BẠCH THOẠI PHẬT PHÁP
Quyển 8
Bộ 12 quyển
THÔNG TIN XUẤT BẢN
Tác giả: Lư Quân Hoành
Xuất bản và Phát hành: Trung tâm Văn hóa Đài Phát thanh Hoa ngữ Đông Phương Úc Châu
Tác phẩm: Bạch Thoại Phật Pháp (Tập 8)
Chủ giảng: Đài trưởng Lư Quân Hoành
Ghi chép, chỉnh lý và biên tập: Dương Kim Mai
Hiệu đính: Ban Thư ký Đài Phát thanh Hoa ngữ Đông Phương Úc Châu
Biên tập Mỹ thuật: Ban Thư ký Đài Phát thanh Hoa ngữ Đông Phương Úc Châu
Kế hoạch: Ban Thư ký Đài Phát thanh Hoa ngữ Đông Phương Úc Châu
Xuất bản: Trung tâm Văn hóa Đài Phát thanh Hoa ngữ Đông Phương Úc Châu 2OR
Địa chỉ: 54 Meagher St, Chippendale Sydney, NSW 2008 Australia
Điện thoại: (+61-2) 9283 2758
Trang web (Blog) của Đài trưởng Lư Quân Hoành:
http://lujunhong2or.com
Lần xuất bản: In lần thứ 1, bản thứ 1, tháng 8 năm 2014
Mã ấn phẩm: AORP100128
Số lượng in: 10.000 bản
Pháp Môn Tâm Linh Việt Nam:
https://phapmontamlinh.vn/
https://pmtl.site/
LỜI TỰA
Các bài viết trong cuốn “Bạch Thoại Phật Pháp” đều được chỉnh
lý từ các bản ghi âm và chép lời sau khi Ân sư của chúng ta - Đài trưởng Lư
Quân Hoành, thuyết giảng và khai thị cho các đệ tử tại Quan Âm Đường thuộc Đài
Phát thanh Hoa ngữ Phương Đông Úc Châu. Sư phụ đã dùng ngôn ngữ bình dị của đời
sống để diễn giải Phật pháp cao thâm, vừa giải thích từ góc độ triết lý nhân
sinh, vừa mượn những ví dụ gần gũi trong đời sống thường nhật. Trong Bạch Thoại
Phật Pháp, chúng ta có thể lĩnh hội được những lý luận Phật học thâm sâu và vi
diệu. Sư phụ dùng phương tiện trí, nói phương tiện pháp, dẫn dắt chúng đệ tử
phá mê khai ngộ, ly khổ đắc lạc, rốt ráo giải thoát.
Sư phụ giáo huấn chúng ta cách học Phật, cách tu tâm, cách
tu hành, làm thế nào để tu bỏ đi những vô minh tập khí trên thân mình, vì sao
phải trì giới giữ pháp, v.v... Mục đích là để khai mở Phật tính của tầng tầng
chúng sinh, khai phát trí tuệ, nâng cao sự giác ngộ của chúng ta, tu sửa những
hành vi sai trái, chuyển hóa vận mệnh của chính mình, để thế giới được tràn ngập
tình thương từ bi của Quán Thế Âm Bồ Tát.
Sư phụ còn truyền thọ cho chúng đệ tử cách thức vận dụng lý
luận Phật pháp vào trong đời sống thường nhật, nhằm hóa giải các vấn đề phải đối
mặt về cuộc sống, học tập, sức khỏe, công việc... Làm thế nào để vận dụng lòng từ
bi và trí tuệ của chư Phật Bồ Tát, giúp chúng ta tiêu tai kiết tường trong xã hội
hiện đại, sống một cuộc đời thanh tịnh và an lạc.
Trong các bài viết của cuốn “Bạch Thoại Phật Pháp” này, Sư
phụ đều vận dụng trí tuệ viên dung của Bồ Tát, dùng ngôn từ giản dị dễ hiểu để
xiển dương sâu sắc định luật nhân quả chốn nhân gian. Sau khi các bài viết được
ấn hành, đã giúp cho muôn vạn chúng sinh hữu duyên như bừng tỉnh sau cơn mộng,
thức tỉnh chúng sinh bước lên con đường lớn học Phật, tu tâm, tu hành, cải biến
vận mệnh, và nhận được sự hoan hỷ đón nhận nhiệt thành từ các tầng lớp nhân sĩ
trên toàn thế giới.
Để giúp thêm nhiều người học Phật thiện lương được thọ ích, nay
bản thảo đã được chỉnh lý lại và in ấn xuất bản, lưu thông miễn phí, rộng kết
thiện duyên cùng chúng sinh.
Tháng 1 năm 2013, tại Sydney
I. BẠCH THOẠI PHẬT PHÁP
1. Dục vọng là cội nguồn của sự đọa lạc
Hôm nay muốn chia sẻ với mọi người, chúng ta ở chốn nhân
gian vì vướng phải quá nhiều chướng ngại, quá nhiều phiền phức, nên cuối cùng
đã mơ hồ đánh mất đi nhân sinh, lãng quên kiếp người, lãng quên mất bản thân
mình là ai. Rất nhiều người ngày càng chướng mắt với chính mình, rất nhiều người
ngày càng không thể lý giải nổi những hành vi mình đang làm, rất nhiều người
không biết mình sống trên thế gian này để làm gì. Thực ra, tất cả những điều
này đều do chướng ngại tâm lý của con người tạo thành. Do đó, con người không
thể để trong tâm mình có chướng ngại; chướng ngại càng lớn, càng đánh mất chính
mình, càng không tìm thấy bản ngã, cứ mê mê hồ hồ mà đọa lạc xuống vực sâu của
dục vọng. Mọi người thử nghĩ xem có đúng vậy không? Có người một mực mù quáng
chạy theo danh lợi, dần dần sa xuống vực thẳm; có người cả đời theo đuổi tiền
tài, từ từ cũng chìm ngập vào đầm lầy dục vọng.
Ở chốn nhân gian, chúng ta phải học cách trầm tĩnh, bình
tĩnh và thâm sâu, tức là vô cùng an tịnh. Phải thấu hiểu những điều này, bạn mới
dần dần lĩnh ngộ được chân lý của nhân sinh. Một người càng trầm tĩnh, suy nghĩ
càng sâu sắc, càng thâm trầm, người đó học Phật sẽ càng giỏi. Đôi khi, cảm giác
của nhục thể không thể sánh bằng cảm giác của tinh thần. Có lúc con người ngả
lưng trên sô pha, nằm trên giường cảm thấy rất thoải mái, nhưng cái cảm giác nhục
thể đó chỉ là một loại "giác thọ" (cảm nhận thụ hưởng), bởi vì sau
khi bạn cảm nhận sự việc đó, bạn đang thọ dụng nó. Còn đối với người học Phật,
sau khi bạn cảm nhận được những giá trị tinh thần, bạn sẽ thấu hiểu rất nhiều đạo
lý, giống như đột nhiên tỉnh mộng vậy. Cảm giác tinh thần của người học Phật
chính là sự "giác tỉnh" (tỉnh thức). Giác thọ là một loại cảm nhận,
còn giác tỉnh là tiền đề thực sự giúp con người khai ngộ. Cảm thọ trên thân thể
có thể phút chốc tan biến, nhưng cảm thọ về mặt tinh thần, bất luận là tốt hay
xấu, sẽ khiến bạn được thọ dụng hoặc phải chịu đau khổ. Người nghĩ không thông,
người có chướng ngại tinh thần, họ luôn phải chịu khổ, chịu sự giày vò về mặt
tinh thần; còn người nghĩ thông suốt, người buông bỏ được, họ thọ dụng về mặt
tinh thần. Vì vậy, cảm thọ và giác tỉnh là hai yếu tố tương trợ lẫn nhau.
Chúng ta sống trên đời phải học cách tĩnh lặng, tức là tự
mình duy trì sự an tịnh. Tại sao Sư phụ bảo các vị gặp chuyện trước tiên phải
bình tĩnh? Bất luận gặp chuyện gì, trước hết đừng kích động, đừng vội vàng nghĩ
cách báo thù người khác. Bất luận nghe thấy gì, nhìn thấy gì, trước tiên tự
mình phải tĩnh lặng; tĩnh lặng vốn dĩ không cần quá nhiều ngôn từ hay suy tư.
Trong cuộc sống, có những lúc chúng ta gặp khó khăn, bị người khác bắt nạt, bị
đố kỵ hoặc bị oan uổng..., trước tiên tự mình phải tĩnh lặng, sau đó đừng nói
quá nhiều, cũng đừng để dòng suy nghĩ rối bời vạn mối. Bởi vì tâm tư của bạn sẽ
ảnh hưởng đến tư duy, khiến trong lòng bạn càng nghĩ càng bế tắc, cuối cùng thốt
ra những lời khó tin nổi.
Chúng ta đi qua cõi nhân gian một chuyến, đã đến được cõi đời
này là điều rất không dễ dàng. Bao nhiêu năm sống trên thế gian mà ta vẫn mơ hồ
không rõ, chẳng biết mình đến nhân gian để làm gì. Giống như nhiều bạn trẻ khi
yêu, thời gian yêu đương trôi qua rất nhanh, đợi đến lúc chẳng còn nhiều thời
gian mới nhìn lại và nghĩ: "Tôi không biết thời gian qua đã làm những
gì". Cũng giống như nhiều gia đình trước khi rạn nứt, ngày ngày người ta cứ
bận rộn, mệt mỏi, vất vả; đến khi gia đình tan vỡ, người ta mới ngẫm lại:
"Tôi không biết mình đã làm gì trong cái nhà này". Đó là bởi bản thân
con người không có trí tuệ, nên không thể bước qua được ranh giới (ngưỡng cửa)
tinh thần của chính mình.
Chúng ta nói, một cánh cửa luôn có bậu cửa, tinh thần của bạn
muốn thoát ra nhất định cũng có một ngưỡng cửa. Cái ngưỡng cửa này, rốt cuộc bạn
có thể bước qua hay không? Các vị làm việc sai trái, hại người và cũng hại
chính mình, tinh thần các vị hồ đồ mơ hồ sống đến ngày hôm nay. Thử nghĩ xem, làm
thế nào để bản thân được giải thoát? Làm thế nào để trút bỏ gánh nặng nề này?
Đó chính là phải bước qua ngưỡng cửa tinh thần ấy; trước tiên phải chiến thắng
tư duy của chính mình, bạn mới có thể bước qua. Hiện tại có mấy ai trong các vị
có thể chiến thắng được tư duy tinh thần của bản thân? Tư duy bế tắc sẽ sinh ra
sự "nghĩ không thông". Sự đau khổ của các vị, nếu không có người
khuyên can, các vị sẽ chẳng thể hạnh phúc, bởi các vị cứ sống qua ngày một cách
hồ đồ. Thậm chí dẫu có người khuyên can, chưa chắc các vị đã biết quay đầu.
Trong khoảng thời gian sống hồ đồ như vậy, bạn sẽ mãi mãi không bước qua được
ngưỡng cửa ấy, tức là không thể giải thoát. Vì sao con người trong cuộc sống,
trong tinh thần thường không thể giải thoát? Chính là vì đạo lý này. Nếu bạn
không bước qua được ngưỡng cửa tinh thần, bạn sẽ không bước lên được con đường
thần thánh, không thể thoát khỏi sự thống khổ và giày vò tinh thần của bản
thân; nếu không bước lên con đường thần thánh, không trở thành một bậc thánh
thiện, bạn sẽ chẳng thể có được nền tảng học Phật, học Bồ Tát.
Vì vậy, quá trình mê lạc có thể khiến bạn cảm thấy vô vàn
hương vị. Khi bạn không ngừng làm mọi việc trong kiếp nhân sinh mê lạc, lúc đó
bạn thấy rất thú vị, nhưng thực chất đó là sự khởi đầu của khổ đau. Lấy một ví
dụ đơn giản, khi đang yêu, các vị thường mù quáng hồ đồ, cho nên các vị vẫn thấy
tình yêu rất đậm đà, rất ngọt ngào, rất vui vẻ. Một khi giấc mộng này tan vỡ,
cuộc tình này kết thúc, các vị sẽ thấy những gì mình đã làm, những tổn thương
gây ra cho chính mình sao mà sâu sắc và bất đắc dĩ đến thế. Bởi khi bị tổn
thương, người ta sẽ thấy nhân sinh này vô cùng bất lực. Những người cảm thấy bất
lực, ban đầu sẽ thấy mọi thứ dường như rất chân thật. Vì sao? Vì hôm nay các vị
liều mạng vì tiền, liều mạng vì danh, liều mạng vì lợi, vì tình cảm; tất cả những
thứ đó nhìn bề ngoài đều là thật, nhưng thực chất, một khi trở nên trống rỗng,
thất vọng và mất mát, các vị sẽ hồ đồ biến tất cả thành hư vô. Hư vô là gì? Là
những thứ vừa nhìn thấy, trong phút chốc đã không còn, đó gọi là hư vô. Tiền
tôi vừa mới cầm trên tay, chớp mắt mua đồ đã hết sạch; tình cảm tôi vừa mới có,
vì hai người cãi vã mà tối nay đã tiêu tan. Vậy nên, con người sống trong sự hư
vô mờ mịt, vĩnh viễn không bước qua được cái tâm của mình, và cũng vĩnh viễn
không thể vượt qua cái bản ngã giả tạm của kiếp nhân sinh hư vô ấy.
Cái tâm của ai mà chẳng dùng cho sự tự tư tự lợi chốn nhân
gian? Vì thế, chỉ khi nào luôn đặt tâm vào việc Bồ Tát cứu độ chúng sinh, bạn mới
rời xa được cái tâm ích kỷ, đố kỵ, tham lam và oán hận của chính mình. Chớp mắt
một cái, một năm đã trôi qua; chớp mắt một cái, những gì chúng ta đang có lại
trở thành hư vô. Cho nên, con người không nên có sự kỳ vọng và viển vông. Sư phụ
nói với các vị rất sâu sắc, đừng mãi ôm ấp dục vọng - tức là đừng có kỳ vọng; đừng
viển vông - tức là đừng tham lam. Bởi vì hễ con người khởi lòng tham, họ sẽ vẽ
ra vô vàn sự hư vô. Ngày nào cũng muốn mua vé số, "Tôi muốn trúng vài triệu,
hàng chục triệu", sự viển vông ấy chính là cội nguồn khiến bạn đọa lạc. Cho
nên, tâm hồn say ngủ tháng tháng năm năm, chính là linh tính đang say ngủ; mỗi
ngày chúng ta đều sống trong dục vọng, mỗi ngày đều sống trong kỳ vọng, mỗi giờ
đều sống trong viển vông. Và sự viển vông, kỳ vọng cùng dục vọng cuối cùng chỉ
mang lại cho chúng ta sự thất vọng và tuyệt vọng. Bớt đi một chút viển vông, tự
tăng thêm cho mình một chút hy vọng; bớt đi một chút kỳ vọng, sẽ mang lại cho
nhân sinh của chúng ta thêm một chút hy vọng. Không tham bất cứ dục vọng nào,
thất vọng sẽ ngày càng ít đi; không tham cầu, đó chính là "được".
Lấy một ví dụ đơn giản, trạm xe buýt đã lâu không có xe tới.
Bấy giờ có một chiếc chạy đến, bao người liều mạng chạy tới, chen lấn lên xe, dục
vọng của họ là "Tôi nhất định phải lên chiếc xe này", dù chen đến mức
cửa không đóng nổi cũng phải chen lên. Còn một số người thì tâm thái rất tốt:
"Tôi không chen chiếc xe này, tôi cứ đợi". Chiếc xe trước chen chúc
không chịu nổi, nhưng phía sau lại có hai ba chiếc xe trống chạy tới, các vị đã
từng gặp tình huống này chưa? Cửa vừa mở, bước lên ai nấy đều có chỗ ngồi,
trong khi những người ở chiếc xe phía trước đang phải treo mình trên cửa xe. Thử
nghĩ xem, không tham, không cầu thì lại được, còn người liều mạng đuổi theo,
truy cầu thì lại trắng tay, có đúng không?
Sau khi học Phật, chúng ta phải biết giác tỉnh, không thể cứ
ngủ mãi không tỉnh, mỗi ngày đều phải tự nhắc nhở mình tỉnh thức.
"Giác" là gì? Chính là cảm giác, có được cảm giác đó thì bạn mới dần
dần thức tỉnh; không có cảm giác đó, bạn vĩnh viễn không thể tỉnh lại. Có sự
giác tỉnh như thế, bạn mới có thể đi thọ nhận sự tưới tẩm của Phật pháp; bởi vì
khi thực sự thấu hiểu ý nghĩa của nhân sinh, bạn mới biết: những thứ tôi sở hữu
lúc này có thể mất đi trong khoảnh khắc, những gì tôi theo đuổi ngày hôm nay,
thực chất ở chốn nhân gian cũng chẳng phải là điều hoàn mỹ và viên mãn, tôi thuận
theo duyên. Có như vậy bạn mới đạt được sự tỉnh ngộ.
Khi một người đắm chìm vào một sự vật và không ngừng theo đuổi
nó, đó chắc chắn là người đang say ngủ chưa tỉnh. Vì vậy, người học Phật mà thường
xuyên truy cầu, thường mang tham dục, họ sẽ chìm đắm quanh năm. Giống như rất
nhiều người, việc đầu tiên khi vừa thức giấc là đi xem cổ phiếu tăng hay giảm;
họ đắm chìm vào cổ phiếu trong thời gian dài, thời gian sẽ rất nhanh chóng trôi
tuột mất. Sư phụ từng nhận một cuộc điện thoại, Sư phụ nói với người ở đầu dây
bên kia rằng, một người thân của họ mắc bệnh tim rất nặng, chưa tới 50 tuổi. Một
người đang sống sờ sờ, bình thường chưa từng mắc bệnh tim, vậy mà từ lúc gọi điện
cho Sư phụ đến nay, người đó đã ra đi, hiện tại đã cúng tuần thứ ba rồi.
2. Được danh lợi, xả danh lợi mới có thể minh tâm kiến tánh
Giữa người với người đấu đá tâm cơ, cá lớn nuốt cá bé, những
điều này ở cõi nhân gian đã là chuyện thường tình. "Vì bạn hèn nhát nên
tôi có thể ức hiếp bạn; vì bạn không dám làm gì tôi, nên tôi mới dám làm vậy với
bạn", những điều này có đúng không? Lừa lọc lẫn nhau, tranh giành đấu đá
là sai trái, cá lớn nuốt cá bé cũng là sai trái. Xã hội hiện nay, bạn bè đôi
khi như hổ sói. Tại sao? Thử nghĩ xem, bây giờ có bao nhiêu người bị lừa? Một
cuộc điện thoại gọi đến đâu lừa được họ, quảng cáo trên báo cũng chẳng lừa được
họ, hãy xem đi, những người chịu ấm ức mắc lừa toàn là bị bạn bè lừa. Chẳng phải
nhiều vụ làm ăn hiện nay là bạn bè lừa bạn bè sao? Người làm đa cấp chẳng phải
tâng bốc sản phẩm với bạn bè đến mức không thể tuyệt vời hơn sao? Phải hiểu những
đạo lý này, có lúc bạn bè như hổ sói, đệ tử hãm hại sư phụ, thế giới trần tục
cõi nhân gian thật sự vô cùng đáng sợ. Bạn bè hãm hại nhau, mối quan hệ thầy
trò không tốt, con người ở thế gian tranh giành đấu đá, đâm chọt sau lưng nhau,
cuối cùng trở nên vô cùng khủng khiếp, chẳng ai dám nói thật nữa, có đúng
không? Nhìn ai cũng thấy sợ, nhìn ai cũng có cảm giác người ta đang muốn hại
mình.
Phải hiểu một đạo lý, nhất định phải nhận rõ những phiền não
của chốn nhân thế: danh lợi quyền thế đều là rác rưởi. Những thứ hư danh đó
không phải rác rưởi sao? Hôm nay các vị làm Hội trưởng, ngày mai không còn nữa;
hôm nay các vị làm Chủ tịch, hai ngày sau đã mất chức; một tổ chức nhỏ bé mà
chia thành mười sáu vị bộ trưởng, gọi lên nghe bùi tai biết bao: "Vương bộ
trưởng", "Lý bộ trưởng"... vài hôm sau tinh giản biên chế, tất cả
đều biến mất. Phải hiểu rằng danh lợi, quyền thế đều là rác rưởi, đừng coi trọng
nó quá. Rác rưởi không phải là mục đích học hỏi của người tu hành, người tu
hành chúng ta không nên chứa rác trong tâm.
Những tổn thương lớn nhỏ chốn nhân gian là để con người sống
kiên cường hơn. Hôm nay có người nói bạn, hãy kiên cường lên một chút, có lỗi
thì sửa, không lỗi thì tự răn mình (hữu tắc giới chi, vô tắc giới miễn). Hôm
nay bị người ta đánh, bị mắng, bị hãm hại, bị ức hiếp, bạn đều phải biến nó
thành nhân tố rèn luyện ý chí kiên cường của bản thân. Tôi ngã ở đâu, tôi sẽ đứng
lên ở đó. Người ta nói tôi không qua được ải tiền tài, tôi sẽ đứng lên từ tiền
tài; người ta nói tôi không qua được ải danh vọng, tôi sẽ đứng lên từ danh vọng.
Hôm nay mấy vị phụ trách ở đây, nếu có người nói các vị không qua được ải danh
lợi, ngày mai tất cả các vị hãy vứt bỏ danh đi, tôi vẫn sẽ làm công đức thật tốt,
làm người thật tốt giống như trước đây, như vậy mới chịu được thử thách.
Phải hiểu rằng, được danh xả danh, được lợi xả lợi. Hôm nay
tôi có được danh tiếng, tôi phải vứt bỏ danh tiếng; hôm nay tôi có được lợi
ích, tôi phải buông bỏ lợi ích, con người như vậy mới chịu đựng được thử thách.
Cần danh gì? Cần lợi gì? Danh lợi đều là hư không. Con người phải kiên cường,
con người phải dựa vào những điều đó để rèn luyện; càng rèn luyện, người ta
càng kiên cường.
Phải hiểu rằng, mọi vết thương lớn nhỏ ở nhân gian đều để
rèn bạn trở nên mạnh mẽ hơn. Phải thuận theo thọ nhận mọi nghịch cảnh ở nhân
gian. Thuận cảnh đến, tôi rất tùy duyên; việc tốt đến, mỉm cười một cái, Bồ Tát
gia hộ; nghịch cảnh đến, đây là sự rèn luyện Bồ Tát dành cho tôi, có như vậy bạn
mới không hổ thẹn với tuệ mệnh của chính mình. Chuyện tốt đến thì đắc ý quên
hình, múa mép ba hoa; chuyện xấu đến thì lập tức bi thương tột độ, hạng người
như vậy có thể trở thành một cây tùng xanh được không? Hôm nay ánh nắng ấm áp
chiếu lên cây tùng, nó vẫn nhẫn nại tiếp nhận sức nóng của mặt trời; khi mưa to
gió lớn, mưa to gió lớn, bão tuyết sấm chớp dồn dập, cây tùng ấy vẫn kiên cường
hứng chịu sự tàn phá. Đây chính là cây tùng xanh mà con người nên học hỏi. Đừng
vì một chút không vui của nhân gian mà đau buồn, cũng đừng vì quá nhiều phiền
não của nhân gian mà lo âu, càng không nên vì những huyễn cảnh giả tạm ở nhân
gian, hay một chút thành tựu nhỏ nhoi đạt được mà đắc ý hoan hỉ. Buông xuống
tâm danh lợi, vứt bỏ tâm chấp trước, mới có được chân tâm thực tu.
Phải cảm ân tất cả chúng sinh đã thành tựu cho đời sống tu
hành của chúng ta. Hôm nay các vị đến Đài Đông Phương để tu tâm, nếu không có Đài
Đông Phương này, các vị đi đâu để tu tâm? Hôm nay nếu không có nhiều người nấu
cơm, giúp đỡ các vị như vậy, làm sao các vị có thể kiên trì? Hôm nay nếu không
có nhiều chúng sinh hỏi các vị như thế, ở đây các vị có thể làm được công đức
gì? Tất cả đều phải cảm tạ chúng sinh đã cho chúng ta một cơ hội tu hành, để
chúng ta có điều kiện làm công đức. Bệnh ung thư ngày ngày xảy ra quanh chúng
ta, các vị đều thấy rồi. Như bà Dương làm công đức ở Quan Âm Đường, Sư phụ từ sớm
đã nhìn ra bà ấy bị ung thư vú, Sư phụ luôn giữ im lặng, nhưng bảo bà ấy nhất định
phải đi khám bác sĩ. Hôm qua bà ấy đi khám, phát hiện ra ung thư vú giai đoạn
cuối. Sư phụ từng cho bà ấy cơ hội để làm đệ tử, bà ấy không muốn làm; giống
như một đệ tử năm xưa, Sư phụ cho vào đoàn đồ đệ, người ấy không chịu, nếm mùi
đau khổ rồi mới biết. Phải hiểu rằng, thân người khó được, Phật pháp khó nghe.
Sư phụ đã cho các vị cơ hội tốt như vậy để tu tâm tu hành, bản thân các vị phải
hảo tâm làm công đức, công đức đều là tích lũy từ từng giọt từng giọt mà thành.
Nếu con cái các vị không ốm đau, gia đình hòa thuận, các vị phải cảm ân những
công đức mình đã làm. Xã hội bây giờ, nhà ai mà không xảy ra chuyện? Bình an là
phúc. Phải nghĩ thông, nghĩ thấu, chỉ cần làm tốt công đức, Bồ Tát mãi mãi
không bỏ rơi chúng ta, nhất định sẽ để chúng ta nhận được nhiều thiện báo và
công đức hơn.
Chúng ta sống phải không tranh với đời, thế giới này có gì tốt
để mà tranh giành? Tôi vì sao phải đi tranh giành với người ta? Giành được toàn
là đồ giả, theo duyên mà đến mới là thật. Phải tự mình làm chủ sinh tử. Tôi phải
tự kiểm soát được cuộc sống của chính mình, tôi phải tự kiểm soát được sinh tử
của bản thân, như vậy bạn mới không còn sợ hãi (vô hữu khủng bố). Biết rõ sự sống
của mình, bởi vì cả đời tôi làm người tốt, kiếp sau tôi nhất định sẽ thác sinh
vào một gia đình tốt; tôi cả đời không hại ai, cho nên khi tôi chết, tôi sẽ
không bị tiểu quỷ kéo đi, tôi sẽ không xuống địa ngục. Đây chính là kiểm soát
được sự sống và cái chết của bạn, đúng không?
Phải minh tâm kiến tánh, phải thực tu chứng ngộ. Chân chính
tu hành thật tốt, bạn mới có thể chứng kiến được Phật tính của mình. Nhiều người
nói, tôi khai ngộ rồi, nhưng thực chất là chưa khai ngộ. Khai ngộ thực sự là
minh tâm kiến tánh, tức là trong lòng bạn chuyện gì cũng thấu rõ, bạn đã nhìn
thấy được bản tính của chính mình, như vậy bạn mới được coi là người khai ngộ
chân chính. Đừng để bất kỳ hoàn cảnh nào trên thế giới ảnh hưởng đến các vị.
Hôm nay về nhà không vui, vì người nhà không vui nên bạn bị ảnh hưởng; hôm nay
đến Đài Đông Phương, thấy người ta phớt lờ mình, bạn liền không vui, thế là bạn
lại sai rồi. Phải hiểu rằng, không được để bất kỳ lời nói nào ảnh hưởng, bất kể
người ta nói lời gì, tôi không nghe. Nhiều người chạy đến nói với Sư phụ chuyện
người này, chuyện người kia, Sư phụ nghe xong mỉm cười, thực tế coi như chưa
nghe; đừng đi nghe, đừng chịu sự ảnh hưởng của những lời nói đó.
Dù có chuyện tồi tệ đến mấy xảy ra, cũng phải nghịch lai thuận
thọ (nghịch cảnh đến thì thuận lòng tiếp nhận). Điều này nghĩa là gì? Nghĩa là
có người phản đối bạn, đối xử tệ với bạn, nói xấu bạn, bạn cứ thuận theo họ, họ
sẽ không làm gì được bạn. Bị người ta nói vài câu, bạn phải coi đó là tăng thượng
duyên. Vừa cãi cọ chống đối lại người ta, bạn liền bộc lộ căn tính thấp kém của
mình. Người ta vừa nói bạn có gì không tốt, bạn lập tức nhảy dựng lên, như vậy
chẳng phải bạn giống như động vật sao? Khi người ta nói bạn không tốt, bạn mỉm
cười; người ta có nói gì đi nữa, chỉ cần trong lòng bạn hiểu rõ. Bất kể người
ta nói bạn tốt hay không, đừng từ chối thừa nhận khuyết điểm, đừng lập tức chê
bai lại người ta. Lời lẽ mang tính trả đũa ấy không phải là biểu hiện của người
có tu dưỡng. Hạng người đó có đáng để người khác tôn trọng không? Sư phụ thường
nói với các vị, một vị giám đốc trong công ty, chỉ cần khách hàng có ý kiến,
trước tiên không nói gì cả, lập tức xin lỗi người ta: "Xin lỗi, công việc
của chúng tôi làm chưa tốt." Anh ta có sai không? Giám đốc như vậy mới là
người có tu dưỡng. Nếu chỉ chăm chăm bênh vực nhân viên của mình mà vô lễ với
khách hàng, một giám đốc như thế có thể quản lý tốt doanh nghiệp không?
Không chịu ảnh hưởng của ngoại cảnh, tâm mới không loạn; tâm
không loạn, tình mới không lay động. Lấy một ví dụ đơn giản, một cô gái nhìn thấy
một chàng trai rất bảnh bao, tâm vừa loạn, tiếp đó tình sẽ loạn; tình loạn rồi,
mắt bắt đầu nhìn lung tung, đứng ngồi không yên, lấy tay vuốt tóc, chỉnh áo,
lén lút tô son, dáng vẻ như thế sẽ bị người ta coi thường. Tâm động thì tình sẽ
loạn; vững vàng giữ được tâm, đó gọi là thiền định.
Nhận rõ Phật tính của chính mình mới có thể thành tựu Phật
quả. Bạn là người mang bản tính của Phật Bồ Tát, có Phật tính, bạn mới có thể
thành Phật, mới có thể thành tựu quả vị của Phật Bồ Tát. Hãy tu hành cho tốt để
thành tựu Phật quả, đừng để vô minh trói buộc mình, bởi vì sự không hiểu biết của
bạn sẽ tự trói buộc chính bạn. Phải nhớ rằng, có những người rõ ràng không hiểu
nhưng lại vờ như hiểu, cuối cùng làm hỏng việc, thế là tự trói buộc mình. Trước
đây khi Sư phụ giảng bài, rất nhiều đệ tử, đồ đệ đều nói: "Sư phụ, thầy
đang nói con đấy", và nhiều người bị nói xong trong lòng cảm thấy không
vui. Bây giờ sao lại nghĩ thông rồi? Bây giờ sao lại vui vẻ rồi? Vì cảnh giới của
các vị đã nâng cao. Trước đây các vị không chịu được khi bị nói đến, Sư phụ vừa
nói một chút là đỏ mặt tía tai, cảm thấy Sư phụ đang nhắm vào mình. Thực chất,
Sư phụ đang nói về những căn bệnh chung của biết bao nhiêu người các vị đấy chứ.
3. Ác nghiệp đã tạo, thảy đều đoạn tận
Đừng để những hành vi, lời nói và tư duy không thấu tình đạt
lý trói buộc chính mình, để rồi bạn phải gánh một thân đầy tội nghiệp và chấp
trước đi qua một đời. Cả đời con người chính là không chịu nhận sai, cả đời con
người chính là nghĩ không thông, đó gọi là chấp trước, là tội nghiệp. Các vị làm
sai, đó có phải là tội nghiệp không? Hãy nghĩ về những việc sai lầm các vị đã
làm trong quá khứ, bây giờ các vị tuổi đã lớn thế này, các vị có cảm thấy mình
làm sai rất nhiều, có lỗi với rất nhiều người không? Các vị đã đi qua nửa đời
người rồi, cho nên, ngàn vạn lần đừng để nghiệp lực quấn thân. Sư phụ nói với
các vị ở cảnh giới cao hơn một chút, nghiệp lực này không đơn thuần chỉ là ác
nghiệp, mà ngay cả thiện nghiệp cũng sẽ quấn lấy thân các vị đấy. Cống cao ngã
mạn chính là thiện nghiệp quấn thân. Ở nhân gian, không những không được phạm tội,
mà còn phải dập tắt mọi cảm giác phạm tội. Yêu cầu của Sư phụ đối với các vị
không phải chỉ là dừng mọi hành vi phạm tội - con người vốn dĩ đã không được phạm
tội, người học Phật lại càng không được phạm tội - Sư phụ đang nói về cảm giác
phạm tội. Nghĩa là gì? Chính là ngay cả cái cảm giác tội lỗi đó cũng không được
có. Tôi nói câu này, dẫu tôi không phạm tội, nhưng tôi có cảm giác như thế này
là có lỗi với người ta, tôi đã vu oan cho người ta, hôm nay tôi làm việc này là
quá đáng rồi, các vị nghe có hiểu không? Rất nhiều người làm việc quá đáng, họ
không có cảm giác mình đang phạm tội, tiếp đó họ mang mặc cảm tội lỗi.
Chân tu thực tu thì trừ bỏ được cấu uế. Chân tu, nghĩa là đừng
giả tạo với Sư phụ: "Sư phụ, con hiểu đạo lý rồi, Sư phụ, con sẽ không như
vậy nữa", giải thích thì chẳng có tác dụng gì, phải thiết thực mà sửa đổi
tật xấu của mình. Giở trò giả tạo trước mặt Sư phụ, thấy Sư phụ đến là ra sức
làm việc tốt, làm việc thiện thì có ích gì? Sư phụ cần nhìn vào hành động của
các vị. Sau khi các vị chân tu thực tu, trên thân sẽ sạch sẽ, sẽ không có bùn
nhơ nước đục, các vị có thể gột rửa sạch gốc rễ nghiệp chướng vô minh từ vô thủy.
Nguồn gốc của nghiệp lực, thực chất chính là nghiệp nhân, là cái nhân của nhân
quả tạo nghiệp. Hạt giống nghiệp mà chúng ta mang theo từ nhiều kiếp trước,
chúng ta nhất định phải rửa sạch nó. Từ nay trở đi, Sư phụ hy vọng mỗi ngày các
vị hãy nghĩ: "Tôi không tạo nghiệp nhân, tôi sẽ không có nghiệp quả, tôi
không có cảm giác tội lỗi, mỗi việc tôi làm đều không hổ thẹn với ai." Như
vậy bạn chính là thiện rồi; không có ác, thì chính là thiện. Nếu bây giờ trong
lòng các vị cảm thấy có lỗi với một người nào đó, là các vị đã có mặc cảm tội lỗi
rồi.
Phải không tạo nhân, vĩnh viễn đoạn ác. Không những không đi
tạo nhân, mà chúng ta còn phải đoạn trừ toàn bộ cái ác. Thế giới vốn dĩ không
nhân, chốn nào nhuốm bụi trần? Thế giới này vốn dĩ chẳng có thứ gì, đúng không?
Lấy một ví dụ đơn giản, nhà của bạn làm sao mà có? Khi bạn sinh ra, bạn có nhà
không? Nhà của ba mẹ bạn có phải là nhà của bạn không? Đến lúc bạn kết hôn, bạn
có một ngôi nhà của riêng mình, bạn mua đồ gỗ, mua nhà, mọi thứ dần dần sắm sửa
lên. Căn nhà này vốn dĩ có sẵn không? Không có, là do tự bạn sắm sửa nên. Thế
gian vốn vô nhất vật (Thế gian vốn không vật cố định). Rồi đến khi ly hôn, nhà
cửa, đồ đạc bán sạch, tự mình lại về nhà mẹ đẻ, bản thân lại chẳng có nhà của
riêng mình nữa. Thế giới không một vật, chốn nào nhuốm bụi trần? Tôi đào đâu ra
bụi bặm? Ngay cả một món đồ cũng không có, thì chỗ nào để bám bụi đây? Tâm tôi
vốn dĩ rất thanh tịnh, minh tâm kiến tánh, như một tấm gương trong. Soi rọi vào
sự thiện lương của tôi, trong tâm tôi sẽ thiện lương; soi rọi vào sự tà ác của
tôi, trong tâm tôi sẽ tà ác. Tôi lau chùi sạch sẽ, sáng trong, tôi chính là cái
tâm sáng tỏ, tôi làm gì có bụi bặm?
