là những người có tu hành. Phải hiểu rằng, học Phật tu tâm, phải thấu hiểu "Trong tĩnh có động, trong động có tĩnh" (Tĩnh trung hữu động, động trung hữu tĩnh). Lấy một ví dụ đơn giản, một người ngày nào cũng ở nhà tụng kinh thì thuộc về Tĩnh; nếu bạn ngày nào cũng tụng kinh mà không đi ra ngoài cứu độ chúng sinh, không đi ra ngoài làm việc tốt, thì bạn chính là Tĩnh mà không có Động, thế thì bạn cũng giống như rất nhiều người xuất gia vậy. Bây giờ các Pháp sư đều đi ra ngoài độ người, cứu người, thế thì họ chính là "Trong tĩnh có động". Chúng ta vốn dĩ ở nhân gian, chúng ta học Phật tụng kinh trong sự Tịnh, và đồng thời chúng ta đang dùng hành động thực tế để cứu độ chúng sinh trong sự Động.

Lúc Sư phụ không có ở Đông Phương Đài, các vị đến trực ban chẳng phải là thấy lạnh lẽo vắng vẻ, trong lòng không vững chãi, không có chỗ dựa tinh thần sao? Một đệ tử liền bảo, lúc Sư phụ không có ở đây, tâm cô ấy hoang mang rối loạn, tâm không tĩnh lại được. Mọi người phải biết rằng, học Phật vừa phải Tĩnh lại vừa phải Động. Giống như Sư phụ nói chuyện với các vị, lúc thì nhẹ nhàng, lúc lại vang rền, thế mới có sức truyền cảm chứ! Nếu giọng nói của Sư phụ thảy đều bằng bằng như nhau, thì thử hỏi ai nghe mà chẳng chán phiền? Nói năng phải có nhịp điệu trầm bổng nhấn nhá; cho nên học Phật phải lúc thì độ người, lúc thì làm công đức, lúc lại bỗng nhiên vô cùng an tĩnh ở nhà tụng kinh, đó chính là Thiền. Lúc tụng kinh, thân thể ở trạng thái tĩnh chỉ, nhưng ý niệm và khí trường đang động, khí trầm đan điền, đây chẳng phải là "Trong tĩnh có động" sao? Chớ lẽ lúc các vị ngồi đó tụng kinh, các vị thực sự bất động à? Không có đâu, ý niệm các vị đang động: "Quán Thế Âm Bồ Tát, phù hộ độ trì cho con". Ý niệm chẳng phải đang động đó sao? Lúc các vị tụng kinh, Khí chẳng phải đang động đó sao? "Trong động có tĩnh", ví dụ như dập đầu, thắp hương, chẳng phải là đang động sao? Thế thì lúc này, ý niệm của bạn phải giữ vững, phải tĩnh; thân thể bạn tuy đang động, nhưng phải giữ vững ý niệm, giữ vững nội khí, bình ổn như một, đó gọi là "Trong động có tĩnh". Giống như rất nhiều người đánh Thái Cực Quyền vậy, bề ngoài nhìn có vẻ họ đang động, nhưng thực chất tâm họ không hề động; dùng Thiền định để nói thì gọi là "Nhập Tam Muội Địa", chính là bước vào tầng nấc cao hơn của Định.

Bí mật lớn của sự biến hóa trong vũ trụ chính là trong tĩnh có động, trong động có tĩnh. Vừa mới an ổn được một chút, trong nhà đều bình an rồi, không có chuyện gì xảy ra nữa, lập tức lại sẽ có chuyện phát sinh, đó gọi là Động. Có chuyện này ập đến, bạn dùng nhiều phương pháp giải quyết êm xuôi nó rồi, bạn lại tĩnh xuống. Bạn vừa mới tĩnh xuống chưa được bao lâu, lại có một chuyện khác xảy ra, đây chính là sự huyền bí của vũ trụ.

Thế giới vô thường thì không có sự thường trụ; cho nên, bạn muốn ở trong cái tiểu vũ trụ của mình duy trì sự bình ổn mãi mãi, duy trì sự an định mãi mãi, điều đó là không thể có được. Vừa mới giải quyết xong xuôi mọi vấn đề, cứ ngỡ có thể thở phào một cái, cơ thể lại đổ bệnh rồi; bạn có thể bảo đảm tiểu vũ trụ, đại vũ trụ của bạn bình an sao? Chẳng có ngày nào là thái bình cả. Con người sống trên đời quá khổ rồi, đến với thế gian này chính là không để bạn được an định, chính là để cho bạn phiền não cả đời; vì vậy phương pháp duy nhất của bạn ở nhân gian chính là trừ bỏ phiền não, bởi vì cái phiền não này sẽ không ngừng kéo đến. Giống như chúng ta nói, đến nhân gian ngày nào bạn cũng bắt buộc phải ăn cơm, nếu ngày nào đó bạn không ăn cơm, bạn sẽ chết đói. Cho nên, bạn bắt buộc phải chuẩn bị đầy đủ lương thực để làm đầy cái bụng của mình, bạn bắt buộc phải sở hữu đầy đủ trí tuệ để khắc phục những phiền não trong cả cuộc đời.

Con người có thể viết niềm vui lên trên khuôn mặt, nhìn có vẻ rất vui sướng, cười hì hì, nhưng nỗi đau thương trong nội tâm bạn là điều bạn không cách nào né tránh nổi. Bề ngoài vui vẻ thì có tác dụng gì chứ? Trong lòng bạn rất đau khổ, trong lòng rất u sầu á; con người với con người gặp mặt chào hỏi nhau, bề ngoài thảy đều là báo hỷ không báo ưu (báo tin vui, giấu tin buồn). Chỉ cần ở nhân gian, hễ bạn bảo mình tốt đến mức không thể tốt hơn, thì bạn đang bốc phét rồi đấy. Nếu bạn tự thấy mình thực sự tốt đến mức không thể tốt hơn, thì bạn đang tự gây tê liệt chính mình. Còn nếu bạn ở trong đau khổ mà lại thấy không đau khổ, thì điều đó lại càng nguy hiểm hơn.

Con người sẽ rất khó tránh khỏi những đau thương trong cuộc đời; thứ gây ra nỗi đau thương trực tiếp cho các vị có bốn loại: Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Sinh ra rất đau khổ, già đi rất đau khổ, đổ bệnh càng đau khổ, lúc sắp chết thì sợ đến mất mật, lại càng đau khổ hơn, vì không muốn chết mà.

Tâm của con người chẳng phải là ràng buộc vào nhau sao? Thế mà hễ cứ dính dáng đến một chút xíu vấn đề tình cảm là bạn liền "Cắt không đứt, lý càng loạn" ngay. Các vị xem kìa, các vị không có phiền não, vui biết bao nhiêu? Đó là niềm vui vô hạn đấy, đó là vì người ta coi các vị là Phật tử bạn đạo rồi. Ngay như việc bạn đến một cửa hàng mua đồ, người ta thấy lâu ngày bạn không tới, người ta liền lườm nguýt cho bạn một cái sắc mặt xem kìa. Cho nên nghĩ mà xem, một người nếu có thể làm cho người ta đối xử tốt với mình, có thể đối với bạn ái mộ kính trọng như thế, không dễ dàng đâu. Thảy đều là duyên phận của Phật, các vị phải hiểu đây chính là Phật duyên nhé.

Muốn khiến bản thân trở nên thực sự vui vẻ, thì cái loại niềm vui chỉ có thể tuôn chảy ra từ sâu thẳm nội tâm này, đó mới là niềm vui đích thực. Nghĩa là, từ trong ra ngoài thảy đều rất vui vẻ, đó mới là niềm vui đích thực. Niềm vui đích thực là phát ra từ nội tâm, đó mới là niềm vui vĩnh hằng, chân thực. Có những người cười lên là gương mặt ngoài da thịt chứ trong bụng không cười, cười không nổi; còn người thực sự có thể cười ra được thì họ là cười từ bên trong cười ra bên ngoài, vui vẻ không chứ? Người ta hôm nay đi cắt tóc, chính là muốn ai ai cũng khen mình tốt; các vị vừa nhìn thấy liền bảo: "Mái tóc này sao cắt được đẹp thế này nhỉ" — lúc bấy giờ họ liền vui mừng từ trong ra đến ngoài; còn nếu tóc cắt không đẹp, người khác dù có khen tốt, bạn cũng chẳng cười nổi, cũng không thấy vui vẻ gì.

Cho nên, phải thực sự thấu hiểu cái thuộc tính của niềm vui trong Phật pháp, phải thực sự thấu hiểu trong học Phật của chúng ta thế nào gọi là vui vẻ: "Trợ nhân vi lạc" (Giúp người làm niềm vui) chính là vui vẻ, người có thể giúp đỡ kẻ khác thì vui vẻ, người gặp chuyện gì cũng đều có thể nghĩ thông suốt thì họ có niềm vui á. Một người lúc nghĩ không thông suốt có đau khổ không? Đừng để bản thân nghĩ không thông, cho nên Phật pháp nói, vui vẻ là gốc, vui vẻ là căn bản. Chúng ta làm người, chúng ta đến nhân gian, chúng ta lấy vui vẻ làm căn bản. Vậy thì niềm vui từ đâu mà ra? Là từ việc giúp đỡ người khác mà đến, là từ việc chuyện gì cũng nghĩ thông suốt mà ra. Chuyện gì cũng nghĩ không thông suốt thì căn bản không có niềm vui nào để nói cả.

Phải biết tuân theo Tứ Đức trong Phật pháp. Trong Phật pháp có bốn cái Đức, Sư phụ lần trước lúc ở Singapore, Sư phụ truyền cho các vị Phật ngôn Phật ngữ, trong đó có một cái gọi là "Học tập Phật đức", nhưng các vị đều chẳng biết Phật đức nằm ở đâu cả? Phật đức có bốn yếu tố cơ bản, chính là "Thường - Lạc - Ngã - Tịnh". Bởi vì sau khi sở hữu bốn phẩm đức này rồi, bạn sẽ thường xuyên vui vẻ, tâm bạn sẽ thường xuyên sạch sẽ, gọi là "Thường, Lạc, Ngã, Tịnh".

Cái thứ nhất gọi là "Thường Đức", tức là đạo đức phải thường xuyên có, vĩnh viễn có, sở hữu trong thời gian dài lâu. Cái thứ hai gọi là "Lạc Đức", chính là bạn vô cùng vui vẻ đi thực hiện cái đức của mình, làm bất cứ việc có đạo đức nào bạn cũng đều sẽ rất vui vẻ. Lúc hoằng pháp có thể đắc được thường lạc, Thường đức, Lạc đức. Cái thứ ba gọi là "Ngã Đức", phẩm đức của chính tôi, phẩm đức mà bản thân con người sở hữu, phẩm đức mà bản thân con người nên có. Con người bạn có đạo đức không? Bạn có phẩm đức không? Sao lại có thể khạc nhổ bừa bãi? "Bạn" chính là "Tôi"; "Tôi" chính là bản thân mình. Cho nên, người ta lúc chỉ vào bạn chính là đang nói bạn đấy, đó gọi là "Ngã đức". Phẩm đức của chính mình phải tốt lên một chút chứ, giống như người ta làm công đức mang biếu chút đồ ăn tới, mình bụng đói liền liều mạng ăn ngấu nghiến. Có người kể với Sư phụ, một đệ tử ở đây cứ tụng kinh được năm phút lại chạy phăng ra ngoài Quan Âm Đường ăn một chút, nhìn thấy đồ ăn là liều mạng ăn, bộ dạng như thế có mất mặt không chứ? Bạn rốt cuộc là đến tụng kinh hay là đến ăn đồ ăn vậy? Cái "Ngã đức" này vô cùng quan trọng, ngã đức thực chất chính là cái đạo đức của bạn á, bạn có những đạo đức này không? Bạn có nghĩ cho người khác không? Sư phụ lần này chuẩn bị một số tài liệu rất tốt để đi diễn thuyết ở Đại học Harvard, Sư phụ lần nào cũng có những thứ mới mẻ để giảng. Cái Đức thứ tư gọi là "Tịnh Đức", đạo đức bắt buộc phải sạch sẽ, phẩm đức bắt buộc phải sạch sẽ, nhất định phải sạch sẽ; cái đức không sạch sẽ thì bị người ta phê bình đấy, đúng không? Có cần sạch sẽ không hả?

Nếu các vị làm theo Tứ Đức, thường xuyên thực hành Thường đức, Lạc đức, Ngã đức, Tịnh đức, các vị thường xuyên đi thực tiễn, các vị gặp phải chuyện chắc chắn sẽ có "Đức". Ví dụ như hôm nay lúc tôi muốn giúp đỡ một ai đó, tôi đặc biệt vui vẻ, bạn lúc giúp đỡ người khác bạn thấy vui vẻ, thì bạn chính là Lạc đức. Lúc tôi giúp đỡ người đó, tôi thảy đều nói lời thật lòng, tôi có đạo đức rồi. Lúc tôi giúp đỡ họ, tôi không có đòi hỏi yêu cầu gì đối với họ cả, tôi chỉ muốn giúp đỡ họ thôi, vô tư rất sạch sẽ, chính là Tịnh đức, đúng không? Rồi tôi thường xuyên đi giúp đỡ người ta như thế, chính là Thường đức. Tuyệt vời chưa? Học Phật phải học những thứ này, các vị nghe Phật pháp phải nghe những thứ này nhé.

Trước đây rất nhiều người học Phật đến giai đoạn sau liền thối chuyển, chẳng có cách nào cả. Có những người chỉ biết dập đầu, xin xăm, lạy Phật, thắp hương chứ không hiểu đạo lý, thế thì bạn học Phật kiểu gì hả? Học Phật phải học cái "Như lý như pháp" của Phật. Chúng ta học Phật chính là phải học làm người, chính là phải áp dụng vào nhân gian. Chúng ta đi học chẳng phải là vì để sau này có thể áp dụng vào trong cuộc sống sao? Nếu bạn đi học học cho nửa ngày, lúc ra đời lại không dùng được, thế thì bạn bảo xem bạn đi học để làm gì? Nếu bạn học Phật học cho nửa ngày mà chẳng có chút tác dụng nào cả, thì cái Phật pháp ở nhân gian này đối với bạn có tác dụng gì chứ? Tại sao bạn lại phải đi học? Phật pháp đương nhiên là có tác dụng, chỉ là không có ai giảng cả, không có Minh Sư, các vị không có Sư phụ á, cho nên mới khổ sở cho đến tận bây giờ. Hiện tại khó khăn lắm mới có một vị Sư phụ rồi, rất không dễ dàng đâu, phải biết trân trọng.

40. Tìm kiếm điểm cân bằng trong tâm

+

Hôm qua có một vị thính giả kể với Sư phụ, anh ta từng nằm mơ thấy tuổi thọ của mình rất ngắn, anh ta liền phát nguyện; sau khi phát nguyện liền mơ thấy Bồ Tát kéo dài tuổi thọ cho mình, và tuổi thọ có thể kéo dài cho đến tận lúc ra đi bình bình an an, không bệnh không nạn. Kết quả là chính anh ta không kiên trì tu tâm tụng kinh cho tốt, trong mơ anh ta lại nhìn thấy Sư phụ và Hộ Pháp Thần đang bàn bạc vấn đề dương thọ của anh ta. Nghĩa là khi một người hủy bỏ lời thề của chính mình, Hộ Pháp Thần nhất định sẽ đến trừng phạt họ. Người này rất rõ ràng, và Hộ Pháp Thần bảo với anh ta: "Tại sao ngươi không tìm Sư phụ của ngươi đến cứu ngươi?". Sư phụ thực chất đã và đang cùng Hộ Pháp Thần thảo luận vấn đề giảm thọ của anh ta rồi; hy vọng mọi người thực sự phải biết trân trọng. Chúng ta là người học Phật, lời tự mình nói ra thì nhất định phải khắc ghi trong lòng, phải giữ chữ tín, phải đối diện không thẹn với Quán Thế Âm Bồ Tát.

Hôm nay Sư phụ giảng sâu hơn cho các vị một chút. Vũ trụ quan của Phật giáo là gì? Phật giáo cho rằng vũ trụ có vô số các thế giới, Đức Phật tổ ngay từ hơn hai nghìn năm trước đã từng giảng qua, vũ trụ có "Tam thiên đại thiên thế giới". Nghĩa là ở trong sự hình thành của vũ trụ này, có vô số kể các thế giới ở bên trong, trái đất này của chúng ta chẳng qua chỉ là một cái ở trong không gian vũ trụ mà thôi. Không gian to lớn bao la trong Phật giáo được gọi là Cõi Phật hay Hư không; không gian nhỏ bé li ti thì gọi là Hạt bụi (Vi trần). Tất cả những không gian lớn nhỏ đó được gọi chung là Tam thiên đại thiên thế giới. Trái đất nơi chúng ta sinh sống chẳng qua chỉ là một vi phân tử vô cùng nhỏ bé trong không gian vũ trụ, một hành tinh vô cùng nhỏ bé; cho nên hy vọng mọi người đừng có ở trong cái hành tinh nhỏ bé này mà lại còn bắt bản thân phải tìm một cái không gian nhỏ hẹp hơn nữa. Thử nghĩ xem, chúng ta ở trên cái trái đất này, chúng ta vì một cái gia đình nhỏ bé của mình, chúng ta vì một cái diện tích phòng ốc của mình, chúng ta vì tất thảy những thứ ích kỷ tư lợi này mà sống; lại nghĩ xem, toàn bộ vũ trụ to lớn biết nhường nào, chúng ta còn kém xa biết bao nhiêu chứ.

"Tâm bao thái hư", chính là để cho cái tâm của bạn có thể bao dung toàn bộ vũ trụ; nếu tâm lượng của con người rộng lớn bao la như vũ trụ thì thế giới này sẽ chan hòa hiền dịu biết bao. Chính vì tâm con người quá dơ bẩn, không thể bao dung được bất kỳ một chút ít điều gì bất lợi cho bản thân trên thế gian này, nên con người mới ngày càng ích kỷ. Hy vọng các vị thực sự phải nhìn cho thoáng, nghĩ cho thông. Sư phụ thường xuyên nói một câu: Đại dương tại sao lại vĩ đại, vì nó luôn nằm ở nơi thấp nhất, nó rất vĩ đại, nó chưa từng đi tranh giành cao thấp với ai bao giờ cả.

Chúng ta sống ở trong cái thế giới vi trần này, trái đất chẳng qua chỉ giống như một hạt bụi nhỏ ở trong vũ trụ mà thôi; cho nên chúng ta nhỏ đến mức vô hạn nhỏ, nhỏ đến mức đã chẳng thể tìm thấy nổi ở trong cái không gian vũ trụ này nữa rồi, đó gọi là Không, cũng chính là "Vô niệm". Từ lớn đến vô tận lớn, nghĩa là cái suy nghĩ của con người muốn cho nó lớn thì nó sẽ biến thành vô hạn lớn, muốn cho nó nhỏ thì có thể biến thành vô tận nhỏ. Lấy một ví dụ đơn giản, con cái của các vị lúc ở nhà trẻ có nhỏ bé không? Bạn đứng ở một nơi rất xa nhìn đứa trẻ này chẳng phải là thấy rất nhỏ bé sao? Còn nếu bạn ôm nó ở trên tay, chạm vào đầu của bạn, bạn chẳng phải là thấy đứa trẻ này rất lớn sao? Nếu bạn nhìn chằm chằm vào khuôn mặt của nó, bạn sẽ thấy nó chính là toàn bộ thế giới của bạn.

Cho nên, sự vật có thể lớn, cũng có thể nhỏ; nhỏ đến mức vô tận nhỏ chính là Không rồi, lớn đến mức vô tận lớn chính là Có (Hữu). Nghĩa là, ở trong cái không gian vũ trụ này, chúng ta muốn nhìn thấy cái gì là chúng ta có thể nhìn thấy cái đó; chúng ta không muốn nhìn thấy cái gì là chúng ta liền không còn cái đó nữa. Hôm nay bạn chỉ nhìn thấy một nơi nhỏ tẹo như thế này trong nhà, bạn chính là một con ếch ngồi đáy giếng; hôm nay bạn nhìn thấy ánh mặt trời chiếu từ cửa sổ vào nhà, bạn ngày ngày ở trong nhà, cái bạn nhìn thấy mãi mãi cũng chỉ có ngần ấy ánh nắng mà thôi. Nếu bạn có thể bước chân ra khỏi cửa nhà, đi ra thế giới bên ngoài xem thử, bạn mới biết ánh mặt trời hóa ra lại rộng lớn bao la đến thế; vì vậy, tâm lượng con người phải rộng lớn.

Sư phụ bảo các vị phải "Chân Như". Thế nào gọi là Chân Như? Chính là thực sự đi thực tiễn, thực sự thấu hiểu sự tinh vi kỳ diệu của không gian vũ trụ. Phật pháp giảng, sự tinh vi kỳ diệu của không gian vũ trụ chính là nằm ở chỗ này. Phải thấu hiểu một đạo lý, Phật pháp có Tám vạn bốn nghìn pháp môn, thế nhưng tám vạn bốn nghìn pháp môn này thảy đều gọi là "Phương tiện pháp môn", chính là xem tự bản thân bạn tu hành như thế nào; cái pháp môn này là pháp môn giúp các vị "Ly khổ đắc lạc" (Rời khổ được vui). Bởi vì con người rất khổ, đủ các loại khổ thảy đều có, Bồ Tát nói con người có tám vạn bốn nghìn thứ khổ, cho nên mới phái sinh ra tám vạn bốn nghìn pháp môn để cứu khổ cứu nạn. Chúng ta bắt buộc phải hiểu tám vạn bốn nghìn pháp môn này thảy đều chung một mục đích, chung một đạo lý, thảy đều là giúp chúng ta ly khổ đắc lạc. Cho nên, trong cuộc đời chúng ta phải tìm được điểm cân bằng; thế nào gọi là điểm cân bằng? Chính là phải thường xuyên nghĩ đến quá khứ của mình, bạn liền có thể tìm được điểm cân bằng rồi.

Nghĩ xem quá khứ của bạn đau khổ biết nhường nào, nghĩ xem hiện tại của bạn lại ngọt ngào biết bao nhiêu; nghĩ xem quá khứ tôi vui vẻ biết mấy, hiện tại lại đau khổ thế này, bạn cũng đang đi tìm kiếm sự cân bằng đấy thôi. Quá khứ tại sao tôi lại tốt như thế? Vì tôi tu tốt, kiếp trước tôi tu tốt; hiện tại tại sao lại không tốt? Vì kiếp này tôi không tu, nên tôi phải chịu báo ứng; nghĩ như thế bạn mới đạt được điểm cân bằng. Nghĩ về quá khứ, tôi cũng u uất muộn phiền, nhưng hiện tại tôi học Phật rồi, thấy mình có thể giải thoát được rồi, tôi chẳng còn u uất muộn phiền nữa. Các vị thử nghĩ xem, người có thể thường xuyên tìm kiếm điểm cân bằng như thế, chẳng phải họ đã ly khổ đắc lạc rồi sao?

Ngày trước có một câu gọi là "Ức khổ tư điền" (Nhớ lại cái khổ, nghĩ về cái ngọt), chính là để các vị thường xuyên nghĩ đến lúc người khác đau khổ. Còn biết bao nhiêu người cho đến tận bây giờ tư cách định cư vẫn chưa được duyệt kìa; những người đã có tư cách định cư như các vị thử nghĩ xem, các vị chẳng phải đã rất ngọt ngào rồi sao? Còn rất nhiều người chưa có một gia đình trọn vẹn, còn rất nhiều người chưa có một cơ thể trọn vẹn vì toàn thân họ đều là bệnh tật; còn bạn ít nhất là không mắc ác bệnh đúng không? Thế thì bạn nên vui vẻ rồi. Phải biết rằng, cho dù bạn có làm nghị viên, làm thủ tướng trong quốc hội đi chăng nữa, đến lúc bạn mắc bệnh ung thư, bạn vẫn phải trải qua những ngày tháng trong bệnh viện mà thôi, danh lợi thảy đều vô dụng. Cho nên, phải khéo léo đạt được điểm cân bằng trong tâm.

Trong cuộc đời, chúng ta phải Trung Dung Chính Quán. Trung Dung chính là chuyện gì cũng đem đặt vào giữa để nhìn, không lệch trái, không lệch phải. Chính Quán chính là đem mọi chuyện thảy đều dùng suy nghĩ đúng dắn để nhìn nhận người khác, đừng nhìn người ta thành không tốt; chính quán chính là phải dùng tố chất tâm lý đúng đắn để nhìn nhận người khác. Ai ai cũng đều biết Đạo Trung Dung; đứa trẻ này không tốt, bố mẹ đừng có đùng một cái là đánh nó xuống mười tám tầng địa ngục; đứa trẻ dù có làm sai chuyện, bạn cũng phải cổ vũ nó, giúp đỡ nó. Đứa trẻ này tốt lên rồi, bạn cũng đừng có tâng bốc nó lên tận trời xanh. Các cô gái ở đây của chúng ta rất nhiều người lúc yêu đương là đem bạn trai của mình tâng bốc lên tận trời xanh, một khi bạn đối với anh ta hơi lạnh nhạt một chút là anh ta lập tức sẽ cảm thấy vô cùng lạnh lẽo, thế là anh ta sẽ bỏ bạn mà đi. Những điều Sư phụ giảng đây thảy đều là những bài học xương máu mà các vị nên tiếp thu.

Sư phụ dạy các vị, đối tốt với người ta thì nhiệt độ phải tăng lên từ từ thôi. Hôm nay tôi năm mươi độ rồi, lên năm mươi mốt độ, ngày nào họ cũng đều sẽ cảm thấy vô cùng ấm áp; lên năm mươi hai độ rồi họ lại cảm thấy rất ấm áp. Bây giờ rất nhiều người làm ăn buôn bán cũng vậy, kết giao bạn bè cũng vậy, đùng một cái hận không thể đem hết thảy mọi thứ dâng cho người ta, nhiệt độ vọt lên tám mươi độ, rồi vọt lên chín mươi độ, tiếp theo bạn còn tăng lên nổi nữa không? Cái lò sưởi này của bạn hết than rồi, khi nhiệt độ của bạn không tăng lên nổi nữa thì nhiệt độ của bạn chính là đang giảm xuống; thực ra lúc giảm xuống tám mươi độ thì vẫn còn rất nóng á, bảy mươi độ cũng vẫn còn rất nóng á, nhưng đối phương đã cảm thấy quá lạnh rồi. Cho nên, làm người đừng có đùng một cái là quá nhiệt tình, cũng đừng có đùng một cái là quá lạnh nhạt, phải giữ Đạo Trung Dung á, phải làm cho người ta cảm nhận được mỗi một ngày đều duy trì được sự ấm áp. Đùng một cái là sa sầm nét mặt cho người ta xem, khó coi chết đi được; rồi đùng một cái lại đối tốt với người ta đến mức hận không thể dán mặt vào. Tại sao lại như vậy chứ? Chính vì không thấu hiểu Trung Dung Chính Quán.

Chúng ta phải "Nhất kiến đồng quán" (Thấy một việc thảy đều nhìn nhận như nhau). Thấy một sự việc, chúng ta phải dùng góc nhìn tương đồng để xem xét vấn đề, chính là phải coi ai ai cũng đều như nhau cả. Nếu chuyện này xảy ra trên người họ, tôi sẽ nghĩ như thế nào nhỉ? Chuyện bạn nhìn thấy người khác cũng nhìn thấy rồi, bạn nghĩ về vấn đề này như thế nào đây? Đó gọi là nhất kiến đồng quán. Bạn thử nghĩ xem, người khác tại sao lại xử lý tốt đến thế, tại sao tôi lại xử lý kiểu này chứ? Thế thì chứng tỏ là tôi sai rồi đúng không nào? Nếu người này không có quan hệ gì với họ, người khác đối đãi với vấn đề này ra sao, còn bạn lại đối đãi với vấn đề này ra sao? Cái quan niệm này của bạn đưa ra mà không giống với người ta, thì bạn không phải là nhất kiến đồng quán, nghe hiểu không? Xử lý vấn đề một cách tương đồng, như vậy mới tương đối thuận tự nhiên, như vậy mới tương đối công chính.

Phải nhìn nhận thế giới tự nhiên là viên dung, nhìn nhận tất thảy mọi thứ của tự nhiên đều là điều đương nhiên. Hôm nay tại sao người đó lại không đoái hoài đến tôi nữa? Là do chính bản thân tôi chưa làm người tốt á, là do chính tôi chưa làm tốt, cho nên mới thành ra cái nông nỗi này. Chuyện vốn dĩ rất tốt đẹp, bản thân làm chưa tốt, trách chính mình thì cả đời sẽ không bao giờ hối hận; còn trách người khác thì cả đời đều thấy hối hận. Những gì Sư phụ giảng thảy đều rất có triết lý, các vị quay ngược lại ngẫm nghĩ kỹ xem có phải như thế không? Một người nếu cả đời cứ trách cứ người khác, hận thù người khác, đến cuối cùng họ sẽ chết đi một cách vô cùng oan ức: "Tại sao mình lại thành ra thế này nhỉ? Tại sao mình lại xui xẻo đến thế cơ chứ?". Còn nếu thấy là do bản thân mình làm chưa tốt, là báo ứng của chính mình, bạn sẽ không oán trách bản thân nữa. Phải thấu hiểu đạo lý này.

Chúng ta phải coi tất thảy mọi chuyện đều là "Duyên đến duyên đi”, vô cùng thuận tự nhiên. Hôm nay họ đối xử không tốt với tôi, không có sao, có thể là ác duyên chín muồi; hôm nay tôi có đồ để ăn, đó là Phật duyên của tôi chín muồi, có người đến cúng dường rồi; hôm nay tôi gặp xui xẻo, chứng tỏ duyên phận của tôi chưa đủ. Bạn nghĩ thế này một chút, nghĩ thế kia một chút, chẳng phải bạn liền nghĩ thông suốt rồi sao? Khi bạn chuyện gì cũng đều nghĩ thông suốt rồi, chẳng phải bạn liền viên dung rồi sao? Tâm bạn chẳng phải đã bao dung thái hư rồi sao? Hôm nay bạn bỏ ra rất nhiều tâm huyết để mua lại một mối làm ăn nhưng lại không thành công, nếu bạn nghĩ đây là do duyên phận của mình chưa đủ, bạn sẽ chẳng tức giận một chút nào cả, thế thì tâm bạn đã bao dung thái hư, bạn đã nghĩ thông suốt rồi. Người này vốn dĩ là vợ của bạn, tại sao lại không hợp với bạn, qua một thời gian lại đi làm vợ người ta mất rồi? Bạn cũng phải nhìn cho thoáng á, bạn nghĩ không thông, bạn tự trách mình, bạn sẽ tự làm tổn thương chính mình. Chuyện không giải quyết được vấn đề, chuyện không có kết quả, tại sao lại cứ phải lao đầu vào làm cơ chứ? Chuyện làm mình đau lòng là chuyện không giải quyết được vấn đề, thế thì tại sao bạn lại cứ phải đi làm? Nếu bạn vẫn cứ giữ cái tâm thái kiểu này, liệu bạn có thể bao dung được tất thảy mọi chuyện trên trời, dưới đất không? Cho nên mới gọi là Tâm bao thái hư.

41. Soi chiếu Phật tính của chính mình

+

Nếu bị đau răng? Lần sau đánh răng cho kỹ. Nếu nóng trong người? Lần sau ăn ít đồ cay lại, ra ngoài đi dạo một chút. Nếu tức ngực? Thường xuyên ra ngoài hít thở không khí trong lành. Mọi việc đều có cách giải quyết, chỉ xem bản thân bạn làm cách nào để giải quyết nó mà thôi. Cho nên, muốn để một trái tim vui vẻ trú ngụ trong lòng thì thực chất là có điều kiện: đó chính là phải để cái khổ rời xa bạn. Chỉ khi rời xa sự khổ não, bạn mới có thể có được niềm vui.

Vì thế, phải học cách "Tự tịnh kỳ ý" (Tự làm trong sạch ý niệm của mình), tức là tự mình phải dọn dẹp sạch sẽ mọi ý niệm của bản thân. Hôm nay tôi nghĩ ra bất kỳ câu nói nào thì câu nói đó đều rất sạch sẽ; hôm nay tôi khởi lên bất kỳ ý niệm nào thì ý niệm đó đều phải vô cùng sạch sẽ, đó gọi là "Tự tịnh kỳ ý". Một ý niệm tốt có thể làm một khuôn mẫu tốt; ý niệm phát ra nhất định phải sạch sẽ, làm việc mà có mục đích (tư lợi) tức là không sạch sẽ. Thế nên, con người sống trên đời phải không ngừng giữ cho ý niệm của mình được sạch sẽ.

Con người còn sống, ý niệm ngày nào cũng xao động, sự xao động đó là chuyện không có cách nào ngăn cản được; nhưng cũng chẳng sao cả, giống hệt như bụi bặm ngày nào cũng bám lên đồ đạc trong nhà vậy, vấn đề là bạn phải lau sạch nó đi. Hơn nữa, con người cần phải có sự vận động trong tư duy, trong hành vi cũng phải vận động; con người sống là phải vận động, nên mới gọi là "Hoạt động" (sống và động). Cơ thể không vận động không được, đầu óc không vận động sẽ rỉ sét. Nhưng vận động kiểu gì đây? Nhiều người tập thể dục đến mức hỏng cả lưng, thế mà cũng gọi là rèn luyện thân thể à? Phải vận động một cách thích hợp, đầu óc phải vận động đúng cách, cơ thể cũng phải vận động đúng cách; phải hiểu những đạo lý này.

Nếu một người chỉ học một chút thiền định, học một chút võ công, học một chút tĩnh công, rồi lại học một chút động công, thì những thứ này thảy đều vô dụng. Thứ bạn học được chỉ là một chút ngoài da, giống hệt như một người hôm nay đau chỗ này liền cựa quậy vài cái, hôm nay đau cổ liền vặn vẹo hai cái, ngày mai bạn lại chẳng vận động nữa. Thực tế, ngày nào bạn cũng phải vận động như thế thì cổ của bạn mới dễ chịu. Lúc bạn nhớ ra thì bạn vận động, lúc bạn không nhớ ra thì bạn không vận động, thế thì thực chất bạn vẫn là không vận động, đúng không nào? Nếu ngày nào bạn cũng động não nghĩ chuyện xấu, hễ nghĩ: "Hôm nay mình lại nghĩ chuyện xấu rồi" – thế là xong, chỉ cần nghĩ như thế, chỉ cần một điểm như vậy thôi là bạn đã đang "động não nghĩ chuyện tốt" rồi đấy. Phải thường xuyên nghĩ đến thiện niệm thì mới không có ác niệm.

Người thực sự học Phật phải tự đeo cho mình một chiếc "Vòng kim cô", tức là phải biết rằng: tôi làm bất cứ chuyện gì cũng đừng có " sửa sai đến mức thái quá", đừng làm quá lố, đừng quá nghiêng về bên tả, cũng đừng quá ngả về bên hữu; bởi vì tất cả những thứ chúng ta học trong đời sống đều không phải là sự Cứu cánh. Cứu cánh là gì? Là đi đến tận cùng. Các vị nói xem, có chuyện gì là đi đến tận cùng, là viên mãn cơ chứ? Sự cứu cánh viên mãn ở nhân gian rất khó tìm thấy; muốn tìm thấy sự cứu cánh viên mãn ở nhân gian thì chỉ có Phật mới có thể làm được, chúng ta rất khó mà học theo. Cho nên, đừng có kiểu hôm nay làm một chút, ngày mai lại không làm; ngày mốt lại làm một chút, ngày kìa lại không làm. Tất thảy những thứ đó đều là trống rỗng, đều là không cứu cánh.

Con người chúng ta làm thế nào mới có thể thực sự làm tốt những điều này? Thực chất phải hiểu rằng không được Chấp trước. Các vị hiện tại có chấp trước không? "Tôi nhất định phải làm tốt việc này", đó chính là chấp trước. Lúc các vị phát nguyện thường nói "Con nhất định phải thế này thế kia", thực chất các vị đã hơi chấp trước rồi đấy, các vị không làm được đâu. Có một người bảo với Sư phụ: "Đài trưởng, con nhất định không đi câu cá nữa, con ném hết cần câu đi rồi". Lẽ ra như thế là tốt rồi đúng không? Thế nhưng trong giấc mơ anh ta vẫn đang đi câu cá, kết quả là phạm vào âm luật, vẫn bị trừng phạt như thường. Ở cõi dương bạn không phạm tội nữa, nhưng đến cõi âm bạn vẫn sẽ phạm tội, bởi vì ý niệm của bạn đang phạm tội á. Ở cõi dương anh ta bảo anh ta ném hết cần câu đi rồi, không đi câu cá nữa thật; nhưng tiềm thức của anh ta, dòng ý thức của anh ta vẫn thể hiện ra cái ý thức về những việc câu cá mà anh ta từng làm trong quá khứ, thế nên trong mơ anh ta vẫn sẽ đi câu cá. Vì vậy, tu tâm thực sự rất khó á, phải đấu tranh với tính lười biếng của chính mình; nhất định phải nỗ lực, ít nhất phải có cái quyết tâm này. Đừng coi thường bản thân, các vị đang tiến bộ đấy; hôm nay các vị có thể đến Quan Âm Đường để nghe giảng bài, tức là các vị đang tiến bộ rồi.

Sư phụ bảo các vị đừng chấp trước; nếu không chấp trước, các vị sẽ đạt được Niết Bàn, Niết Bàn nằm ngay trong chính bản thân các vị. Niết Bàn là gì? Là cảnh giới của sự Vô Ngã, là cảnh giới của sự Vô Tư (không ích kỷ). Chúng ta không chấp trước vào nhân sinh; Phật pháp vốn dĩ đã tồn tại trong vũ trụ từ rất lâu rồi, chúng ta có gì đáng để chấp trước cơ chứ? Chúng ta chỉ cần chăm chỉ làm theo Phật pháp, chúng ta chắc chắn sẽ đạt được cảnh giới của Phật. Phật pháp vốn dĩ từ lâu đã nằm trong vũ trụ này, nó không nơi nào là không hiện hữu, không đến không đi, như như bất động; thế thì bạn chính là đã bước vào Pháp môn Bất Nhị của Như Lai rồi. Nói cách khác, tâm của bạn đã hòa làm một cùng tâm của Bồ Tát, như như bất động, tâm bạn mới thực sự tiến vào trạng thái Niết bàn tinh tiến, thực sự tiến vào Pháp môn Bất Nhị, hòa hợp làm một cùng Phật pháp.

Hôm nay Sư phụ giảng cho mọi người đến đây thôi. Sư phụ hy vọng các vị học cho tốt, tu cho tốt, đừng coi thấp bản thân, đừng coi thường chính mình; chúng ta hôm nay đều đang bình đẳng học Phật, chúng ta đều mang cái tâm bình đẳng; vì vậy, chúng ta phải tôn trọng tất cả mọi người, phải quan tâm yêu thương tất cả mọi người.

Sư phụ đối với các vị cũng như vậy, hy vọng mọi người đừng đánh mất Huệ tâm. Các vị phải chăm chỉ tiếp nhận sự giáo dục từ bi của Quán Thế Âm Bồ Tát, phải thực sự hiểu chuyện, chứ không phải chỉ là tạm thời hiểu được chút lý, hiểu được chút pháp. Tuyệt đối phải tự trọng, tư tưởng phải tập trung, ý niệm phải giữ làm một, suy nghĩ và ý niệm phải giữ trên cùng một đường thẳng. Phải nhớ kỹ, tuyệt đối đừng dùng cái suy nghĩ của nhân gian để nhìn nhận cái Tâm Phật của chính mình; nếu không bạn sẽ đánh mất Tâm Phật, bởi vì bạn sẽ không cảm thấy mình vĩ đại, sẽ không cảm thấy mình sạch sẽ, bạn sẽ coi mình là một kẻ vô cùng dơ bẩn. Bạn phải nhìn thấy được Phật tính của chính mình, bạn phải cảm thấy mình và Bồ Tát đang ở cùng một chỗ; có như vậy bạn mới có thể nâng cao cảnh giới của bản thân. Coi trọng chính mình chính là coi trọng Bồ Tát; coi trọng chúng sinh chính là tôn trọng Phật, bởi vì chúng sinh đều có đủ Phật tính.

Hy vọng mọi người tu cho tốt, đừng lấy cái kém ra so bì, hãy tự lo liệu cho tốt; bắt đầu từ hôm nay, càng tu càng tốt, không được tự vứt bỏ bản thân. Có những người có phúc khí nên mới biết đến Phật pháp; có những người thực sự không có phúc khí, ngày nào cũng chỉ biết ăn uống vui chơi, ngày nào cũng làm những chuyện không nên làm – đây chính là những người không có phúc khí, chúng ta chỉ có thể thở dài tiếc nuối; còn những người có phúc khí, chúng ta chúc mừng họ.

42. Hiểu Nhân gây khổ, biết Nhân tạo vui

+

Sư phụ hy vọng các vị hãy bước ra khỏi lòng tham của mình, phải kìm hãm cái phàm tâm của các vị lại; phải mở ra một cánh cửa cho trái tim, để lương tâm thực sự của các vị bước ra ngoài, để người ta có thể cảm nhận được sự từ bi và lương thiện của các vị. Có như vậy, tâm các vị mới không bị thối chuyển. Khi bạn dùng lương tâm, dùng tấm lòng từ bi để đối xử tốt với chúng sinh, tâm bạn sẽ không thể bị thối chuyển nữa. Vì thế, tu tâm rất gian nan, vô cùng khó, khó đến mức không tưởng. Các vị đừng có tưởng hễ gặp chuyện phiền não là cạo đầu lên núi làm ni cô, hòa thượng là xong chuyện. Sư phụ nói cho các vị biết, làm thế còn phiền não hơn; nếu không có cái tâm giác ngộ triệt để, bạn sẽ càng thấy phiền não. Mọi người nghe hiểu không?

Sư phụ dạy mọi người phải hiểu rằng: Đã muốn tu hành rồi, chúng ta phải đối mặt với sự chân thực ở nhân gian, tìm lại chính mình. Trong quá khứ tôi không hiểu chuyện, cứ thuận theo vận mệnh của mình: ba năm này tốt, ba năm này rất kém, ba năm này rất tồi tệ, ba năm này lại rất vi diệu. Bây giờ bạn đã tìm thấy con đường này rồi mà bạn vẫn chưa tinh tiến, thế thì bạn đang tự chuốc lấy rắc rối rồi. Bởi vì bạn đã đang đi trên con đường phiền não ở nhân gian này, nên bạn bắt buộc phải tìm ra một con đường để thoát khỏi phiền não; hôm nay học Phật bạn đã tìm thấy con đường này rồi, bạn bắt buộc phải dũng mãnh tinh tiến tiến về phía trước. Người sợ đối mặt với khó khăn chính là kẻ nhu nhược. Người sợ rắc rối có phải là kẻ nhu nhược không? Chúng ta đã đến cái nơi khổ ải là Nhân đạo này rồi, chúng ta phải đối mặt với nó, để giải quyết nó, để giúp đỡ chính mình, để giúp đỡ chúng sinh. Đã khổ đến thế này rồi, trốn có được không? Mâu thuẫn gia đình đã nổ ra rồi, trốn có được không?

Hôm nay Sư phụ nói chuyện với một vị thính giả có hẹn trước, lúc sau Sư phụ thực sự không kìm nén nổi nữa, Sư phụ bảo: "Bố mẹ cô ly hôn, tổn thương gây ra cho cô còn ít sao?". Cô ấy nghe xong câu này liền đứng hình; những chuyện này làm sao cô ấy nói cho Sư phụ biết được? Là do Sư phụ tự nhìn ra đấy. Tất thảy những chuyện này đều là thứ vốn dĩ đã định sẵn trong số mệnh của chúng ta. Vậy làm thế nào để bố mẹ chúng ta đừng ly hôn đây? Bản thân chúng ta chịu khổ thì thôi đi, làm thế nào để chúng ta có thể che chở cho bố mẹ mình đây? Đây chính là thứ chúng ta phải tu, phải học.

Cho nên đừng chỉ lo cho mỗi bản thân mình; chỉ lo cho bản thân mình chính là đang tu Tiểu thừa Phật pháp. Chúng ta còn phải lo nghĩ cho anh chị em, cho bố mẹ, ông bà nội ngoại; thế thì trong gia đình này, vị trí giác ngộ của bạn đã được thiết lập rồi. Rất nhiều đứa trẻ vô cùng ích kỷ, cả đời chỉ biết lo cho mình, chẳng màng đến anh chị em, cũng chẳng thèm đoái hoài đến bố mẹ. Nhưng cũng có rất nhiều đứa trẻ từ nhỏ đã biết chăm sóc bố mẹ, chăm lo cho anh chị em, giống như một người mẹ trong gia đình vậy; đó là gì? Đó chính là cảnh giới á. Kẻ sợ chuyện liệu có thể né tránh được những chuyện này không? Vẫn phải đối mặt như thường. Chỉ có thực sự tìm được chính mình, làm chủ được chính mình, biết mình là người như thế nào thì mới có thể tìm lại được chính mình. Ví dụ, tôi là một người đàn ông, tôi bắt buộc phải gánh vác trọng trách gia đình; tôi là một người phụ nữ, tôi không còn là một đứa trẻ nữa, bản thân tôi làm sai chuyện, tôi phải cắn răng gánh chịu nỗi đau, tôi có thể sửa đổi là tốt rồi.

Chúng ta sống ở kiếp này phải tìm cho ra mục đích thực sự khi đến với thế giới này. Chúng ta phải hiểu rằng mục đích thực sự khi đến với thế giới này chính là để giải thoát cho chính mình. Nếu chúng ta vẫn còn ở trên thế giới này gào khóc, rơi lệ, đau lòng, buồn bã, bạn có giải thoát nổi không? Bạn không được giải thoát, bạn đang khổ chồng thêm khổ. Người nghĩ không thông thì khổ, Tham lại càng khổ, đó chính là chưa được giải thoát.

Sư phụ hy vọng các vị hiểu rằng, đời người rồi cũng sẽ có ngày kết thúc, nhưng phải không hổ thẹn với bản thân, không hổ thẹn với bố mẹ, không hổ thẹn với chúng sinh, phải đối diện không thẹn với chính mình. Chúng ta thường hay nói một câu: Cả đời này chúng ta bận rộn vì cái gì đây? Bạn kiếm được tiền của người ta, bạn làm hại huệ mạng của người ta, bạn lừa gạt người ta, bạn giành được một số lợi ích – thế là bạn đang hại chết huệ mạng của chính bạn đấy! Đến cái ngày bạn nhắm mắt xuôi tay, bạn sẽ phải chịu trừng phạt; thế nên làm bất cứ chuyện gì cũng phải dựa vào lương tâm mà làm.

Mọi người phải hiểu, khi đối diện với tất cả mọi thứ trên thế giới này, chúng ta phải luôn suy ngẫm: Mọi thứ trên đời, cho dù chúng ta có sở hữu đi chăng nữa, lẽ nào chúng không phải chỉ là tạm thời thôi sao? Ngôi nhà của bạn, tiền bạc của bạn, con cái của bạn, bố mẹ của bạn... Tất cả những gì bạn đang có đều là tạm thời, bạn còn chưa hiểu sao? Thực chất, chúng ta hoàn toàn chưa từng sở hữu chúng; những thứ tạm thời thì không thể gọi là sở hữu được. Cho nên, mọi sự sở hữu trên đời đều là tạm thời; kẻ thù có thể biến thành người yêu, người yêu có thể biến thành kẻ thù. Thế nên, nếu trong kiếp sống này, chúng ta ngay đến cả vận mệnh của chính mình cũng không làm chủ được, chúng ta đều không thể thoát khỏi đau khổ, để rồi cuối cùng kết thúc sinh mạng một cách đầy bi thảm, vậy thì cả đời này chúng ta đã sống uổng phí rồi.

Những gì Sư phụ giảng cho các vị thảy đều là đạo lý nhân gian; các vị có thể tự mình ngẫm xem những đạo lý này có đúng không? Chúng ta đừng để cho cá thể sinh mệnh này cứ thế kết thúc một cách đơn giản, qua loa như vậy nữa; trái tim của chúng ta không thể tiếp tục vì những kẻ thù hay người yêu ở chốn nhân gian mà phiền não nữa, thực chất những thứ này đều đã chẳng còn ý nghĩa gì rồi. Vì vậy, trên thế giới này, chúng ta đã từng yêu ai, đã từng hận ai, thuận theo sự trôi chảy của sinh mạng, tất cả đều không còn tồn tại nữa, đều đã mất đi ý nghĩa rồi. Bạn đi yêu người ta để làm gì chứ? Bạn đi hận người ta để làm gì chứ? Có gì đáng để yêu với hận đâu, đó chính là Căn Bản Trí.

Căn Bản Trí là gì? Nghĩa là, một người có trí tuệ, có thể tạm thời có một chút trí tuệ, một chút thông minh, đúng không? Nhưng Căn bản trí tức là tôi đã nhìn nhận thế giới này một cách hoàn toàn rõ ràng, hoàn toàn nhìn thấu, nhìn rách, nhìn xuyên suốt rồi; tôi biết tất cả mọi thứ ở nhân gian này đều là giả dối, đều là những thứ không thể lưu lại lâu dài trong tâm tôi. Khi đó, bạn sẽ từ từ đạt được Căn bản trí, chính là thứ trí tuệ mà con người sau khi nhận thức được cội nguồn nên sở hữu. Sư phụ hy vọng khi các vị giúp đỡ người khác, đều có thể nói ra được những Phật lý, Phật pháp này.

"Nhất thiết hữu vi pháp", nghĩa là, trên thế giới này chỉ cần bạn cho rằng nó là những thứ thuộc về pháp giới (thế giới vật chất), thì thảy đều là mộng huyễn bào ảnh. Nói cách khác, những thứ bạn cho là Có (hiện hữu), thực chất đều là Không. Bạn cho rằng bạn có con cái; bạn chết đi rồi, đứa trẻ không còn là của bạn nữa, không gặp được nữa, không nhìn thấy nữa; bạn tưởng hôm nay bạn đã ăn trưa rồi, nhưng ăn trưa xong, bụng lại rỗng không; hôm nay bạn tưởng sinh mạng của bạn có thể vĩnh viễn sống ở nhân gian này, nhưng đến một lúc nào đó, sinh mạng của bạn cũng sẽ tan biến. Cho nên, vạn pháp hữu vi trên thế giới này thảy đều như mộng huyễn bào ảnh. Các vị phải học cho tốt, nghe cho kỹ.

Tiếp theo, Sư phụ giảng cho các vị nghe: Hành thiện thực sự là đang giúp đỡ chúng sinh, Tích đủ niềm vui và giúp đỡ người khác thoát khỏi đau khổ. Phải hiểu rằng, khi các vị đang giúp đỡ người khác, các vị nhận được niềm vui tột cùng. Đám thanh niên các vị này, các vị đã giúp đỡ được mấy người rồi? Các vị nhận được niềm vui gì? Người ta nấu canh nấu nước mang đến cho các vị, các vị tưởng người ta mang đến để cho các vị uống không thôi à? Người ta làm công đức, lúc mang đến cho mọi người ăn, trong lòng người ta tràn đầy Pháp hỷ, họ nhận được công đức; còn các vị - những kẻ ăn đồ của người ta - nếu tự thân lại không đi làm nhiều việc giúp đỡ người khác, các vị sẽ đánh mất công đức. Lấy một ví dụ đơn giản: Một người có công đức tương đương với việc họ có tiền mời bạn ra nhà hàng ăn cơm; số tiền họ bỏ ra chính là công đức của họ. Bạn giúp họ ăn hết rất nhiều đồ, người ta làm thế là có công đức; nhưng nếu hôm nay bạn chỉ đến ăn chực, bạn chẳng giúp đỡ ai, người ta mời bạn ăn, bạn thử nói xem, việc này có tốt cho bạn không? Người ta rất vui vì họ mời bạn ăn, còn bạn ăn của người ta, trong lòng bạn có thấy hổ thẹn không? Từ cổ chí kim Trung Quốc đã có câu: "Vô công bất thụ lộc" (Không có công lao thì không nhận lộc). Khi bạn đi tiêu xài công đức mà bạn lại không bỏ ra công đức, lâu ngày, bạn sẽ dần dần đánh mất công đức của mình.

Người có tâm cảm ân mới có thể học Phật á. Bọn thanh niên các vị, ăn xong đồ đạc vứt lung tung, bàn không lau sạch, đến cái bát cũng không buồn rửa. Phải kỷ luật bản thân đi chứ! Người học Phật phải hiểu thế nào là kỷ luật bản thân; cho nên, giúp đỡ người khác chính là niềm vui trọn vẹn, tức là bản thân vui vẻ, mà còn có thể giúp người ta thoát khỏi đau khổ. Lấy ví dụ đơn giản, người này bả vai rất đau, bạn đứng bên cạnh xoa xoa bóp bóp, dán cho miếng cao, khuyên tối nhớ uống nhiều nước; bạn chỉ cần nói như vậy thôi, người ta đã vơi đi rất nhiều đau đớn rồi. Bạn nói xong, người ta dùng ánh mắt vô cùng biết ơn nhìn bạn, bạn có thể nhận được sự gia trì và báo đáp đấy.

Giúp đỡ người khác có vui không? Đương nhiên là vui, nhưng điều quan trọng hơn là phải giúp họ tìm thấy "Lạc nhân". Lạc nhân là gì? Là nguyên nhân của sự vui vẻ. Bạn không chỉ giúp họ giải quyết một chút vấn đề nhỏ, mà bạn phải giúp họ giải quyết Lạc nhân, tức là tìm ra nguyên nhân của sự vui vẻ. Hôm nay ông cụ này tuổi cao bảo sợ chết, Sư phụ giúp ông ấy tìm ra nhân vui vẻ: Chỉ cần ông ấy liên tục đi phóng sinh, chăm chỉ học Phật tụng kinh, giữ gìn sức khỏe, Bồ Tát chắc chắn sẽ cho ông ấy sống thọ hơn, để ông ấy có được sinh mệnh vĩnh hằng. Ông ấy nhận được cái Nhân vui vẻ này rồi, ông ấy liền biết rằng chỉ cần mình đi phóng sinh, chỉ cần mình tụng kinh học Phật, chỉ cần mình làm người tốt, mình nhất định sẽ sống thọ. Đây chính là việc bạn đã giúp ông ấy tìm thấy cái "Lạc nhân" này rồi, ông ấy sẽ cứ thế vui vẻ mãi. Thử nhìn lại các vị xem, nghe một cuộc điện thoại cũng mất kiên nhẫn, các vị thực sự quá kém cỏi.

Bạn giúp họ tìm thấy "Lạc nhân", tức là bạn đã giúp họ thoát khỏi "Khổ nhân". Thế nào gọi là thoát khỏi Khổ nhân? Tại sao bây giờ họ lại khổ đến vậy? Vì họ nghĩ không thông! Bạn phải bảo cho họ biết, đừng sợ chịu khổ, đây là Cái nhân gây ra đau khổ do họ gieo từ kiếp trước; nghĩ thông suốt rồi, họ sẽ không thấy khổ nữa. Chẳng phải Sư phụ cũng đang giúp đỡ người khác như vậy sao? Tuy các vị không nhìn thấy tiền kiếp của người ta, nhưng các vị có thể lấy đạo lý này ra để giải thích cho họ. Sư phụ có thể nhìn thấy tiền kiếp của họ, nên lời giảng càng có sức nặng; nhưng các vị cũng có thể khuyên: "Anh nhất định phải nhớ kỹ, nỗi khổ anh chịu trong kiếp này là do cái Nhân kiếp trước anh đã gieo. Kiếp này cô ấy cứ làm ầm ĩ với anh như vậy, chắc chắn là do kiếp trước anh nợ cô ấy". Bạn giúp anh ta tìm thấy cái Khổ nhân này, chẳng phải anh ta cũng sẽ vui vẻ sao? Chẳng phải anh ta sẽ bớt đi đau khổ sao?

Lúc chúng ta còn nhỏ bị đau răng, bố mẹ liền nhân lúc đau răng mà giáo dục chúng ta: "Các con nhất định phải đánh răng, không đánh răng là sẽ bị đau răng đấy". Bây giờ đau lắm rồi đúng không? Phải làm sao đây? Trong lúc đang đau đớn, bạn bảo nó làm gì nó cũng nghe theo. Bố mẹ lúc bấy giờ bảo chúng ta ngậm một ngụm nước ấm, bỏ chút muối vào, súc miệng ực một cái rồi nhổ ra, sau đó lại ngậm ngụm nước muối nữa, súc ực một cái rồi nhổ đi. Chỉ khi bạn ở trong đau đớn, người ta bảo bạn làm gì bạn mới chịu làm. Con người chúng ta chỉ khi ở trong đau khổ và phiền não mới chịu thay đổi bản thân. Để bản thân chịu khổ một chút, đau một chút, chưa chắc đã là chuyện xấu, hiểu không? Có khổ mới tìm thấy Vui. Bạn không nếm mùi khổ, làm sao tìm thấy niềm vui?

Vì vậy, phải giúp mọi người tìm ra Lạc nhân và Khổ nhân, mới có thể thay đổi vận mệnh của chính họ, mới có thể khiến nỗi khổ rời xa vĩnh viễn, để trái tim vui vẻ luôn trú ngụ trong lòng họ. Vừa cãi nhau với chồng, liền nghĩ: "Đây là do kiếp trước mình nợ anh ấy, kiếp trước gieo nhân, kiếp này gặt quả". Nghĩ được vậy là hết cãi nhau. Hai hôm sau lại cãi nhau tiếp, liền nghĩ: "Tần suất cãi nhau sao lại cao thế này nhỉ? Kiếp trước mình ăn ở ác độc đến thế sao?". Bạn luôn tự khiển trách chính mình, bạn sẽ không bao giờ nuôi dưỡng sự hối hận. Bạn có cái Nhân này rồi, bạn sẽ không gieo ra cái Quả kia nữa, bạn sẽ không đi cãi nhau với người ta nữa, hiểu không? Hôm nay bạn khổ như thế này, nhà cửa tồi tàn như thế này, bạn không có tiền; rất nhiều người bây giờ đã hiểu ra rồi: Tại sao kiếp này mình lại nghèo? Đó là do kiếp trước mình không làm việc thiện, kiếp trước mình không biết bố thí, đây chính là một vòng luẩn quẩn ác tính.

Phải biết thay đổi bản thân, phải để niềm vui luôn ngự trị trong lòng. Chỉ khi thấu hiểu đạo lý, mới có thể để niềm vui luôn ngự trị trong lòng. Hôm nay tôi thấu hiểu đạo lý rồi, tôi mới có thể vui vẻ mãi mãi; tôi không hiểu đạo lý, tôi sẽ không bao giờ có được niềm vui.

43. Lợi ích chúng sinh khoái lạc vô ưu

+

Học Phật chỉ có tiến lên, không được phép lùi bước. Bởi vì chúng ta làm người chỉ có thể làm người tốt, không thể làm kẻ xấu; không có đường lui để đi đâu. Tại sao? Làm kẻ xấu, đường lui chính là tự hại chết mình. Bởi vì bạn đã đi trên con đường lớn rồi, tại sao bạn lại cứ nằng nặc đòi đi đường mòn chứ? Bởi vì bạn đã đang tiến bộ rồi, tại sao bạn lại phải lùi bước chứ? Bạn đã đang giúp đỡ chúng sinh, đang cứu người rồi, tại sao lại không thể giúp đỡ chúng sinh, cứu mình cứu người một cách triệt để? “Không sợ không biết hàng, chỉ sợ hàng so với hàng”; cảnh giới của con người vừa đem ra so sánh là lộ rõ ngay. Người thực sự muốn tiến bộ, họ nhất định phải tiến về phía trước, họ nhất định phải nỗ lực học tập hết mình thì mới thực sự học được. Bồ Tát vĩnh viễn chỉ giúp đỡ những người có khao khát tự cứu lấy mình. Có những kẻ ngay đến bản thân cũng chẳng buồn tự cứu, thì Bồ Tát làm sao có thể giúp đỡ họ được?

Mặc dù các vị A-la-hán không ngừng diệt trừ phiền não, nhưng họ vẫn chưa thấu hiểu triệt để phiền não rốt cuộc là chuyện gì. Nói cách khác, có thể tu đến tầng trời cao như thế, có thể thoát khỏi vòng luân hồi Lục đạo lên tầng trời thứ nhất, thứ hai, mà họ còn chưa chắc đạt được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, huống hồ là chúng ta? Học Phật chắc chắn sẽ có phiền não. Các vị theo Sư phụ lâu như vậy rồi, mà một số người vẫn chưa hiểu tại sao mình lại học Phật. Có người bảo: "Tôi học Phật để được sinh con suôn sẻ"; có người bảo: "Tôi học Phật để tìm được công việc"; có người lại nói: "Tôi học Phật để cơ thể không mắc bệnh ung thư". Thực chất, những lý do này đều rất phiến diện. Người không nắm bắt được nền tảng cốt lõi của Phật pháp thì sẽ không hiểu Phật tính đích thực là gì; do đó, họ không thể học Phật cho tốt được.

Hôm nay Sư phụ trao cho các vị một cơ hội, để các vị học sâu hơn một chút, giúp các vị nâng cao thêm một bước. Còn nỗ lực được hay không là tùy ở các vị, hãy ôn tập Phật lý cho tốt, học hành cho tử tế. Sư phụ nói cho các vị biết, các vị A-la-hán theo Phật giáng trần, cùng với Bồ Tát, cùng với Phật lại xuống nhân gian, rồi trở thành những Đại Hộ Pháp. Bởi vì khi Bồ Tát xuống nhân gian, chắc chắn sẽ có rất nhiều Đại Hộ Pháp đi theo. Nhưng ngay cả các vị A-la-hán, các vị Bồ Tát này khi xuống nhân gian, họ vẫn chưa đạt đến Đại viên mãn, chưa đạt đến Cứu cánh viên mãn, nên họ vẫn là chưa viên mãn.

Cứu cánh viên mãn là gì? Là phải thấu hiểu đạo lý một cách triệt để. Ví dụ hôm nay tôi cầu nhân duyên, tôi cầu được rồi; hôm nay tôi cầu con cái, tôi cầu được rồi; nhưng tôi biết rằng đây không phải là Phật pháp Cứu cánh. Đây là Bồ Tát ban cho tôi, là Bồ Tát đang giúp đỡ tôi, là Bồ Tát từ bi với tôi. Tôi thực sự hiểu rằng: thông qua những thứ đạt được này, tôi càng phải biết ơn Bồ Tát hơn, càng phải chăm chỉ học Phật tu tâm hơn. Tôi càng phải biết cách làm thế nào để trong xã hội, trong gia đình, trong đạo làm người, và trong sự tu tập của bản thân ngày càng tiến gần đến Phật hơn. Bởi vì tôi hiểu rằng tôi còn quá nhiều chuyện phải cầu xin Bồ Tát; tôi biết rằng còn quá nhiều người chịu khổ đang cần Bồ Tát giúp đỡ. Không những sau khi tự mình bái Phật tôi phải hiểu được Tâm Phật, mà tôi còn phải đem cái Tâm Phật này truyền đạt cho nhiều người hơn nữa. Khi đó, sẽ có càng nhiều người nhận được sự quan tâm và từ bi của Bồ Tát, và khi đó tôi mới có thể đạt được sự viên mãn cứu cánh. Bởi vì mọi người đều tốt lên, thì tôi mới tốt lên được; vì thấy người ta chịu khổ mà trong lòng tôi thấy không yên - đó chính là "Nhân thương ngã thống" (Người đau tôi xót), đó chính là học Phật pháp. Các vị nghe hiểu không? Hãy học cho tốt, phải nâng cao cảnh giới, không thể cứ đi mãi trên lối mòn được.

Chúng ta hiểu rằng, con người vừa sinh ra là đã bắt đầu suy nghĩ. Chúng ta có tư duy, chúng ta sẽ nghĩ ngợi rất nhiều chuyện. Chẳng hạn: "Tại sao mẹ lại đối xử tốt với em trai mà không đối xử tốt với mình?", "Tại sao mình không có thứ này mà người ta lại có?", "Làm thế nào để thoát khỏi những muộn phiền ở nhân gian?", "Tại sao nhà mình lại nghèo thế?", "Làm sao để gia đình mình khá giả hơn một chút?"... Cho nên, nhân lúc vẫn còn thân người, phải lập tức thoát khỏi bể khổ. Hôm nay chúng ta mang thân người, chính là để đến đây chịu khổ. Chính vì chúng ta nếm mùi khổ, nên chúng ta mới phải biết cách làm sao để thoát khỏi cái khổ. Phật pháp gọi đó là "Ly khổ đắc lạc" (Thoát khổ được vui). Bởi vì khi bạn không còn khổ nữa, bạn sẽ có được niềm vui; khi bạn có được niềm vui, bạn sẽ không còn phiền não nữa. Ly khổ đắc lạc chính là phải giúp bạn hiểu rõ cái khổ thực sự là gì, bạn mới có thể thoát khỏi nó; nếu bạn vẫn thấy nó ngọt ngào, bạn sẽ không bao giờ dứt ra được.

Sư phụ bảo trong lòng các vị tuyệt đối không được có "Quái ngại". Quái ngại là gì? Là vương vấn, là mang vác, là nhớ nhung, là vấn vương. Tất thảy những thứ này phải lập tức buông bỏ. Không dứt bỏ quái ngại, không dứt bỏ phiền não và khổ não, bạn sẽ vĩnh viễn không bao giờ có được niềm vui. Rất nhiều người không biết đó là khổ, nên họ mới thấy mình rất vui sướng. Người say rượu có biết mùi khổ không? Họ có biết nỗi đau khổ khi sau này mắc bệnh ung thư gan không? Người hút thuốc có biết họ đang khổ không? Họ thấy mình rất sung sướng. Khi một người hôn nhân rõ ràng đã đổ vỡ, họ vẫn cứ bám riết lấy người ta không buông, họ có thấy đây là khổ không? Họ thấy chia tay còn khổ hơn, bởi vì họ không hiểu rằng "Đau dài không bằng đau ngắn"; thực chất đó vẫn là một nỗi đau. Người thực sự có trí tuệ phải biết "Ly khổ đắc lạc", trong tâm phải biết cầm lên được, đặt xuống được, phải "Vô quái ngại".

Cho nên, chúng ta phải học Đại Thừa tâm của Đại Thừa Phật pháp. Phải tu "Vô duyên đại từ": Tức là dù người ta không phải là con cái mình, không phải người nhà mình, không phải họ hàng mình, mình vẫn cứ đối tốt với người ta mà không cần bất cứ lý do gì. Chúng ta phải tu "Đồng thể đại bi": Người đau tôi xót, tức là khi người ta đau đầu, bạn cũng phải cảm nhận được đầu mình đau như búa bổ. Lúc Sư phụ làm tình nguyện viên ở viện dưỡng lão, từng nghe người ta kể: mấy cô y tá dìu người già đi, dìu đi rất nhanh; nhưng mấy cụ già đó mắt không nhìn thấy, đi nhanh như thế họ sẽ sợ hãi biết chừng nào! Lúc viện dưỡng lão huấn luyện y tá, họ dùng vải bịt mắt y tá lại, rồi để một y tá khác dìu đi, để họ tự cảm nhận xem người già không nhìn thấy đường có cảm giác như thế nào.

Chúng ta bây giờ phải hiểu rằng, khi bạn đang giúp đỡ người khác, người ta đang rất đau khổ, bạn có cảm giác gì? Khi đó, bạn sẽ không nói chuyện qua quýt lấy lệ trên điện thoại nữa. Nếu đó là bạn thì sao? Nếu đó là mẹ bạn, là con bạn, bạn có ăn nói như thế không? Đó gọi là Đồng thể đại bi. Vì vậy, muốn tiêu trừ nghiệp chướng, phải dùng đến "Sự thức tỉnh thuở ban sơ". Sự thức tỉnh thuở ban sơ là gì? Là "Nhân chi sơ, tính bản thiện". Khi một người còn nhỏ, lương tâm của họ rất thánh thiện, tại sao lại trở nên độc ác? Sống cùng kẻ ác thời gian lâu quá chăng? Hay sự thù hận gặm nhấm trong thời gian quá dài? Cho nên, phải dùng sự thức tỉnh thuở ban sơ, nghĩa là dùng lối suy nghĩ khi bạn vẫn còn vô cùng thuần khiết để xem xét các vấn đề hiện tại. Lấy ví dụ, hồi nhỏ tính tình bạn rất hiền lành. Mẹ bảo bạn: "Cái người này ác lắm". Bạn liền nói với mẹ: "Mẹ ơi, cô này tốt lắm mà, sao mẹ lại ghét cô ấy?". Đó chính là sự thức tỉnh thuở ban sơ của bạn. Bởi vì bạn có trái tim lương thiện, có "Bản giác" (sự giác ngộ sẵn có) lương thiện.

Chúng ta phải làm những việc mang lại lợi ích cho mọi chúng sinh. Chúng ta bắt buộc phải làm những việc làm lợi cho tất thảy chúng sinh. Nghĩa là, chỉ cần việc này là việc tốt, có thể giúp đỡ tất cả mọi người, thì tôi sẽ đi giúp đỡ họ; đó gọi là Lợi ích nhất thiết chúng sinh. Hôm nay tôi không cần biết bạn là ai, chỉ cần tôi giúp được bạn, tôi sẽ đi làm; đó gọi là Lợi ích nhất thiết chúng sinh.

Phải hiểu rằng, khi bạn đang giúp đỡ và mang lại lợi ích cho chúng sinh, khi bạn đang giúp đỡ người khác, bạn sẽ không còn nảy sinh tâm "quái ngại" nữa. Muốn rũ bỏ tâm vướng mắc trong lòng, thì chính là phải đi giúp đỡ người khác. Lấy một ví dụ đơn giản: dịp Trung thu, nhà nhiều người chất cả đống bánh trung thu. Bảo họ lấy vài hộp đem biếu người khác, họ tiếc đứt ruột. Nhưng khi bạn đem toàn bộ số bánh trung thu nhà mình đi chia cho mọi người, bạn sẽ nhận được vô vàn Pháp hỷ, bạn sẽ chẳng mảy may nghĩ rằng: "Đây là bánh trung thu của nhà tôi mà!". Nghe hiểu không? Cho nên, Tâm tham dùng chữ "Xả" là có thể diệt trừ. Tôi tham luyến thứ này, tôi tham luyến thứ kia, thì tôi càng phải "Xả". Cho đi nhiều thì ít tham lam; Từ bi nhiều thì bớt sân hận - người có thêm một chút tâm từ bi sẽ bớt đi một chút tâm thù hận; Trí tuệ nhiều thì ít ngu si - người có thêm một chút trí tuệ sẽ bớt đi một chút ngu muội.

Nhiều người hỏi: "Làm thế nào để tôi có thể vui vẻ hơn một chút?". Chỉ cần bạn vui vẻ, bạn sẽ không bao giờ bất hạnh. "Tại sao tôi lại khổ thế này?". Hôm nay bạn không còn khổ nữa, bạn chắc chắn sẽ có niềm vui; hôm nay bạn vẫn còn muộn phiền, bạn sẽ không thể vui lên được. Cho nên, tật xấu của con người, tự mình đều có thể tìm ra được. Sư phụ hy vọng mọi người phải hiểu, phải thấu: Vấn đề lớn nhất của việc tu hành là khi một mình tu tại gia, bạn sẽ cảm thấy rất thoải mái. Rất nhiều người nghĩ: "Mình ở nhà một mình, mình thấy rất thoải mái". Có ý gì đây? Chẳng ai đến quấy rầy mình, ngồi tụng chút kinh, chẳng phải là rất sung sướng sao? Nhưng cứ hễ bước ra ngoài, đối mặt với chúng sinh, chuyện này chuyện nọ ập đến, phiền não lập tức ló dạng. Thử nghĩ xem, bạn tu tâm chẳng phải là để diệt trừ phiền não sao? Bạn trốn tránh phiền não không có nghĩa là bạn không có phiền não! Lấy ví dụ, nhà bạn bị kiện. Bạn bảo bạn trốn lên Blue Mountains, bạn trốn được không? Trong lòng bạn toàn là phiền não. Bạn bảo đi ngủ một giấc là quên hết mọi chuyện. Vừa mở mắt tỉnh dậy, bạn lại nhớ ra: Bị kiện rồi, nhỡ bị bắt thì sao? Nhỡ phải ngồi tù thì sao? Cho nên, tất cả những cách đó không thể xóa bỏ được phiền não của bạn.

Sư phụ nói với các vị, đời người tuy có phiền não, đời người tuy có cả đống vấn đề, nhưng thời gian qua đi, bạn có thể sẽ không giữ vững được, bạn sẽ bị mọi rắc rối nuốt chửng, bạn sẽ bị mọi phiền phức bủa vây. Vậy thì, đây chính là lý do vì sao Sư phụ bảo các vị phải bước ra ngoài để tu tâm. Bởi vì khi bạn giúp đỡ chúng sinh, bạn sẽ có được một niềm vui vô hình.

Sư phụ thường hay nghe những câu chuyện thế này: Có một người trước nay chẳng bao giờ giao thiệp với ai, một mình ở nhà không phạm pháp, không phạm tội; nhưng cuối cùng vẫn bị người ta kiện ra tòa. Vì anh ta không có ai giúp đỡ, nên sống vô cùng đau khổ. Bây giờ anh ta bắt đầu tu tâm tụng kinh, anh ta giúp đỡ rất nhiều người, cứu độ rất nhiều chúng sinh. Khi anh ta gặp rắc rối, rất nhiều người đã ra tay giúp đỡ anh ta, đứng ra làm chứng cho anh ta. Anh ta đi trên đường, rõ ràng là người kia tự ngã, kết quả lại túm lấy anh ta ăn vạ là do anh ta đụng ngã. Cảnh sát vừa đến, anh ta cũng chẳng thanh minh được rõ ràng; kết quả là có rất nhiều người đứng ra làm chứng giúp anh ta, hơn nữa còn nói anh ta là người học Phật, là một người tốt. Trong số những người học Phật còn có luật sư giúp anh ta kiện tụng không lấy một đồng thù lao; vị luật sư viết một bức thư, đối phương lập tức im bặt không nói được lời nào. Đây chính là vì anh ta đã bước ra ngoài cứu người, nên anh ta nhận được những đền đáp tốt đẹp.

Đây chính là lý do vì sao học Phật phải cứu độ chúng sinh. Bởi vì bạn cứu chúng sinh, bạn sẽ gieo được "Chúng sinh duyên"; bạn không bước ra ngoài giúp đỡ người khác, bạn chính là "Cô quả duyên" (duyên cô độc). Bạn không có duyên phận, không ai giúp đỡ bạn, bạn sẽ không nhận được sự trợ giúp của chúng sinh. Trong đó còn có Duyên từ bi của Bồ Tát. Khi bạn giúp đỡ chúng sinh, Bồ Tát còn ban cho bạn một loại duyên phận từ bi; đó là khi bạn gặp khó khăn, khi bạn muộn phiền, bạn có thể nhận được một loại Từ bi duyên, bạn sẽ nhận được sự trợ giúp đầy lòng từ bi từ người khác.

44. Tri Phật lý minh Phật pháp, chân tâm diệt định

+

Hôm nay Sư phụ giảng cho mọi người nghe: Chúng ta học Phật làm người, làm thế nào để tu tâm ngay trong phiền não. Tu tâm là phải tu cái "Ý cảnh". Bởi vì chỉ khi bạn dùng ý cảnh, bạn mới có thể thực sự trừ bỏ được phiền não; bởi vì bạn tu được ý cảnh, bạn mới có thể khiến đầu óc mình gạt bỏ sạch sẽ không còn tì vết mọi khó khăn và phiền muộn. Để xem thân thể và tâm hồn một người có đang phiền não hay không, xin bạn hãy tự kiểm tra xem mình có đang tức giận hay không.

Sư phụ nói cho các vị biết, một người phải giỏi thường xuyên quán sát thân tâm của mình, bạn sẽ hiểu rõ: Nếu bạn cảm thấy trong người đã không được thoải mái, trong lòng không vui vẻ, trong lòng đã chứa đầy phiền não, thì thực chất là bạn đã mất kiểm soát đối với những sự việc này rồi; bạn không có năng lực để thao túng cảm xúc của chính mình. Người không có năng lực kiểm soát cảm xúc của bản thân, chắc chắn sẽ rước lấy "Nghiệp duyên". Nghiệp duyên là gì? Chính là cội nguồn của nghiệp lực. Nghiệp duyên sẽ khiến ngày nào bạn cũng nảy sinh phiền não, hơn nữa nghiệp duyên rất khó để vượt qua. "Nghiệp" là gì? Chính là nghiệp lực. "Duyên" là gì? Là thiện duyên và ác duyên được sinh ra từ nghiệp lực; đó gọi là nghiệp duyên. Khi những cái duyên này đã ngự trị trong lòng bạn, thì thiện nghiệp và ác nghiệp của bạn sẽ giống như một cuốn sổ, từng thứ từng thứ ghi chép lại cho bạn; đó chính là Nghiệp của bạn.

Mọi người học Phật học Pháp, phải "Tri lý", phải "Minh Phật pháp". Tri lý chính là phải biết Phật lý; minh Phật pháp chính là phải hiểu Phật pháp rốt cuộc là chuyện gì. Chỉ khi tri lý, minh Phật pháp, thường xuyên tụng kinh, thường xuyên nhớ rằng Bồ Tát luôn ở bên cạnh mình, bạn mới từ từ cảm thấy mình sống rất thuận tự nhiên; nếu không, bạn sẽ không bao giờ cảm thấy mình sống thoải mái được. Chúng ta phải thường xuyên cảm thấy mình đang ở cạnh Bồ Tát. Bởi vì bạn cảm thấy Bồ Tát đang nhìn mình, bạn sẽ không thể làm chuyện xấu, bạn không thể có ý niệm ác; từ đó bạn mới có thể "Thủ giới". Thủ giới chính là tôi không dám làm những chuyện tồi tệ. Cho nên, khi nghĩ đến Bồ Tát, chúng ta sẽ không tức giận nữa. Bởi vì khi bạn tức giận, là lúc bạn quên mất rằng bạn có Bồ Tát ngự trên người. Khi bạn nhớ ra Bồ Tát đang ở trên người mình, bạn sẽ không nổi cáu nữa; vì bạn biết Bồ Tát vô cùng từ bi, sẽ không vì một sự việc nào đó, không vì một ai đó mà tức giận. Khi bạn cảm thấy Bồ Tát đang ở trên người mình, khi bạn thường xuyên nhớ đến Bồ Tát, Bồ Tát sẽ gia trì cho bạn. Rất nhiều người hỏi: "Tại sao tôi lại nhận được sự gia trì?". Vì trong tôi có Phật!

Khi trong cuộc sống chúng ta cảm thấy thực sự không thể chịu đựng nổi nữa, hãy cầu xin Bồ Tát giúp chúng ta chuyển hóa cái Tham - Sân - Si trong nội tâm. Nghĩa là, khi trong lòng bạn nổi lên tâm hận, tâm tham, tâm si; bạn chỉ có thể dựa vào sức mạnh của Bồ Tát để giúp bạn chuyển hóa Tham Sân Si. "Chuyển hóa" là sao? Khi bạn rất tham lam, bạn nghĩ lại xem: "Mình tham được rồi, rắc rối sẽ càng lớn hơn". Bạn hận người ta xong, người ta sẽ trả thù bạn, bạn càng rắc rối to. Thêm nữa, hôm nay bạn làm chuyện này, bạn sẽ rất ngu muội, bạn sẽ còn gặp rắc rối hơn. Những ý niệm này khởi lên, bạn liền có thể chuyển hóa được Tham Sân Si.

Sư phụ hy vọng các vị phải hiểu: Một người cho dù có tu tâm, bạn cũng không thể đọ lại được với Nghiệp lực của mình. Đây là lý do tại sao rất nhiều người đang tụng kinh, học Phật, tu tâm, mà họ vẫn đang tạo nghiệp, vẫn đang trượt dài trên quỹ đạo của nghiệp lực. Không phải cứ dập đầu, tụng kinh là bạn có thể thuận buồm xuôi gió, là bạn có thể thay đổi được vận mệnh của mình đâu; bởi vì nghiệp lực của bạn, bởi vì sự tu tâm và tụng kinh của bạn hoàn toàn không thể đọ lại được với thứ nghiệp lực mà bạn đã gây ra trong quá khứ.

Rất nhiều người bảo Sư phụ có thần thông, có thể giúp đỡ chúng ta; nhưng liệu có thể địch lại được với những nghiệp lực này không? Sư phụ có thể nói cho các vị biết, ngay đến cả Thần thông cũng không đọ lại được với Nghiệp lực! Đây chính là lý do vì sao rất nhiều vị Bồ Tát có năng lực vĩ đại, mà các Ngài cũng không thể cứu được rất nhiều người. Đó là bởi vì họ mang "Cộng nghiệp". Cộng nghiệp có một từ trường cực kỳ mạnh; mọi người đều đang làm chuyện xấu, bạn liền bị cuốn vào trong cái Nghiệp được tạo ra bởi số đông đó. Cái Cộng nghiệp này có từ trường rất mạnh, ngay cả Bồ Tát cũng không thể thay đổi được Cộng nghiệp của các vị. Thế nên, rất nhiều nơi vẫn đang chịu thiên tai nhân họa, Bồ Tát cũng đau lòng lắm.

Phải nhớ kỹ, khi đối mặt với Nghiệp duyên của bản thân, bạn phải tự mình đi chuyển hóa cái Tham Sân Si trong nội tâm mình. Bạn biết mình đã làm sai rất nhiều chuyện, thì không thể để bản thân cứ sai mãi được. Bạn biết hôm nay bạn hận người ta là điều không nên, thì bạn không được phép tiếp tục hận người ta nữa. Sư phụ hy vọng mọi người phải hiểu, phải dùng phương pháp gì để loại bỏ nghiệp duyên của chúng ta.

Nếu một người mang theo nghiệp duyên rất nặng, dựa vào Tiểu Thừa Phật pháp là không thể giải quyết được; học Phật phải học Đại Thừa Phật pháp. Đại thừa Phật pháp chính là phải cứu độ chúng sinh, Đại thừa Phật pháp chính là phải cứu độ những người có duyên, chính là phải trở thành một người biết xả thân cứu người; người như vậy mới xứng đáng gọi là học Đại thừa Phật pháp. Chúng ta học theo Bồ Tát Đại Thừa, là phải học cho triệt để, phải tu cho nhanh, phải tu cho tốt; bởi vì cứu người là không thể chần chừ, chúng ta học Phật là không thể chậm trễ. Những người học Đại thừa Phật pháp chúng ta, đã học là phải học đến cội nguồn (Căn bản). Căn bản là gì? Chính là Tâm từ bi, là sự Lương thiện của một con người. Bất kể lúc nào cũng phải nghĩ đến người khác, phải đi cứu người; đó chính là căn bản của việc học Phật.

Chúng ta phải dùng chính nỗi khổ phải chịu đựng trong kiếp này làm nền tảng để trả sạch những nghiệp báo này. Bởi vì kiếp này chúng ta đến nhân gian đã phải chịu khổ rồi, cho nên chúng ta phải trả sạch cái nghiệp báo này. "Trả sạch nghiệp báo", nghĩa là chúng ta bắt buộc phải khiến cho mọi tạp niệm trên người mình bị tiêu diệt triệt để. Ví dụ, hồi nhỏ chúng ta từng làm rất nhiều chuyện không tốt; nếu bạn từng ăn cắp cục tẩy của bạn học, ăn cắp cái bút chì của bạn học, những chuyện rất nhỏ mọn như thế, nếu bạn vẫn còn ghim giữ trong lòng, thì nó sẽ mãi mãi là một vết nhơ trong tâm bạn. Chỉ khi bạn hiểu ra rằng: Những chuyện này mình không được làm, sau này mình sẽ không bao giờ làm nữa, vĩnh viễn không bao giờ được phép làm nữa – thì vết nhơ này mới được tẩy sạch.

Một người khi đối mặt với nghiệp duyên của chính mình, nếu không thể dùng tinh thần của Đại Thừa Phật pháp – đi cứu độ chúng sinh – để tu hành, thì người đó không thể nào đắc được cái gốc của Phật pháp. Kiếp này chúng ta chịu khổ là vì kiếp trước chúng ta tạo nghiệp; chúng ta gieo rắc đau khổ cho người khác, nên kiếp này chúng ta mới phải nhận lấy quả báo. Chúng ta phải học Đại Thừa Phật pháp, phải thấu hiểu rằng: Nhất định phải thay đổi quan niệm học Phật của bản thân! Bắt buộc phải thay đổi quan niệm học Phật của mình: Đó không phải là tự bảo vệ lấy thân mình, mà là phải đứng ra cứu độ chúng sinh. Một người không thể cứu độ chúng sinh, thì làm sao có thể tự bảo vệ được mình? Một người không bước ra ngoài làm việc thiện, thì làm sao có thể trở thành một người lương thiện? Một người đến ngay cả bản thân mình sau này ra sao còn chưa biết, thì làm sao có thể giúp đỡ được người khác?

Ích kỷ, sợ phải giữ giới – đây chính là hòn đá thử vàng để xem một người có thực tâm học Phật hay không. Một người mau chóng gánh vác lấy cái Nghiệp do tiền kiếp của mình gây ra, kiếp này vui vẻ chịu khổ, đây chính là một loại "Khổ tu". "Tôi phải biết báo đáp, tôi phải biết giúp đỡ người khác, tôi phải xoa dịu nỗi đau của người khác, để trả sạch khoản nghiệp chướng mà bản thân tôi đang gánh trên vai" - đó chính là học Đại Thừa Phật pháp. Ngay đến bản thân mình mà còn chẳng dám dũng cảm đối mặt, thì kẻ đó làm sao xứng đáng làm Bồ Tát để đi cứu độ chúng sinh? Vì thế, chúng ta phải biết học Đại Thừa Phật pháp, chúng ta không thể chỉ đóng cửa tu tại gia, còn chuyện thế gian thì phó mặc không quan tâm. Thử nghĩ mà xem, trong xã hội hiện tại, có thể có chuyện bạn không màng đến bất cứ thứ gì được không? Bạn có làm được việc mặc kệ mọi thứ không? Bạn không làm được đâu.

Phải hiểu rằng, Tiểu Thừa Phật pháp chủ yếu là tu "Vô Ngã". Vô ngã là gì? Vô ngã chính là không có cái tôi, chính là tự mình không phạm tội, chính là không có nghiệp chướng, chính là để cho bản thân được "Thân tâm diệt định". Chính là giữ cho thể xác và tâm hồn của mình được an định lại, mặc kệ chuyện của người khác; nói cách khác là chỉ tu cho mỗi bản thân mình, không quản chuyện thiên hạ. Vào thời xưa, bạn có thể làm như vậy; nhưng xã hội bây giờ, tất cả chúng ta đều đang học theo Bồ Tát, học theo Phật. Vì công đức của chúng ta không đủ, nên chúng ta không chỉ phải tu tốt cho bản thân, mà còn phải đi cứu độ chúng sinh.

Bắt buộc phải hiểu rằng, chúng ta không chỉ phải để cho thân tâm mình được diệt định, tiêu diệt sạch những tạp niệm xấu xa trong lòng, mà còn phải tiêu diệt đi cả chính bản thân mình (Tự ngã). Cho nên, rất nhiều phái Thiền tông, Mật tông đều nhắc đến việc: Không những phải tiêu diệt linh hồn của chính mình, mà còn phải tiêu diệt đi cả nhục thể của bản thân. Cái "Túi da hôi thối" này đã làm khổ chúng ta quá nhiều. Vốn dĩ chúng ta có thể rất thuận tiện thăng thiên, nhưng chính vì cái cơ thể này mà chúng ta phải chịu đựng bao nhiêu đớn đau. Mọi người thử nghĩ xem, nhục thể đã khiến chúng ta phải nếm trải bao nhiêu khổ sở? Khi ốm đau, cơ thể sẽ khiến bạn phải chịu đựng những nỗi đau đớn vô hạn. Phải hiểu rằng, "Tâm mình bất khả đắc" (Tâm của chính mình không thể nắm bắt được), tâm của bạn chẳng có gì đáng để mà suy nghĩ, đáng để mà nghiên cứu cả. "Vô ngã" rồi, thì bạn sẽ chẳng cần phải gánh chịu cái nghiệp này nữa; bởi vì bạn không còn cái "Tôi" nữa, bạn tu đến cảnh giới ngay cả bản thân mình cũng không còn nữa, thì bạn còn phải gánh nghiệp thay cho ai đây? Bản thân bạn cũng không còn, thì cũng chẳng cần phải đi gánh chịu cái nghiệp này nữa; đó chính là Tiểu Thừa Phật pháp.

Lấy một ví dụ đơn giản: Người tu Tiểu Thừa Phật pháp, hàng xóm cãi nhau họ tuyệt đối không bao giờ xen vào; tôi chỉ lo tu cho thân tôi thôi, tôi giữ cho nhà tôi yên ổn, trong nhà không xảy ra chuyện gì là được. Còn Đại Thừa Phật pháp là gì? Tôi không chỉ quản tốt nhà mình, mà nếu hàng xóm cãi nhau, tôi còn phải sang giúp đỡ hòa giải; nhà họ thiếu cái gì, tôi còn phải mua đồ mang sang biếu họ – đó chính là Đại Thừa Phật pháp. Mọi người nói xem, đều là việc tốt, nhưng cái nào tốt hơn? Mặc kệ hàng xóm cãi nhau, bạn ngồi trong nhà nghe có thấy khó chịu không? Tuy bạn không cãi nhau với hàng xóm, nhưng nhà hàng xóm ngày nào cũng cãi vã ầm ĩ như thế, trong lòng bạn có thấy buồn phiền không? Chúng ta bây giờ học Phật chính là như vậy; cho dù bản thân mình đã rất tốt rồi, nhưng thấy người khác sống không tốt, chúng ta vẫn phải đi cứu họ. Vì vậy, chúng ta phải biết rằng: Ở nhà tự tu lấy thân, bước ra ngoài giúp đỡ người khác, chúng ta sẽ càng đắc được nhiều thứ hơn nữa.

Sư phụ muốn các vị hiểu rằng: Đến một ngày nào đó nhân duyên sẽ xoay vần, bạn lại sẽ đầu thai xuống nhân gian; bởi vì cho dù bạn có tu đến cõi A-tu-la, bạn cũng sẽ Theo Phật xuống nhân gian. Nghĩa là, cho dù các vị có siêu độ cho người thân lên được cõi A-tu-la, chỉ cần một ngày nào đó có một vị Bồ Tát nói muốn xuống nhân gian độ người, thì rất nhiều người ở cõi A-tu-la sẽ trở thành Hộ Pháp, sẽ trở thành những người có các loại năng lực khác nhau đi theo; đây gọi là "Tùy Phật xuất thế", họ bắt buộc phải xuất hiện. Lấy một ví dụ đơn giản: Sư phụ bây giờ phải ra ngoài hoằng pháp rồi, các vị là đồ đệ, là đệ tử của Sư phụ, các vị sẽ đi theo Sư phụ cùng bước ra ngoài. Phải hiểu những đạo lý này.

Sư phụ nói cho các vị biết, mỗi một nhân duyên hằng ngày của các vị thảy đều sẽ có quả báo. Hôm nay các vị làm việc tốt sẽ có quả báo tốt; làm việc ác sẽ có quả báo ác. Mọi người phải thấu hiểu một đạo lý, nhất định phải rõ ràng: Chúng ta làm người, dù không muốn đến nhân gian, chúng ta cũng sẽ phải đến nhân gian; chúng ta làm người, dù không muốn cãi nhau, cũng sẽ vẫn cãi nhau. Thử nghĩ xem, có những lúc ở nhà, tôi thực sự không muốn cãi nhau nữa; tôi nhìn thấy chồng tôi, tôi thực sự không muốn cãi nhau nữa; thế nhưng vừa mở miệng nói vài câu là lại bắt đầu cãi cọ. Điều này không phải do bản thân bạn có thể kiểm soát được đâu; đây chính gọi là "Tùy duyên nhi sinh" (Thuận theo duyên mà nảy sinh). Hy vọng các vị hãy thấu hiểu cho kỹ.

Người cõi A-tu-la sẽ "Tùy Phật xuất thế", sẽ xuống nhân gian để hoàn thành nhân duyên; đừng có tưởng người cõi A-tu-la, cõi Trời là sẽ không giáng phàm nữa, vẫn phải giáng phàm như thường. Tiếp theo, bạn lại phải đối mặt với những nhân quả này, phiền não lại sẽ xuất hiện. Không phải nói hôm nay bạn không muốn có phiền não là bạn không có phiền não đâu; hôm nay bạn không nghĩ đến, cũng sẽ có phiền não; nghĩ đến, lại càng phiền não. Hôm nay bạn học Phật rồi, cái số mệnh này của bạn còn có thể thay đổi được; bạn không học Phật, số mệnh của bạn vẫn cứ như thế thôi. Các vị hôm nay đi theo Sư phụ học Phật rồi, thì bắt buộc phải để bản thân thay đổi. Học Phật có phiền não thì có gì phải sợ chứ? Chỉ cần dốc hết sức mình chăm chỉ học Phật, chắc chắn sẽ thành Phật.

45. Trong tâm luôn gieo trồng ba mảnh ruộng phước

+

Hiện tại người cầu tài lộc rất nhiều. Thực chất, việc cầu tài lộc cũng có nhân quả của nó; không phải cứ bạn cầu tài là sẽ được tài. Bởi vì Thần Tài cũng phải xem xem trong tiền kiếp và kiếp này bạn có gieo Thiện quả hay không, cũng phải xem xem trong quá khứ và hiện tại các vị có gieo hạt giống "Thí tài" (Bố thí tiền bạc) hay không. Phải hiểu rằng, bạn có tài lộc hay không, có phúc khí hay không, là phải xem bạn có gieo xuống cái Nhân này hay chưa. Nếu hôm nay bạn có phúc khí, là bởi vì bạn đã gieo cái Nhân này; người này hôm nay có tài vận, là bởi vì họ đã gieo hạt trên "Phúc Điền" (Ruộng phước), cho nên bạn mới thu được cái Quả này. Ví dụ, bạn có một mảnh ruộng, nhưng bạn lại không gieo hạt giống xuống; thế mà ngày nào bạn cũng ra mảnh Phúc điền này tưới nước, bón phân, chăm sóc nó cực kỳ chu đáo; nhưng đến cuối cùng làm sao nó mọc ra quả được? Các vị hiểu chưa. Cũng tương đương với việc kiếp trước bạn không đi bố thí, không đi làm việc thiện, không đi làm việc tốt, không bố thí tiền tài; điều này tương đương với việc hạt giống này không hề tồn tại. Thế rồi bây giờ bạn nhìn thấy Thần Tài Bồ Tát liền khấn: "Bồ Tát ơi, Thần Tài Bồ Tát ơi, xin hãy cho con phát tài đi!". Bạn không có hạt giống này, lúc bạn cầu xin cũng giống như bạn đang đi tưới nước vậy; nhưng bạn không có hạt giống thì lấy gì mọc ra Thiện quả? Lấy gì để mà thu hoạch đây? Mặc dù bạn cho nó nước, cho nó ánh sáng Mặt Trời - tương đương với việc đi cầu xin Bồ Tát, dâng cúng hoa quả - nhưng liệu bạn có thể nhận được tài vận không? Bởi vì bạn làm gì có hạt giống; bạn có cầu Thần Tài đến mấy cũng vô dụng thôi, đúng không nào? Ngược lại, nếu bạn cũng có hạt giống, nhưng bạn không có ánh nắng, không có nước, thì hạt giống của bạn sẽ không thể mọc tốt, không thể mọc nhanh được. Nghe hiểu không? Đạo lý thảy đều như nhau. Bạn không có cái Nhân bố thí, thì mặc kệ bạn cầu xin thế nào, bạn cũng sẽ không bao giờ có được cái Quả này. Bởi vì Quả của phúc báo là được nhận lại từ Cái Nhân bố thí.

Phật pháp chia Phúc báu thành ba loại, gọi là Tam Phúc Điền (Ba thửa ruộng phước). Phúc điền là gì? Chính là thứ có thể sinh ra cái duyên phận mang phúc báo cho bạn, gọi là Phúc điền. Con người bạn có phúc khí hay không, có phúc phận hay không, chính là phải xem vào "Tam Phúc Điền" của bạn. Làm thế nào để có được Phúc điền này?

Trước tiên phải thành kính cúng dường. Sư phụ giảng cho các vị nghe, trước tiên phải cúng dường Phật - Pháp - Tăng. Cúng dường Phật, lấy ví dụ như chúng ta tụng kinh, lễ Phật, thắp hương, dâng cúng hoa quả; đó gọi là cúng dường Phật. Cúng dường Pháp là gì? Ví dụ như chúng ta in ấn kinh sách, đi giúp đỡ người khác v.v..., thảy đều là Pháp thí, đúng không nào? Cúng dường Tăng, ví dụ như cúng dường Tăng nhân, cúng dường hòa thượng, ni cô, bao gồm cả những vị Cao tăng Đại đức, những người đi hoằng pháp; còn phải phụng dưỡng bố mẹ, cúng dường tất cả những người cần được giúp đỡ. Nếu bạn dùng Tâm Từ bi để đi cúng dường, bạn có thể nhận được Phúc báo và Phúc điền. Đầu tiên là nói cho các vị biết làm thế nào để có được mảnh ruộng này; nếu bạn không dùng tâm từ bi để bố thí, thứ bạn nhận được chỉ là Phúc đức, bạn sẽ không có Công đức. Mỗi một việc thiện bạn làm đều mang theo Phúc đức và Công đức; vậy làm thế nào để phân biệt được bạn đang nhận Phúc đức hay Công đức? Là phải xem vào cái "Phát tâm" của bạn. Nếu phát tâm của bạn vô cùng thuần khiết, bạn có thể chuyển hóa Phúc đức thành Công đức. Nghe hiểu không?