Bản thân Phật Bồ Tát không có phiền não, Phật Bồ Tát là vô
lượng vô biên. Rất nhiều người nói, học Phật Bồ Tát là học điều gì? Chính là học
cái sự không có phiền não của Phật Bồ Tát. Bởi vì đã là Bồ Tát, tâm của Bồ Tát
là vô lượng vô biên vô tế; tâm của Bồ Tát là rộng lớn nhất, là không có phiền
não. Do đó, người học Phật chúng ta phải làm cho tâm lượng của mình ngày càng rộng
lớn, như thế mới có thể thành Phật. Nếu hôm nay bạn học Phật xong, tâm lượng
càng lúc càng hẹp hòi, càng lúc càng đố kỵ người khác, vậy bạn học Phật gì đây?
Học mãi đến cuối cùng, nhìn ai cũng chướng mắt, đối với ai cũng không thể dung
nhẫn, không thể tha thứ cho người khác, người như thế có phải là Phật không? Là
ma. Phật Bồ Tát vô oán vô hận, Phật Bồ Tát không có lời oán thán, không có tâm
hại người. Phật Bồ Tát vì không có nhân oán hận, cho nên Phật Bồ Tát mãi mãi
không có hạt giống luân hồi trong lục đạo. Bởi vì con người chúng ta có sân hận,
có oán hận, có tật đố, đủ các loại hận thù, nên nó mới tạo ra hạt giống luân hồi.
Người học Phật phải vô oán vô hận, người học Phật sao có thể oán trách người
khác? Sao có thể hận người khác?
Hôm nay chúng ta phải có cái tâm, là tâm gì? Đó chính là tâm
yêu thương chúng sinh, chúng ta phải yêu thương chúng sinh. Mọi nhân duyên của
chúng ta, mọi việc chúng ta gặp khi đến nhân gian, đều do nhân duyên tác tạo;
sau khi học Phật tất thảy đều phải tùy duyên. Hôm nay cái gì đáng là của tôi
thì là của tôi, ngày mai cái không đáng là của tôi thì sẽ không là của tôi, mọi
thứ đều tùy duyên. Đau một chút không sao cả, đau xong rồi sẽ khỏi; bất cứ người
bệnh nào cũng phải khó chịu trước, khó chịu rồi, đau đớn rồi thì bệnh của họ mới
thuyên giảm. Con người vì sao lại sinh bệnh, vì sao lại thấy đau? Chính là vì tập
khí vô minh của bạn, tạo thành nỗi thương đau vĩnh viễn trong tâm bạn. Chốn
nhân gian này không phải là nơi để bạn đến tranh giành, mà là nơi để bạn trả nợ.
Do đó, bạn đến nhân gian tốt nhất đừng đi tranh đoạt, tốt nhất hãy đến trả nợ,
như vậy kiếp sau bạn mới không nợ nần người khác. Bởi vì chúng ta muốn làm Phật
Bồ Tát, bởi vì Phật và Bồ Tát là những bậc vượt thoát khỏi phiền não thế gian,
học Bồ Tát, học Phật rồi chúng ta sẽ siêu việt những phiền não ấy. Chúng ta
không thể giống như những chúng sinh vô minh; người tu hành chúng ta chính là
phải tu đến mức yêu thương hết thảy chúng sinh. Không hận thù không có nghĩa là
có tình yêu thương; khi bạn có lòng yêu thương rồi mới không có hận thù. Do đó,
trước tiên phải học cách yêu thương người khác, bạn mới không hận người khác.
Phải bỏ ác theo thiện, gạt bỏ toàn bộ những thứ xấu xa, giữ
lại tất thảy những điều lương thiện trong tâm, và không ngừng đi làm việc thiện.
Hôm nay tôi muốn làm việc thiện thì không ngừng đi làm, "chuyển phàm thành
thánh", bởi vì khi bạn làm những điều thiện lương, bạn vứt bỏ toàn bộ những
hình bóng và dáng vẻ ác nghiệp, chính là bạn đang chuyển cái tâm phàm nhân của
mình thành tâm thánh nhân, bạn sẽ giải thoát khỏi phiền não. Nếu ai cũng đi giải
thoát phiền não, ai cũng chuyển phàm thành thánh; ai cũng bỏ ác theo thiện, thì
mới có thể khiến thế giới Ta-bà này từ bóng tối chuyển thành ánh sáng, trở nên
thanh tịnh không ô nhiễm. Một người làm chút việc tốt, nhân gian chưa thấy có
bao nhiêu việc tốt; nhưng tất cả mọi người đều làm việc tốt, thế gian này nhất
định sẽ là một thế giới tươi đẹp.
Đài Đông Phương của chúng ta, về cơ bản là một đài phát
thanh tốt đẹp. Tại sao? Vì người tốt nhiều, mọi người đều đang làm việc tốt,
các công ty khác có sánh kịp đài chúng ta không? Không sánh được. Rất nhiều người
trong số các vị đi làm ở các công ty đều biết, trong công ty, có mấy ai chịu bỏ
ra tình yêu thương? Có mấy ai chịu giúp đỡ người khác? Còn ở Đài Đông Phương của
chúng ta, mọi người sẵn lòng tương trợ lẫn nhau, mỗi người đều đang yêu thương
người khác, giúp đỡ người khác. Ít nhất trong không gian vũ trụ nhỏ bé của Đài
Đông Phương này, ở một nơi bé nhỏ nhường này, nó thanh tịnh, vô nhiễm. Tất
nhiên vẫn có người mang theo nhiều sự lây nhiễm chạy đến Đài Đông Phương, nhưng
dẫu sao đây cũng là một dòng sông; cho dù bạn là một con mực phun mực đi chăng
nữa, thì khi đến dòng sông sạch sẽ của Đài Đông Phương, nhất định cũng sẽ gột rửa
bạn sạch sẽ.
Chúng ta học Phật học đến tận sau cùng, là phải siêu việt
nhân gian, phải yêu thương chúng sinh, chúng ta phải tu đến mức đối với tất thảy
chúng sinh đều vô oán, vô hối, vô hận. Bây giờ các vị không thể oán hận bất kỳ
ai, bởi vì tôi làm sai rồi thì chẳng có gì đáng để hối hận, tôi phải tu sửa thật
tốt tật xấu của mình, đối với ai cũng phải khoan dung tha thứ. Hôm nay họ đối xử
không tốt với tôi, chính vì trước đây tôi không tốt với họ; hôm nay tôi bị người
ta mắng, vì đó chính là do tôi làm sai - nghĩ như vậy mới không sinh tâm hối hận.
Phải "Sám hối lỗi xưa”, nghĩa là thường xuyên nghĩ lại:
"Mình sao thế này, quá khứ mình đã làm sai, mấy ngày trước mình lại làm
sai rồi." Thường xuyên sám hối những việc sai trái mình đã làm trong quá
khứ, sám hối sạch sẽ mọi tội nghiệp mình đã tạo ra trước đây. Không chỉ sám hối
cái sai của ngày hôm nay, của hôm kia, của kiếp trước, mà càng phải sám hối tất
cả mọi tội ác đã tạo tác trong quá khứ. "Trước đây tôi không đủ hiếu thuận
với ba mẹ, tôi xin sám hối", tôi "mãi mãi không để tái phạm”, nghĩa
là tôi vĩnh viễn sẽ không đi làm những việc có lỗi với người khác nữa. Phải
"Ăn năn hối lỗi”, tức là tự hối hận: "Tại sao trước đây mình lại làm
như vậy? Bây giờ mình không làm thế nữa", đó chính là hối kỳ hậu quá. Vì bạn
còn biết hối hận, bạn sẽ dần dần không làm những việc đó nữa. Nếu bạn chỉ đơn
thuần sám (xin lỗi) mà không hối lỗi, sau này bạn sẽ vẫn làm sai những việc đó.
Phải đối với tất thảy tội nghiệp của chính mình mà đạt được sự giác ngộ.
"Tôi hiểu rồi, tôi trước đây thực sự làm sai rồi, tôi có lỗi với những người
đó, tôi không nên làm như vậy, tôi không nên đi làm điều đó", dần dần bạn
mới có thể giác ngộ. Tiếp theo là, "thảy đều đoạn diệt mãi mãi”. Sau khi
tôi hiểu rõ những đạo lý này, tôi mới có thể vĩnh viễn đoạn trừ đi những chuyện
xấu xa đã làm lúc trước, đoạn dứt rồi, không còn nữa, kết thúc rồi, càng không
được lặp lại, tái phạm những việc làm bất thiện đó.
4. Lợi ích chúng sinh, tu Bồ tát hạnh
Hôm nay nói với mọi người, chúng ta làm người, làm việc, đều
phải đặt Phật pháp lên hàng đầu. Tức là những việc không mang lại lợi ích cho
chúng sinh, không mang lại lợi ích cho chính mình, chúng ta kiên quyết không
làm; việc không có lợi cho mình nhưng có lợi cho người khác, chúng ta bắt buộc
phải làm; việc vừa lợi ích chúng sinh, vừa lợi ích bản thân thì phải làm nhiều.
Các vị cứu người có phải là đang cứu chính mình không? Các vị độ người chẳng phải
là đang độ chính mình sao? Vậy nên, làm người làm việc phải lấy chúng sinh làm
chủ, lấy bản thân làm phụ.
Nếu hành vi của mình khiến chúng sinh nảy sinh những suy
nghĩ không sáng suốt về Bồ Tát, nói cách khác, người này vì lý do ở bạn mà sinh
ra một số suy nghĩ, cách nhìn, sự nghi hoặc đối với Bồ Tát trong quá trình học
Phật, hoặc mất đi tín tâm học Phật, vậy là bạn đang tạo nghiệp. Các vị tuy nói
là đang học Phật, nhưng nếu điệu bộ học Phật của các vị không giống, khiến người
ta cảm thấy pháp môn này không đúng, hoặc có những suy nghĩ bất hảo, các vị
chính là đang tạo nghiệp mới. Vì thế, những việc chúng ta làm tuyệt đối không
được khiến người khác nảy sinh nghi ngờ, sinh tâm thối chuyển không muốn học Phật
nữa.
Nếu đối với chúng sinh không có lợi ích, mà có lợi ích cho bản
thân, chúng ta cũng không được làm. Bởi vì có lợi cho bạn mà không có lợi cho
người khác, bản thân việc đó đã không thực sự là việc có ích cho bạn. Việc mang
lại lợi ích cho cả chúng sinh và bản thân, việc đó mới có thể làm nhiều. Khuyên
người ta làm việc thiện, có lợi cho chúng sinh không? Sau khi khuyên người ta
làm việc thiện, bản thân bạn có được thọ ích không? Vì bạn độ người rồi, người
khác mọi mặt đều tốt lên, bạn chẳng phải có công đức rồi sao? Có những người
làm việc, nhất định phải có lợi cho mình, sau đó có lợi cho người khác thì họ mới
làm; việc có lợi cho người khác mà không có lợi cho mình, họ thấy không đáng
nên không chịu làm.
Cho nên, học Phật phải dùng tài lực, thời gian, tinh lực mà
mình bỏ ra để giúp chúng sinh có thể đạt được sự khai ngộ, như vậy bạn mới có
thể minh tâm kiến tánh. Minh tâm kiến tánh là gì? Chính là phải hiểu được rằng
chúng ta có thể tìm ra một con đường giúp chúng sinh thoát khỏi khổ nạn, đó
chính là sự minh tâm kiến tánh của bạn. Bạn bận rộn cả đời, bạn không biết mình
bận rộn vì cái gì; bạn khổ sở cả đời, bạn không biết mình chịu khổ vì cái gì,
cuối cùng bạn sẽ đánh mất ngộ tính của chính mình, bạn sẽ khiến người khác
không tìm thấy Phật tính. Xung quanh ai mà chẳng có hai ba người cần được độ? Bạn
ngay cả người gần gũi nhất bên cạnh cũng không thể độ, sao bạn có thể trở thành
Bồ Tát? Bản tính của bạn sao có thể tỏa sáng?
Chúng ta muốn chúng sinh thoát khỏi Lục đạo, thì bình thường
phải để họ tu Bồ Tát hạnh. Trước tiên chính bạn phải giống Bồ Tát, lời bạn nói
ra phải giống Bồ Tát, việc bạn làm phải giống Bồ Tát, như thế bạn mới có thể bảo
người ta học Bồ Tát hạnh. Bản thân mình còn chưa ngay chính (bất chính), sao có
thể chấn chỉnh được người khác? Bản thân bạn còn không giống Bồ Tát, sao bạn có
thể khiến người khác trở thành Bồ Tát? Thế nên, Sư phụ bảo các vị phải yêu
thương người khác, phải yêu thương chúng sinh.
Các vị rất khó để yêu thương chúng sinh, các vị có mấy người
có thể yêu thương chúng sinh? Sư phụ hôm nay nhìn thấy Robin bước vào chào hỏi
Tiểu Trần, Tiểu Trần coi như không nhìn thấy, đây là hành vi của Bồ Tát sao? Sư
phụ đã nói rồi, đừng nói các vị đều là đệ tử, mà ngay cả đối với Phật hữu bình
thường, bạn cũng bắt buộc phải chào hỏi người ta, hãy sửa đổi khuyết điểm cho tốt.
Đó đều là cội nguồn để các vị sau này tạo nghiệp, gây ra mâu thuẫn gia đình. Nhất
định phải sửa đổi cái khuyết điểm mục trung vô nhân (trong mắt không có ai)
này, hơn nữa yêu thương người khác phải vượt trên yêu thương bản thân, phải coi
trọng người khác hơn coi trọng chính mình. Bản thân cứ luôn miệng "Tôi
nghĩ gì, tôi nghĩ gì", bạn tự nghĩ cho mình ít đi, bạn sẽ nghĩ nhiều hơn
xem người khác sẽ nghĩ gì.
Vì vậy, muốn trở thành một người khai ngộ, bạn bắt buộc phải
bớt làm những việc tổn người lợi mình. Những điều Sư phụ giảng cho các vị đều
là đạo lý cơ bản nhất của việc học Phật làm người. Rất nhiều người cho đến tận
bây giờ vẫn luôn làm những việc tổn người lợi mình. Sư phụ nói cho các vị biết,
không được phép làm tổn hại đến lợi ích của người khác; làm tổn hại lợi ích của
người khác, bạn sẽ vĩnh viễn không nhận được lợi ích. Tu Bồ Tát hạnh chính là để
chúng sinh được lợi ích.
Có thể dùng tư duy của Bồ Tát để làm người và học Phật trong
đời sống hằng ngày, thì đó chính là tư duy Bồ Tát ở cõi nhân gian. Nhưng đừng
tưởng mình đã là Bồ Tát rồi, bạn chẳng qua chỉ sở hữu một chút tư duy của Bồ
Tát mà thôi. Ở nhân gian, vì những oan kết từ nhiều đời nhiều kiếp, chúng ta bị
trọc khí trong chốn hồng trần làm cho ô nhiễm. Bản tính nguyên thủy của chúng
ta, tâm thái của chúng ta bị quấy tung mù mịt, chúng ta không tìm thấy phương
hướng của chính mình trong cõi hồng trần. Thường có người hỏi Sư phụ: "Con
đã làm gì vậy? Mấy năm nay con thật sự hồ đồ mơ hồ, không biết mình đang làm
gì?" Đó chính là các vị không tìm thấy bản ngã. Các vị bận rộn hì hục, thứ
đánh mất là thanh xuân, là thời gian, là sinh mệnh của các vị. Trong cõi hồng
trần, chúng ta rất dễ bị khí ô trọc lây nhiễm; mọi người đều ích kỷ, bạn cũng
hùa theo ích kỷ, mọi người đều hố người ta, bạn cũng đi hố người ta, đó chính
là bị thế giới ác trược làm cho ô nhiễm. Các vị vô minh quá, đến nay vẫn chưa
hiểu đạo lý, các vị chạy đến Quan Âm Đường để làm gì? Là để câu danh trục lợi
sao? Ở đây không có danh, không có lợi; bạn chạy đến mà không làm công đức, thì
đồng nghĩa với việc tổn thất công đức. Lấy một ví dụ đơn giản, các vị đến công
ty mà không nỗ lực làm việc, các vị có thành tích không? Các vị đến Quan Âm Đường
không làm công đức, các vị sẽ đánh mất công đức.
Phải trừ bỏ quan niệm "Ngã chấp" của chúng sinh.
Nghĩa là, mỗi người đều phải thay đổi quan niệm ngã chấp của bản thân. Cái suy
nghĩ "tôi cho rằng mình đúng", hôm nay các vị đều cho rằng mình đúng,
đó gọi là ngã chấp. Trong Đoàn Thanh niên của các vị, ai cũng cho rằng mình
đúng, đó gọi là ngã chấp. Có gì là đúng cơ chứ, phải tự mình hảo hảo sửa đổi
khuyết điểm. Tưởng mình là đúng, nhưng thực chất là sai. Đừng luôn cho rằng
mình đúng; trước tiên phải sửa đổi khuyết điểm này, bất cứ chuyện gì sau khi
nói ra phải suy nghĩ lại, "Có thể là mình làm không đúng, nói sai rồi."
Trừ bỏ quan niệm ngã chấp, xả bỏ đi ngã chấp, bạn sẽ thường
gặp quý nhân. Rất nhiều người nói: "Tại sao không có ai giúp tôi? Tại sao
tôi không gặp được quý nhân?" Thử nghĩ xem, nếu bình thường bạn không phải
là một người chủ quan, người ta đã sớm giúp đỡ bạn rồi, đúng không? Bạn cho rằng
bản thân mình vĩnh viễn chính xác, thì ai còn muốn giúp đỡ bạn, trở thành quý
nhân của bạn nữa? Sẽ không ai giúp bạn cả, người khác chỉ ở bên ngoài nói:
"Nó nói lúc nào cũng đúng, cứ để nó làm đi, xem trò cười của nó." Người
đó sẽ có quý nhân sao? Sư phụ dạy các vị phương pháp làm thế nào để gặp quý
nhân, các vị phải học cho thật tốt.
Tìm ra được Phật tính trong tự tâm, đó gọi là minh tâm kiến
tánh. Phải tìm ra được Phật tính của mình, các vị vứt Phật tính của mình đi đâu
rồi? Lúc chửi bới người khác, Phật tính của các vị ở đâu? Có tìm thấy không?
Lúc động não nghĩ chuyện xấu xa, Phật tính của các vị ở đâu? Lúc chiếm tiện
nghi của người khác, Phật tính của các vị lại ở đâu? Tìm ra Phật tính của mình,
lau cho sạch sẽ, bạn chính là "minh tâm". Không tìm thấy Phật tính, bạn
vẫn rất dơ bẩn, bạn vẫn chưa phải là minh tâm. Do đó, tìm được Minh sư, chính
là giúp bạn theo đuổi cái tâm sáng suốt trong lòng. Hôm nay các vị tìm được Sư
phụ, không phải là một vị sư phụ nổi tiếng, mà là một vị sư phụ sáng suốt tỏ tường,
cái tâm này của các vị mới có thể thấu suốt. Sư phụ giảng cho các vị nhiều đạo
lý như vậy, các vị mới thấu hiểu thế nào là đạo ở thế gian, thế nào là lý, nếu
không lại cứ tưởng đạo lý của riêng mình là đạo lý của nhân gian, là đạo lý của
Phật, như thế là vô lý. Bởi vì chỉ khi nào bạn hiểu thấu Phật tâm của chính
mình, cộng thêm việc bạn nhìn thấy bản tính của mình, bạn mới thực sự thấu hiểu
những đạo lý này, ánh Phật quang của nhân sinh mới có thể tỏa sáng.
Các vị không thể cứ mãi học đạo lý thế gian với Sư phụ, mà
phải học lý luận của Phật, phải học triết lý của Phật pháp. Sư phụ yêu cầu các
vị sau này học càng ngày càng sâu sắc. Đừng chạy ra ngoài rêu rao rằng đi theo
Đài trưởng học, người ta nhìn vào thắc mắc sao đệ tử toàn học nền tảng cơ bản,
như thế không thể tu lên cao được. Sau này Sư phụ sẽ giảng cho các vị những triết
lý cao thâm. Vấn đề là Sư phụ giảng bài cho các vị giống như nhìn thức ăn gắp
cơm; "cơm" là cơ sở nền tảng, "thức ăn" là Phật lý. Vì
"thức ăn" của các vị chưa nhiều, nên chỉ có thể ăn nhiều
"cơm" một chút; đợi khi "thức ăn" của các vị nhiều rồi, sau
này có thể bớt ăn "cơm"; đến lúc các vị toàn là "thức ăn" lại
cộng thêm "cơm", đó mới thực sự là một bữa ăn trọn vẹn. Trình độ của các
vị chỉ mới ngần này, học Phật mới hiểu chút xíu này, đạo lý cũng chỉ thấu được
chút xíu này thôi.
Phải học Phật nhiều, phải hiểu rõ đạo lý nhiều, phải tìm
Minh sư. Không có sư phụ, không có người thầy, ai có thể học Phật tốt được? Hãy
nghĩ xem Ngũ Tổ, Lục Tổ, truyền từ đời Tổ này sang đời Tổ khác, đó đều là những
vị cao tăng đại đức, phải học cho tốt. Quán Thế Âm Bồ Tát đã mở ra cho chúng ta
con đường này, muốn chúng ta nỗ lực tinh tấn, muốn gạt bỏ đi những chấp trước,
vọng tưởng, sương mù mê mờ và sự ngu si của bản thân, để theo đuổi chánh tín,
chánh đạo, chánh pháp, chánh thời chốn nhân gian, đó mới là người khai ngộ. Sư
phụ thấy các vị mắt thì mở to thao láo, mà đầu óc thì đóng chặt lại. Gặp chuyện,
các vị phải nhắm mắt lại và động não nhiều hơn; nhiều người khi động não, mắt họ
nhắm lại, nhưng não bộ đang xoay chuyển. Còn các vị khi gặp chuyện, mắt thì trợn
thật to, nhưng não lại ngừng hoạt động.
5. Tâm niệm thanh tịnh, chốn nào nhuốm bụi trần
Tham, sân, si đang trói buộc chúng ta, khiến chúng ta mang một
thân đầy tội nghiệp và chấp trước. Bởi vì chúng ta đã tham những thứ không nên
tham, hận những người không đáng hận, ngày ngày chúng ta đều đang ngu si, tất cả
những điều này khiến chúng ta cõng trên lưng đầy dẫy tội nghiệp. Các vị nghĩ lại
những chuyện làm sai lúc còn trẻ, đó chính là các vị đã cõng tội nghiệp trên
lưng rồi; nghĩ đến những việc muốn tự tát vào mặt mình, những chuyện hận bản
thân muốn chết, vậy là các vị vẫn luôn gánh cái nghiệp đó, mãi cho đến lúc các
vị rời khỏi nhân gian. Làm sai chuyện, bị người ta lừa gạt, không cẩn thận suýt
bị người ta đánh, suýt trở mặt với ba mẹ... Suýt chút nữa thì thế này thế kia,
các vị chính là đang sống trong cái "suýt chút nữa" đó, bởi vì các vị
không hiểu, bởi vì các vị vô minh. Suýt chút nữa thì chết, mỗi người các vị đã
chết đi sống lại bao nhiêu lần rồi? Suýt chút nữa thì ly hôn, suýt chút nữa thì
cãi nhau, suýt chút nữa thì ném đồ đạc, suýt chút nữa thì bị xe cán chết, các vị
có từng bị vậy không? Đó đều là do vô minh, do không hiểu đạo lý. Cho nên, các
vị gánh một thân tội nghiệp, lại còn chấp trước, "Tôi cứ làm thế đấy, tôi
nhất định phải làm thế." Các vị được gì nào? Thứ các vị nhận được chính là
tội nghiệp. Không đáng để làm mà các vị nhất quyết đi làm, thứ các vị nhận lại
là món nợ nghiệp. Trên thế giới này, có thứ gì là bắt buộc phải làm không? Nhân
sinh là phải tùy duyên.
Phật pháp mà Sư phụ giảng cho các vị, bề ngoài nghe có vẻ rất
cạn, nhưng thực chất vô cùng thâm sâu. Chỉ với hai chữ "nhân duyên",
bề ngoài xem ra, có "nhân" mới có "duyên", nhưng thực ra là
bởi vì có cái "duyên" đó mới tạo thành cái "nhân" của bạn.
Bạn không có cái duyên phận đó, thì bạn lấy đâu ra cái nhân để tạo? Hôm nay các
vị vừa nhìn thấy một người liền lập tức nảy sinh thiện cảm, có duyên phận này đến
rồi, các vị tiếp theo đó bắt đầu tốt đẹp với nhau, một lát sau lại quay ra cãi
cọ, bắt đầu tạo nên cái nhân này, đúng không? Nhân duyên, nhân nhân duyên
duyên, duyên duyên nhân nhân, có duyên có nhân, có nhân mới có duyên, đó cũng
là một vòng luân hồi. Con người cứ không ngừng luân hồi trong cái nhân duyên quả
báo đó. Những chuyện sai các vị làm lúc trước, bây giờ có tái phạm không? Nếu bạn
có nghị lực, những chuyện làm sai trước kia xin đừng phạm lại nữa. Muốn thoát
khỏi đau khổ, nhưng lại bị nghiệp lực của chính mình quấn chặt, siết chặt lấy bạn,
gỡ mãi không ra. Chúng ta muốn chấm dứt mọi tội lỗi của bản thân, mỗi ngày các
vị đều nói: "Tôi quyết tâm kiên quyết không làm những việc thế này nữa,
sao tôi lại ngốc nghếch thế cơ chứ." Lẽ nào các vị không muốn dừng lại
sao? Nhưng đến lúc duyên phận kéo đến, các vị lại tiếp tục ngốc nghếch. Vì vậy,
chúng ta vô tình đang rơi vào sự đọa lạc.
Phải ghi nhớ, một người bị đọa lạc là trong lúc vô tri vô
giác. Một người sẽ không đột nhiên trở thành kẻ xấu; là bởi vì chúng ta làm việc
xấu, chúng ta không coi trọng nó, vì chúng ta không thường xuyên làm việc tốt.
Mỗi ngày bạn làm một chút việc xấu, ba trăm sáu mươi lăm ngày trong một năm cộng
lại, bạn sẽ là một đại ác nhân, bạn đang thay đổi tư duy trong vô thức, đọa lạc
trong vô thức. Lấy một ví dụ đơn giản, một người ngày nào cũng ở nhà không chịu
làm gì; hôm nay không chịu làm, ngày mai không chịu làm, một năm ròng rã, người
này chẳng phải là một kẻ vô cùng lười biếng hay sao? Anh ta có thể làm được gì?
Hạng người này rất nguy hiểm, mỗi ngày đều đang bước đi trên đà trượt dốc.
Chỉ có chân tu, thực tu, tức là chân chính tu tập mới có thể
thay đổi. Các vị thử xem, lúc Quan Âm Đường đông người, có những người đang dập
đầu, Sư phụ thấy người đó làm thật tâm, người đó không quan tâm bên cạnh có ai hay
không, hai tai hai mắt của họ hoàn toàn phong tỏa, họ cứ dập đầu lạy Bồ Tát ở
đó. Bởi vì lúc đó trong tâm họ chỉ có Phật, trong tâm họ chỉ có Bồ Tát, người
như vậy niệm kinh dập đầu mới linh nghiệm. Nếu khi dập đầu mà họ còn phải liếc
ngang liếc dọc xem có ai chú ý mình không, cái đầu dập xuống bên cạnh có người
sẽ thế nào không, người như thế có phải là thực tu không? Có phải chân tu
không? Người như thế tu có tốt không? Tu tâm phải dùng tâm, phải thực tu.
Phải trừ bỏ cấu uế (bụi bẩn), trong tâm chúng ta cáu bẩn quá
sâu, chúng ta phải gột sạch nghiệp chướng vô minh từ vô thủy. Nghĩa là, vừa đến
nhân gian, chúng ta đã có nghiệp chướng rồi, thử nghĩ xem có đúng không? Sau
khi sinh ra, trên người chúng ta chẳng phải có nghiệp chướng sao? Tiểu Ngô, sau
này nhận điện thoại nhất định phải cẩn thận. Bản thân cậu vội vàng như vậy, sao
cậu có thể không nghe người ta nói? Cậu dạy đời người ta, cậu là ai cơ chứ? Sư
phụ thấy cậu cứ tiếp tục như thế, cậu sẽ cãi nhau với người ta đấy. Nếu cậu đi
khám bệnh, cậu nói với bác sĩ "cơ thể tôi thế nào", nếu bác sĩ bảo
"anh đừng nói nữa, tôi biết rồi", như vậy bệnh nhân người ta có vui
không? Cậu phải nghe bệnh nhân nói chứ, cậu ngay cả một chút nhẫn nại ấy cũng
không có, cậu có thể làm Bồ Tát không? Phải hiểu đạo lý, các vị đang đại diện
cho Bồ Tát, người ta coi các vị như Bồ Tát, lẽ nào các vị lại thiếu kiên nhẫn
trả lời câu hỏi của người ta như thế? Sư phụ đã nói với cậu bao nhiêu lần, bảo
cậu nói chậm lại, các vị mà khua môi múa mép, thà đi nói vè gõ sênh còn hơn. Mỗi
người các vị trên thân đều có nhược điểm, hơi không cẩn thận là sẽ đọa lạc,
công đức tan biến. Cho nên, nhất định phải dọn dẹp sạch sẽ cấu uế trên người, mới
có thể liễu thoát sinh mệnh. Liễu thoát là gì? Chính là mới có thể giải quyết dứt
điểm, mới có thể siêu thoát khỏi sinh mệnh hữu hạn của bản thân chốn nhân gian.
Sám hối chia làm Hữu tướng sám hối và Vô tướng sám hối. Hữu
tướng sám hối là gì? Ví dụ, hôm nay tôi làm sai một việc, lập tức nói:
"Xin lỗi, tôi thực sự làm sai rồi." Nói xong rồi lại quên sạch, mấy
hôm sau bệnh cũ lại tái phát. Vô tướng sám hối là gì? Chính là làm sai chuyện,
trong lòng buồn bã: "Mình thật sự phải sửa đổi, có lỗi quá, mình thực sự
làm sai rồi." Nói xong, bề ngoài không nhận ra, nhưng trong lòng cứ buồn
bã mãi, lần sau sẽ không tái phạm nữa. Vô tướng sám hối chính là sám hối ở
trong tâm.
Học Phật không dễ dàng gì, con người có nội tâm và ngoại tâm
(tâm bên trong và tâm bên ngoài), có hữu tướng sám hối và vô tướng sám hối, thực
chất chính là sám hối chân tâm và sám hối bề mặt. Kẻ sám hối ngoài mặt, sẽ
không để trong lòng. Khi xin lỗi người ta nói "thật xin lỗi", miệng mồm
tía lia theo một khuôn mẫu có sẵn, người đó nhất định không phải thực tâm. Người
chân tâm sám hối nói rất ít, trong lòng vô cùng đau khổ, nghĩ rằng mình thực sự
không thể làm lại những chuyện này nữa. Sư phụ nói có đúng không? Mỗi người các
vị hãy tự mình thể nghiệm xem, có đúng như vậy không?
Hữu tướng sám hối là "Ngã sám", là nhục thân này của
tôi, là một kiểu sám hối hời hợt bề ngoài. Vô tướng sám hối là "Tâm
sám", là dùng tâm để sám hối, dùng tâm để nói lời "xin lỗi". Nhiều
bà mẹ mắng con cái đuổi ra ngoài, đứa trẻ chạy mất, người mẹ trong lòng xót xa,
dùng tâm sám hối: "Mình không thể đối xử với con như thế nữa." Đúng
không nào? Lại có một số bà mẹ nói: "Đứa con này tôi có lỗi với nó, tùy nó
thôi, nó thích làm gì thì làm." Đó cũng gọi là sám hối, gọi là "Ngã
sám". Khi các vị làm sai, quỳ ở đây niệm "Lễ Phật Đại Sám hối
Văn", các vị có biết phải dùng tâm để sám hối không?
Trong tâm vốn không một vật, trong tâm chúng ta vốn dĩ không
có bất kỳ tạp niệm nào, vô cùng sạch sẽ, chốn nào nhuốm bụi trần? Nếu chỗ này rất
sạch, lấy đâu ra bụi bặm? Khi bạn lái xe, nếu đóng hết cửa kính, bụi có bay vào
được không? Sẽ không. Chính là vì bạn mở cửa sổ, bạn nhìn thấy, bạn tiếp xúc với
lục trần, thì xe của bạn mới dơ bẩn. Bởi vì ở nhà bạn mở cửa chính, mở cửa sổ,
nên bụi mới ngày càng nhiều. Thế gian vốn vô nhất vật (Thế gian vốn không vật cố
định), chốn nào nhuốm bụi trần? Thế giới này vốn dĩ chẳng có gì cả, đều do con
người tự tạo ra rắc rối mà thôi. Phải tu cái tâm cho thanh tịnh, tâm nguyện sẽ
không có bụi bặm. Lau chùi trái tim của bạn sạch sẽ, trái tim bạn sẽ không còn
bụi trần. Bạch thoại Phật pháp rất đơn giản, lau dọn sạch sẽ bụi bặm trong nhà
bạn, nhà bạn chẳng phải sạch sẽ sao? Làm sạch cái tâm của các vị, tâm các vị chẳng
phải sẽ thanh tịnh sao? "Ôi, tâm tôi không tịnh." Đó là vì bạn chưa tẩy
rửa nó sạch sẽ đấy thôi.
Phải hiểu rằng, Phật bản thân vốn dĩ thanh tịnh, vô phiền vô
não, bởi bản thân Phật không vướng bụi trần. Nói cách khác, Phật tâm bản lai của
chúng ta là không có bụi bặm, là vô trần vô nhiễm, hơn nữa lại bao la bát ngát
không bến bờ. Chúng ta sinh ra từ thuở ấu thơ, nếu ba mẹ khí lượng rộng lớn, những
đứa trẻ chúng ta đi theo ba mẹ, khí lượng của chúng ta cũng sẽ lớn. Các vị có
tin không? Nếu người mẹ này thường nói: "Bác này đáng thương lắm, đem cái
này tặng cho bác đi con." Người cha thì nói: "Họ vất vả lắm, chúng ta
đưa thêm cho họ chút tiền đi." Đứa trẻ đó lớn lên sẽ biết tặng đồ cho người
khác, sẽ đưa nhiều tiền hơn cho người ta. Sinh ra đã keo kiệt, đó là nhân quả từ
kiếp trước; kiếp này đi theo ba mẹ có khí lượng rộng lớn, nó sẽ có thể thay đổi
bản thân.
Sư phụ nhìn người rất lợi hại, chỉ là không thèm nói ra
thôi. Tại sao người Trung Quốc hay nói: "Nếu con không cố gắng nên người,
con sẽ làm hại ba mẹ con đấy." Sư phụ chỉ cần nhìn khí trường của một đứa
trẻ, là biết ba mẹ nó có tu dưỡng hay không. Những việc đứa trẻ làm có lúc đã
làm mất mặt ba mẹ chúng, bị người khác trong lòng khinh thường. Một đứa con gái
điên điên khùng khùng, người ta có coi trọng ba mẹ nó không? Không có giáo dưỡng,
một kẻ mở miệng ra là mắng chửi người khác, người ta có coi trọng ba mẹ của kẻ
đó không? Các vị hôm nay học Phật rồi, nhất ngôn nhất hành, nhất cử nhất động đều
đang đại diện cho Bồ Tát, đại diện cho Sư phụ; người không có học Phật, sẽ làm
mất mặt ba mẹ của chính mình.
6. Học cách ngã sám và chân sám
Tâm lượng của chúng ta phải ngày càng rộng lớn, không được
có oán và hận. Có gì đáng để oán trách, có thể oán trách ai cơ chứ? Hôm nay
sinh ra trong gia đình này, bạn hãy hảo hảo mà thọ nhận, đây chính là nhân do
kiếp trước tạo ra, kiếp này nhận quả báo, có gì để oán thán? Bạn đã cưới người
vợ này, đã gả cho người đàn ông này, đó chính là nhân quả của bạn, có gì để
oán, có gì để hận? Các vị phải học cách đừng oán thán, đừng hờn hận, phải dùng
sức mạnh của Phật pháp để thay đổi cuộc sống của mình, thay đổi mọi thứ của
mình, đó mới là chiến thắng của bạn; nếu bạn không thay đổi được, đó gọi là buông
xuôi theo, tức là cứ buông xuôi theo cái nhân của nhân quả mà đi trên con đường
đó, bạn không có cách nào khác, giống như bị người ta dẫn dắt đi vậy.