Tiếp theo Sư phụ sẽ giảng cho mọi người về "Tam Phúc Điền".

Phúc điền thứ nhất là cúng dường Phật, Pháp, Tăng; gọi là Kính Điền (Ruộng cung kính) - tức là tài vật của sự cung kính, là tài vật dâng cúng cho Phật Bồ Tát. Kính Điền là Phúc điền công đức của lòng thành kính; công đức của nó là to lớn nhất.

Phúc điền thứ hai là cúng dường bố mẹ, sư phụ, thầy cô giáo; gọi là cúng dường Ân Điền (Ruộng biết ơn). Ân Điền chính là Phúc điền của sự báo ân.

Phúc điền thứ ba là cúng dường những người nghèo đói, cơ hàn, ốm đau bệnh tật, người khuyết tật tàn tật; thuộc về Bi Điền (Ruộng từ bi). Bi điền là gì? Chính là cúng dường bằng tâm từ bi.

Vì vậy, người sở hữu Tam Phúc Điền sẽ rất nhanh chóng nhận được quả báo tốt đẹp. Kính Điền, Ân Điền, Bi Điền được xưng tụng là "Tam Phúc Điền".

Nếu trong tâm bạn thường xuyên cúng dường bố mẹ, đền miếu, người nghèo khổ; thực chất là trong tâm bạn đã gieo xuống Tam Phúc Điền rồi. Người thực hiện ba loại bố thí này, phúc phận sẽ theo đó mà đến. Đôi khi chúng ta đã gieo hạt giống phúc phận rồi, nhưng nếu chúng ta không tưới nước cho nó, không để nó hứng ánh nắng Mặt Trời, thì Thiện quả sẽ chưa thể hoàn toàn chín muồi. Nhưng chỉ cần bạn có hạt giống này, không sớm thì muộn nó cũng sẽ nảy mầm. Ý là, chỉ cần bạn đi giúp đỡ người khác, sớm muộn gì bạn cũng sẽ nhận được sự báo đáp; chỉ cần bạn đi cúng dường Phật Bồ Tát, chỉ cần bạn hiếu thuận với bố mẹ, sớm muộn gì bạn cũng sẽ nhận được cái mầm sống này – nở hoa kết trái.

Nếu giống như trường hợp vừa nói, cầu xin Bồ Tát mà bản thân lại không gieo hạt giống Tam Phúc Điền, thì bạn có cầu thế nào cũng không được. Còn nếu bản thân bạn đã có sẵn sự bố thí này rồi, cái mầm này bạn đã gieo xuống rồi; tuy lúc đó Mặt Trời của bạn không đủ, lượng nước không đủ, nhưng sớm muộn gì cái mầm này cũng sẽ từ từ nhú lên. Nếu hạt giống này sau khi gieo xuống, bạn thấy nó vẫn chưa nảy mầm, vẫn chưa lớn lên; lúc bấy giờ bạn đi cầu xin Bồ Tát, thì tại sao có những người cầu một cái là linh nghiệm ngay? Tại sao người này vừa cầu tài là phát tài ngay? Thực chất là do trong quá khứ anh ta đã đối xử rất tốt với người khác, giúp đỡ rất nhiều người; anh ta bái Phật, gặp đền chùa nào cũng lạy, anh ta làm công đức... Lúc anh ta muốn phát tài, anh ta cầu xin Bồ Tát: "Bồ Tát ơi phù hộ cho con, ban cho con chút tài vận, để con làm thành mối làm ăn này đi". "Đoàng" một cái, mối làm ăn thành công rực rỡ. Bởi vì lúc anh ta cầu xin là nắng và nước đã được tưới đẫm vào; thế là cái mầm này lập tức bung nở. Người ngoài nhìn vào: "Chà, sao hắn cầu cái là được ngay thế? Tôi cầu cả đời mà chẳng linh nghiệm gì cả?". Bởi vì bạn làm gì có hạt giống; người ta là có hạt giống gieo ở bên trong rồi. Sư phụ giảng như vậy đã đủ thấu đáo chưa? Lẽ nào Bồ Tát lại thiên vị sao? Là vì người ta có sẵn hạt giống gieo ở bên trong á. Cho nên phải hiểu rằng: Phúc phận hội tụ thì Thiện quả sẽ hiện ra. Phải đem phúc phận gom góp, tích tụ lại một chỗ; lúc này đây, phúc phận càng nhiều thì Quả ngọt lương thiện của bạn mới có thể kết trái.

Người học Phật tại sao lại phải có trí tuệ? Bởi vì trí tuệ thông đạt suốt Mười phương pháp giới. Người có trí tuệ thì biết Kính Sư, Trọng Pháp, Thực Tu (Tôn sư, Trọng đạo, Tu hành chân thực); thế nên Sư phụ dạy các vị phải trở thành người có trí tuệ, các vị phải biết tôn kính thầy cô, phải biết tôn trọng Phật pháp mà chúng ta đang học; việc không nên làm thì quyết không được làm, phải tu hành một cách thiết thực, chứ không phải là tu với cái tâm giả dối. Nếu bạn muốn trí tuệ của mình sâu sắc hơn một chút, bạn phải hiểu được rằng "Người tu hành biết nhận sai”. Bạn thử nghĩ xem, trí tuệ càng lúc càng nhiều thì bạn càng phải biết sám hối. Bởi vì khi bạn sám hối cho bằng sạch những lỗi lầm trên người mình, thì trí tuệ của bạn mới tỏa sáng được. Phật tính trong tâm bạn vốn dĩ chứa đựng vô vàn trí tuệ, nhưng qua nhiều đời nhiều kiếp bạn đã làm vẩn đục Phật tính đó mất rồi; mỗi ngày bạn sám hối tương đương với việc mỗi ngày bạn đang đánh bóng lại cái Phật tính này; bạn càng lau bóng, ánh sáng của nó mới càng chiếu rọi ra ngoài.

Người muốn có trí tuệ chính là phải không ngừng sám hối, phải biết nhận sai. Dùng ngôn ngữ thời nay để nói, biết sai mà sửa, sửa xong rồi chẳng phải là sẽ sạch sẽ sao? Sạch sẽ rồi chẳng phải là có thể chứa đựng những thứ tốt đẹp vào sao? Trên người toàn là đồ dơ bẩn, thứ tốt đẹp làm sao chui vào lọt? Khổng Tử từng nói một câu: "Nhất nhật tam tỉnh ngô thân". "Tỉnh" chính là kiểm điểm, xem xét lại bản thân; "Ngô thân" chính là cơ thể của chính mình. Nghĩa là mỗi ngày phải ba lần suy ngẫm: Hôm nay mình làm có đúng không? Mình có giống Bồ Tát không? Mình có làm sai điều gì không? Mình rốt cuộc là loại người như thế nào? Mỗi ngày phải làm ba lần á. "Tam tỉnh ngô thân", đây là lời dạy của bậc Thánh nhân Khổng phu tử nhà chúng ta đấy.

Muốn tiêu trừ nghiệp chướng, phải chuyển hóa bản thân thành "Không". Chuyển sự việc thành Không, chuyển con người thành Không; đó chính là tính Không. Bởi vì nếu bạn không đặt nặng bản thân mình trong lòng, ngay cả bản thân mình cũng không còn nữa, bạn liền có thể tiêu trừ được nghiệp chướng. Ở trong Thiên Chúa giáo, họ đi xưng tội với Linh mục của họ. Các vị theo Sư phụ học Phật, chạy đến chỗ Sư phụ để sám hối với Sư phụ; thực chất đây chính là một phương pháp vô cùng trí tuệ. Rất nhiều người làm sai chuyện: "Sư phụ ơi, con xin lỗi, con làm sai rồi". Tiếp theo, họ sẽ nhận được sự giúp đỡ của Sư phụ, họ sẽ nhận được sự giải thoát - họ nói ra cho Sư phụ nghe xong, trái lại càng cảm thấy nhẹ nhõm.

Ví dụ hồi nhỏ chúng ta chưa hiểu chuyện, làm sai việc gì đó, liền liều mạng giấu giếm bố mẹ; ngày nào cũng nơm nớp lo sợ, ngày nào cũng không biết phải làm sao. Cuối cùng đến một ngày: "Bố ơi, con làm sai rồi..." - Bố liền giúp bạn giải quyết êm xuôi sự việc đó. Đạo lý chính là như vậy đấy! Có một người trốn trên núi 43 năm bởi vì anh ta giết người, hơn nữa còn là ngộ sát; ở trên núi anh ta sống những ngày tháng khốn khổ không sao tả xiết. Anh ta nói: "Giá như lúc đó tôi nói ra, tôi cao lắm cũng chỉ bị phán 20 năm; vậy mà 43 năm qua tôi sống cuộc đời trốn chui trốn nhủi như thú hoang trên núi. Bây giờ tôi bị nhốt trong tù rồi, trái lại trong lòng lại cảm thấy vô cùng thanh thản. Còn ở trên núi, ngày nào tôi cũng sống như một kẻ dã nhân, sống không bằng chết". Cho nên, người biết sám hối là người có trí tuệ.

Cùng Sư phụ của mình sám hối có thể tiêu trừ nghiệp chướng; trong Phật pháp gọi là "Hoàn tịnh". Hoàn tịnh, chính là trả lại cho bạn sự sạch sẽ. Sám hối xong, trong lòng bạn liền sạch sẽ rồi, liền thoải mái rồi, nghe hiểu không? Hoàn tịnh có thể nhận được sự gia trì; bởi vì sau khi bạn hoàn tịnh, bạn đã được gia trì. Bạn thường xuyên sám hối, bạn liền có thể giữ vững Giới luật, bạn liền có thể nhận được "Phật quang phổ chiếu", hơn nữa còn xuất hiện một loại "Giới quang" (Ánh sáng của Giới). Tức là khi bạn thường xuyên sám hối, sẽ xuất hiện một luồng ánh sáng; luồng ánh sáng này chính là ánh sáng của Giới luật. Các vị thử nghĩ xem: "Bồ Tát ơi, con không bao giờ uống rượu nữa đâu, hôm nay con lỡ uống rượu rồi...". Lúc bạn đang sám hối, chẳng phải là lúc bạn đang sạch sẽ sao? Có phải bạn sẽ cai rượu này không? "Bồ Tát ơi, con không bao giờ làm chuyện này nữa đâu", có phải sau này bạn sẽ cai chuyện này không? —— Thế là ánh sáng của Giới liền lóe sáng. Đây thảy đều là những triết lý Phật học vô cùng tuyệt diệu, là do Bồ Tát giảng đấy. Nghe hiểu không?

Bởi vì bạn đã sám hối một việc nào đó rồi, bạn sẽ không bao giờ đi làm lại nó nữa; bạn không sám hối, nói không chừng sau này bạn lại tiếp tục làm việc đó. Lấy một ví dụ: Một người phụ nữ lấy một người đàn ông, suốt ngày cãi vã với anh ta; đến cuối cùng tuyên bố: "Tôi không tin cả thế giới này chỉ có mình anh là đàn ông, tôi sẽ đi tìm người khác". Cô ta không chịu sám hối, cô ta tiếp tục đi tìm; tìm được một người khác, nhưng vì cô ta không chịu sửa đổi tính khí, nên kết cục cuối cùng vẫn y chang như cũ. Đúng không nào? Cô ta lấy đâu ra Giới quang chứ? Cho nên, bạn giữ Giới càng tốt, cơ thể bạn sẽ sản sinh ra một sức mạnh gọi là "Giới Lực" (Sức mạnh của Giới luật). Giới lực chính là sức mạnh của việc giữ Giới. Nghĩa là, một người cả ngày sám hối, thủ giới, thường xuyên nói: "Chỗ này tôi làm sai rồi, chỗ kia tôi làm sai rồi", thì lần sau bạn sẽ không làm sai nữa; cái Giới lực này sẽ càng lúc càng mạnh lên, sẽ sản sinh ra một loại ánh sáng. Loại ánh sáng này sẽ xua tan đi sự u mê không biết xấu hổ của bạn, tức là loại bỏ đi cái trạng thái không thấy bản thân mình đáng hổ thẹn. Nếu không, để cái thứ ánh sáng khiến bạn từ từ cảm thấy vô cùng xấu hổ đó chiếu rọi vào người, bạn sẽ cảm thấy vô cùng bẽ mặt, tự mình sẽ cảm thấy mình đã làm sai biết bao nhiêu chuyện.

Tại sao có nhiều người sau khi đi theo Sư phụ học Phật học Pháp, tự họ lại nói: "Đài trưởng, con thực sự đã làm rất nhiều việc sai trái". Trên đài phát thanh còn ít trường hợp như vậy sao? Bất cứ ai đến gặp Sư phụ cũng nói: "Sư phụ ơi, con đã làm rất nhiều chuyện dơ bẩn, con đã làm rất nhiều chuyện có lỗi với mọi người". Đó là vì họ đã giữ Giới, vì họ đã Sám hối, vì họ biết mình đã làm sai, nên lần sau họ mới không lặp lại nữa. Đây chính là một loại "Sám Hối Lực", chính là sức mạnh dần dần cảm thấy bản thân mình đáng hổ thẹn; đây là một thứ ánh sáng tự gia trì cho bản thân. Thực chất đây là gì? Vì tôi đã giữ giới rồi, tôi đã sám hối rồi, bạn sẽ tự gia trì cho chính mình, hơn nữa bạn sẽ nhận được sự gia trì của Bồ Tát. Giống như một đứa trẻ hối lỗi: "Cô ơi, người lớn ơi, bố mẹ ơi, con làm sai rồi, lần sau con không bao giờ làm thế nữa". Cô giáo sẽ bảo: "Trò ngoan, lần sau đừng làm thế nữa nhé". Mẹ sẽ bảo: "Con ngoan, yên tâm đi, bố mẹ sẽ đối xử tốt với con hơn". Bạn chẳng phải đã nhận được ánh sáng rồi sao? Đã nhận được sự quang minh rồi sao? Bạn sám hối trước mặt Bồ Tát thì có gì sai đâu chứ? Cứ ngoan cố cắn răng: "Tôi là đúng, tôi không đời nào chịu nhận sai". Đến cuối cùng, bạn sẽ bị người ta đào thải, bị người ta nhổ toẹt vào mặt, cuối cùng bị người ta chửi bới sau lưng không đáng một xu. Mang những thứ dơ bẩn khư khư ôm vào người coi như báu vật, lại không chịu ném đi; bạn chẳng phải là một cái thùng rác sao? Bạn đem tất thảy mọi thứ dơ bẩn ôm chặt vào người coi như bảo bối của mình, không chịu vứt bỏ; thế thì thứ mà trên người bạn phát ra chính là cái mùi xú uế vô hạn đó.

Hôm nay Sư phụ xin được giảng tới đây. Chúng ta phải cảm ân Quán Thế Âm Bồ Tát đã truyền lại cho chúng ta một Pháp môn tuyệt vời đến như vậy. Mọi người phải thấu hiểu đạo lý, nhất định phải Thủ Giới, và phải biết Sám hối.

46. Tâm Phật là Đạo tràng

+

Tiếp theo, Sư phụ giảng cho mọi người nghe: Người tu theo hạnh Tiểu Thừa, là tự độ. Bởi vì người tu Tiểu Thừa Phật pháp trong lòng vẫn còn một chữ "Ngã", họ vẫn còn tâm phân biệt giữa mình và chúng sinh. Cho nên, tu tâm mà chỉ lo tu cho riêng mình – tức là không màng đến người khác tu ra sao, chỉ biết bản thân mình tu – là bởi vì người đó vẫn còn quan niệm "Ngã chấp". Ngã chấp có nghĩa là gì? Chính là "Tôi cho rằng thế nào thì là thế ấy", chính là tôi cố chấp cho rằng việc này là đúng. Ví dụ, hôm nay tôi nhắc nhở bạn, bạn tự nghĩ "Mình đọc tiểu thuyết một chút thì có sai đâu", rồi lúc về nhà vẫn mở máy tính lên xem tiểu thuyết; đó chính là Ngã chấp. Cho nên, học Phật đến cuối cùng, nếu suốt ngày vẫn cho rằng mình là đúng, thì người này không thể tu tốt Đại Thừa, mà chỉ có thể tu Tiểu Thừa, bởi vì họ vĩnh viễn cho rằng mình luôn đúng. Nếu gặp những người thường xuyên bám víu vào cái lý lẽ, cái lý thuyết của riêng mình mà không chịu thừa nhận lỗi lầm, các vị cứ nhìn họ cười một cái là được; người này không tu tốt được đâu, người này chính là mang Ngã chấp. Kẻ vĩnh viễn cho là mình có lý, gọi là Ngã chấp; vĩnh viễn cảm thấy mình làm là đúng, người khác làm là sai, đó chính là Ngã chấp. Nghe hiểu chưa?

Cho nên, những người tu hành Tiểu Thừa, sự giác ngộ của họ là không triệt để. "Hành giả" có nghĩa là gì? Người tu hành thì gọi là Hành giả. Những người tu Tiểu Thừa Phật pháp, ngộ tính và sự giác ngộ của họ chưa đủ triệt để. Lấy ví dụ, bây giờ có rất nhiều người ở nhà tụng kinh điên cuồng nhưng lại không chịu đi độ người; họ cảm thấy: "Tôi đi độ người để làm gì cơ chứ, tôi tự tụng kinh của tôi cho tốt là được rồi". Loại người này có thể làm Bồ Tát được không? Cũng giống như trong cách làm người: "Tôi quản việc nhà tôi cho tốt là được, chuyện bên ngoài tôi không quan tâm", đúng không nào? Bạn nói xem loại người này có làm Bồ Tát được không? Bồ Tát không những tự tu cho mình mà còn phải quan tâm đến người khác, có những lúc không thèm màng đến bản thân mà chuyên tâm đi giúp đỡ người khác; còn người học Tiểu Thừa Phật pháp thông thường chỉ biết lo cho mình, mặc kệ người ta. Nếu trong cuộc sống, các vị gặp một người chỉ biết đến bản thân, chưa từng biết giúp đỡ ai, các vị có thấy loại người này đáng ghét không? Các vị nói cho Sư phụ nghe xem có đáng ghét không? Vì vậy, điều Bồ Tát đề xướng chính là quan điểm của Pháp môn Bất Nhị trong Đại Thừa Phật giáo vĩ đại. Nếu bạn muốn trở thành Bồ Tát, bạn nhất định phải đi cứu độ chúng sinh, bạn nhất định phải quên đi bản thân mà chỉ nhớ đến mọi người, trong đầu luôn tràn ngập suy nghĩ quan tâm, giúp đỡ người khác; người biết yêu thương chúng sinh mới có thể trở thành Bồ Tát. Mọi người nghe hiểu không? Cho nên mọi người phải hiểu: có phiền não thì có đạo tràng, không có phiền não thì không có đạo tràng.

"Vô ngã nhất niệm" (Một ý niệm Vô ngã). Nếu trong đầu mỗi người các vị đều có một chữ "Vô ngã", nghĩa là làm bất cứ việc gì cũng không nghĩ đến mình mà chỉ nghĩ đến chúng sinh, thì chúng sinh mà các vị nhìn thấy chính là Đạo. Phiền não cũng là đạo, chúng sinh cũng là đạo. Sư phụ chỉ có thể từ từ giải thích cho các vị hiểu. Mọi pháp trong mười phương ba đời pháp giới, bao gồm vũ trụ, con người, không gian; mọi phương pháp đều là những hình tướng sự vật sinh ra từ nhân duyên. Giảng những điều này chắc chắn các vị nghe không hiểu nổi, Sư phụ chỉ có thể nói một cách đơn giản thế này:

Phật đạo chính là Đạo của Phật Bồ Tát. Phật đạo là con đường trong sạch, Phật đạo là con đường có trí tuệ. Đúng không nào? Chỉ cần bạn bước vào trong cái Phật đạo này, cho dù bạn có phiền não, bạn cũng có thể khắc chế được nó. Nếu bạn có trí tuệ, bạn cũng có thể khắc phục được phiền não; thế thì nó có phải là đạo không? Là Đạo. Đây là điểm thứ nhất.

Chúng sinh là đạo, bởi vì chúng sinh đều đang học Phật – học Phật đạo. Vậy chúng sinh có phải là đạo tràng không? Nếu không có chúng sinh thì làm sao có đạo tràng. Hôm nay Quan Âm Đường của Đài Đông Phương không có ai đến, thì làm sao trở thành đạo tràng được? Nơi đây là đạo tràng của Quán Thế Âm Bồ Tát, có phải là đạo tràng không? Đây là điểm thứ hai.

Thứ ba, mọi chúng sinh, vũ trụ, không gian trong mười phương ba đời pháp giới, thảy đều là hình tướng sự vật do nhân duyên sinh ra. Nói cách khác, những gì hôm nay các vị nhìn thấy trên trời, những việc làm được ở nhân gian, và tất cả những thứ các vị đang sở hữu, thực chất đều là một loại ảo ảnh của sự vật. Hiểu chưa?

Lấy một ví dụ, nếu các vị đang ngồi ở cảng Darling (Sydney) mà các vị cảm giác như đang ở Hawaii, thì có phải các vị cảm thấy mình đang ở Hawaii không? Là do tưởng tượng mà ra cả. Có đôi khi các vị đi đến một bãi biển, nếu các vị cho rằng đó là một trong mười cảnh đẹp nhất thế giới, thì cái "mười cảnh đẹp nhất" ấy liền thành hình trong tâm các vị. Thực chất, tất cả con người trên Trái Đất này cũng đều do ảo ảnh (huyễn tướng) sinh ra. Hôm nay con người này còn tồn tại không? Còn. Ngày mai chết đi rồi, hết. Chẳng phải là do huyễn hóa mà ra sao? Con người không phải là một thực thể thực sự tồn tại, không thể sinh tồn vĩnh viễn, con người cũng chỉ là huyễn tướng mà thôi. Nghe hiểu không?

Cho nên giảng nhiều như vậy từ nãy tới giờ, chính là để các vị biết mười phương ba đời pháp giới thực chất cũng gọi là "Pháp không". Chẳng hạn những thứ các vị đang nhìn thấy bằng mắt lúc này, đến lúc đi ngủ nhắm mắt lại, có còn nữa không? Pháp không rồi, biến mất rồi. Hay ví dụ bố vừa mới qua đời, sáng sớm ngủ dậy, lúc đó trong đầu vẫn tưởng bố còn sống, gọi một tiếng "Bố ơi", chợt nhớ ra bố không còn nữa —— Pháp không. Khi bạn nhắm mắt lại thì mọi thứ đều là Không; khi bạn mở mắt ra thì nó là giả dối, là huyễn tướng, gọi là Vật tượng.

Vì vậy phải hiểu rằng, tự thân chính là một đạo tràng. Tại sao? Cơ thể của bạn chính là một đạo tràng. Bồ Tát ở đâu? Ở trong tâm bạn. Hành vi của bạn, cử chỉ của bạn, lời bạn nói ra, những việc bạn nghĩ trong đầu đều xoay quanh cái tâm này, tức là xoay quanh Bồ Tát mà ra. Nghe hiểu không? Thế nên đây gọi là đạo tràng. Bản thân mình chính là đạo tràng, đạo tràng tự thân ở gần bạn hơn, nhưng nó cũng thuộc về chữ "Không". Tức là, mặc dù trong đạo tràng tự thân của bạn có Phật; hành vi, ngôn ngữ cơ thể thể hiện ra đều giống Bồ Tát, Bồ Tát ở rất gần bạn vì bạn có cái đạo tràng này, nhưng cái đạo tràng này đến cuối cùng cũng sẽ không còn nữa. Bạn chết đi rồi, lấy đâu ra đạo tràng nữa, nó cũng là "Không" mà thôi. Hiểu chưa? Tại sao lại cần có đạo tràng? Vì chúng ta phải mượn đạo tràng để tu cái Phật đạo của chính mình, chính là để thành tựu Phật đạo cho bạn.

Lấy một ví dụ đơn giản, nếu ở nhà các vị không có Quan Âm Đường, khi ở nhà tự tu các vị sẽ không có sức tự khắc chế. Bởi vì nhìn thấy cái giường ở nhà là muốn ngủ, nhìn thấy nhà bếp là muốn ăn cơm; vì bạn không nhìn thấy Quán Thế Âm Bồ Tát ở trong nhà, bạn sẽ không nỗ lực đến vậy, là bởi vì ở nhà bạn không có đạo tràng. Còn khi đến Quan Âm Đường, không có đồ để ăn, cũng chẳng có chỗ để ngủ, bạn mới chịu ngồi yên ở đây chăm chỉ tụng kinh, bạn mới có thể tụng được cả một ngày. Cùng thời gian đó nếu ở nhà, bạn có thể tụng cả ngày được không? Đây chính là lý do phải xây dựng đạo tràng để tu tâm. Giống như một chiếc máy bay lúc từ trên trời hạ xuống, nó phải mượn một đường băng thì mới có thể hạ cánh. Nếu không có đường băng này, máy bay làm sao đáp xuống được? Nếu Phật tâm của bạn không có đường băng của chính cuộc đời bạn, thì làm sao cái Phật tâm này có thể đứng vững trong tâm bạn được? Hôm nay Quán Thế Âm Bồ Tát muốn đến Quan Âm Đường của Đài phát thanh Đông Phương chúng ta để thăm mọi người, nhất định phải có một đạo tràng thì Bồ Tát mới có thể giáng hạ xuống đây á. Nghe hiểu không? Tôi muốn trên cơ thể mỗi người các vị đều có một đường băng, đều có một nơi để "máy bay" của Bồ Tát có thể hạ cánh xuống người các vị.

Bạn đến Quan Âm Đường bái Phật, chính là mượn đường băng của người ta để tu tâm hoằng pháp. Bạn xem những người làm ăn thực sự, có mấy ai tự bỏ tiền mua bất động sản để mở cửa hàng đâu, toàn là đi thuê nhà cả; những kẻ làm ăn khôn ngoan nhất thảy đều là đi thuê mượn. Đúng không nào? Bởi vì rất nhiều người không đủ vốn, họ mượn công việc làm ăn của người ta để làm. Người thực sự khôn ngoan là biết mượn đạo tràng của chúng ta để tu cái tâm của chính họ; những điều này đều có liên quan đến nhân sinh cả. Tại sao một người lớn tuổi sức khỏe lại tốt đến thế? Nhiều người sẽ hỏi: "Cụ ơi sao cụ sống thọ được hơn trăm tuổi thế?". "À vì tôi thế này thế này...", sau đó bạn cũng đi làm "thế này thế này". Đương nhiên bạn "thế này thế này" chưa chắc đã sống được đến trăm tuổi, nhưng bạn sẽ đi mượn cái phương pháp tốt của cụ ấy để giúp bạn thực hiện mong muốn sống thọ trăm tuổi. Nghe hiểu không?

Cho nên mọi Pháp đều là đạo tràng. Đây chính là điều Sư phụ vừa giảng: máy bay muốn bay lên trời, bắt buộc phải có đạo tràng. Bây giờ cái tâm này của các vị muốn bay lên trời, trong tâm các vị có cần phải có đạo tràng không? Trong tâm có Bồ Tát thì mới sạch sẽ được; lẽ nào bình thường bạn dơ bẩn, đến lúc lâm chung lại có thể sạch sẽ được sao? Bình thường không tụng kinh, nước đến chân mới nhảy có được không? Nói rõ hơn một chút, Mọi pháp đều là đạo tràng – thực chất chính là môi trường học Phật. Đạo tràng chính là môi trường học Phật của bạn. Ví dụ nhà bạn có bốn người, ba người không học Phật, chỉ một mình bạn học, bạn sẽ không có một môi trường tốt. Thực chất nhà bạn sẽ không có Bồ Tát giáng lâm, bởi vì nhà bạn không có đạo tràng tốt. Lúc đầu Sư phụ giảng các vị nghe có vẻ câu được câu chăng, bây giờ Sư phụ lật ngược lại vấn đề giải thích, các vị liền hiểu ngay.

Thế nên, con người và sự vật ở bất cứ đâu, tất thảy mọi chuyện thực chất đều là đạo tràng. Nghĩa là, hôm nay bạn làm công việc này, bạn coi nó như việc của Bồ Tát mà làm, thì bạn chính là đạo tràng. Hôm nay bạn mở miệng nói chuyện, bạn lấy ngôn ngữ của Bồ Tát để nghiêm khắc yêu cầu bản thân, vậy thì bạn đang có Đạo tràng Tâm Phật; nói cách khác là bạn có duyên phận với Bồ Tát, bạn có môi trường của Bồ Tát. Nếu mở miệng ra là nói năng bừa bãi luyên thuyên, bạn bảo người này có đủ điều kiện để học Phật không? Nếu người này ngày nào cũng làm việc trong các Câu lạc bộ (Club), ngày nào cũng nhậu nhẹt chơi bời với người ta, về đến nhà lại tụng kinh, bạn bảo người này có thể học Phật tốt không? Anh ta có đạo tràng không? Đạo tràng mặc dù sau này rồi cũng sẽ mất đi, tức là cái đường băng máy bay kia sau này cũng sẽ không còn, nhưng trong hiện tại anh ta bắt buộc phải có nó trước đã. Máy bay của bạn muốn bay lên, bạn phải có đường băng trước; đợi lúc bạn bay lên rồi thì đường băng này cũng hết tác dụng, đúng không nào? Trừ khi bạn muốn đáp xuống lại; nhưng làm gì có ai đầu thai lên tận trời rồi lại muốn đi xuống cơ chứ?

Nên nói đi nói lại, phiền não cũng là đạo tràng. Lúc phiền não ập đến tuy không tốt đẹp gì, nhưng bạn cải biến nó thành điều tốt, biến chuyện xấu thành chuyện tốt, chẳng phải bạn đã có được đạo tràng sao? Làm sao để biến phiền não thành chuyện tốt, thành đạo tràng? Vì bạn dùng "Bồ đề" trong đạo tràng để chuyển hóa phiền não, thế chẳng phải lại trở thành đạo tràng rồi sao? Bạn không gặp khó khăn thì làm sao có trí tuệ được? Cho nên không thể nào trốn tránh được đạo tràng đâu, chỉ có dùng trí tuệ của Bồ Tát để thấu hiểu, để hóa giải phiền não của bạn, thì bạn mới đắc được Đạo tràng của Phật.

Sư phụ giảng từ đầu đến giờ, tất thảy đều đang nói về Đạo tràng: Phiền não, Bồ đề đều là đạo tràng. Con người là đạo tràng, sự vật là đạo tràng, tất thảy mọi thứ đều là đạo tràng. Nói cách khác, hành vi, tư duy, ngôn ngữ của con người, mọi thứ bạn tiếp xúc, bạn đều phải biến nó thành đạo tràng của Quán Thế Âm Bồ Tát; làm được như vậy thì bạn sẽ vĩnh viễn sống trong Phật tính. Mặc dù ở nhân gian, nhưng bạn đã đang sống trong Phật tính rồi, bạn chắc chắn sẽ tu tâm rất tốt. Tức là, mọi thứ đều là đạo tràng – thực chất chính là môi trường học Phật của Phật Bồ Tát. Môi trường sống, môi trường ngôn ngữ, môi trường tư duy, và mọi môi trường xung quanh bạn đều là đạo tràng của Bồ Tát, thế chẳng phải bạn chính là Bồ Tát sao? Bạn nói xem bạn có tu tốt được không? Người tu tốt chắc chắn trong tâm họ luôn có đạo tràng của Phật Bồ Tát.

47. Chúng sinh là Đạo tràng

+

Sư phụ vừa nói với mọi người rằng không có vô minh nào cần diệt, cũng chẳng có lão tử (già chết) nào cần diệt. Nhưng thực chất vô minh vẫn luôn tồn tại; tồn tại rồi lại mất đi, mất đi rồi lại tồn tại. Lấy một ví dụ đơn giản cho các vị nghe: Các vị nhìn những bong bóng xà phòng thổi bay trong không trung, đủ màu sắc sặc sỡ, có tồn tại không? Trong không trung là có tồn tại. Nhưng "Bụp" một cái, mất tiêu. Giờ thì hiểu rồi chứ, bạn chẳng cần phải ra tay tiêu diệt, nó tự sinh tự diệt. Những chuyện mông lung không hiểu khởi sinh trên người các vị, qua một thời gian rồi các vị sẽ tự hiểu; những chuyện lúc nhỏ không hiểu, lớn lên sẽ tự khắc hiểu. Cho nên, vốn dĩ làm gì có vô minh, làm gì có chuyện hiểu hay không hiểu, cũng vốn dĩ chẳng có già chết. Phiền não cũng giống như Bồ Đề, không có phiền não cần phải chặt đứt, cũng chẳng có phiền não cần phải diệt tận. Bởi vì bản thân phiền não chính là tính Không; nghĩa là phiền não vốn dĩ không tồn tại, nó là do con người tự tạo ra. Sư phụ giảng như vậy đã đủ rõ ràng chưa? Dùng từ ngữ hiện đại mà nói thì gọi là triết học; Phật Bồ Tát chính là những nhà triết học vĩ đại nhất.

Các vị phải hiểu, phiền não đến cũng không, đi cũng không; thảy đều do các vị tự rước vào người. Vốn dĩ nó không có Định tính (tính chất cố định), thế nên nó chính là tánh Không. Ngay đến cả thông minh và trí tuệ cũng là đến vội vàng, đi cũng vội vàng, cũng là tánh Không. Cho nên cái sự khôn vặt của con người chẳng có ích lợi gì đâu; khởi lên một chút khôn vặt, cứ tưởng mình vĩ đại lắm, tưởng mình làm tốt lắm, cuối cùng "Bụp" một cái, tan biến, có còn gì không? Phiền não tan biến, khôn vặt cũng tan biến. Người thực sự có trí tuệ thì sẽ không có phiền não; người mang đầy phiền não thì liệu có còn trí tuệ không? Người có trí tuệ liệu có đi phiền não không? Các vị hãy tự suy ngẫm cho kỹ xem, trí tuệ của các vị bay đi đâu hết rồi? Bay hết vào dăm ba cái trò "động não khôn vặt" hằng ngày rồi. Chạy theo dăm ba cái danh văn lợi dưỡng, lừa lọc dối trá ở nhân gian – ngày nào cũng làm dăm ba cái chuyện đó, cảnh giới có thể nâng cao được không?

Pháp lý của Đại Thừa Bồ Tát vô cùng cao thâm, đó chính là: Chúng sinh là đạo tràng, phiền não chính là chúng sinh. Sư phụ đang giúp các vị giải thích rõ ràng từng chuyện một, các vị thực sự nghe không hiểu sao? Tại sao nói chúng sinh là đạo tràng? Vì ở đâu có chúng sinh, ở đó sẽ có phiền não. Vẫn dùng cái ví dụ lúc nãy: Hồi nhỏ thầy giáo dạy toán hay giảng cái này bằng cái này, nên suy ra cái này bằng cái kia. Bây giờ tôi nói cho các vị biết, Chúng sinh tương đương với Phiền não. Lấy ví dụ, con người ở cùng với nhau tại sao lại sinh ra phiền não? Bởi vì người với người ở cùng nhau rồi anh một câu, tôi một câu, nói qua nói lại là nói ra phiền não. Nếu các vị đều là người câm, các vị ở cùng nhau anh nhìn tôi, tôi nhìn anh, nhìn qua nhìn lại là nhìn ra phiền não. Nhìn thấy người này ngứa mắt, nhìn thấy người kia đẹp hơn mình, nhìn thấy người nọ mặc hàng hiệu, nhìn thấy người kia đáng ghét quá; tật xấu liền bị nhìn ra. Thế nên chúng sinh chính là phiền não. Chỉ cần ở cùng nhau là phiền não của các vị sẽ nảy sinh. Đó là lý do nhiều người lúc cãi nhau hay bảo: "Tốt nhất là tôi đừng nhìn thấy mặt anh, anh cũng đừng nhìn thấy mặt tôi". Thử nghĩ là biết ngay, nhìn thấy là tức lộn ruột, nhìn thấy chính là chúng sinh; chúng sinh là phiền não á. Hôm nay tôi nhìn thấy đám chúng sinh các vị đây, phiền não của tôi liền ập đến: người này học chưa tốt, người kia ở nhà đáng thương thế, người nọ sức khỏe yếu thế mà vẫn phải đi làm thuê, người này sống bê bết quá, người kia còn đang cắm ống thở trong bệnh viện... Phiền não đến rồi phải không? Đó chẳng phải là "Chúng sinh tức phiền não" sao.

"Phiền não chính là chúng sinh", tương tự, phiền não là do chúng sinh đẻ ra; bởi vì mọi phiền não đều từ chúng sinh mà sinh ra – tức là do con người tạo ra. Trên đời vốn dĩ làm gì có phiền não; là do con người đẻ ra, do chúng sinh đẻ ra, nuôi lớn mà thành phiền não. Giống hệt như một người phụ nữ sinh ra một đứa trẻ, nuôi lớn một đứa trẻ vậy.

Sư phụ dùng ngôn ngữ thời nay mà nói, phiền não là do tự các vị biên kịch ra. Có cái gì để mà phiền não chứ? Đời người chẳng phải cũng chỉ có thế sao? Có gì đáng để phiền não đâu; phiền não thì bạn cũng phải sống, không phiền não bạn cũng vẫn phải sống, chi bằng cứ đừng phiền não; nghĩ không thông cũng phải nghĩ, nghĩ thông suốt cũng phải nghĩ, chi bằng bạn đừng nghĩ nữa – đây chính là trí tuệ của Bồ Tát, đây gọi là trí tuệ! Nghe hiểu không? Ví dụ hôm nay nhà bạn có một đống chuyện, bạn cứ liều mạng mà vắt óc suy nghĩ, bạn có nghĩ ra được cái gì không? Bạn có giải quyết được không? Cho dù bạn có nợ người ta rất nhiều tiền, trong đầu bạn liều mạng nghĩ cách, bạn có lấy tiền đâu ra mà trả được không? Buông bỏ đi. Việc đầu tiên là Buông bỏ; không phải là cấm các vị không được nghĩ, mà là sau khi buông bỏ, đầu óc trống rỗng rồi, tự khắc sẽ có những ý tưởng tốt đẹp nảy sinh.

Sư phụ lấy ví dụ về việc ăn cơm để giảng cho các vị: Sơn hào hải vị thực sự luôn nằm ở bên dưới, phía trên bao giờ người ta cũng xếp chút rau củ trang trí xung quanh; các vị đâu thể nào chỉ ăn ba cái rau trang trí bên ngoài đó đúng không? Các vị phải nhìn xuống những thứ thực sự tốt đẹp bên dưới – tức là cái Lương tâm Bản tính ẩn sâu bên trong mới chính là thứ tuyệt vời nhất của các vị. Cho nên Sư phụ nhắc mọi người: Đã là các vị đẻ ra cái phiền não này, nuôi nó khôn lớn, nhào nặn ra nó, vẽ vời ra nó, thì các vị bắt buộc phải có cái đạo tràng này, bắt buộc phải dựa vào chính chúng sinh các vị để diệt trừ nó. Bạn đẻ ra đứa con này, thì bạn phải có trách nhiệm dạy dỗ nó nên người – đây chính là Bạch thoại Phật pháp. Bạn sinh ra cái phiền não này, bạn bắt buộc phải diệt trừ nó đi.

"Ai thắt nút người nấy gỡ". Chính vì chúng sinh mang nghiệp chướng, nên chúng sinh mới sinh ra phiền não. Vậy phiền não sinh ra từ đâu? Vì các vị có nghiệp chướng; nếu không có nghiệp chướng thì làm sao sinh ra phiền não được? Nếu là một bậc Thánh nhân không có nghiệp chướng, bạn nói xem Ngài ấy có phiền não không?

Bởi vì chúng sinh có phiền não, nên mới sinh ra "Ô nhiễm". Là sinh ra phiền não trước, sau đó mới bị ô nhiễm, điểm này các vị phải nhớ cho rõ. Sinh ra phiền não trước là thế nào? Ví dụ, tôi đang đau đầu phiền não không biết dạy dỗ đứa con này ra sao; thế là tâm hồn bạn bắt đầu bị ô nhiễm. Kéo theo đó là thái độ giáo dục con cái của bạn sẽ bị ô nhiễm. Ô nhiễm thế nào? "Ôi, rắc rối quá, mặc kệ nó đi; ở trường ngày nào giáo viên cũng mách vốn, tôi cũng hết cách rồi". Liền bảo với giáo viên: "Các vị muốn làm gì thì làm, muốn báo cảnh sát thì cứ báo, bố mẹ hết cách trị nó rồi". Bởi vì cái phiền não này đã biến thành sự thật, nên mới gây ra sự ô nhiễm trong tâm người đó. Ô nhiễm là gì? Là người đó đã đánh mất niềm tin vào đứa con, đánh mất luôn ý định dạy dỗ nó.

Nên trong lòng người đó sẽ thấy không vui, sự ô nhiễm liền ập đến. Sự ô nhiễm chính là việc không muốn dạy dỗ con cái nữa. Bạn rước lấy rắc rối, rồi bạn lại không muốn đi chăm sóc đứa bé này, nghe hiểu không? Bạn chuốc lấy rắc rối rồi lại không muốn tự mình xử lý nó; lúc bấy giờ trong tâm bạn sẽ xuất hiện sự ô nhiễm. Chính vì bạn mang sự ô nhiễm, nên bạn mới bị gọi là chúng sinh á.

Cho nên nói chúng sinh rất khó độ, vì chúng sinh quá si mê. Vì sao chúng sinh lại si mê? Vì trong lòng họ mang nghiệp chướng. Quá nhiều Vô minh sẽ khiến con người trở nên ngu si; vì vậy phải học cách "Vô ngã" (Không có cái Tôi). Đạo lý của Vô ngã cực kỳ quan trọng; ở đâu có chúng sinh, các vị phải học cách áp dụng quan niệm "Vô ngã" và "tánh Không". Chỉ cần là nơi có con người, chúng ta phải học cách không có bản thân mình (không có cái Tôi); bởi vì nơi có con người thì sẽ có tranh đấu. Bạn mang theo cái "Tôi", bạn bị người ta chèn ép, bạn sẽ thấy đau khổ. Bởi vì ở đâu có con người thì ở đó có đố kỵ; bạn mang theo cái "Tôi", bạn sẽ bị người ta đố kỵ. Bởi vì ở đâu có chúng sinh thì ở đó có hận thù; bạn mang theo cái "Tôi", bạn sẽ bị người ta ghim hận. Cho nên bắt buộc phải gạt bỏ cái "Tôi"; gạt bỏ được chữ "Tôi" thì mới sản sinh ra tánh Không (Tánh không tức là bản tính của bạn đã trở nên rỗng Không).

Nếu trong đầu bạn chỉ nghĩ đến chúng sinh mà không màng đến bản thân, thì người ta lấy cái gì để tấn công vào chữ "Tôi" của bạn đây? Người ta muốn mắng chửi bạn, bạn bảo: "Tôi' cũng chẳng còn nữa, anh chửi ai thế?". Người ta muốn đố kỵ với bạn, "Tôi" cũng chẳng còn nữa; người ta muốn hận bạn, tôi trước nay không thù hận ai cả, vì "Tôi" đâu còn nữa. Nếu có chữ "Tôi", bạn sẽ nảy sinh phiền não: "Tôi đối xử với anh tốt như vậy, tôi không hiểu tại sao anh lại đối xử tệ với tôi?"; tôi rất buồn, tôi rất đau lòng, tôi không hiểu nổi, cho nên tôi rất tức giận. Tất cả đều là do chữ "Tôi" này mà ra. Nghe hiểu không?

Cho nên mọi người phải hiểu và nhớ kỹ: Ở đâu có chúng sinh thì ở đó phải Vô ngã, phải là Pháp tính Không. Pháp tính Không là gì? Là chúng ta sống trong pháp giới này, thì cái Tính của chúng ta phải Không. Chúng sinh cũng là Pháp, bởi vì chúng sinh sống trong pháp giới, họ chắc chắn sẽ mang theo loại nghiệp chướng của pháp giới này. Vậy pháp giới làm sao sinh ra loại nghiệp chướng này? Bởi vì nó do nhân duyên sinh ra. Do đó nhân duyên cũng không có tự tính. Ví dụ, hôm nay tôi có duyên với ai đó, cái Nhân này bắt đầu; sau đó tôi thân thiết với họ, cái Duyên phận này liền hình thành; qua một thời gian chúng tôi lại trở mặt thành thù, duyên phận này liền bị dập tắt (Diệt).

Nhân duyên vốn dĩ Không sinh cũng Không diệt. Thực chất nhìn bề ngoài hôm nay có nhân duyên này, nhưng qua một thời gian nhân duyên đó lại biến mất. Lúc không có nhân duyên, chẳng phải tương đương với việc bạn chưa từng gieo ra cái Nhân này sao? Chẳng hạn bố mẹ nuôi mình từ nhỏ đến lớn, lúc đó có phải là có nhân duyên không? Nhưng đến cuối cùng nhân duyên này lại không còn nữa; bố mẹ mất rồi, còn nhân duyên không? Hết rồi. Thế chẳng bằng việc chưa từng sinh ra, đúng không? Đến một lúc nào đó bạn quên sạch mọi thứ, bản thân bạn cũng sắp nhắm mắt xuôi tay, thì ngay đến cả cái nhân duyên của chính bạn cũng chẳng còn. Cho nên không có nhân duyên sinh ra, cũng chẳng có nhân duyên diệt độ. Sư phụ đang giảng Phật lý cho các vị, giảng những thứ thuộc về triết học đấy; "Vô sinh vô diệt" chính là chưa từng sinh ra cũng chưa từng mất đi. Duyên phận thực chất không được sinh ra, nó cũng sẽ không bị dập tắt. Hôm nay bạn không đi chọc ghẹo người ta, người ta sẽ không đến chọc ghẹo bạn; bạn không gieo cái Nhân này, thì cái duyên phận này coi như không có. Lấy đâu ra tự tính? Tôi chưa hề sinh ra nó, tôi cũng chẳng cần phải đi tiêu diệt nó; tôi không sinh ra phiền não, thì làm gì có phiền não nào cho tôi đi dập tắt? Nên phải học được cách "Vô ngã".

Chúng sinh chính là đạo tràng. Nhờ có chúng sinh, tôi mới học được trí tuệ; nhờ có chúng sinh, bạn mới có được cái đạo tràng này; thế nên phiền não chính là đạo tràng. Mặc dù chúng sinh mang theo sự ô nhiễm, nhưng nếu chúng sinh đứng trước quan niệm "Vô ngã", thì chúng sinh liền trở thành Bồ Đề. Các vị phải chăm chỉ dụng công; các vị không tăng trưởng trí tuệ, thì sẽ tăng trưởng sự ngu si. Đạo lý rất đơn giản, một người không học điều tốt thì chẳng phải sẽ rất dễ sa đà học điều xấu sao? Kẻ cả ngày học thói hư tật xấu thì có thể tốt lên được không? Người có trí tuệ liệu có đi làm mấy trò ngớ ngẩn không? Phiền não chẳng phải là việc ngớ ngẩn sao? Cả ngày nghĩ không thông chẳng phải là việc ngớ ngẩn sao? Người đầy phiền não có thể có trí tuệ được không? Chắc chắn là không có trí tuệ. Các vị nhất định phải chăm chỉ mà học á. Các vị cứ trừng mắt nhìn tôi cũng vô ích thôi, phải học, phải tìm cách thấu hiểu, nghe hiểu không? Nếu ngồi đây nghe giảng, về nhà vẫn ngựa quen đường cũ, cái gì cần làm thì vẫn làm, Tham Sân Si vẫn y nguyên, thậm chí về nhà vẫn chơi game như thường, lên mạng đọc tiểu thuyết như thường; các vị có thời gian đọc tiểu thuyết, tại sao không lấy Bạch thoại Phật pháp của Sư phụ ra mà đọc? Các vị bảo loại người như vậy có trí tuệ không? Người có phiền não chính là người không có trí tuệ.

Sư phụ nói cho mọi người một câu, giải thích một cách đơn giản là: Phàm khi nào bạn có phiền não, bạn phải dùng thứ trí tuệ sinh ra từ chính bản tính của mình để khắc phục nó. Bởi vì bạn mang nhân quả báo ứng, trong tâm bị ô nhiễm rồi, bạn mới sinh ra cái tâm Sinh diệt; nếu trong lòng bạn luôn quang minh lỗi lạc, bạn sẽ không nảy sinh cái tâm Sinh diệt. Thế nào gọi là tâm Sinh diệt? Vì bạn nảy sinh ra cái tâm này rồi, bạn lại phải đi tiêu diệt nó; hôm nay bạn đẻ ra cái phiền não này, bạn lại phải tìm cách đi diệt trừ cái phiền não đó, đây chính gọi là Tâm Sinh Diệt.

48. Tâm như hư không, soi sáng bản tính

+

Lấy một ví dụ đơn giản, chẳng hạn tôi là người đang tu tâm; hôm nay lúc sắp xếp công việc, vì người này có quan hệ không tốt với tôi, nên tôi không giao việc cho anh ta. Về bề ngoài mà nói, bạn đang phân bổ nhân sự, bạn cũng đang làm công đức; nhưng thực chất chỉ cần trong lòng bạn mang cái ý niệm này, thì không những bạn chẳng có lấy một mảy may công đức, mà bạn còn bị ghi thêm tội danh là mang một tâm hồn vẩn đục không chịu nổi. Ngay trong việc làm Phật sự mà bạn còn dám làm việc thiên vị, tư lợi, đây là tội lỗi gì hả? Bạn tưởng Bồ Tát, các vị Thần linh trên trời đều không biết sao? Đừng tưởng học Phật rồi thì mình là Bồ Tát; tâm hồn bạn có dơ bẩn hay không, bản thân bạn phải là người rõ nhất. Rất nhiều việc, bản thân không muốn làm liền đùn đẩy cho người khác, lại còn viện cớ là "nhường cơ hội làm công đức cho người ta". Giao cho người này, đùn cho người kia, bên trong liệu có tạp niệm ích kỷ không? Rất nhiều việc các vị muốn giấu giếm Sư phụ, chẳng phải là các vị đang mang tạp niệm sao? Thế là không tốt, việc này gọi là "Lấy định kiến cá nhân để thiết lập vô vàn loại pháp"; thực chất chỉ là cái bề ngoài nghe có vẻ đúng mà lại sai; cho nên, nó chỉ khiến người ta xưng tụng bề ngoài mà thôi, còn "tâm hành" (hành vi trong tâm) thì đã dơ bẩn không chịu nổi rồi. "Dẫu có tu trì, cũng vì cái tâm này mà bị ô nhiễm" – cho dù bạn thường xuyên tụng kinh, nhưng vì tâm bạn đầy tạp niệm, cái tâm thiện lành của bạn đã bị tạp niệm làm cho vẩn đục rồi. Loại người này "Quyết nan đắc kỳ chân sở hành chi đạo" – nghĩa là, bạn không thể đắc được con đường thực sự của sự tu hành. Bởi vì bạn không thể đi trên con đường chân chính; cũng giống như bạn hay lái xe vậy, rõ ràng bạn đang đi thẳng tiến về phía trước, nhưng tay lái cứ lắc qua lắc lại, cuối cùng bạn sẽ đi chệch đường.

"Hảo danh nhi ác thực", nghĩa là ham mê hư danh, mà thực chất lại làm điều ác. Nói cách khác, bạn làm mọi việc chỉ vì danh dự, nhưng thực chất tâm bạn rất ác độc; đây là đại kỵ thứ hai trong tu hành. Nếu hôm nay các vị đến Đài Đông Phương chỉ vì danh, vì lợi; thấy thích người này liền ra vẻ nói với họ vài câu đạo lý... thảy đều là tu hành "hữu lậu" (rò rỉ), đều là những điều đại kỵ trong tu hành. Ví dụ, cứ nằng nặc đòi phải xuất đầu lộ diện, cứ nằng nặc đòi phải phát biểu nhiều về Phật pháp, đó chính là phạm vào lỗi "Hảo danh ác thực". Đài phát thanh của chúng ta có một vị MC, lúc tham gia buổi khai thị của Đoàn Thanh niên, vì hám danh nên vừa cầm micro lên đã dõng dạc: "Tôi là người dẫn chương trình của Đài Đông Phương, câu hỏi của tôi là thế này..."; lúc nói chuyện, chỉ hận không thể bắt tất cả mọi ánh mắt phải dồn vào cô ấy. Đó gọi là tu hành sao? Mục đích sai lệch thì con người chắc chắn sẽ phạm sai lầm. Con người đừng nên sĩ diện, mặt mũi (thể diện) là thứ có thể hại chết người đấy. Trên thế giới này, mặt mũi là thứ hại người nhất; đã có bao nhiêu kẻ vì cái danh dự hão huyền này mà bỏ mạng rồi?

Cuối cùng muốn dặn dò mọi người: Môi trường thực chất chẳng phân chia tốt xấu. Môi trường mà chúng ta đang sống ngày nay đều giống nhau, quan trọng nhất là ở con người. Tổn thất hay lợi ích mà bạn nhận được đều do con người quyết định, môi trường xung quanh bạn đâu có thay đổi. Cùng một môi trường, mọi người cùng làm việc chung trong một văn phòng, tại sao người ta làm việc tốt mà bạn lại không làm tốt được? Tại sao sếp tin tưởng người ta mà lại không tin tưởng bạn? Thực chất, thiệt - hơn đều nằm ở bản thân mỗi cá nhân, đều do con người tự tạo ra cả. Môi trường sống của chúng ta đều như nhau; thế nên, chúng ta phải học cách nhún nhường thêm một phần, chính là "Lùi một bước, biển rộng trời cao". Nếu chúng ta chỉ chăm chăm đi chiếm tiện nghi (trục lợi) của người khác, thực chất chính là đang tăng thêm sự "hưởng dụng" cho bản thân. Đạo lý rất đơn giản, hôm nay bạn chiếm tiện lợi của người ta, tương đương với việc bạn đang tận hưởng công sức của người ta; bạn hưởng thêm một phần, bạn sẽ bị giảm đi một phần phúc đức; bạn xài thêm một chút, cái Phúc của bạn sẽ vơi đi một chút.

Sư phụ dạy mọi người: "Ưu tắc thiên địa giai trách" (Buồn rầu thì trời đất đều chật hẹp) – người thường xuyên lo âu, sầu não sẽ thấy bầu trời xung quanh mình vô cùng nhỏ hẹp; "Oán tắc đáo xứ vi cừu" (Oán hận thì đi đâu cũng gặp kẻ thù) – nếu một người ngày nào cũng oán trời trách đất, thì đi đến đâu cũng sẽ kết oán gây thù; bởi vì bạn trách trời trách đất, chê bai cái này không tốt, cái kia cũng tồi, thì đi đâu bạn cũng sẽ rước oán thù vào thân; "Ai tắc tự kỷ thúc phược" (Bi ai thì tự trói buộc mình) – khi bạn suốt ngày cảm thấy bản thân mình vô cùng đáng thương, chính là bạn đang tự trói buộc lấy mình, khiến bạn không thể thi triển được tài năng; "Nộ tắc đại nạn đương đầu" (Tức giận thì đại nạn đổ lên đầu) – nếu một người hay nổi nóng mất kiểm soát, thì đại nạn của kẻ đó sắp ập đến rồi.

Người học Phật chúng ta phải hiểu: Nhân nào, Quả nấy (Như thị nhân, như thị quả). Cái nhân này nảy sinh là do bạn tạo ra; cái quả này hình thành cũng là do bạn tạo ra. Nhân quả cứ thế trôi chảy cùng sinh mạng; tất thảy mọi nhân quả của chúng ta đều nương theo sự tiếp nối của sinh mạng, sự tiếp nối của nhân quả mà trôi đi; khi chúng ta không còn nữa, Nhân cũng mất, Quả cũng chẳng còn. Quả chịu xong rồi, Nhân cũng biến mất. Đợi đến khi nhận lãnh xong cái Quả đó, một cái Nhân mới lại bắt đầu: gieo Nhân mới, lại kết Quả mới; bởi vì bạn đã hưởng cái Quả này rồi, nên bạn lại gieo xuống một cái Nhân mới. Đây chính là lý do tại sao rất nhiều người sau khi đầu thai, họ được hưởng cái Quả của kiếp trước, nhưng họ lại gieo xuống cái Nhân tồi tệ; để rồi kiếp sau lại phải nhận lãnh cái Nhân mà họ đã gieo trong kiếp này, lai sinh lại phải gánh chịu một cái Quả đắng. Con người cứ mơ mơ màng màng mà sống qua một đời như thế, chẳng biết thứ gì nên giữ lại, thứ gì nên vứt đi. Thứ nên giữ thì phải giữ, thứ nên bỏ thì phải bỏ. Gạt bỏ bớt đi những thứ thuộc về vật chất, thì những điều tốt đẹp lưu lại trong tâm bạn sẽ nhiều thêm một chút; bạn chiếm giữ vật chất càng nhiều, thì những điều tốt đẹp trong tâm bạn sẽ càng ít đi.

Người xem trọng tiền bạc thì thường xem nhẹ tình người; người xem trọng tình nghĩa thì sẽ xem nhẹ tiền bạc. Kẻ đặt nặng đồng tiền sẽ coi tình người nhẹ tựa lông hồng; câu này chẳng phải y chang cái đạo lý nhân gian mà Sư phụ vừa nói sao? Cho nên, phải "Tâm nhược hư không" – Tâm phải giống như Hư không; tâm phải Không, phải bao dung vạn vật, thì mới có thể rời xa những mặt đối lập. Nếu tâm bạn có thể bao dung tất cả mọi mặt đối lập, bạn mới có thể nhẫn nhịn được sự đối lập, bạn mới có thể tha thứ cho người khác, bao dung cho người khác. "Cái tên này thật là khốn nạn, nhưng tôi cũng thấy hắn khá đáng thương; thôi tha thứ cho hắn đi, vì tôi là kẻ vô tư (không ích kỷ) mà". Hắn lừa tôi cũng chẳng sao; hắn lừa tôi, tôi cũng chẳng thiệt thòi gì, vì tôi biết hắn lừa tôi thực chất là làm chuyện không tốt cho hắn, chứ đối với tôi chẳng có gì là không tốt cả. Tấm lòng của bạn có thể dung chứa được hắn, bạn sẽ không còn cảm giác đối đầu với hắn nữa; chỉ vì bạn không thể dung chứa nổi hắn, nên bạn mới mang mối thù này cả đời.

Hãy suy ngẫm cho kỹ, làm người rất khó, học Phật cũng rất khó, cái gì cũng không dễ dàng. Sư phụ đắng lòng cạn miệng, ngày nào cũng khuyên can các vị, phải biết cảm ân Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi. Hiện tại, Pháp môn Tâm Linh ngày càng được hoằng dương rộng rãi trên toàn thế giới, các vị đều đã nhìn thấy viễn cảnh tương lai; mọi người đều đang tiến bộ, nhưng nấc thang của mỗi người là khác nhau, vị trí của mỗi người là khác nhau. Cho nên, bắt buộc chỉ được phép đi lên, không được phép thụt lùi.

Lời cuối cùng Sư phụ muốn nhắn nhủ các vị: Vĩnh viễn phải nhớ kỹ, chúng ta ở nhân gian học Phật, là phải học cảnh giới của Phật. Chúng ta ở nhân gian làm người, thực chất là để siêu thoát khỏi cảnh giới của con người, chứ đừng đi học cách "làm người" ở đời. Con người tuy thuộc về Ba đường Thiện (Tam thiện đạo), nhưng con người rất ác. Bản tính của con người hiện tại đã bị chôn vùi bởi những thứ nhơ bẩn tích tụ qua nhiều đời nhiều kiếp; thứ nhìn thấy chỉ là bề ngoài, không phải là thứ thuộc về bản chất tâm hồn thực sự. Một khi bạn nhìn thấy được bản chất thực sự của tâm hồn, đó mới chính là thứ bạn khao khát có được nhất. Nhưng những thứ cần đạt được này, bạn đã không còn khả năng chạm tay vào nữa; bạn chỉ có thể tạm thời từ bỏ nó, tìm kiếm một vị trí cao hơn, thực chất là tìm kiếm một loại "Nước rửa chén" xịn hơn để gột rửa tâm hồn bạn; có như vậy mới có thể soi sáng cái Phật tính, cái Bản tính của bạn và lau chùi nó cho thật sạch sẽ. Bởi vì hiện tại chúng ta đã không còn khả năng tự mình lau sạch cái tâm của chính mình nữa, bởi vì chúng ta đã bị sự ô nhiễm của Tham - Sân - Si che khuất, đến mức không còn nhìn thấy bản tính và lương tâm của chính mình nữa rồi.

Con người ngày nay đã trở nên tồi tệ đến mức nào rồi? Bạn chỉ cần nói lỡ một câu đắc tội với họ, họ lập tức tỏ thái độ với bạn, họ lập tức sẽ tìm cách trả thù bạn. Cho nên mọi người phải hiểu một đạo lý: Chúng ta sống là phải chân thật, chúng ta chết cũng phải chân thật; bởi vì chỉ khi chân thật thực tế, bạn mới có thể tu lên cao được. Nếu tu tâm tu hành bằng sự giả tạo, viển vông, dối trá; đến lúc nhắm mắt xuôi tay bạn sẽ không thể nào thăng thiên được đâu, và bạn cũng chỉ đang lừa dối chính bản thân mình mà thôi.

Sư phụ giúp đỡ các vị, chính là phải vạch trần khuyết điểm của các vị; khuyết điểm mà không nói thì tai họa tày đình, ưu điểm không nói thì cũng chẳng chạy mất đi đâu được. Sư phụ phải nói cho các vị đến mức “không còn manh giáp”, nói đến mức các vị không còn chỗ nào chui nhủi; nếu các vị có thể chịu đựng được, các vị liền thành công, bản tính chân thật của các vị sẽ bộc lộ ra ngoài. Nếu bị mắng mà các vị lại sĩ diện, thì cái sự phù phiếm giả tạo sẽ trồi lên, sự phù phiếm, đố kỵ và sân hận giấu trong tâm các vị sẽ không thể nào che giấu được nữa. Nếu bị Sư phụ mắng xong, các vị nghiêm túc sửa đổi, buông bỏ cái Tôi, những thứ virus này của các vị sẽ biến mất – đây gọi là "Kích hoạt". Nếu ai bị Sư phụ mắng mà nổi cáu, buồn bực, nghĩ không thông, rồi ngay sau đó sinh ra những suy nghĩ ngu si – đó chính là sự tuôn trào tự nhiên của đám virus trên người các vị; nói trắng ra là tu chưa tới nơi tới chốn.

49. Vô minh phiền não là Đạo tràng

+

Sư phụ từng giảng cho mọi người về "Từ Bi Hỷ Xả" của Bồ Tát. Các vị có biết tại sao lại đặt chữ "Từ" lên hàng đầu không? Tại sao gọi là "Từ Bi" mà không gọi là "Bi Từ"? Trắc ẩn, thương xót chúng sinh là thứ xuất phát từ tận đáy lòng. Nhưng "Từ" mới là thứ con người cần phải làm được đầu tiên. "Hỷ" là tâm hoan hỷ. "Xả" là khả năng xả bỏ, buông bỏ. Điều quan trọng nhất trong học Phật chính là phải "Từ Bi Hỷ Xả", bốn chữ này vô cùng quan trọng đối với chúng ta.

Có được Từ tâm (Từ tâm chính là cõi lòng mềm mại, không giận dữ, không oán hờn), thường xuyên nhìn thấy người ta đáng thương; cái tâm Từ này một khi đã xuất hiện, thì tiếp theo cái Tâm Bi mẫn sẽ theo đó mà đến. Tâm Bi mẫn chính là cảm nhận được rằng mỗi người sống trên thế giới này đều rất đáng thương. Nếu chỉ có Từ tâm thì đó vẫn chỉ là một loại bề ngoài, chưa đủ chiều sâu; nếu cộng thêm Bi mẫn tâm, thì đó mới là thứ xuất phát từ tận bên trong. Mọi người nghe hiểu không?

"Hỷ" là Hoan hỷ tâm (tâm vui vẻ). Đối với chúng sinh đều phải vui vẻ, hơn nữa phải lấy sự Từ bi cộng với sự Hoan hỷ. Bạn yêu thương người ta, bạn mới cảm thấy thế giới này vô cùng tươi đẹp; vì bạn thường xuyên yêu thương chúng sinh, nên chúng sinh mới yêu thương bạn; vì bạn mang tâm hoan hỷ, nên bạn mới có thể hoàn thành tốt công việc này.

"Xả" là gì? Xả chính là "Xả đắc". Chúng ta phải lấy những điều tốt đẹp của mình xả cho (đem cho) người khác, và cũng phải xả bỏ (vứt bỏ) những thứ không tốt của bản thân. Nghĩa là đồ tốt phải đem đi xả, mà thói xấu cũng phải đem đi xả. Đem đồ tốt đi xả là để làm gì? Là để giúp đỡ người khác. Đem phẩm chất tốt, tác phong tốt, thói quen tốt thảy đều xả ra ngoài, để đi giúp đỡ người khác, để yêu thương chúng sinh. Những thứ không tốt chính là sai lầm, khuyết điểm, tật xấu không nên có, lòng đố kỵ... thảy mọi thứ trên người mình, toàn bộ đều phải gạt bỏ đi.

Từ Bi Hỷ Xả của Bồ Tát, ngẫm một chút là hiểu ngay. Công đức nằm trong sự Từ bi, và cũng nằm trong Phật tính. Bởi vì Từ Bi Hỷ Xả của Bồ Tát là công đức được chứa đựng trong Phật tính; nghĩa là, nếu trong tâm bạn vô cùng Từ, vô cùng Bi mẫn, tràn đầy Pháp hỷ, ngoài ra bạn còn rất chịu "Xả", dám xả bỏ; thì những điều này thực chất đều là những điều tốt đẹp khởi sinh từ Phật tính của người đó. Thế thì loại hành vi này không còn là Tu phúc nữa, mà là đang Tu công đức. Cho nên Sư phụ bây giờ nói cho các vị nghe, rất nhiều người không biết thế nào là Phật, thế nào là Phúc, thế nào là Công đức. Cứ tưởng làm được một việc thiện, giúp đỡ được một ai đó là có công đức. Tôi đã nói với các vị rất nhiều lần rồi, tất thảy mọi công đức thảy đều phải xuất phát từ tận đáy lòng khi đi làm việc thiện. Tận đáy lòng là cái gì? Chính là Phật tính, đó mới gọi là công đức. Bởi vì thứ nằm sâu thẳm nhất dưới đáy lòng con người chính là Phật tính.

Bồ Tát dạy: "Chư phiền não thị đạo tràng, tri như thực cố" (Mọi phiền não đều là đạo tràng, bởi biết rõ thực tướng của nó). "Mọi phiền não đều là đạo tràng" nghĩa là gì? Chính là tất cả mọi phiền não ở cõi nhân gian, thảy đều là đạo tràng giúp bạn học Phật. Bởi vì nếu không có phiền não, bạn sẽ không có cách nào sinh ra trí tuệ. Phiền não đến, tức có trí tuệ. Mọi người nghe hiểu không? "Tri như thực cố" tức là bạn biết được, mọi thứ hóa ra đều giống y như sự thật mà bạn đã làm. Nghĩa là tất thảy mọi phiền não mà chúng ta biết, chúng ta gặp phải, thực chất chúng đều là những thứ đang tồn tại, là sự thật hiển nhiên đang hiện diện, nhưng đồng thời lại giống như những thứ không hề tồn tại vậy. Những lời này vô cùng ảo diệu, không phải cứ nghe qua là các vị có thể hiểu ngay được đâu. Có đạo tràng sẽ sinh ra phiền não, thế nên phiền não sẽ kéo đến không ngừng; ở nhân gian, thân thể này là một đạo tràng, thế nên sau khi học Phật sẽ nảy sinh ra rất nhiều phiền não.

Cái gọi là phiền não, bản thân nó là "Không". Phiền não vốn dĩ là không, phiền não bản thân nó là Vô tính. "Phiền não bản thân nó là Vô tính" nghĩa là sao? Bởi vì bất kỳ phiền não nào khi rơi xuống trần gian, vốn dĩ đều không có một "cộng tính" nào, không có một thực thể mang tính thực chất. Phiền não bồng bềnh bất định, không mang một cái "Tính" nào – Bất định tính. Hôm nay có phiền não, ngày mai hết; ngày mai hết, ngày mốt lại có, thế nên nó không có định tính. Thứ không có định tính chính là thứ dường như có lại dường như không, "phi hữu phi vô" (không phải là có mà cũng chẳng phải là không). Thế nên mong các vị đừng sợ phiền não, mặc dù phiền não rất nhiều, nhưng bản thân phiền não lại là "Không"; bởi vì hôm nay bạn có thể ôm một bụng phiền não, nhưng ngày mai cái phiền não này lại biến mất. Chẳng phải là thị thị phi phi, trống trống rỗng rỗng sao, đúng không nào?

Bởi vì phiền não là vô tính, vốn dĩ chẳng có định tính, nên không có nghĩa là lúc nào nó cũng phải tồn tại. Rất nhiều người tại sao sống cả một tháng, hai tháng trời mà chẳng có chút phiền não nào? Họ ngày ngày cứ thức dậy, ăn cơm, đi làm, họ làm gì có phiền não! Đúng không nào? Đó là bởi vì nó không có Tính, nó không có Định tính. Thế nhưng phiền não có thể bị huyễn hóa ra thông qua sự tưởng tượng. Mọi người có biết tưởng tượng là gì không? Có rất nhiều người vốn dĩ đang sống rất tốt, chẳng có muộn phiền gì, nhưng họ có thể đi "tưởng tượng" ra phiền não. Lấy một ví dụ đơn giản: Đêm hôm trước chồng bạn về muộn, bạn liền bắt đầu tưởng tượng ra anh ấy đã đi đâu; hôm nay sếp lườm bạn một cái, bạn liền tưởng tượng ra sếp sẽ làm gì để trừng trị bạn, thế là trong lòng bạn bắt đầu khó chịu, buổi tối cũng mất ngủ luôn. Các vị nghe có hiểu không? Đây chính là bị huyễn hóa ra thông qua sự tưởng tượng. Cho nên thứ do huyễn hóa và tưởng tượng sinh ra thực chất chính là bản thân Bồ đề, bởi vì nó cũng là Vô tính.

Bồ đề chính là trí tuệ, trí tuệ ngự trên người bạn bản thân nó cũng là Bất định tính. Ý là sao? Chẳng hạn hôm nay bạn đột nhiên vô cùng thông minh, nghĩ ra được một cách giải quyết vấn đề cực kỳ tuyệt diệu; nhưng ngày mai, bạn lại ngốc nghếch đến lạ lùng, chẳng nghĩ ra nổi một định nghĩa thực chất nào. Cho nên bản thân Bồ đề cũng không có định tính.

Tiếp theo Sư phụ nói cho các vị biết: Phiền não trên thực tế so với Bồ đề thì chẳng có gì khác biệt cả. Wow, thoạt nghe qua thấy giật mình, phiền não là thứ tồi tệ, sao lại có thể giống Bồ đề được? Bồ đề là gì? Là trí tuệ. Đúng không? Vậy còn phiền não? Bởi vì phiền não ập đến, Bồ đề tâm của bạn mới xuất hiện, trí tuệ của bạn mới được sinh ra. Bạn thử nói xem có gì khác nhau nào? Bởi vì bụng bạn đói, nên bạn mới phải tìm đồ ăn; bạn có đồ ăn rồi, bụng bạn sẽ không đói nữa. Đúng không nào? Chẳng phải cùng chung một đạo lý sao? Bởi vì bạn quá ngốc nghếch, nên bạn mới mắc bẫy người ta; bởi vì trong quá khứ bạn chưa từng va vấp phải chuyện này, nên bạn mới bị người ta lừa. Nhưng khi bạn nếm trải rồi, bạn sẽ tự khắc biết chuyện này nên xử lý ra sao. Bồ đề tâm của bạn đã được sinh ra, lần sau bạn sẽ không bao giờ mắc bẫy bị lừa nữa. Thế chẳng phải tương đương với việc bạn đã sinh ra được Bồ đề tâm rồi sao?

Bồ đề tâm không có định tính, tức là nó sẽ không bao giờ cố định xuất hiện vào ngày tháng năm nào, hay vào năm bạn bao nhiêu tuổi. Ví dụ bạn bao nhiêu tuổi sẽ gặp rắc rối gì, hay bao nhiêu tuổi sẽ giúp bạn khởi sinh trí tuệ, thảy đều bất định. Đời người sẽ không ngừng gặp phải rắc rối, và cũng sẽ không ngừng có trí tuệ để khắc phục những rắc rối này. Thế nên Bồ đề tâm và phiền não luôn đi song hành với nhau; thực chất phiền não so với Bồ đề không có gì sai khác, "Phiền não tức Bồ đề". Đúng không nào?

Lấy một ví dụ không được phù hợp cho lắm: Hết tiền rồi, thì phải nghĩ cách đi kiếm; kiếm được tiền rồi, lại đem tiêu xài hết; tiêu hết tiền rồi, lại phải đi kiếm tiếp. Đúng không? Cho nên chuyện kiếm tiền và tiêu tiền vốn dĩ luôn đi đôi với nhau. Bạn cần tiền thì bạn mới phải đi kiếm tiền. Bạn cần công đức thì bạn mới đi làm công đức. Vì trên người bạn có quá nhiều khuyết điểm, quá nhiều nghiệp chướng, bạn muốn tiêu trừ nó, nên bạn mới đi làm công đức; do đó Phiền não tức là Đạo tràng. Bồ đề là đạo tràng, mà phiền não cũng là đạo tràng.

Sư phụ tiếp tục giảng cho mọi người, tại sao lại nói phiền não và Bồ đề là đạo tràng? Mọi người thử tưởng tượng xem, nếu phiền não ập đến, trong lòng bạn có phải sẽ thấy khó chịu, sẽ có khúc mắc không? Đúng lúc này bạn bắt đầu học Phật, thế là trong tâm bạn đã xây dựng nên một cái Đạo tràng học Phật rồi. Đúng chưa? Ngược lại, Bồ đề cũng là đạo tràng, bởi vì bạn học Phật rồi, bạn sẽ vĩnh viễn có trí tuệ. Đúng không? Bạn liền có thể khắc phục được những phiền não kia. Thế thì những cái Bồ đề này có phải đang nằm trong đạo tràng ở trong tâm bạn không? Vòng vo qua lại, chính là "Phiền não tức Bồ đề", Sư phụ nói vậy để giúp các vị hiểu được những đạo lý này.

Cho nên, thực tính (bản chất thực sự) của phiền não và Phật tính là không có gì phân biệt. Thực tính của phiền não là gì? Chính là đạo lý căn bản của sự phiền não thực sự; nó so với Phật tính là không hề khác biệt. Nói cách khác, bởi vì trong quá khứ bạn có Phật tính, nhưng trải qua vô lượng kiếp tích tụ những thứ xấu xa, hiện tại bạn bị mụ mẫm không còn phân biệt được rõ ràng nữa, thế nên phiền não mới xuất hiện. Đúng không? Vậy sau khi bạn gặp phải phiền não này, cái Bồ đề tâm kia – tức là trí tuệ – liền ập đến. Vậy tại sao lại nói phiền não lại cũng chính là Phật tính? Bởi vì Phật tính được khởi sinh từ chính bản chất sâu xa trong tâm. Bản chất thực sự của con người là Phật tính nằm sâu thẳm nhất bên trong; và chính thứ Phật tính này sẽ giúp bạn tràn đầy trí tuệ, hay còn gọi là Bồ đề. Hiểu chưa? Cho nên, phải có Phật tính thì mới có thể sinh ra Bồ đề tâm, sinh ra trí tuệ, mới có thể khắc phục được phiền não của bạn.

Vô minh bắt nguồn từ Lão Tử (Sự già và chết). Nghĩa là sao? Nghĩa là bạn không hiểu được rất nhiều chuyện trên thế giới này, là do bạn không hiểu nhân gian này chính là Lục Đạo luân hồi – có già và có chết. Bạn già rồi bạn không hiểu, bạn chết rồi bạn cũng chẳng hiểu. Cho nên Vô minh bắt nguồn từ Lão Tử, "Giai vô tận cố" (Thảy đều không có điểm kết thúc). "Giai vô tận cố" nghĩa là: một người già đi rồi chết, sau đó lại đi đầu thai; rồi lại tiếp tục từ lúc còn trẻ đến khi già đi rồi chết, lại tiếp tục đầu thai, vòng luân hồi này là không có điểm dừng. Giai vô tận cố chính là bởi vì nó không có điểm kết thúc, nói cách khác là con người sẽ không bao giờ diệt vong hoàn toàn. Khi một người chết đi, thể xác của họ không còn, nhưng linh hồn của họ vẫn tiếp tục tồn tại trong thế giới này, tiếp tục sinh tồn trong cái không gian bốn chiều này, cho nên họ chưa hề chết. Giống như rất nhiều người đang ngủ thiếp đi vậy, nhưng thực chất họ không hề ngủ. Cho nên vốn dĩ làm gì có Vô minh, nghĩa là con người sống trên đời này vốn dĩ chẳng có cái gì gọi là không biết; bản thân bạn vốn dĩ chẳng hiểu cái gì cả, mà thực chất bạn hoàn toàn không cần phải hiểu chuyện gì cả, bạn cũng không cần phải đi tìm hiểu bất cứ thứ gì, thì bạn sẽ vô cùng trong sạch. Vốn dĩ thế giới này chẳng hề có vô minh (Vô minh là không rõ, không hiểu), thế nên căn bản là sẽ không có điểm tận cùng của vô minh (Vô minh tận). Bởi vì không có Vô minh thì mới có thể sinh ra Vô minh.

Trong «Bát Nhã Tâm Kinh» có câu: "Vô vô minh, diệc vô vô minh tận; vô lão tử, diệc vô lão tử tận" (Không có vô minh, cũng chẳng có điểm tận cùng của vô minh; không có già chết, cũng chẳng có điểm tận cùng của già chết). Nói cách khác, già chết cũng chẳng có điểm kết thúc, vì khi nó đi đến điểm kết thúc, nó lại đầu thai thành một đứa trẻ; bạn bảo như thế làm sao gọi là kết thúc được? Có thứ gì có thể kết thúc được không? Thế giới này không có điểm dừng. Giống hệt như bài học «Ngu Công dời núi» mà hồi xưa chúng ta từng học: Ngu Công nói: "Tôi chết đi rồi thì con trai tôi sẽ tiếp tục đào; con trai tôi chết đi thì tôi vẫn còn cháu nội, con con cháu cháu đời đời nối tiếp không có ngày tận". Thực chất đạo lý ông ấy nói chính là cái này: Mọi thứ đều có thể tiếp tục kéo dài mãi mãi. Hôm nay người này đã chết chưa? Họ chưa chết, tinh thần của họ vẫn đang sống cùng chúng ta – thế tức là người này không hề chết.

Mọi người thử nghĩ xem, Quán Thế Âm Bồ Tát khi hóa thân làm Diệu Thiện công chúa, đến cuối cùng Ngài cũng phải viên tịch để bay về trời; nhưng Quán Thế Âm Bồ Tát có chết không? Không, Ngài vĩnh viễn không bao giờ chết. Thứ mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni để lại cho nhân gian là gì? Là một nền Phật giáo tuyệt vời đến như vậy, thế Đức Phật có chết không? Thực tế cũng đâu có chết; chỉ là Ngài rời khỏi nơi này của chúng ta để đi đến một nơi khác mà thôi. Lấy một ví dụ đơn giản: Nếu các vị từ nông thôn di cư đến Úc, có thể nói các vị đã rời khỏi vùng nông thôn đó rồi. Rất nhiều đứa trẻ ở quê có thể sẽ bảo rằng cái người đó chết rồi, bởi vì cả đời này chúng sẽ không bao giờ được nhìn thấy các vị nữa; nhưng thực tế các vị đang ở Úc, các vị đâu có chết á.

Sư phụ vừa nói Vĩnh viễn không bao giờ có thể tiêu diệt hoàn toàn; chính là không có cái Vô minh này để mà diệt, cũng chẳng có cái Lão Tử này để mà diệt. Thực tế Vô minh chúng ta cũng chẳng muốn tìm cách để diệt nó, cho nên Lão Tử chúng ta cũng chẳng thể nào diệt nổi. Lấy ví dụ, Vô minh sinh ra rồi bạn liền trừ khử tiêu diệt nó; nhưng qua một thời gian, cái tập khí Vô minh này lại ập đến, rồi bạn lại đi diệt nó. Cái Vô minh này chẳng phải y hệt như Phiền não sao? Sinh sinh tử tử vĩnh viễn không có điểm dừng, nói cách khác là từ lúc bạn sinh ra bạn đã luôn không hiểu, mãi cho đến tận lúc nhắm mắt xuôi tay bạn cũng vẫn không hiểu; đây chính gọi là "Vô minh tận".

II. Chân tâm tu học theo Lư Đài Trưởng

Những nhận thức, cảm ngộ, sự cảm ứng và phản hồi chân thực, kỳ diệu sau khi tụng kinh theo Pháp môn Tâm Linh của Quán Thế Âm Bồ Tát

Vì lý do giới hạn độ dài, ở đây chỉ liệt kê một vài bài viết chia sẻ về nhận thức, cảm ngộ, sự cảm ứng và phản hồi chân thực, kỳ diệu của các thính giả và cư dân mạng sau khi chân tâm tu học, tụng kinh theo Pháp môn Tâm Linh của Quán Thế Âm Bồ Tát dưới sự hướng dẫn của Lư Đài Trưởng. Nếu muốn tìm hiểu thêm nội dung, xin vui lòng truy cập trang blog của Lư Quân Hoành Đài Trưởng.

 

Địa chỉ blog của Lư Quân Hoành Đài Trưởng:

http://lujunhong2or.com

Cộng đồng Pháp Môn Tâm Linh Việt Nam:

https://phapmontamlinh.vn/

https://pmtl.site/

1. Cảm ân Pháp môn Tâm Linh đã dạy chúng ta trở thành người có tu dưỡng, có đạo đức, có lương tâm

+

Cảm ân tất thảy chư Phật Bồ Tát khắp mười phương pháp giới hư không!

Cảm ân tất thảy Thần minh Hộ pháp khắp mười phương pháp giới hư không!

Cảm ân sự vĩ đại của Nam mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát!

Cảm ân vị Đạo sư tâm linh - Sư phụ Lư Quân Hoành!

Cảm ân tất thảy Hiền Thánh Tăng khắp mười phương pháp giới hư không!

Cảm ân tất cả các sư huynh đồng tu! Cảm ân lòng từ bi của tất thảy chúng sinh hữu duyên!

Sau khi Pháp hội thù thắng kết thúc viên mãn, trên chuyến bay trở về, tôi ngắm nhìn những đám mây rực rỡ khắp bầu trời, nhìn những con người và sự việc vốn xa lạ trên máy bay, bỗng cảm thấy thật thân thiết, trong lòng trào dâng một niềm xúc động khó tả.

Theo Sư phụ Lư Quân Hoành học Phật đã được ba năm, từ lần đầu tham gia Pháp hội năm 2011 đến Pháp hội lần này năm 2013, những cảnh tượng thù thắng đếm không xuể, có quá nhiều cảm xúc muốn chia sẻ cùng mọi người. Và điều khiến tôi được an ủi nhất là nhìn thấy sự chuyển biến từ trong nội tâm của các đồng tu tại hiện trường. Tuy không có diễm phúc tận mắt nhìn thấy Quán Thế Âm Bồ Tát vĩ đại hiển linh trên không trung, nhưng tôi đích thân cảm nhận được rằng, trái tim của các tình nguyện viên tại Pháp hội đều đang tiến gần hơn đến tinh thần "Vô duyên đại từ, đồng thể đại bi" của Quán Thế Âm Bồ Tát; tuy không có diễm phúc tận mắt nhìn thấy Sư phụ Đài Trưởng gieo từng đóa hoa sen cho các đệ tử trên trời, nhưng tôi đích thân cảm nhận được rằng, những trái tim đã gột rửa bụi trần, dần thoát khỏi sự ô nhiễm của các đồng tu, đang đua nhau nở rộ trong ao sen của bản tính, mang theo vẻ đẹp của đóa phù dung vươn lên từ nước trong. Trái tim đại ái tỏa ra ánh sáng Bồ Đề này, dũng cảm vứt bỏ cái Tôi, vô tư giúp đỡ lẫn nhau, giống như những viên ngọc sáng lấp lánh đan xen nhau. Những con người từ bốn phương vốn không hề quen biết đã hội tụ về đây để làm cùng một việc, để cầu nguyện Quán Thế Âm Bồ Tát ban cho thế giới hòa bình, nhân tâm hướng thiện, buông bỏ tham - sân - si trong lòng, sám hối những lỗi lầm và tội nghiệp đã gây ra trong quá khứ, cầu xin Bồ Tát giúp chúng ta thay đổi nội tâm của chính mình, để nội tâm trở nên lương thiện, trí tuệ, hòa bình và tốt đẹp hơn.

Đặc biệt điều khiến tôi cảm động chính là bầu không khí nhân tâm hướng thiện, theo đuổi sự quang minh này. Các tình nguyện viên và đồng tu đều phát huy sở trường của mình, nhiệt tình phục vụ Pháp hội, âm thầm cống hiến cho người khác. Những người lần đầu tiên từ phương xa lặn lội đến đây cũng tự nhiên bị bầu không khí này lây nhiễm, bất giác tháo bỏ lớp mặt nạ đã đeo bấy lâu ở thế gian, để lộ ra bản tính thuần thiện của mình, nhiệt tình giúp đỡ người khác. Giữa người với người vô cùng nhiệt tình, khiêm nhường, thư thái và vui vẻ, không có ai cảnh giác nhìn chằm chằm vào chiếc ba lô của mình, cũng chẳng ai đề phòng sự tổn thương đến từ người khác. Trong thế giới được Phật quang phổ chiếu này, bất kỳ tư tâm tạp niệm nào vốn quen thuộc thường ngày, bất kỳ sự lạnh nhạt, xa cách, lừa lọc, dối trá, hay bàng quan thờ ơ giữa người với người lúc này đều bị phơi bày trước lương tâm, giống như những vết đen trên nền tuyết trắng không có chỗ dung thân, trở nên lạc lõng và đáng xấu hổ, tự nhiên bị chính lương tâm của mình lên án, tự kiểm điểm và vứt bỏ. Sức mạnh từ bi của một buổi Pháp hội, không ngừng gột rửa đi sự vẩn đục và lớp chì son trong tâm hồn nhân loại. Lẽ nào đây không thể được gọi là một ngôi trường của tâm hồn? Lẽ nào đây không phải là đạo tràng tu tâm mà Quán Thế Âm Bồ Tát từ bi ban tặng cho nhân gian? Lẽ nào đây không phải là nguồn năng lượng tích cực tịnh hóa thế đạo nhân tâm?

Điều khiến người ta kinh ngạc là, Pháp hội dường như là một thế giới ngập tràn hòa bình; Phật duyên đã quy tụ bạn bè bốn phương về mảnh tịnh độ này, dùng năng lượng của kinh Phật để tăng cường sức khỏe, khai mở trí tuệ, hóa giải ác duyên, cầu nguyện bình an, dùng sức mạnh của lòng từ bi để tịnh hóa linh hồn. Nếu giữa con người với con người có thể tôn trọng và yêu thương nhau mà không mong cầu điều gì, giúp đỡ và ban tặng nhau thân thiết như người một nhà, thì nó sẽ giống như một dòng sông tỏa ra ánh sáng của nhân tính, có thể gột rửa vô lượng bụi trần, soi sáng vô lượng không gian vũ trụ. Ánh sáng từ bi trong tâm này khiến chúng ta ngập tràn lòng biết ơn đối với Quán Thế Âm Bồ Tát, đồng thời cũng ngập tràn hy vọng vào tương lai của chốn nhân gian.

Chính niềm hy vọng và sự cảm động trước nhân tâm hướng thiện này đã khiến tôi hiểu sâu sắc hơn về tâm nguyện ban đầu và lý do mà Lư Đài Trưởng – hàng chục năm như một, mang trên mình sự đau đớn và mệt mỏi của thể xác, gánh vác trọng trách và áp lực tinh thần, gánh chịu nghiệp chướng và khổ nạn của hàng vạn chúng sinh – đã dùng thần thông vĩ đại của mình để xem đồ đằng (Đồ đằng) vô tư, miễn phí, chữa bệnh cứu khổ cho chúng sinh. Cứu rỗi thân thể con người chỉ là một hình thức bề ngoài, tâm nguyện thực sự của Đài Trưởng là khơi dậy Phật tính và lòng từ bi của vô số chúng sinh! Ông dùng thần thông lớn để khiến mọi người cảm ngộ, dùng phương pháp tụng kinh, phát nguyện, phóng sinh để tiêu trừ nghiệp chướng của chúng sinh, dùng Bạch thoại Phật pháp để chúng sinh giác ngộ hơn, mục đích là để nội tâm con người trở nên thuần khiết, từ bi và tràn đầy trí tuệ. Một tâm hồn từ bi và trí tuệ có thể hóa giải mọi tai ương, khổ nạn. Đây là sức mạnh nguyện lực từ bi của Quán Thế Âm Bồ Tát, vì vậy mới gọi là "Pháp môn Tâm Linh" của Quán Thế Âm Bồ Tát.

Thời kỳ Mạt pháp, thời gian đã không còn chờ đợi ai. Thử tưởng tượng trong xã hội đương đại với nhịp sống hối hả, vật chất tràn lan, xa hoa trụy lạc này, nếu có ai đó chỉ đơn thuần cầm một cuốn kinh Phật lên, giảng giải cho đại chúng nghe về Phật lý trong kinh văn cổ, về thiền học trong đời sống, khuyên răn chúng sinh buông bỏ tham - sân - si, bỏ ác hướng thiện, kiên trì tu tâm học Phật, nâng cao cảnh giới; tinh thần cứu độ chúng sinh như vậy thực sự đáng được tán thán và ngưỡng mộ, công đức vô lượng! Nhưng trong cái xã hội phàm trần tràn ngập đủ loại ham muốn vật chất và thông tin này, liệu có mấy ai có thể kiên nhẫn lắng nghe, kiên trì học Phật tu tâm, y giáo phụng hành? Và những người có thể chuyên tâm không vướng bận, hằng ngày tụng đọc kinh Phật cổ văn lại càng hiếm như lá mùa thu. Môi trường xung quanh đầy rẫy những cám dỗ về danh lợi, khiến nhiều người tuy có Phật duyên nhưng lại chần chừ do dự với Phật pháp, bán tín bán nghi, việc học Phật gặp muôn vàn trở ngại; muốn tu tâm học Phật tại gia lại rất dễ lơ là và thối chuyển. Việc có thể tu tâm học Phật đúng như lý như pháp, một môn tinh tấn, vận dụng Phật pháp vào cuộc sống để tiêu trừ nghiệp chướng, thay đổi vận mệnh, giải thoát phiền não lại càng khó khăn gấp bội.

Pháp môn Tâm Linh của Quán Thế Âm Bồ Tát chính là ứng vận mà sinh ra dưới thiên thời như vậy. Lư Đài Trưởng trước tiên dùng thần thông lớn để xem đồ đằng trực tiếp cho mọi người, chỉ ra thực trạng về bệnh tật, tình cảm, thói quen, sự nghiệp trong cuộc sống mà họ quan tâm nhất cùng với nguyên nhân từ kiếp trước, miêu tả hình dáng người đã khuất trong gia đình họ, chứng minh sự tồn tại chân thực của thế giới tâm linh. Mức độ chính xác và linh nghiệm đó đã khiến những người vốn chưa từng tin vào linh hồn, không tin vào Phật Bồ Tát phải chết lặng, liên tục gật đầu thừa nhận; giáng một đòn cảnh tỉnh cho những kẻ không tin vào Lục đạo luân hồi và nhân quả ba đời, vẫn đang tiếp tục tạo nghiệp – quả thật là một lời thức tỉnh người trong mộng.

Đài Trưởng dùng thần thông vĩ đại để đưa những người có Phật duyên nhưng lại đang mông lung, nghi hoặc này đến gần và tiếp xúc với Phật pháp, làm lung lay những kinh nghiệm cố hữu của con người; để chúng ta thấy rằng bản thân vẫn còn rất nhiều không gian và sự thật tồn tại mà mình chưa hiểu rõ; khiến mọi người buộc phải tin ngay tại chỗ rằng "trên đầu ba thước có Thần linh", con người làm việc thì trời cao đang nhìn, bất kỳ thân - khẩu - ý nào cũng đều có luật nhân quả báo ứng; giúp mọi người hiểu ra rằng vận mệnh kiếp này hóa ra là sự tích lũy của duyên phận và nợ nần từ kiếp trước, không có đúng sai, chỉ có nhân quả, phải biết nhìn thấu và buông bỏ; để mọi người hiểu rằng mọi danh lợi, tình cảm đều như mây khói qua đường, đến lúc ra đi muôn vàn thứ chẳng thể mang theo, chỉ có nghiệp lực bám sát thân mình; để chúng ta không bao giờ dám hồ đồ tạo nghiệp nữa, phải lập tức bỏ ác hướng thiện, tiêu trừ nghiệp chướng, thay đổi nội tâm và vận mệnh, học hỏi lòng Đại từ Đại bi và trí tuệ vô lượng của Quán Thế Âm Bồ Tát, thì mới có thể thoát khỏi phiền não, "Nhân thành tức Phật thành".

Đài Trưởng dùng những ví dụ sinh động, dễ hiểu cùng ngôn ngữ đời thường để ân cần chỉ bảo. Vô số người được sự xem đồ đằng của Đài Trưởng soi sáng đã có sự đốn ngộ, điều chỉnh lại nhân sinh quan và giá trị quan của mình, ngay lập tức bắt đầu học Phật tụng kinh, phóng sinh, tu tâm tích đức hành thiện. Lư Đài Trưởng giống như một con tàu khổng lồ, dùng thần thông vĩ đại làm ngọn đèn pha cực sáng, trước tiên xuyên thủng lớp chướng khí độc hại và sự u tối sâu thẳm mà chúng ta đã tích tụ nhiều năm, để chúng ta trong nháy mắt nhìn thấy mọi thứ bị che giấu. Trong sự chấn động và thán phục, chúng ta men theo ánh sáng của con tàu, bước lên Pháp thuyền từ bi của Quán Thế Âm Bồ Tát. Con tàu này hàng chục năm như một, không biết mệt mỏi chuyên chở và vận chuyển những người có thiện căn, phúc đức, nhân duyên, đưa họ đến với chuyến từ hàng của Pháp môn Tâm Linh Quán Thế Âm Bồ Tát. Trên chuyến từ hàng này, họ dần dần thấu hiểu nội tâm, sám hối sửa lỗi, bỏ ác hướng thiện, tu tâm học Phật. Chuyến từ hàng này chở chúng ta hướng về bờ giác của Phật quốc!

Bạn có thấy không, vào ngày diễn ra Pháp hội, cơn bão "Thiên Thỏ" do đài khí tượng dự báo đã hoàn toàn mất tăm mất tích, thời tiết quang đãng, vạn tượng cát tường, Phật quang phổ chiếu. Những người có duyên trên khắp bốn phương từ chuyến từ hàng của Quán Thế Âm Bồ Tát đã hội tụ về đây, cùng đắm mình trong Phật quang của Bồ Tát, nhân tâm hướng thiện, ánh sáng chiếu rọi nhân gian, Pháp hỷ tuôn trào. Lư Đài Trưởng với hình ảnh một vị cư sĩ hiện đại trong bộ âu phục, sải bước lên bục giảng, dùng ngôn ngữ Bạch thoại sinh động, dễ hiểu để giảng Phật pháp, ân cần chỉ bảo, độ hóa thế nhân; hình ảnh sinh động, thú vị, khiến các thính giả cười vang thích thú, tràn đầy Pháp hỷ.

Phóng tầm mắt xuống khán đài, bạn sẽ phát hiện ra hàng vạn người đến từ tám hướng này, bất kể chủng tộc, quốc tịch, giàu nghèo, khỏe mạnh hay ốm đau, tuổi tác, nghề nghiệp, tôn giáo, thậm chí cả những người theo thuyết vô thần, đều hội tụ về đây, không quản ngại đường xá xa xôi để cùng theo Lư Đài Trưởng tu tâm học Phật. Giữa sự kinh ngạc, tôi bất giác tự hỏi mình: Sức mạnh nào có thể thu hút nhiều người đến đây như vậy? Sức mạnh nào khiến số người tu tâm học Phật theo Pháp môn Tâm Linh tăng lên theo cấp số nhân? Lẽ nào là sức mạnh của cái gọi là "Thần thông" sao? Nhìn những con người này, bạn sẽ nhận ra họ từ chỗ hoàn toàn không tin Phật hoặc đầy hoài nghi về Phật pháp, đến chỗ kiên trì tụng kinh, phát nguyện, ăn chay phóng sinh mỗi ngày; từ chỗ vốn không tin vào sự tồn tại của Phật Bồ Tát và thế giới tâm linh, đến chỗ lập Phật đài trang nghiêm trong nhà, thờ phụng Quán Thế Âm Bồ Tát, Thái Tuế Bồ Tát, Quan Đế Bồ Tát; từ chỗ chỉ biết cầu xin cho bản thân có sức khỏe, sự nghiệp, gia đình, hôn nhân, dần dần chuyển sang cầu xin cho người khác được khỏe mạnh, chúng sinh khai ngộ, thế giới hòa bình, nhân tâm hướng thiện; từ những phẩm hạnh ích kỷ, kiêu ngạo, tham - sân - si ban đầu đến chỗ dần dần thấu lý khai ngộ, hiếu thuận với mẹ cha, từ bi cảm ân; từ chỗ nghiệp chướng linh hồn sâu nặng, bệnh tật quấn thân, sự nghiệp lận đận, đến chỗ nghiệp chướng tiêu trừ, thân thể nhẹ nhàng khỏe mạnh, vạn sự hanh thông.