Phải học tâm lượng rộng lớn của Bồ Tát, vô phiền não, đừng
oán trời trách người. Một người sống trên đời, thường xuyên oán trời trách người,
chốc chốc lại nói "Chuyện này phải làm sao đây", chốc chốc lại than
"Tôi thật xui xẻo", "Tôi không vui", đó chính là đang gieo
xuống cái nhân quả báo luân hồi trong Lục đạo. Vài ngày nữa Sư phụ sẽ giảng sâu
hơn, triển khai rộng hơn cho các vị. Các vị có biết nếu cứ buông xuôi theo nhân
quả mà đi tiếp, nó sẽ dẫn các vị đến đâu không? Các vị đều không biết. Oán hận
đến cuối cùng, sẽ tạo thành cái nhân đưa bạn vào Lục đạo luân hồi. Không được
oán trách người khác, người hay oán trách người khác dần dần sẽ luân hồi vào
trong nhân quả, hơn nữa, người hay oán trách sẽ nảy sinh lòng hận thù. Lần sau
Sư phụ sẽ nói cho các vị biết, phiền phức đến cuối cùng sẽ tạo thành quả báo và
sự biến đổi như thế nào, oán hận sẽ tạo thành nhân quả gì trên thân các vị. Điều
này rất thâm sâu, các vị phải học cho thật tốt.
Chúng ta phải chân tu, chân sám (sám hối thật tâm), không ngừng
chân chính tu tâm, chúng ta còn phải dùng chân tâm để sám hối, để bản thân mình
và người khác đời này kiếp này đều vô oán vô hối (không oán hờn, không hối tiếc).
Hôm nay hai vợ chồng có thể thành duyên chồng vợ, bạn đừng để
đối phương oán hận mình, đừng để đối phương cảm thấy bạn đã làm rất nhiều chuyện
đáng hối hận. Lấy một ví dụ đơn giản, hôm nay bạn không nhịn được, bạn liền mắng
cô ấy một câu, mỉa mai cô ấy một câu, bạn biết vợ mình tính khí rất nóng nảy,
hơi không cẩn thận, cô ấy ném đồ đạc vào người bạn, lỡ làm mù mắt bạn, hay đập
vỡ đầu bạn, lúc đó bạn sẽ hối hận cả đời, cô ấy cũng hối hận cả đời. Vài ngày
trước khi Sư phụ hồi âm cho một người, người đó chính là như vậy, lúc hai vợ chồng
cãi nhau, người vợ va vào bàn, cơ thể tàn phế, từ đó về sau không gượng dậy nổi.
Sư phụ mong các vị làm việc gì cũng đừng để người khác phải hối hận, và cũng đừng
để chính mình phải hối hận.
Phải hiểu rằng, bạn bị người ta bắt nạt là chuyện rất bình
thường, đó là vì có oan kết, hãy mặc kệ họ; bạn bị người ta ức hiếp thì đã sao
nào? Bởi vì đây là nhân gian, đương nhiên sẽ bị người ta ức hiếp. Bạn không muốn
bị ức hiếp, nếu bạn có bản lĩnh, lần sau đừng đến nhân gian nữa; bạn đã đến
nhân gian, bạn sẽ bị người ta ức hiếp, bởi vì đây là Nhân đạo. Chúng ta học Phật,
chính là không thể giống như những chúng sinh khác, bởi các vị hiện tại không
phải là chúng sinh bình thường, các vị là chúng sinh đã giác ngộ, chúng sinh giác
ngộ đã bước vào Phật đạo rồi. Nếu các vị cũng giống như bao người khác, vậy chẳng
phải các vị cũng chỉ là chúng sinh bình thường sao?
Sư phụ tách hai chữ "Sám hối" ra phân tích cho các
vị nghe. "Sám" chính là sám những việc sai trái chúng ta đã làm trong
quá khứ, sám cho sạch mọi tội ác đã gây ra từ trước; "Hối" là gì? Là
"hối kỳ hậu quá" (hối lỗi về sau), hối hận về những chuyện tôi đã
làm, tôi rất đau buồn, tại sao tôi lại làm những chuyện này; đã tạo thành cái
quả sau cái nhân này, mới gọi là "Hối". "Sám hối" nghĩa là,
bạn phải thấu hiểu sâu sắc tiền nhân hậu quả của việc sai trái mà mình đã làm,
tất cả mọi tội nghiệp đều bắt buộc phải sám hối, tức là đã giác ngộ. Khi bạn
hoàn toàn nhìn trước ngó sau, nghĩ đến việc mình không nên làm chuyện này, lại
nghĩ đến sau này mình thực sự không thể làm chuyện này nữa, bạn mới dần dần
giác ngộ. Khi chúng ta niệm Lễ Phật Đại Sám hối Văn, nhiều người tưởng rằng,
hôm nay tôi đi làm chút chuyện xấu, sau đó tôi niệm vài biến Lễ Phật Đại Sám hối
Văn là tôi có thể sám hối được rồi. Sư phụ nói rõ cho các vị biết, làm thế là
không được, tội nghiệp sẽ càng sám càng lớn. Vốn dĩ làm sai một chuyện, tôi sám
hối rồi, việc đầu tiên sám hối được 90%, còn lại 10% tội nghiệp; sau đó tôi lại
làm việc xấu đó, vậy bạn sám hối được 80%, còn lại 20%; tiếp đó bạn lại làm
chuyện này, vậy bạn chỉ sám hối được 70%. Cứ theo tỷ lệ như thế mà giảm dần, thử
nghĩ xem, đợi đến khi bạn sám hối chuyện này vô số lần, tội nghiệp của bạn có
thể tiêu trừ được không? Phải hiểu rằng, khi một người sám hối, trong tâm họ bắt
buộc phải thưa với Bồ Tát: "Nay thảy đều đoạn vĩnh viễn, không bao giờ tái
phạm, con nhất định vĩnh viễn không bao giờ làm chuyện này nữa." Niệm Lễ
Phật Đại Sám hối Văn như thế, mới có thể tiêu diệt toàn bộ mọi tội nghiệp của bạn.
Nhiều người chỗ này đang làm việc xấu, chỗ kia lại niệm Lễ Phật Đại Sám hối
Văn; hôm nay mở miệng chửi người, ngày mai lại đi niệm kinh, đến cuối cùng, bạn
nói xem niệm Lễ Phật Đại Sám hối Văn còn có tác dụng không?
Một người muốn tu để lên được Trời đâu có dễ dàng. Nếu Sư phụ
có thể đạt được quả vị trên cõi Trời, cũng không biết đã phải tu bao nhiêu đời
bao nhiêu kiếp; các vị mới tu được mấy kiếp? Các vị hôm nay có thể ở bên cạnh
Sư phụ làm đệ tử, cũng không biết đã tu mười mấy kiếp rồi, vậy mà vẫn tu thành
cái dáng vẻ nát bét thế này. Thử nghĩ xem trên người mình có bao nhiêu khuyết
điểm, các vị có sửa được không?
Vì có Hữu tướng sám hối, bạn sẽ ngu si, mê hoặc, điên đảo.
Làm sai chuyện liền nói: "Bồ Tát ơi, con xin lỗi", sau đó bạn lại đố
kỵ, lại kiêu cuồng, lại ngu mê. Vô tướng sám hối là nhận lỗi không mang theo bất
kỳ tạp niệm nào: "Hôm nay con sai là sai rồi, con thực sự không làm nữa."
Đó chính là "Tâm sám" mà Sư phụ vừa giảng, nghĩa là tôi thực sự cho rằng
mình đã làm sai, tôi thực sự phải sửa đổi, không có bất kỳ tạp niệm nào. Còn
"Ngã sám", là trên người vẫn còn một chữ "Ngã" (Cái tôi).
Nhiều người nói "xin lỗi" với người khác là vì một mục đích nào đó,
vì mẹ ép tôi phải nói, vì có một nguyên nhân nào đó khống chế tôi. Khi các vị
nói "xin lỗi" với ông chủ, các vị có cam tâm tình nguyện không? Bởi
vì nếu các vị không nói "xin lỗi" thì mất việc, cho nên đành phải
nói, những thứ đó đều là giả. Người học Phật phải dùng tâm để sám hối, nhận lỗi
sám hối không cần bất cứ lý do nào, sai là sai, có lý do gì để bào chữa? Lừa trời
lừa đất, cuối cùng là lừa chính mình. Thực ra các vị đã làm những gì, thiên địa
quỷ thần đều biết rõ mồn một, chỉ có chính các vị không biết, còn tưởng mình giỏi
lừa gạt người khác lắm!
Công đức của Pháp bố thí rất lớn, bởi vì nó có thể giải cứu
chúng sinh, bỏ ác theo thiện, chuyển phàm thành thánh. Các vị có biết hàm ý của
việc giải cứu chúng sinh là gì không? Đó là Bồ Tát đấy. Khi một người bỏ ác
theo thiện là khái niệm gì? Đó là khiến một người xấu biến thành một người tốt.
Chuyển phàm thành thánh - khi một người từ người xấu biến thành người tốt rồi,
họ bắt đầu từ một kẻ phàm phu chuyển thành một bậc thánh nhân, bởi vì thánh
nhân không làm chuyện xấu, còn phàm nhân vẫn sẽ làm việc xấu.
Chúng ta phải giải thoát phiền não, phải giúp con người ở thế
giới Ta-bà từ từ bước ra khỏi bóng tối, hướng về ánh sáng. Con người thời nay
vì tâm không tươi sáng, không quang minh lỗi lạc, tâm của chúng ta rất dơ bẩn,
bị ô nhiễm, nên chúng ta không nhìn thấy ánh sáng. Thử nghĩ xem, những người tự
sát có phải là không nhìn thấy ánh sáng không? Nếu họ có thể nhìn thấy vẫn còn
ngày mai, nhìn thấy tương lai rồi mọi chuyện sẽ tốt đẹp, họ có tự sát không? Họ
cảm thấy tối tăm rồi, kết thúc rồi, thế giới này vô vị rồi, thế nên họ từ bỏ
nhân gian, lao vào bóng tối. Sư phụ mong các vị phải biết cách biến tư duy hỗn
loạn của mình thành sự bình hòa, tức là bình an, hòa ái; không tham sân si, khi
ở cùng người khác thì hòa thuận êm ấm.
Phải hiểu rằng, thay đổi bản thân là quan trọng nhất. Khi
tâm trí rối bời, nhất định phải bình tĩnh, nghĩ xem: "Mình không được hoảng
loạn mà đưa ra quyết định." Chúng ta phải biến sự thù hận trong nội tâm
thành tình hữu ái, biến từ nghèo khổ thành sung túc; những điều này đều là do
công đức của pháp bố thí sinh ra. Khi bạn đi khuyên người ta hành thiện, khuyên
người ta học Phật, khi bạn đi làm bất cứ công đức gì, bạn sẽ ngày càng giàu có
sung túc, gia đình bạn sẽ ngày càng bình hòa, tâm bạn sẽ ngày càng tĩnh lặng.
7. Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành
Phải hiểu rằng, nếu Bồ Tát trụ thế mà làm Pháp thí, thì thực
chất là một Đại thí chủ. Nghĩa là sao? Nếu bạn là một vị Bồ Tát, bạn đi pháp bố
thí, bạn chính là một Đại thí chủ; nếu bạn dùng tâm của Bồ Tát để thí pháp, đi
cứu người, bạn chính là một vị Đại Bồ Tát. Khi bạn độ người, không có chút tư
tâm tạp niệm nào, bạn một lòng chỉ nghĩ đến việc cứu người này, cảnh giới của bạn
đã giống như Bồ Tát rồi, bạn chính là người có công đức lớn lao. Phải biết rằng,
ngay cả Bồ Tát khi hộ pháp cho các đại pháp hội, cũng đều là những đại công đức
chủ của việc bố thí. Tại sao Sư phụ cứ mở pháp hội là lại có nhiều Bồ Tát đến
thế? Bởi vì dẫu là Bồ Tát trên trời, nếu các ngài giáng hạ giúp đỡ hộ pháp, thì
đều là đại công đức. Lấy một ví dụ, người này là cán bộ Thành ủy, Huyện ủy bây
giờ tổ chức một hoạt động, vị cán bộ Thành ủy này đích thân xuống giúp đỡ, bạn
nói xem, khi trở về Thành ủy người đó có được tán thưởng không? Có nhận được
nhiều công đức hơn không? Thế nên, chúng ta ở nhân gian mở pháp hội, Bồ Tát đều
rất thích đến. Bất kỳ vị Bồ Tát nào nếu giáng hạ giúp đỡ cho bất kỳ pháp hội
nào, ngài đều là thí chủ lớn nhất, chính là công đức lớn nhất, huống hồ là người
phàm chốn nhân gian chúng ta? Vậy nên, tất cả những công đức chúng ta làm, đều
là ruộng phúc ở nhân gian. Gieo mầm phúc xuống rồi, đó gọi là thiện phúc điền lớn
nhất của chúng sinh pháp giới thế gian. Nói cách khác, chúng ta ở nhân gian độ
người, chính là gieo trồng đại phúc điền, đại thiện phúc điền to lớn nhất trên
thế gian.
Phải giúp chúng sinh giác ngộ, phát khởi Vô thượng Bồ đề
tâm, đó chính là đại hộ pháp. Hôm nay các vị đi giúp đỡ người ta, đối phương chỉ
cần nói: "Tôi cảm ân, tôi thực tâm cảm ơn Quán Thế Âm Bồ Tát", vậy là
bạn đã gieo được đại phúc điền rồi, bạn chính là công đức vô lượng. Có mấy người
trong số các vị đã làm như vậy? Có người độ người rất tốt, độ người ta đến rồi,
từ từ lại đắc tội người ta. Độ người là phải theo sát, phải không ngừng giúp đỡ
họ, phải sửa đổi khuyết điểm trên người mình. Học Phật là không hề dễ dàng, học
Phật phải theo sát tiến độ, bạn phải để người ta cảm nhận được rằng bạn đang
giúp họ gieo một thửa ruộng đại phúc điền. Chúng ta phải phát khởi Vô thượng Bồ
đề tâm, trở thành "Tôn giả" - Phật, Bồ Tát được xưng là Tôn giả;
trong tâm phải yêu kính Bồ Tát, phải đem cái tâm bố thí ra ngoài. Tâm bố thí
chính là vị Phật của tâm linh tôn quý nhất. Vị Phật ngự trong tâm là tôn quý nhất,
các vị mang những thứ tôn quý nhất trong tâm linh bố thí hết ra ngoài, vậy các
vị có phải là Phật không?
Phải hiểu rằng, người bố thí chân tâm, người đó chính là Phật;
kẻ bố thí giả tình giả ý, có mục đích trục lợi, kẻ đó chính là ma. Phải hiểu rằng,
tôi bố thí cái tâm cho không gian vũ trụ, nghĩa là, tâm tôi là vô tướng (không
chấp tướng). Nói theo ngôn ngữ hiện đại, tức là tâm tôi sẵn lòng giúp đỡ vô số
chúng sinh khổ nạn, những chúng sinh khổ nạn vô biên vô tế, không một ai mà tôi
không muốn giúp, đó chính là bố thí cho không gian vũ trụ. Chúng sinh khổ nạn ở
nhân gian càng ít càng tốt. Hôm nay bạn đến nhân gian để chịu khổ, tức là kiếp
trước bạn tu chưa tốt, kiếp này vẫn chưa tu, đúng không? Một người nỗi khổ ngày
càng ít đi, cuộc sống ngày càng hạnh phúc, người đó chẳng phải đang ở thiên đường
chốn nhân gian sao? Dưới sự che chở của Sư phụ, rất nhiều người không mắc bệnh
tật; nhóm người không mắc bệnh này, sống vô cùng khỏe mạnh và vui vẻ. Các vị thử
đến bệnh viện mà xem, hàng trăm giường bệnh chật ních, mọi người muốn vào phòng
bệnh cũng không vào được, còn phải đi cửa sau, còn phải tặng quà cho bác sĩ. Thử
nghĩ xem, đây có phải là gốc ngọn điên đảo không? Đây chính là con người quá khổ
rồi, con người không hiểu được con người; con người không hiểu được chính mình
thì tức là không hiểu được không gian vũ trụ.
Sư phụ giảng cho mọi người, tại sao hai người càng thân thiết,
lại càng dễ cãi nhau? Tại sao người bạn càng quan tâm, đến cuối cùng lại đối xử
thù hận với bạn? Chẳng phải bạn đã moi tim móc phổi đối xử với họ sao, tại sao
họ lại làm vậy với bạn? Tại sao những người ở cạnh nhau ngày nào cũng cãi vã,
còn người cách xa nhau lại càng nhớ nhung? Tại sao càng vui vẻ lại càng dễ rơi
nước mắt? Đó chính là con người. Bởi vì con người đồng thời sở hữu rất nhiều loại
cảm ngộ; con người không phải là loài động vật chỉ có một luồng tình cảm, con
người là động vật mang tình cảm tổng hợp, đó là lý do vì sao con người hôm nay
thế này, ngày mai thế khác, hiểu chưa? Phải biết rằng, có lúc càng vui vẻ, lại
càng dễ u sầu; càng phiền não, con người ngược lại càng buông xả, bởi vì phiền
não nhiều rồi, họ nghĩ thông suốt, họ không còn phiền não nữa, đây chẳng phải
là "Phiền não chuyển Bồ đề" sao? Ở nhà ngày nào cũng cãi nhau, hôm
nay tôi nói sai lời, ngày mai tôi lại làm sai chuyện, đến cuối cùng, mặc kệ đi,
thích ra sao thì ra, vậy là xong, không phiền não nữa, chẳng phải vậy sao?
Vì vậy, khi chúng ta giao phó trái tim mình cho Bồ Tát,
chúng ta sẽ trở nên ngày càng mạnh mẽ kiên cường. Gia đình xảy ra chuyện, tôi
không sợ; cơ quan xảy ra chuyện, tôi không sợ; thân thể mắc bệnh ung thư, tôi
cũng không sợ, bởi vì tôi đã giao phó tâm mình cho Bồ Tát, Bồ Tát nhất định sẽ
quan tâm tôi, người như thế sẽ ngày càng kiên cường. Sợ gì chứ? Có gì đáng sợ?
Mọi thứ đều hiểu rõ, một kiếp người chẳng phải là đến trong hồ đồ, còn chưa kịp
hiểu rõ chân tướng chốn nhân gian, đã đột ngột lìa xa cõi đời hay sao? Nhân
gian chẳng phải chỉ là một cuộc lữ hành thôi sao?
Cho dù trái tim của chúng ta không ngừng xoay chuyển chốn
nhân gian, nhưng nhất định sẽ chuyển về bản vị Phật tính của bạn. Nghĩa là, hôm
nay chúng ta sống mơ mơ hồ hồ, làm rất nhiều chuyện xấu, cuối cùng bị bắt giam
vào ngục; đợi đến khi chúng ta bình tĩnh lại, chúng ta vẫn có thể chạm đến
lương tâm của chính mình, tôi vẫn có thể nhận biết được bản tính của mình, bởi
vì tôi vẫn đang ở nhân gian. Câu nói này các vị hãy nghe cho kỹ: Tâm của con
người không ngừng xoay chuyển ở nhân gian, nhưng nó nhất định sẽ xoay về bản vị
của bạn, cuối cùng lương tâm của bạn vẫn sẽ trỗi dậy; một kẻ dù có xấu xa, độc
ác đến đâu khi chết đi, cũng sẽ xoay về bản vị Phật tính. Phật nói: "Ta
chính là bản thân con." Không hiểu phải không? Các vị tưởng Phật pháp Sư
phụ giảng chỉ là bạch thoại (ngôn ngữ đời thường) sao? Rất sâu sắc đấy. Trước
tiên phải hiểu rõ đại từ nhân xưng trong câu này, Phật nói "Ta chính là bản
thân con", tức là đang bảo các vị, các vị chính là Phật.
Phải Vô tướng sám hối, phải "Sám hối lỗi xưa”. Quá khứ
chúng ta đã làm sai rất nhiều chuyện, chúng ta bắt buộc phải sám; tất thảy những
tội ác lúc trước, những sự mê mờ, kiêu ngạo, buông thả, đố kỵ... mọi tội nghiệp
đều phải "thảy đều sám cho sạch”, toàn bộ phải sám hối. Các vị bây giờ
theo Sư phụ học Phật pháp, các vị nói: "Sư phụ, quá khứ con từng ăn cắp đồ
của người khác, bây giờ con xin sám hối, nhưng ngày trước con mắng người ta,
con không sám hối đâu." Như thế là không được, phải sám hối toàn bộ, người
bạn mới sạch sẽ. Lấy một ví dụ đơn giản, hôm nay bạn mặc áo sơ mi trắng, bạn
làm đổ tương đen lên tay áo, bạn nói bạn chỉ giặt mỗi chỗ tay áo thôi, những chỗ
khác không giặt, đương nhiên là nên vứt cả cái áo vào máy giặt giặt sạch thì tốt
hơn, bởi vì bạn đã mặc qua rồi mà.
Chúng ta phải hiểu, vĩnh viễn không làm lại những chuyện đó
nữa mới là thực sự sám, gọi là "Sám". "Hối" chính là
"hối lỗi về sau”, phải "nay đã giác ngộ”, hôm nay tôi đã hiểu, vĩnh
viễn sẽ không đi làm những việc sai trái của quá khứ nữa. Thế nên, phàm phu ngu
mê, nếu bạn không phải là một Bồ Tát, bạn sẽ vô cùng ngu muội, mê lầm; bạn chỉ
biết " Sám hối lỗi xưa": "Bồ Tát, con làm sai rồi." Nói
xong, lại không biết " hối lỗi về sau", bạn không nghĩ đến việc mình
đã gây ra tổn thất gì cho người ta. Ví dụ đơn giản, các vị lái xe ra ngoài, vượt
đèn đỏ, bạn sám hối rằng mình đã sai, nhưng hậu quả của việc vượt đèn đỏ là đâm
người ta tàn phế. Nếu bạn không hối hận vì cái hậu quả đó, sau này bạn vẫn sẽ
lái xe đâm người. Mong các vị hiểu rằng, lỗi trước không diệt trừ, hậu quả sau
lại sinh ra; đằng trước bạn không sám hối, sau này bạn lại gây ra hậu quả mới,
làm sai chuyện, sao bạn có thể nói là đã sám hối tốt được? Những gì Sư phụ giảng
cho các vị đều là Phật pháp rất thâm sâu, các vị phải chân thật học, phải học
Phật pháp như khát cầu nước uống.
Nếu là một thiện tri thức, một người học Phật, cho dù bạn đã
sám hối nói "Con làm sai rồi", tiếp theo đó bạn cũng phải phát
"Tứ hoằng thệ nguyện". Sư phụ đang giúp các vị học bước lên từng bậc
thang một đấy; Tứ hoằng thệ nguyện mà Bồ Tát giảng là:
Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ,
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn,
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.
"Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ" (Chúng sinh
không bờ bến, thề nguyện độ cho hết). Thường phải nghĩ rằng chúng sinh quá nhiều,
tôi nhất định phải đi độ họ; dẫu chúng sinh có vô biên vô tế, tôi cũng phải độ
họ. Nhiều người thường hỏi Sư phụ: "Sư phụ, con muốn phát thệ, thế nào gọi
là Đại thệ nguyện?" Sư phụ bây giờ nói cho các vị biết thế nào là Đại thệ
nguyện, đây chính là Đại thệ nguyện.
"Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn" (Phiền não
không cùng tận, thề nguyện dứt cho hết). Phiền não có nhiều không? Tôi nhất định
phải phát Đại thệ nguyện, tôi nhất định phải đoạn dứt sạch phiền não. Bồ Tát có
phiền não không? Người không có phiền não, chính là Phật; người không có phiền
não, phần còn lại toàn bộ là trí tuệ. Người đang phiền não có trí tuệ không? Bởi
vì bạn không có trí tuệ, bạn mới phiền não; bạn có trí tuệ rồi, bạn còn phiền
não nữa không? Muốn làm Bồ Tát, thì phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.
"Pháp môn vô lượng thệ nguyện học" (Pháp môn không
kể xiết, thề nguyện học cho cùng). Đây đều là những kinh điển của Phật pháp,
pháp môn là vô biên vô tận. Ngày nay có một số người học được một pháp môn, tự
cho mình là giỏi, pháp môn của người khác đến, không nghe không nghe; đây chính
là đi ngược lại Tứ hoằng thệ nguyện của Bồ Tát. Pháp Môn Tâm Linh của Sư phụ lẽ
nào là đã hết đạo lý rồi sao? Sư phụ muốn các vị không ngừng tiến bộ học tập, học
càng ngày càng thâm sâu, thệ nguyện học cơ mà.
Lời thệ nguyện thứ tư là "Phật đạo vô thượng thệ nguyện
thành" (Đạo Phật cao tột cùng, thề nguyện tu cho thành). Phải biết con đường
lên trời gian nan biết bao, con đường học Phật thâm sâu nhường nào, nhưng tôi
nhất định phải vươn lên, đó chính là Đại thệ nguyện. So với kiểu "Mỗi ngày
tôi sẽ làm ba việc tốt", "Mỗi ngày tôi sẽ phóng sinh vài con
cá", các vị nói xem thệ nguyện nào lớn hơn?
8. Chân sám thực sám, tiêu nghiệp chướng
Phải hiểu tại sao cần sám hối. Nếu là Hữu tướng sám hối, thì
trước tiên đó đã không phải là sám hối; Vô tướng sám hối là dùng tâm để sám hối,
nó đã không còn là đi sám hối nữa, mà là sám hối rũ bỏ đi rồi, rửa sạch rồi, biến
mất rồi. Lấy một ví dụ, hồi bé các vị có đái dầm không? Từ đó về sau sửa đổi, nửa
đêm dù có lạnh mấy cũng bò dậy đi vệ sinh, sau này không bao giờ tái phạm, sửa
đổi được rồi, chuyện này có còn nữa không? Nếu bây giờ các vị tuổi đã cao, lại
bắt đầu mắc lại cái tật này, vậy tức là mang cả chuyện hồi bé và hiện tại gộp
vào để nói tật xấu của các vị; khuyết điểm này của các vị coi như chưa từng được
sửa đổi, các vị nghe có hiểu không?
Vô tướng sám hối đã không còn là sự sám hối nữa, bởi vì tính
vô tướng đã ăn sâu vào trong tâm, nó đã trở thành một phương pháp tự uốn nắn
tâm thái của bản thân, tự nhiên thay đổi, không còn nhìn thấy nữa, bởi vì sự sám
hối này đã nằm trong tâm. Ví dụ, nhìn người mẹ già yếu của mình nằm trên giường
bệnh, trong lòng ân hận tột cùng, không muốn nói lời nào, chỉ muốn dùng hành động
đối xử tốt hơn với mẹ, đó chính là Vô tướng sám hối. Nhìn bàn tay nhăn nheo của
mẹ, nhìn mẹ nằm trên giường bệnh toàn thân cắm đầy dây truyền kim tiêm, trong
lòng thầm nghĩ: "Mẹ ơi, con có lỗi với mẹ." Đó gọi là Vô tướng sám hối,
mọi thứ hình thức không còn nữa. Chúng ta phải sám hối những khuyết điểm của bản
thân ở nơi sâu thẳm nhất của tâm hồn, chính là sám hối sâu sắc trước mặt Quán
Thế Âm Bồ Tát. Có một câu gọi là "sám hối sâu sắc", đó là một sự sám
hối mang tính tự nhiên, đồng nghĩa với việc đang thuận tự nhiên tu chỉnh loại sám
hối mà người tu hành cần tu dưỡng.
Người học Phật tâm lượng phải khoan dung rộng lớn. Hôm nay bạn
nói người ta một câu, người ta không vui, đúng không? Ngược lại, người ta nói bạn
một câu, chắc chắn bạn cũng sẽ không vui; nếu cứ như thế, tâm lượng của bạn sẽ
vĩnh viễn không bao giờ rộng lớn, vĩnh viễn không thể tăng trưởng đến vô biên
vô tận, mà trái lại, phiền não của bạn đang tăng trưởng. Nghe hiểu không? Người
không thể tăng trưởng tâm lượng, phiền não sẽ bắt đầu sinh sôi; người tâm lượng
ngày càng to lớn, không còn chấp nhặt bận tâm, thì phiền não mỗi ngày một vơi
đi, cuối cùng không còn phiền não. Phải hiểu rằng, bởi vì trong tâm bạn không
có sự độ lượng bao dung, phiền não của bạn mới không ngừng tăng lên; trên cơ thể
bạn không có tế bào tốt, tế bào ung thư của bạn mới ngày càng phát tán; bạn
không có thói quen tốt, thói quen xấu mới ngày càng nhiều. Khi toàn thân bạn
tràn ngập thói quen tốt, những thói quen xấu sẽ bị thói quen tốt đánh gục toàn
bộ, đó chính là đạo lý.
Nếu phiền não của bạn cứ mãi gia tăng, Đạo tâm của bạn sẽ
ngày càng thụt lùi, phiền muộn đến độ cuối cùng không muốn học Phật nữa. Người
không muốn học Phật sẽ thốt lên: "Sao đời tôi lại lắm phiền toái thế này?
Sao tôi dập đầu lễ lạy mãi mà chẳng khá lên?"; "Ngó xem, phiền phức
ngày càng nhiều, tôi lạy Phật rồi, sao chuyện rắc rối lại ập đến nhiều
hơn?" Thấy chưa, phiền não càng nhiều, Đạo tâm càng giảm sút. Thực chất là
người đó đang bị mây đen che khuất mặt trời, họ tưởng mặt trời không còn nữa, họ
không nhìn thấy ngày mây đen tan đi.
Nếu con người tu đến mức không còn phiền não nữa, vậy là bạn
đã tu đến được cái Vô thượng tâm rồi. Không còn phiền não, tâm của bạn sẽ liên
tục bay vút lên cao; tâm càng trong sạch, tâm càng thanh tịnh, tâm càng vắng
bóng phiền não, càng dễ dàng siêu thăng. Có phiền não, bạn chính là phàm phu;
hôm nay không còn phiền não, bạn mới có thể trở thành vị Phật chân chính. Muốn
thành Phật thực sự, thì phải gắng công mà học. "Phật đạo vô biên thệ nguyện
thành", Phật pháp bao la không bờ bến, chúng ta phải dùng nguyện lực của
mình để đi đến thành công, thệ nguyện thành công mới có thể thực sự trở thành
Phật.
Cuối cùng giảng cho mọi người biết, thành Phật là gì? Thành
Phật chính là không có phiền não. Phật tâm lượng quảng đại; sau khi học Phật,
chúng ta sẽ vĩnh viễn không chứa chấp Tham - Sân - Si trong tâm, bạn sẽ không
còn thù hận, không còn oán thán. Những tham sân si đó chính là hạt giống của
luân hồi; học Phật chính là phải nhổ bỏ toàn bộ những hạt giống Lục đạo luân hồi
ấy. Trừ bỏ những hạt giống này, biết cái khổ ở thế gian là vô biên vô tận, phải
vô oán vô hận, chỉ ôm giữ tấm lòng yêu thương chúng sinh. Tu tâm phải tu đến độ
thương yêu tất thảy chúng sinh, đối với mọi chúng sinh đều vô oán vô hận, đối với
bản thân vô oán vô hối. Có gì đáng để oán đâu? Hôm nay bạn oán trời hận đất,
oán trời trách người, nhìn thấu rồi mới biết, thực chất đều do một tay bạn tạo
ra. Mọi sự đối xử tệ bạc của người khác hôm nay đều do bạn ăn ở không tốt; hôm
nay dạ dày đường ruột không tốt, chính là do bạn không biết ăn uống sinh hoạt
lành mạnh, bạn oán ai? Bạn phiền não sân hận, lẽ nào những thứ đó không phải do
tự bạn chuốc lấy sao?
Sám hối xong, lại tiếp tục làm chuyện sai trái, đó chính là
không hối hận. Nếu bạn thực sự hối hận, bạn sẽ không bao giờ làm lại những chuyện
này nữa. Vì vậy, phải đoạn dứt cái cội rễ của sự sám hối. Sư phụ nói rất thâm
sâu, cội rễ của sám hối là gì? Đoạn trừ ác niệm tức là chúng ta sẽ không làm
chuyện xấu nữa, chúng ta sẽ không làm những việc khiến bản thân phải hối hận nữa,
như thế bạn mới gọi là đã chặt đứt tận gốc. Chúng ta nhổ bỏ được cội rễ của sự sám
hối, chúng ta sẽ vĩnh viễn rời xa sự hối hận, chúng ta sẽ không bao giờ phải hối
hận nữa, và chúng ta cũng vĩnh viễn không cần phải đi sám hối nữa.
Vận mệnh con người là vô thường, không có trạng thái cố định.
Hôm nay thế này, bạn có dám chắc ngày mai cũng sẽ như thế này không? Bạn có đảm
bảo ngày kia không thay đổi không? Vạn sự vạn vật trong không gian vũ trụ đều
là vô thường, trái tim bạn cũng vô thường, luôn luôn biến đổi. Vì vậy, trên thế
gian này, bạn nói: "Tôi vĩnh viễn sẽ không làm", bản thân câu nói đó
đã là một lời vọng ngữ (nói dối). Vĩnh viễn? Bạn có thể bảo đảm bản thân mình
được vĩnh viễn không? Ngay cả việc mình là ai bạn còn chẳng biết, bạn làm sao
biết mình sẽ vĩnh viễn như thế? Thế nên, chúng ta phải đấu tranh với bản tính gốc
rễ xấu xa hèn kém của chính mình, đừng sám hối xong rồi lại tiếp tục phạm lỗi.
Sư phụ mong các vị phải hiểu Phật pháp, nhận biết Phật tính,
thấu hiểu nhân tâm. Các vị bây giờ ngay cả con người còn nhìn không thấu, ai là
người tốt, ai là kẻ xấu các vị còn chẳng rõ, các vị làm sao học Phật học Pháp?
Có một số người trong các vị tại sao đi độ người lại cứ hay bị từ chối, gặp cản
trở? Lại còn bị người ta nói xấu, khiến người ta tạo khẩu nghiệp, đúng không?
Người ta có phải là người hữu duyên hay không, các vị nhìn còn không ra, các vị
còn học Phật gì, học Pháp gì? Quán Thế Âm Bồ Tát ngự trên người các vị mà để
các vị ngay cả chút cảm nhận ấy cũng không có sao?
Mong mọi người tự biết bảo trọng, học Phật cho tốt, đừng chặt
đứt tuệ mệnh của chính mình, đừng hủy hoại tuệ căn của bản thân. Con người có
hai tầng sinh mệnh: một là tuệ mệnh (sinh mệnh của trí tuệ), hai là sinh mệnh,
bao gồm sinh mệnh của thể xác và sinh mệnh của tâm linh; đó đều là gốc rễ nền tảng
làm chủ cả một đời của chúng ta. Mong các vị trân quý tuệ mệnh, nuôi dưỡng thật
tốt sinh mệnh của mình.
9. Giới là cội gốc Bồ Đề vô thượng
Học Phật phải dĩ Giới vi bản (lấy Giới làm gốc), dĩ Giới vi
sư (lấy Giới làm thầy). Năm xưa khi Phật Đà nhập Niết bàn, Ngài đã dặn dò tất cả
đệ tử phải lấy Giới làm gốc, lấy Giới làm thầy.
Giới là gì? Là có thể giữ gìn được thân, tâm và ý niệm của
mình, đừng tạo nghiệp; cho nên, người học Phật nhất định phải giữ Giới. Bản là
gì? Chính là căn bản (gốc rễ). Nếu một người không tự mình giữ Giới, người đó
đã đánh mất cội gốc, chính là đánh mất đi Phật tính căn bản. Giới là cội gốc của
Bồ Đề vô thượng, nói cách khác, Giới luật là cái gốc rễ lớn nhất có thể giúp bạn
thành Phật, thành Bồ Tát.
Chúng ta không những phải dĩ Giới vi bản, mà còn phải dĩ Giới
vi sư. Dĩ Giới vi sư là gì? Nghĩa là nhất định phải thường xuyên tự kiểm điểm lại
mình, suy nghĩ xem mình làm đúng hay sai, mình làm thế này có được không; như
thế tương đương với việc có một người Thầy. Có một người Thầy bên cạnh, ngài sẽ
luôn nhắc nhở bạn: con đừng làm việc này, đừng làm việc kia. Hiện tại bạn đã có
một người Thầy, và người Thầy ấy chính là tâm học Phật của bạn, nhắc nhở bạn dĩ
Giới vi bản - Cái này làm được không? Không được làm, Bồ Tát không thể làm vậy;
Cái kia tôi làm được không? Bồ Tát nói cái đó không được làm, kiên quyết không
làm. Đó chính là dĩ Giới vi sư, dĩ Giới vi bản.