Trong lòng tôi dần có câu trả lời rõ ràng. Người ta có thể bị thần thông độ hóa mà bước vào cửa Phật, nhưng điều khiến họ tự phát tự giác, ngày qua ngày đi theo Lư Đài Trưởng tu tâm tu hành, từ bi cống hiến, vô tư vô ngã, kiên định không thối chuyển, tuyệt đối không phải là do thần thông mang lại. Nó cũng không phải là phúc báo của cõi Trời cõi Người, không phải là sự hưởng thụ ở kiếp này, không phải là kiến thức phong thủy, không phải là hiệu ứng đám đông, mà là một sự đồng điệu về tinh thần. Loại tinh thần này chỉ có thuận theo chính lý tự nhiên của trời đất, bồi dưỡng Hạo nhiên chi khí, thì mới có thể bền bỉ được quần chúng bốn biển tiếp nhận và tín ngưỡng với sức mạnh như ngọn lửa bừng bừng lan tỏa.

Nhìn Lư Đài Trưởng lưng áo đẫm mồ hôi đứng trên bục giảng giải Phật pháp, nhìn bộ âu phục vốn rộng rãi giờ đã ướt sũng mồ hôi. Tôi nghĩ, thứ tinh thần này rốt cuộc là gì? Lư Đài Trưởng vì muốn độ hóa thêm nhiều phàm phu tục tử ở thế gian, đã lưu giữ Tam Bảo Phật - Pháp - Tăng trong tim, không khoác áo cà sa mà mặc âu phục, dùng tiếng cười sảng khoái, gần gũi để hòa nhập vào cái thế giới trần tục đầy rẫy khổ đau và phức tạp này, không tiếc mạng sống để đến gần và cứu độ chúng sinh. Thế nhưng, có ai biết được đằng sau những nụ cười và cuộc trò chuyện vui vẻ ban ngày của Lư Đài Trưởng, là bao nhiêu giọt nước mắt đau như dao cắt rơi xuống vì sự vô minh và khổ nạn của chúng sinh. Vẻ ngoài hiện đại, ngôn từ bình dị, cùng thần thông thức tỉnh thế nhân, thảy đều không thể che giấu được tấm lòng son sắt cứu nhân độ thế của Sư phụ! Đây là một lương tâm khiến cả thế giới phải chấn động và cảm động. Cho dù là những dòng văn Phật lý trên blog, trong sách của Lư Đài Trưởng, hay những lời dạy dỗ ân cần trên đài phát thanh; cho dù là những dấu chân hoằng pháp đi khắp bốn phương, hay trong mọi hành - trụ - tọa - ngọa của cuộc sống thường ngày, chúng sinh đều dùng nội tâm để cảm nhận được tấm lòng lương tâm chân thành, vô tư vô ngã, cống hiến vì chúng sinh của Lư Đài Trưởng.

Ánh sáng Phật tính tỏa ra từ lương tâm này chính là nguyên nhân thu hút chúng sinh từ tám hướng không quản ngại hàng vạn dặm xa xôi đổ về hiện trường Pháp hội; là nguyên nhân khiến các đồng tu tình nguyện mỗi ngày tụng chú Đại Bi, phóng sinh và cầu nguyện cho Lư Đài Trưởng; là nguyên nhân khiến chúng sinh kiên trì học tập Pháp môn Tâm Linh, mãi mãi không thối chuyển; là nguyên nhân Đài Trưởng nhận được "Giải thưởng Hòa bình Thế giới" và danh hiệu "Đại sứ Hòa bình Thế giới"; là nguyên nhân khiến chúng sinh phát tâm muốn trở thành nghìn mắt nghìn tay của Quán Thế Âm Bồ Tát giống như Đài Trưởng, thà hy sinh tính mạng cũng phải gieo rắc lòng từ bi và trí tuệ của Quán Thế Âm Bồ Tát ra toàn thế giới. Lư Đài Trưởng đã cho chúng ta nhìn thấy ánh sáng của nhân tính và lương tâm của xã hội. Đức hạnh và những nghĩa cử cứu người của ông làm cảm động và chấn động trái tim của mọi tín chúng phát tâm đi theo. Sự đồng điệu tinh thần cắm rễ sâu trong nội tâm này, chính là sự giao thoa rực rỡ giữa lương tâm với lương tâm. Cái lương tâm này, đã giúp sinh mạng con người tiếp nối suốt hàng ngàn năm; cái lương tâm này, nhỏ thì duy trì những chuyện củi gạo dầu muối trong sinh hoạt hằng ngày, lớn thì bảo vệ sự phát triển của nhân loại, sự hòa bình của thế giới. Thực tế nói cho chúng ta biết, không có từ bi và lương tâm thì sẽ không có hòa bình và chủ nghĩa nhân đạo, vận mệnh của nhân loại sẽ trở nên mong manh, nguy ngập. Càng nhiều người có lương tâm thì xã hội mới có thể sinh tồn và phát triển. Lư Đài Trưởng thường dùng ngôn ngữ Bạch thoại bình dị để nói với mọi người rằng, cái lương tâm này chính là "Phật tính" của chúng ta. Phật tính tương ứng, mới là nguyên nhân cốt lõi khiến Pháp môn Tâm Linh của Quán Thế Âm Bồ Tát được truyền bá rộng rãi trên toàn thế giới.

Từng nghe có người nói, Pháp môn Tâm Linh chẳng phải chỉ là tụng "Ngôi nhà nhỏ" thôi sao? Đây có phải là chánh pháp không? Những người nói như vậy, vừa không hiểu "Pháp môn Tâm Linh", lại càng không hiểu Phật pháp. Trước hết, cái gọi là "Ngôi nhà nhỏ" thực chất là một tổ hợp kinh văn bao gồm «Đại Bi Chú», «Tâm Kinh», «Vãng Sinh Chú», «Thất Phật Diệt Tội Chân Ngôn»; sau khi tụng xong thì hóa (đốt) đi để siêu độ cho linh tính, hoàn trả những nghiệp nợ đã tích tụ từ nhiều kiếp trước. Đối với những lỗi lầm chúng ta đã phạm phải trong quá khứ, những chúng sinh mà chúng ta đã làm tổn thương, tổ hợp kinh văn này có tác dụng siêu độ, trả nợ và chuộc tội rất tốt. Thông qua việc siêu độ cho oan gia trái chủ của nhiều đời nhiều kiếp, cộng thêm việc tụng kinh, phát nguyện, phóng sinh, tu tâm tu hành, chúng ta mới có thể không ngừng tiêu trừ nghiệp chướng do những tội nghiệp đã gây ra trong quá khứ; thông qua việc tiêu nghiệp chướng, tích lũy công đức để thay đổi vận mệnh kiếp này (vốn được tạo thành từ nợ nghiệp và duyên phận của kiếp trước), xua tan bệnh tật trên cơ thể, chuyển hóa những quả báo bất hạnh.

Dùng "Ngôi nhà nhỏ" - một dạng tổ hợp kinh Phật - để siêu độ, là một phương pháp siêu độ của Phật giáo mang đầy đủ chánh tín, chánh niệm và chánh đạo. Ba pháp bảo "Tụng kinh, Phát nguyện, Phóng sinh" của Pháp môn Tâm Linh đều là những phương pháp truyền thống kinh điển được lưu truyền hàng ngàn năm của Phật giáo. Tụng kinh chính là tụng đọc các kinh Phật trong cuốn «Phật Kinh Niệm Tụng Hợp Tập» do cư sĩ Triệu Phác Sơ biên soạn, không có bất kỳ kinh văn nào do Lư Đài Trưởng tự sáng tác. Khi tôi hằng ngày tụng đọc các bài công khóa do Lư Đài Trưởng giao như «Đại Bi Chú», «Tâm Kinh», «Tiêu Tai Cát Tường Thần Chú», «Chuẩn Đề Thần Chú», «Giải Kết Chú», «Lễ Phật Đại Sám Hối Văn», «Thất Phật Diệt Tội Chân Ngôn», «Đại Cát Tường Thiên Nữ Chú», tôi thầm nghĩ lẽ nào đây không phải là những kinh văn Phật giáo truyền thống chánh tín, chánh niệm hay sao? Và "Ngôi nhà nhỏ" mà chúng ta dùng để siêu độ linh tính, cũng chỉ là sự kết hợp của bốn loại kinh văn truyền thống mà thôi. Lư Đài Trưởng vắt kiệt tâm huyết và năng lượng, vô tư xem đồ đằng cho chúng sinh, chính là để chúng ta mỗi ngày tụng đọc những kinh văn Phật giáo truyền thống này, kết hợp với việc phóng sinh, phát nguyện, học tập «Bạch thoại Phật pháp» - cuốn sách dung hợp trí tuệ kinh Phật vào Phật lý của đời sống - để vận dụng đúng như lý như pháp vào sinh hoạt và công việc; tu tâm tu hành, tiêu trừ nghiệp chướng từ nhiều đời nhiều kiếp của bản thân, nâng cao cảnh giới nội tâm, "chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành" (không làm các việc ác, vâng làm mọi điều lành), thay đổi vận mệnh kiếp này và kiếp sau của mình, để cuối cùng đạt đến cảnh giới "Nhân thành tức Phật thành". Tu tập một pháp môn chánh pháp mang lại sự thuận tiện như vậy, hà cớ gì lại không làm?

Nhớ lại trước khi tiếp xúc với Pháp môn Tâm Linh, tôi vẫn là một người hoàn toàn không tin Phật, cũng chẳng hiểu gì về Phật pháp; mắc phải căn bệnh khó chữa trị suốt mười mấy năm. Một lần, trong lúc phát bệnh đau đớn, tôi vô tình nhìn thấy bức tượng Quán Thế Âm Bồ Tát trên mặt dây chuyền, thế là lần đầu tiên trong đời tôi ngước lên bầu trời cầu xin Quán Thế Âm Bồ Tát: "Cầu xin Quán Thế Âm Bồ Tát hãy giúp con thoát khỏi nỗi đau đớn hiện tại". Chính lời cầu xin trong nước mắt giàn giụa đó, chỉ mười mấy ngày ngắn ngủi sau, bạn tôi đã mang toàn bộ bộ tài liệu giảng giải Phật pháp của Lư Quân Hoành Đài Trưởng đến nhà, bảo tôi nhất định phải nhanh chóng làm theo để tụng kinh. Một kẻ chưa từng tin Phật như tôi cứ thế mà làm theo. Làm theo lời Lư Đài Trưởng, tôi lập bàn thờ Quán Thế Âm Bồ Tát, mỗi ngày tụng đọc công khóa kinh Phật, tụng Ngôi nhà nhỏ để siêu độ cho linh tính trên người.

Điều đáng kinh ngạc là, chỉ trong vòng 6 tháng ngắn ngủi, căn bệnh quái ác từng khiến tôi sống không bằng chết suốt mười mấy năm qua đã thuyên giảm một cách nhanh chóng. Điều này khiến cả gia đình tôi - những người đã bôn ba chạy chữa cho tôi từ khi tôi còn nhỏ - đều cảm thấy kỳ diệu và chấn động. Gia đình chính là những "nhân chứng" và "nạn nhân" cho bao năm tháng bệnh tật của tôi; họ đã đưa tôi đi gõ cửa bao nhiêu danh y và bệnh viện nổi tiếng, các bác sĩ đều nói căn bệnh này rất khó chữa trị. Trước sự bình phục nhanh chóng của căn bệnh đã hành hạ tôi suốt mười mấy năm, cả gia đình tôi với xuất thân vốn là những người theo chủ nghĩa duy vật, cũng không thể không tin vào sự tồn tại của Phật Bồ Tát, và bắt đầu học tập Pháp môn Tâm Linh.

Có lẽ chỉ những ai từng đích thân trải qua mới có thể cảm nhận sâu sắc sự "văn thanh cứu khổ" (nghe tiếng kêu cứu mà đến độ trì) của Quán Thế Âm Bồ Tát, thấu hiểu được hoằng nguyện và sứ mệnh của Lư Quân Hoành Đài Trưởng; mới có thể cảm nhận được sự cứu độ và giúp đỡ của Pháp môn Tâm Linh Quán Thế Âm Bồ Tát đối với nỗi thống khổ của chúng sinh. Sau khi học Pháp môn Tâm Linh, tôi nghe nói rất nhiều Phật hữu cũng có trải nghiệm tương tự. Từ trong đủ loại nghịch cảnh khổ đau, họ vô tình cầu xin Quán Thế Âm Bồ Tát, kết quả là không lâu sau, họ bắt gặp Pháp môn Tâm Linh của Lư Đài Trưởng, và đi theo Lư Đài Trưởng bước lên con đường tu tâm học Phật. Lẽ nào đây không phải là minh chứng mạnh mẽ nhất cho thấy Pháp môn Tâm Linh chính là pháp môn thù thắng mà Quán Thế Âm Bồ Tát ban tặng cho nhân gian sao? Pháp môn Tâm Linh giống như một chiếc chìa khóa mở ra cánh cửa trái tim chúng ta, sửa chữa nội tâm, chữa lành bệnh tật, hóa giải oan kết, tiêu trừ tai nạn, nâng cao cảnh giới, để chúng ta được đón nhận ánh sáng Phật quang chiếu rọi. Những người tự mình trải qua mới có thể tâm linh tương thông, thấu hiểu được sứ mệnh hoằng pháp gian lao của Lư Quân Hoành Đài Trưởng trong kiếp sống này.

Tại sao Đài Trưởng lại ngày đêm tiêu hao nguyên khí và năng lượng của mình, bất chấp nguy cơ bị hiểu lầm, dùng thần thông vĩ đại để xem đồ đằng cho mọi người, khơi dậy chúng sinh tu tâm học Phật, nâng cao cảnh giới? Thời kỳ Mạt pháp, nhân tâm thật khó độ; có những lúc chúng ta có lòng tốt khuyên người bên cạnh "đừng sát sinh", "phải tin Bồ Tát" cũng rước lấy đủ lời chế giễu và gièm pha. Một người đi sâu vào Ngũ trược ác thế, dùng thần thông vĩ đại để cứu vớt những chúng sinh chìm trong tham - sân - si của thời Mạt pháp như Lư Đài Trưởng, làm sao có thể tránh khỏi những sự hiểu lầm và phỉ báng của thế gian? Đối mặt với những điều đó, Lư Đài Trưởng lại dang rộng vòng tay bao dung như biển cả, không tranh giành, không giận dữ, giữ vững "Vô sinh pháp nhẫn", như giẫm trên băng mỏng mà tiếp tục vô tư hoằng pháp. Mọi gian nan, thử thách từ thế giới bên ngoài đối với Lư Đài Trưởng sớm đã trở thành "Tăng thượng duyên" (duyên hỗ trợ tốt), bởi vì trong tâm ông đã không còn cái "Tiểu ngã". Điều thực sự khiến Lư Đài Trưởng đau lòng, xót xa, lo lắng tột cùng vì "giận sắt không thể thành thép", chỉ có thể là huệ mạng của những chúng sinh ngu si trong thời kỳ Mạt pháp không kịp cứu độ mà thôi. Có thể nói, Lư Đài Trưởng không chỉ dùng ngôn ngữ và văn tự để biên soạn nên «Bạch thoại Phật pháp», mà ông còn đang dùng chính sinh mệnh của mình để thực hành «Bạch thoại Phật pháp».

Mỗi người đều cần có đức tin, bởi vì trong nội tâm mỗi người đều có sự vẩn đục. Phật pháp thực sự đã giáo dục và thay đổi nội tâm chúng ta, giúp chúng ta trở thành một người có tu dưỡng, có đạo đức, có lương tâm trong xã hội. Tâm bệnh cần có tâm dược chữa, phương thuốc từ tâm ấy chính là Pháp môn Tâm Linh do Quán Thế Âm Bồ Tát truyền lại. Nếu như ngày càng có nhiều người xung quanh có thể nhìn rõ hậu quả từ những ý niệm mình giữ trong đầu, những lời mình nói ra, những hành vi mình làm; nhìn rõ sự vô thường của thế sự, quy luật nhân quả của vũ trụ, thì họ sẽ biết cách từ từ sửa đổi nội tâm và hành vi của chính mình. Học Phật tu tâm luôn là cuộc đấu tranh giữa lòng ích kỷ và sự vô tư, luôn là cuộc chiến giữa cái Tôi và tâm Bồ Đề, luôn là sự giằng xé giữa Tâm Phật và Tâm Ma. "Vạn pháp duy tâm tạo", mọi ngoại vật trên thế gian đều như mộng huyễn bào ảnh; chỉ cần chiến thắng được bản thân từ trong nội tâm, ta sẽ có được sự tự do và giải thoát. Khi giao tiếp giữa con người với con người, nếu trong tâm có thể giữ một phần giới luật, bớt đi một chút tham lam, ác ý, ích kỷ, tranh giành, chiếm đoạt, ngu si và sát lục; thêm một chút từ bi, cảm ân, thiện lương, hòa bình, trí tuệ và hồn nhiên; giúp đỡ lẫn nhau thay vì đối đầu thù địch, thì thế giới này sẽ trở nên hài hòa và tươi đẹp biết bao, môi trường tự nhiên của chúng ta cũng sẽ trở nên tươi đẹp và bền vững hơn. Pháp môn Tâm Linh của Quán Thế Âm Bồ Tát không chỉ cứu vớt sinh mạng và bệnh tật của vô số người, mà quan trọng hơn cả, nó đã giải cứu nội tâm và linh hồn của vô số người, giúp họ biết cách nâng tầm cảnh giới và khí chất của bản thân, trau dồi đạo đức tu dưỡng. Đây thực sự là công đức vô lượng bồi đắp cho trời đất chúng sinh, duy trì huệ mạng cho nhân loại!

Nhìn thấy những Phật tử tại Pháp hội - những người lẽ ra đang ở nhà vui chơi hưởng lạc, đang bôn ba lao lực vì công việc, đang chìm trong phiền não không lối thoát, đang tiếp tục vô minh tạo nghiệp - nay đã tạm thời buông bỏ cái Tôi, dành ra một khoảng không gian quang minh trong tâm hồn, không quản ngại vạn dặm xa xôi đến tham dự; nhìn thấy từng thước phim cảm động tại Pháp hội, khi mọi người đồng tâm hướng thiện, cùng nhau tu tâm học Phật, ngập tràn Pháp hỷ, thiên nhân tương ứng... tôi mới hiểu rằng, đây mới chính là tâm nguyện duy nhất của Lư Quân Hoành Đài Trưởng - một cụ già tuổi ngoài sáu mươi, dù muôn vàn gian nan vất vả, vẫn bán mạng ngược xuôi, xả thân nhẫn nhục chỉ để hoằng pháp cứu người. Bất giác tôi lại nhớ đến một câu nói của Lư Đài Trưởng tại Pháp hội: "Tôi có thể 'thế phát xuất gia', nhưng tôi muốn độ cho toàn bộ cư sĩ tại gia có duyên tu hành cho thật tốt rồi tôi mới xuất gia! Chỉ cần vì sự nghiệp hoằng pháp, bắt tôi làm gì tôi cũng cam lòng!". Đây là một tâm nguyện vô cùng mộc mạc của Đài Trưởng, kiếp này ông muốn quay lại để cứu độ và giáo hóa chúng ta - những đứa trẻ đã đánh mất đức tin và sự giáo dục giữa chốn hồng trần. Hãy để chúng ta có một thế giới nội tâm hòa bình hơn, một tương lai tươi sáng hơn, một xã hội nhân loại hài hòa hơn!

Nguyện cầu tinh thần Đại từ Đại bi của Quán Thế Âm Bồ Tát mãi mãi trụ thế, nguyện cầu Pháp môn Tâm Linh của Quán Thế Âm Bồ Tát mãi mãi lưu truyền ở thế gian! Trái tim của mọi Phật tử trên toàn thế giới đều đồng điệu cùng Ân sư Lư Quân Hoành Đài Trưởng; dù có phải trải qua bao nhiêu sóng gió, chông gai, trắc trở, cũng sẽ đem Phật pháp mang lại lợi ích cho chúng sinh này hoằng dương và lưu truyền mãi mãi, cam tâm tình nguyện, không oán không hối, vĩnh viễn không thối chuyển.

Nam mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quảng Đại Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ Tát

Nam mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quảng Đại Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ Tát

Nam mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quảng Đại Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ Tát

Quan Vân Tường

Chắp tay

2. Pháp môn Tâm Linh Quán Thế Âm Bồ Tát đã giúp tôi tái sinh

+

Các bạn thân mến, chúng ta luôn bận rộn với cuộc sống của riêng mình. Chúng ta tự nhận mình là một người tốt, làm việc thiện, làm tình nguyện viên, thậm chí phát tâm phục vụ trong chùa. Thế nhưng, khi chúng ta thường xuyên hành thiện, thậm chí phát tâm cống hiến cho cửa Phật, mà vẫn gặp phải những điều bất hạnh, hay nói cách khác là lúc nghiệp chướng hiện tiền, thì với tư cách là một Phật tử, rốt cuộc chúng ta phải đối mặt như thế nào?

1. Nghiệp chướng gõ cửa

Năm 2012, sau khi kết thúc hai năm bế quan tu hành, tôi phát tâm quay lại phục vụ tại chùa. Không lâu sau khi bắt đầu công việc, cơ thể tôi bắt đầu liên tục xuất hiện một số vấn đề; ban đầu là lòng bàn chân mọc mụn cóc (mắt cá chân), đau đớn khi đi lại suốt gần một tháng trời. Sau đó, tôi lại bị những cơn ho dữ dội hành hạ suốt ba tuần liền, đêm không sao ngủ yên giấc. Vào cuối tháng 8 năm 2012, mặc dù trước đó trong lúc làm việc tôi từng vô tình bị bong gân eo lưng, nhưng cơn đau lại trở nên kỳ lạ và vô cùng khó chịu. Tôi bắt đầu đánh mất tinh thần và thể lực vốn có, đành phải chuyển từ công việc toàn thời gian sang bán thời gian.

Và tất cả những điều này, tất cả những điều này... tôi vạn lần không thể ngờ được, lại là tín hiệu cảnh báo cho một đại nghiệp chướng sắp sửa hiện tiền.

2. Điềm báo xuất hiện

Lúc bấy giờ, tôi vốn đang làm biên tập viên tiếng Trung kiêm quản lý trang web. Vào khoảng tháng 6 hoặc tháng 7 năm 2012, người quản lý lúc đó có quan điểm bất đồng về phong cách viết tin tức của tôi. Thế là tôi liền nói với anh ấy rằng, tôi có linh cảm mình sẽ không thể phục vụ ở ngôi chùa này quá lâu nữa, tôi chỉ muốn chuyên tâm viết cho tốt các bản tin hoạt động của chùa. Lúc đó, linh cảm mách bảo tôi rằng tôi chỉ có thể phục vụ ở đây khoảng một năm, đến lúc đó sẽ có chuyện xảy ra khiến tôi phải nghỉ việc. Khi ấy, tôi hoàn toàn không ngờ đó lại là một tai họa ập đến, nên tôi cũng không quá bận tâm. Nào ngờ...

3. Mắc bệnh hiểm nghèo

Sau vài tháng tĩnh dưỡng, vào tháng 3 năm 2013, tôi chuyển lại làm việc toàn thời gian. Lúc đó, tôi tràn đầy hy vọng vào tương lai, tưởng rằng mình đã bình phục và có thể làm việc toàn thời gian như bao người khác. Thế nhưng ngay vào cuối tháng 3, khuôn mặt tôi đột nhiên sưng vù một cách kỳ lạ; qua lời chẩn đoán của bác sĩ Đông y, tôi đã mắc phải căn bệnh hiểm nghèo: rối loạn hệ miễn dịch. Thế là tôi không còn cách nào khác để tiếp tục làm việc; vào giữa tháng 4, tôi chuyển từ chùa về nhà chị gái để điều dưỡng cơ thể.

4. Sống không bằng chết

Từng có một vị pháp sư nói rằng căn bệnh hiểm nghèo này còn đáng sợ hơn cả ung thư, bởi vì nó sẽ xuất hiện các triệu chứng ở những bộ phận khác nhau trên cơ thể, khiến bạn đau đớn và không kịp trở tay. Một người họ hàng của đồng nghiệp chị gái tôi cũng từng mắc phải căn bệnh tương tự, và đã ra đi trong đau đớn tột cùng chỉ trong vòng nửa năm. Quả đúng như vậy, cơ thể tôi liên tiếp xuất hiện những vấn đề khác nhau: ở mắt, tai, đầu, chân tay, bàng quang, cơ thể phát sốt... Trong khoảng thời gian đó, lúc chân tôi đau đớn suốt gần một tháng, tôi chỉ có duy nhất một cảm giác: "Sống chính là đang chịu tội hình!!!". Mỗi buổi sáng, chỉ cần mở mắt ra và cử động nhẹ thôi là tôi đã đau thấu xương tủy. Lúc đó, tôi sụt cân nghiêm trọng, chỉ còn 33 kg, hình dáng đã không còn ra một con người nữa!

Đến lúc này, tôi nguyện buông bỏ tất cả mọi thứ!!!

Chính trong khoảnh khắc đau đớn tột cùng ấy, tôi mới chợt ngộ ra rằng: ngay cả mẹ tôi cũng không thể túc trực chăm sóc tôi 24/24 giờ được. Hóa ra trên thế giới này, chỉ có bản thân mình mới có thể cứu sống chính mình trong những giờ phút giày vò nhất; và cũng chỉ có mình mới biết cách làm thế nào để yêu thương bản thân nhất. Trừ khi tôi bị liệt nằm một chỗ, còn không thì chỉ có tự mình nhắc nhở mình uống thuốc đúng giờ, tự ăn uống và tự đi vệ sinh.

5. Trở về với Phật giáo

Trong những thời khắc đớn đau nhất, tôi thậm chí chẳng còn chút thể lực và tinh thần nào để tụng kinh nữa; tôi chỉ biết cầu xin Quán Thế Âm Bồ Tát cứu tôi, trong lòng không ngừng gào thét thánh hiệu của Ngài. Tôi rất đau khổ, tôi thực sự rất đau đớn; đây đích thị là địa ngục trần gian sống sờ sờ!!!

Thực ra, trong kiếp này tôi có nhân duyên rất sâu đậm với Phật giáo. Nhớ lại hồi còn nhỏ, gia cảnh khó khăn, một ngày nọ tôi đột nhiên cảm thán: "Nếu gia đình khá giả, chắc cuộc sống sẽ hạnh phúc hơn nhiều". Không lâu sau, tôi có một "Giấc mơ vàng". Nhiều năm sau, tôi nghe người ta nói rằng, hễ ai từng có giấc mơ vàng thì người đó có duyên với Phật. Trong giấc mơ ngập tràn sắc vàng ấy, dường như cả không khí cũng là màu vàng. Trong mơ, tôi trở về nhà. Gia đình tôi lại đang sống một cuộc sống giàu sang trong một ngôi nhà lớn. Tôi nhìn thấy bố mẹ và anh trai đang dùng bữa trong một căn bếp rộng thênh thang, mọi người không ai nói với ai lời nào, nhưng bầu không khí lại vô cùng bi ai. Trong giấc mơ, tôi đã lĩnh ngộ được rằng: "Tiền bạc không thể mua được hạnh phúc!".

Kể từ đó, con đường tôi đi không còn giống với người khác nữa. Sau khi tốt nghiệp đại học, các bạn học đều lao vào xã hội, tích cực làm việc kiếm tiền; vài năm sau họ đều tậu xe, mua nhà, có khoản tiền tiết kiệm kha khá trong ngân hàng. Còn tôi lại chọn thi vào Học viện Phật giáo, bởi vì tôi muốn tìm kiếm hạnh phúc đích thực. Ban đầu, tôi theo học một hai năm tại Học viện Phật giáo Đông Thiền ở Malaysia, sau đó sang Đài Loan theo học bốn năm tại Học viện Tùng Lâm Phật Quang Sơn. Thậm chí sau khi tốt nghiệp học viện và chính thức bước vào con đường làm việc, tôi vẫn chẳng có chút hứng thú nào với việc mua nhà, sắm xe. Đối với tôi, vật chất không thể mua được hạnh phúc thực sự.

Thế nhưng, khi tôi mắc phải căn bệnh hiểm nghèo, tôi không biết có cách nào khác để giúp mình. Ngoại trừ việc chữa trị kịp thời và cho bản thân nghỉ ngơi nhiều hơn, tôi không còn phương pháp nào khác để giảm bớt sự đau đớn; tôi chỉ có thể cầu xin Quán Thế Âm Bồ Tát cứu tôi.

Hóa ra, khi nghiệp chướng hiện tiền, mọi thứ khác đều không thể giúp được tôi, chỉ có Phật giáo! Bởi vì Phật giáo có pháp môn tiêu trừ nghiệp chướng!!!

6. Tin vui bay đến

Vào tháng 5 năm 2013, một ngày nọ mẹ tôi đang thái rau trong bếp. Lúc đó, tôi đột nhiên nảy ra một ý nghĩ, liền nói ngay với mẹ: "Tháng 10 sẽ có chuyện vui xảy ra đấy mẹ ạ!". Mẹ tôi sững người, ngừng tay thái rau, hỏi tôi: "Con sắp kết hôn à?". Nghe mẹ thắc mắc, tôi ngược lại khựng lại một lúc, sau khi sửa soạn lại mớ suy nghĩ trong đầu, tôi vội vàng giải thích với mẹ rằng, chắc chắn là có việc tốt xảy ra thôi! Khi đó, đây chỉ là một linh cảm, tôi không thể biết chắc chuyện tốt gì sẽ đến, nhưng tôi đoán chừng có lẽ liên quan đến việc bệnh tình thuyên giảm.

Trước tháng 10, cơ thể tôi vẫn lúc tốt lúc xấu, luôn xảy ra những vấn đề khác nhau; đặc biệt là chân, đầu và tai liên tục gặp chuyện, khiến tôi vô cùng khổ sở.

Điều kỳ diệu là, khi bước sang tháng 10, vấn đề ở đầu dần dần biến mất, tình trạng ở chân cũng bắt đầu cải thiện. Tôi bắt đầu hồi phục lại thể lực và tinh thần. Cân nặng cũng dần tăng trở lại!

Đúng lúc này, mẹ tôi một cách đầy kỳ lạ mang về từ cửa hàng thực phẩm hữu cơ những cuốn sách về cách tiêu trừ nghiệp chướng của Phật giáo; đó chính là những cuốn sách của Pháp môn Tâm Linh, đề xướng việc tụng kinh, phóng sinh và phát nguyện để tiêu trừ nghiệp chướng. Mẹ kể rằng, mẹ từng đến cửa hàng hữu cơ đó mấy lần, thậm chí trước đây chủ cửa hàng cũng từng giới thiệu những cuốn sách này, nhưng mẹ lại không có hứng thú đọc. Nào ngờ, vào đầu tháng 10, dường như có một sức mạnh vô hình nào đó xui khiến, khi ghé lại cửa hàng quen thuộc, mẹ lại chủ động xin những cuốn sách này và mang về cho tôi đọc. Bản thân mẹ lúc đó cũng cảm thấy rất bất ngờ!

7. Trái chủ hiện hình

Trong sách có viết, con người có hai loại bệnh: một loại là bệnh nhục thể mà bác sĩ có thể chữa khỏi, loại còn lại là bệnh tâm linh mà y học hiện đại đành bó tay vô sách.

Trong Phật giáo, những câu chuyện có thật về việc linh tính hiện hình thành bệnh tật là hoàn toàn tồn tại, điều này không hề dối trá.

Thời nhà Đường, có một vị cao tăng tên là Ngộ Đạt Quốc Sư. Một ngày nọ, trên đầu gối của Ngộ Đạt Quốc Sư đột nhiên mọc ra một cái mụn nhọt hình mặt người (Nhân diện sang), có đủ cả lông mày, mắt, miệng, răng; mỗi lần lấy thức ăn đút cho nó, nó đều có thể mở miệng nuốt thức ăn giống hệt như người. Ngài đã mời danh y khắp nơi đến chữa trị nhưng thảy đều bó tay. Một vị kỳ tăng đã khuyên Ngài dùng nước suối rửa thì sẽ khỏi. Khi Ngộ Đạt Quốc Sư đến bên dòng suối trong, vừa định vốc nước lên rửa, thì đột nhiên nghe thấy cái mụn nhọt mặt người kia mở miệng hét lớn: "Ngài hãy khoan rửa! Kiến thức của Ngài vô cùng uyên bác, thông đạt kim cổ, nhưng không biết Ngài đã từng đọc câu chuyện về Viên Áng và Tiều Thố trong sách Tây Hán chưa?".

Mụn mặt người nói tiếp: "Ngài đã đọc rồi, cớ sao lại không biết chuyện Viên Áng giết Tiều Thố! Tiền kiếp của Ngài chính là Viên Áng, còn Tiều Thố chính là ta. Năm xưa chỉ vì Ngài dâng lời sàm tấu lên Hoàng đế mà hại ta bị xử trảm ngang lưng ở Đông Sơn; mối thù sâu như biển này, ta đã đợi bao đời bao kiếp để tìm cơ hội báo thù. Nhưng vì suốt mười kiếp nay, Ngài luôn là một vị cao tăng, giữ gìn giới luật vô cùng nghiêm ngặt, nên ta không có cơ hội báo oán. Lần này vì Ngài nhận được ân sủng quá mức của Hoàng thượng, khởi sinh tâm danh lợi, đức hạnh bị sứt mẻ, nên ta mới có thể tiếp cận Ngài để báo thù. Nay đã được Ca Nặc Ca Tôn giả (hóa thân thành vị kỳ tăng) ban cho nước pháp Tam muội để giúp ta giải thoát, thì túc oán giữa chúng ta cũng coi như kết thúc tại đây!".

Thực ra tôi không hề có âm dương nhãn, trong cuộc sống đời thực tôi cũng không thường xuyên nhìn thấy linh tính; nhưng cứ mỗi khi bệnh tình trở nặng, tôi lại nhìn thấy những linh tính này. Những linh tính bám trên người tôi, có một số là do vô tình rước lấy từ bên ngoài, nhưng đa phần là linh tính của những người tôi từng làm tổn thương trong quá khứ.

Vào một đêm trong khoảng thời gian eo lưng bị đau kỳ lạ hồi tháng 9 năm 2012, khi đang nằm trên giường, tôi nhìn thấy bên cạnh mình có hai linh tính nữ khỏa thân. Sau khi tôi siêu độ cho họ trong Pháp hội và tự mình tụng kinh, chứng đau lưng dần thuyên giảm, thể lực và tinh thần cũng từ từ hồi phục.

Trong sách cũng nhắc đến việc, nếu mơ thấy những con vật nhỏ cắn mình với ác ý, điều đó báo hiệu sắp có rắc rối xảy ra. Trong trận ốm thập tử nhất sinh lần này, điều khiến tôi đau khổ và giày vò nhất chính là chứng đau chân. Khoảng một tuần trước khi chân bắt đầu đau, tôi mơ thấy mình bị một con báo đen cắn vào phía sau đầu gối chân phải; trong mơ tôi hoảng hốt kêu gào thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát cầu cứu, sau đó liền tỉnh giấc. Rạng sáng ngày 23 tháng 8 năm 2013, trong trạng thái nửa mê nửa tỉnh, tôi biết rất rõ mình đang nằm trên giường, vậy mà tôi lại cảm ứng được có một linh tính nào đó đang trú ngụ trong chân phải của mình; lúc đó tôi còn tự nhủ với bản thân: "Hãy xin người đó xuống đi".

Trong quá khứ, mỗi lần bị linh tính quấn thân, tôi đều vội vã nhờ người làm pháp sự siêu độ cho họ. Bản thân tôi không thực sự biết cách làm sao để siêu độ cho họ. Nhưng nếu không phải vào tháng 4 âm lịch (Tết Thanh Minh) và tháng 7 âm lịch (lễ Vu Lan), thì các chùa không tổ chức pháp hội siêu độ. Dù lúc đó bản thân tôi cũng có tụng Tâm Kinh hồi hướng công đức cho họ, nhưng rốt cuộc phải tụng những kinh điển nào và số lượng bao nhiêu biến mới có thể siêu độ được họ, thì tôi hoàn toàn mù tịt. Tôi lại càng không biết rằng mỗi người đều có thể tự siêu độ cho linh tính trên người mình, bao gồm cả người thân đã khuất của mình.

Giờ đây, thông qua Pháp môn Tâm Linh, tôi đã học được cách làm thế nào dùng "Ngôi nhà nhỏ" để siêu độ cho họ.

8. Nhân quả báo ứng không sai một ly

Thực ra, tôi đã bắt đầu tiếp xúc với những cuốn sách này từ tháng 10 năm ngoái. Lúc đó tôi cũng có học theo pháp môn này, tích cực tụng kinh và phóng sinh; sau đó sức khỏe quả thực đã dần hồi phục, nên đến tháng 3 năm 2013, tôi có thể chuyển từ làm việc bán thời gian trở lại làm toàn thời gian. Thế nhưng, trong lúc cơ thể đang dần tốt lên, thái độ tụng kinh của tôi lại bắt đầu lơ là, không còn tích cực như trước nữa. Nào ngờ, đến cuối tháng 3 tôi vẫn không trốn khỏi đại nghiệp chướng hiện tiền; cả người suy sụp, không thể nào làm việc được nữa!

Vào tháng 10, khi thể lực hồi phục, tôi bắt đầu nhớ lại những bệnh tật, đau đớn mà mình đã phải gánh chịu trong kiếp này.

Về mặt nhân quả, Phật giáo cho rằng những người kiếp này nhiều bệnh tật, là do kiếp trước tạo nghiệp sát sinh nặng nề. Tôi bắt đầu nhớ lại, trong thời gian bế quan, tâm nhãn của tôi từng nhìn thấy mình ở một kiếp nào đó là một nữ chiến binh trong thời kỳ Cách mạng Pháp. Tôi thậm chí khi đó còn vô tình gặp lại người chiến binh nam từng kề vai sát cánh và hy sinh cùng tôi trong tiền kiếp. Đối phương kiếp này là một nghệ sĩ người phương Tây ngoài 60 tuổi, đang sống tại Melbourne, Úc. Người này từ nhỏ đã có khả năng giao tiếp với các thiên thần và sở hữu một số dị năng. Dù vậy, ông ấy vẫn bị không ít bệnh vặt quấn thân, đặc biệt là hệ hô hấp rất kém. Chao ôi, kiếp trước ra trận phạm phải nghiệp sát sinh, kiếp này dù có dị năng, dù không phải là Phật tử, thì nhục thể vẫn cứ phải gánh chịu quả báo của nghiệp sát sinh!!! Nhân quả ba đời là quy luật của vũ trụ; dù ban đầu Đức Phật có phát hiện ra hay không, thì quy luật này vốn dĩ đã luôn tồn tại ở nhân gian!

Cho dù bạn có phải là Phật tử hay không, hoặc bạn có đức tin nào khác đi chăng nữa, không ai có thể thoát khỏi nhân quả ba đời; tiền kiếp là hoàn toàn tồn tại thực sự!

Tôi lại nhìn lại bản thân mình: trong số các thành viên gia đình, tôi là người có sức khỏe yếu nhất. Hồi nhỏ, tôi thường xuyên ốm đau. Đáng sợ hơn là, khi còn ở tuổi thiếu niên, tôi thường xuyên bị linh tính quấn thân, ban đêm không sao ngủ yên giấc; thậm chí lúc đó tôi còn rất sợ phải đi ngủ. Sau này, khi học Phật, biết được tụng kinh có thể tránh được những quấy nhiễu này, tôi mới dần không còn cảm thấy sợ hãi linh tính nữa. Khi gặp phải linh tính trong cuộc sống, tôi sẽ thông qua việc tụng kinh hồi hướng công đức cho họ và làm pháp hội siêu độ cho họ; và họ quả thực không còn quấy nhiễu tôi nữa. Thực chất, rất có khả năng những linh tính này chính là "trái chủ" (chủ nợ) từ kiếp trước của tôi; việc họ quấn lấy tôi chính là đang phát ra tín hiệu cảnh báo. Vì vậy, tụng kinh quả thực có sức mạnh của nó, nó có thể tiêu trừ nghiệp chướng của chúng ta!

Ngoài ra, kể từ lần có kinh nguyệt đầu tiên, từ đó mỗi tháng tôi đều phải trải qua những cơn đau bụng kinh, tính đến nay đã hơn 20 năm. Hệ hô hấp của tôi cũng không tốt; khi thời tiết trở lạnh, rất dễ bị ho và ho rất dữ dội. Giờ đây, tôi lại mắc phải căn bệnh hiểm nghèo.

Cho dù tôi phát tâm quay lại cửa Phật để phục vụ, cho dù tôi mỗi tháng đều bố thí quyên góp tiền... Quá khứ đã gieo nhân, kiếp này ắt gặt quả; đây là điều không thể nào trốn tránh được!!!

Đức Phật từng có vị đệ tử đệ nhất thần thông là Mục Kiều Liên, ngài cũng không thể đảo ngược được sức mạnh của nghiệp báo. Mặc dù thần thông quảng đại, bay lượn tự tại, từng thâm nhập xuống tận địa ngục để cứu mẹ; nhưng cuối cùng ngài vẫn bị ngoại đạo dùng đá ném chết. Lúc bấy giờ, Đức Phật đã bảo với các đệ tử đang mang lòng hoài nghi rằng: "Thần thông không đọ lại được với Nghiệp lực. Nghiệp báo của Mục Kiều Liên đã định sẵn là phải bị ngoại đạo đánh chết. Các vị đừng nghi ngờ sự vô dụng của thần thông, mà nên chuyên tâm vào công phu thanh lọc Tam nghiệp".

Tôi cuối cùng đã ngộ ra vì sao kiếp này mình lại mang nhiều bệnh nghiệp đến vậy! Căn bệnh hiểm nghèo này vốn dĩ trong cõi u minh đã được định sẵn rồi. Điềm báo lúc đó của tôi là thật; quả đúng là sau khi phục vụ ở chùa được một năm, tôi đã phải nghỉ việc vì bạo bệnh. Tôi chính là phải gánh chịu quả báo sát sinh kéo dài suốt nửa năm trời! Cộng thêm việc kiếp này từ nhỏ cơ thể đã ốm yếu, nhân quả quả thực không sai một ly!

9. "Chuyện vui" rốt cuộc là gì?

Đến tháng 10, tôi cuối cùng đã hiểu vì sao lúc đầu tôi lại miêu tả đó là chuyện vui. Một là, cơ thể dần bình phục; hai là, vì bệnh tật, tôi đã buông bỏ được những vướng bận tình cảm; ba là, tôi đã quay trở lại với Phật giáo, không còn thối chuyển nữa. Hơn thế nữa, tôi đã tìm được phương pháp tu trì thực sự phù hợp với mình trong kiếp này, đó chính là Pháp môn Tâm Linh của Quán Âm Bồ Tát!

 

Từ tháng 10, tôi bắt đầu dựa theo phương pháp của Pháp môn Tâm Linh để tiêu trừ nghiệp chướng. Tôi tích cực tụng kinh, phóng sinh và phát nguyện. Mỗi ngày tôi dành khoảng 2 tiếng để làm công khóa tu trì; tự mình hoàn thành ít nhất một tờ "Ngôi nhà nhỏ" mỗi ngày; bản thân cũng đảnh lễ Quán Âm Bồ Tát hằng ngày, cầu xin sám hối, mong cho bệnh tật tiêu trừ. (Chú thích: "Ngôi nhà nhỏ" là một tổ hợp kinh văn, trong đó bao gồm 27 biến Đại Bi Chú, 49 biến Tâm Kinh, 84 biến Vãng Sinh Chú, 87 biến Thất Phật Diệt Tội Chân Ngôn).

 

Tôi nhớ lại vài năm trước, vì tham gia khóa thiền Vipassana 10 ngày nên tôi lần đầu tiên đến Úc. Vừa đặt chân đến Sydney, tôi đã cảm thấy vô cùng thân thuộc; nhìn thấy bất kỳ người phương Tây nào trên phố cũng đều thấy rất vui vẻ, có cảm giác như được trở về nhà. Lúc đó, tôi còn tưởng không biết có phải mình có duyên với người phương Tây hay không. Thế nhưng, khi đến Bờ Biển Vàng (Gold Coast), cảm giác này lại biến mất. Khi đó, tôi cũng chẳng bận tâm tìm hiểu vì sao lại có những cảm giác khác nhau như vậy. Lần này, sau khi học theo Pháp môn Tâm Linh Quán Thế Âm Bồ Tát do Lư Đài Trưởng truyền dạy; qua quá trình dần dần thấu hiểu pháp môn này, tôi mới phát hiện ra hóa ra Lư Đài Trưởng đang sống ở Sydney. Bí mật không lời giải đáp năm xưa cuối cùng cũng được hé lộ: Tôi có duyên với Lư Đài Trưởng và pháp môn này!

10. Bừng tỉnh đại ngộ

Tôi biết có một số người không hiểu về Pháp môn Tâm Linh; nhưng bản thân tôi quả thực nhờ có pháp môn này mà căn bệnh hiểm nghèo dần dần thuyên giảm!

Cho dù Pháp môn Tâm Linh không xuất hiện, thì ba pháp bảo của Phật giáo: Tụng kinh, Phóng sinh và Phát nguyện vốn dĩ đã có thể tiêu trừ được nghiệp chướng của một con người! Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là, Pháp môn Tâm Linh dạy mọi người cách làm thế nào thông qua phương pháp tụng kinh chính xác, nhanh chóng để siêu độ linh tính trên cơ thể nhằm đạt được sức khỏe thể chất; thúc đẩy những kỳ tích xuất hiện trên cơ thể những người bị linh tính quấy nhiễu sinh ra bệnh tật, cùng với rất nhiều sự cảm ứng từ Quán Âm Bồ Tát!

Từ các tài liệu của Pháp môn Tâm Linh, tôi đã thấu hiểu sâu sắc cách mà ba pháp bảo của Phật giáo (Tụng kinh, Phóng sinh và Phát nguyện) giúp con người tiêu trừ nghiệp chướng và thay đổi vận mệnh của chúng ta như thế nào:

Khi bệnh nghiệp hiện tiền, tôi nên tụng kinh gì và tụng bao nhiêu biến. Hóa ra công dụng của mỗi loại kinh đều khác nhau!

Nghiệp chướng của một người được tiêu trừ như thế nào. Trong các cuốn sách của Pháp môn Tâm Linh, có nhắc đến việc nghiệp chướng (Khí đen) trên cơ thể con người đã hiện hữu ngay từ lúc mới sinh ra như thế nào; tôi đã biết được rất nhiều chuyện mà trước đây không hề biết. Thường nghe câu "Vạn thứ chẳng mang theo, chỉ có Nghiệp theo mình", nhưng trước đây không thực sự hiểu rõ; qua Pháp môn Tâm Linh, tôi mới ngộ ra rằng khi một người vừa mới chào đời, trên cơ thể quả thực chỉ có sự hiện diện của nghiệp chướng, chẳng qua phàm phu chúng ta không nhìn thấy được mà thôi.

Những trở ngại khác trong đời người như: đối mặt với oan kết từ người khác, sự nghiệp không thuận lợi, người nhà không tin Phật, con cái học hành sút kém, trục trặc hôn nhân... hóa ra đều có thể hóa giải thông qua việc tụng kinh, phóng sinh và phát nguyện.

Minh chứng linh nghiệm của Pháp môn Tâm Linh

I. Bệnh tật thuyên giảm

Sắc mặt hồng hào: Sau khi bắt đầu nghiêm túc học Pháp môn Tâm Linh từ tháng 10, sắc mặt tôi bắt đầu hồng hào trở lại.

Cân nặng phục hồi: Trong thời gian bạo bệnh tôi đã sụt mất 5 kg, giờ đây cân nặng đã khôi phục lại bình thường.

Giảm đau bụng kinh: Trong giai đoạn bệnh trở nặng (tháng 4 đến tháng 8 năm 2013), kinh nguyệt hoàn toàn bất thường, lượng kinh cực kỳ ít. Bắt đầu từ tháng 9 năm 2013, kinh nguyệt khôi phục lại bình thường. Tình trạng đau bụng kinh hàng tháng cũng được cải thiện.