Phật Bồ Tát đã dạy, chúng sinh thảy đều có thể thành Phật.
Nghĩa là, chúng sinh đều sở hữu nền tảng để thành Phật. Ví dụ, con người ai
cũng có khả năng đánh đàn piano, nhưng bạn có học hay không, bạn học có giỏi
hay không, và bạn có năng khiếu về lĩnh vực này hay không, đó lại là một vấn đề
khác; đạo lý đều giống nhau cả. Bồ Tát dạy, chúng sinh giai cụ Phật tính, thảy
đều có thể thành Phật. Tức là, con người có sẵn bản tính thành Phật, bởi vì
chúng sinh đều có bản tính của Phật, lương tâm của con người cũng là thứ mà Phật
có; Phật tâm và lương tâm đều là những báu vật cất giấu sâu thẳm trong tâm hồn.
Nói cho cùng, Phật tâm chính là Thiện tâm, Từ tâm; vì vậy, người mang lòng từ
bi, người đó đã có Phật tâm. Chúng sinh vì là những vị Phật chốn nhân gian chưa
thành tựu, nên chúng sinh chưa thể gọi là chư Phật, bởi vì Phật tính chưa hiển
lộ. Khi một người chưa học Phật, bạn nói họ có Phật tính không? Họ có. Bạn nói
họ là Phật sao? Họ lại chưa phải. Chỉ khi Phật tính của bạn thông qua sự hiển lộ,
tức là sau khi bạn tín Phật, Phật tính của bạn mới từ từ tỏa sáng. Rất nhiều
chư Phật đã thành Phật chốn nhân gian; rất nhiều Bồ Tát, rất nhiều người đã tu
thành Phật tại nhân gian. Thế nên, trong chư Phật ba đời, rất nhiều vị đã đắc
quả Phật ngay tại thế gian này.
Thành Phật ở nhân gian là một cơ duyên; nhân gian là một nơi
vô cùng quan trọng. Nếu không thể thành Phật ở nhân gian, vậy bạn phải dốc sức
tu tập rồi, bạn sẽ không thể tu thành ngay trong một kiếp này đâu. Không biết
các vị có hiểu ý Sư phụ không? Bởi vì khi kiếp trước bạn gieo nhân quả, kiếp
trước nữa lại gieo vô số nhân quả; đến kiếp này, tựu thành nhân thiện và quả
thiện cho bạn, bạn mới có cơ hội tu Phật này. Thêm vào đó, kiếp này bạn lại nỗ
lực độ người, tu tâm, học Phật, bạn mới có thể thành Phật chốn nhân gian, đây
cũng là một chữ duyên. Nếu bạn nói không thành Phật ở nhân gian, bạn lên Thiên
giới, bạn rất khó thành Phật, hiểu chưa? Bởi vì những nơi càng hưởng phước lại
càng khó thành Phật. Nếu đọa xuống Địa phủ, bạn muốn thành Phật chẳng phải càng
khó hơn sao? Đọa vào Súc sinh đạo, lại càng khó hơn. Đợi đến khi bạn lên Thiên
giới, tại sao lại không thành Phật được? Nói ra thì khoảng cách tới Bồ Tát còn
gần hơn cơ mà. Vì cõi trời quá sung sướng hạnh phúc, vì không có khổ đau; không
có khổ, lấy đâu ra cầu? Nếu các vị bây giờ không thiếu tiền, sức khỏe dồi dào,
vạn sự bình an, các vị lấy đâu ra tâm chí lạy Phật niệm kinh?
Chúng sinh vì có thể thành Phật ở nhân gian, nên càng phải nỗ
lực học tập Chánh kiến của Phật giáo, tức là học Phật giáo chân chính; Phật
giáo chân chính chính là Chánh kiến. Phải tăng cường sự lĩnh ngộ Phật lý, nghĩa
là phải biết lĩnh hội lý luận của Phật pháp. Lý luận học Phật chính là nền tảng
của người học Phật. Sư phụ bây giờ đang giảng cho các vị lý luận, đó chính là nền
tảng. Thực sự học rồi thì phải mang đi thực hành. Do đó, phải tăng cường lĩnh
ngộ Phật lý, phát tâm cầu thọ Ngũ giới, tức là phát tâm để bản thân thọ trì năm
giới cấm. Sư phụ chưa bao giờ bắt ép các vị thọ Ngũ giới, nhưng bản thân các vị
phải phát tâm. Thử nghĩ xem, tôi chưa làm được, nhưng tôi sẽ cố gắng làm thử.
Thực ra Ngũ giới đối với một người bình thường mà nói thì không hề khó một chút
nào. Sư phụ đang nói đến người bình thường; những kẻ làm chuyện xấu thì đã
không còn là người bình thường nữa rồi.
Gần đây Sư phụ đọc một bản tin, kể rằng ở một quốc gia nọ,
có người giết sống một loài động vật, quốc gia đó liền kết án người này có tội.
Loài động vật này ở các quốc gia khác vốn dĩ có thể ăn thịt. Thử nghĩ xem, có
nên kiêng Sát sinh không? Một người bình thường tốt đẹp có đi giết người không?
Có đi giết động vật không? Tà dâm có cần kiêng không? Trong đầu suy nghĩ lung
tung thì gọi là Tà dâm; chưa làm nhưng trong đầu đã mường tượng ra, đó gọi là Ý
dâm. Ai mà chẳng mắc khuyết điểm này? Một người có nên kiêng Vọng ngữ không? Suốt
ngày chém gió bốc phét, người này đang sống ở thế giới nào vậy? Các vị nói Sư
phụ nghe, ai chưa từng chém gió? Vọng ngữ có thể nói bừa bãi sao? Chém gió tùy
tiện có phải là người học Phật không? Đầu óc cứ tính toán xoay mòng mòng, hay
dùng mưu mô vặt, hạng người đó còn tu tâm được gì tốt đẹp? Còn tưởng người ta
không nhìn ra à, Sư phụ có gì mà không thấy, Sư phụ chỉ cười thôi. Các vị lừa dối
Sư phụ thì không sao, các vị đi lừa Bồ Tát thì to chuyện rồi, bạn sẽ rất nhanh
chóng bị trừng phạt. Uống rượu có nên kiêng không? Các vị hiện đang theo Sư phụ
học Phật, ai còn uống rượu? Sư phụ bảo cho các vị biết, đệ tử không được uống
rượu, uống rượu làm loạn tâm tính, sau khi uống rượu con người sẽ mơ mơ hồ hồ.
Kiêng Trộm cắp, một người đàng hoàng tử tế có thể đi ăn trộm đồ không? Có thể
sát sinh không? Có thể chém gió không? Có thể uống rượu không? Có thể tà dâm
không? Năm giới này là điều mà một người bình thường cũng nên làm được, huống hồ
các vị là người học Phật? Các vị phải nghiêm khắc yêu cầu chính mình.
Thử nghĩ xem quá khứ các vị đã làm sai bao nhiêu chuyện?
Chưa từng trộm đồ ư? Nói đến Ngũ giới, phải tự giác tự nguyện mà sửa đổi. Bạn lấy
đồ của người ta, Bồ Tát trên trời đều nhìn thấy, quỷ dưới đất cũng sẽ nhằm vào
bạn. Đồ không thuộc về bạn, tại sao bạn lại muốn lấy? Bởi vì bạn Tham, lòng
tham không đáy. Sư phụ đã nói rồi, cho dù bạn ở khách sạn, tiện tay mang những
đồ dùng cá nhân dùng không hết về nhà, đó cũng là tham. Đừng tưởng ở khách sạn
là tiền mình bỏ ra, lấy đồ dùng chưa hết mang đi là chuyện bình thường. Tuy
hành động này ở nhân gian không phạm pháp, nhưng điều đó chứng tỏ trong lòng bạn
đã có dã tâm tham lam rồi, dù vẫn chưa tính là phạm giới. Những thứ không phải
của mình lại chạy đến chỗ người ta lấy, đó là điều người học Phật nên làm sao?
Hãy nghĩ xem, trong Ngũ giới có giới nào các vị chưa từng phạm?
Từng bốc phét chém gió chưa? Từng trộm đồ chưa? Từng sát sinh chưa? Trong ý niệm
hận đối phương thấu xương, hận không thể băm vằm người ta ra, đó cũng gọi là
Sát sinh. Còn uống rượu, tà dâm, vọng ngữ nữa, bản thân các vị phải tự lĩnh ngộ,
sau đó tự yêu cầu thọ giới. Cầu là gì? Là cầu xin Bồ Tát: "Bồ Tát ơi, con
phải sửa đổi, con phải giữ gìn Ngũ giới."
Phải nuôi dưỡng Đồng thể đại bi, Vô duyên đại từ. Tức là phải
cảm nhận được sự thống khổ và niềm vui của người khác. Nghĩa là người xót mình
đau; hôm nay nhà họ xảy ra chuyện, tôi rất xót xa; người ta gặp nạn, bạn phải đau
đớn khôn xiết; người ta gặp may mắn, bạn phải vô cùng hoan hỉ, đó chính là Đồng
thể đại bi, Vô duyên đại từ (từ bi vô duyên cớ, thương xót như chung một bản thể).
Bạn đối xử tốt với một người, đừng vì người đó là người nhà hay con cái của
mình; bất luận là ai, chỉ cần là một con người, bạn đều phải đối xử tốt với họ.
Người học Phật phải biết yêu thương người khác vô duyên cớ, không vì lợi ích
duyên phận. Họ bị thương tổn, rất đáng thương, tôi vô cùng xót xa, tôi rất bi
ai. Có đạo lý gì để tranh biện đâu, đều là con người cả, bạn không có cảm giác
sao? Như thế bạn mới có được Bồ Đề tâm.
Phải cầu nguyện cho mọi chúng sinh hữu duyên thoát khổ được
vui. Ngày nào bạn cũng muốn tất cả chúng sinh hữu duyên thoát khỏi khổ nạn, hy
vọng người khác tốt đẹp; ngày ngày đều cầu nguyện cho người khác, tôi muốn người
khác được tốt: "Chao ôi, sao chị lại đáng thương đến thế?", "Tại
sao anh không có thân phận?", "Tại sao em chưa tìm được việc
làm?", "Tại sao nhà anh chị lại cãi nhau ra nông nỗi này?" Bạn
luôn thương xót người khác, bạn phải luôn ấp ủ tấm lòng bi mẫn, phải có Vô
duyên đại từ, bạn mới có thể đạt đến trí cảnh (cảnh giới trí tuệ) của Pháp
thân. Bởi vì chỉ khi bạn thương xót chúng sinh, tâm từ bi của bạn mới hiển lộ;
có như vậy bạn mới đạt được cảnh giới đầy trí tuệ này, gọi là "Trí cảnh".
Nếu không, kẻ sống trên thế gian này sẽ mãi mãi là kẻ không có trí tuệ, chẳng
bao giờ chạm đến cảnh giới của người học Phật.
10. Trân quý phúc báo, tài lộc và nhân duyên
Khắc phục tâm tham lam, ích kỷ, ngã chấp
Ở nhân gian, phải biết tích phúc (trân quý phúc báo), tích
tài (trân quý tiền tài) và tích duyên (trân quý nhân duyên). Rất nhiều người
không biết làm thế nào để trân quý sống ở chốn nhân gian. Sư phụ hôm nay nói
cho các vị biết, thứ nhất phải tích phúc, thứ hai phải tích tài, thứ ba phải
tích duyên.
Trân quý phúc báo (Tích phúc), tức là tất cả những gì bạn
đang sở hữu ngày hôm nay, bạn thảy đều phải trân trọng. Hôm nay bạn có một gia
đình, tuy hay cãi vã ồn ào, nhưng nhiều người còn chẳng có gia đình đấy thôi.
Hôm nay tôi cô đơn một mình, tôi không có gia đình, nhưng tôi rất vui vẻ, tôi
cũng trân trọng điều đó. Tất cả những gì tôi đang có, tôi đều nâng niu. Hôm nay
ngũ quan tôi còn đoan chính; thử nhìn những người khuyết tật ngoài đường với những
vết sẹo chằng chịt trên mặt, thử nghĩ đến biết bao người đang phải nằm trên giường
bệnh, cuộc sống của bạn tốt hơn họ rất nhiều, bạn có cái phúc khí đó. Hôm nay bạn
còn ăn được, còn ngủ được, còn có sinh mệnh, bạn phải hảo tâm trân quý cái phúc
khí này, phải tích phúc đấy.
Thứ hai, phải trân quý tiền tài (Tích tài). Có chút tiền
cũng đừng tiêu xài hoang phí, phải dùng vào đúng chỗ cần thiết, cái đáng chi
thì hãy chi. Nếu tiêu pha bừa bãi, người đó sẽ nhanh chóng cạn kiệt tiền bạc. Đừng
coi thường đồng tiền, đừng nghĩ tự mình kiếm ra thì có thể tiêu xài tùy tiện, đến
cuối cùng bạn sẽ rỗng túi thôi. Các vị cứ thử xem, có đúng như vậy không? Cứ tưởng
tiền kiếm được rất dễ, tiêu đi cũng dễ; một thời gian sau, bạn sẽ không còn một
xu dính túi. Cho nên phải biết tích tài.
Thứ ba, phải trân quý nhân duyên (Tích duyên). Có duyên phận
không? Có. Duyên phận ở đâu? Duyên phận ở ngay cạnh bạn. Hôm nay các vị theo Sư
phụ, đó là có duyên thầy trò; các vị học Phật, là có Phật duyên; tất cả chúng
ta đều là bạn đạo (Phật hữu), đó là có duyên Phật hữu; mọi thứ thảy đều dựa vào
duyên phận để duy trì. Bạn không trân trọng người khác, người khác sẽ rất nhanh
không trân trọng bạn nữa; hôm nay bạn phớt lờ người ta, người ta cũng sẽ sớm
ngó lơ bạn; hôm nay bạn hận người này, bạn sẽ rất nhanh chóng bị người ta hận lại.
Do đó, duyên phận này rất quan trọng. Hôm nay có cơ hội được học Phật pháp, làm
công đức, có cơ hội được sống ở nước Úc, có cơ hội được sống mà không mắc bệnh
ung thư, tất cả những điều này toàn bộ đều là duyên phận. Dù có lúc con cái đến
với bạn mang theo ác duyên, nhưng nó đã bước vào nhà bạn, đã trở thành con của
bạn, thì bạn phải trân trọng duyên phận này. Ví dụ: bà ấy dẫu có nghèo rớt mồng
tơi, bà ấy cũng là mẹ bạn; ông ấy dẫu có bần cùng đến mấy, ông ấy cũng là cha bạn,
đó gọi là duyên phận, mọi người phải biết trân quý.
Học Phật có một bí pháp, các vị có biết bí pháp đó là gì
không? Rất đơn giản, vỏn vẹn bốn chữ: "Khổ tận cam lai". Đây là điều
Sư phụ nói cho các vị biết, các vị tìm trong những cuốn sách khác không thấy
đâu. Học Phật có phải là khổ tận cam lai không? Học Phật có phải là vì tương
lai không? Cái khổ của học Phật là gì? Chính là nghiệp chướng của bạn, linh
tính của bạn. Bạn loại bỏ sạch sẽ mọi nghiệp chướng linh tính, thì cái khổ của
bạn sẽ tận (hết); bạn có thể siêu thăng, bạn có thể tu hành viên mãn, như thế
chẳng phải cam lai (ngọt bùi đã đến) sao? "Chịu được nỗi khổ trong những
cái khổ, mới làm được bậc thượng nhân trên vạn người" - câu nói này là
dành cho con người. Sư phụ nói, không chịu nỗi khổ trong cái khổ, lấy đâu ra ngọt
bùi (cam lai)? Thử nghĩ xem, dòng suối ngọt ngào đó chính là nước trong Tịnh
bình của Quán Thế Âm Bồ Tát, chính là nước Cam lồ đó.
Học Phật phải hiểu về Thanh tịnh tâm, nhất định phải trong sạch.
Tâm thanh tịnh đồng nghĩa với Thiện; tâm của một người có thể tĩnh lặng, người
đó chính là một người vô cùng lương thiện. Các vị cứ nhìn mà xem, kẻ đang cãi
nhau có thanh tịnh được không? Kẻ mắng chửi người có thanh tịnh được không? Kẻ
đánh người có thanh tịnh được không? Hạng người đó có thể mang tâm thiện lương
sao? Hôm nay bạn có thể bình tâm tĩnh khí ngồi ở đây, vậy bạn chính là một người
lương thiện. Người ta gây chuyện bạn không hùa theo, bạn chính là một thiện
nhân. Nếu tâm không thanh tịnh, thì đồng nghĩa với Ác. Yêu cầu của Sư phụ đối với
các vị rất cao: nếu hôm nay tâm của bạn không thể thanh tịnh, thực chất bạn đã
nuôi dưỡng ác niệm, ác ý, ác tâm bên trong mình. Bởi người ôm lòng hận thù, tâm
của họ không thể tĩnh; người ghen ghét đố kỵ, tâm của họ không thể tĩnh; người
muốn hãm hại kẻ khác, tâm của họ càng không thể thanh tịnh.
Xem lại bản thân có tĩnh lặng được không, bạn sẽ biết mình
là Thiện hay Ác. Nếu hôm nay bạn không thiện cũng không ác, vậy tâm của bạn vẫn
đang ở trạng thái bình ổn, gọi là "Vô ký". Ví dụ: nhìn trên bản đồ,
đó chính là vùng đất chưa được đánh dấu. Một người không nghĩ thiện, không nghĩ
ác, chính là vô ký, tức là tàm tạm sống qua ngày. Người mới học Phật, họ không
kiểm soát được ba loại tâm này. Những tâm nào? Thanh tịnh tâm họ không kiểm
soát được, Bất thanh tịnh tâm (tâm không thanh tịnh) họ không kiểm soát được,
và tâm Không thiện không ác họ cũng không kiểm soát nổi.
Phải đoạn trừ Tâm tham, Tâm tự tư (ích kỷ) và Tâm ngã chấp;
đây cũng là ba loại tâm. Tâm tham là thứ khó trừ bỏ nhất đối với người mới học
Phật; tâm tự tư thì ai mà chẳng có, lại càng khó tiêu diệt hơn; tâm ngã chấp
chính là luôn cho mình là đúng, lúc nào cũng chỉ nghĩ cho bản thân. Ba loại tâm
này, đừng nói là người mới học Phật, ngay cả các vị học Phật đến ngày hôm nay,
các vị trả lời Sư phụ xem, ba loại tâm này các vị đã trừ bỏ được chưa? Chưa hề.
Sư phụ có phương pháp để đối trị với ba loại tâm này:
Trước tiên, phải học lòng Từ bi của Phật để đối trị
"Tâm tham". Bởi vì một khi bạn từ bi, bạn sẽ không tham nữa. Vốn dĩ
muốn lấy thêm một chút của người ta, khi làm ăn tôi muốn đòi thêm một chút,
thêm một chút nữa. Nhưng khi nghĩ lại, thấy người ta cũng thật đáng thương, người
ta cũng chẳng có tiền bạc gì nhiều. Tâm bạn vừa khởi lòng từ bi, bạn sẽ dứt đi
lòng tham lam. Còn có người, khách không mua nhà của anh ta, anh ta ngày ngày cầu
Bồ Tát; đợi đến khi có người đến xem nhà, cái giá đó anh ta lại không chịu bán,
cuối cùng vẫn chẳng bán được; đó chẳng phải là tham lam sao?
"Tâm tự tư" (Tâm ích kỷ) phải dựa vào Trí tuệ để
tiêu trừ. Vì kẻ ích kỷ là kẻ không có trí tuệ; người ích kỷ chỉ biết nghĩ cho
mình, vĩnh viễn không nghĩ cho kẻ khác. Các vị có biết không, những kẻ hay dùng
mưu mô vặt vãnh rất đáng thương, cuối cùng suốt ngày bị người ta bắt nạt. Vì bạn
là kẻ thích xài mưu hèn kế bẩn, người ta nhìn thấu cái nhược điểm này của bạn,
họ sẽ suốt ngày đem bạn ra chỉnh đốn. Trong công ty, kẻ nào hay dùng tiểu xảo,
ông chủ sẽ coi thường, suốt ngày vùi dập; bạn đường đường chính chính làm người,
ông chủ sao có thể đối xử tệ với bạn? Kẻ thích tính toán chi li chỉ khiến người
ta khinh thường mình, hạng người đó không có trí tuệ, hạng người đó chính là kẻ
ích kỷ. Suốt ngày muốn chiếm tiện nghi của người ta, không gọi là tâm tham sao?
Không phải đồ của mình, mình lại muốn giành lấy, rốt cuộc chẳng phải bạn tự chuốc
họa vào thân sao? Có bao nhiêu kẻ ở chốn đông người nhìn thấy cô gái xinh đẹp,
muốn động chạm chiếm tiện nghi, bị bắt quả tang tại trận giải lên đồn cảnh sát.
Các vị nói xem, đó không phải là tham thì là gì? Người có trí tuệ có làm ra những
chuyện như vậy không?
"Tâm ngã chấp" phải dùng phương pháp gì để đối trị?
Dùng Hành trì để đối trị ngã chấp. Vì tôi là người tu hành, tôi phải kiên trì
giữ vững Phật tâm, kiên định chính niệm. Do đó, bất kể có suy nghĩ kiểu
"Tôi cho rằng thế này thế kia", đều phải biết rằng tôi là người tu
tâm, tôi đang hành Bồ Tát đạo, tôi đang kiên trì bước trên con đường của Bồ
Tát, vì vậy tôi không thể coi trọng cái "tôi" được. Đây cũng là giữ
giới, đó gọi là Hành trì. Phải nhớ rằng sở hữu Từ bi, Trí tuệ và Hành trì, bạn
sẽ nắm được Thanh tịnh tâm, bạn đã lấy lại được Thanh tịnh tâm của chính mình rồi.
Đối với bất kỳ ai trên thế giới cũng phải mang tâm Tôn kính.
Tôn kính người khác, càng phải tôn kính thiện tri thức. Đối với thiện tri thức
phải có tâm Cung kính. Phàm là những người bạn cảm thấy có thể giúp đỡ được
mình, đều là thiện tri thức của bạn; ví dụ như Sư phụ, sư trưởng, phụ huynh của
bạn, v.v... Đối xử với thiện tri thức, bạn phải cung kính; đối với tất thảy
chúng sinh, bạn phải có tâm từ bi. Các vị có biết không, trí tuệ của một người
là cầu được từ đâu? Trí tuệ của một người là cầu được từ trong tâm Cung kính. Một
người phải cung kính người khác, bạn mới có thể sở hữu trí tuệ. Thế nên, Trung
Quốc có câu: "Thập bộ chi nội tất hữu phương thảo, tam nhân chi trung tất
hữu ngã sư" (Trong vòng mười bước ắt có cỏ thơm, trong ba người đi cùng ắt
có người là thầy ta). Bạn cung kính người khác, bạn có thể học được từ họ vô
vàn những kiến thức mà bạn chưa từng biết đến. Mọi người thử nghĩ xem, có đúng
như vậy không?
Phải biết rằng, mỗi người đều có bản lĩnh riêng của mình, mỗi
người đều có những trải nghiệm riêng của bản thân. Bạn có thể học được từ người
khác rất nhiều điều hữu ích cho chính mình. Xưa kia có rất nhiều vị tướng quân
chỉ biết dũng mãnh xông trận, vò đầu bứt tai mãi cũng chẳng nghĩ ra kế hay; kết
quả là vị tham mưu trưởng đứng bên cạnh chỉ nói một câu, đã giúp vị tướng quân
kia bừng tỉnh đại ngộ, rộng mở tâm trí, sau đó xung phong ra chiến trường, dẫn
đại quân khải hoàn trở về.
Người học Phật phải kiên trì bước đi trên con đường của
mình, có những lúc phải quảng kết thiện duyên (rộng kết duyên lành), chính là để
môi trường xung quanh có thể giúp ích cho bản thân. Có những lúc chúng ta chỉ dựa
vào sức lực của chính mình thì chẳng thể làm nên trò trống gì, hễ gặp chuyện là
đứng hình ngây ngốc. Nghe thêm ý kiến của những người xung quanh, bạn sẽ gia
tăng được rất nhiều trí tuệ. Vì vậy, Sư phụ bảo các vị phải biết cung kính thì
mới có được trí tuệ, khiêm tốn thì mới có được trí tuệ. Trí tuệ từ đâu mà ra? Bởi
vì bạn rất khiêm hư, bạn vô cùng khiêm tốn: "Thật ngại quá, tôi không hiểu
điều này, anh có thể giảng thêm cho tôi nghe không?" Người ta nghe xong thấy
vui vẻ liền giải thích cặn kẽ cho bạn, chẳng phải bạn đã học được rồi sao? Sau
khi học được rồi, chẳng phải bạn đã đem kiến thức của người khác biến thành trí
tuệ của chính mình hay sao? Bằng không, bạn đào đâu ra trí tuệ? Rất nhiều trí
tuệ là do người khác sở hữu, nhưng bạn đã học lỏm về được, vậy chẳng phải bạn
đã có được trí tuệ rồi sao?
11. Thường sinh tâm viên mãn, cầu sinh đạo giải thoát
Phải từ trong sự vô ngã, vô tư mà cầu trí tuệ. Phải xóa bỏ
cái tôi, vứt bỏ tư tâm tạp niệm, bạn đi cầu thì mới có được trí tuệ. Các vị thử
nghĩ xem, người thường xuyên nghĩ đến người khác chính là người sở hữu trí tuệ;
kẻ ngày ngày tính toán mưu mô vặt vãnh cho bản thân chính là kẻ đánh mất trí tuệ.
Bởi vì hám lợi nhỏ, họ sẽ đánh mất cái lớn; vì vướng bận cái "Ngã"
(cái tôi) nhỏ bé, họ mới đánh mất cái "Ngã" vĩ đại. Khi trong tâm con
người ngập tràn tình yêu thương vô tư vô ngã, tức là đã có được cái
"Ngã" vĩ đại, họ sẽ sẵn sàng buông bỏ cái "Ngã" nhỏ bé. Giống
như một vị bác sĩ cứu người, trong tâm ông ấy luôn nghĩ đến chúng sinh, ông ấy
mới có thể trở thành một vị bác sĩ giỏi. Một người cả ngày chỉ chăm chăm nghĩ
cách cứu mình, sao có thể cứu được chúng sinh?
Do đó, Sư phụ và thiện tri thức thực chất chỉ là một đề bài,
chỉ là một lời mào đầu. Một người như Sư phụ cũng giống như bao bậc thiện tri
thức khác, chẳng qua chỉ là người dẫn dắt, là người đưa ra cho các vị một bài học
nhân sinh; Sư phụ để các vị đón nhận đề bài này, còn những bài tập và câu trả lời
tiếp theo vẫn phải dựa vào tự thân các vị. Sư phụ chỉ là người đưa ra đề bài,
giúp các vị thấu hiểu chân lý và đạo lý của nhân sinh, nhưng Sư phụ không thể
thay các vị giải bài tập đó. Mục đích của Sư phụ là muốn dẫn dắt, khơi gợi Phật
tính, Phật tâm tiềm ẩn bên trong các vị.
Cung kính Sư phụ, tất được gia trì; Cung kính thiện tri thức,
tất được thiện tri thức. Nghĩa là sao? Bạn cung kính họ, họ sẽ giảng giải cho bạn
nghe, bạn sẽ học hỏi được nhiều điều. Hôm nay bạn cung kính Sư phụ, bạn sẽ nhận
được lực gia trì của Sư phụ; bởi vì bạn muốn nghe, Sư phụ sẽ giảng cho bạn
nghe, bạn sẽ nhận được lực gia trì, lĩnh hội được những kiến thức chân chính,
lương thiện từ các bậc thiện tri thức. Sau khi trong tâm đã có những kiến thức
thiện lành đó cùng với lực gia trì của Sư phụ, bạn sẽ có thể hóa giải mọi nghịch
duyên (nghịch duyên chính là ác duyên). Duyên phận ập đến, có rất nhiều chuyện
rõ ràng là ác duyên, bạn có muốn làm không? Không muốn làm cũng phải làm. Vậy dựa
vào cái gì để cải biến đây? Phải dựa vào sự giúp đỡ của người khác, dựa vào trí
tuệ và lực gia trì mà Sư phụ ban cho các vị.
Phải dần dần hiểu rằng, sau khi Sư phụ ra đề bài cho các vị
xong, các vị phải quy y mảnh ruộng phúc (phúc điền) vô thượng trong tự tâm
mình. Nghĩa là, bạn phải gieo nhân thiện, bạn mới gặt được quả phúc. Khi trong
tâm bạn tràn ngập những điều thiện lương, mảnh ruộng phúc đó đã được gieo trồng
tốt đẹp. Bởi vì ruộng của bạn toàn gieo mùa màng, hoa quả, lương thực, mảnh đất
đó là mảnh đất hiền hòa, hữu dụng, vậy chẳng phải là phúc điền sao? Mảnh ruộng
này chẳng phải là có phúc rồi sao? Bởi vì nó sản sinh ra những điều tốt đẹp.
Thường xuyên tâm niệm rằng, trong tâm mình phải phát sinh
trí tuệ viên mãn. "Tại sao người khác làm được mà mình không làm được? Tại
sao người khác viên mãn như thế mà mình không thể viên mãn? Mình là người học
Phật, mình nguyện biến mọi sự đều trở nên viên mãn." Bạn thường xuyên nghĩ
như vậy, thì trong tâm bạn sẽ nảy sinh một loại trí tuệ viên mãn. Giống như một
đứa trẻ, nó nghĩ rằng bài tập này chắc chắn mình sẽ làm được, vậy thì dù thầy
giáo ra bài tập gì, nó cũng đều hoàn thành. Nếu một học sinh chưa bắt đầu làm
bài đã lo sợ, luôn nghĩ: "Hôm nay thầy ra bài này liệu mình có làm được
không? Có phải mình chưa học đến không?" Lúc đó, khi thầy giáo giao bài tập
thực sự, bạn sẽ không làm được; dẫu có là bài đã học qua, bạn cũng chẳng làm
xong. Bởi vì sự tự tin của bạn đã mất, tự tính của bạn cũng theo đó mà tan biến;
không có bản tính của chính mình, lấy đâu ra sự tự tin?
Phải chứng ngộ tính Không. Tức là, tôi phải chứng minh và
khai ngộ rằng, mọi tâm trí và bản tính của con người chúng ta đều là không, đều
là không tồn tại. Vậy, biểu hiện cụ thể của Không tính là gì? Là Từ bi. Người từ
bi vì không có cái "tôi", nên bản tính của họ vốn dĩ là rỗng rang,
không vướng bận. Là Hoài nhu, tức là người vô cùng dịu dàng, ôn hòa; người dịu
dàng ôn hòa thì không mang tâm ích kỷ. Người khiêm nhường không có cái
"Ngã", vì họ luôn tôn kính người khác; vô ngã rồi, họ mới có được niềm
hoan hỷ, bởi vì không còn vướng bận vào bản thân, bạn mới có thể thực sự vui vẻ.
Nếu bạn chỉ biết đến mỗi mình mình, mang quá nhiều sự ích kỷ — "hôm nay
tôi thế nào, ngày mai tôi ra sao; hôm nay tôi làm việc này tôi được gì, tôi mất
gì, tôi buồn bã; hôm nay tôi tốt với người ta, người ta tệ với tôi, tôi lại tổn
thương..." — Cứ như thế, bạn sẽ không bao giờ có được niềm hoan hỷ, bởi
chính lòng ích kỷ đã cướp đi niềm vui của bạn.
Giúp đỡ người khác có thể tạo ra niềm hoan hỷ cho chính
mình. Người đi giúp đỡ kẻ khác là người rất vui vẻ. Khi ai ai cũng tìm đến bạn
nhờ giúp đỡ, bạn có vui không? Sư phụ ngày ngày giúp đỡ mọi người, Sư phụ thấy
vô cùng pháp hỷ; bao nhiêu người tìm đến xin Sư phụ giúp đỡ, Sư phụ rất vui
lòng, để lúc Sư phụ gặp khó khăn, cũng sẽ có người đến giúp đỡ Sư phụ. Nếu các
vị ích kỷ, ai thèm tìm các vị nhờ giúp đỡ? Điều đó chứng tỏ các vị vẫn chưa sở
hữu pháp bảo để cứu giúp người khác. Hôm nay bạn có thể không ngừng trả lời câu
hỏi của mọi người qua điện thoại, mọi người hễ có việc là gọi tìm bạn, chứng tỏ
bạn đã có pháp bảo và năng lực giúp đời rồi, đúng không? Khi giảng giải về
"Ngôi nhà nhỏ” cho người khác, bạn thấy rất vui, vì người ta không hiểu, bạn
giải thích cho họ chẳng phải rất vui sao?
Phải xem tất thảy hữu tình chúng sinh là chỗ dựa để tự tính
mình được giải thoát. Nghĩa là, khi bạn giúp đỡ tất cả mọi người, bản thân bạn
cũng đang được giúp đỡ và giải thoát. Rất nhiều bà mẹ dặn dò con: "Con đừng
ăn uống lung tung nhé. Nhớ kỹ, không được chạy băng qua đường bừa bãi." Dặn
con xong, lúc mình chạy ra đường định băng ngang qua, liền nghĩ bụng:
"Không được, mình vừa mới dạy con không được băng qua đường bừa bãi cơ
mà." Đúng không nào? Như thế bản thân bạn chẳng phải cũng được giải thoát
đó sao? Thêm nữa, khi thường xuyên giúp đỡ người khác, bạn sẽ tự khích lệ chính
mình, đó là một luồng ý niệm dội ngược trở lại; tức là khi tôi có khả năng giúp
bạn, bản thân tôi cũng đang nhận được sự giúp đỡ, hiểu không? Khi tôi giảng cho
bạn đạo lý này, tôi bắt buộc phải hiểu thấu nó thì tôi mới có thể nói cho bạn
nghe. Hôm nay tôi nói với bạn về "Ngôi nhà nhỏ", nếu bản thân tôi
ngay cả "Ngôi nhà nhỏ" là gì còn không biết, bạn nói xem, tôi có giúp
được người ta không? Nếu bạn có thể giảng giải cho người ta cách niệm Ngôi nhà
nhỏ, bản thân bạn chẳng phải cũng hiểu sâu hơn về nó rồi sao?
Phải liễu tri (thấu hiểu rõ ràng) nhân gian như mộng như ảo;
đối với cuộc sống như mộng huyễn bào ảnh (giấc mộng, ảo ảnh, bọt nước, sương
mai) chốn nhân gian phải rõ như lòng bàn tay. Rõ như lòng bàn tay là gì? Là thấu
triệt tỏ tường. Ngày ngày tâm niệm: "Mình có mang theo được gì đâu";
ngày ngày suy ngẫm: "Mình sống ở nhân gian đến ngày hôm nay khác nào đang
nằm mộng, mình mang đi được thứ gì? Mình đã già ngần này tuổi đầu, chẳng phải
như đang mơ sao?" Sống đến hôm nay, bạn có được gì? Ngày ngày suy ngẫm như
vậy, bạn sẽ không còn tham lam, không còn thù hận, không còn ngu si nữa. Ngày
nào cũng thử nghĩ, có phải mình đang mơ không? Sao mình lại đến nhân gian này?
Mình là ai? Trước khi sinh ra, mình là ai? Sau khi chết đi, mình lại là ai? Hôm
nay bạn tên là A, vài ngày nữa đổi tên, bạn lại biến thành người khác; ngay cả
bản thân là ai bạn còn chẳng rõ, bạn còn muốn nghĩ quẩn, muốn bế tắc làm gì?
Người thường xuyên suy nghĩ như vậy sẽ không sinh lòng hận thù, không nảy sinh
tham vọng.
Tất cả đều là mộng huyễn bào ảnh. Hôm nay bạn đang ở Trung
Quốc, hai hôm sau đã bay sang Úc. Nhiều người hôm qua còn ở Nhật Bản, hôm nay
đã bay sang Úc thăm Sư phụ, ngủ một giấc thức dậy lại quay về Nhật Bản; như thế
chẳng phải giống hệt một giấc mộng sao? Thử xem các vị bao nhiêu tuổi rồi; nhiều
người không biết làm người, bị bậc trưởng bối mắng là "sống uổng kiếp người"
(hoạt tại cẩu thân thượng - sống trên thân chó). Bởi vì súc sinh không có khái
niệm về thời gian, chỉ có con người mới ý thức được thời gian. Cho nên, đừng
mang thân người mà hành đạo súc sinh, sống hồ đồ mơ hồ qua một kiếp, không biết
mình từ đâu đến, rồi sẽ đi về đâu, tự chuốc họa vào thân. Ngày ngày hãy nghĩ,
mình đang sống trong mộng cảnh rồi; lỡ ngày nào đó tỉnh mộng, nhận ra mình không
còn ở cõi nhân gian nữa, lúc đó bạn mới thấy thống khổ vô cùng.