Đau khớp tay chân: Khoảng 2 năm trước, tôi phát hiện các khớp xương ở tay chân thỉnh thoảng lại đau nhức một cách khó hiểu; đặc biệt khó chịu nhất là các khớp tay đôi khi sưng đau đến mức cả bàn tay không làm được việc gì. Sau khi đốt 10 tờ Ngôi nhà nhỏ cho các khớp xương tay chân, tình trạng sưng đau đã thuyên giảm; mặc dù chưa khỏi hoàn toàn, nhưng ít ra cũng không còn đau đớn dữ dội như trước nữa.

 

Đau đầu gối: Mặt trong đầu gối chân phải hay bị đau; sau khi tụng 10 tờ Ngôi nhà nhỏ, qua ngày hôm sau đã thuyên giảm rất nhiều, dần dần cũng không còn đau nữa. Từ đầu tháng 10, tôi có cảm giác gân ở đầu gối hai chân rất căng cứng; khi đứng lên hay ngồi xuống đều thấy hơi nhói đau. Khoảng giữa tháng 11, cơn đau ở đầu gối bỗng nhiên tan biến một cách kỳ lạ, đi lại vô cùng nhẹ nhõm.

Ho, cảm lạnh: Bắt đầu từ tháng 7 tôi bị ho và cảm lạnh, bệnh tình cứ dây dưa mãi đến tháng 12; trong khoảng thời gian đó lúc tốt lúc xấu, đi bác sĩ cũng chẳng ăn thua. Từ tháng 7, tôi phát hiện trên mặt mình có những "Tán linh" (linh tính nhỏ lẻ) đang di chuyển trên đôi gò má; chắc là những loại côn trùng như kiến, gián mà tôi từng vô ý sát hại trong quá khứ; tôi cũng chẳng biết tại sao mình lại có thể nhìn thấy những tán linh này. Ở giai đoạn đầu, cứ mỗi một tiếng đồng hồ, cho dù đang mở mắt, tôi đều nhìn thấy những tán linh này chạy lăng xăng trên mặt, hơn nữa số lượng lại rất nhiều. Từ tháng 10, khi bắt đầu tụng 49 biến Vãng Sinh Chú mỗi ngày, đến tháng 12 tôi phát hiện tần suất xuất hiện của những tán linh này đã giảm dần, và số lượng của chúng cũng ít đi. Tiếp đó, dù chưa hoàn toàn khỏi hẳn, nhưng chứng cảm lạnh đã được cải thiện, không còn chảy nhiều nước mũi nữa.

Khôi phục việc lạy Phật: Sau khi bị bong gân eo lưng vào năm 2012, tôi cố gắng hạn chế cúi người làm việc nhà, và đặc biệt tránh việc lạy Phật quá mức, bởi vì tôi cảm thấy hai đầu gối không được thoải mái. Giờ đây, sau tháng 10, ngày nào tôi cũng lạy Phật.

U nang buồng trứng giảm đi một nửa: Khi đến tái khám tại bệnh viện phụ khoa; vào thời điểm tháng 3 và tháng 7, u nang buồng trứng bên trái của tôi đo được là 4cm. Thế nhưng, kết quả kiểm tra vào tháng 11 lại chỉ còn 2cm; thực chất trong suốt khoảng thời gian đó tôi không hề dùng bất kỳ loại thuốc điều trị nào.

Dứt điểm đau thắt dây thần kinh đùi phải: Tối ngày 2 tháng 12 năm 2013, sau khi lạy Quán Thế Âm Bồ Tát cầu xin cho việc phóng sinh ngày hôm sau được suôn sẻ, tôi phát hiện dây thần kinh ở đùi phải có cảm giác hơi nhói đau. Lúc đó, tôi cũng không quá bận tâm. Sáng hôm sau, khi đi lại tôi vẫn thấy đau; điều kỳ lạ là, khi tôi ho, đùi phải cũng bị nhói đau theo. Vì sáng hôm đó là ngày phóng sinh, tức là các sư tỷ ở Đại lục sẽ giúp tôi phóng sinh tại Thượng Hải; thế nên tôi đứng trước bàn thờ Phật tụng khoảng 1 tiếng đồng hồ chú Đại Bi. Tiếp đó, sau khi tắm xong, tôi thấy cả người gần như tê liệt, tinh thần rất kém, cơ thể yếu ớt rã rời; tôi buộc phải nằm xuống giường nghỉ ngơi, cơ thể vô cùng khó chịu, đùi phải liên tục truyền đến những cơn đau từng đợt; đến nỗi nằm trên giường, tôi không ngừng hét to thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, cầu xin Bồ Tát cứu tôi. Trong lòng tôi thầm nghĩ, rốt cuộc mình đã làm sai điều gì? Chẳng phải hôm nay mình phóng sinh số lượng lớn sao? Lẽ nào quá trình phóng sinh không được suôn sẻ?

Sau khi ngủ dậy, tôi thấy đỡ hơn một chút, nhưng vẫn còn đau. Tôi nghĩ đến việc dùng Ngôi nhà nhỏ để tiêu trừ bệnh tật; thế là dùng xong bữa trưa, tôi liền phát nguyện với Bồ Tát ngày mai sẽ đốt 2 tờ Ngôi nhà nhỏ cho đùi phải. Sau đó, một sư tỷ để lại lời nhắn trên mạng rằng, buổi phóng sinh vô cùng thù thắng; tôi càng cảm thấy thật khó tin.

Sáng mùng 4, tôi đốt 2 tờ Ngôi nhà nhỏ. Cả ngày hôm đó, cơn đau đã thuyên giảm. Sáng mùng 5, tôi phát hiện dây thần kinh ở đùi phải không còn đau chút nào nữa.

II. Cầu việc suôn sẻ

Khám bệnh suôn sẻ: Ngày 11 tháng 11 là buổi sáng tôi phải đến bệnh viện phụ khoa để tái khám. Làm theo phương pháp của Pháp môn Tâm Linh, tôi tụng kinh cầu xin Bồ Tát phù hộ, hy vọng việc khám bệnh ngày hôm sau của tôi được suôn sẻ, thuận lợi và nhanh chóng hoàn tất. Hơn 7 giờ sáng đến nơi xếp hàng, tôi đã thấy rất nhiều người đứng đợi sẵn; tôi xếp thứ khoảng 7 hoặc 8 gì đó, bụng bảo dạ lát nữa chắc phải đợi lâu lắm đây.

Thực ra tôi đã đến bệnh viện này rất nhiều lần rồi; 8 giờ sáng mới có thể lấy số thứ tự khám bệnh, nhưng thời gian bắt đầu khám lại là 9 giờ, vì bác sĩ phải đi vòng quanh các phòng bệnh kiểm tra trước. Điều đáng ngạc nhiên là, vị bác sĩ hôm đó lại bắt đầu khám cho bệnh nhân ngay từ 8 giờ; và tôi đã hoàn tất việc khám bệnh vào hơn 9 giờ sáng. Theo kinh nghiệm trước đây, nhanh nhất cũng phải hơn 10 giờ sáng mới xong; thậm chí có lần tôi phải đợi đến hơn 11 giờ.

Ngoài ra, khi siêu âm ổ bụng, 2 nhân viên phụ trách siêu âm hoàn toàn không phát hiện ra khối u nang buồng trứng trước đó; ban đầu họ định quay lại phòng bệnh tìm bác sĩ, nếu thực sự như vậy thì chứng tỏ kết quả siêu âm không rõ ràng. Nào ngờ, một nữ bác sĩ đột nhiên bước vào phòng siêu âm chuyên dụng, đích thân kiểm tra cho tôi, và cuối cùng đã tìm thấy khối u nang này; bà ấy nói với tôi rằng, vì khối u nang 2cm này quá nhỏ nên không dễ gì phát hiện ra.

Bồ Tát hiển linh phù hộ á! Kinh văn đã tụng thật sự linh nghiệm, giúp tôi khám bệnh vô cùng suôn sẻ; cảm ân phương pháp của Pháp môn Tâm Linh!

Tìm người phóng sinh: Bản thân tôi luôn cảm thấy số lượng phóng sinh của mình chưa được nhiều; sống ở đảo Penang (Malaysia) lại càng khó tìm được địa điểm thích hợp để phóng sinh số lượng lớn. Thế nên tôi muốn tìm một vị sư huynh ở Đại lục giúp tôi phóng sinh một số lượng lớn, tức 500 con cá. Tôi bèn mỗi ngày tụng 49 biến Chuẩn Đề Thần Chú, cầu xin có thể tìm được người giúp đỡ. Một tuần sau, vào ngày 27 tháng 11 năm 2013, tôi để lại bình luận trên mạng của một vị đồng tu, bày tỏ mong muốn có người giúp tôi phóng sinh. Ngay trong ngày hôm đó, một sư tỷ ở Thượng Hải đã để lại bình luận nói rằng có thể giúp tôi. Quả đúng là Bồ Tát phù hộ! Nhân đây, con xin cảm ân các sư tỷ ở Thượng Hải đã vô tư giúp con phóng sinh, công đức vô lượng!

Giải quyết công việc hanh thông: Ngày 10 tháng 12 năm 2013, tôi phải đến ngân hàng giải quyết một số việc, sau đó cần đến miếu tạ lễ Thần minh để trả lễ. Vài ngày trước đó, tôi đã bắt đầu mỗi ngày tụng 7 biến Tâm Kinh và 49 biến Chuẩn Đề Thần Chú để cầu mong mọi việc hôm đó được hanh thông.

Ngày hôm đó, chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ, tôi đã giải quyết xong xuôi mọi thủ tục ở ngân hàng. Thêm vào đó, do tạm thời không thể phơi mình dưới ánh nắng gay gắt, mà quá trình tạ lễ chắc chắn sẽ phải hoạt động ngoài trời; nhưng nhờ sáng hôm đó có một trận mưa rào, nên cả một ngày hôm đó trời hoàn toàn dịu mát, không hề có nắng gắt. Trái ngược hoàn toàn với ngày hôm trước (mùng 9) và ngày hôm sau (mùng 11), ánh nắng chói chang, ban ngày vô cùng oi bức. Quả là Bồ Tát phù hộ độ trì!

Cầu phóng sinh hiển linh: Vào hai ngày mùng 3 và 19 tháng 12, tôi đã nhờ sư tỷ ở Thượng Hải phóng sinh tổng cộng 1.000 con cá lóc (cá quả). Ngày mùng 3 tháng 12 hôm đó, Điềm lành xuất hiện là hình ảnh đóa hoa sen hiện lên trên mặt sông. Ngày phóng sinh 19 tháng 12 Điềm lành là bầu trời xuất hiện những vệt sáng vàng (Kim quang).

Cảm ứng tu trì

Kể từ khi học Pháp môn Tâm Linh vào tháng 10 năm 2013, tôi đã bắt đầu một hành trình vừa kinh hãi vừa đầy lòng biết ơn: liên tục trả nợ và không ngừng tiêu trừ nghiệp chướng! Một số nghiệp chướng trên cơ thể bắt đầu bộc phát, hóa thành những cơn đau nhức khó chịu; những người thân quá cố hoặc những chủ nợ (Oan gia trái chủ) dần dần xuất hiện trong giấc mơ để đòi kinh; và điều đáng biết ơn là, Bồ Tát cũng báo mộng cho tôi những cảm ứng cát tường, tiếp thêm động lực để tôi tiếp tục tinh tiến tu trì pháp môn này.

Trong quá trình trả nợ này, "Tâm niệm" và thái độ là vô cùng quan trọng; tôi rèn luyện thói quen mỗi ngày đều giữ những suy nghĩ thiện lành, đặt Quán Thế Âm Bồ Tát và chúng sinh trong tâm. Mỗi ngày đều khởi sinh Tâm cảm ân, Tâm tàm quý (Xấu hổ, hổ thẹn) và phát nguyện tiêu trừ nghiệp chướng, rộng độ chúng sinh. Mỗi buổi sáng, cứ nghĩ đến việc phải tụng kinh là tôi không dám ngủ nướng thêm phút nào. Có đôi khi, đặc biệt là lúc phát nguyện đốt bao nhiêu tờ Ngôi nhà nhỏ cho các Vong linh đòi nợ, bệnh tình sẽ đột nhiên trở nặng. Tôi biết là các Vong linh đang rất sốt ruột cần kinh, nhưng tôi cũng hết cách, bởi vì tôi còn phải đảm bảo chất lượng của việc tụng kinh; tôi không thể vì muốn nhanh, chỉ làm cho có lệ mà tụng Ngôi nhà nhỏ một cách cẩu thả được. Lúc này đây, tâm niệm từ bi là vô cùng quan trọng; ngay cả trong lúc bệnh tình trở nặng, cơ thể đau đớn khó chịu, tôi vẫn luôn tự nhắc nhở bản thân: Dù thế nào cũng không được nảy sinh lòng Sân hận (Tức giận) đối với các Vong linh đòi nợ, vì trong quá khứ chính tôi đã làm điều có lỗi với họ. Tôi không muốn tiếp tục kết ác duyên với chúng sinh nữa. Tôi không muốn tiếp tục tạo ác nghiệp, tôi không muốn luân hồi nữa, tôi muốn được về nhà!

Trong quá trình tụng kinh, tôi thường xuyên cảm thấy ngứa ran ở giữa hai lông mày - vị trí của "Con mắt thứ ba". Đôi khi, đang nhìn kinh văn để tụng, hễ chớp mắt một cái là tôi lại nhìn thấy một vầng sáng trắng hình tròn lướt qua trên mặt kinh văn rồi chớp nhoáng biến mất. Tôi cũng chẳng biết đó là gì. Lúc đốt Ngôi nhà nhỏ, giống như trải nghiệm chung của nhiều đồng tu khác, tôi thực sự nhìn thấy những tia sáng vàng rực rỡ lóe lên trên những tờ Ngôi nhà nhỏ đang cháy! Những điều này thảy đều là sự gia trì và cảm ứng của Bồ Tát; thật sự vô cùng biết ơn á! Một kẻ dơ bẩn như một tấm giẻ lau như tôi, kiếp này đã làm biết bao chuyện sai trái, đôi khi vẫn còn nảy sinh những tạp niệm xấu xa, vậy mà Bồ Tát lại không hề ghét bỏ tôi!

Ngoài ra, tôi cũng phát hiện ra rằng, chỉ cần bắt đầu học pháp môn này, bản thân sẽ lờ mờ hiểu được những thông điệp muốn truyền tải trong giấc mơ. Tính đến nay, tôi đã tụng được khoảng 158 tờ Ngôi nhà nhỏ.

Phóng sinh ngày vía Phật A Di Đà (19 tháng 12) xuất hiện điềm lành: 8 giờ sáng ngày hôm đó, tôi lại nhờ sư tỷ ở Thượng Hải giúp phóng sinh 500 con cá lóc. Ông chủ bán cá lại cung cấp 508 con cá nhưng chỉ tính tiền 500 con; thật sự cảm ân! Sau đó, sư tỷ báo lại với tôi rằng, trong suốt thời gian phóng sinh, bầu trời hiện lên những luồng sáng vàng, mặt trời quay xung quanh những đám mây, và tất cả mọi người đều được tắm mình trong thứ ánh sáng vàng rực rỡ đó. Lúc đó tại hiện trường có tổng cộng 10 sư huynh đệ đồng tu cùng tham gia phóng sinh; mọi người đều bảo nhau rằng trên mặt và trên người đối phương đều có ánh sáng vàng. Thật là Pháp hỷ tuôn trào! Sư tỷ còn kể thêm, những chú cá trong chậu cũng đều được luồng sáng vàng này chiếu rọi.

Tái sinh ở tuổi 40

Tuổi 40 đối với tôi quả là một năm đại hỷ, một ngã rẽ lớn trong đời; sinh mệnh của tôi từ nay đã hoàn toàn thay đổi!!!

Kể từ lần bế quan 2 năm trước, tôi đã cảm nhận được rằng mục đích làm người trong kiếp này chính là để tịnh hóa bản thân. Mặc dù trong suốt 2 năm bế quan tôi cũng có một vài trải nghiệm tu trì, nhưng làm thế nào để thực sự tự tịnh hóa bản thân thì khi đó tôi vẫn còn khá mơ hồ. Mãi cho đến khi tiếp xúc với Pháp môn Tâm Linh Quán Âm Bồ Tát, tôi mới phát hiện ra rằng mình đã tìm được một phương pháp có thể tiêu trừ mọi nghiệp chướng trong quá khứ, và hơn nữa lại vô cùng linh nghiệm! Điều này không còn nghi ngờ gì nữa đã dần dần đưa tôi bước vào quỹ đạo học Phật: "Tiêu trừ nghiệp cũ, không tạo nghiệp mới"!

Từ nay về sau,

Tôi không còn hoang mang nữa, vì tôi đã nhận ra Phật giáo hóa ra là con đường duy nhất.

Tôi không còn thối chuyển nữa, vì Phật giáo có thể thay đổi vận mệnh của con người.

Tôi không còn mê muội nữa, vì tôi cuối cùng đã biết làm thế nào để tự giải cứu chính mình thông qua việc Tụng kinh, Phóng sinh và Phát nguyện.

Mục tiêu duy nhất của tôi trong kiếp này là tịnh hóa bản thân, rộng độ những người có duyên trong thiên hạ. Mỗi ngày trước khi tụng kinh, tôi bắt đầu phát nguyện trước Quán Âm Bồ Tát:

Từ nay về sau, con xin giữ gìn việc ăn chay trường thanh tịnh. Con sẽ không bao giờ vô ý sát hại những côn trùng nhỏ nữa.

Mỗi ngày con sẽ độ ít nhất một người học Phật, giúp họ thay đổi vận mệnh thông qua việc Tụng kinh, Phóng sinh và Phát nguyện. (Vào cuối tháng 11 năm 2013, tôi đã phát nguyện sẽ độ 2.000 người trên mạng internet học theo Pháp môn Tâm Linh này. Và, tôi đã làm được!)

Tôi cũng phát nguyện trong mỗi tháng của năm 2014, sẽ độ 1.000 người trên mạng internet học Phật.

Nếu sau này đi làm, tôi nhất định sẽ làm những công việc liên quan đến sự nghiệp Phật giáo. Mỗi tháng tôi sẽ in kinh sách, bố thí cho y tế, viện dưỡng lão và giáo dục Phật giáo.

Tôi sẽ phóng sinh 500 con cá lóc cho mỗi nửa đầu năm và nửa cuối năm của năm 2014.

Tôi phát nguyện trước ngày mùng một Tết Nguyên Đán năm 2014 sẽ hoàn thành 105 tờ Ngôi nhà nhỏ cho các Vong linh đòi nợ trên người.

Mỗi ngày tôi sẽ nói 5 câu nói tốt đẹp.

Mỗi ngày tôi sẽ làm 15 việc tốt.

Mỗi ngày tôi sẽ khởi sinh hơn 50 niệm thiện.

Pháp môn Tâm Linh Quán Âm Bồ Tát đã mang lại cho tôi sinh mệnh thứ hai, giúp tôi tràn đầy hy vọng vào nhân sinh; bởi vì tôi đã nhìn thấy việc mình còn được sống trên cõi đời này là một điều ý nghĩa biết nhường nào!

Tôi không phải là người xuất gia, nhưng tôi cũng có thể làm công việc độ người học Phật. Tôi có thể thông qua mạng internet, Weibo, các hội nhóm trực tuyến... để phát huy chút sức mọn của mình, giúp nhiều người biết đến pháp môn này; những người có duyên nếu nhìn thấy, tự nhiên sẽ bắt đầu học theo và được hưởng lợi ích cả đời!

Tôi muốn giúp nhiều người tiếp cận với pháp môn này hơn nữa, để ai ai cũng có thể như tôi: tự thay đổi vận mệnh, vực dậy lại cuộc đời!

Tôi cũng muốn thông qua pháp môn này để làm thay đổi cuộc sống của gia đình mình! Chị gái tôi đã bắt đầu nghiêm túc học Phật, hiện tại ngày nào cũng tụng kinh. Người mẹ đã học Phật từ rất lâu của tôi cũng bắt đầu tu học theo pháp môn này. Một buổi sáng trước khi tỉnh giấc, mẹ còn kể rằng trong giấc mơ nghe có người nói: "Sư phụ đến rồi". Vị "Sư phụ" được nhắc đến chính là Lư Đài Trưởng. Chị gái tôi vốn rất ít khi nằm mơ, một hôm trước khi thức dậy lại mơ thấy trên tấm bảng trắng trong phòng khách có viết rõ thời gian tụng kinh.

Kiếp này, tôi phải báo đáp ân đức của gia đình, thầy cô, quốc gia và chúng sinh đã dành cho tôi!

Tôi không bận tâm người khác nhìn nhận tôi ra sao, nhưng tôi lại nhìn thấy rất nhiều người đã tìm được sự tái sinh nhờ học Pháp môn Tâm Linh!

Những người không có đức tin đã bắt đầu học Phật!

Những người trước đây chưa thật sự thành kính với Phật giáo, nay cũng bắt đầu nghiêm túc học Phật!

Điều quan trọng nhất là, sau khi học và tuân thủ ba pháp bảo của Phật giáo (Tụng kinh, Phóng sinh và Phát nguyện):

Tôi đã buông bỏ được tình cảm! Tôi không còn sợ hãi sự Vô thường nữa!

Tôi không còn sợ hãi nghiệp chướng hiện tiền nữa! Tôi tràn đầy hy vọng vào tương lai!

Tôi đã tìm thấy Pháp thân huệ mạng của mình rồi!!!

Nghiệp chướng của tôi rất sâu nặng, nhưng hôm nay tôi đã biết cách làm thế nào để tự cứu lấy mình! Cảm ân tất thảy.

Cảm ân căn bệnh đã giúp tôi buông bỏ.

Cảm ân căn bệnh đã đưa tôi trở về với Phật giáo.

Cảm ân mẹ và chị gái đã chăm sóc tôi trong suốt những tháng ngày bạo bệnh.

Cảm ân Pháp môn Tâm Linh của Quán Thế Âm Bồ Tát.

Cảm ân Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Âm Bồ Tát.

Cảm ân tất thảy chúng sinh mười phương.

Nếu kiếp trước ở thời kỳ Cách mạng Pháp tôi là một Phật tử, chắc chắn tôi sẽ không làm một người chiến binh, thế thì kiếp này tôi đã chẳng mang nhiều bệnh nghiệp đến vậy. Cho nên học Phật rất tốt á; mọi người khi có quan niệm nhân quả đúng đắn, chắc chắn sẽ không bao giờ làm những nghề nghiệp xấu xa như sát sinh!

Tuy nhiên, tôi đã không thể thay đổi được những gì mình làm trong kiếp trước; kiếp này tôi chỉ có thể học cách cam tâm tình nguyện chấp nhận quả báo và tích cực dùng các phương pháp của Phật giáo (Tụng kinh, Phóng sinh và Phát nguyện) để tiêu trừ nghiệp chướng.

Nếu bạn quen biết tôi, bạn sẽ thấy tôi là một minh chứng sống sờ sờ cho quả báo hiện tiền. Làm người thực sự phải vô cùng cẩn trọng trong thân - khẩu - ý của mình, tuyệt đối đừng tạo ác nghiệp á!

Học Phật thực sự rất tuyệt vời; học Phật có thể thay đổi vận mệnh của bạn, học Phật giúp bạn thấu hiểu đạo lý, không còn tạo ác nghiệp!

Bất luận pháp môn của bạn là gì, hoặc bạn có phải là Phật tử hay không; nhưng đời người chắc chắn luôn hiện hữu sự vô thường, luôn tồn tại nghiệp chướng. Hy vọng rằng trong kiếp sống này, bạn cũng sẽ tìm thấy cho mình một phương pháp tiêu trừ nghiệp chướng và thay đổi vận mệnh!

Cuối cùng, xin gửi lời chúc đến tất cả mọi người:

Người chưa có đức tin, hãy bắt đầu học Phật.

Ai đã là Phật tử, hãy học Phật tinh tấn.

"Quán Âm Bồ Tát, cầu xin Ngài cho con tiếp tục được sống khỏe mạnh.

Thân người khó được nay đã được, Phật pháp khó nghe nay đã nghe;

Kiếp này thân này không lo độ, đợi đến kiếp nào mới độ thân này?"

Malaysia

Bạch Vân viết vào ngày 20 tháng 12 năm 2013

3. Quán Âm hiển thánh rưới cam lộ, Phật hữu vượt kiếp thoát cơn nguy kịch và được kéo dài tuổi thọ

+

Cảm ân Nam mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quảng Đại Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát!

Cảm ân Ân sư Lư Quân Hoành Đài Trưởng!

Tôi được sự ủy thác của đồng tu Cơ Tú Vinh ở Sơn Đông để chia sẻ với mọi người một câu chuyện.

Năm 2012, sau khi đồng tu Cơ Tú Vinh đến tham dự Pháp hội ở Malaysia, trong hai ngày cô ấy đã mơ thấy hai giấc mơ rất rõ ràng. Ngày thứ nhất cô mơ thấy mình đang giặt quần áo cho Đài Trưởng; ngày thứ hai cô mơ thấy Đài Trưởng nói với cô bằng giọng vô cùng thấm thía: "Tú Vinh à, con phải tụng Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Đà La Ni và Tiêu Tai Cát Tường Thần Chú nhé". Đồng tu Cơ vốn chưa từng tụng hai loại kinh văn này bao giờ. Mặc dù rất vui mừng vì mơ thấy Sư phụ, nhưng lúc đó toàn bộ tâm trí của cô đều đổ dồn vào cậu con trai sắp bước vào kỳ thi Đại học; hằng ngày cô không ngừng tụng kinh cho con, còn hai loại kinh văn mà Đài Trưởng dặn dò thì cô vẫn không sao kiên trì tụng đọc được.

Đầu tháng 6 năm 2013, đồng tu Cơ bước sang sinh nhật tuổi 46. Cô không hề tụng trước số lượng Ngôi nhà nhỏ tương ứng với số tuổi để hóa giải tai kiếp (tai nạn theo tuổi); sống trong chuỗi ngày êm đềm bão táp chưa tới, tâm trí cô cũng buông lỏng cảnh giác. Tháng 6 là tháng diễn ra kỳ thi Đại học, đồng tu Cơ suốt cả một tháng trời không hề tụng một tờ Ngôi nhà nhỏ nào cho bản thân, mà chỉ không ngừng phóng sinh, mọi thời gian rảnh rỗi cô đều dành để tụng kinh cho con trai. Ngày 23 tháng 6, trong mơ cô nghe thấy có người nói: "Dương thọ của cô hết rồi"; nhưng khi tỉnh dậy cô lại không hề để tâm.

Khoảng 4 giờ chiều ngày 27 tháng 6, đồng tu Cơ đốt 21 tờ Ngôi nhà nhỏ cho con trai, rồi đạp xe điện ra cửa hàng. Khi đi ngang qua một con phố nhỏ hẹp, hai bên đường tấp nập các cửa tiệm buôn bán nông sản; cô đạp xe rất chậm. Đúng lúc cô chuẩn bị ra khỏi con phố, thì đột nhiên một chiếc xe con (xe sedan) lao thẳng từ hướng ngược chiều tới. Theo lời những người trong cửa tiệm kể lại, lúc đó xe chạy với tốc độ hơn 100km/h, tông thẳng vào cô. Do quán tính, cô bị văng đập mạnh lên kính chắn gió phía trước của chiếc xe, đầu đập vỡ kính rồi lại bị dội ngược văng ra ngoài, phần đầu đập thẳng xuống đất; chiếc xe sau đó lại tiếp tục cán qua đùi cô. Cảnh tượng kinh hoàng này chỉ diễn ra trong vài giây ngắn ngủi, khiến những người xung quanh chết sững, kinh hãi tột độ.

Sau khi bị tông, đồng tu Cơ lập tức rơi vào hôn mê. Thế nhưng, ý thức của cô bỗng nhiên tỉnh táo lại vài giây, cô mở mắt ra, và thật kinh ngạc khi nhìn thấy bức tượng Quán Thế Âm Bồ Tát của Đài Đông Phương đang được thờ phụng ở nhà, Ngài đạp trên đài hoa sen, thân hình cao lớn trang nghiêm, lơ lửng đứng trên không trung, cách người cô khoảng nửa mét. Cô nhìn rõ mồn một khuôn mặt của Bồ Tát, còn nhìn thấy Bồ Tát rưới thứ gì đó xuống người cô. Ngay sau đó, đồng tu Cơ kiệt sức không thể gượng dậy nổi; trong lòng cô rất muốn được nhìn Bồ Tát thêm một lần nữa, nhưng hai mắt không sao mở ra được, rồi cô chìm vào giấc ngủ mê mệt.

Sau khi sự việc trôi qua mới biết rõ tình hình cụ thể, có một vài sự trùng hợp khó tin:

Những người bán hàng xung quanh vô cùng lương thiện; ngay lập tức họ tìm ván gỗ quây xung quanh đồng tu Cơ đang nằm bất tỉnh, để tránh bị những chiếc xe khác chạy qua cán vào.

 

Ngay khi vụ tai nạn xảy ra, một bà cụ tốt bụng đã lục tìm điện thoại trong túi xách của đồng tu Cơ, lập tức liên lạc với người nhà cô (cửa hàng của đồng tu Cơ chỉ cách đó 200 mét, nên người nhà đã kịp thời có mặt). Cuộc điện thoại thứ hai bà cụ gọi là xe cứu thương 120; cuộc gọi thứ ba là liên hệ với cảnh sát giao thông. Khi cảnh sát có mặt, mọi người đều làm chứng rằng tài xế lái xe trong tình trạng say xỉn, tốc độ xe cực kỳ nhanh.

Xe cứu thương đến rất kịp thời; quần chúng đứng xem và bác sĩ đều đồng loạt cho rằng đồng tu Cơ tính mạng đang trong cơn "ngàn cân treo sợi tóc", một vũng máu lớn chảy ra từ đầu, người thì hôn mê bất tỉnh. Theo kinh nghiệm, bác sĩ nhận định cô bị chấn thương sọ não cực kỳ nghiêm trọng, cơ hội cứu chữa là rất mỏng manh; nếu may mắn cứu sống được, có thể cũng sẽ trở thành người sống thực vật, nên họ đã dặn người nhà chuẩn bị sẵn tâm lý. Khi được chuyển đến Bệnh viện Chuyên khoa Não, cô cần phải cạo tóc để làm sạch vết thương. Đồng tu Cơ tỉnh lại một lúc, còn nói cười rất lạc quan. Người cạo tóc sợ hãi thì thầm hỏi bác sĩ: "Cô ấy đang 'hồi quang phản chiếu' phải không?". Có thể thấy tình hình lúc đó nghiêm trọng đến mức nào.

Đồng tu Cơ vẫn chìm trong giấc ngủ mê mệt, đùi bị gãy xương, phải nằm lại trong phòng Hồi sức tích cực (ICU) hai ngày. Do lo ngại xuất huyết não, ban đầu bác sĩ dự tính phải phẫu thuật mở hộp sọ để dọn sạch máu bầm. Nhưng kết quả chụp CT não lại cho thấy hoàn toàn không có bất kỳ dấu hiệu bất thường nào, thậm chí đến cả chấn động não cũng không có. Bác sĩ vô cùng kinh ngạc, trước sau chụp CT não đến 4 lần, kết quả vẫn y chang như vậy; thảy đều chỉ là vết thương ngoài da ở vùng đầu, chỉ cần khâu lại là xong.

Hai ngày sau, cô được chuyển từ phòng ICU sang phòng bệnh thường; bác sĩ nói đùa rằng mạng cô lớn thật. Nhưng bản thân cô biết rất rõ ràng rằng chính Quán Thế Âm Bồ Tát đã cứu cô một mạng; cô bảo cái mạng này của cô là nhặt về được, nửa đời còn lại cô phát đại nguyện hoằng pháp lợi sinh. Tôi hỏi đồng tu Cơ: "Trong lòng cô vẫn luôn vướng bận chuyện của con trai phải không?". Cô đáp: "Con cái, nhà cửa, tiền bạc tất thảy đều là vật ngoài thân, thực sự phải buông bỏ triệt để!".

Điều khiến mọi người cảm thấy ấm lòng nhất là, con trai của đồng tu Cơ đã nói với mẹ: "Từ nay trở đi con sẽ tự mình tụng kinh". Một cậu bé chưa từng tụng kinh quá 7 biến, vậy mà vào ngày thứ hai sau khi vụ tai nạn xảy ra, đã tự giác quỳ trước bàn thờ Phật, tụng hơn 1.000 biến chú Đại Bi cho mẹ; ngọn đèn dầu còn kết thành bông hoa sen sáu cánh. Cậu bé còn không ngừng đi phóng sinh cho mẹ, vô cùng hiếu thảo và thuần khiết.

Đồng tu Cơ chưa bao giờ mơ thấy Quán Âm Bồ Tát, lại càng không có thần thông; vậy mà đúng vào lúc sinh mệnh mong manh như ngàn cân treo sợi tóc, cô lại tận mắt nhìn thấy Quán Âm Bồ Tát đạp hoa sen hạ phàm, rưới nước cam lộ cứu độ. Cô bảo nhất định phải để cho nhiều người hơn nữa biết rằng sự linh ứng nghe tiếng kêu cứu của Quán Âm Bồ Tát là hoàn toàn có thật, để nhiều người hơn nữa khởi sinh niềm tin kiên định vào Bồ Tát!

Thông qua sự việc này, chúng ta rút ra được ba bài học quý giá:

Tự độ mới có thể độ tha (cứu người): Muốn cho người khác một bát nước, bản thân mình trước tiên phải có một chậu nước; muốn cho người khác một chậu nước, bản thân mình phải có cả một lu nước. Đừng bao giờ luôn mồm cho rằng mình còn rất nhiều thời gian, trong lòng thì vẫn còn muôn vàn vướng bận; nghiệp chướng của mỗi người đều cao như núi, sâu như biển, cần phải tinh tiến tu hành không ngừng nghỉ mới có thể hóa giải. Nếu không, một khi nghiệp lực bùng phát như núi lửa tuôn trào, bạn có trốn cũng không kịp đâu.

Công đức mới có thể chắn tai ương: Đồng tu Cơ đã độ được hàng trăm người, cô thường xuyên in sách, phóng sinh, tu hành vô cùng khiêm tốn. Sự tích lũy của những công đức này thảy đều đã giúp giảm thiểu thiệt hại xuống mức thấp nhất khi vụ tai nạn xảy ra.

Phải coi trọng những điềm báo: Những giấc mơ Bồ Tát đã báo trước cho chúng ta, đặc biệt là những lời dặn dò của Đài Trưởng, nhất định phải lắng nghe và làm theo. Nếu đồng tu Cơ chịu tụng kinh Tiêu Tai và kinh Diên Thọ (kéo dài tuổi thọ) trước một năm để hóa giải tai kiếp, thì năm nay rất có thể đã không xảy ra chuyện lớn đến nhường này.

Đồng tu họ Vương ở Sơn Đông (Sơn Thủy Tự Tại)

Ngày 18 tháng 9 năm 2013

4. 1.600 tờ Ngôi nhà nhỏ - Niềm hy vọng của một người mẹ tuyệt vọng

+

Xin chào mọi người, tôi là một đồng tu đến từ Đại lục (Trung Quốc). Từ nhỏ, tôi đã lớn lên trong một gia đình êm ấm, học hành suôn sẻ, công việc bình ổn, tình yêu ngọt ngào; có thể nói tôi lớn lên trong hũ mật, chưa từng biết sầu lo là gì. Thế nhưng trời có lúc nắng lúc mưa, vừa mới bước vào chốn thiên đường của hôn nhân hạnh phúc, thì một cái thai ngoài kế hoạch đã đẩy cả gia đình chúng tôi rơi vào vực thẳm của sự đau đớn tột cùng.

Mang thai 12 tuần, tôi có dấu hiệu dọa sảy thai, phải nằm liệt giường dưỡng thai suốt hai tháng. Đến tuần thứ 16, tôi bắt đầu bị rối loạn nhịp tim, đứng ngồi không yên. Tuần 23, siêu âm thai nhi phát hiện tiểu não nhỏ hơn bình thường; mẹ tôi nghe xong suýt ngất xỉu ngay tại bệnh viện. Tuần 25 tái khám, bác sĩ nói tiểu não của thai nhi phát triển chậm hơn 1 tháng, hình thái bất thường. Cả gia đình bắt đầu chìm trong vực thẳm của sự đau đớn. Tuần 28 chụp chiếu tái khám, bác sĩ lại bảo thai nhi không sao cả; trong tâm trạng nơm nớp lo sợ, tôi tiếp tục dưỡng thai. Tuần 31, tôi phát hiện bị sa van hai lá tim, không thể dùng thuốc can thiệp, đau đớn không sao tả xiết. Tuần 33, tôi phát hiện bị tiểu đường thai kỳ. Tuần 34, nhịp tim thai nhi bất thường. Ngày cuối cùng của tuần 34, nước ối đột ngột vỡ non; người nhà hốt hoảng đưa tôi vào bệnh viện. Đến nay, tôi vẫn không thể nào quên được cảm giác đau đớn và bất lực cùng cực khi nằm trong chiếc xe cứu thương lạnh lẽo ấy.

Sau khi đứa trẻ ra đời, câu đầu tiên cô y tá nói là sao tiếng khóc của nó giống hệt tiếng mèo kêu vậy; thằng bé lập tức được đưa vào lồng ấp, nằm giữ ấm đúng nửa tháng mới được ra ngoài. Tôi nằm trên giường bệnh, nhớ nhung đứa con bé bỏng mà mình còn chưa được nhìn mặt, nước mắt cứ thế tuôn rơi. Sau khi xuất viện, tôi vốn tưởng cuộc sống sẽ khá khẩm hơn một chút. Ai ngờ tình hình ngày càng tồi tệ. Con trai tôi là trẻ sinh non, thể trạng cực kỳ yếu ớt, chuyện ba ngày ốm, hai ngày sốt là như cơm bữa. Ọc sữa, tiêu chảy, phát sốt, nửa đêm giật mình la hét, khóc lóc thảm thiết; chưa một ngày nào gia đình tôi được bình yên. Lúc bú sữa, thằng bé ưỡn người quẫy đạp rất dữ dội; sau này tôi mới biết đó là do trương lực cơ quá cao (rối loạn trương lực cơ). Hồi đó, mỗi lần đút sữa hay đút cơm cho con, chúng tôi phải khua chiêng gõ mõ làm đủ trò mới dỗ dành được thằng bé ăn một chút. Trẻ con đi ngoài thường 5 ngày mới đi một lần, thậm chí có khi cả tuần; người nhà tôi hay ví von rằng lúc thằng bé đi ị được, cả nhà mừng như trúng số 5 triệu vậy.

Đáng sợ hơn là sau 3 tháng, chúng tôi dần nhận ra thằng bé không giống như những đứa trẻ bình thường khác. Các sư huynh đã từng sinh con chắc hẳn đều biết, trẻ bình thường 3 tháng đã cứng cổ (có thể giữ đầu thẳng); con chúng tôi đến tận 5 tháng mới miễn cưỡng giữ được một chút, 8 tháng đầu vẫn chưa vững; các khả năng vận động khác thì khỏi phải nói. Về mặt trí tuệ lại càng kém cỏi đến kinh ngạc, ánh mắt thằng bé không hề có tiêu cự; tôi đứng cách mắt con 10cm mà vẫn có cảm giác thằng bé không nhìn thấy tôi, đã có lúc tôi nghi ngờ con mình bị mù. Nuôi một đứa trẻ như vậy, nỗi vất vả và sự giày vò có lẽ chỉ những ai từng trải qua mới thấu hiểu được.

Tôi đột ngột lên cơn đau tim, từ sau khi sinh tôi đêm nào cũng thức trắng, đau đớn tột cùng, bản thân cũng nay ốm mai đau. Có những lúc nằm trên giường, tuyệt vọng nhìn chằm chằm lên trần nhà, tôi chỉ hận không thể ôm lấy con cùng nhau từ giã cõi đời này. Nhưng tôi làm sao có thể ra đi được, tôi vẫn còn bố mẹ và người chồng nhất mực yêu thương tôi; nỗi đau của họ chẳng hề kém cạnh tôi chút nào. Chồng tôi là bác sĩ, anh ấy đã sớm nhận ra những bất thường của con, nhưng anh ấy kịch liệt phản đối việc đưa con đi phục hồi chức năng. Sự phản đối của anh ấy rất có lý, thể trạng con quá yếu, đi phục hồi có khi lợi bất cập hại; hơn nữa, bệnh lý về não là một bài toán nan giải của y học, được coi là "ung thư của các loại ung thư", chỉ dựa vào y học mà muốn chữa khỏi thì cơ bản là điều không tưởng.

Khi đó, tâm trạng tôi là một sự tuyệt vọng khôn cùng: muốn chết cũng không chết được, sống thì lại chịu tội; cơ thể bản thân đã ốm yếu, y học lại đành bó tay. Lúc đó tôi đã nghĩ, tình cảnh hiện tại chỉ có Thần Tiên mới cứu nổi. Đã là y học không chữa được, thì với tư cách là một người mẹ, tôi sao có thể ngồi chờ chết; vậy thì tôi sẽ đi cầu xin xem có vị Thần Tiên nào có thể cứu con tôi không. Thế là tôi lùng sục khắp hang cùng ngõ hẻm tìm các bà đồng, tôi ba lần vác mặt đến xin gặp vị Phương trượng ở chùa địa phương, tôi thậm chí còn đi xem bói. Lên mạng tìm kiếm khắp nơi những người tự xưng là "được bề trên ứng bóng" (Đỉnh tiên). Có lẽ sự thành tâm của tôi đã làm cảm động đến trời xanh; sau khi tôi đăng một bài viết cầu cứu tuyệt vọng của một người mẹ trên diễn đàn Tianya, rất nhiều người đã khuyên tôi nên tin Phật tụng kinh, tích đức hành thiện. Trong số đó, có hai vị sư huynh đã giới thiệu Ngôi nhà nhỏ cho tôi. Trong cơn tuyệt vọng, tôi lập tức mở trang blog của Đài Trưởng ra xem; vừa nhìn vào tôi đã bị cuốn hút ngay lập tức, và từ đó cuộc đời tôi bước sang một trang mới.

Lúc mới bắt đầu học Phật, bệnh tim của tôi rất nghiêm trọng, đêm nào cũng thức trắng, thường xuyên bị những cơn chóng mặt đau đớn hành hạ, có lúc tim như ngừng đập. Thậm chí tôi đã không ít lần mơ thấy quan tài, mơ thấy mình đang viết thư tuyệt mệnh; tôi vẫn luôn hoài nghi liệu mình có thể sống đến lúc con tròn một tuổi hay không. Nói ra cũng kỳ lạ, vừa mới làm theo cách hướng dẫn trên blog của Đài Trưởng tụng xong vài biến chú Đại Bi, tôi cảm thấy nhịp tim mình từ từ ổn định lại; đêm hôm đó tôi đã có một giấc ngủ ngon nhất trong suốt một năm qua. Sau một tuần thực hành công khóa theo hướng dẫn trên blog của Đài Trưởng, tôi vui sướng tột độ khi phát hiện ra trái tim của mình đã trở lại bình thường, buổi tối đã có thể an giấc. Cái niềm vui sướng của sự tái sinh đó, có lẽ chỉ những ai từng đối mặt với tử thần mới cảm nhận được. Thế là tôi vội vã xin các sư huynh gửi Ngôi nhà nhỏ cho tôi, nôn nóng bắt đầu làm công khóa cho cả hai mẹ con. Tôi dành trọn một tuần để cày nát tất cả các sách và bản ghi chép âm thanh chương trình của Đài Trưởng, mừng rỡ tột độ vì cảm thấy mình đã tìm ra phương pháp chữa bệnh tuyệt vời cho con trai.

Đến nay tôi đã học Phật được 11 tháng, cảm nhận thật sự vô cùng sâu sắc.

Vào tháng 3 năm 2013, tôi bắt đầu tụng kinh và làm công khóa cho con trai. Hơn hai tháng ròng rã, tôi chỉ tụng được hơn 200 tờ Ngôi nhà nhỏ. Lúc đó xem trên blog của Đài Trưởng, thấy mọi người ai cũng có cảm ứng rất mạnh mẽ, kết quả rất tốt, nhưng con trai tôi vẫn chẳng có chút biến chuyển nào; tôi hơi nhụt chí và nản lòng. May mắn thay, tôi gọi được vào đường dây nóng wenda20130531 (cuộc gọi đầu tiên); Đài Trưởng đã mắng tôi một trận té tát. Ông nói bệnh bại não mà tụng 300 tờ thì chưa xi nhê gì đâu, ông bảo nếu tôi cứ mang lòng hoài nghi thì đừng tụng nữa. Những đứa trẻ khác bệnh tình thuyên giảm là do gia đình họ chẳng thắc mắc nửa lời, cứ ở nhà cắm cúi tụng mãi, tụng đến lúc khỏi bệnh mới biết đó là nhờ Bồ Tát phù hộ. Tôi vô cùng biết ơn Đài Trưởng vì đã mắng cho tôi tỉnh ngộ. Tôi lại lấy lại dũng khí và niềm tin để tiếp tục tụng kinh.

Điều khiến tôi vô cùng biết ơn là tuy lúc đầu con trai tôi chưa thấy tiến bộ, nhưng Bồ Tát đã từ bi hiển linh trong giấc mơ của tôi. Đến nay tôi vẫn nhớ như in, đêm đó lúc đang ngủ tôi đột nhiên nhìn thấy Quán Thế Âm Bồ Tát nghìn tay nghìn mắt, toàn thân tỏa ánh vàng rực rỡ, đang ngự trên bàn thờ nhà tôi. Tôi mừng rỡ mở choàng mắt, trước mắt là một màn ánh sáng vàng chói lọi. Tôi biết đó là Bồ Tát đến để khích lệ tôi. Thế là tôi càng tinh tiến tụng kinh và phóng sinh hơn nữa.

Rất cảm ơn các sư huynh ở địa phương đã từ bi tổ chức một buổi phóng sinh lớn cho con trai tôi. Lần đó chúng tôi đã phóng sinh tổng cộng một vạn con cá cho thằng bé. Chính trong buổi phóng sinh đó, mẹ tôi đã nhìn thấy Quán Thế Âm Bồ Tát hiện lên từ phía sau ngọn núi, ánh vàng rực rỡ, đẹp lộng lẫy vô ngần. Ngày hôm sau, tôi may mắn gọi được vào đường dây nóng xem đồ đằng của Đài Trưởng (zongshu20130709 - cuộc gọi thứ 3); câu đầu tiên Đài Trưởng thốt lên đã hoàn toàn chinh phục tôi. Ông nhìn thoáng qua đã biết thần kinh não của con tôi có vấn đề, còn nhìn ra trên người thằng bé có một ông lão to béo đang quấn lấy; cần 700 tờ Ngôi nhà nhỏ, 7.000 con cá. Tận mắt chứng kiến thần thông của Đài Trưởng, hai mẹ con tôi mừng rỡ khôn xiết; dưới sự giúp đỡ của các sư huynh, chúng tôi lập tức thực hiện buổi phóng sinh thứ hai với một vạn con cá.

Cứ thế kiên trì tụng được hơn 500 tờ, đột nhiên một ngày nọ tôi phát hiện trương lực cơ của con đã giảm xuống, thằng bé bỗng nhiên biết lật (lẫy). Lại kiên trì đến khi tụng được hơn 900 tờ, tôi ngạc nhiên phát hiện con đã biết ngồi, ánh mắt cũng linh hoạt hơn rất nhiều. Sự thay đổi của con lớn dần lên từng ngày, và tâm trạng của tôi cũng tốt lên từng ngày.

Tháng 12 năm 2013, con trai tôi phải nhập viện vì viêm phổi. Các bác sĩ nghi ngờ thằng bé mắc bệnh bẩm sinh, và cuối cùng đã chẩn đoán là mắc Hội chứng mất đoạn nhiễm sắc thể số 5 - Hội chứng Mèo kêu (Cri-du-chat syndrome). Căn bệnh này trên thế giới chỉ có khoảng hơn 200 người mắc phải; người bệnh bị chậm phát triển trí tuệ, IQ chỉ bằng 1/5 người bình thường. Hơn nữa tuổi thọ lại rất ngắn, không sống qua nổi 18 tuổi. Biết được sự thật, hai vợ chồng tôi cảm thấy như bầu trời sụp đổ; ôm nhau khóc lóc thảm thiết đến tối tăm mặt mũi. Đứa bé chưa hiểu chuyện gì, thấy chúng tôi khóc, nó lại còn cười hềnh hệch ở bên cạnh. Cái cảm giác trái tim bị bóp nghẹt đập vụn nát đó, chỉ những ai từng trải qua mới hiểu thấu. Tim tôi đau thắt lại; tan làm tôi lén chạy ra trước bàn thờ Phật khóc nức nở, nhang lại cuộn tàn rồi. Tôi biết Bồ Tát lại đến để an ủi tôi. Thế là tôi lấy lại tinh thần, tiếp tục tụng kinh.