Truy tầm Niết bàn là điểm khởi đầu của tâm tự do. Truy tầm
Niết bàn chính là theo đuổi một cảnh giới vô thượng, một kiếp nhân sinh siêu
thoát, giải thoát. Đã giải thoát chưa? Vẫn còn cháu chắt. Đã giải thoát chưa? Vẫn
còn nhà cửa. Đã giải thoát chưa? Vẫn còn xe cộ. Mọi thứ đều chưa giải thoát,
buông không đành, nhìn không thấu, vậy thì bạn vẫn đang chìm trong mộng mị. Nếu
bạn nhìn thấu được rằng những thứ này đều là giả tạm, là hư không, thì bạn đã bắt
đầu giải thoát và khai ngộ. Do đó, việc bạn có suy nghĩ muốn giải thoát, bản
thân nó đã là điểm khởi đầu của một tâm hồn tự do.
Học Phật phải vĩnh bất thối chuyển (vĩnh viễn không lùi bước),
bởi vì khi người học Phật không bao giờ lùi bước, việc thành Phật đã ở ngay trước
mắt bạn. Chúng ta nói, tôi muốn làm một người tốt; mỗi ngày bạn làm việc tốt, mỗi
ngày bạn chẳng phải đều là người tốt sao? Vì chỉ có người tốt mới làm việc tốt,
cho nên người học Phật nói phải làm người tốt việc tốt. Hôm nay bạn không làm
việc tốt, vậy bạn không phải là một người tốt. Chúng ta hôm nay muốn thành Phật,
chúng ta phải học Phật, làm Phật; mỗi ngày chúng ta học Phật, làm Phật, mỗi
ngày chúng ta chính là một vị Phật chốn nhân gian.
12. Tâm an định mới có thể chân tinh tấn
Các vị ở nhân gian cứ loay hoay lật đật mãi, chung quy lại
cũng là do cái Tâm này đang xáo động. Hôm nay không vui, ngày mai đau khổ, ngày
kia trái tim tan nát, ngày kìa nữa lại xúc động trào dâng; bận bịu lăng xăng chẳng
phải đều do cái Tâm này sao? Cái Tâm này là một thứ rất dễ biến đổi; hôm nay có
thể tốt, ngày mai có thể xấu, tất cả đều là tại Tâm. Ở nhân gian có chuyện gì
to tát lắm sao? Thử nghĩ về quá khứ của các vị, hồi tưởng lại từng bước một, có
chuyện nào đối với các vị không quan trọng? Có chuyện nào không phải là chuyện
tày trời? Bây giờ ngẫm lại xem, chuyện nào mới thực sự là chuyện lớn? Hồi bé
các vị còn từng ngã gãy răng, đập vỡ đầu máu chảy đầm đìa, xảy ra chuyện lớn thế
cơ mà, bây giờ các vị chẳng phải vẫn sống sờ sờ rất tốt đó sao? Giờ có phải
quên hết rồi không? "Trời ơi, gả nhầm người rồi", "Trời ơi, cưới
nhầm vợ rồi", "Trời ơi, nhà xảy ra chuyện lớn rồi, tiêu đời rồi";
giờ nghĩ lại xem có chuyện gì nào? Bạn chẳng phải vẫn là bạn đó sao? Chẳng qua
là cái Tâm của bạn đang xáo động mà thôi. "Chết thật rồi, trời sập đến nơi
rồi" — Trời có sập không? Nhiều người than: "Ôi, tim tôi bị người ta
trói buộc mất rồi." Ai thèm trói tim bạn? Tự cái tâm tự do của bạn không
muốn nắm giữ, tự bạn trói buộc lấy mình, ai trói được tim bạn?
Căn bản của căn bản trong việc học Phật là gì? Là Chân ngộ,
Chân tinh tấn, Chân niết bàn.
Chân ngộ, tức là khai ngộ chân chính, thực sự thấu hiểu đạo
lý, chứ không phải tiệm ngộ, đốn ngộ hay tiểu khai ngộ. Học Phật phải Chân ngộ:
"Tôi thực sự hiểu nhân sinh là thế nào rồi, tôi thực sự phải nỗ lực tu
hành"; Phải Chân tinh tấn: "Tôi thực sự không thể lãng phí thời gian
nữa, tôi thực sự nghĩ thông rồi, cõi nhân gian này là huyễn không, tôi phải
siêu thoát khỏi cảnh giới này, tôi phải trở thành Bồ Tát ngay tại nhân
gian"; Phải Chân niết bàn: "Tôi phải thực sự nhìn thấu bản thân, thực
sự buông bỏ chấp trước". Đây chính là căn bản trong những căn bản của việc
học Phật. Sư phụ năm lần bảy lượt dặn các vị, học Phật bao lâu nay, giả dối thì
chẳng có ích gì; dẫu bạn có quỳ trước Bồ Tát, nhưng tâm bạn không thật, thì
cũng vô dụng hoàn toàn.
Trăng có tròn có khuyết, trời có râm có hửng; tâm có thiện
có ác, cũng lại như thế (diệc phục như thị), như ta đã nghe (như thị ngã văn).
Nghĩa là, sự biến đổi thời tiết cũng giống hệt như sự biến đổi thiện ác trong
lòng người: lúc râm lúc hửng, khi thiện khi ác, âu cũng là lẽ thường tình. Nếu
trong tâm bạn ngày nào cũng chất chứa những điều xấu xa, đó là mây đen đang che
khuất tâm hồn; nếu trong tâm bạn ngày nào cũng tràn ngập sự lương thiện, thì đó
là bầu trời quang đãng vạn dặm. Chẳng ai thích ngày âm u, nhưng thế sự biến huyễn
vô thường, vạn vật trên đời luôn thiên hình vạn trạng. Hôm nay đột nhiên nghe
chuyện này, ngày mai lại hóng chuyện kia; hôm nay tự dưng sinh biến, vài hôm
sau mọi chuyện qua đi, lại bình yên vô sự, đúng không? Bạn có thể kiểm soát được
thế giới này sao? Thế sự biến đổi khôn lường; bạn có ngày hôm nay, không có
nghĩa là bạn nắm giữ được ngày mai; bạn có được người đó, không có nghĩa là người
đó thuộc về bạn mãi mãi. Mọi thứ đều sẽ thay đổi, lúc thuận lúc nghịch; chốc
lát là thuận cảnh, chốc lát lại nghịch cảnh. Đời người cũng thế, khi thì vui sướng,
lúc lại khổ đau. Phải an trú cái tâm đầy dục vọng của mình, bởi lòng người thường
cứ mãi loanh quanh trong vòng xoáy dục vọng không chịu thoát ra. Hôm nay cái
tâm này thấy nhà đẹp, muốn mua nhà; thấy người ta kiếm nhiều tiền, mình cũng muốn
kiếm nhiều tiền; thấy người ta thế nào, mình cũng muốn thế nấy, đó chính là cái
tâm dục vọng.
Giữ cho cái tâm dục vọng của mình được an tĩnh vững vàng, bạn
sẽ thường xuyên sống trong trạng thái Thiền định. Thiền định là gì? Là
"như như bất động", không có thứ gì làm bạn dao động được, lúc đó bạn
không còn dục vọng; không còn dục vọng, tâm bạn sẽ tĩnh lặng tựa mặt nước thu.
Đó chính là châm ngôn sống của Sư phụ: "Vô dục tự nhiên tâm như thủy"
(Không dục vọng, tự nhiên tâm phẳng lặng như nước). Các vị cứ nhìn mà xem, những
người khoan thai đĩnh đạc, vững vàng chững chạc đều là những người không mang
nhiều tham vọng. Còn nhìn những kẻ suốt ngày chạy đôn chạy đáo lăng xăng, làm
việc gì cũng như thể không kịp thời gian, những kẻ đó chắc chắn chứa đầy dục vọng.
Người học Phật thì vui vẻ tôi cũng thế này, không vui tôi cũng thế này, tôi
không còn dục vọng nữa. Hôm nay có người đột ngột báo tin ba căn nhà của bạn đã
bán được rồi, bạn lập tức mừng rỡ nhảy cẫng lên, vậy là bạn đang sống trong dục
vọng. Ngày mai họ lại bảo, khách hôm qua nói mua, hôm nay không mua nữa; bạn thất
vọng tràn trề, vậy là bạn lại chìm trong dục vọng, đúng không? Khi Sư phụ làm
việc ở Đài phát thanh, có người đến khoe khoang rằng công ty của họ lớn lắm, có
thể ký hợp đồng quảng cáo trên đài liên tục mười mấy năm; Sư phụ nghe xong tâm
chẳng mảy may xao động, vì Sư phụ thấy điều đó là không tưởng. Mấy ngày sau quả
nhiên bóng dáng người đòi làm quảng cáo kia mất tăm mất tích, Sư phụ cũng chẳng
chút muộn phiền hay đau khổ. Nếu lúc đó Sư phụ bị những lời của ông ta làm cho
mừng rỡ nhảy cẫng lên, thì lúc này Sư phụ đã phải hụt hẫng nhường nào.
Các vị có biết căn bệnh của con người là gì không? Khi trong
túi chỉ có vài nghìn bạc, người ta gạ gẫm: "Biết không? Vài nghìn bạc này
của anh có thể đổi lấy hàng triệu đấy. Chỉ cần đầu tư vài nghìn này thôi, anh sẽ
thu về bạc triệu." Người đó sẽ lập tức dốc sạch vài nghìn bạc ra, bởi vì
con số chênh lệch khổng lồ kia đang cám dỗ họ. Thậm chí họ còn rút cả tiền tiết
kiệm ra ăn tiêu mua sắm, vì đinh ninh rằng bạc triệu sắp rơi vào túi rồi. Một kẻ
bình thường một cắc không nỡ tiêu, giờ lại thấy mình có vốn liếng, có nền tảng
chống lưng. Thực chất, đó là bạn đang sống trong ảo vọng. Lấy thêm một ví dụ: một
người phụ nữ vừa ly hôn, đang vô cùng đau khổ; đột nhiên có người rỉ tai rằng
đang có hai gã đàn ông muốn theo đuổi cô ta. Cô ta lập tức vểnh mặt lên, dáng vẻ
của kẻ bị chồng cũ bỏ rơi biến mất sạch; lập tức tô son, chải tóc, thử hết bộ
quần áo này đến bộ khác, phong thái khác hẳn. Thực ra người ta chỉ nói vậy để
an ủi động viên cô ta thôi, hai gã đàn ông kia làm gì có thật.
Ý thức của con người hễ sống trong dục vọng, bạn sẽ vĩnh viễn
chìm nổi trong bể dục không thể tự thoát ra. Tại sao người ta gọi dục vọng là
"ngọn lửa"? Vì dục vọng hệt như lửa, có thể thiêu rụi bạn. Cho nên,
khi bạn tham lam một thứ gì đó, là bạn đang bốc cháy: "Tôi nhất định phải
có cái này, tôi nhất định phải được cái kia", bạn bốc hỏa rồi, nghe hiểu
không? Lúc này tốt nhất nên dội một gáo nước lạnh cho tỉnh táo lại. Sư phụ nói
với các vị, con người phải rời xa ngọn lửa dục vọng, đừng để mọi sự vật trên đời
vướng bận, níu kéo mình. "Ôi chao, người nhà tôi sắp không xong rồi; ôi
chao, người nhà tôi lại làm sao thế này; cháu trai cháu gái của tôi, ông bà nội
ngoại của tôi..." — Tất cả những thứ đó sẽ trói buộc lấy bạn. Khi bị trói
buộc rồi, bạn sẽ thấy "chư pháp vô thường"; nghĩa là mọi thứ ở nhân
gian đối với bạn đều chẳng thể dài lâu. Vì tâm bạn đã động, tâm bạn không tĩnh
lại được, bạn sẽ không có thứ gì trường tồn. Tâm bạn định lại được, bạn sẽ luôn
trường tồn: lấy cái "Bất biến" để ứng phó với vạn sự "Vạn biến",
tôi không hề thay đổi. Ví dụ, có người bảo tôi, anh A mua vé số giống tôi và
trúng được mười nghìn; tôi cũng chẳng có phản ứng gì, vì tôi hoàn toàn không bận
tâm.
Phải nhớ rằng, Khổ lụy hay Vui sướng đều là Không. Hôm nay
vui vẻ, khoái lạc, cũng là không; vì vui xong rồi là hết. Hôm nay chịu khổ,
cũng là không; sắp phải lên bàn mổ, đau đớn chứ? Căng thẳng tột độ, cứ nghĩ dao
kéo rạch xuống sẽ thế này thế kia; đợi đến khi bác sĩ tiêm thuốc tê, mổ xong
xuôi, cắt bỏ khối u, cơ thể từ từ hồi phục, không còn đau đớn nữa. Vậy cái khổ
đó chẳng phải hóa thành "Không" sao? Vui thú cũng là không. Ngày mai
đi dự một bữa tiệc lớn, vui sướng biết bao, được ăn bao nhiêu của ngon vật lạ;
ăn xong rồi, tiệc tàn rồi. Quá khứ các vị từng đi dự những bữa tiệc lớn chưa? Cảm
giác vui sướng lúc đó giờ còn không? Hồi mới yêu nhau vui sướng chứ? "Mình
sắp được đi gặp anh ấy rồi"; cảm giác rạo rực đó bây giờ còn không? Vậy chẳng
phải Khổ và Vui đều là huyễn không sao?
Tâm định, Thần định, thì thường xuyên niệm kinh. Tâm bạn phải
định lại, thần trí của bạn mới định được; tâm không định, tinh thần của bạn vĩnh
viễn không thể an định. Ví dụ, tinh thần là thứ không nhìn thấy sờ được; khi
tâm bất định, thần sẽ bất định, làm bạn mất ngủ, đó chính là thần trí đã bất định
rồi, hiểu không? Người hay niệm kinh, tâm và thần mới an định. Người tâm bất định,
suy nghĩ lung tung, tức là chạm đến dây thần kinh rồi. Bệnh thần kinh từ đâu mà
ra? Tâm trí rối loạn, não bộ bắt đầu lú lẫn, càng nghĩ càng bế tắc, thế là
thành bệnh thần kinh. Trong tâm luôn nuôi dưỡng lòng Từ bi; khi thuận cảnh đến
cũng vậy, mà khi nghịch cảnh đến cũng vậy, chỉ coi đó là bài kiểm tra, là thử
thách mà Bồ Tát dành cho mình. Hôm nay không vui, đây là Bồ Tát đang khảo nghiệm
mình, xem mình có vượt qua được không, xem mình có nhịn chửi người không, xem
mình có cắn răng vượt qua ải này không. Hôm nay vui quá đỗi, mình đừng đắc ý
thái quá, đây cũng là Bồ Tát đang thử thách mình; mọi thứ chốn nhân gian đều là
giả tạm, có gì đáng để vui sướng? Hôm nay có, ngày mai mất. Khi bạn biết tất cả
những thứ này đều vô thường, sẽ chẳng có gì đáng để bận tâm vui mừng, hãy coi tất
cả chỉ là bài kiểm tra của Bồ Tát.
13. Nhân sinh hư ảo, duy tâm sở tạo
Hôm nay Sư phụ giảng cho các vị về Trì Giới. Trì giới chính
là dạy các vị phải tập trung tinh thần. Vì tôi không phạm sai lầm nữa, vì tôi
chú trọng tu dưỡng bản thân, tinh thần của tôi mới có thể tập trung thống nhất.
Nếu bạn không thể kiêng tham dục, kiêng sắc dục, kiêng bỏ tất thảy, tinh thần của
bạn mới hỗn loạn. Một người suốt ngày tinh thần phân tán, tư tưởng khó tập
trung, chính là vì trong lòng họ trỗi dậy muôn vàn tạp niệm chốn nhân gian.
Tinh thần hỗn loạn trong thời gian dài, đến một mức độ nào đó sẽ dẫn tới tâm thần
phân liệt. Do đó, người không thể tập trung tư tưởng, lâu dần sẽ mắc bệnh thần
kinh.
Người học Phật bắt buộc phải giữ giới. Nếu một người bảo
mình không thể từ bỏ được, vậy người đó phải tự gánh chịu ác quả. Ví dụ: Nghĩ
mãi một chuyện không ra, lại cứ liều mạng vắt óc suy nghĩ; đó là bạn không giữ
giới, không có giới luật. Ngày nào cũng mất tập trung, nghĩ tới nghĩ lui không
thông, nghĩ riết rồi sẽ phát điên. Cho nên, trì giới là một khái niệm mang tính
khuôn phép; tức là giờ đây khi tôi đã trì giới, tôi mới không cho phép bản thân
làm điều sai trái.
Hôm nay tôi không hút thuốc, không uống rượu, là tôi đang
trì giới.
Hôm nay tôi không nói dối (vọng ngữ), là tôi đang trì giới.
Hôm nay tôi không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, là
tôi đang trì giới.
Làm được như vậy, bạn đang làm người một cách rất quy củ, nề
nếp; quan niệm sống đó chính là Tâm ngay thẳng. Tâm của bạn một khi đã được giữ
giới, sẽ không còn buông thả, phóng túng. Tâm không buông thả, chính là trì giới.
Chỉ cần trong tâm bạn không suy nghĩ lung tung, không tơ tưởng chuyện này chuyện
nọ, thực chất là bạn đã đang trì giới rồi.
Nếu tâm bạn buông thả, đó gọi là phá giới. Bạn vốn dĩ chưa từng
uống rượu, đột nhiên có người gạ: "Uống một chút đi"; chậc lưỡi uống
một ly, bạn đã phá giới rồi. Một cô gái vốn hiền lành khuê các, bỗng dưng bị
đám lưu manh đến gạ gẫm lôi kéo; nếu cô ấy đồng lõa làm những chuyện mờ ám, đó
là tự buông thả bản thân, là phá giới rồi. Nếu hôm nay bạn là người ăn chay, đột
nhiên bạn ăn mặn, vì mọi người đang mời mọc; bạn ăn, trong đầu còn tự nhủ
"ăn một bữa chắc không sao đâu". Bạn đang thả cửa cho cái tâm của
mình, xong rồi, bạn đã phá giới.
Sư phụ nói cho các vị biết, những khóa học dành cho đệ tử, nếu
các vị phải xin phép vắng mặt, thì sau này đừng đến nữa. Họa hoằn lắm Sư phụ mới
châm chước một lần. Ở đây không ai là không có khó khăn, không ai rảnh rỗi thừa
thãi thời gian; đây chính là thử thách trì giới. Mẹ quan trọng, bố cũng quan trọng,
con cái ở nhà cũng quan trọng; bạn nói xem chuyện của ai là không quan trọng?
Các vị chạy đến Quan Âm Đường, là Bồ Tát quan trọng, hay việc tư của các vị
quan trọng hơn? Bạn đến đây để làm gì? Nếu các vị không muốn nghe giảng, thì đừng
đến nữa, chẳng có gì phải xin phép nghỉ cả.
Đạo tâm của người học Phật phải vô cùng kiên cố, kiên định
không thối lùi, bạn mới không phá giới. Hôm nay tôi học Phật, ngẫm nghĩ một
chút "mai học cái kia đi, ngày kia học cái nọ đi", bạn sẽ phá giới. Bởi
vì giới luật của bản thân là do chính bạn định ra; quá trình trì giới đó gọi là
Tu đạo, Thành Phật. Khi bạn đang tuân thủ giới luật, thực chất là bạn đang tu đạo,
đang tìm cách để bản thân thành Phật. Bởi vì người được Phật Bồ Tát gia hộ, họ
sẽ không bao giờ phá giới.
Tu tâm phải nhìn thấu được "Mệnh khí" của chính
mình. Mệnh khí là gì? Là trường khí trong sinh mệnh, cũng có thể gọi là linh hồn.
Nếu linh hồn của một người vô cùng vẩn đục, mệnh khí của họ chắc chắn rất xấu.
Nếu bạn nhìn thấy Phật tính, bạn đang sống trong Phật tính. Nếu hôm nay bạn biết
Bồ Tát hành xử thế nào, bạn đang sống trong Đạo Bồ Tát, mệnh khí của bạn đang nằm
trong Phật đạo. Bạn biết một người tốt nên làm những việc gì, thì bạn đang sống
trong hàng ngũ của những người tốt, đúng không? Các vị phải biết cách học Phật;
bạn phải biết Phật ở nhân gian cứu độ chúng sinh ra sao, Phật giúp đỡ con người
thế nào, thì bạn sẽ sống trọn trong Phật tính. Lấy ví dụ: Rất nhiều phụ nữ
không có dáng vẻ của người phụ nữ, ở nhà thì đanh đá chua ngoa, cuối cùng dẫn đến
ly hôn; đó là vì cô ta không biết cách làm một người phụ nữ đúng nghĩa. Rất nhiều
đàn ông dữ dằn bạo ngược, ở nhà ức hiếp chèn ép vợ; đó là vì anh ta không biết
cách làm một người đàn ông tốt. Kết cục là người vợ bỏ đi.
Mong các vị phải hòa làm một với Phật tính (Phật tính hợp nhất),
tức là thắp sáng Phật tính. Nếu bạn có thể hợp nhất tâm của Phật với bản tính của
chính mình, trái tim bạn sẽ tỏa ra ánh sáng rực rỡ. Đời người luôn có những điều
gọi là khổ đau, cũng có những cái gọi là hạnh phúc. Hôm trước khi khai thị cho
các đệ tử, Sư phụ cũng đã nhắc đến điều này. Nhưng trong con mắt của người tu
hành, hạnh phúc chẳng được coi là hạnh phúc; người tu hành đã vượt lên trên thứ
hạnh phúc thế gian đó, bởi chúng ta biết rằng những gì mình đang có rồi sẽ
nhanh chóng tan biến. Chúng ta biết chúng là vô thường. Những khổ nạn chúng ta
đang gánh chịu, trong mắt người tu hành cũng không được coi là khổ nạn, bởi nỗi
khổ của chúng ta sẽ rất nhanh trôi qua. Có câu nói: "Thời gian sẽ xoa dịu
vết thương lòng"; thời gian qua đi, mọi chuyện kết thúc, chẳng còn lại gì.
Khi bạn nhìn lại người tình cũ mà mình từng yêu sống yêu chết năm xưa, bạn chẳng
còn chút cảm giác nào, quá khứ đã khép lại rồi. Người tu hành cũng không nên ôm
ấp khổ đau, vì chúng ta là người tu hành, chúng ta đã vượt lên khỏi mọi thống
khổ. Chúng ta thừa hiểu rằng những nỗi khổ này vốn là nghiệp chướng do chính
tay mình gây ra; những đớn đau này đều mang theo từ kiếp trước, nhưng chúng sẽ
không đi theo ta về kiếp sau. Bởi chúng ta đã thọ báo rồi, đã trả đủ rồi, mọi
thứ đã kết thúc; do đó, chúng ta sẽ không mang theo những nỗi khổ này nữa, và
khổ đau cũng sẽ không ngự trị mãi trong tâm hồn chúng ta. Chúng ta cũng thấu hiểu
rằng, hạnh phúc chỉ là ảo ảnh, là cái bong bóng hư vô chốn nhân gian. Lúc các vị
vui, các vị có vui thật không? Chốc lát là tan biến. Sư phụ hỏi các vị, đi nghỉ
mát có vui không? Chạy đi du lịch, lúc khởi hành thì sung sướng rộn ràng; giờ
niềm vui ấy bay đi đâu mất rồi? Mọi niềm vui và mọi nỗi buồn thực chất đều là
"Do tâm tạo ra”. Lúc đau khổ nhất bạn vẫn có thể trở nên vui vẻ; lúc vui
sướng tột độ bạn cũng có thể rơi vào đau khổ, đó là lý do vì sao vui quá hóa buồn,
khóc trong hạnh phúc.
Nhân gian đến cuối cùng đều là Không, là Giả; Phật tính bình
đẳng, tâm bất động. Phật tính của mỗi người các vị đều phải bình đẳng, nhìn ai
cũng như nhau, tâm các vị mới không dao động. Hôm nay các thư ký của Đoàn Thanh
niên ngồi cùng nhau, nhìn thấy ai đó không vừa mắt, thấy ai đó không ưa; thực
ra lúc đó tâm các vị đang nổi sóng, Phật tính của các vị đã mất đi sự bình đẳng
rồi. Các vị thấy người này đáng ghét, thấy người kia không đáng ghét, tức là Phật
tính của các vị không đồng nhất. Cho nên, mỗi người phải dọn sạch những chướng
ngại trong lòng: "Mọi chướng ngại trong tâm tôi không còn nữa, tôi không hận
ai, tôi không yêu ai, tôi không ghen ghét ai, tôi chẳng vướng bận điều
gì"; lúc đó bạn là một vị Phật thuần khiết. Phật rất thanh thuần, Phật
không có tạp niệm, Phật vô cùng trong sạch. Cho nên, các vị phải học Phật, để đầu
óc mình được trong sạch một chút. Nhưng các vị có trong sạch không? Không sạch,
thế nên các vị rất khó thành Phật.
Người học Phật, trong tâm không được phân biệt thật giả. Thật
giả là sao? Giả đến lúc thành thật thì thật cũng là giả; thật đến lúc thành giả
thì giả lại hóa thật. Thật thật giả giả các vị có phân định được không? Ý là,
khi học Phật, đừng chơi trò hai mặt, phải trong ngoài như một, trước mặt nói
sao sau lưng phải nói vậy. Trong quá trình học Phật, nếu phát hiện một người bề
ngoài một đằng, bên trong một nẻo, Sư phụ nói thẳng: người này không có Phật
tính. Coi Phật pháp như trò đùa thật giả, kẻ này học Phật chẳng ra gì, là kẻ
mang nghiệp chướng vô cùng sâu nặng. Sư phụ yêu cầu các vị phải giám sát lẫn
nhau. Nếu bình thường có liên lạc, gọi điện thoại mà kẻ nào trước mặt nói một
kiểu, sau lưng nói một kiểu, Sư phụ cảnh cáo các vị, kẻ đó đang gánh nghiệp chướng,
hãy bớt qua lại với hạng người này. Nếu kẻ đó châm ngòi ly gián sau lưng, Sư phụ
cảnh báo, đừng kết bạn với loại người đó. Tự các vị hãy ngẫm nghĩ cho kỹ đi.
Thiện ác, thị phi, thực ra chỉ cần trong tâm bạn có khái niệm
về thiện ác, thị phi, thì trong lòng bạn đã ôm ấp thị phi rồi. Vậy nên, kẻ hay
đi bàn tán chuyện thị phi, chính là kẻ mang thị phi. Đối với người khác phải
chân thành, thì sự giả dối mới tiêu tan. Cứ buôn chuyện người này, bàn tán chuyện
người kia, là đang tăng trưởng trí tuệ hay làm tăng thêm sự ngu muội của bạn?
Giờ bạn không nói nữa, đó là có trí tuệ; bạn mở miệng ra nói, là bạn đang nuôi
dưỡng sự ngu si. Vì thế, đừng đi bàn tán về người khác. Không có thị phi, tâm bạn
mới không dao động ngả nghiêng; vướng vào thị phi, tâm bạn sẽ chao đảo bất an.
14. Kiểm soát tạp niệm, tùy ngộ nhi an
"Vô vị vô vô vị" (Không chấp để tâm, cũng không chấp
việc không để tâm). Tôi thấy chẳng sao cả, tôi buông xả rồi, tôi không quan tâm
nữa; có tác dụng gì không? Tôi ngay cả cái sự "không quan tâm" đó
cũng rũ bỏ nốt. Vốn dĩ mọi chuyện chốn nhân gian tôi đã chẳng mảy may để trong
lòng, thì làm gì có cái gọi là "để tâm" hay "không để tâm"?
Tiếp đó, bạn tiến đến "Vô vi"; bạn không cố tình tạo tác hành động,
thì lấy đâu ra hành vi? Trong đầu bạn không hề rắp tâm tạo tác, "vô vi vô
vô vi". Tôi đã mở mang trí tuệ, càng hiểu rõ rằng đừng nên cố giành giật,
"Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố" (Không có trí tuệ, và cũng
không có chứng đắc. Vì không có gì để chứng đắc). Sư phụ đang xâu chuỗi tất cả
lại cho các vị hiểu. Vạn sự vốn dĩ là hư không, bạn có được gì nào? Không có chứng
đắc (Dĩ vô sở đắc). Các vị đến nhân gian lấy được gì rồi? Hôm nay trong lòng bạn
mong muốn một việc, vài ngày sau khát khao đó biến mất; trong tâm bạn giữ lại
được gì? Rất nhiều người nói: "Tôi chỉ cần thỏa mãn ước nguyện trong
lòng". Xin hỏi: Từ bé đến giờ các vị đã được thỏa mãn bao nhiêu lần rồi? Lại
có bao nhiêu lần ôm nỗi bất mãn? Những điều bất mãn thuở ấu thơ, giờ các vị còn
nhớ nổi không?
"Lý sự" (Đạo lý và Hành sự) phải "Viên
dung" (Viên mãn và dung hợp); nghĩa là phải biết bao dung. Người biết bao
dung mới có thể viên dung; kẻ hẹp hòi sẽ không bao giờ viên dung. Bao dung là
có thể nhẫn nhục, có thể để mặc người ta nói, người ta mắng, biết đặt mình vào
vị trí của người khác cảm thông; làm được vậy thì mọi việc cuối cùng sẽ trở nên
viên dung hoàn mỹ.
Phải khai mở trí tuệ, phải thấu hiểu "Tứ thù thắng
pháp" (Bốn pháp thù thắng - Tứ pháp ấn): Chư hành vô thường, Chư pháp vô
ngã, Niết bàn tịch tĩnh, Nhất thiết giai không.
Chư hành vô thường: Mọi hành vi tạo tác của bạn ở nhân gian
không có thứ gì là trường tồn vĩnh cửu.
Chư pháp vô ngã: Ở nhân gian, mọi hành vi, ý niệm, mọi lời
nói, mọi sự vật, đều phải quy về "Vô ngã" (không có cái tôi). Không
còn cái tôi, mới có chúng sinh; nếu hôm nay chỉ có cái tôi của bạn, thì sẽ
không có chỗ cho chúng sinh.
Niết bàn tịch tĩnh: Không tính niết bàn; tức là cảnh giới
thăng hoa, rũ bỏ sạch sẽ mọi hệ lụy nhân gian. Đạt đến niết bàn, mọi sự sẽ tĩnh
lặng. Lấy một ví dụ đơn giản: Ngồi trên máy bay có yên tĩnh không? Lúc cất cánh
bay vút lên trời chẳng có tiếng động gì phải không? Càng bay lên cao, càng
thoát khỏi mọi phiền não trần tục. Ngồi trên máy bay, đầu óc con người trở nên
trống rỗng, rất nhiều chuyện nghĩ không ra. Nhiều người bảo, tôi sẽ tranh thủ
làm việc này việc nọ trên máy bay; nhưng vừa lên máy bay, đầu óc trống trơn, chẳng
nghĩ ra gì. Sư phụ không biết các vị có cảm giác đó không, Sư phụ thường mang
theo một đống bản thảo, định bụng lên máy bay sẽ chỉnh sửa; nhưng vừa ngồi vào
chỗ, não bộ rỗng tuếch, chẳng muốn sửa gì nữa, hoàn toàn không nhớ ra chuyện
gì. Lúc đó các vị mà bảo Sư phụ nhớ lại một người hay một việc nào đó, Sư phụ
chịu không nghĩ ra; bởi vì khi đó não bộ Sư phụ đã tiến vào trạng thái "vô
ngã", đã hòa nhập cùng tự nhiên trong không gian vũ trụ. Trên máy bay tĩnh
lặng không một tiếng động, yên bình biết bao. Các vị nhìn cõi nhân gian xem có
phiền phức không? Vừa bước xuống máy bay, điện thoại reo ầm ĩ, chuỗi bực mình lại
bắt đầu. Cho nên, đi du lịch thực chất là để thư giãn bản thân; tất nhiên,
chúng ta đi là để cứu độ chúng sinh.
Phải thường xuyên quán chiếu tư duy, phải "Tùy ngộ nhi
an" (Gặp cảnh nào cũng giữ tâm bình an). Dù gặp chuyện gì, cũng phải trấn
tĩnh lại, xem như không có gì. "Xin lỗi, hôm nay thức ăn không được ngon,
mong anh dùng tạm" — "Không sao đâu, ở nhà tôi cũng ăn như thế này
mà." Đó chính là người hiểu đạo lý. Tùy ngộ nhi an, vô lự vô lo, gặp chuyện
gì thì đối mặt chuyện đó; làm được vậy bạn mới có quan niệm "Không sợ hãi”.
Nếu bạn cứ chấp nhặt không chịu nhượng bộ, bạn sẽ sinh ra cảm giác sợ hãi. Hôm
nay gây gổ với người này, ngày mai cãi vã với người kia, bạn sẽ luôn nơm nớp lo
âu. Ví dụ: Bạn đến khách sạn và cãi nhau với nhân viên. Sau vụ cãi vã đó, quy định
mười giờ sáng phải trả phòng, nhưng đến mười một giờ, nhân viên không thèm hối
thúc những khách khác, mà chỉ chằm chằm nhìn bạn, đuổi bạn phải dọn đi lúc mười
giờ. Chẳng phải tự bạn rước họa vào thân sao?
Sợ hãi từ đâu mà ra? Từ việc không biết "Tùy ngộ nhi
an"; từ việc trong lòng không yên ổn, tâm không bình, tâm thái không tốt,
lúc nào cũng sợ mình chịu thiệt thòi. Cứ cho là để bạn chiếm món lợi cả đời đi,
nhưng nếu đời bạn chỉ sống được đến ba mươi tuổi; vậy cái mạng của bạn rẻ rúng,
hay là món lợi bạn chiếm được lớn hơn? Trong khi người ta sống đến bảy mươi tuổi,
ngày nào cũng vui vẻ hoan hỉ, chẳng thấy có món hời nào cần phải chiếm đoạt. Người
ta sống 70 tuổi, còn bạn thì chưa bao giờ sai, lúc nào cũng có lợi để chiếm, vậy
thì bạn chỉ sống được 30 tuổi thôi. Thử nghĩ xem, so với người ta, ai mới là kẻ
lời hơn?
Cuối cùng, Sư phụ sẽ nói với mọi người về "Niệm đầu".
Khi một người khởi lên một ý niệm, sẽ có Tiền niệm (niệm trước), Kim niệm (niệm
hiện tại) và Hậu niệm (niệm sau). Trong quá khứ từng gặp chuyện này, từng nghĩ
cách để đối phó với nó, đó gọi là Tiền niệm; tiếp đó là Kim niệm, là luồng suy
nghĩ hiện ngay lúc này; Hậu niệm, là những ý niệm chưa từng nghĩ tới. Khi một
người đang làm một việc gì đó, tại sao họ lại làm sai? Vì họ có Tiền niệm. Tiền
niệm từ đâu mà ra? Ví dụ: Tôi rất không ưa người này. Hôm nay có người đến mách
lẻo với tôi người này xấu xa, ngày mai lại có người nói người này không ra gì;
Tiền niệm của bạn đối với người này đã là ác cảm rồi. Cho nên, khi sự việc xảy
ra có bất lợi cho bạn, ý niệm đầu tiên nảy lên trong đầu bạn là "Tên này
là kẻ xấu". Chính cái định kiến đó đã phá hỏng hoàn toàn cách giải quyết sự
việc của bạn. Tiền niệm đã khống chế Kim niệm và Hậu niệm của bạn. Bởi vì mỗi một
"khởi tâm động niệm" của con người đều là tội nghiệp, hiểu không? Đều
là đang tạo nghiệp; nói một cách dân dã là: khởi ý niệm tốt là tạo Thiện nghiệp,
động ý niệm xấu là tạo Ác nghiệp. Cái nghiệp đó chính là nhân quả báo ứng của bạn.
Không có niệm đầu (Vô niệm) là cảnh giới tốt nhất; chỉ cần một
niệm vừa móng khởi, bạn đã đang tạo nghiệp rồi. Cụ thể hơn: Không tính toán mưu
mô, bạn sẽ không tạo nghiệp; không suy nghĩ mông lung đông tây, không có niệm đầu,
bạn sẽ không tạo nghiệp. Cách tốt nhất là khi ngồi trong Phật đường niệm kinh,
không mang theo nghiệp; vì tôi không có niệm đầu, nhìn thấy ai cũng như không
thấy, bạn sẽ không tạo nghiệp. Tôi vừa liếc thấy anh ta: "Ái chà, người
này là người tốt" — Thiện nghiệp đã được gieo xuống; thấy người khác:
"Kẻ này là kẻ xấu" — Ác nghiệp lại được gieo xuống; nghe hiểu không?