Ngày 11 tháng 12, tôi gọi được vào số điện thoại đặt lịch hẹn với Đài Trưởng. Đài Trưởng nói với tôi rằng cái mạng nhỏ của con tôi đã được giữ lại rồi, nghiệp chướng đã tiêu được 40%; nhưng tuổi thọ không dài, vẫn cần thêm 2.500 tờ Ngôi nhà nhỏ và 3 vạn con cá nữa. Tôi vô cùng vui sướng; mới chỉ tụng 1.200 tờ mà nghiệp chướng đã tiêu được 40%, Ngôi nhà nhỏ quả thật quá linh nghiệm. Dù nhiệm vụ phía trước còn rất nặng nề, nhưng chỉ cần nỗ lực thì chắc chắn sẽ có ngày hoàn thành.

Tính đến ngày hôm nay, hai mẹ con tôi đã tụng cho thằng bé tổng cộng 1.669 tờ Ngôi nhà nhỏ, phóng sinh hơn 2 vạn con cá. Trước khi đầy năm, con tôi cứng đơ như một khúc gỗ; 9 tháng mới cứng cổ, 1 tuổi 1 tháng mới biết lật. Từ lúc 1 tuổi 3 tháng, thằng bé bỗng dưng biết ngồi; 1 tuổi 4 tháng, nó đột nhiên biết nhận người. Và chỉ trong 3 tháng này, trí tuệ của con đã được nâng cao đáng kể. Thằng bé đã có thể hiểu được một số cuộc đối thoại của người lớn; nó biết làm nũng, biết ghen tị, biết nghịch ngợm; nó có thể phát ra âm thanh "đa đa đa" để biểu đạt ý muốn ăn cơm; nó biết đút kẹo cho chúng tôi ăn; nó biết bắt chước người lớn khạc đờm và ngáy ngủ; nó có thể hiểu được hàng chục hiệu lệnh. Có thể nói những bước tiến trong mấy tháng qua là vượt bậc, nhanh như bay. Mặc dù so với những đứa trẻ bình thường, hay thậm chí là so với những đứa trẻ bại não đã được phục hồi chức năng, thằng bé vẫn còn một khoảng cách rất lớn; nhưng những bước tiến này trong mắt tôi quả thực là vô cùng vĩ đại. Những sự thay đổi mà người ngoài nhìn vào có thể coi là nhỏ nhặt không đáng kể này, lại tiếp thêm cho tôi một niềm tin vững chắc, là dũng khí và động lực để tôi tiếp tục kiên trì. Mặc dù ở một số phương diện, con tôi vẫn chưa theo kịp những đứa trẻ mắc cùng căn bệnh đã được phục hồi chức năng; nhưng tôi tin rằng Bồ Tát đang giúp chúng tôi chữa tận gốc rễ. Chỉ cần siêu độ được linh tính đi, giải quyết tận gốc vấn đề, con trai tôi chắc chắn sẽ có ngày hoàn toàn bình phục.

Học Phật không chỉ mang lại cho tôi niềm vui khi thấy con tiến bộ, mà nó còn là một nguồn động lực cuộn trào không dứt và là sự giải thoát cho chính tâm hồn tôi. Từ nhỏ tôi đã rất yêu trẻ con, không thể ngờ rằng con mình lại mắc phải một căn bệnh hiếm gặp đến vậy. Đòn đả kích này đối với gia đình chúng tôi mà nói là một nhát dao chí mạng. Sau khi học Phật, mặc dù con trai tôi còn lâu mới hồi phục, mặc dù bây giờ thằng bé chưa biết đứng, chưa biết đi, cũng chưa biết nói; nhưng tôi luôn nhìn thấy niềm hy vọng, luôn nhìn thấy tương lai của con.

Tôi cảm nhận một cách sâu sắc rằng: Điều đau khổ nhất không phải là hiện tại sống không tốt, mà là không nhìn thấy tương lai. Những gia đình có người khuyết tật như chúng tôi ở Trung Quốc, và trên toàn thế giới có rất nhiều; những đứa trẻ mắc bệnh não ở Trung Quốc ít nhất cũng có tới hàng trăm nghìn bé; kéo theo đó là hàng ngàn hàng vạn gia đình và người thân bị liên lụy. Nỗi đày đọa đó giống như bị kết án tù chung thân vậy, cái bóng đen trong tâm hồn sẽ đeo bám cả một đời. Nhưng học Phật, đặc biệt là đọc những cuốn Bạch thoại Phật pháp của Đài Trưởng, đã giúp tôi thấu hiểu rất nhiều đạo lý. Tôi không còn oán trời trách người, không còn ca thán tại sao lại là tôi, là tôi, vẫn cứ là tôi. Tôi đã hiểu được quy luật nhân quả; tôi biết rằng đứa trẻ ra nông nỗi này chắc chắn là do tôi và gia đình tôi đã tạo ra một ác nghiệp rất lớn. Chỉ có cách chuyên tâm tu hành, thành tâm sám hối, con tôi mới có ngày bình phục.

Có một câu nói của Đài Trưởng ảnh hưởng rất sâu sắc đến tôi. Ông nói, con người sống trên đời, một là chấp nhận số phận (Nhận mệnh), hai là cải tạo số phận (Cải mệnh). Tôi không thể thay đổi quá khứ, nhưng tôi tin rằng thông qua sự nỗ lực của bản thân, tôi có thể thay đổi tương lai của con trai và của cả gia đình chúng tôi. Trước khi học Phật, có những lúc tôi đem lòng thù hận đứa trẻ, trách móc sự xuất hiện của nó đã hủy hoại cả cuộc đời hạnh phúc của tôi. Thế nhưng bây giờ, tôi lại yêu thương nó vô hạn, và biết ơn nó vô cùng. Nếu không có thằng bé, tôi sẽ không bao giờ đi học Phật; tôi sẽ mãi mãi không biết được chân tướng của vũ trụ nhân sinh; cuộc sống của tôi vẫn sẽ tiếp tục trôi qua trong sự hồ đồ ngớ ngẩn như vậy. Cho dù cả đời này tôi có khỏe mạnh bình an đi chăng nữa, thế thì kiếp sau thì sao? Kiếp sau tôi sẽ đi về đâu? Sẽ vĩnh viễn chịu đau khổ trong vòng luân hồi. Bây giờ nhìn khuôn mặt cười tươi rạng rỡ của con, tôi cảm thấy rất mãn nguyện, rất hạnh phúc. Giờ đây, mỗi khi nhìn thấy những người mẹ muốn phá thai, trong lòng tôi lại thấy vô cùng xót xa thay cho họ. Mang thai một đứa trẻ như vậy, vốn dĩ là để trả nợ; nợ chưa trả xong lại đi phá bỏ, tội chồng thêm tội, cái nghiệp chướng này không biết sẽ nặng nề đến nhường nào. Mặc dù con tôi vẫn còn cần đến 2.500 tờ Ngôi nhà nhỏ, nhiệm vụ vô cùng nặng nề và gian nan; nhưng chỉ cần tôi nỗ lực, thì chắc chắn sẽ có ngày tụng xong. Hơn nữa, những đứa trẻ đến đầu thai là để tìm cơ hội sống, chứ không phải để đi vào chỗ chết; tôi rất mong muốn mỗi gia đình hãy trân trọng duyên phận với con cái, tôn trọng sinh mạng của từng sinh linh bé nhỏ.

Từ lúc bắt đầu tụng kinh được 3 tháng, tôi đã lập một chủ đề trên diễn đàn Bệnh não Trẻ em để ghi lại quá trình tôi tụng kinh giúp con phục hồi. Đến nay, lượt click vào bài viết đã vượt quá mười ngàn người; tôi rất biết ơn nhiều gia đình trên diễn đàn đã tin tưởng tôi, cùng tôi học Phật tụng kinh, khích lệ và hỗ trợ lẫn nhau. Năm nay, có mấy gia đình trên diễn đàn chúng tôi dự định sẽ đi Hồng Kông tham dự Pháp hội của Đài Trưởng, tôi cảm thấy rất vui. Tôi sẽ tiếp tục cập nhật bài viết của mình, ghi lại từng chút cảm ứng của bản thân và từng chút tiến bộ của con trai trên đó; cùng nỗ lực với các bậc phụ huynh trên diễn đàn, để dưới sự gia trì của Bồ Tát, chúng ta sẽ kiến tạo nên một ngày mai tươi sáng hoàn toàn mới cho các con.

Cũng có rất nhiều bà mẹ bày tỏ mong muốn tụng kinh, nhưng lại sợ người nhà phản đối, hoặc không sắp xếp được thời gian. Tôi muốn chia sẻ với mọi người rằng, sự cản trở từ chính gia đình tôi lúc đầu cũng vô cùng lớn. Ban đầu tôi phải lén giấu kinh thư vào trong những cuốn sách khác để tụng; chồng tôi, bố mẹ chồng và ngay cả bố đẻ tôi đều không thể chấp nhận và thấu hiểu. Một mình tôi phải chống chọi lại với bao nhiêu người trong gia đình; áp lực đó chắc hẳn mọi người có thể tưởng tượng được. May mắn thay, người mẹ kính yêu của tôi đã luôn kề vai sát cánh, kiên định ủng hộ tôi. Vì căn bệnh của con, thần kinh của mọi người trong nhà đều bị kéo căng đến giới hạn, ai nấy đều trở nên rất nóng nảy. Chồng tôi dọa sẽ ly hôn, bố tôi tuyên bố từ mặt không nhận tôi làm con gái; cái áp lực nghẹt thở đó kéo dài suốt một khoảng thời gian rất lâu. Hai mẹ con tôi nước mắt giàn giụa, nhưng vẫn kiên định tụng kinh, rồi lén lút đi phóng sinh. Để lập được bàn thờ Phật, có thể nói tôi đã hao tâm tổn trí không biết bao nhiêu mà kể; khoảng thời gian đó, áp lực từ gia đình đè nặng lên tôi vô cùng khủng khiếp. Nhưng với tư cách là một người mẹ, tôi không còn bất kỳ cách nào khác; tôi không thể giương mắt nhìn con mình cứ cắm đầu đi xuống như vậy, không thể nhìn nó tiếp tục chịu đựng đau khổ được. Tôi lén lút tụng kinh mỗi ngày, nghĩ trăm phương ngàn kế để đốt Ngôi nhà nhỏ; nhân lúc người nhà đi vắng là tôi lại vội vàng lên mạng giao lưu với các sư huynh, và đọc các bài viết trên blog của Đài Trưởng.

Đến tận bây giờ, thái độ của bố tôi đã cải thiện rất nhiều, thậm chí ông còn giúp tôi mua hoa cắm trên bàn thờ Phật. Bố tôi, bố mẹ chồng tôi ân trọng như núi đối với tôi; tôi không biết lấy gì để báo đáp, tôi nghĩ món quà tuyệt vời nhất chính là giúp họ tin Phật tụng kinh. Cho nên tôi nhất định phải kiên trì, tôi tin rằng sẽ có ngày mây mù tan biến, nước của tôi đun rồi sẽ có lúc sôi; tôi tin rằng họ rồi sẽ có ngày hiểu được tôi, và tôi cũng có thể đường đường chính chính mà tin Phật tụng kinh.

Cuối cùng, tôi gửi lời tri ân sâu sắc nhất đến Lư Đài Trưởng vì đã cứu mạng tôi, cứu rỗi linh hồn tôi, và cứu lấy huệ mạng của cả cuộc đời tôi. Xin gửi lời cảm ân sâu sắc đến Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát đã luôn kề cận bên con để giúp đỡ, khích lệ con. Cảm ân các sư huynh địa phương đã nhiều lần tổ chức phóng sinh lớn cho con trai tôi; cảm ân sự từ bi của các sư huynh ở khắp nơi đã trợ niệm cho con tôi những lúc cháu liên tục bị sốt cao, đã gieo duyên tặng Ngôi nhà nhỏ cho cháu; cảm ân rất nhiều người đã quan tâm và yêu thương gia đình chúng tôi.

Phật ân khó báo, tôi chỉ còn cách ngày càng tinh tấn tin Phật tụng kinh, tu tâm độ người, mới có thể đền đáp được ân tình của tất cả mọi người. Hy vọng tôi có thể giúp thêm nhiều gia đình thoát khỏi đau khổ và tìm thấy niềm vui.

Cảm ân Nam mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.

Đồng tu Đại lục Chắp tay.

5. Kết hôn mười bốn năm vô sinh hiếm muộn, tu Pháp môn Tâm Linh thuận lợi sinh con trai

+

Đệ tử Trần Húc tu học Pháp môn Tâm Linh đã hơn ba năm; nhờ sự gia trì của Bồ Tát và của Sư phụ, một người kết hôn 14 năm ròng rã vô sinh hiếm muộn như tôi nay đã hạ sinh được một bé trai, và đã bình an vượt qua thời kỳ ở cữ.

Trong quá khứ, vì không hiểu Phật pháp, không biết đến luật nhân quả báo ứng, đệ tử đã làm rất nhiều chuyện sai trái, gieo mầm ác nhân; dẫn đến việc thuở ấu thơ đã mất đi mẹ ruột, đến thời thiếu niên lại mất đi người bà yêu thương tôi nhất. Sau khi kết hôn nhiều năm vẫn không thể sinh được mụn con nào, tiếp đó công việc của chồng lại gặp nhiều trắc trở; đúng lúc đệ tử đang trong cảnh muốn khóc mà không còn nước mắt này, Phật duyên đã chín muồi dẫn lối tôi bước vào cửa Phật. Điều may mắn là ngay khi vừa tiếp xúc với Phật pháp, đệ tử đã may mắn biết đến Pháp môn Tâm Linh, và kết duyên với người Sư phụ hiền từ như một người cha - Lư Đài Trưởng. Đệ tử vâng lời Sư phụ dạy, nghiêm túc sám hối, tụng kinh; rất nhanh chóng, vô vàn những trắc trở xui xẻo từng chút một đều chuyển biến tốt đẹp. Đệ tử mang lòng cảm ân Sư phụ, cảm ân Bồ Tát, thường xuyên đi kể cho những người có duyên xung quanh nghe về sự mầu nhiệm của việc tu học Phật pháp. Các đồng tu đều nguyện ý gần gũi với một đệ tử ngu si như Trần Húc này; thế là đệ tử đã phát đại nguyện sẽ trở thành cánh tay đắc lực của Bồ Tát, của Ân sư để hoằng pháp mang lại lợi ích cho chúng sinh, vì các đồng tu mà làm tấm gương biểu pháp.

Đệ tử sau vài lần được Ân sư gọi điện chỉ bảo, sự tu tập đã có những bước tiến triển rõ rệt. Để có thể biểu pháp cho tốt, đệ tử luôn tự vấn lại bản thân, sửa chữa những sai lầm của mình. Sư phụ từng giảng: Tu trì đúng như lý như pháp thì cầu được ước thấy; điều này đã được minh chứng trên chính bản thân đệ tử. Đệ tử biết rằng mình tu tập vẫn còn kém xa lắm, nhưng Bồ Tát từ bi, mọi tâm nguyện của đệ tử đều được Bồ Tát lần lượt gia trì cho thành hiện thực. Sự hổ thẹn khiến đệ tử càng trở nên thận trọng hơn, không dám tùy tiện cầu xin sự gia trì của Bồ Tát và của Ân sư nữa. Cho đến năm 2013, vì đệ tử chưa khai ngộ, không xử lý tốt mối quan hệ gia đình, dẫn đến việc chồng tôi sinh lòng bất mãn; mái ấm bình yên của chúng tôi bỗng chốc rơi vào cảnh bế tắc. Tôi tự vấn lại bản thân một cách sâu sắc, biết rằng do mình tu chưa tốt, nên không dám cầu xin Bồ Tát hay cầu xin Sư phụ. Đứng trước bàn thờ Phật, đệ tử tự lẩm bẩm một mình: "Muốn làm dịu đi tình thế hiện tại, trừ phi sinh được một đứa con; nhưng ngặt nỗi bản thân lại chẳng có bản lĩnh đó". Điều kỳ diệu là, đệ tử chỉ vừa mới nảy sinh một ý nghĩ như vậy, thế mà bước sang tháng sau tôi lại thực sự có thai. Mười bốn năm ròng rã khó khăn chật vật mãi không thể thụ thai; những năm trước đó cũng từng có thai, nhưng lại không thể giữ được đến lúc sinh nở. Hai vợ chồng chạy chữa không biết bao nhiêu bệnh viện, thuốc men tốn đến hơn vạn tệ; đến cuối cùng chúng tôi đành ngậm ngùi không dám nuôi hy vọng hão huyền nữa.

Năm 2013 là một năm tràn đầy hy vọng. Trong năm nay, tôi vác bụng bầu hơn ba tháng sang Hồng Kông tham dự nghi lễ Bái Sư, được gặp lại Sư phụ mà tôi hằng mong nhớ; trong năm nay, tôi đã bình an hạ sinh một bé trai kháu khỉnh, khỏe mạnh, khuôn mặt trang nghiêm; trong năm nay, tôi đã được tận hưởng sự quan tâm, chăm sóc ân cần của người thân và bạn bè! Cảm ân Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, cảm ân Sư phụ vô vàn kính yêu và Đại Từ Đại Bi!

Là một sản phụ sinh con so khi tuổi đã cao (40 tuổi), trong suốt cả thai kỳ tôi hoàn toàn không gặp phải những cái gọi là "biến chứng thai kỳ", thậm chí ngay cả những vết rạn da bụng phổ biến nhất cũng không hề xuất hiện; hơn nữa da mặt lại còn đẹp hơn lúc chưa mang thai. Tất cả những điều này đều là nhờ công đức ăn chay sau khi học Phật. Từ tháng thứ 4 đến tháng thứ 8 thai kỳ, những lần đi khám thai bác sĩ đều báo thai nhi nằm ngôi mông (ngôi ngược). Là một người phụ nữ, tôi cảm nhận sâu sắc những nỗi khổ trên thế gian này; nhưng tôi vẫn muốn được một lần trải nghiệm cái cảm giác đau đớn khi sinh nở mà chỉ những người làm mẹ mới có cơ hội trải qua.

Gần đến ngày dự sinh, sau nhiều lần thực hiện các bài tập xoay ngôi thai không thành công, thai nhi bỗng nhiên xoay đầu về vị trí thuận (ngôi đầu) một cách kỳ diệu. Lúc sinh, tôi từ chối tiêm thuốc đẻ không đau; tôi dồn toàn bộ tâm trí vào việc duy trì chánh niệm, kết hợp phương pháp hít thở mà bác sĩ hướng dẫn với việc niệm thánh hiệu. Lúc cơn đau dâng lên đến tột đỉnh, tôi liền gọi lớn: "Bồ Tát mẹ cứu con", lập tức cơn đau dữ dội liền dừng lại... Cứ như vậy, giai đoạn 2 và 3 của ca sinh nở của tôi chỉ mất khoảng 4 tiếng đồng hồ. Sau khi sinh, cơ thể tôi phục hồi rất nhanh; chỉ 2 tiếng sau tôi đã bắt đầu tự đi lại được. Ba ngày sau sữa về tràn trề; bé con khóc rất to vang, chân tay mạnh mẽ, cử động rất dứt khoát. Người thân, bạn bè biết tôi là người ăn chay trường, ai nấy đều liên tục trầm trồ kinh ngạc! Cảm ân Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát! Cảm ân Đại Từ Đại Bi Đài Trưởng Ân sư!

Đệ tử Trần Húc Chắp tay đảnh lễ.

Ngày 17 tháng 1 năm 2014.

6. Thi cao học, chữa bệnh, giải mộng thảy đều linh nghiệm, không gì là không ứng nghiệm

+

(Cảm nghĩ sau một năm tu hành Pháp môn Tâm Linh)

Tôi là một đồng tu ở Cáp Nhĩ Tân (Trung Quốc). Dưới sự độ hóa của dì, vào tháng 3 năm 2012, tôi và mẹ may mắn được xem đĩa VCD ghi hình Pháp hội của Đài Trưởng; tôi vô cùng kinh ngạc trước sự linh nghiệm khi Đài Trưởng xem Đồ đằng trực tiếp tại hiện trường. Lúc bấy giờ, tình trạng của bản thân tôi vô cùng tồi tệ: nội tâm đang phải gánh chịu nỗi đau tan vỡ của mối tình 5 năm, cộng thêm sự tuyệt vọng vì thi rớt cao học và sự lận đận trong việc tìm kiếm việc làm. Đối với một sinh viên năm cuối đại học mà nói, đây không nghi ngờ gì chính là bước đường cùng. Nhìn bạn bè xung quanh lần lượt cầm bằng tốt nghiệp đến báo danh ở các công ty và trường học lớn, tôi chỉ biết giam mình trong nhà, khóc thầm qua khung cửa sổ. Áp lực tinh thần đẩy tôi đến sát bờ vực suy sụp.

Tình trạng sức khỏe của mẹ tôi cũng rất kém. Mặc dù mẹ đã tin Phật 10 năm, nhưng luôn tự mình "dò đá qua sông", không có minh sư chỉ điểm, chỉ dựa vào đức tin đối với Phật Bồ Tát. Hằng ngày ở nhà, mẹ đều dập đầu lạy và tụng các bộ kinh lớn như «Địa Tạng Kinh», «Vô Lượng Thọ Kinh», nhưng sức khỏe vẫn ngày một sa sút.

Khi xem xong đĩa Pháp hội của Đài Trưởng, chúng tôi như vớ được cọng rơm cứu mạng. Dì hướng dẫn và nói với tôi rằng, thông qua việc tụng «Giải Kết Chú» và «Chuẩn Đề Thần Chú», tôi có thể hóa giải oan kết giữa tôi và bạn trai; và nếu có duyên thì có thể cứu vãn được cuộc tình này. Với tâm lý muốn thử xem sao, tôi bắt đầu tụng hai loại kinh chú này (không tụng các kinh văn khác), còn mẹ tôi cũng bắt đầu thực hiện các bài công khóa cơ bản hằng ngày. Tụng được khoảng một tuần, tôi không thấy mối quan hệ giữa tôi và bạn trai có gì tiến triển; khi tôi kể lại tình hình cho dì và mẹ nghe, họ bảo tôi rằng kinh văn phải tụng đồng bộ, phải làm công khóa cơ bản thì mới có hiệu quả, nếu chỉ tụng đơn lẻ một loại kinh thì hiệu quả sẽ không rõ rệt.

Vì lúc đó tôi chưa tốt nghiệp, vẫn phải ở ký túc xá, việc tụng kinh ở trường hằng ngày vô cùng bất tiện, bắt buộc tôi phải học thuộc lòng tất cả các kinh văn trong công khóa. Nhưng trước nay tôi chưa từng tụng qua những kinh văn này, đối với tôi, việc bắt phải thuộc làu làu tất cả trong một lúc là rất khó. Dì và mẹ bảo tôi có thể cầu xin Quán Thế Âm Bồ Tát gia trì, khai mở trí tuệ cho tôi, tôi sẽ rất nhanh thuộc thôi. Quả thật rất linh nghiệm, tôi chụp ảnh tất cả các bài kinh lưu vào điện thoại để tiện đọc tụng; chỉ mất vỏn vẹn một tuần, tôi đã học thuộc làu Đại Bi Chú, Chuẩn Đề Thần Chú, Vãng Sinh Chú và Tâm Kinh. Qua một tuần tiếp theo, tôi cũng thuộc luôn Lễ Phật Đại Sám Hối Văn, và đã biết cách tụng Ngôi nhà nhỏ. Cứ như vậy, từ ngày 25 tháng 3, tôi và mẹ chính thức bắt đầu tu học Pháp môn Tâm Linh.

Từ khi bắt đầu học Pháp môn Tâm Linh, những chuyện linh nghiệm liên tiếp xảy ra. Đầu tiên là tôi mơ thấy bạn trai mình bị ốm; trong mơ tôi đang cứu anh ấy, anh ấy còn hỏi tôi: "Em có biết tụng Ngôi nhà nhỏ không?" (Ngoài đời anh ấy hoàn toàn không biết tôi đang tu Pháp môn Tâm Linh). Tôi trả lời rằng tôi biết. Tỉnh mộng, tôi kể lại cho mẹ nghe; mẹ phân tích rằng chắc là người cần kinh của bạn trai đã báo mộng cho tôi, đến để xin Ngôi nhà nhỏ. Thế là tôi tụng cho anh ấy 7 tờ. Sau đó tôi và bạn trai có gặp nhau một lần, mới biết được đúng vào khoảng thời gian tôi nằm mơ đó, anh ấy đi công tác và bị ốm một trận, sốt cao không lùi, đi chụp CT não cũng không tìm ra nguyên nhân cụ thể. Mẹ anh ấy đi xem bói thì người ta bảo có hai linh tính đang nhập trên người anh ấy. Sau này may mắn được Đài Trưởng giải mộng giúp tôi, quả đúng là Người cần kinh của bạn trai đến đòi kinh.

 

Đối với tôi, việc được Đài Trưởng xem Đồ đằng luôn là tâm nguyện lớn nhất; nhưng đường dây nóng của Đài Trưởng thật sự quá "nóng", gọi mãi không được. Sau này, khi bề dày học Phật sâu hơn, tôi biết rằng cứ chăm chỉ tụng kinh thì tình hình sẽ dần dần tốt lên; nhưng tôi vẫn cầu Quán Thế Âm Bồ Tát, chỉ mong Đài Trưởng khai thị cho tôi vài lời là tốt rồi, không cần xem Đồ đằng cũng được. Lần nào gọi điện tôi cũng tụng Đại Bi Chú xin Bồ Tát mẹ gia trì cho tôi gọi được. Cuối cùng, vào ngày 1 tháng 6, tôi đã gọi được vào đường dây hẹn trước của Đài Trưởng cho năm 2013, tôi quá đỗi kích động. Tiếp đó, vào lúc 9 giờ trong chương trình Huyền Nghệ Vấn Đáp, tôi đã nối máy thành công với Đài Trưởng. Đài Trưởng đã khai thị cho tôi rất nhiều, tôi vô cùng biết ơn Ngài; sau đó tôi cũng không còn chấp trước vào mối quan hệ với bạn trai nữa, rất nhiều vấn đề tôi đã có thể nhìn thấu và buông bỏ. Ngày 1 tháng 6 là ngày khó quên nhất trong đời tôi, tôi thực sự quá biết ơn Quán Thế Âm Bồ Tát. Đài Trưởng khai thị, bảo tôi hãy chuẩn bị thi cao học cho thật tốt, nhất định không có vấn đề gì; sau đó tôi bắt đầu lao vào ôn tập.

Buông bỏ đoạn tình cảm 5 năm đối với tôi là một quá trình dài đằng đẵng, và cũng là một thử thách đối với ý chí nội tâm của tôi. Đến tháng 8, tôi lại một lần nữa gọi được vào đường dây nóng của Đài Trưởng. Đài Trưởng từ bi gia trì cho tôi, giúp tôi chọn trường để thi vào. Nhưng việc tĩnh tâm ôn tập lại là khó khăn lớn nhất trong quá trình chuẩn bị của tôi; mỗi ngày làm công khóa tôi đều cầu Bồ Tát khai mở trí tuệ, để tôi có thể tĩnh tâm ôn tập thật tốt. Đến tháng 11 chính thức đăng ký dự thi, tôi quyết tâm đăng ký theo lựa chọn mà Đài Trưởng đã chỉ điểm (trường Đài Trưởng chọn giúp tôi là một ngôi trường danh tiếng mà tôi vẫn luôn ao ước nhưng lại sợ bản thân không đủ năng lực). Sau khi điền xong nguyện vọng, tôi mới thực sự bước vào trạng thái "tác chiến" ôn thi.

Lúc đó chỉ còn chưa đầy hai tháng là đến ngày thi 5 tháng 1, thời gian vô cùng gấp rút. Tôi luôn không tin rằng mình có thể hoàn thành toàn bộ khối lượng ôn tập trong vỏn vẹn hai tháng ngắn ngủi này. Mỗi ngày tụng Lễ Phật, tôi đều kiên trì cầu Quán Thế Âm Bồ Tát khai mở trí tuệ; kiên trì tụng Ngôi nhà nhỏ mỗi ngày, và còn tụng thêm Tâm Kinh cùng Chuẩn Đề Thần Chú, cầu xin Bồ Tát mẹ gia trì cho tôi ôn tập với hiệu suất cao, mỗi ngày bớt buồn ngủ, ngủ ít đi một chút để có thêm thời gian học. Cứ như vậy, kiên trì ngày qua ngày suốt hai tháng, ngày bước vào phòng thi cuối cùng cũng đến; tôi mang theo thành quả ôn tập chớp nhoáng của mình, thấp thỏm bước vào trường thi.

Ngày thi, tôi mặc chiếc áo màu đỏ (vì mẹ tôi từng mơ thấy tôi mặc một chiếc áo len mượt màu đỏ rất đẹp và thi đỗ cao học, Đài Trưởng cũng từng nói đó là giấc mơ mang điềm lành; tôi và mẹ đoán chắc là Bồ Tát điểm hóa, Đồ đằng của tôi là màu đỏ). Tôi vẫn như mọi ngày, 4h30 sáng dậy làm công khóa đến 6h30; 7h30 có mặt tại trường thi. Mặc dù hai tháng qua Bồ Tát mẹ không ngừng gia trì, nhưng tôi vẫn còn một số nội dung chưa ôn kịp; đến tận lúc đi trên đường tới trường thi, tôi vẫn còn đang cắm mặt vào tài liệu. Bên ngoài phòng thi, mẹ tôi cũng không được rảnh rỗi; từ 10 phút trước khi kỳ thi bắt đầu, mẹ đã thắp hương. Bài thi kéo dài 3 tiếng, mẹ tôi đã quỳ đúng 3 tiếng đồng hồ để tụng Tâm Kinh và Chuẩn Đề Thần Chú cho tôi. Tội nghiệp tấm lòng cha mẹ, đầu gối mẹ tôi quỳ đến tê dại nhưng vẫn kiên trì tụng.

Môn đầu tiên là môn Chính trị, tôi chỉ dành đúng 2 ngày để ôn môn này. Khi đề thi phát xuống, tôi chỉ biết "múa bút thành văn" với tốc độ ánh sáng (vì tôi sợ trí nhớ ngắn hạn của mình sẽ quên mất), để tiết kiệm thời gian cho phần câu hỏi tự luận phía sau. Trong lúc làm bài, cũng có những câu tôi không biết và có vắt óc thế nào cũng không nhớ ra; tôi nhớ lời mẹ dặn hễ gặp câu khó thì tụng Tâm Kinh, thế là tôi nhẩm tụng một biến Tâm Kinh. Mặc dù không nhớ ra ngay lập tức, nhưng trong quá trình làm các câu tiếp theo, tôi dần dần nhớ lại được một số ý để trả lời; môn đầu tiên coi như phát huy bình ổn.

Đến chiều là môn Tiếng Anh, đây là thế mạnh của tôi, là môn tôi kỳ vọng sẽ kéo điểm cho mình; mẹ tôi vẫn tiếp tục tụng kinh ở nhà. Nhưng vì tôi hầu như không ôn ngoại ngữ, chỉ viết đại hai bài luận vào ngày trước khi thi rồi vác mặt đi thi luôn; nên trong phòng thi tôi không sao tìm được cảm giác làm bài, hơn nữa lại liên tục buồn ngủ; phải qua nửa thời gian làm bài mới tỉnh táo lại. Lúc nộp bài, tôi nghĩ Tiếng Anh của mình xong đời rồi; đề làm không kịp, phong độ không tốt, phần đọc hiểu chưa đọc xong. Ngày thi đầu tiên đã chịu đả kích, tôi nghĩ phen này hỏng rồi, lại là "tham gia cho vui" thôi. Về nhà, thấy tôi mặt mày ủ rũ, mẹ biết tôi làm bài không suôn sẻ, liền bảo tôi quỳ trước bàn thờ Phật cầu xin Quán Thế Âm Bồ Tát gia trì; xin cho bài thi của tôi được phân đến tay vị giám khảo có thiện duyên với tôi, xin cho phần tự luận được chấm điểm nương tay một chút, và gia trì cho tôi ngày mai có thể làm bài thật tốt. Sáng hôm sau, tôi vẫn thức dậy làm công khóa bình thường, trên đường đi thi vẫn cầm tài liệu ra xem; và mẹ tôi vẫn tiếp tục tụng kinh tiếp sức từ xa.

Môn thứ ba là Toán, môn tôi yếu nhất và cũng là môn tôi dành nhiều thời gian nhất. Tôi vô cùng căng thẳng, nhưng tôi tin Quán Thế Âm Bồ Tát mẹ nhất định sẽ phù hộ cho tôi; trong lòng tôi không ngừng lẩm nhẩm Chuẩn Đề Thần Chú và Tâm Kinh. Đề thi phát xuống, tôi phát hiện có mấy câu chính là những dạng bài mà tôi vừa xem trên đường đi thi; dần dần tâm trạng tôi bình tĩnh lại. Dù làm không quá xuất sắc, nhưng tôi đã phát huy vững vàng đúng với năng lực bình thường của mình.

Chiều hôm đó là trận chiến cuối cùng của tôi, môn Chuyên ngành; môn này xưa nay vốn là tấm giấy thông hành cho sinh viên trong trường, nhưng lại là hòn đá tảng cản đường sinh viên trường ngoài. Điểm số môn chuyên ngành rất cao, kiến thức thi tạp nham, nội dung cực kỳ nhiều; đây cũng là môn tôi phân bổ khá nhiều thời gian ôn tập. Từ lúc bắt đầu làm bài, tôi phải viết thật nhanh, không có thời gian quay lại kiểm tra. Trong lúc làm, tôi cũng gặp phải tình trạng lúc nhớ lúc quên những nội dung đã học; nhưng cuối cùng những gì biết tôi đều viết hết vào, những gì không biết cũng cố nặn ra được vài ý, nhìn chung là tàm tạm. Cuối cùng, tôi thất vọng bước ra khỏi phòng thi, thầm nghĩ năm nay lại "tạch" nữa rồi.

Về nhà, tôi kể lại tình hình thi cử cho mẹ nghe; mẹ lập tức bắt tôi đến trước bàn thờ Phật cầu xin Quán Thế Âm Bồ Tát, xin Bồ Tát phù hộ cho bài thi của tôi đến tay vị giám khảo có thiện duyên, phù hộ cho tôi thuận lợi thi đỗ cao học. Hai tháng ròng rã chờ đợi, tôi mang trong mình tâm trạng vừa thấp thỏm vừa mong chờ kỳ tích xuất hiện; mỗi ngày đều kiên trì làm công khóa và tụng Ngôi nhà nhỏ, không dám lơ là. Hễ có chương trình của Đài Trưởng là tôi lại gọi điện. Cứ như vậy, tôi may mắn nối máy được với Đài Trưởng vào ngày 21 tháng Giêng. Đài Trưởng đã xem giúp tôi vấn đề học hành thi cử, điều chỉnh lại công khóa và gia trì cho tôi nhất định sẽ thi đỗ (Cảm ân Đài Trưởng!).

Đến cuối tháng 3, tôi nhận được điểm số, là 295 điểm. Vì đề năm nay hơi khó, mọi người bàn tán rằng điểm sàn sẽ giảm (năm ngoái là 290, các năm trước điểm sàn đều dao động tăng giảm khoảng 10 điểm, tôi nghĩ năm nay cũng không ngoại lệ). Tự bản thân tôi suy tính, nếu giảm thì còn may, còn vừa đủ đỗ; nếu tăng thì chắc chắn tôi trượt rồi. Đến lúc công bố điểm sàn quốc gia, kỳ tích thực sự đã xuất hiện; điểm sàn quốc gia năm nay là 295 điểm, tôi vừa khít qua vạch. Hơn nữa, năm nay do chấm thi nghiêm ngặt, số sinh viên qua điểm sàn chỉ bằng một nửa chỉ tiêu tuyển sinh; trường đã phá lệ đưa ra chính sách ưu đãi cho những sinh viên đăng ký nguyện vọng 1 vào trường: chỉ cần qua điểm sàn là được vào vòng phỏng vấn (phúc khảo). Lại một lần nữa cảm ân Đài Trưởng! Ngài đã giúp tôi bước vào một trang đời hoàn toàn mới một cách vô cùng thuận lợi.

Trong nửa năm ôn thi cao học, tôi không may bị nhiễm bệnh nấm móng. Ban đầu móng chân chỉ bị đổi màu, sau đó ngày càng dày lên. Khám ở Bệnh viện số 1 Đại học Y Cáp Nhĩ Tân, bác sĩ trưởng khoa xác nhận là nấm móng và cho biết ngoài việc phẫu thuật cắt bỏ móng ra, không có cách nào khác để chữa tận gốc. Vì đang trong giai đoạn ôn thi, nếu phẫu thuật cắt móng chắc chắn tôi sẽ phải nằm nhà dưỡng thương, không thể đi lại, không thể đến thư viện tự học được; nhưng tình trạng móng chân ngày càng nghiêm trọng, đã lây lan sang cả hai bàn chân, không thể kéo dài thêm được nữa.

Mẹ tôi bảo có thể cầu xin Quán Thế Âm Bồ Tát, tụng Ngôi nhà nhỏ tiêu trừ nghiệp chướng thì tự nhiên sẽ khỏi, khỏi phải chịu nỗi đau phẫu thuật. Tự tôi quỳ trước bàn thờ Phật cầu xin, xin Bồ Tát mẹ giúp tôi tiêu trừ nghiệp chướng ở móng chân, chữa khỏi bệnh nấm móng cho tôi, để tôi không phải phẫu thuật; tôi sẽ dùng Ngôi nhà nhỏ để tiêu trừ nghiệp chướng của mình. Tụng được khoảng 49 tờ Ngôi nhà nhỏ, cứ tụng được 7 tờ thì tôi lại hóa (đốt) một lần; sự tích lũy về lượng đã dẫn đến sự thay đổi về chất: phần móng chân bị nấm tự động bong ra khỏi ngón chân mà không hề gây ra chút đau đớn nào, thật sự khiến người ta khó bề tin nổi! Dần dần, toàn bộ phần móng hỏng bong ra hết, và móng chân mới, khỏe mạnh đã mọc ra!

Cảm ân Quán Thế Âm Bồ Tát! Cảm ân Lư Quân Hoành Đài Trưởng! Pháp môn Tâm Linh linh nghiệm, những tờ Ngôi nhà nhỏ thần kỳ, đã khiến tôi hoàn toàn bị khuất phục; và tôi quyết định sẽ dành cả cuộc đời này để chăm chỉ tu hành, nguyện làm nghìn mắt nghìn tay của Quán Thế Âm Bồ Tát để độ thêm nhiều chúng sinh có duyên!

Cảm ân Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát! Cảm ân Đại Từ Đại Bi Lư Quân Hoành Đài Trưởng!

Cảm ân Ban Thư ký Đài Đông Phương đã làm việc vất vả!

Đồng tu Cáp Nhĩ Tân Chắp tay tri ân.

7. Sỏi thận 1.1 cm của con trai biến mất một cách kỳ diệu

+

Cảm ân Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát!

Cảm ân Đại Từ Đại Bi Lư Đài Trưởng!

Cảm ân các vị đồng tu đã vô tư cống hiến!

Xin chào mọi người! Tôi là Ngô Tĩnh Hoa. Đứa bé có viên sỏi thận 1.1 cm biến mất mà Đài Trưởng nhắc đến trong buổi khai thị tối ngày đầu tiên của Pháp hội Malaysia, chính là con trai tôi!

Tại đây, tôi xin chân thành chia sẻ với mọi người về việc Quán Thế Âm Bồ Tát đã hết lần này đến lần khác từ bi với hai mẹ con tôi như thế nào, và đã cứu con trai tôi một cách thần kỳ ra sao, để kỳ tích hết lần này đến lần khác xuất hiện trên cơ thể cháu.

Con trai tôi đến nay vẫn chưa đầy 1 tuổi 2 tháng, vậy mà Đài Trưởng đã cứu cháu đến 4 lần! Đồng thời điều này cũng minh chứng cho câu nói của Đài Trưởng rằng đứa trẻ cầu xin mà có được là để đòi nợ; bởi vì con trai tôi chính là do tôi cầu xin mà có. Bây giờ tôi xin chia sẻ theo trình tự thời gian về việc Quán Thế Âm Bồ Tát và Đài Trưởng đã cứu con trai tôi như thế nào.

Lần thứ nhất, lúc ra đời, tháng 1 năm 2013. Khi tôi mang thai 8 tháng, Đài Trưởng giải mộng giúp tôi và nói rằng lúc sinh con tôi sẽ bị băng huyết, dặn tôi phải phát đại nguyện; Ngài còn hỏi tôi có đang ăn hải sản sống không. Tôi nói không, nhưng lập tức nhớ ra một thời gian trước đó tôi có mời gia đình cậu ăn một bữa hải sản sống. Làm theo lời khai thị của Đài Trưởng, sau khi phát nguyện, tôi đã sinh mổ thành công một bé trai khỏe mạnh. Bác sĩ của tôi nói rằng chúng tôi đã đưa ra một quyết định rất sáng suốt khi chọn sinh mổ. Mặc dù ở Úc rất khuyến khích sinh thường, nhưng trường hợp của tôi là thai đã quá ngày dự sinh 3 ngày mà vẫn chưa tụt xuống khung chậu, cũng không có dấu hiệu chuyển dạ; vòng đầu của con to hơn mức trung bình của trẻ em phương Tây, khung chậu của tôi lại nhỏ, hơn nữa dây rốn lại quấn quanh cổ và cánh tay 2 vòng. Bác sĩ giải thích: Thứ nhất, theo lẽ thường, thai chưa tụt xuống khung chậu mà kích đẻ sẽ rất nguy hiểm; Thứ hai, khung chậu của tôi nhỏ, đầu thai nhi lại to, sinh sẽ rất đau đớn, thời gian kéo dài có thể gây ngạt thở; Thứ ba, dây rốn quấn 2 vòng; thông thường những ca như thế này dù có sinh thường cũng sẽ phải lôi đi mổ cấp cứu do băng huyết. Tôi thực sự toát mồ hôi hột cho hai mẹ con; cảm ân Quán Thế Âm Bồ Tát đã báo mộng cho tôi, cảm ân Đài Trưởng đã từ bi giải mộng, giúp hai mẹ con tôi tai qua nạn khỏi.

Lần thứ hai, lúc con 2 tháng tuổi. Con bỗng nhiên phát sốt; bác sĩ gia đình nói rằng trẻ 2 tháng tuổi cho dù sốt 38 độ cũng bắt buộc phải đưa vào bệnh viện. Tôi nhớ hôm đó là ngày 8 tháng 3, tim cháu đập rất nhanh, thở gấp; xét nghiệm máu và nước tiểu đều cho thấy có viêm nhiễm. Sau đó siêu âm B phát hiện thận trái hơi phình to, rất có khả năng là do nước tiểu trào ngược về thận gây sốt. Chúng tôi phải nằm viện 6 ngày 5 đêm; sau khi xuất viện vẫn phải tiếp tục uống kháng sinh cho đến khi chụp X-quang để xác định chính xác xem có phải nước tiểu trào ngược hay không. Bồ Tát rất từ bi; đúng một ngày trước khi chụp X-quang, lịch hẹn xem Đồ đằng với Đài Trưởng của tôi đã đến. Đài Trưởng nói đứa bé tôi từng sảy thai đang nằm trên thận trái của con trai tôi, cần 87 tờ Ngôi nhà nhỏ. Tôi lập tức phát nguyện. Ngày hôm sau đi chụp chiếu – tức là bơm chất cản quang vào bàng quang rồi dùng X-quang theo dõi toàn bộ quá trình bài tiết nước tiểu – Cảm ân Bồ Tát, hoàn toàn không có hiện tượng nước tiểu trào ngược, con trai tôi không phải uống kháng sinh suốt 2 năm trời nữa.

Lần thứ ba, lúc con 8 tháng tuổi. Trong thời gian tôi về nước vào ngày 29 tháng 8, con trai lại bắt đầu sốt; khuôn mặt nhỏ nhắn vàng vọt, đêm đến gào khóc thảm thiết, không sao ngủ được. Kết quả xét nghiệm của bệnh viện cho thấy chỉ số viêm nhiễm của con lên tới 195, trong khi đứa bé bị viêm màng não ở giường bên cạnh chỉ mới 120. Bệnh viện Nhi đồng ngay trong ngày hôm đó đã bắt tôi ký giấy báo bệnh tình nguy kịch, còn bảo tôi gọi ba cháu bay về Quảng Châu. Ban đêm, ba chiếc máy theo dõi khác nhau trên đầu giường của con liên tục kêu tít tít. Cảm ân sư tỷ đã báo tình hình của con trai tôi cho Đài Trưởng; Đài Trưởng nói cần 240 tờ Ngôi nhà nhỏ, phải phát đại nguyện. Vì lần trước là ở thận trái, nên lần này bệnh viện lại cho siêu âm B; kết quả phát hiện vẫn là thận trái nhưng xuất hiện hai viên sỏi, một viên 0.87cm, một viên hơn 0.5cm. Bác sĩ khoa Tiết niệu chỉ định phải chụp một loại X-quang tên là VPM để kiểm tra cấu trúc của sỏi thận, từ đó mới quyết định dùng laser hay phương pháp khác để xử lý.

Làm theo phương pháp của Đài Trưởng, ngày thứ hai sau khi phát nguyện, chúng tôi đi chụp VPM. Quá trình chụp VPM này cứ ngắt quãng kéo dài suốt 3 tiếng đồng hồ, chủ yếu là để quan sát quá trình máu lưu thông qua thận. Kết quả là bác sĩ bảo chẳng nhìn thấy cái gì cả. Ngày thứ hai kiểm tra lại nước tiểu, không còn viêm nhiễm nữa, thế là bệnh viện cho chúng tôi xuất viện, thậm chí thuốc cũng không thèm kê, cứ như thể chưa từng có chuyện gì xảy ra vậy. Pháp môn Tâm Linh chính là thần kỳ như thế! Linh nghiệm như thế đó! Chỉ cần bạn biết vận dụng ba pháp bảo: Phát nguyện, Phóng sinh, Tụng kinh; và vững tin rằng Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ cứu chúng ta, thì mọi điều kỳ diệu đều có thể xảy ra! Cảm ân mấy vị sư huynh đã trợ niệm cho tôi, họ cũng đã hy sinh rất nhiều để giúp đỡ con trai tôi vượt qua cửa ải khó khăn!

Lần thứ tư, lúc con 1 tuổi. Trước hết, tôi xin được sám hối sâu sắc tại đây! Tôi đã không biết cảm ân Quán Thế Âm Bồ Tát! Không biết cảm ân Sư phụ! Và cũng có lỗi với các sư huynh đã từng trợ niệm cho tôi! Do không rút ra được bài học kinh nghiệm từ lần trước, tôi dần dần trở nên lơ là; không chăm chỉ tu tâm tụng kinh, không tụng Ngôi nhà nhỏ, ngày nào cũng sống qua quýt hồ đồ. Hậu quả là, đúng một ngày trước Tết Nguyên Đán 2014 vừa qua, con trai tôi lại phải nhập viện. Kết quả kiểm tra vẫn là thận trái: có một viên sỏi thận kích thước 1.1cm chặn ngang quả thận; nước tiểu không bài tiết được đã làm cho quả thận phình to thêm 1/4. Ngày mùng một Tết, bác sĩ khoa Tiết niệu đã phải làm một cuộc phẫu thuật, luồn một vật rất nhỏ như chiếc ống hút từ đường tiểu của con vào tận thận, để dẫn lưu nước tiểu ra ngoài bàng quang; sau đó họ quyết định sẽ mổ tán sỏi bằng laser vào ngày 3 tháng 3.

Sau này ngẫm lại tôi mới nhận ra mình đã sai rồi, sai quá lớn rồi! 240 tờ Ngôi nhà nhỏ đã phát nguyện, đến 2 tháng cuối cùng tôi vẫn còn nợ 100 tờ; 5.000 con cá đã hứa phóng sinh, tôi vẫn còn thiếu 2.900 con! Lời nguyện do chính tôi phát ra mà tôi lại không thực hiện, vậy mà tôi dám vọng ngữ (nói dối) với Bồ Tát! Tại đây tôi chân thành sám hối với Bồ Tát! Sám hối với Lư Đài Trưởng! Con trai tôi cũng vì thế mà phải chịu tội lớn; đứa bé nhỏ xíu mới 1 tuổi đã phải đeo cái ống dẫn nước tiểu lủng lẳng trên người, tôi thật sự quá hồ đồ! Tim tôi đau như cắt không kìm nén nổi; trong buổi giao lưu của Đài Đông Phương vào ngày thứ Bảy, tôi đã khóc lóc sám hối sâu sắc về sự lười biếng trong việc học Phật của mình. Đài Trưởng đã nghiêm khắc nói với tôi: "Hạng người như cô tôi sẽ không cứu đâu". Nhưng mọi người đều biết Đài Trưởng là Bồ Tát, là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát, mà Quán Thế Âm Bồ Tát thì cầu gì được nấy! Đài Trưởng chỉ trích sự lười biếng của tôi, thực chất cũng là đang gia trì tiêu nghiệp cho tôi.