Cái nghiệp này được tạo ra nhanh lắm. Ngay cả việc giả vờ ngốc nghếch cũng vô dụng;
bởi vì sau khi ý niệm nảy sinh, bạn mới giả vờ làm ra vẻ ngây ngô không biết
gì; ngay khoảnh khắc đó, niệm đầu của bạn đã tạo nghiệp xong xuôi rồi. Nhìn người
khác mà lòng phẳng lặng không phản ứng, bạn sẽ không tạo nghiệp. Các vị không
tin thì hỏi Tiểu Chu xem; cậu ấy nhìn thấy người khác, có bao giờ nghĩ xem người
này tốt hay xấu không? Cậu ấy không bao giờ nghĩ như vậy, nên cậu ấy không tạo
nghiệp. Sư phụ phân tích cho các vị nghe rất tinh túy đấy. Đã học Phật thì phải
học cách Vô niệm, không khởi niệm đầu. Phải dùng pháp "Quán vô tướng"
để đối đãi với mọi niệm đầu; Quán chính là Nhìn, bạn phải coi tất cả những ý niệm
trỗi dậy chỉ là ảo ảnh không hề tồn tại. Dẫu cho tôi có khởi một niệm, nhưng niệm
đó vụt qua rồi là coi như Không, hiểu chưa? Nhìn thấu Vô tướng, gạt bỏ Vô tướng,
Quán chiếu Vô tướng. Chuyện này xảy đến, tôi không "Chấp tướng", tức
là tôi không có thành kiến về nó, tôi coi như chuyện đó hoàn toàn không tồn tại.
Sự việc đó trôi qua, tôi không có cảm giác gì, "Ủa nó đi rồi sao?" Giống
như rất nhiều người, lúc đến thì rộn ràng, lúc đi thì hờ hững; thực chất tất cả
đều vô thường như nhau. Đó chính là Vô niệm, không còn ý niệm gì nữa.
Sư phụ không biết các vị có làm được không. Mấy bạn trẻ ngồi
hàng ghế sau, hễ thấy ai bước vào là hoan hỷ hớn hở: "Ôi chị đến rồi",
vui mừng ra mặt; đó chính là "Quán hữu tướng" (Chấp vào hình tướng).
Hôm nay bất luận là ai bước vào, chỉ cần buông một câu "Xin chào!" —
một lời chào bình thản dành cho mọi người, như thế trong tâm bạn mới không gợn
niệm. Trong lòng hễ nổi niệm, người này vừa đến bạn đã tíu tít: "Ôi chào
chị!", vô cùng thân thiết; thôi xong, bạn "Hữu tướng" mất rồi.
Tiếp theo, bạn gieo một Thiện nhân; lỡ người ta gặp chút xui xẻo, bạn sẽ đau
lòng xót xa, vì đã "hữu tướng", đã gieo thiện nhân rồi. Còn nếu gieo
Ác nhân thì sao? Kẻ này rất đáng ghét, hắn ta vừa bước vào bạn đã lờ tịt đi
không thèm đoái hoài. Bạn đã gieo Ác nhân, và ngay sau đó, hắn ta lập tức chửi
bạn: "Mày nghĩ mày là ai?"
Nhiều người bản thân mang một rổ khuyết điểm, lại còn thích
coi thường người khác, phớt lờ người khác; không bị người ta chửi lại mới là lạ.
Giống như kẻ có hai cái răng cửa vẩu ra ngoài, lại chạy đi soi mói răng của người
ta; người ta không soi răng mình, lại đè răng bạn ra mà bêu rếu. Giống như nhiều
người mắt một mí không chịu thừa nhận người khác có mắt hai mí, nghe hiểu
không?
Vô niệm, nhìn thấy bất cứ việc gì cũng không phản ứng, đó là
cảnh giới tốt nhất. Người đến cả niệm đầu cũng không có, làm sao họ tạo nghiệp
được? Không có ý niệm, làm sao tạo nghiệp? Tạo nghiệp là do cái "Niệm"
đang tác oai tác quái. Niệm tạo nghiệp rồi, miệng bạn mới buông lời mắng chửi,
hành vi của bạn mới gây ra nghiệp. Bạn hoàn toàn không có tạp niệm, thì tạo cái
nghiệp gì? Con người không được phép tạo nghiệp; Lục thức điền (thức thứ 6), Thất
thức điền (thức thứ 7), Bát thức điền (thức thứ 8) đều chứa đựng những nhân vô
cùng to lớn. Phải hiểu rằng, nếu bạn không gieo Nhân, đào đâu ra Quả? Lời cuối
cùng trong bài giảng hôm nay của Sư phụ, cũng là câu nói đặc sắc nhất: Không có
niệm đầu, con người làm sao tạo nghiệp được? Thôi được rồi, kết thúc ở đây.
Mong rằng các vị đều không máy khởi niệm đầu, hiểu chưa? "Sư phụ đối xử tốt
với tôi, nhưng không tốt với người kia; Sư phụ tốt với người kia, mà tệ bạc với
tôi" — những ý niệm sân si đó tuyệt đối đừng để nảy mầm, bạn sẽ không tạo
nghiệp. Sư phụ luôn "nhất thị đồng nhân" (đối xử công bằng như nhau),
học theo Bồ Tát đối đãi bình đẳng với tất thảy chúng sinh.
15. TÙY DUYÊN MÀ TINH TẤN, KHÔNG TĂNG KHỔ GIEO TỘI
Bạn muốn độ chúng sinh, bởi vì chúng sinh đều là chính bạn,
nghe hiểu không? Bạn muốn đi độ người, trước tiên phải độ chính mình; bạn tu sửa
bản thân cho tốt trước, thì mới có thể giúp người khác. Vậy làm thế nào để dung
hợp được với Phật tính của bản thân? Nghĩa là, khi bạn đang độ người, thực chất
là bạn đang độ chính mình; khi bạn không độ nổi người ta, thực chất là do tính
cách của bạn và trường khí của người đó không phù hợp, năng lượng tích cực của
bạn chưa đủ, bạn chưa vượt qua được ải của chính mình. "Mình có độ nổi người
ta không? Bản thân mình còn chưa tu tốt kia mà!" Bạn không độ được người
khác, tức là chính bản thân bạn vẫn chưa vượt qua được khảo nghiệm.
Lấy một ví dụ đơn giản: Bạn muốn thuyết phục mẹ mình về một
chuyện gì đó. Khi đi nói chuyện với mẹ, bạn phải xem mẹ như chính bản thân
mình, nhẹ nhàng khuyên giải, mẹ sẽ nghe lời bạn. Nếu bạn đến nói với mẹ, bạn cứ
xem mình là mình, xem mẹ là một người hoàn toàn khác, thì bạn nghĩ mẹ có chịu
nghe bạn không? Vì thế, nếu trong tâm đối phương có chướng ngại, bạn sẽ không
thể độ họ. Tu tâm chính là tu để nhổ bỏ mọi chướng ngại trong lòng. Các vị hôm
nay đến học Phật, nếu trong tâm vẫn mang theo chướng ngại; cho dù mỗi người chỉ
mang theo một cái thôi, năm mươi người là năm mươi cái chướng ngại; năm mươi
chướng ngại này tụ tập lại tại Quan Âm Đường Đài Đông Phương, vậy chẳng phải là
một khối nghiệp chướng khổng lồ hay sao? Hôm nay bạn chạy đến đây, một người
mang bộ mặt xúi quẩy, làm lây lan khiến cả năm mươi người đều không vui, bạn
nói xem, như vậy thì sẽ thành ra thế nào? Ai nhìn thấy ai cũng làm lơ; khối
nghiệp chướng của bạn kéo tất cả mọi người chìm vào nghiệp chướng, lẽ nào người
ta mắc nợ bạn? Do đó, người học Phật trước tiên phải trừ bỏ nghiệp chướng.
Bồ Tát thương xót chúng sinh, vì Bồ Tát nhìn thấy chúng sinh
vô cùng đáng thương; nên Bồ Tát mới có thể hạ mình xuống hòa cùng cảnh giới của
chúng sinh để cứu độ. Vì Bồ Tát từ bi với chúng sinh, thấy chúng sinh thật đáng
thương, nên Ngài mới giáng trần đi vào giữa biển người. Rất nhiều sinh viên
đang học đại học, ngày ngày bận rộn bài vở; Mẹ chính là Bồ Tát của bạn. Mẹ đến
ký túc xá ngày ngày giặt giũ quần áo, nấu cơm nước cho bạn; làm xong xuôi, mẹ lại
lặng lẽ rời đi, để bạn yên tâm học hành. Một người mẹ như thế chẳng phải là Bồ
Tát sao? Tại sao Mẹ lại phải đến nhân gian để cống hiến hy sinh? Vì Mẹ nhìn thấy
nỗi khổ của bạn, nên Mẹ mới đến. Bồ Tát thấy chúng ta ở nhân gian quá đỗi khổ ải,
nên Ngài mới giáng trần. Tại sao Sư phụ luôn kể cho các vị nghe Bồ Tát vĩ đại
và tốt đẹp nhường nào? Vì thấy Bồ Tát tốt, các vị mới chịu lạy Bồ Tát, mới biết
yêu kính Bồ Tát, mới chịu cầu Bồ Tát; có như vậy Bồ Tát mới có thể cứu các vị.
Chúng ta đang sống ở nhân gian, bất luận xảy ra chuyện gì,
cũng phải học Bồ Tát, giữ tâm "Như như bất động" (tâm không lay chuyển).
Hôm nay bị người ta chửi rủa, tôi vẫn thế này; ngày mai bị người ta xỉa xói,
tôi cũng vẫn thế này; chỉ khi Tâm Định, mới có thể tu hành. Sư phụ nói đi nói lại
cũng chỉ muốn các vị phải Định được cái Tâm; kẻ đang phát điên có tĩnh tâm lại
được không? Kẻ đang bế tắc uất ức có tĩnh tâm lại được không? Không phải là
phát điên bộc lộ ra ngoài, mà là phát điên từ trong tâm trí.
Đời người không có điểm khởi đầu, cũng chẳng có điểm kết
thúc. Nỗi khổ của nhân sinh, là quả báo từ tiền kiếp, không cần phải lo âu sợ
hãi. Chúng ta chịu biết bao đắng cay tủi nhục, chẳng phải vì quá khứ chúng ta
chưa làm tốt đạo làm người sao? Niềm vui của kiếp này, cũng là quả báo của tiền
kiếp; hôm nay chúng ta sống trong sung sướng, đó là nhờ phúc đức tích lũy từ đời
trước. Cho nên, phải hảo hảo trân quý phúc báo. Rất nhiều người trẻ tuổi các vị
chẳng biết trân quý phúc báo gì cả. Thức ăn Phật hữu nấu mang đến, các vị ăn
xong, có ai chủ động chạy ra đậy nắp đồ ăn lại cẩn thận không? Các vị thực sự
không hề biết trân trọng sức lao động của người khác, sao các vị không tự lăn
vào bếp mà nấu ăn đi?
Phải hiểu rằng, Khổ và Vui thảy đều do nhân duyên quá khứ mà
sinh ra. Sự thành bại, được mất, khen chê ngắn ngủi chốn thế gian, đừng nên chi
li tính toán. Thử nghĩ xem, trong một đời, các vị đã thắng được bao nhiêu lần?
Bại bao nhiêu bận? Đã từng bị ai đố kỵ chưa? Đã từng bị ai nhục mạ chưa? Chính
tay bạn đã từng đạp đổ ai chưa? Rồi cuối cùng lại bị người ta hãm hại dẫn đến
thất bại, có không? Nghĩ lại là rõ ngay thôi.
Phải tùy duyên tinh tấn, phải thuận theo Tự nhiên chi tâm
(Tâm thuận tự nhiên). Làm người nhất định phải tự nhiên chân thật. Các vị cứ
quan sát mà xem, một kẻ giả tạo dẫu có làm công đức cũng không thể bền lâu; chỉ
có sự chân thật mới trường tồn. Có những người dù đã tìm được việc làm, vẫn
tranh thủ cơ hội quay lại đây làm công đức. Các vị xem Tiểu Thẩm, từ ngày đầu
tiên đến đây cho tới giờ, toàn bộ con người cậu ấy đã thay đổi; chẳng cần Sư phụ
phải nhắc nhở, đến tận hôm nay cậu ấy vẫn lặng lẽ âm thầm làm công đức. Cậu ấy
rất chân thành, không mang chút giả tạo nào; cậu ấy cũng chưa bao giờ chạy đến
chỗ Sư phụ để khoe khoang rằng mình đã nỗ lực ra sao, mình yêu kính Bồ Tát nhường
nào, mình nhất định sẽ tu tâm thật tốt; cậu ấy chưa bao giờ nói những lời như vậy.
Làm người, học Phật, quý ở sự kiên trì. Một người phải dùng
chân tâm để đối xử tốt với người khác. Nhiều người khi kết hôn thề non hẹn biển,
biển cạn đá mòn cũng không đổi lòng; nhưng cuối cùng, khi một mối duyên khác ập
đến, lập tức trở mặt thay lòng. Tại sao hôn nhân lại khiến bao người rơi nước mắt?
Bởi vì họ đã trao đi bằng cả tấm chân tình; đợi đến khi ác duyên kéo tới, bắt đầu
lục đục cãi vã, mới thấy đau đứt ruột xé gan, bế tắc đến mức tìm đến cái chết.
Cho nên, tình cảm là thứ tuyệt đối không được mang ra làm trò đùa.
Phải hiểu rằng, tình yêu, tình cảm chốn nhân sinh thảy đều
là "Vạn hữu giai không" (Muôn sự có rồi cũng hóa không). Tình cảm của
bạn với bất kỳ ai, tình yêu của bạn với bất kỳ người nào, rốt cuộc cũng là Vạn
hữu giai không. Gọi nhau là "Ông lão, bà lão", bầu bạn đến cuối đời rồi
cũng chỉ còn lại một mình vò võ. Cô Châu bây giờ chẳng phải đang thui thủi một
mình sao? Chẳng phải là "Không" sao? Tình yêu của cô ấy giờ biến đi
đâu mất rồi? Tình cảm của các vị với con cái hiện tại sâu đậm là thế, đợi lúc
chúng khôn lớn, chẳng phải cũng cất bước rời xa gia đình sao? Hai vợ chồng hôm
qua còn mặn nồng như keo sơn, hôm nay đã hung hăng cãi vã; đột nhiên vợ mất, đột
nhiên chồng mất; đó chẳng phải là đang hiển hiện cho các vị thấy sao? Đó chẳng
phải là quả báo sao? Cái gì mà tình yêu với tình cảm, tất cả đều là Vạn hữu
giai không. Dù có một nghìn cái “có”, một vạn cái “có”, cuối cùng vẫn là
“không”; hàng trăm triệu mối ân tình, đến phút cuối cùng vẫn chỉ là cái Không
vĩ đại.
Đời người phải nắm giữ vài nguyên tắc: Không phiền não, Tích
phúc (trân quý phúc báo), Tùy duyên, Vô sở cầu (không cưỡng cầu) và Tận bổn phận
(làm tròn trách nhiệm). Sư phụ thường nói với các vị: Buồn bã sầu não cũng qua
một ngày, vui vẻ hoan hỉ cũng hết một ngày; tại sao bạn không chọn cách sống thật
vui vẻ qua ngày, mà cứ bắt ép bản thân phải ủ dột sầu bi? Mọi chuyện ván đã
đóng thuyền rồi, bạn có rầu rĩ thì kết cục vẫn thế mà thôi, đúng không? Mất việc
rồi, ở nhà tự tát vào mặt mình, tức muốn trào máu họng, thì có tác dụng gì? Cứ
vui vẻ lên, "Đã đến rồi thì cứ bình thản đón nhận”, có gì mà phải giật
mình hoảng hốt; đời người cũng chỉ có ngần ấy chuyện.
Sư phụ nói cho các vị hay, cả một đời người, chỉ có hai chuyện
lớn nhất cần lưu tâm: Sinh ra và Chết đi. Sắp lìa đời, đó mới là chuyện lớn;
ngoài ra sinh ra đời cũng là chuyện lớn. Sư phụ chuyên môn giải quyết những
chuyện lớn, thế nên hễ có đại sự, người ta đều tìm đến Sư phụ. Ở giữa ranh giới
Sinh và Tử, mọi sự đều là việc nhỏ nhặt; ví dụ như đổi việc, đổi chồng. Rất nhiều
người lấy việc cỏn con làm chuyện tày đình, thật ngốc nghếch hết sức. Do đó,
hãy để niềm vui luôn thường trực bên mình; có niềm vui, sầu muộn sẽ tan biến.
Các vị tưởng vui vẻ không mang lại lợi ích gì sao? Muốn gạt bỏ ưu phiền, thì phải
vui lên; các vị sống vui vẻ hơn một chút, chẳng phải ưu phiền sẽ bốc hơi sao?
Chúng ta làm người làm việc, không có bất cứ thứ gì là dành
riêng cho một mình bạn thụ hưởng, thuộc quyền sở hữu của riêng bạn. Nghĩa là, mọi
thứ bạn nhận được ngày hôm nay, bạn không thể giữ khư khư để tự mình hưởng thụ;
bởi vạn vật chúng ta sở hữu trên thế giới này đều "lấy từ chúng sinh, dùng
cho chúng sinh". Nói một cách đơn giản, hôm nay tôi có một món ăn ngon do
người khác nấu cho, tôi nên chia sẻ một chút cho mọi người; hôm nay có người tặng
tôi một món quà, tôi nên đáp lễ lại họ một món quà khác; hôm nay người ta nói với
tôi một câu tốt lành, tôi nên đem những lời tốt đẹp đó lan tỏa cho mọi người.
Người ta khen: "Anh thật tốt bụng", bạn phải đáp lại: "Đâu có,
anh cũng là người rất tốt mà". Người ta khen: "Cô đẹp quá". Các
cô gái ở đây có biết khen lại người khác không? Khi có người khen bạn đẹp, bạn
lập tức hồi đáp: "Chị cũng rất xinh đẹp". Đó chính là sự hồi báo đáp
lễ, đúng không? Bởi vì mọi tài vật, hay việc "ngôn ngữ bố thí" (dùng
lời nói tốt đẹp bố thí), bạn đều không thể mang theo xuống mồ. Người ta khen bạn
đẹp, bạn có đem theo được không? Người ta cho bạn tiền, tặng bạn quà, bạn có
đem theo được không? Bạn vẫn phải tiêu cho hết, ăn cho cạn; nói theo ngôn ngữ
hiện đại là "Báo đáp xã hội”.
Một khi nổi lên phiền não hay đố kỵ, các vị phải lập tức đi
gieo trồng Phúc điền; đó là lúc các vị đang gieo xuống cái rễ của nhân duyên,
gieo mầm nhân duyên cho hậu kiếp. Các vị có biết không, nhân duyên giống hệt
như ngọn lửa, nó sẽ thiêu đốt con người. Lấy ví dụ đơn giản: Bạn để ý một người,
bạn vừa gieo xuống cái Nhân này, nó sẽ bám riết lấy bạn, như ngọn lửa thiêu đốt
bạn; thế nên Sư phụ mới bảo các vị đừng có liếc mắt đưa tình lung tung, đừng có
làm chuyện xằng bậy. Ví dụ khác: Bạn ưng mắt một chiếc tivi, nhưng giá chát
quá, bạn mua không nổi. Chỉ cần bạn nảy sinh ý niệm này và gieo xuống mầm nhân
duyên, bạn sẽ vô cùng đau khổ, như bị lửa thiêu đốt chính mình. "Tôi thích
căn nhà này quá, tôi mua không nổi, nhưng tôi sống chết cũng muốn mua", thế
là tiếp sau đó liều mạng đâm đầu vào kiếm tiền; nghe hiểu không? Đừng tự tạo
nhân duyên (sự trói buộc) cho mình; hễ là lửa thì ắt sẽ thiêu người: Lửa tình
yêu thiêu chết bạn, lửa tiền tài thiêu chết bạn, lửa danh lợi thiêu chết bạn.
Có bao nhiêu kẻ vì màng danh hám lợi, bị người đời chửi rủa, vu khống, mỉa mai,
nhưng vẫn chai mặt tranh giành cái ghế đó, bị lửa thiêu cho thê thảm.
Phải hiểu rằng, "Bất tri thử nhân" (Không biết cái
nhân này), chính là "Tăng khổ chủng tội" (Tăng thêm nỗi khổ, gieo mầm
tội lỗi). Nếu một người sống trên đời, ngay cả nguyên nhân tại sao mình phải chịu
khổ còn không biết; bạn không biết tại sao hôm nay mình lâm vào cảnh đắng cay,
vậy là bạn đang tự chất thêm nỗi khổ cho mình, tự gieo mầm tội ác. Khái niệm đó
gọi là "Tăng khổ chủng tội".
16. Khống chế lòng tham trong tâm, giữ trọn bản tính thanh tịnh
Làm người, khi nhận được lợi ích thì không mừng rỡ, khi mất
đi lợi ích cũng chẳng bận lòng lo âu. Nghĩa là khi có được điều lợi, nhận được
đồ của người khác ban cho, chúng ta cũng không thấy quá vui mừng, tâm coi như
bình thường; còn khi thất thoát nhiều quyền lợi, chúng ta cũng chẳng xem đó là
điều to tát. Thực ra, kiếp này chúng ta chịu khổ hay được hưởng những điều tốt
đẹp, thảy đều do định mệnh, nhân quả từ nhiều đời nhiều kiếp trước chi phối. Có
một nhóm người gọi là những người theo chủ nghĩa định mệnh, họ cho rằng con người
sống hoàn toàn do số phận an bài nên chẳng buồn cố gắng: "Số đã vậy thì đành
chịu, khổ thì chịu khổ, sướng thì hưởng sướng, cứ thế mà đi hết đời". Những
kẻ không muốn thay đổi vận mệnh của chính mình chính là những người theo chủ
nghĩa định mệnh. Trong khi đó, người học Phật chính là người đi cải biến vận mệnh
của chính mình. Sư phụ giảng rất rõ ràng, mong các vị thấu hiểu những đạo lý
này.
Đức Phật từng dạy: "Con người sống trên đời kiếm tìm
sinh kế, chẳng khác nào loài ong làm mật; dạo qua khắp muôn hoa, trải bao nhọc
nhằn tích góp mỗi ngày mới thành tổ, rồi lại bị con người đến cướp lấy
đi." Nghĩa là một đời con người cũng giống như con ong đi hút mật, tự mình
hoàn thành kiếp sống của mình; hoa nào cũng phải ghé qua một chút, ngày ngày cần
mẫn lao dịch, tích góp từng giọt mật mới có được thành quả. Nhưng đến khi con
ong tích tụ được nhiều mật rồi, con người lại tìm đến tấn công và đoạt lấy toàn
bộ số mật ấy — tức là con người chúng ta lại đi tước đoạt thành quả lao động của
kẻ khác.
"Nhân cầu thị niệm" — Con người hễ nảy sinh mưu cầu
bất cứ điều gì, thực chất đều do ý niệm trong tâm đang vận hành. Hôm nay bạn đi
tước đoạt tài bảo hay mật ngọt của người khác, thực ra cũng do tư duy, niệm đầu
của bạn xúi giục mà thành. Bồ Tát dạy "Thị ưu hữu ưu" — Khi bạn làm
những điều bất thiện, chiếm đoạt đồ của người khác, thì sự lo âu, phiền mỏi sẽ
lập tức quấn lấy thân bạn.
Thực ra, mấy câu này chính là dạy chúng ta đừng bao giờ đi
cướp đoạt công đức của người khác. Có những người tuy làm công đức nhưng trong
lòng lại hay u uất, nghĩ không thông. Thực chất, hễ con người cứ hoài niệm về
những chuyện u sầu thì sẽ lập tức bị sự u ủ bủa vây. Sư phụ tách hai chữ
"Ưu Sầu” ra giảng giải: Một người dùng mưu hèn kế bẩn để chiếm đoạt công đức
và thành quả của người khác, thì trong đầu chỉ cần gieo một chữ "Ưu",
bạn sẽ rơi vào ưu phiền; trong đầu bạn khởi lên chữ “Sầu”, bạn sẽ sinh sầu não.
Bởi vì thứ đó vốn không thuộc về bạn, nên bạn mới phải phập phồng lo âu. Vì thế,
người càng nghĩ không thông thì lại càng chìm đắm trong bế tắc.
Tiếp theo, Sư phụ giảng tiếp cho các vị về sự "Khai Ngộ".
Sư phụ từng nói, sự khai ngộ được bồi đắp và tích tụ dần dần qua thời gian. Phải
kinh qua sự việc thì con người mới khai ngộ được; nếu chưa từng va vấp sự đời,
người đó khó mà ngộ ra. Cho nên, người giác ngộ nhất định phải trải qua vô vàn
gian truân thử thách; kẻ sống quá êm đềm thì khó lòng mở mang trí tuệ. Cô Châu
thử nói xem Sư phụ nói có đúng không? Cô đã trải qua tám mươi hai năm thăng trầm
sóng gió, giờ đây mới ngộ ra tất thảy đều là hư không, đúng không nào? Nhưng
nhìn xem, ngoài kia vẫn còn bao nhiêu cụ già mụ mẫm ở tuổi chín mươi vẫn chưa
nghĩ thông, vẫn mải mê đầu tư mua bán, vẫn bôn ba ngược xuôi vì danh vì lợi. Ít
nhất thì cô cũng đã khai ngộ rồi.
Muôn vàn sự vật trên thế gian vốn dĩ đều thuộc về "Vô
Tướng" (không có hình tướng cố định, không thể nắm bắt). Nhưng chính vì
cái "Tình" sâu nặng của chốn nhân gian đã nhào nặn và sinh khởi ra vạn
sự vạn tượng. Do con người quá nặng lòng với chữ Tình, nên mới huyễn hóa ra bao
nhiêu chuyện chấp trước vào hình tướng. Lấy một ví dụ đơn giản: Có nhiều người
đối tốt với bạn, bạn liền vương vấn không buông; nhiều người ngã bệnh, được người
khác chăm sóc tỉ mỉ thì trong lòng lại thấy vô cùng áy náy. Tại sao vậy? Vì họ
luôn nơm nớp nghĩ cách phải trả cái "Nợ Tình" ấy. Có những người như
thế không? Đó là người tốt, nhưng tại sao lại bị vướng mắc vào hình tướng? Tại
sao lại bận lòng về những việc này? Bởi vì bạn đang dùng cái Tình của thế gian
để nhào nặn ra vạn tượng, nên chắc chắn sẽ nảy sinh chấp trước. Do đó, tình cảm
không được đem ra sử dụng bừa bãi, chính là vì đạo lý này.
Người học Phật gặp nhau chỉ chào "A Di Đà Phật",
không màng chuyện phiếm, nhìn qua tưởng chừng như rất lạnh nhạt, nhưng thực ra
không phải vậy. Giữa người với người có gì đáng để xôn xao bàn tán đâu? Bởi vì
kiếp này chúng ta ai nấy đều chỉ là kẻ qua đường; bạn đối xử quá vương vấn với
họ, bạn sẽ bị một sợi dây vô hình của họ trói chặt lấy. Sư phụ dặn các vị giữa
bạn đạo với nhau đừng nên thân thiết quá mức. Tại sao Sư phụ lại nghiêm khắc với
những đứa trẻ như các vị? Là vì không muốn các vị cảm thấy Sư phụ quá nuông chiều
mình. Bởi chỉ cần Sư phụ đối tốt một chút, các vị sẽ lập tức nghĩ Sư phụ tuyệt
vời biết bao, rồi vương vấn để Sư phụ trong lòng. Bây giờ số người để Sư phụ
trong lòng há chẳng phải quá nhiều rồi sao? Đối xử tốt với các vị quá, các vị lại
bắt đầu đem cái Tình ấy treo lơ lửng trong tâm. Thế nên, không chỉ đối với Sư
phụ, mà ngay cả với cha mẹ ruột của mình, các vị cũng phải giữ một khoảng cách
nhất định. Đó đều là thứ Tình chốn nhân gian, không thể mang theo khi nhắm mắt
xuôi tay, thuộc về thứ Tình giả tạm. Không phải nói tình cảm bạn dành cho họ là
dối trá, mà là những ân tình ở cõi đời này đều chỉ mang tính tạm thời, chẳng thể
trường tồn vĩnh cửu, nên gọi là "Giả Tình".
Chuyến hành trình của đời người đi từ “Chưa Có” đến “Có”, rồi
cuối cùng lại từ “Có” trở về “Không”, sinh mệnh ngắn ngủi cứ thế mà khép lại.
Có con cái, có nhà cửa, có xe sang, có công danh, rồi sinh ra bệnh tật; đến tuổi
xế chiều thì xốp xương, cao huyết áp; cuối cùng chỉ còn lại một tấm ảnh treo
trên bức tường lạnh ngắt. Lúc đó còn muốn sở hữu gì nữa? Còn gì mà nghĩ không
thông? Một kiếp sống ngắn ngủi, có người chỉ muốn một thời hô mưa gọi gió, hiện
thực hóa ước mơ cao sang của mình: "Tôi là dân văn phòng cổ cồn trắng, tôi
làm việc cho tập đoàn nước ngoài!" Thế rồi công ty phá sản, hoặc bạn bị sa
thải, chẳng phải mọi thứ chỉ là thoáng qua như mây khói sao? Theo đuổi những thứ
đó để làm gì? Có rồi lại không, không rồi lại có; lần tới tìm được việc lại có
lại. Sinh mệnh vốn dĩ rất ngắn ngủi, có đúng vậy không?
Có những người cả đời bị phiền não bám riết không rời, chẳng
có tài sản gì, chỉ duy nhất phiền não là đong đầy. Hết tiền thì tự nhiên phiền
não; mất việc thì dĩ nhiên phiền não; không sinh được con thì trăn trở phiền
não; sinh được con rồi thì phiền não lại gấp bội phần. Thế nên cả đời đành làm
bạn với phiền não, phiền não còn gắn bó với họ hơn cả người vợ chung giường.
Nhiều người không lập gia đình nhưng thực ra chẳng hề cô đơn, vì luôn có phiền
não túc trực bên cạnh. Phiền não bám riết, cả đời chẳng được như ý nguyện, cuối
cùng mang theo nỗi ôm hận ngàn thu mà rời bỏ cõi đời — đó là vinh hay là tủi?
Có gì mà vinh quang, có gì mà nhục nhã? Một đời người chẳng phải quay đi quay lại
cũng chỉ có vậy sao? Ai mà chưa từng làm việc gian khổ? Ai mà chưa từng nếm trải
thăng trầm? Dù vinh hay tủi, khi nhắm mắt buông tay, kiếp sống ngắn ngủi khép lại,
vạn sự đều hoá thành hư không. Bạn là ai, và ai là bạn? Trước khi cất tiếng
khóc chào đời, bạn chẳng biết mình là ai; sau khi nhắm mắt xuôi tay, bạn cũng
chẳng rõ mình đi về đâu, vậy thì còn giữ cái sĩ diện hảo đó làm gì? Phải hiểu rằng:
Cố chấp giữ sĩ diện thì cả đời phải chịu khổ đau!
Dù là phúc báu hay bần tiện, nhân duyên quả báo chẳng sai lệch
một li. Kiếp này bạn có phúc khí, bạn có những điều tốt đẹp lẫn những điều chưa
như ý, tất cả đều là nhân duyên quả báo của chính bạn, trách được ai đây? Bồ
Tát lẽ nào lại làm sai chuyện? Nhân duyên quả báo thảy đều do con người tự chuốc
lấy. Ngày ngày Sư phụ tắm rửa tâm hồn cho các vị, giúp đầu óc các vị được trong
sạch. Con người phải biết nhìn đời như một giấc mộng. Chúng ta bắt buộc phải hiểu
rằng sống trên đời này chẳng khác nào đang nằm mơ. Giấc mộng ngày hôm qua của
các vị đã làm xong chưa? Các vị đã tỉnh mộng chưa? Rất nhiều người vẫn đang
chìm đắm trong giấc mộng Hoàng Lương của riêng mình. Bởi vậy, hãy dùng một trái
tim thuần khiết để đứng cao hơn những dục vọng và tập khí của bản thân.
Dục vọng kéo đến thì phải làm sao? Trái tim thuần khiết sẽ tự
động ngăn chặn nó. Ví dụ: Tôi rất muốn mua món đồ này, nhưng trái tim thuần khiết
sẽ lên tiếng: "Làm người phải biết tiết chế, nên sống giản dị, không nên
nuôi dưỡng lòng tham này. Mình có chiếc tivi 30 inch xem là tốt lắm rồi, việc
gì phải đua đòi mua tivi 60 inch?" Có đúng không? Nhìn thấy vợ người ta
xinh đẹp, mắt cứ đăm đăm dòm ngó rồi đầu óc nghĩ ngợi lung tung; lúc đó trái
tim thuần khiết sẽ lập tức thức tỉnh: "Mình đã có một người vợ rồi, thế là
đủ rồi, sao lại còn tham lam? Vợ mình tuy nhan sắc bình thường nhưng cô ấy rất
thuần khiết, lương tâm rất tốt. Bây giờ cô ấy có hơi mập mạp, nhưng thời trẻ cô
ấy cũng từng rất mảnh mai mà!" Cứ như thế, bạn đã dùng trái tim thuần khiết
để khắc chế những dục vọng trần tục.
Con người không thể sống theo dục vọng, bởi vì tham vọng của
con người là giếng sâu không đáy. Một kẻ sống theo dục vọng sẽ luôn phải chịu sự
giày vò đau đớn. Hãy nhìn những kẻ giàu có ngoài kia mà xem, có bao giờ họ tự
nhận rằng tiền của mình đã đủ rồi, mình đã quá giàu rồi không? Họ có bao giờ
than rằng tiền tiêu không hết không? Không bao giờ! Họ sẽ mãi mãi kêu than rằng
mình vẫn còn thiếu tiền. Thế nên, khi dục vọng nảy sinh, hãy để nó nhẹ nhàng
tan biến như làn mây xanh, như mây trắng trên tầng không từ từ trôi đi; hãy coi
nhẹ mọi dục vọng, giữ tâm bình thản vô sự. "Tôi muốn mua một món đồ, tôi cứ
phải đòi mua đồ tốt nhất!" — Mua được đồ hiệu rồi vẫn chưa vừa lòng, phải
đòi đồ hiệu trong các loại đồ hiệu cơ! Nói trắng ra, quần áo xa xỉ đến mấy mà
khoác lên người một số kẻ không có tu dưỡng thì nhìn chẳng khác nào đồ mua
ngoài chợ trời. Ngược lại, một người ăn mặc sạch sẽ, phong thái đĩnh đạc, dù chỉ
khoác lên mình bộ quần áo bình dị, người ta vẫn nghĩ đó là hàng hiệu đắt tiền —
đó chính là sự bộc lộ của khí chất nội tâm!
Sư phụ bảo các vị, sống ở thế gian này, phải "Bề ngoài
sống giữa lòng đời, nhưng tâm trí luôn trụ ở cõi Phật”. Các vị phải nhìn thấy
thế giới này thực sự có cõi Bồ Tát tồn tại, đừng lầm tưởng rằng phải chết đi rồi
mới đến được cõi Phật. Ngay lúc này, khi đang ở nhân gian, các vị có thể sống
như ở cõi Phật được không? Hoàn toàn được chứ! Rất nhiều người cả đời chỉ làm
việc thiện, không làm việc ác; cả đời tu tâm, tích đức, làm việc lành, rộng độ
chúng sinh có duyên, ăn chay, niệm kinh, tu tâm, thiền định — người đó chẳng phải
là vị Phật sống giữa nhân gian sao? Môi trường mà người đó đang sống chẳng phải
chính là Phật đạo sao? Đừng đợi đến lúc lâm chung mới thều thào: "Con muốn
về cõi Phật, con muốn về cõi Bồ Tát!" Ngay từ bây giờ, khi đang ở chốn
nhân gian, bạn phải tìm thấy con đường Bồ Tát, hạ mức dục vọng của mình xuống mức
thấp nhất — tức là chỉ cần có một cuộc sống cơ bản được bảo đảm là đủ: có ăn,
có ngủ, không chết đói; cần chi phải vinh hoa phú quý? Hãy để bản thân cảm nhận
được Phật pháp như dòng nước cam lồ rưới xuống đỉnh đầu, để rồi bừng tỉnh đại
ngộ, chớp mắt giác ngộ và khai ngộ hoàn toàn.
17. Học Phật cần diệu pháp và thiện tâm
Sư phụ nói, con người rất đáng thương, và lại vô cùng khiếm
khuyết bất toàn. Con người có đôi mắt nhưng không nhìn ra ai là người tốt, ai
là kẻ xấu; có mũi nhưng không phân biệt được đâu là mùi thơm, đâu là mùi hôi thối;
có cái miệng nhưng không biết thốt ra những lời hay ý đẹp, chỉ chực châm ngòi
ly gián; có đôi tai nhưng không biết nên nghe lời hay hay lời xấu. Bồ Tát dạy rằng,
tất thảy những khổ nạn của con người đều do chính Mắt - Tai - Mũi - Lưỡi - Thân
- Ý của mình tự tác tạo nên. Khổ đau của con người là do tự mình rước lấy! Do
đó, nếu con người muốn thoát khỏi khổ nạn, bắt buộc phải siêu thoát triệt để khỏi
những phiền não và vô minh của thế gian.
Và những vô minh đó sinh ra là do bạn dùng đôi mắt thịt để
nhìn, chứ không dùng "Đôi mắt của tâm" để quán chiếu; bạn dùng đôi
tai thịt để nghe, chứ không dùng "Đôi tai của tâm" để lắng nghe; bạn
dùng cái miệng để thốt ra bao điều, nhưng không dùng "Chân tâm" để
nói — những lời bạn thốt ra toàn là dối trá, hư không, là vọng ngữ, khiến bạn
ngày càng xa lạ với chính mình và tự làm tổn thương bản thân. Bởi vậy, Quán Thế
Âm Bồ Tát rất xót xa: Tại sao con người lại gặp nhiều tai nạn thử thách đến thế?
Chính là vì con người tự tạo ra chướng ngại trói buộc mình, tự tay hại chết
chính mình.
Chúng ta học tập Phật pháp, bất luận là thuộc pháp môn nào,
cũng đều phải dùng tâm để tu tập. Nghĩa là học Phật học Pháp bạn bắt buộc phải
dùng Chân Tâm để học; nếu không thể dùng tâm để học, bạn sẽ rất khó tu thành Phật.
Ở chốn nhân gian, các vị phải nương tựa, gần gũi Sư phụ, gần gũi các bậc thiện
tri thức và tất cả những ai có thể chỉ dẫn cho cuộc sống của các vị. Bởi vì
chúng ta rất đáng thương, không có ai rèn giũa khuyên bảo, chúng ta không biết ở
cõi đời này phải làm người ra sao cho đúng đắn. Khi còn là đứa trẻ, chúng ta
chưa từng trải qua kiếp người lớn; khi trưởng thành, chúng ta chưa từng trải
qua tuổi già; từ nhỏ chúng ta đã chẳng phân biệt được thế nào là người tốt, thế
nào là kẻ xấu — tất cả những điều đó đều là vô minh.
Bởi vì chúng ta không hiểu biết, chúng ta không biết cách
làm sao để gần gũi thiện tri thức. Ở trường học, thầy cô giáo chính là thiện
tri thức của chúng ta; cha mẹ sinh thành ra ta cũng là thiện tri thức của ta;
trong số bạn bè, những người hay đưa ra lời khuyên tốt lành cũng là thiện tri
thức của ta; còn những đứa bạn suốt ngày rủ rê làm điều xằng bậy, đó chính là
ác duyên của bạn.
Người học Phật trước tiên phải tu khẩu đức. Khẩu đức vô cùng
quan trọng! Cái miệng có thể phơi bày toàn bộ tư tưởng, tư duy và tất cả những
gì cất giấu trong tâm bạn. Nếu một người không thể tu tốt cái miệng của mình,
khẩu đức vẩn đục, thì dù bề ngoài hay lời nói của người đó có trau chuốt đến mấy,
tư duy trong tâm kẻ đó chắc chắn là chưa hề tu tập. Rất nhiều người bước ra đường
ăn mặc chải chuốt đạo mạo, tự cho mình là cao sang quý phái, nhưng vừa mở miệng
ra thốt lời, hình ảnh quý phái đó lập tức trở nên vô cùng thấp kém. Vì thế, muốn
giữ được hình tượng của tâm, trước tiên bạn phải tu khẩu đức. Tích đức qua cái
miệng là việc cực kỳ quan trọng: nói lời tốt đẹp cho người khác chính là tích đức,
buông lời gièm pha hại người chính là tổn đức.
Một yếu tố quan trọng nhất để tích khẩu đức chính là không
được dối trá. Một kẻ sống giả dối thì hình tượng trong tâm kẻ đó chắc chắn sẽ bị
hủy hoại; dù có giả vờ thật thà đến mấy thì chân tướng vẫn là giả dối, nhân
cách sẽ trở nên hèn hạ. Do đó, ý niệm và tâm thái của bạn tuyệt đối không được giả
dối. Nếu hôm nay điều bạn nghĩ là giả dối, tâm bạn đã hóa dối trá rồi; nếu tâm
thái của bạn mang tính gượng ép giả tạo, tâm bạn sẽ rất nhanh biến thành
"Giả tâm", rồi dẫn đến "Giả ý" — Giả tâm và Giả ý luôn đi
liền với nhau, nên người đời mới hay nói "Giả tâm giả ý".
Phải "Dùng tâm chân thật để tu hành”. Nghĩa là hôm nay
hễ học Phật, việc gì nói thật được thì tôi nói thật, tuyệt đối không nói lời dối
trá; sự giả dối nhờ đó mà rời xa tôi, sự chân thật sẽ ngự trị trong tôi. Tại
sao lại phải nói dối? Chính là vì trong tâm bạn không có thứ chân thật! Hôm nay
bạn đừng sợ làm đắc tội với người khác, đừng sợ có chuyện gì xảy ra; bởi vì bạn
mang Chân Tâm Chân Ý, bạn sẽ nhận lại sự hồi đáp bằng Chân Tâm. Còn nếu có kẻ
nghĩ rằng có thể dùng Giả Tâm Giả Ý để đổi lấy Chân Tình chốn nhân gian, thì bạn
đã lầm to rồi — bạn sẽ vĩnh viễn không bao giờ có được chân tình! Làm người hay
học Phật đều chung một đạo lý: bắt buộc phải Thực tâm thực tu (thật tâm tu hành),
dùng cái tâm chân thành tu sửa từng hành vi, có như thế bạn mới đạt được sự
chân tu. Sư phụ bảo các vị, việc thực tâm tu hành là vô cùng quan trọng.
Phải hiểu thế nào là "Ngoại quán chúng pháp".
Nghĩa là nhìn từ bên ngoài, bạn trông giống như một chúng sinh, lại vừa là một
người đang học Phật học Pháp, sở hữu mọi tâm pháp của chúng sinh. Dù bề ngoài bạn
trông giống như một người ngoại quán chúng pháp — "Ôi chào anh, A Di Đà Phật..."
— nhưng điều đó vẫn không thể sánh bằng "Tự quán tự tâm". Tự quán tự
tâm nghĩa là chính bạn phải tự nhìn thấu trái tim mình: bạn thực sự là người tốt
hay là kẻ xấu? Trong lòng bạn phải tự biết rõ chứ! Học Phật bao lâu nay mà ngay
cả bản thân bạn cũng không dám nhận mình là người tốt, thì sao bạn có thể trở
thành người tốt được? Hãy tự quán chiếu tâm mình! Bạn phải tự soi lại lương tâm
của chính mình, chỉ nhìn cái vỏ bề ngoài thì chẳng có tác dụng gì. Phải hiểu rằng,
người có thể tự soi rọi, tự thấu tỏ và hiểu rõ bản thân chính là người sở hữu
trí tuệ.
Thế nên, rất nhiều người biết tự lượng sức mình: việc này nằm
trong khả năng, họ mới nhận lời làm; việc này vượt quá tầm tay, họ dứt khoát
không ôm đùm, nhờ đó mà không bao giờ phạm sai lầm. Nhưng lại có những kẻ, nói
theo ngôn ngữ hiện đại là "không biết mình đang ăn mấy bát cơm", cứ
ôm đùm nhận việc rồi chắc chắn làm hỏng chuyện, sau đó lại bày ra vô vàn lý do
bào chữa, cuối cùng bị người khác khinh miệt. Đó là vì kẻ đó không sở hữu bản
tính nội tâm, không thể tự nhìn thấy hành vi và tâm trí của chính mình.
Sư phụ giảng đến đây, đột nhiên nghĩ đến mỗi ngày có biết
bao nhiêu người lặng lẽ làm rất nhiều việc thiện. Vừa rồi tiếng chuông điện thoại
ngoài cửa reo lên, Sư phụ liền nhớ đến một vị đồng tu. Đáng lẽ Sư phụ nên mời
cô ấy vào trong này ngồi nghe giảng để nhận được nhiều trường khí của Sư phụ,
nhưng cô ấy lại nhận nhiệm vụ gác cổng trực bàn tiếp tân cho mọi người. Lại như
mỗi thứ Bảy hàng tuần, trong buổi giao lưu, có một cụ bà tóc xoăn ngồi ngay
hàng ghế đầu; năm nay cụ đã tám mươi lăm tuổi rồi, các vị chắc chẳng ai nhìn ra
đâu nhỉ? Cụ nói mỗi lần ngồi phía trước nghe Sư phụ giảng bài là toàn thân cụ ấm
rực lên; cụ bảo tuần nào không đến nghe giảng là người lại đau ốm, khó chịu. Từ
lúc Đoàn Thanh niên các vị bước vào nghe giảng cho tới giờ, vị đồng tu gác cổng
kia lần nào cũng ở bên ngoài giúp nghe điện thoại. Cô ấy đã từng thốt ra một lời
than phiền nào chưa? Đã từng cằn nhằn câu nào chưa? Hãy nhìn xem người ta đang
thực sự dùng Chân Tâm để cống hiến hy sinh! Nếu các vị không chịu vào nghe giảng,
lập tức sẽ có người không vui. Thử nghĩ xem, so với những con người bình dị ấy,
chúng ta chẳng lẽ lại còn tầm thường hơn họ sao?
Phải biết cảm ân! Hôm nay chúng ta có thể ngồi ở đây nghe giảng
bài, phải cảm ân Quán Thế Âm Bồ Tát, phải cảm ân rất nhiều người đã lặng lẽ tạo
điều kiện cho chúng ta có được cơ hội này — họ đã phải vất vả biết bao nhiêu!
Sư phụ bảo các vị, đạo làm người là vô cùng quan trọng: Tâm
với tâm phải thanh tịnh. Giữa người với người, tâm và tâm phải tương ứng —
nghĩa là tôi hiểu bạn, bạn hiểu tôi — như thế mối quan hệ mới có thể bền lâu.
Cùng một đạo lý đó, hôm nay bạn đối với Quán Thế Âm Bồ Tát và tất thảy chư Phật
Bồ Tát tâm tâm tương ứng: bạn hiểu Quán Thế Âm Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát thấu
hiểu bạn, chẳng phải bạn đã trở thành Quán Thế Âm Bồ Tát rồi sao? Con người
không hiểu nổi chính mình là vì chưa thấu thị triệt để về nhân sinh; khi bạn từng
bước tiến lại gần Bồ Tát, bạn sẽ dần dần thấu hiểu bản thân, biết thế nào gọi
là tu vì. Bởi vậy, chúng ta và Bồ Tát phải tâm tâm tương ứng, Quán Thế Âm Bồ
Tát nghĩ điều gì, chúng ta cũng phải nghĩ điều đó. Quán Thế Âm Bồ Tát nghĩ điều
gì? Nghĩa là từ bi với chúng sinh, rộng độ người có duyên! Chúng ta phải tâm niệm
rằng mình cũng phải từ bi với tất thảy mọi người. Nếu hôm nay trong lòng bạn vẫn
còn ôm ghen hận một ai đó, chứng tỏ bạn vẫn chưa từ bi, chứng tỏ bạn còn cách cảnh
giới của Quán Thế Âm Bồ Tát xa thăm thẳm! Nhìn thấy người ngoài thì không muốn
độ, nhìn thấy người nhà mới sốt sắng muốn độ — đó mà gọi là "rộng độ người
có duyên" sao? Thử suy ngẫm và so sánh xem, có phải bạn còn cách Bồ Tát rất
xa không? Chúng ta học Phật là phải tiến lại gần Phật, có gần Phật thì mới có
thể thành Phật!
18. Tương ứng Phật tâm, gột sạch bụi tâm
Người học Phật phải biết tiến lại gần Phật thì mới có thể
thành Phật. Thành Phật không phải bằng cái miệng chém gió bốc phét; chỉ nói
suông bằng miệng thì vô ích. Sư phụ bảo các vị, tâm của các vị phải tâm tâm
tương ứng với tâm của Bồ Tát. "Ứng" là gì? Mọi người đều biết đóng
con dấu: con dấu ấn vào lòng bạn, để lại một dấu ấn. Hôm nay tâm từ bi của Quán
Thế Âm Bồ Tát đã khắc sâu vào lòng tôi, tôi đối với ai cũng phải từ bi, tuyệt đối
không được ôm hận. Sư phụ bảo các vị, nếu thân thể bạn xa rời Phật, tâm bạn sẽ
cách Phật rất xa; nếu thân thể bạn tiến lại gần Phật — nghĩa là hành vi của bạn
giống như Phật — thì tâm bạn sẽ dán chặt vào Phật. Nếu bạn động một chút là
nhíu mày nhăn mặt, suốt ngày nhìn người khác không vừa mắt, mở miệng ra là muốn
chửi người, thấy ai cũng bới móc điểm xấu, thì bạn đang xa rời Phật. Dáng vẻ của
bạn chẳng giống Phật một tẹo nào, huống hồ là chuyện thành Phật!
Do đó, người học Phật phải hiểu thế nào là Thân cận Tâm cận
(Thân gần thì Tâm gần). Thân thể tiến lại gần Bồ Tát, tâm bạn sẽ dán chặt vào Bồ
Tát. Thân viễn Tâm viễn — Hôm nay thân thể bạn không chịu đi bái Phật, không chịu
lễ Phật, thân thể xa rời Bồ Tát thì tâm bạn cũng sẽ dần dần rời xa Bồ Tát. Thân
cận Tâm viễn — Tuy bạn đang dập đầu, tuy bạn đang quỳ trước bàn thờ Bồ Tát ở
Quan Âm Đường, nhưng tâm bạn không dâng trọn sự thành kính, tâm bạn vẫn còn rất
xa — đó gọi là thân gần mà tâm xa, như thế cũng hoàn toàn vô ích!
Học Phật phải trải qua Văn - Tư - Tu (Nghe Phật pháp - Suy
ngẫm Phật đạo - Tu chứng Phật quả). Phải biết tu tập! Sau khi nghe thấy Phật
pháp, phải biết ứng dụng vào trong tư duy và hành vi để tu sửa bản thân, có như
thế bạn mới tu thành công — nên mới gọi là Văn Tư Tu. Khi bạn đã thực hành Văn
Tư Tu rồi, bạn sẽ tương ứng với Bồ Đề Tâm (Tâm Bồ Đề chính là tâm của Bồ Tát).
Do đó, muốn có được trí tuệ, trước tiên bạn phải tiến lại gần trí tuệ. Hôm nay
bạn bảo: "Tôi muốn có trí tuệ", nhưng bạn lại quay lưng rời xa trí tuệ,
thì làm sao bạn có được trí tuệ đây? Lấy một ví dụ đơn giản: Hôm nay tôi muốn học
Phật, nhưng Bạch Thoại Phật Pháp tôi không buồn đọc, kinh chú tôi không buồn niệm,
thì làm sao bạn tiếp cận được Phật pháp, làm sao có được Phật pháp đây? Nếu hôm
nay bạn muốn trở nên thông minh, ít nhất cũng phải tìm vài người bạn thông minh
để ở cùng, cùng nhau trò chuyện, trao đổi. Hôm nay bạn muốn đánh cờ tướng giỏi,
ít nhất bạn đâu tìm những người chơi kém để đánh cờ, bạn phải tìm các cao thủ
mà giao đấu thì mới tiến bộ được chứ! Hôm nay bạn muốn sở hữu trí tuệ, xin hỏi
trí tuệ từ đâu mà ra? Từ chư Phật Bồ Tát mà ra! Vậy bạn phải tiến lại gần Phật
thì mới sở hữu được trí tuệ.
Muốn có trí tuệ, trước tiên phải tiến lại gần trí tuệ; muốn
có ánh sáng, trước tiên phải thân cận với ánh sáng! Nếu bạn muốn có được trí tuệ
và công đức, trước tiên bạn phải học được sự lý trí, trầm tĩnh và chánh tư duy
chốn nhân gian, có như thế bạn mới có được trí tuệ. Bởi vì một người sống có lý
trí sẽ không bao giờ làm sai chuyện ở đời; sự trầm tĩnh giúp bạn vượt qua mọi
tai kiếp; chánh tư duy sẽ dẫn dắt cuộc đời bạn luôn hướng về phía trước — như
thế là bạn đã sở hữu trí tuệ rồi.
Còn công đức thì sao? Công đức của bạn thực ra chính là lấy
"Chư thiện phụng hành" (Làm mọi việc thiện) làm đầu. Khi tôi chưa hiểu
công đức là gì, tôi chỉ biết rằng mọi việc thiện tôi đều cố gắng làm, mọi việc
ác tôi dứt khoát không làm; lâu dần, tất cả những việc thiện bạn làm sẽ tự động
chuyển hóa thành công đức. Bởi vì công đức là sự vượt lên trên cái Tôi (vượt
qua bản ngã), công đức là vì chúng sinh mà nghĩ, vì chúng sinh mà làm. Hôm nay
việc thiện này tôi làm vì bản thân, làm vì người nhà, đó chỉ gọi là Việc Thiện;
còn khi tôi Vô tướng bố thí, tôi trao đi tình yêu thương không chút tư tâm, đó
mới gọi là Công Đức! Quán Thế Âm Bồ Tát vĩ đại chính là nhờ tâm từ bi của Ngài,
vì từ bi của Ngài là Đại Ái (tình yêu thương bao la); Ngài không chỉ từ bi với
riêng một ai, mà Ngài từ bi với tất thảy chúng sinh — cho nên từ bi của Ngài mới
là công đức!
Bản tính con người vốn sẵn có Như Lai Tạng. Nghĩa là trong bản
tính của con người vốn dĩ đã có Bồ Tát ẩn chứa bên trong, nên bản tính con người
vốn rất thiện lương. Đứa trẻ vừa mới lọt lòng, nó có biết giết người phóng hỏa
không? Có biết ăn trộm ăn cắp không? Có biết nói dối vọng ngữ không? Tất cả những
điều đó chứng tỏ bản tính của đứa trẻ đã sở hữu Như Lai Tạng — Như Lai Tạng
chính là Bồ Tát, nghe hiểu không?
Phải hiểu rằng, "Nhân tính hiển Pháp tính" là sao?
Nghĩa là người có nhân tính sẽ hiển lộ Pháp tính. Nếu một người được khen là
"rất có nhân tính", thì người đó chắc chắn sẽ không giết người phóng
hỏa, hãm hại người lành; do đó người đó sẽ sở hữu Pháp tính. Đó gọi là nhân
tính hiển pháp tính. Có Pháp tính rồi mới có Bình đẳng tính; bởi vì bạn là người
học Phật, bạn có Pháp tính thì mới có tính bình đẳng. Thế nên nhiều đứa trẻ từ
nhỏ đã biết chia sẻ: "Con ăn một quả lê, con chia cho anh một quả; con ăn
quả táo, con chia cho anh và mẹ một quả" — đó chính là do bản tính vốn có
của con người. Tại sao càng lớn con người lại càng tham lam, chỉ biết "Tôi
muốn! Tôi muốn nhiều hơn nữa!", mà không biết người khác cũng cần? Đó là vì
Pháp tính bộc lộ của bạn đã biến mất, bản tính Như Lai Tạng của bạn đã bị mây mờ
che khuất, nên bạn chỉ biết vì bản thân, vĩnh viễn không biết vì chúng sinh!
Sư phụ bảo các vị, thân cận Bồ Tát mới biết cái Gốc (Căn bản).
Ngày ngày bạn ở gần Bồ Tát, bạn sẽ biết cái "Gốc" của mình là gì, cái
"Căn bản" của mình nằm ở đâu. Bởi vì bạn ở gần Bồ Tát, tâm và trí tuệ
của bạn sẽ tương ứng với Bồ Tát. Bồ Tát trí tuệ biết nhường nào! Sư phụ đem một
câu Phật ngôn Phật ngữ nói cho một người ở Melbourne nghe, anh ta đi mua nhà liền
tiết kiệm được bốn mươi nghìn đô! Bồ Tát dạy: Cái gì là của bạn thì sẽ là của bạn,
cái gì không phải của bạn thì đừng cố gượng cầu. Anh ta rất thích căn nhà đó,
nhưng chủ nhà cứ nhất quyết đòi tăng giá thêm bốn mươi nghìn. Chính nhờ đọc được
câu nói này của Bồ Tát trong cuốn Bạch Thoại Phật Pháp của Sư phụ, anh ta liền
nhẩm trong lòng: "Căn nhà này nếu là của mình thì cuối cùng sẽ thuộc về
mình; không phải của mình thì tôi cũng không cần nữa." Rốt cuộc căn nhà
không có người mua nào khác, chủ nhà đành phải hạ giá bốn mươi nghìn đô để bán
lại cho anh ta — đó chính là trí tuệ của Phật! Bởi vậy, thường xuyên sống cùng
trí tuệ của Phật Bồ Tát, bạn sẽ ngày càng trở nên trí tuệ.
Tương ứng tâm tự nhiên — Chỉ cần cái tâm của một người có thể
tương ứng với tâm của Bồ Tát, tâm bạn sẽ rất tự nhiên sống vô ưu vô lự giữa đại
dương trí tuệ của thế gian này. Bạn không còn gượng ép, không còn đau khổ khi
phải làm một việc gì đó; bởi vì bạn biết rằng bất luận việc này có thuộc về bạn
hay không, tất thảy đều thuận theo tùy duyên. Do đó tâm bạn sẽ trở nên vô cùng
tự nhiên. Tâm tự nhiên thì Đạo hóa tự nhiên — Học Phật, học Đạo, con đường của
Phật bạn cũng sẽ tự nhiên mà bước tiếp. Tâm bạn nghĩ không thông, rất nhiều con
đường bạn sẽ không thể đi tiếp. Tại sao nhiều người học đến nửa chừng lại bỏ cuộc?
Bạn cứ đi hỏi họ mà xem, tất cả những kẻ thối chuyển bỏ học đều thốt ra một
câu: "Tôi nghĩ không thông!" Đã biết mình nghĩ không thông rồi mà lại
còn rời xa Phật Bồ Tát, như thế sẽ càng nghĩ không thông hơn! Người nghĩ thông
mới tìm đến học Phật, kẻ nghĩ không thông lại bỏ đi; kẻ bỏ đi chẳng phải ngày
càng xa rời Phật sao? Nghĩ không thông nên không học Phật nữa, vậy bạn lấy
phương pháp gì để nghĩ cho thông đây?
Phải hiểu rằng, tương ứng tâm tự nhiên có thể tận trừ bụi tâm
(gột sạch vết bẩn trong tâm). Bởi vì tâm bạn đã tự nhiên rồi, thì vết bẩn trong
tâm bạn sẽ từ từ bị đánh tan. "Tôi nghĩ không thông, tôi hận người đó, tôi
đau khổ, tôi đố kỵ với người đó, nhìn thấy người đó là tôi ghét!" — Thử
nghĩ xem, loại người này có trí tuệ không? Bạn nhìn thấy người ta là thấy tởm lợm,
vậy trong lòng bạn có vết bẩn không? Bởi vì bạn ghét bỏ người đó, nên thực chất
sự ghét bỏ đó đã ngự trị ngay trong lòng bạn rồi, đúng không? Nếu tôi nhìn ai
cũng không thấy ghét, thì trong lòng tôi lấy đâu ra sự ghét bỏ? Bạn nhìn ai
cũng thấy yêu thương, thì trong lòng lấy đâu ra sự chán ghét, tởm lợm? Bạn ghét
bỏ họ, bạn khinh bỉ họ, chẳng phải bạn đã mang thứ rác rưởi ghét bỏ đó cất vào
trong lòng mình sao? Vậy bạn nói xem, là bạn tởm lợm hay người ta tởm lợm? Bởi
vì bạn ghét họ nhưng họ đâu có biết, nên họ chẳng thấy ghét; còn chính bạn ghét
họ, lòng bạn dung chứa sự ghét bỏ, nên chính bạn mới trở thành người đáng ghét!
Cho nên, kẻ hay ghét bỏ người khác thì người đời cũng sẽ rất ghét bỏ kẻ đó — đó
gọi là quả báo! Bạn cứ đi ghét vợ mình đi, ghét chồng mình đi, cuối cùng người
ta chắc chắn sẽ ghét lại bạn. Bạn tưởng bạn là ai cơ chứ? Không biết trân trọng
thì sẽ mất đi — đó chính là trí tuệ của Phật!
Làm người phải biết thể hiện công đức trí tuệ của tự tánh —
nghĩa là thường xuyên đem công đức thể hiện trong tâm, chứ không phải ở vỏ bề
ngoài. Rất nhiều người thích phô trương công đức ra bên ngoài, suốt ngày làm ra
vẻ bận rộn tất bật, những kẻ đó công đức cực kỳ ít ỏi. Công đức thực sự phải được
đặt ở trong tâm; chúng ta làm công đức ở trong tâm là đủ rồi: Hôm nay tôi làm
việc thiện này, tôi có công đức rồi; tôi làm việc này tôi cảm thấy vô cùng hỷ lạc,
tôi giúp cho bao nhiêu người đọc được sách của Sư phụ, biết đến "Pháp Môn
Tâm Linh", biết đến "Ngôi Nhà Nhỏ" — niềm pháp hỷ trong tâm đó
chính là sự bộc lộ trí tuệ tâm linh của bạn!
Bởi vì bạn hiểu thế nào là công đức, nên bạn mới có trí tuệ.
Tôi biết việc tu hành này không phải vì bản thân, cũng không phải vì Bồ Tát, mà
là tôi đang tu sửa Bản Tính của chính mình. Tôi không tu vì cái "Tôi"
này, bởi vì cái "Tôi" này chỉ đại diện cho một kiếp sống hiện tại;
còn Bản Tính mà tôi đang tu sửa mới là cái Tôi vĩnh hằng qua muôn đời muôn kiếp,
chứ không phải một con người nào đó ở kiếp này. Lấy một ví dụ: Kiếp này bạn tên
là Trương San, kiếp trước bạn vốn tên là Trương Tứ, đúng không? Bạn đã hoàn
toàn quên mất Trương Tứ của quá khứ rồi, người đó là ai vậy? Không phải là bạn!
Mà Trương San của hiện tại cũng chẳng phải là bạn; trăm năm sau làm gì còn ai
tên Trương San nữa? Cho nên, tất cả những thứ kiếp này bạn tu luyện đều là giả
tạm, bởi vì cái tên này chỉ là do người đời tiện tay gán cho bạn; vài năm nữa bạn
không thích cái tên Trương San này nữa, bạn lại biến thành một người khác. Thế
nên bạn tu đi tu lại rốt cuộc cũng chỉ là tu cho một cái thân giả tạm mà thôi!
Người thực sự có trí tuệ sẽ tự bảo: "Tôi không tu cái Giả, tôi phải tu cái
Thật!" Cái Thật là gì? Chính là Linh Hồn chân thật của bạn — cái linh hồn
bất tử vĩnh viễn trôi lăn trong vòng luân hồi qua muôn đời muôn kiếp. Bạn tu sửa
cho linh hồn đó được trong sạch, giúp nó không còn phải luân hồi nữa — thế là bạn
đã tu thành công!
19. DÙNG TÂM XUẤT LY ĐỂ TU THẾ GIAN PHÁP
Sư phụ mong các vị phải thấu hiểu rằng: Phải tu công đức trí
tuệ của Tự Tánh. Nếu công đức chưa sinh, nếu bạn chưa có công đức, thì sau khi
học Phật, bạn có thể khiến công đức ấy sinh khởi; học Phật rồi phải để công đức
sinh khởi ngay trong tâm mình!
Một người đi lễ bái Bồ Tát, động cơ nhất định phải thuần
chính! Con người rất đáng thương, rất nhiều người không hiểu đạo lý: Nếu một
người đi bái Phật với động cơ không trong sạch, thì dù bạn có quỳ ở đó nửa ngày,
chẳng những không có chút công đức nào, mà còn chuốc thêm nghiệp chướng của
lòng tham dục.
Phát tâm lớn hay nhỏ sẽ ảnh hưởng đến mức độ công đức của bạn.
Muốn có nguyện lực lớn, công đức lớn, hãy cầu nguyện với Quán Thế Âm Bồ Tát rằng:
"Con xin Bồ Tát phù hộ cho tất cả mọi người thân thể đều được khỏe mạnh!"
Sư phụ hỏi bạn, "tất cả mọi người" có bao hàm cả bạn trong đó không?
Bạn thưa với Bồ Tát muốn cho tất cả mọi người đều tốt lành: Thứ nhất, chính bạn
đã nằm trong số đó rồi; thứ hai, bạn mong cho tất cả mọi người đều tốt, thì
công đức của tất cả mọi người đều hội tụ về nơi bạn, bởi vì bạn đang cầu nguyện
thay cho người khác! Bạn nói xem, cầu nguyện cho một mình bạn thì công đức và
năng lượng lớn hơn, hay cầu nguyện cho chúng sinh toàn thế giới thì công đức và
năng lượng lớn hơn? Đó chính là sự lớn nhỏ của phát tâm quyết định mức độ công
đức của bạn. Rất nhiều người không hiểu đạo lý này, các vị quá cần sự giúp đỡ
và chỉ dẫn của Sư phụ!
Phải thường xuyên bái Phật, bái ra được Tâm Xuất Ly, phải
luôn giữ chặt Tâm Xuất Ly! Tâm Xuất Ly là gì? Chính là tâm muốn rời xa cõi nhân
gian này — không phải bảo sinh mạng của các vị phải rời bỏ cõi đời, mà là để tư
duy của các vị rời khỏi những chuyện của cõi nhân gian! Khi có chuyện không
vui, tư duy lập tức "xoạch" một cái rứt khỏi nhân gian: "Mình
làm gì có chuyện không vui, bởi vì mình là Bồ Tát cơ mà!" Có đúng không?
Lấy một ví dụ đơn giản: Bạn đánh cờ tướng với con trai, vì bạn
đang chìm đắm trong bàn cờ đó, nên nếu thua trận, bạn sẽ thấy bực bội, không
thoát ra nổi. Vậy Tâm Xuất Ly là gì? Bạn đột nhiên ngộ ra: "Con trai mình
mà! Mình thua con trai mình chứng tỏ con mình thông minh, trí tuệ!" Thế là
bạn lập tức thoát khỏi lối tư duy hẹp hòi đó — chẳng phải bạn đã có Tâm Xuất Ly
rồi sao? Mọi bế tắc của chúng ta ở nhân gian, chỉ cần dùng Tâm Xuất Ly là lập tức
nghĩ thông suốt: "Mình là người tương lai sẽ thành Phật cơ mà, mình đang học
Bồ Tát, việc gì mình phải chi li tính toán ở chốn nhân gian này? Việc gì mình
phải làm khó nó? Chẳng lẽ mình là kẻ ngốc sao? Mình là vị Phật tương lai cơ mà,
sao lại nghĩ không thông? Nó nghĩ không thông thì nó còn phải luân hồi, việc gì
mình phải tệ bạc với nó?" Nghĩ như thế một phát là bạn nghĩ thông ngay, xuất
ly ngay, rời bỏ ngay!
Lấy thêm một ví dụ: Chúng ta mua sắm trong cuộc sống thực tế,
chúng ta thường có lúc bị người khác lấy phần lợi về mình. Bạn sẽ vì số tiền
mình trả thêm mà buồn bực, nghĩ không thông. Đột nhiên bạn nghĩ thông ra:
"Lần trước mình làm việc kia được người ta thối nhầm thêm tiền lẻ, lần đó
mình chiếm tiện nghi rồi, hôm nay bị người ta chiếm lợi một chút cũng coi như
đã cân bằng rồi, mình cũng chẳng thiệt thòi gì!" Bạn nghĩ như thế, nội tâm
tự điều chỉnh, thế là bạn nghĩ thông, xuất ly, rời bỏ được chuyện bế tắc đó,
đúng không? Nhân gian chỉ là nơi chúng ta tạm thời cư trú, nhất định phải rời
xa nó, đừng để những chuyện vụn vặt vơ vẩn của nhân gian kẹt chặt lấy tâm mình,
tự nhốt mình vào trong rồi không bước ra nổi.
Bái Phật giúp chúng ta luôn giữ được Tâm xuất ly, còn Lễ Phật
có thể giúp gột rửa đi những thế gian pháp dung tục. Thường xuyên học tập tâm từ
bi của Quán Thế Âm Bồ Tát, bạn có thể rời xa những thế gian pháp dung tục. Thế
gian pháp là gì? Ví dụ: Bạn tốt với người khác thì người khác tốt với bạn; bạn
ác với người khác thì mọi người sẽ ác với bạn. Bạn dùng giả tâm để tốt với người
khác, có thể bạn sẽ đổi lại được: hôm nay họ tốt với bạn, ngày mai họ tốt với bạn,
ngày kia họ vẫn tốt với bạn, đúng không? Mọi người đều tốt với bạn. Nhưng vì bạn
dùng giả tâm để tốt với người ta, nên bạn đã lừa gạt tất cả mọi người! Như thế
chẳng những bạn không thoát khỏi thế gian pháp, mà ngược lại bạn còn đang tạo
nghiệp! Bởi vì bạn đối xử với người ta bằng sự giả dối, bạn khiến người ta
thích mình, khiến người ta đối xử tốt với mình, chứ không phải bằng chân tâm — hành
vi đó đã là một lỗi lầm nghiêm trọng! Mọi người nghe có hiểu không?
Lấy ví dụ: Hai vợ chồng cứ giả dối qua ngày với nhau, giả đến
cuối cùng một ngày người chồng không chịu nổi nữa thốt lên: “Tôi đã nhìn thấu
cô từ lâu rồi. Bao nhiêu năm nay cô đối xử với tôi đều là giả dối!” Người vợ
đáp lại: "Thôi ông cũng đừng giả vờ nữa, ông đối với tôi là thật chắc?"
Thế là xong, ly hôn! Nhưng nếu bạn chân thành đối tốt với vợ, dù bạn có mắng cô
ấy, cô ấy vẫn biết bạn mang lòng chân thành — vợ chồng như vậy sẽ không dễ tan
vỡ. Do đó, đối với người khác phải chân thành, đối với bạn đạo phải chân tình,
đối với bạn bè phải chân ý — có như thế mới thoát khỏi thế gian pháp!
Học Phật chính là học làm người, chính là phải thoát khỏi tư
duy hẹp hòi của chốn nhân gian. Hôm nay tôi đến Quan Âm Đường, tôi hoàn toàn
thành tâm bái Quán Thế Âm Bồ Tát, hoàn toàn thành tâm làm người, tôi muốn rèn
giũa bản thân. Dù người ta có mắng tôi, nhổ bọt vào mặt tôi, tôi vẫn tự kiểm điểm
xem mình đã làm tròn đạo làm người hay chưa; bị người ta phê bình, tôi cảm thấy
mình cần phải nỗ lực hơn nữa. Tôi không có cái Tôi, tôi chỉ có Chúng Sinh — như
vậy bạn mới thực sự có được chính mình, đồng thời có được chúng sinh! Mọi người
nghe có hiểu không? Các vị đến Quan Âm Đường, làm việc giả tạo, hình thức thì
hoàn toàn vô ích! Hãy nhìn những kẻ ngoài xã hội kia xem, trên bàn nhậu tiếp
khách xun xòe, xưng huynh gọi đệ, gọi người này gọi người kia, nói chuyện với
nhau nghe thân thiết, tốt đẹp vô cùng; ăn xong bữa cơm một phát là quên sạch
bách! Có tác dụng gì không? Toàn là lãng phí thời gian! Rất nhiều người gặp
nhau thích đãi bôi: "Lâu quá không gặp, hôm nào nhất định tôi ghé thăm
anh!" Cứ chờ xem, đến bao giờ anh ta mới đến thăm bạn!