Điều kỳ diệu lại một lần nữa đến với con trai tôi: Viên sỏi kích thước 1.1cm trong thận con đã biến mất một cách thần kỳ!!! Bởi vì ngay trong đêm Chủ nhật hôm đó, Đài Trưởng đã gia trì cho con trai tôi, dùng ý niệm để thông viên sỏi đang làm tắc nghẽn quả thận của con! Cảm ân Đại Từ Đại Bi Lư Đài Trưởng! Có thể nói Đài Trưởng chính là Quán Thế Âm Bồ Tát! Nếu không có thần thông của Đài Trưởng, viên sỏi 1.1cm làm sao có thể biến mất một cách kỳ diệu như vậy! Đây không phải là sức mạnh của Bồ Tát thì còn là gì nữa! Sự từ bi của Đài Trưởng khiến tôi ngập tràn lòng biết ơn, không lấy gì để báo đáp nổi!

Đài Trưởng hết lần này đến lần khác từ bi với chúng sinh, mà Ngài không hề đòi hỏi bất cứ sự đền đáp nào; Ngài chỉ muốn chúng ta được sống tốt! Hạng người vọng ngữ như tôi, Đài Trưởng vẫn ra tay cứu giúp! Đài Trưởng đồng thời còn gánh nghiệp thay cho tôi! Đài Trưởng nói với tôi: "Trẻ con là vô tội!". Thế nhưng một người mẹ không đủ tư cách, tội nghiệt sâu nặng như tôi đã làm liên lụy đến con cái, liên lụy cả đến Đài Trưởng! Lần này tôi lập tức phát nguyện phóng sinh tiếp, sau đó từ nay về sau mỗi tháng sẽ tụng kinh liên tục không ngừng nghỉ; lần này tôi chắc chắn sẽ tinh tấn tu hành tụng kinh, tuyệt đối không dám lơ là nữa!

Ngày hôm sau, tôi lập tức yêu cầu cho con siêu âm B. Tôi nói với bác sĩ rằng có lẽ viên sỏi thận của con tôi đã trôi ra ngoài rồi; vì từ lúc Đài Trưởng giúp con thông sỏi, con ăn được rất nhiều. Trước đây con không chịu ăn, sụt mất mấy cân thịt; giờ thì ban đêm còn ngủ thẳng giấc. Tôi chưa nói dứt lời, bác sĩ liền bảo điều đó là không thể, sỏi 1.1cm người lớn còn khó mà đào thải ra ngoài được, nói gì đến trẻ con. Kết quả là trong vòng nửa tiếng, bà ấy hoàn toàn ngẩn người; tìm kiếm mỏi mắt cũng không thấy viên sỏi đâu. Bà ấy còn gọi cả cấp trên đến xem, cũng chẳng thấy; người cấp trên bảo có lẽ viên sỏi đã rơi vào trong chiếc ống hút kia rồi, nên mới không tìm thấy. Chiếc ống hút đó bé tí teo như vậy, làm sao mà chứa được viên sỏi 1.1cm chứ; họ chỉ đang cố tự biện minh cho bản thân mà thôi, tôi cũng chẳng thèm quan tâm nữa. Nụ cười kìm nén bấy lâu, vừa bước ra khỏi cửa phòng khám là tôi đã cười phá lên; vui quá đi mất, kìm nén bao lâu cuối cùng mây mù cũng tan, cuối cùng cũng có thể theo Đài Trưởng đến Malaysia chứng kiến thời khắc chấn động này.

Lúc lái xe về nhà, nhìn thấy bức tượng Bồ Tát trong xe, nước mắt tôi tuôn rơi như suối, khóc không thành tiếng! Bồ Tát quá từ bi, Đài Trưởng quá từ bi! Một kẻ nhỏ bé, tội nghiệt sâu nặng lại hay vọng ngữ như tôi, mà Bồ Tát vẫn không rời không bỏ, Đài Trưởng không rời không bỏ, vẫn cứ "hữu cầu tất ứng"! Tôi tài cán gì, đức hạnh gì cơ chứ!

Một lần nữa tôi xin cảm ân Quán Thế Âm Bồ Tát đã hết lần này đến lần khác cứu con trai tôi! Một lần nữa cảm ân Đài Trưởng từ bi của chúng ta! Có thể nói, nếu không có Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, không có Đại Từ Đại Bi Lư Đài Trưởng, không có Pháp môn Tâm Linh, thì sẽ không có con trai tôi! Và cũng không có tôi của hiện tại! Xin mọi người nhất định hãy rút ra bài học kinh nghiệm từ tôi: Không được vọng ngữ, hãy đi theo Quán Thế Âm Bồ Tát, đi theo Lư Đài Trưởng chăm chỉ tu tâm tu hành, chân thành thực hiện từng lời nguyện mà mình đã phát ra!

Cảm ơn mọi người đã kiên nhẫn lắng nghe chia sẻ của tôi. Vì chuẩn bị khá vội vàng, tất cả các báo cáo khác tôi sẽ gửi lên trang web của Đài Trưởng; người học Phật không vọng ngữ.

Xin mọi người nhất định phải tin tưởng Bồ Tát. Chỉ cần bạn tin, và thực hành theo ba pháp bảo của Đài Trưởng: Tụng kinh, Phát nguyện, Phóng sinh; kỳ tích chắc chắn sẽ xảy ra trên chính bạn!

Úc, Sydney - Ngô Tĩnh Hoa.

8. Bởi vì có Người

+

--- Viết nhân dịp kỷ niệm hai năm gặp gỡ Ân sư

Lời nói đầu:

Phật ngôn Phật ngữ của Sư phụ Lư Đài Trưởng: Trước khi học Phật, chúng ta có thể là một kẻ xấu, cái cành cây này đã khô héo rồi; sau khi học Phật, chúng ta được ghép vào cành dương liễu của Bồ Tát, càng mọc càng tươi tốt, sum suê.

Mỗi khi đọc những lời khai thị của Sư phụ, tôi luôn ngập tràn niềm hân hoan như một đứa trẻ đi lạc bỗng chốc tìm thấy người mẹ thất lạc của mình. Cái cảm giác tìm thấy nhà, tìm thấy bến đỗ ấy, thực sự khiến người ta vô cùng an ủi. Đệ tử từng là một chúng sinh ngu si lạc lối trong cõi Ta Bà như thế; kiếp này, phúc báo lớn nhất của tôi chính là được gặp gỡ một vị minh sư vĩ đại như Người, được kết duyên với Pháp môn Tâm Linh thù thắng của Quán Thế Âm Bồ Tát. Bởi vì có sự dẫn dắt của một người Sư phụ đầy trí tuệ như Người, cuộc đời tôi từ đây đã mở ra một trang mới, thế giới nhờ đó cũng trở nên ấm áp biết bao! Cảm giác hạnh phúc to lớn trong nội tâm đã sưởi ấm mọi mùa xuân - hạ - thu - đông của đệ tử, mỗi một ngày trôi qua đều ngập tràn Pháp hỷ. Chúng con chân thành cảm ân Sư phụ từ bi của chúng con!

Bởi vì có Người, đệ tử bừng tỉnh đại ngộ, học được đạo lý làm người, hiểu được ý nghĩa vĩ đại của việc từ bi với chúng sinh, càng thêm trân trọng cơ hội "thân người khó được", coi nhân gian như một đạo tràng để tu hành, nỗ lực thực hành Tâm Bồ Tát, Hạnh Bồ Tát.

Bởi vì có Người, những người thân của đệ tử đều được thoát khổ tìm vui, Pháp hỷ chan hòa; biết bao chủ nợ (oan gia trái chủ) và chúng sinh vô hình đã được cứu độ siêu sinh; những người thân của chúng con ở cõi trần này, đều thọ nhận lợi ích sâu sắc từ Phật pháp.

Bởi vì có Người, đệ tử không chỉ giã từ một cơ thể ốm đau bệnh tật, có được một thể phách tráng kiện, mà hơn hết là có được một nội tâm mạnh mẽ chan chứa lòng từ bi với chúng sinh; chúng con nguyện dốc hết lòng thành, dùng phần đời còn lại đi theo Sư phụ hoằng pháp lợi sinh.

Bởi vì có Người, nội tâm đệ tử không còn mê muội, hoang mang; Người là người mẹ hiền từ nhất, là Ân sư đáng kính nhất, là bậc trưởng bối đáng tin cậy nhất, là người thân mà chúng con có thể dựa dẫm vào nhất.

Bởi vì có Người, từ nay về sau mọi giọt nước mắt của đệ tử sẽ không còn rơi vì đau khổ, bi thương nữa; nước mắt của chúng con là những giọt nước mắt hân hoan khi tương phùng cùng Sư phụ, là giọt nước mắt xót xa cho sự nhọc nhằn của Sư phụ, là giọt nước mắt hổ thẹn vì không đủ sức san sẻ cùng Sư phụ, là giọt nước mắt cảm ân quỳ tạ Sư phụ, và hơn hết là giọt nước mắt bi mẫn xót thương chúng sinh, nguyện dốc hết sức mình hộ trì Sư phụ hoằng pháp lợi sinh.

Bởi vì có Người, chúng con mới thực sự thấu hiểu đạo lý: "Mọi sự gặp gỡ trên đời này đều là sự tương phùng sau một cuộc chia ly dài đằng đẵng".

Nhìn lại hình ảnh của đệ tử hai năm trước, thực sự vô cùng hổ thẹn! Cuộc sống không mục tiêu, càng không có phương hướng; trôi dạt bốn phương, xao động khắp chốn. Chính sự xuất hiện của Sư phụ đã cứu rỗi linh hồn hoang mang của đệ tử. Người là vị Ân sư mà đệ tử đã tìm lại được do Quán Thế Âm Bồ Tát ban tặng sau bao ngày quỳ lạy cầu xin; là sự gặp gỡ thù thắng nhất trong cuộc đời. Khi vừa tìm thấy Sư phụ, Sư phụ và Quán Thế Âm Bồ Tát vĩ đại đã cùng nhau bước vào giấc mộng đầu tiên để thăm hỏi đệ tử. Chính nhờ có Người, đệ tử mới hiểu rằng, người Mẹ trên trời và vị Sư phụ từ bi chưa bao giờ từ bỏ chúng con. Chỉ là chúng con quá đỗi ngu muội, không cảm nhận được ánh mắt từ bi che chở của Sư phụ. Đó là loại nghiệp lực sâu nặng đến nhường nào? Đã che mờ đi đôi mắt và tâm hồn bám đầy bụi trần sau bao kiếp luân hồi ở chốn phàm gian của chúng con! Đệ tử hối hận lắm, hối hận đến đứt từng khúc ruột á!

Chính nhờ có Người, đệ tử đã được Sư phụ đánh thức kịp thời giữa cơn mê muội, nảy sinh một tâm mong muốn thoát ly mãnh liệt và một tinh thần trách nhiệm sâu sắc; biết được nhiệm vụ và trách nhiệm khi đến thế gian này một lần, tìm lại được Ân sư, nối lại duyên xưa. Đệ tử nguyện theo gót Sư phụ nỗ lực hoằng pháp, từ nay về sau không bao giờ muốn buông tay Người ra nữa.

Chính nhờ có Người, với Phật lực gia trì mạnh mẽ, với sự cứu độ kịp thời của Pháp thân, đệ tử gặp nạn được giải nạn, hóa giải tai kiếp, giành lại sự sống!

Chính nhờ có Người, với sự che chở ân cần, quan tâm chu đáo, trí tuệ của đệ tử ngày một tăng trưởng, nội tâm trở nên viên dung, năng lượng dồi dào, độ người chẳng ngại ngần!

Chính nhờ có Người, ân cần chỉ dạy: Hy vọng đệ tử học Phật thì phải giống Phật. Đệ tử ghi tạc lời dặn của Ân sư: Tinh tiến tu trì, rộng kết thiện duyên. Dùng tâm từ bi đối đãi với chúng sinh, hành thiện nhiều hơn, vạn sự tùy duyên, kết duyên lành, lấy đức thu phục lòng người.

Chính nhờ có Người, tất cả những người có duyên trên thế giới này đều có thể tìm thấy bến bờ, đều có chốn nương tựa cho tâm hồn, đều có thể hành thiện tích đức, đều có thể tìm thấy con đường trở về nhà. Quán Thế Âm Bồ Tát đang dùng tâm linh vẫy gọi chúng ta trở về ngôi nhà hằng mơ ước của mình.

Sư phụ vĩ đại ơi! Người Mẹ từ bi ơi! Chúng con yêu Người!

Đệ tử quỳ xin Quán Thế Âm Bồ Tát, phù hộ cho Sư phụ: Pháp thể an khang, thường trụ thế gian, hoằng pháp suôn sẻ, mãi mãi ở bên chúng con!

Đệ tử Pháp môn Tâm Linh.

9. Pháp môn Tâm Linh đã cứu tôi, cứu đứa con chìm đắm trong nghiện game, cứu vớt cả gia đình tôi

+

Tên trên mạng của tôi là Tiểu Thảo (Cỏ Nhỏ), tôi là một bệnh nhân ung thư vú. Tôi từng có một gia đình hạnh phúc, một cậu con trai vô cùng thông minh đáng yêu. Thế nhưng, do hai vợ chồng tôi quá nuông chiều cháu từ nhỏ, không giáo dục cẩn thận, dẫn đến việc khi bước vào tuổi dậy thì, tâm lý nổi loạn của cháu rất nghiêm trọng. Sau đó, vì tôi mắc bệnh phải lên Trịnh Châu hóa trị suốt 10 tháng ròng không có ai chăm sóc quản lý, cháu đã đâm ra nghiện game online; đỉnh điểm là chuyển sang bạo hành gia đình nghiêm trọng, và cuối cùng là bỏ bê việc học.

Từ khi tôi đổ bệnh đến khi con trai tôi nghiện game, gia đình tôi không còn một ngày nào được sống yên ổn hạnh phúc; những tháng ngày vui vẻ đùa giỡn của gia đình 3 người không còn nữa, chuỗi ngày vợ chồng thương yêu chăm sóc nhau cũng đóng băng. Tại sao lại ra nông nỗi này? Tại sao vận mệnh gia đình tôi lại lận đận, trái ngang đến vậy? Trước khi tiếp xúc với Pháp môn Tâm Linh, tôi chưa từng một lần kiểm điểm lại bản thân; tôi chỉ biết oán trách, chỉ trích, tủi thân, đau khổ...

Đêm giao thừa năm 2011, chỉ vì một câu nói, chồng và con trai tôi đã xảy ra chiến tranh; chồng tôi tát con trai một cái, thằng bé liền đập vỡ bát, thế là cả nhà mất Tết. Đài Trưởng từng nói, đêm giao thừa tuyệt đối không được bực tức, càng không được ra tay đánh người hay đập phá đồ đạc, nếu không thì cả năm sẽ gặp xui xẻo. Kết quả của cuộc chiến giữa hai cha con không chỉ là một năm không suôn sẻ, mà nối tiếp đó là hết tai họa này đến tai họa khác ập xuống.

Tháng 2 năm 2011, tôi được chẩn đoán mắc ung thư vú. Biết được kết quả, hai vợ chồng tôi vô cùng đau khổ; nhưng để giữ lấy mạng sống, tôi chỉ đành phẫu thuật và trải qua 8 đợt hóa trị trong gần 10 tháng ròng. Tôi đã phải chịu đựng những nỗi đau đớn và giày vò không thể nào tưởng tượng nổi. Vì chưa học Phật, nên khi đối mặt với bệnh tật, oán hận trong lòng tôi rất lớn. Tôi ích kỷ cho rằng mình mắc phải căn bệnh xui xẻo này thảy đều là do người nhà chọc tôi tức điên lên, do công việc cơ quan làm tôi mệt mỏi; tôi hoàn toàn không hề tìm nguyên nhân từ chính bản thân mình.

Trong thời gian tôi trị bệnh, con trai tôi liên tục bị bỏ mặc ở nhà hàng chục ngày không ai đoái hoài quản lý. Từ chỗ lén lút lên mạng, cháu bỏ học ra tiệm net; cuối cùng cơn nghiện game đã đẩy cháu đến mức không ăn không uống chỉ dán mắt vào game, thậm chí đóng cửa giam mình trong phòng lên mạng suốt mấy ngày liền. Không đánh răng, không rửa mặt, không tắm rửa, không cắt tóc; giống hệt như một kẻ dã nhân. Căn phòng bốc mùi hôi thối nồng nặc, và cháu cũng cấm không cho ai bước vào phòng mình. Tính khí cháu ngày càng tồi tệ; chúng tôi nói lỡ một câu không vừa ý là cháu lập tức nổi khùng, có thể phát hỏa vô cớ mọi lúc mọi nơi; đồ đạc trong nhà thích ném là ném, thích đập là đập, trong nhà chẳng còn lại món đồ nào ra hồn.

Trong thời gian hóa trị, cơ thể tôi vô cùng yếu ớt; nhưng đã không ít lần, bất chấp tôi yếu đến mức nào, cháu vẫn ra tay đánh đập tôi tàn nhẫn, vừa đánh vừa chửi. Cháu đổ lỗi việc lên mạng thảy đều là do tôi đổ bệnh khiến cháu áp lực tâm lý, không thể học hành được. Có một lần nổi điên, cháu xé nát toàn bộ sách trong tủ; nguyên đống giấy vụn đó đã chất đầy 2 bao tải. Trải qua 8 đợt hóa trị, tóc tôi rụng sạch; con trai không thể nhìn nổi cái đầu trọc của tôi, càng chướng mắt khi thấy tôi đội tóc giả. Một lần tôi đội tóc giả, cháu bất ngờ giật phăng từ trên đầu tôi xuống, ném mạnh xuống đất rồi lấy chân giẫm đạp lên; vừa giẫm vừa chửi, dùng những lời lẽ thô tục, chói tai nhất để mắng chửi tôi. Cháu thường xuyên bỏ bữa lúc đến giờ ăn; qua bữa cơm nguội ngắt rồi thì cháu lại đòi ăn. Đã nhiều lần vào lúc 3 - 4 giờ sáng, cháu đạp tung cửa phòng tôi, chửi rủa ầm ĩ chê tôi nấu cơm nguội hoặc không hợp khẩu vị; tôi chỉ đành gạt nước mắt, lê lết cơ thể ốm yếu đi nấu lại đồ ăn mới cho cháu. Đã không ít lần sau khi đánh chửi, cháu đuổi chúng tôi ra khỏi nhà. Lúc đó dù mới 16 tuổi, nhưng cháu đã cao lớn vạm vỡ; hễ nổi điên lên là cứ như bị ma nhập, chúng tôi không sao chống đỡ nổi. Khi đó, vợ chồng tôi sống trong cảnh địa ngục trần gian, sống không bằng chết. Hai vợ chồng đã từng nghĩ đến việc mua thuốc chuột bỏ vào cơm để cả nhà cùng chết cho xong.

Trong đợt hóa trị thứ 4, phản ứng phụ quá mạnh khiến toàn thân tôi đau nhức, đến cả nước cũng không nuốt trôi. Ban đêm, tôi đi đi lại lại ngoài hành lang bệnh viện suốt một đêm. Nghĩ đến chứng nghiện game và thói bạo lực của con trai, nghĩ đến nỗi đau bệnh tật của bản thân; cuộc đời ra nông nỗi này thì còn gì đáng để sống nữa, chi bằng gieo mình từ tầng bốn xuống chết quách đi cho xong. Nhưng đứng trước ranh giới sinh tử, tôi lại không cam lòng. Con trai mới 16 tuổi, còn quá trẻ; tôi mà chết đi, bố mẹ già 80 tuổi của tôi biết sống sao đây? Những người thân của tôi sẽ đau lòng biết chừng nào. Tôi không thể chết, tôi phải kiên cường sống tiếp.

Trong những lúc đau đớn nhất, không thể chịu đựng nổi nữa, tôi nghĩ đến người chị gái đang ở cách xa mấy ngàn dặm, bèn gọi điện cầu cứu. Lần nào nghe điện thoại, chị cũng luôn động viên tôi, bảo tôi nhất định phải cầm cự: "Hóa trị đau đớn như thế mà em còn chịu đựng được, thì những đòn giày vò của con trẻ em nhất định phải cố mà nhẫn nhịn. Cháu còn nhỏ, nó cần người lớn cứu vớt, em không được phép bỏ cuộc! Sẽ có cách thôi, mọi chuyện rồi sẽ ổn". Dưới tình cảnh đưa vào bệnh viện tâm thần tìm chuyên gia tâm lý chữa trị nhưng không mang lại kết quả, những người thân của tôi đã cùng nhau bàn bạc và quyết định: Ép buộc đưa con trai tôi vào trường cai nghiện internet để cai nghiện game.

Sau 6 tháng trong trường cai nghiện, biểu hiện của cháu cơ bản đã trở lại bình thường. Tháng 5 năm 2012, con trai tôi từ trường cai nghiện trở về nhà; nhưng chưa đầy một tuần, bệnh cũ lại tái phát. Cả gia đình chúng tôi lại một lần nữa rơi vào vực thẳm của sự đau khổ triền miên. Ban đầu là lên mạng vài tiếng đồng hồ, sau đó tiến triển thành không đi học nữa; ngày ngủ, đêm cày net. Khi đó chúng tôi chưa tu Pháp môn Tâm Linh; trước bao nhiêu điều bất hạnh, hai vợ chồng ngoại trừ việc oán trách lẫn nhau thì chỉ biết đổ lỗi cho đối phương, chưa bao giờ biết tự tìm nguyên nhân từ chính bản thân mình. Chúng tôi cũng không hề biết rằng nhân quả báo ứng luôn theo như hình với bóng, càng không biết tất cả mọi bất hạnh đều do ác nghiệp của chính mình tạo ra, đều là do nghiệp chướng sâu nặng đã đến kỳ quả báo. Lúc bấy giờ, chúng tôi chỉ biết một điều: Kêu trời trời không thấu, kêu đất đất không thưa. Hoàn cảnh gia đình cộng thêm căn bệnh của tôi khiến anh chị em trong nhà vô cùng xót xa; họ cũng đã nghĩ đủ mọi cách để giúp tôi, nhưng họ có thể làm được gì cơ chứ? Họ đều không thể giúp chúng tôi giải quyết được gốc rễ của vấn đề. Ai mới là người thực sự có thể giúp tôi? Ai có thể giúp tôi giải thoát tận sâu trong tâm hồn đây?

Tháng 5 năm 2012, một ngày nọ chị gái tôi ở Thẩm Dương (khi đó chị cũng mới bắt đầu tu Pháp môn Tâm Linh) gọi điện thoại cho tôi; chị xúc động nói: "Em hãy tin Phật đi! Phát nguyện, tụng kinh, phóng sinh làm công đức; Lư Đài Trưởng có thể cứu em, và còn giải quyết được vấn đề của gia đình em nữa. Chỉ cần thành tâm tu học, mọi chuyện chắc chắn sẽ tốt lên". Chị còn chia sẻ với tôi về việc khi thỉnh bức tượng Bồ Tát ở Quan Âm Đường của Đài Trưởng, chị đã ngửi thấy mùi hương trầm rất đậm... Chị gọi điện mà xúc động đến phát khóc. Nhưng tôi nghe xong lại dửng dưng, hoàn toàn không tin trên đời lại có chuyện như vậy; trước nay tôi vốn không tin có Phật Bồ Tát, cho rằng thắp hương lễ Phật là mê tín dị đoan. Chị gái tôi thật quá cố chấp, mê muội; bao nhiêu năm ăn học coi như uổng phí.

Vài ngày sau, chị nhờ anh rể mang những cuốn sách như Bạch thoại Phật pháp, Thiên Địa Nhân và đĩa VCD xem Đồ đằng của Lư Đài Trưởng gửi về nhà mẹ đẻ; bảo tôi về lấy mang về đọc kỹ. Chị nhiều lần gọi điện gặng hỏi tôi đã xem đĩa và đọc sách chưa, tôi luôn tìm cớ thoái thác. Sau đó, có lẽ trong mệnh vẫn còn duyên với Phật, tôi về nhà mẹ và mở cuốn Bạch thoại Phật pháp ra xem. Lập tức, tôi bị những Phật lý mà Đài Trưởng giảng giải cuốn hút một cách sâu sắc. Hai vợ chồng tôi đã dành vài ngày để xem hết đĩa VCD, rồi đọc Bạch thoại Phật pháp; chúng tôi vô cùng cảm động. Chúng tôi hạ quyết tâm sẽ chăm chỉ theo Đài Trưởng học Pháp môn Tâm Linh, dùng pháp bảo của Đài Trưởng để cứu vớt gia đình tôi.

Tháng 9, chị tôi vui mừng báo tin đã thỉnh được tượng Bồ Tát ở Quan Âm Đường cho tôi, và ngay sau đó đã từ Thẩm Dương lặn lội đến nhà giúp chúng tôi lập bàn thờ Phật. Chúng tôi vô cùng vui sướng; phát nguyện ăn chay vào ngày mùng một, ngày rằm; vĩnh viễn không sát sinh, không ăn hải sản sống; phóng sinh nhiều hơn, làm việc thiện nhiều hơn. Ngay trong ngày hôm đó, tôi đã đem hết hành, gừng, tỏi, hành tây trong nhà đem cho nhà cậu em trai. Trên đường về, chúng tôi đột nhiên ngửi thấy những đợt hương trầm vô cùng dễ chịu; ban đầu chúng tôi tưởng là bay ra từ cửa hàng bán đồ thờ cúng nào đó, nhưng đi dọc con phố hồi lâu mà chẳng thấy cửa hàng nào. Mùi hương trầm kéo dài hơn 20 phút. Khoảnh khắc chúng tôi về đến nhà mở cửa ra, một mùi hương trầm nồng nàn xộc vào mũi; khắp nhà ngập tràn hương trầm, và lại kéo dài thêm 20 phút nữa. Lúc đó chúng tôi cũng không suy nghĩ nhiều; nhưng sáng hôm sau, hai vợ chồng tôi lại đồng thời ngửi thấy mùi hương trầm, mùi hương còn đậm hơn trước, chúng tôi mừng rỡ vô cùng. Ngày thứ ba, chồng tôi lại ngửi thấy mùi trầm hương rất nồng; hơn nữa, con trai tôi đi học về buổi tối cũng ngửi thấy vài lần, thằng bé lùng sục khắp nhà, hỏi chúng tôi mùi thơm ở đâu ra vậy. Chúng tôi không hiểu, liền nhắn tin hỏi chị gái. Chị tôi gọi điện lại trong sự mừng rỡ: "Chắc chắn là Bồ Tát từ bi đến để cứu cả gia đình em rồi. Ngài sợ các em học Phật không đủ niềm tin, nên mới hết lần này đến lần khác tiếp thêm niềm tin học Phật cho các em đấy! Các em nhất định phải tinh tấn để không phụ lòng từ bi của Bồ Tát nhé!".

Hai vợ chồng tôi làm theo ba pháp bảo của Pháp môn Tâm Linh: Phát nguyện, Tụng kinh, Phóng sinh; đốt Ngôi nhà nhỏ, trước hết là để siêu độ cho 4 đứa con đã phá thai. Ban đầu tôi tu không được tinh tấn cho lắm, và cũng gặp phải rất nhiều trở ngại. Ngôi nhà nhỏ không theo kịp, lượng phóng sinh lại ít; mấy tháng trôi qua, con trai tôi không những không có chuyển biến tốt, mà còn giận dữ, quậy phá dữ dội hơn. Mỗi khi vấn đề trong nhà trở nên nghiêm trọng khiến tôi mất niềm tin vào việc tu học, chị gái tôi lại gọi điện bảo: "Nhất định phải kiên trì! Đài Trưởng từng nói, một nồi nước lạnh to, chỉ có cách liên tục đun lửa to dưới đáy nồi thì nước mới sôi được. Phải phóng sinh nhiều hơn, đọc nhiều Bạch thoại Phật pháp của Đài Trưởng hơn; Nhẫn nhục thì mới có thể tinh tấn. Con tức giận một lần, em nhẫn nhịn được thì mới tiêu trừ được nghiệp chướng trên người em".

Lúc mới bắt đầu tu, có lẽ do nghiệp chướng và sự cản trở quá lớn, lượng phóng sinh lại ít; hễ thấy chúng tôi tụng kinh là con trai tôi lại nổi khùng. Chồng tôi vì quá nóng lòng cứu con, chỉ mải mê làm công khóa và tụng Ngôi nhà nhỏ cho con, mà bỏ bê Ngôi nhà nhỏ của chính mình. Hậu quả là có những lúc chồng tôi còn dễ bị kích động hơn cả con trai; linh tính trên người liên tục kiếm cớ gây gổ với con. Có lúc chồng tôi cãi vã, đánh nhau với con như một kẻ mất trí. Có lần sau khi hai bố con đánh nhau, chưa hả giận, thằng bé chạy đến tận cơ quan tôi, đập bàn gào khóc, chửi bới ầm ĩ hơn một tiếng đồng hồ; rất nhiều đồng nghiệp trong công ty xúm lại khuyên can cũng không được. Lúc đó tôi rất bình thản, không nói một lời nào. Nhìn bộ dạng đáng thương của con, tôi biết mình không có cách nào khác để thay đổi cháu, ngoại trừ việc phải tự thay đổi chính mình, chăm chỉ tu tâm nhẫn nhục, dùng sức mạnh của Bồ Tát để làm thay đổi con trai.

Chồng tôi và con trai không thể nhìn mặt nhau; cứ hễ gặp mặt là đánh chửi. Tôi phải làm công tác tư tưởng, khuyên chồng dọn sang căn nhà khác ở riêng một thời gian để cả hai cùng bình tĩnh lại. Tôi đành phải đối mặt với thực tại, tin tưởng vững chắc rằng thông qua việc học Phật, tụng kinh, phóng sinh làm công đức, con trai tôi nhất định sẽ khỏi bệnh. Ở chỗ chúng tôi không thể phóng sinh số lượng lớn; chị gái tôi nhờ đồng tu giúp chúng tôi phóng sinh ra biển. Cứ phóng sinh xong là con tôi lại ngoan ngoãn được vài ngày. Nhưng vì công phu chưa tới, con tôi vẫn tiếp tục đêm chơi net, ngày ngủ vùi; không vui hay nấu ăn không hợp khẩu vị là lại phát tiết vào tôi, đập vỡ bát, đập vỡ nồi. Nhưng tôi không hề tức giận; tôi biết nợ chưa trả hết, nghiệp chướng vẫn còn, thì bắt buộc phải nhẫn nhục. Tôi gạt nước mắt dọn dẹp, lầm lụi đi nấu lại bữa khác cho con. Sau đó, thấy mình nổi trận lôi đình lớn như vậy mà tôi vẫn không hề tức giận, con trai lại bảo với tôi rằng: cháu cũng không muốn như vậy đâu, do trong lòng bức bối quá nên mới phát hỏa. Hễ gặp tình huống như vậy, tôi lại nhân cơ hội khuyên nhủ vài câu. Dần dần, con trai bắt đầu tâm sự với tôi; tính khí cũng bớt nóng nảy hơn nhiều, và không còn phản đối tôi tụng kinh nữa.

Ngày 16 tháng 11 năm 2012 là kỷ niệm 20 năm ngày cưới của tôi. 6 giờ sáng, tôi đang làm bữa sáng thì con trai bắt đầu kiếm chuyện; nằng nặc bắt tôi ký giấy xin nghỉ học, không ký là cháu chửi tôi. Tôi nghĩ, con chửi mẹ thì mẹ đi; thế là tôi đi làm từ rất sớm. Hơn 8 giờ, ở cơ quan nhưng trong lòng không yên, tôi lại chạy về nhà. Con trai đang ngủ, thấy tôi về lại tiếp tục bắt tôi ký giấy, lại buông lời chửi bới; tôi thấy tình hình không ổn lại vội chạy đến cơ quan. Hơn 10 giờ, giải quyết xong việc bên ngoài, ý niệm lại hối thúc tôi quay về nhà một lần nữa. Trước đây tôi đi làm chẳng bao giờ về nhà giữa chừng; lần này về đến nhà, vừa mở cửa ra, một mùi cay nồng xộc thẳng vào mắt, sặc sụa đến mức tôi không bước nổi chân, đầu đau như búa bổ. Tôi chạy vội vào phòng con trai gọi cháu, nhưng không thấy con đâu. Tôi chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra, thì đột nhiên nhớ ra có thể lúc sáng làm đồ ăn tôi đã quên khóa van gas. Tôi lao vào bếp khóa van lại, mở toang các cửa sổ trong phòng cho thoáng khí; lết được đến cửa thì tôi không còn lết nổi nữa, sợ hãi ngã gục xuống sàn.

Cảm ân Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát đã cứu mạng con trai và cả tôi. Buổi trưa, tôi quỳ trước bàn thờ Phật gào khóc nức nở; chính Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát đã từ bi cứu lấy hai mẹ con tôi! Nếu không nhờ tu Pháp môn Tâm Linh, nếu không có Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát phù hộ độ trì, hai mẹ con tôi đã vĩnh viễn không còn trên cõi đời này nữa rồi. Mỗi ngày tôi đều quỳ trước bàn thờ Phật, cầu xin Bồ Tát bảo hộ cho cả gia đình bình an khỏe mạnh, cầu cho con trai sớm được sống cuộc sống của một người bình thường. Tôi kiên trì làm công khóa theo yêu cầu của Pháp môn Tâm Linh, tụng Ngôi nhà nhỏ, kiên trì phóng sinh.

Đêm giao thừa thắp hương đầu năm 2014, tôi quỳ lạy Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát, cầu xin Bồ Tát phù hộ cho con trai tôi học cách làm người đàng hoàng; đêm 30 đừng ra ngoài chơi game nữa, và trước rằm tháng Giêng hy vọng cháu sẽ tìm được một công việc gì đó để làm. Cảm ân Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát! Quả thật là "hữu cầu tất ứng"; đêm 30 Tết, con trai tôi thực sự không đi chơi game nữa. Điều khiến tôi không ngờ tới là, trước Tết cháu đã nói với tôi: "Ăn Tết xong con muốn đi học một cái nghề, con không muốn đánh game nữa. Trước đây con có nhiều chuyện làm sai, con biết mình sai rồi...". Khoảng thời gian trước và sau Tết, cháu đều tất bật chuẩn bị để đi học xa. Ngày 13 tháng Giêng, con trai tôi tự mình mua vé tàu, không cho chúng tôi tiễn; một mình lên đường đến trường dạy nấu ăn do cháu tự chọn để báo danh nhập học. Đêm trước ngày đi, hai mẹ con tâm sự đến tận hơn 12 giờ đêm. Sáng dậy, bố cháu đưa cháu đi; cháu đã chủ động xin lỗi bố: "Trước đây con làm nhiều điều không đúng, xin bố tha thứ cho con...". Chồng tôi xúc động rơi nước mắt; cả đời anh ấy có nằm mơ cũng không dám nghĩ có ngày con trai lại xin lỗi mình. Ở trường, con trai tôi học hành vô cùng chịu thương chịu khó, lại tràn đầy tình yêu thương; cháu làm trưởng phòng ký túc xá, rất nhiệt tình phục vụ mọi người.

Kỳ nghỉ lễ Thanh Minh cháu về nhà và nói với tôi: "Mẹ à, không biết sao tự dưng con lại khai mở trí tuệ; con tin vào luật nhân quả báo ứng, con tin vào Phật pháp rồi. Bất kể người khác có tin hay không, con thì vô cùng tin tưởng; Lư Đài Trưởng chính là Bồ Tát, là Phật Bồ Tát đã cứu gia đình mình. Nếu 10 năm hay 5 năm trước mẹ biết đến Đài Trưởng, mẹ sẽ không mắc phải căn bệnh đó, và việc học của con cũng sẽ không bị bỏ dở. Con thật sự muốn cùng mẹ học Phật; con không muốn ăn thịt nữa, chúng thật đáng thương, loài người chúng ta lại đi ăn xác chết của chúng, thật đáng ghê tởm". Con trai tôi cuối cùng cũng đã ngộ ra rồi!

Tu Pháp môn Tâm Linh đã gần hai năm, tôi vẫn chưa có đủ dũng khí để chia sẻ câu chuyện của mình với mọi người, cũng chưa từng hé răng kể với ai; bao nhiêu tủi nhục và sự nhẫn nhịn tôi chỉ biết nuốt ngược vào trong. Không phải vì không có máy tính hay không biết gõ chữ; mà là vì sự ích kỷ cá nhân, tôi sợ những chuyện xấu xa trong nhà mình bị người ta biết sẽ chê cười; sợ ảnh hưởng đến cuộc sống sau này của con trai. Lớn lên đi tìm đối tượng, người ta mà dò hỏi: "Con cái nhà ai mà nhỏ tuổi đã bất hiếu, đánh chửi cả bố mẹ thế này, ai mà dám gả cho nó chứ!". Giờ đây, khi học Bạch thoại Phật pháp, tôi mới nhận ra suy nghĩ của mình đã sai lầm. Chỉ khi thực sự sám hối, dùng chính trải nghiệm của bản thân để "hiện thân thuyết pháp" (lấy chuyện mình làm gương), thì mới có thể giúp đỡ được nhiều người hơn; và cũng nhờ đó mới tiêu trừ nghiệp chướng tốt hơn, nhanh hơn, tu Pháp môn Tâm Linh được nhẹ nhàng hơn.

Mỗi tối quỳ trước bàn thờ Phật sám hối, khi tụng Lễ Phật Đại Sám Hối Văn, những lỗi lầm tôi đã phạm phải trong suốt hơn 40 năm qua cứ như một cuốn phim tua đi tua lại trước mắt. Tu Pháp môn Tâm Linh rồi tôi mới biết mình đã thực sự sai lầm. Từ nhỏ tôi đã ích kỷ, cố chấp và nóng nảy. Hồi bé chỉ vì một câu nói đùa của người khác rằng tôi là đứa trẻ nhặt được từ bãi rác, tôi đã ghim sâu trong lòng, oán hận bố mẹ không yêu thương mình bằng chị, thiên vị chị gái; không hòa thuận với chị gái và em trai, từ nhỏ đã khiến bố mẹ không khỏi bận lòng. Mười tám tuổi tốt nghiệp cấp 2, tôi rời vòng tay bố mẹ đến sống cùng anh chị dâu; không hòa thuận được với chị dâu, khiến anh trai đứng ở giữa phải chịu ấm ức. Sau khi kết hôn, tôi lại oán trách chồng không có chí tiến thủ, kiếm được ít tiền, hẹp hòi, không phóng khoáng... Đối với bố mẹ chồng tôi cũng không hiếu thuận, trong lòng luôn có sự oán hận. Tôi không phải là một người mẹ tốt, không giáo dục con cái nên người. Tôi là một đứa con gái bất hiếu; ngoài 40 tuổi đầu rồi mà vẫn để bố mẹ già 80 tuổi phải lo lắng, sợ hãi vì mình. Với tư cách là một người vợ đáng lẽ phải dịu dàng, khiêm nhường, tĩnh lặng, vượng phu ích tử; tôi lại chẳng làm được một điều nào, còn luôn tự cho mình là đúng, đối đầu với chồng, khiến gia đình suýt chút nữa tan nát.

Ở cơ quan tôi phụ trách bộ phận hậu cần; mọi việc ăn uống, sinh hoạt ở cơ quan đều do tôi quản lý. Lãnh đạo rất trọng dụng tôi; mười mấy năm qua tôi luôn làm việc hết mình và phối hợp rất tốt với công việc của lãnh đạo. Nhưng sau khi tu Pháp môn Tâm Linh, tôi ngày càng cảm thấy cái chức vụ Trưởng phòng Hậu cần này không thể tiếp tục đảm đương được nữa. Việc tôi đổ bệnh chính là quả báo dành cho tôi; tôi cũng tự kiểm điểm lại bản thân, ngoài nguyên nhân từ chính con người mình, thì lý do công việc cũng đóng vai trò không nhỏ. Ngồi ở vị trí đó, đôi khi thân bất do kỷ sẽ làm một số chuyện không được đúng như lý như pháp. Tôi đã tìm gặp lãnh đạo vài lần, trình bày lý do sức khỏe không tốt, không cáng đáng nổi vị trí hiện tại và xin chuyển công tác, nhưng lãnh đạo vẫn nhất quyết không duyệt. Tôi liền quỳ cầu Bồ Tát từ bi giúp tôi; xin Ngài thỏa mãn tâm nguyện của con, mau chóng giúp lãnh đạo của con tìm được người phù hợp để con được thuyên chuyển! Không lâu sau, lãnh đạo đã gọi tôi lên nói chuyện. Lãnh đạo không nói thẳng là cho tôi thôi giữ chức vụ, sợ tôi không chấp nhận nổi, tưởng tôi cũng giống như những người khác chỉ thích lên chức chứ không chịu xuống. Nhưng tôi đâu có giống họ, tôi là người tu Pháp môn Tâm Linh mà; được chuyển đổi vị trí, trút bỏ được gánh nặng lớn trong lòng, tôi mừng rỡ cảm ân còn không kịp ấy chứ. Khi tôi không làm Trưởng phòng Hậu cần nữa, các đồng nghiệp đều tưởng lãnh đạo cách chức tôi, sợ tôi nghĩ quẩn nên đổ xô đến an ủi. Chỉ mình tôi biết đó là do Bồ Tát phù hộ, để tôi có nhiều sức lực và thời gian hơn cho việc tu tâm tụng kinh, hoằng pháp độ người.

Từ khi tôi lâm bệnh, mẹ già lại có thêm một nỗi bận lòng; cộng thêm việc con trai không ngoan ngoãn, càng khiến mẹ tôi thêm xót xa. Tôi vô cùng hổ thẹn vì sự bất hiếu của mình. Đến giờ tôi mới hiểu thế nào gọi là "hiếu thuận"; bạn đưa cho bố mẹ bao nhiêu tiền không có nghĩa là bạn có hiếu. Chỉ khi bạn vun vén gia đình tốt đẹp, bản thân khỏe mạnh, mỗi ngày đều vui vẻ hạnh phúc, anh chị em hòa thuận yêu thương nhau, bố mẹ được an tâm; đó mới được gọi là hiếu thuận. Dưới sự ảnh hưởng của tôi, mẹ tôi đã tin vào sự tồn tại của Phật, và không còn sát sinh nữa.

Hai vợ chồng tôi phát nguyện sẽ trân trọng Phật duyên trong kiếp này; phát nguyện đời này kiếp này đi theo Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát và Đại Từ Đại Bi Lư Đài Trưởng chăm chỉ tu học Pháp môn Tâm Linh, nhất môn tinh tấn, vĩnh viễn không thối chuyển! Đồng thời sẽ "hiện thân thuyết pháp", để nhiều gia đình đang bị giày vò trong đau khổ giống như chúng tôi sẽ tin tưởng vào Pháp môn Tâm Linh; vận dụng ba pháp bảo Tụng kinh, Phát nguyện, Phóng sinh; tu tâm tu hành để thoát khỏi nghịch cảnh. Để cho càng nhiều đứa trẻ trên thế gian còn đang chìm đắm trong chứng nghiện game không thể thoát ra sẽ bước sang một cuộc đời mới!

Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát luôn cứu độ chúng sinh có duyên; nếu bạn không vươn tay ra, Bồ Tát làm sao có thể nắm lấy tay bạn và kéo bạn ra khỏi bể khổ? Xin hãy tin tưởng người Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát vĩ đại của chúng ta; xin bạn nhất định phải tin rằng Pháp môn Tâm Linh có thể cứu chúng ta thoát khỏi bể khổ!

Cảm ân Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát!

Cảm ân Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Lư Quân Hoành Đài Trưởng!

Cảm ân tất thảy thiện tri thức!

Cảm ân vợ chồng đồng tu họ Lưu đã giúp đỡ tôi phóng sinh số lượng lớn!

Cảm ân đồng tu họ Mã đã vô tư hướng dẫn tôi!

Cảm ân chị gái đã dẫn dắt tôi bước vào con đường học Phật!

Cảm ân người chồng đã đồng hành cùng tôi trên chặng đường học Phật!

Cảm ân con trai đã khích lệ tôi học Phật!

(Vì học vấn không cao, khi viết bài chia sẻ này tôi đã cầu xin Bồ Tát mẹ gia trì, giúp tôi viết ra được trải nghiệm thực tế của mình một cách suôn sẻ để cúng dường mọi người; quả nhiên được như ý nguyện. Nhưng vì trình độ thực sự có hạn, viết hơi dông dài, xin Bồ Tát tha thứ, mong các đồng tu lượng hải hà bao dung!)

Hà Nam, Tiểu Thảo

Ngày 22 tháng 4 năm 2014

Lời bạt

+

Pháp môn Tâm Linh của Quán Thế Âm Bồ Tát có thể dẹp trừ mọi khổ đau, chân thực không hề dối trá. Bất kỳ tín chúng nào học tập Pháp môn Tâm Linh đều cảm nhận sâu sắc việc Lư Đài Trưởng đã dùng tâm từ bi "Vô duyên đại từ" để hoằng dương pháp môn của Quán Thế Âm Bồ Tát nhằm cứu độ chúng sinh. Pháp môn Tâm Linh chính là phương thuốc thần diệu để cứu độ những bệnh nhân mắc "bệnh âm" (bệnh do linh tính gây ra), hóa giải oan kết, hoàn trả nợ nần tích tụ từ nhiều đời nhiều kiếp, tiêu trừ nghiệp chướng từ nhiều đời nhiều kiếp để thoát khỏi bể khổ; là ngọn đèn chỉ đường dẫn lối cho những người tu hành dù đã học Phật nhiều năm nhưng vẫn còn đang lầm lạc trong sương mù để đi đến bờ giác. Chỉ cần nghiêm túc làm theo sự hướng dẫn của Lư Đài Trưởng để tu hành Tụng kinh, Phóng sinh, Phát nguyện; ai nấy đều sẽ nhận được những lợi ích và cảm ngộ ở những mức độ khác nhau.

Vậy tại sao lại có sự khác biệt về mức độ lợi ích đạt được? Chúng tôi cho rằng, ngoài sự khác biệt về căn cơ cá nhân của mỗi tín chúng, nguyên nhân chính là do đa số mọi người chỉ chú trọng vào việc học "Phương pháp", mà không nắm bắt được chân lý của việc "Tu tâm"; đặc biệt là việc tịnh hóa chưa đủ "Tam Độc" Tham - Sân - Si của bản thân, dẫn đến năng lượng của bản thân chưa cao. Cách giải quyết duy nhất là phải hạ công phu vào việc tu tâm, phải theo sát Lư Đài Trưởng để bắt kịp với thời đại, học cho tốt Pháp môn Tâm Linh của Đài Trưởng; để kiếp này sống một cách ý nghĩa, thiết thực, và mai này ra đi không vướng bận, nhẹ gánh hồng trần.

Nếu muốn tìm hiểu chi tiết và nhiều thông tin hơn về Pháp môn Tâm Linh của Lư Đài Trưởng, vui lòng truy cập trang Blog của Lư Quân Hoành Đài Trưởng theo địa chỉ:

http://lujunhong2or.com

Cộng đồng Pháp Môn Tâm Linh Việt Nam:

https://phapmontamlinh.vn/

https://pmtl.site/

Tại đây, bạn có thể tra cứu các bài viết như: «Bạch thoại Phật pháp», «Huyền Nghệ Tông Thuật» (Xem Đồ đằng), «Huyền Học Vấn Đáp», «Cảm ngộ của thính giả», «Phản hồi của cư dân mạng»...; nghe đài phát thanh Hoa ngữ Đông Phương Úc Châu do Lư Quân Hoành Đài Trưởng chủ trì các chương trình: 3 tiếng «Huyền Nghệ Tông Thuật» mỗi tuần, 2 tiếng «Huyền Nghệ Vấn Đáp» mỗi tuần, nửa tiếng «Nói thẳng nói thật» mỗi tuần, nửa tiếng «Bạch thoại Phật pháp» mỗi tuần và bản thu âm của các buổi giải đáp thắc mắc trực tiếp quy mô lớn.

Tại đây cũng muốn nhắc nhở những ai vẫn còn giữ thái độ nghi ngờ, ngờ vực đối với Pháp môn Tâm Linh của Lư Đài Trưởng: Hãy mau chóng tự tìm nguyên nhân từ chính bản thân mình, buông bỏ sự nghi ngờ, hạ quyết tâm làm theo lời khai thị của Lư Đài Trưởng, khẩn trương tu tâm; thời gian thực sự không còn chờ đợi ai nữa rồi!

Mới hơn Cũ hơn