Phải biết rời xa những thế gian pháp dung tục. Ở chỗ Sư phụ
có một vị đệ tử, hễ nhìn thấy cửa phòng Sư phụ mở, nhìn thấy trong Quan Âm Đường
đông người, là cắm đầu vào làm việc cuồng nhiệt: hết bê bình hoa lại đi đổ rác;
nhưng đến khi Sư phụ vắng mặt, hoặc lúc Sư phụ không nhìn thấy, là ngồi bệt một
chỗ không thèm nhúc nhích! Thực ra, các vị làm công đức không cần phải làm cho
Sư phụ xem, bởi vì Bồ Tát đều nhìn thấy hết. Thử nghĩ xem, Sư phụ đâu phải là
lãnh đạo của các vị; Công đức tự mình có đó, không phải làm cho người khác xem
— các vị phải thấu hiểu những đạo lý này.
Vì danh văn lợi dưỡng (danh tiếng, lợi lộc) mà tìm đến gần Phật,
bái Phật, thì sẽ chẳng thu được lợi ích gì. Danh văn lợi dưỡng là gì? Nghĩa là vì
mưu cầu lợi ích mà tìm đến gần Phật, có điều cầu xin nơi Phật, thì người đó sẽ
không bao giờ có được thứ mình muốn. Rất nhiều người đến bái Phật chẳng qua là
muốn tìm một công việc; tìm được việc rồi là dừng bái Phật — đó chẳng phải vì danh
văn lợi dưỡng sao? Bồ Tát há lại ưa thích loại người này? Cầu an lạc, cầu tiêu
tai kéo dài tuổi thọ, thảy đều là cầu phước báo chốn nhân gian. Sự an lạc, con
người thực ra cũng không nên cầu, vì đó chỉ là thứ có được tạm thời; tiêu tai
kéo dài tuổi thọ cũng không nên cầu, tại sao? Bởi vì cái hạn bạn phải chịu thì
bạn không tiêu nổi; cái thọ bạn được hưởng thì bạn không kéo dài nổi. Giả sử bạn
kéo dài tuổi thọ đến 150 tuổi, sống thành một ông già quá mức, chỉ còn da bọc
xương, thì có tác dụng gì? Cho dù bạn sống đến 200 tuổi cũng hoàn toàn vô ích!
Sư phụ giảng ngày càng sâu sắc rồi, các vị đi theo Sư phụ học Phật học Pháp, thì
ngay cả những cái Pháp chốn nhân gian cũng đừng có đâm đầu vào cầu xin!
"Con cầu xin một đứa con" — Đứa con ấy sau này có chắc sẽ thuộc về bạn
không? Đứa trẻ thời nay bất hiếu, nghịch tử đánh chết cha mẹ có biết bao nhiêu
vụ? Nuôi dạy con cái bất hiếu, cuối cùng làm cha mẹ tức chết tươi — những chuyện
như thế há chẳng phải quá nhiều sao?
Phải hiểu rằng, người học Phật nên nắm bắt mức độ cầu nguyện
của mình ra sao cho chuẩn xác. "Con cầu an lạc là để phát dương truyền bá
Phật pháp; con muốn tiêu tai kéo dài tuổi thọ là để giúp cho nhiều người hơn nữa
đón nhận Phật pháp" — như thế là bạn đang tu xuất thế pháp! Những vị lớn
tuổi đang ngồi ở đây, từ nay trở đi, trước mặt Quán Thế Âm Bồ Tát phải thành
tâm cầu nguyện, không được thốt ra câu: "Quán Thế Âm Bồ Tát ơi, xin Ngài
cho con sống lâu thêm!" Người có cảnh giới cao sẽ không cầu cho bản thân,
mà chỉ cầu cho chúng sinh!
Tâm thái và động cơ của người học Phật nhất định phải ngay thẳng
(Chánh), thì những thứ tà mới không thể xâm nhập vào thân bạn. Vì vậy, tâm
chính thì ma sẽ không thể nhập thân! Trước đây Sư phụ có một người đệ tử, anh
ta làm sai sổ sách ở cơ quan; thế rồi một ngày bị phát hiện, anh ta liền cầu Bồ
Tát phù hộ cho mình không bị truy cứu. Dù chuyện đó đã êm đẹp trôi qua, nhưng
trong lòng anh ta vẫn để lại một vết sẹo. Thực chất, thứ anh ta cầu xin là
không bị truy cứu trách nhiệm trong cuộc sống thực tế, nhưng trong ý thức của
anh ta, cùng với những khía cạnh khác của cuộc sống, anh ta chắc chắn vẫn sẽ phải
chịu quả báo! Các vị vẫn chưa hiểu hết ý của Sư phụ đâu. Phải hiểu rằng: Chỉ cần
không gieo nhân này, bạn sẽ vĩnh viễn không có quả đó. Một khi đã gieo nhân
này, dù bạn muốn quả báo đến chậm một chút, nó vẫn sẽ trổ ra. Bạn muốn đào bỏ
quả ấy là điều hoàn toàn không thể; quả báo không thể tiêu trừ.
20. Hành điều Phật hành, học điều Phật học
Động cơ và mức độ phát tâm của người học Phật đều có sự khác
biệt, kết quả dẫn đến cũng hoàn toàn khác nhau. Hôm nay động cơ của tôi thuần
thiện, thì kết quả sự việc sẽ phát triển theo hướng thiện; hôm nay động cơ của
tôi không trong sạch, thì kết quả sự việc sẽ phát triển theo hướng tồi tệ. Mấy
bạn trẻ các vị cãi nhau, hôm nay động cơ của bạn thuần khiết, thực sự vì muốn tốt
cho đối phương, thì cãi nhau xong chẳng bao lâu sau họ sẽ lại đối tốt với bạn,
sự việc được giải quyết êm đẹp. Nhưng nếu hôm nay động cơ của bạn không trong sạch,
cãi nhau là để tìm cớ chia tay người ta — thử nghĩ xem, cuối cùng bạn có chia
tay họ không? Mười mươi là bạn sẽ chia tay, bởi vì động cơ cãi nhau của bạn
ngay từ đầu đã là để rời bỏ họ rồi! Đã muốn kết tội người ta thì lo gì không
tìm được lý do? Bạn nhìn họ cái này không vừa mắt, cái kia không trôi, bởi vì
trong lòng bạn đã không còn thích họ nữa rồi, nghe hiểu không? Mấy bạn trẻ các
vị chẳng phải đều như thế sao? Muốn thoái thác, muốn từ chối một người, thì tìm
một cái cớ chẳng phải quá dễ sao? Có những kẻ đã chán vợ mình rồi, đến món ăn
cô ấy nấu cũng cảm thấy khó ăn, tóm lại là nhìn đâu cũng thấy gai mắt; đã chán
chồng rồi, thì lại thấy sao tóc anh ấy rụng nhanh thế, trong lòng lúc nào cũng
bới móc ra khuyết điểm của người khác.
Do đó, phải điều chỉnh tốt tâm thái và sự phát tâm của mình.
Phát Tâm là quan trọng nhất! Hôm nay tôi đến để truyền bá Phật pháp, điều quan
trọng nhất chính là Phát Tâm. Các vị đến Đài Đông Phương để làm gì? Các vị đến
đây bái Phật là vì điều gì? Nếu chỉ là để cầu bình an, thì các vị ở đâu mà chẳng
cầu được? Hôm nay các vị đến Đài Đông Phương, các vị là để truyền bá Phật pháp,
là để từ bi độ chúng, cứu độ chúng sinh có duyên — mục tiêu của các vị phải cao
thượng như thế chứ! Các vị phải quyết tâm tu thành Bồ Tát! Không được đặt yêu cầu
quá thấp cho bản thân; nếu chỉ nghĩ: "Hôm nay mình không đi cờ bạc, không
đi giết người phóng hỏa, không ra ngoài ăn chơi lêu lổng, không mò đến khu đèn
đỏ" — thế mà cũng đòi gọi là người học Phật sao?
Sư phụ giảng cho các vị sâu thêm một chút nữa: Các vị phải đặt
yêu cầu cao cho bản thân. Hành vi bái Phật, học Phật của các vị sẽ dần hình
thành những hình ảnh tương tự. Nghĩa là, các vị đã dần trở nên giống Phật. Ngày
ngày các vị bái Phật, bái Quán Thế Âm Bồ Tát, trong lòng nghĩ rằng mình phải từ
bi, phải càng từ bi hơn, thì chẳng bao lâu các vị sẽ trở nên từ bi; ngày ngày
bái Quán Thế Âm Bồ Tát, trong lòng nghĩ rằng mình phải trang nghiêm, phải càng
trang nghiêm hơn, thì chẳng bao lâu các vị sẽ trở nên trang nghiêm. Hình tượng
của các vị sẽ dần chuyển hóa, trở nên thanh tịnh, và hình thành hình ảnh tương
tự như Bồ Tát.
Chúng ta sắp sửa sang Hồng Kông hoằng pháp, đây là một cơ hội
rất tốt để mọi người làm công đức. Mỗi một buổi pháp hội của Sư phụ đều có rất
nhiều Bồ Tát đến trợ duyên. Hãy thường xuyên tâm niệm: "Mình là Bồ Tát,
mình là Bồ Tát, chịu chút gian khổ có sao đâu, mình nhất định phải làm công đức!"
Cứ như thế, tất cả những gì bạn bỏ ra thảy đều biến thành công đức. Còn nếu bạn
đến đó mà còn nghĩ tìm một chỗ ít người để trốn vào nghỉ ngơi, thì tốt nhất đừng
đi làm gì, chẳng phải bạn là kẻ ngốc sao? Bạn làm như thế chẳng những không có
công đức, mà còn chuốc thêm nghiệp chướng! Pháp hội của Sư phụ có bao nhiêu Bồ
Tát hiện diện, đó là nền tảng tốt nhất để làm công đức. Các vị làm cho một mình
Sư phụ xem là hoàn toàn vô ích; khi các vị làm công đức tại hội trường pháp hội,
bao nhiêu chư vị Long Thiên Hộ Pháp đều nhìn thấy hết, các Ngài lẽ nào lại để bạn
sinh bệnh nặng? Lẽ nào lại để bạn đau buồn? Lẽ nào lại để bạn gặp chuyện không
vui? Lẽ nào lại để công việc kinh doanh của bạn sa sút?
Con người phải dần dần càng học càng ngoan, càng học càng tốt
đẹp. Thế nên Sư phụ đôi khi mới bảo các vị phải ngoan ngoãn một chút, phải biết
đạo lý! Đứa trẻ không biết đạo lý thì sẽ không ngoan; không quấy phá nghịch ngợm
mới là ngoan, quấy phá là không ngoan. Rất nhiều người trước đây rất hay gây
chuyện, bây giờ đã sửa đổi, ngoan rồi, không gây chuyện nữa, biết điều rồi,
đúng không? Biết điều là tốt; tu bao lâu nay biết điều rồi, tu đến cuối cùng lại
quay ra gây chuyện, thế thì gây qua gây lại rồi bị tống cổ ra ngoài thôi. Cho
nên, học Phật pháp là phải học Phật lý — nghĩa là phải hiểu thấu đạo lý!
Làm người phải biết thay đổi biểu hiện hành vi của mình, tức
là thay đổi cái “tướng” trước đây của bản thân thành một cái “tướng” tốt hơn.
Như vậy hành vi của mình mới trở nên tốt hơn. Thử nghĩ xem trước đây các vị có
hành vi thế nào? Hễ họp một cái là cứ nói thao thao không ngừng về quan điểm của
mình; bây giờ thay đổi tướng rồi, bản thân ít nói lại, lắng nghe người khác nhiều
hơn, mọi người cùng nhau bàn bạc — đó chính là biến tướng! Trước đây mở miệng
ra là thích cãi vả tranh chấp, bây giờ không cãi vả nữa — biến tướng rồi đấy!
Con người trong quá trình tu hành chính là đang tự thay đổi bản thân như thế,
giống như một ốc vít nhỏ, cắm chặt ở đó mà làm công đức, Bồ Tát đều nhìn thấy hết.
Mỗi một cỗ máy, chỉ cần thiếu đi một con ốc vít, lâu dần cỗ máy sẽ bị xộc xệch.
Mỗi người chúng ta chính là một con ốc vít, được đặt ở đâu thì đừng tùy tiện
thay đổi, hãy làm tốt vị trí của mình ở đó, cả cỗ máy sẽ vận hành trơn tru, mỗi
người đều phát huy tác dụng. Tuyệt đối đừng tự cho mình là con ốc vít ghê gớm lắm!
Người học Phật phải học Giới. Giới chính là giới luật; học
giới trước tiên phải giữ giới (Thủ giới). Bạn không giữ giới thì làm sao học giới
được? Người biết giữ giới thì mới thật sự là người học giới. Phải hiểu rằng: Việc
gì thuộc trách nhiệm của mình thì cố gắng làm; việc gì không thuộc bổn phận thì
tuyệt đối đừng nhúng tay vào. Làm người đừng cao ngạo, đừng tự mãn, làm người
phải biết tùy duyên. Hôm nay bạn ở vị trí người đội trưởng, là do mọi người
thành tựu cho bạn, nhường bạn làm người đội trưởng; nếu không có mọi người, làm
sao có bạn được? Nếu ngay từ đầu bạn không chịu làm một con ốc vít, liệu bạn có
thể trở thành vô-lăng để điều khiển cả cỗ máy không?
Sư phụ bảo các vị, giữ giới chính là luôn giữ chặt một tấm
lòng, dùng Chân Tâm để lễ bái, để sám hối — dùng trái tim chân thật để bái Phật
và sám hối: "Quán Thế Âm Bồ Tát ơi, con thực sự làm sai rồi! Quán Thế Âm Bồ
Tát ơi, xin Ngài tha thứ cho con, con nhất định sẽ tu tập thật tốt!" Có
như thế bạn mới tu tốt cái tâm, mới có thể giữ giới. Giới có nghĩa là gì? Nếu bạn
tự thấy mình ghê gớm lắm, thấy vị trí của mình cao chót vót, thế là bạn ngừng
giữ giới — như thế chắc chắn tu không xong! Người giữ giới là phải thường xuyên
tự nhủ: "Mình thấy bản thân lúc nào cũng làm sai, thôi thì từ giờ bớt nói
lại vài câu" — đó chính là giữ giới. Có những kẻ dứt khoát không chịu giữ
giới, bởi vì hắn luôn cho rằng những lời mình nói ra đều đúng hoàn toàn, thì kẻ
đó vĩnh viễn không bao giờ biết giữ giới!
Học điều Phật học, hành điều Phật hành. Bồ Tát học điều gì?
Bồ Tát học Từ bi, chúng ta liền học Từ bi. Bồ Tát hành điều gì? Bồ Tát Cứu Độ
Chúng Sinh, chúng ta liền đi Cứu Độ Chúng Sinh! Cho nên, bình thường bạn có
thói quen không làm việc xấu, bạn sẽ vĩnh viễn rời xa việc xấu; còn nếu bình
thường bạn thường xuyên làm việc xấu, dẫu có may mắn thoát tội vài lần, thì thế
nào cũng sẽ có một lần bạn bị bắt!
Sư phụ nghe người ta kể một câu chuyện cười, để xem tâm thái
của con người tồi tệ đến mức nào. Dạo nọ khi thành phố phát động phong trào xây
dựng đô thị văn minh vệ sinh, có quy định phạt tiền hành vi nhổ đờm: nhổ một
bãi đờm phạt 5 đồng (thời đó 5 đồng là khoản tiền khá lớn). Có gã nọ vô tình nhổ
một bãi đờm, bị nhân viên quản lý bắt quả tang phạt 5 đồng, trong lòng uất ức lắm
đúng không? Nhân viên quản lý vừa đi khỏi, gã này liền nhổ luôn mười bãi đờm xuống
đất, trong lòng còn tự nhẩm mình vừa "lời" được 50 đồng! Đó gọi là tâm
thái! Tâm thái của người học Phật hoàn toàn khác biệt với tâm thái của những kẻ
đó. Cho nên Sư phụ mới bảo các vị phải học Đại Trí Tuệ của Phật: Bạn tự nhủ lần
sau không nhổ đờm nữa, chẳng phải bạn đã tiết kiệm được 5 đồng sao? Lại một lần
nữa không nhổ đờm, chẳng phải bạn lại tiết kiệm thêm 5 đồng sao? Sau này bạn sửa
dứt được tật xấu này, vốn dĩ bạn định nhổ mốt nghìn lần, chẳng phải bạn đã tiết
kiệm được 5000 đồng sao? Nếu bạn tư duy theo hướng này, đó mới gọi là Trí Tuệ!
Người học Phật phải biến thành Bậc Đại Giác Ngộ. Giác ngộ là
gì? Là người ta làm việc xấu, tôi không làm; người ta lừa tiền, tôi không lừa;
người ta dùng mưu hèn kế bẩn thế nào, tôi cũng không thèm nghĩ điều xấu; chỉ cần
việc gì không có lỗi với chúng sinh thì tôi làm, việc gì có lỗi với chúng sinh
thì dứt khoát không làm! Muốn giác ngộ thì phải học tập những người học Phật
Vĩnh Bất Thối Chuyển (vĩnh viễn không lùi bước). Nghĩa là sao? Người đó kiên
trì cho tới tận hôm nay, không hề thối chuyển bỏ cuộc — người như thế mới đáng
để các vị học tập! Có người nào chưa từng thối chuyển không? Có người nào kiên
trì ở đây học Phật niệm kinh suốt không? Có chứ, hơn nữa lại rất nhiều! Các vị
đi theo những người này mà học thì không sao; còn đi theo những kẻ từng thối
chuyển là không được! Kẻ trong quá khứ từng thối chuyển, sau này thế nào cũng sẽ
thối chuyển tiếp; thối chuyển xong tuyên bố không đến nữa, rồi lại mò đến, sau
này gặp chuyện lại thối chuyển tiếp — các vị tuyệt đối đừng học theo loại người
đó! Chúng ta phải học tập các vị hòa thượng và ni cô, họ thật không dễ dàng biết
bao! Họ đã dấn bước trên con đường học Phật này là không thối chuyển!
21. "Phật Pháp" đại tinh tấn thì đắc được
Chúng ta phải tránh xa Tà Hành. Tà Hành là gì? Những hành vi
bất thiện, những việc làm sai trái thảy đều là tà hành. Chúng ta phải học Chánh
Pháp, giữ Chánh Niệm, nghĩa là tâm niệm của mình phải ngay chính; người có tâm
ngay chính mới có thể học Phật! Chánh niệm là gì? Bất kể gặp phải chuyện gì,
tôi cũng phải làm một cách ngay chính, không thể làm theo cách tà lệch; Không
chiếm tiện nghi của người khác, đó cũng gọi là Chánh Niệm. Nếu trong lòng rắp
tâm muốn chiếm lợi của người ta, đó không còn là chánh niệm nữa.
Bởi vậy, thường nuôi dưỡng Chánh Niệm sẽ giúp chúng ta tăng
trưởng Trí Tuệ và Công Đức trên con đường Bồ Đề. Một người chỉ cần giữ được cái
tâm ngay thẳng, bạn sẽ gặt hái được trí tuệ và công đức trên bước đường học Phật;
hơn nữa, trí tuệ và công đức đó sẽ tăng trưởng ngày càng nhanh. Cái gì đáng được
nhận, tôi cảm ân; cái gì không đáng thuộc về tôi, tôi kiên quyết từ chối — làm
được như vậy, trí tuệ của bạn sẽ tăng trưởng, công đức của bạn cũng tăng theo;
một người như thế chẳng phải quá tuyệt vời sao?
Có những lúc chúng ta thực sự không nên lấy đồ của người
khác. Lấy một ví dụ: Đi trên đường, bạn tình cờ nhìn thấy tiền rớt, tim bạn lập
tức đập thình thịch, trong đầu còn lẩm nhẩm: "Bồ Tát ơi, có phải Ngài ban
cho con không?" Rõ ràng bản thân nổi lòng tham nhưng lại cố tìm cớ bao biện;
miệng bắt đầu lầm rầm tụng Công Đức Bảo Sơn Thần Chú, trong lòng còn nghĩ rằng
Bồ Tát đang ban công đức cho mình. Xin lỗi nhé, ngay từ giây phút tim bạn đập
thình thịch, Bồ Tát đã biết rồi! Rõ ràng là tiền người ta đánh rơi, bạn lại dám
nhận xằng là Bồ Tát ban cho, đó chính là tìm cớ! Đó chính là tâm bất chính! Xong
rồi, những hành động tiếp theo của bạn cũng sẽ trở nên bất chính, và bạn sẽ
không nhận được lực gia trì của Phật Bồ Tát. Người học Phật thấy tiền đừng sáng
mắt lên, nhưng cũng không cần phải dằn vặt nhắm nghiền mắt lại; chúng ta phải
thực sự coi như không nhìn thấy, phải thực sự giữ lòng thản nhiên: có cũng được,
không có cũng chẳng sao!
Lấy thêm một ví dụ: Ở Úc có rất nhiều miệt vườn như vườn
cam, vườn anh đào, vườn dâu tây. Đến mùa thu hoạch, người dân và du khách có thể
vào vườn tự do hái ăn miễn phí, nhưng tuyệt đối không được mang về. Sư phụ bảo
các vị, các vị có thể ăn đến mức chỉ cần nhìn thấy quả cam là răng đã ê buốt,
các vị có tin không? Bây giờ đừng nói là nhìn thấy, chỉ cần Sư phụ nhắc đến quả
cam thôi, những ai từng ăn cam đến ê răng thì lúc này răng đã bắt đầu ê ẩm rồi.
Đó chính là Ý Thức! Ý thức có hình thái không? Có chứ, gọi là hình thái ý thức.
Cứ tưởng ăn được nhiều là chiếm được món hời, thực ra tham ăn có thể làm hỏng dạ
dày, hỏng cơ thể. Chỉ có thường giữ Chánh Niệm mới giúp chúng ta tăng trưởng
trí tuệ!
Phật Bồ Tát dạy chúng ta: Hiểu Phật, niệm Phật, ắt sẽ thấy
Phật hiện tiền. Nghĩa là, nếu các vị có thể thấu hiểu Phật, trong đầu thường
xuyên tưởng nhớ Phật, các vị nhất định sẽ nhìn thấy Phật. Các vị có biết tại
sao lại có nhiều người nhận được lực gia trì của Sư phụ đến thế không? Vì họ
luôn hướng tâm tưởng nhớ Sư phụ. Sư phụ không khuyến khích điều này, vì như thế
nhục thân của Sư phụ sẽ rất mệt mỏi; nhưng những ai thực sự tâm niệm về Sư phụ,
người đó chắc chắn sẽ nhận được lực gia trì. Sư phụ mong các vị hãy nghĩ nhiều
đến Quán Thế Âm Bồ Tát, các vị luôn niệm tưởng không quên Quán Thế Âm Bồ Tát,
pháp lực của Ngài là vô biên vô hạn, Ngài nhất định sẽ giúp đỡ các vị. Bất luận
gặp chuyện gì, chỉ cần kêu cầu Quán Thế Âm Bồ Tát, các vị xem Bồ Tát có đến
không? Nói thật, Sư phụ chưa từng có lần nào thỉnh cầu Quán Thế Âm Bồ Tát mà
không linh nghiệm. Sư phụ thấy các vị thỉnh cầu mãi mà vẫn không linh nghiệm,
thật sự rất đáng thương; bởi vì công lực của các vị chưa đủ! Giống như chiếc bộ
đàm hết pin, tín hiệu không thể phát đi được; tự các vị phải hảo hảo sạc pin —
tức là hảo hảo tu hành. Những lời Sư phụ nói đều là ruột gan chân thật.
Năm xưa khi Đức Phật sắp nhập Niết bàn, các đệ tử vô cùng
đau xót, lo sợ rằng khi Phật đi rồi sẽ không còn ai dẫn dắt. Các đệ tử cung
kính hỏi Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, nếu Ngài viên tịch, chúng sinh đời vị lai
sẽ do ai cứu độ, và ai sẽ là người dẫn dắt họ?" Phật Đà liền đáp: "Ở
đời vị lai, Ta sẽ hóa thân thành các bậc Thiện Tri Thức. Các con hãy tôn kính
và nương tựa vào Thiện Tri Thức như nương tựa vào chính Ta, thì sẽ thoát khỏi nỗi
khổ của sinh tử luân hồi." Mọi người có biết Thiện Tri Thức là gì không?
Sư phụ chính là Thiện Tri Thức của các vị. Những điều Sư phụ giảng đều là những
điều thiện lành; Sư phụ giảng về Phật pháp, về triết học, đem trí tuệ của Bồ
Tát truyền đạt lại cho các vị.
Hãy coi Thiện Tri Thức như Bồ Tát. Khi các vị đi truyền bá
Thiện Tri Thức cho người khác, Bồ Tát đang hiện diện nơi các vị — các vị chính
là Như Lai Bồ Tát, các vị chính là Thích Ca Mâu Ni Phật, các vị chính là Quán
Thế Âm Bồ Tát, mọi người nghe có hiểu không? Khi các vị đang giúp đỡ người
khác, cứu độ người khác, khi các vị đang giảng giải Phật pháp, Bồ Tát đang hiện
diện trên thân các vị, lẽ nào các vị không phải là hóa thân của Phật Thích Ca
Mâu Ni tại thế? Các vị phải nỗ lực học tập, các vị còn kém xa lắm! Thân thể dơ
bẩn thế này, đầu óc lại ô uế thế này, làm sao Bồ Tát có thể ngự lên người các vị
được? Đầu óc ô uế thế nào? Vì ngày nào cũng tơ tưởng đến những thứ dơ bẩn: nữ sắc,
tiền tài, danh lợi, ghen ghét, hận thù. Những thứ rác rưởi đó chất đầy trong
tâm, làm sao các vị có thể trong sạch được? Nói đến ngoại hình, các vị lười tắm
rửa, tay rửa không sạch, mặt lau không kỹ, lỗ mũi toàn chất bẩn. Thử nghĩ xem,
trong ngoài đều bẩn thỉu như thế, các vị bảo Bồ Tát làm sao ngự lên thân các vị
được?
Sư phụ giảng Phật pháp cho các vị, các vị đều rất thích
nghe. Sư phụ thực sự ao ước đến tuổi xế chiều sẽ xây dựng được một Làng Quan Âm
rộng lớn. Mỗi buổi tối, sau khi mọi người dùng xong trai cơm, sẽ cùng nhau tụng
kinh; rồi Sư phụ sẽ giảng bài cho hàng ngàn người nghe — đó chính là Cõi Phật
chốn nhân gian. Sư phụ sẽ ngày ngày giảng Phật, giảng Pháp cho các vị; bởi vì mọi
người nghe xong tâm sáng mắt trong, hoan hỷ vô cùng. Nghe Sư phụ giảng xong,
nhìn ai cũng thấy đáng yêu, thấy ai cũng muốn đưa tay giúp đỡ, vì tâm thái đã
thay đổi rồi. Không học Phật, các vị đi làm một tuần về, nhìn ai cũng thấy chướng
mắt, ra đường nhìn thấy ô tô cũng thấy ghét; rõ ràng tự mình vượt đèn đỏ lại
còn quay ra phàn nàn sao ngoài đường lắm xe cộ thế — đó chẳng phải là căn bệnh
chung của con người sao?
Bồ Tát dạy chúng ta phải coi Thiện Tri Thức như Phật. Nghĩa
là, một người có khả năng giúp đỡ bạn, có khả năng giúp tâm hồn bạn khai ngộ, bạn
phải tôn kính người đó như một vị Phật — đây là lời do chính Phật Đà truyền dạy!
Các vị cũng có thể giúp người khác thành Phật; Sư phụ mong các vị hãy nỗ lực học
Phật. Quá trình học Phật, tu tâm chính là Văn - Tư - Tu. Trước đây các vị chưa
từng được nghe Phật pháp, chưa từng nghe qua Phật pháp; nay các vị đã nghe thấy
rồi, các vị bắt đầu tư duy: Tại sao Phật lại vĩ đại đến thế? Hóa ra Phật có thể
giúp chúng ta vượt qua những khổ nạn nơi nhân gian, cải biến bản thân, cải biến
vận mệnh; ôi tuyệt quá, mình phải tu thôi! "Văn - Tư - Tu": Tôi nghe
thấu rồi, và tôi bắt đầu tu hành!
Học Phật tu tâm, thứ không thể thiếu chính là Thiện Tri Thức.
Thực ra, ngày xưa gọi là "Thiện Tri Thức", ngày nay chính là "Sư
phụ" của các vị; Sư phụ là vị thiện tri thức chuyên giáo dục và dìu dắt
các vị. Chư Phật trong ba đời Quá khứ - Hiện tại - Vị lai, thảy đều nương tựa
vào sự chỉ dạy của Thiện Tri Thức mà tu thành Phật Đạo. Sau này có biết bao người
tu thành Bồ Tát, thành Phật; khi đó Phật Đà đã viên tịch từ lâu rồi. Suốt chừng
ấy năm sau hai ngàn năm trăm năm, chính nhờ có vô vàn vị Sư phụ, vô vàn bậc Thiện
Tri Thức — như Lục Tổ Huệ Năng Đại Sư — hững vị đại sư ấy không ngừng giảng dạy
Chánh Đạo, giúp rất nhiều người quy hướng về Chánh Đạo, và cuối cùng thành Phật,
thành Bồ Tát. Ngày nay các vị há chẳng phải cũng như vậy sao? Nói lời ruột gan
với các vị, thời đại này tìm được một bậc Thiện Tri Thức quả thực không hề dễ
dàng! Vậy nên, chúng ta phải bước lên Đại đạo giải thoát thần thánh; chúng ta
không thể tiếp tục bị những phiền não thường nhật trói buộc, không thể mãi bức
bối vì những chuyện vặt vãnh mỗi ngày, không thể để tâm hồn gánh chịu đau khổ
vì những đoạn tình cảm hằng ngày nữa. Hãy rộng lòng hơn một chút, hãy biết
buông xuống một chút! Đời người ngắn ngủi đầy ải khổ, chúng ta dứt khoát phải dụng
tâm học Phật, dụng tâm tu tâm.
Phật pháp không thuộc riêng về ai, bởi vì đó là Pháp của Phật;
người đại tinh tấn thì có thể đắc được Pháp ấy. Người nỗ lực hết mình thì có thể
đạt được Phật pháp, người ấy chính là người làm chủ Phật pháp. Người nỗ lực hết
mình có thể đạt được Phật pháp tốt đẹp nhất; người không nỗ lực thì không thể đạt
được.
Mỗi lần giảng bài cho các vị, Sư phụ khao khát biết bao được
đem những tinh túy này thuyết giảng tại Đại pháp hội vạn người — điều đó sẽ
mang lại niềm pháp hỷ nhường nào! Sư phụ muốn cô đọng toàn bộ tinh hoa của Phật
pháp, nhưng khó lắm; bởi vì những người ngồi dưới kia, có người nghe hiểu, có
người lại nghe không hiểu. Cho nên, có lúc Sư phụ chỉ có thể giảng thật đơn giản,
có lúc mới giảng sâu hơn một chút, Sư phụ mệt lắm. Trên thế gian này không có một
loại thực phẩm bổ dưỡng nào có thể bao hàm trọn vẹn mọi dưỡng chất mà con người
cần. Phật pháp như khói mây mênh mông bát ngát, làm sao trong một buổi thuyết
pháp có thể cô đọng hết thảy mọi tinh hoa của Phật pháp được? Khó vô cùng! Hôm
nay Sư phụ để lại cho các vị một câu chốt cuối cùng — Tinh Tấn chính là cội rễ
của việc học Phật!
22. Chân tu thực tu đắc giải thoát
Chúng ta phải học cách tĩnh tâm. Hôm nay tôi ngồi ở đây, gạt
bỏ mọi suy tư, tâm phải tĩnh lặng lại; sau đó từ từ đi tìm cội nguồn của phiền
não. Thử nghĩ xem, tại sao bạn lại phiền não? Gốc rễ của phiền não nằm ở đâu?
Người không thể tĩnh tâm sẽ vĩnh viễn không tìm thấy cội nguồn. Rất nhiều người
phiền não chỉ vì không tìm thấy gốc rễ, họ không biết rốt cuộc mình đang phiền
não vì cái gì. Thực chất, mọi phiền não đều có gốc rễ của nó. Ví dụ: Hôm nay
tôi muốn một món đồ mà không lấy được, đó là vì bên trong đang có cái gốc của
lòng Tham; hôm nay tôi rất muốn chửi người này vài câu, tôi muốn chửi hắn,
nhưng chưa chửi được, thế là bạn sẽ bứt rứt khó chịu mãi — đó chính là cái gốc của
"Sân hận". Vì vậy, phàm là phiền não đều có cội nguồn. Chúng ta có
"Thập Thiện Nghiệp", tức là mười việc thiện có thể làm; nếu một người
mang quá nhiều phiền não, bởi vì phiền não thuộc về những điều bất thiện, chứng
tỏ trong tâm bạn chắc chắn đang chứa đựng sự bất lương.
Một người dù mang phiền não "tốt" hay phiền não
"xấu", thì người đó đều có vấn đề. Bạn bảo: "Nỗi phiền não của
tôi là để mong con đậu vào trường đại học danh tiếng"; loại phiền não này,
nghe qua thì có vẻ là vì tốt cho con, nhưng thực chất bên trong vẫn ẩn chứa
lòng "Tham niệm". Cho nên, bất luận nọc độc nào trong Ba Độc (Tham -
Sân - Si) tấn công, nó đều sẽ mang đến cho bạn vô vàn rắc rối.
Trong Ba Độc, hiểm họa lớn nhất chính là Tham Niệm. Tâm Sân
Hận bắt nguồn từ lòng Tham Niệm: tham không được thì bắt đầu hận, hận đến cực
điểm thì làm ra những chuyện rồ dại. Do đó, phải dùng "Thanh Tịnh
Tâm" (trái tim trong sạch) để đối trị Tham niệm: Tôi không tham nữa, tôi
không cầu cầu gì nữa, như vậy tôi có thể đối trị Tam Độc của mình. Khi biết được
khuyết điểm của mình, phiền não sẽ không còn nữa; bởi khi một người không nhận
ra khuyết điểm của mình, họ luôn vỗ ngực tự cho mình là hoàn hảo, thế rồi họ lại
tiếp tục đâm đầu vào những việc chuốc lấy phiền não. Giống như rất nhiều kẻ vì
danh vì lợi mà liều mạng theo đuổi, nên họ mãi mãi bị phiền não bám riết. Đợi đến
lúc họ ngộ ra mọi thứ đều vô vị, đợi đến khi họ hiểu thấu đạo lý: "Cái
danh tiếng hôm nay tôi đoạt được, vài ngày nữa cũng tan thành mây khói; số tiền
hôm nay tôi cầu xin được, vài ngày nữa cũng tiêu sạch bách" — đến lúc đó,
phiền não của bạn sẽ không cánh mà bay!
Có phiền não, hành vi của con người sẽ trở nên bất thường.
Các vị cứ quan sát mà xem, bất luận là ai, chỉ cần bộc lộ những hành vi trái
khuấy bất thường, chắc chắn trong lòng kẻ đó đang ôm phiền não. Thử nghĩ xem có
đúng không? Nhìn thấy người này mà không muốn để ý đến họ, chẳng phải là trong
lòng đã có phiền não rồi sao? Nhìn thấy người này là thấy ghét, hành vi của bạn
sẽ trở nên không bình thường: Vừa nãy còn đang cười nói, chợt nhìn thấy kẻ mình
ghét, mặt mày lập tức sa sầm; vốn dĩ gặp người này đáng lẽ phải mừng rỡ, nhưng
giờ lại tỏ ra chán ghét — hành vi của bạn đã bất thường rồi; thế là bạn lập tức
chuốc lấy phiền não.
Chỉ cần hành vi của chúng ta vừa chớm bất thường, chúng ta
phải lập tức đi tìm căn bệnh của chính mình. Căn bệnh của chúng ta là gì? Căn bệnh
mang tên "Tự tầm phiền não" (tự chuốc lấy muộn phiền). Phải tiêu diệt
nó, như vậy mới coi là chữa dứt bệnh. Tiêu diệt nó nghĩa là sao? Nghĩa là bắt
buộc phải triệt tiêu nó hoàn toàn; chỉ cần trong tâm le lói phiền não, bạn phải
lập tức dập tắt nó ngay!
Người học Phật phải biết thực tu. Thực tu là gì? Là tu tập một
cách chân thực, dùng tấm lòng chân chính để tu, chứ không phải làm màu giả tạo;
Nếu đợi đến khi phiền não xuất hiện rồi mới tu, thì đã muộn! Chìa khóa của việc
học Phật nằm ở chỗ bình thường bạn phải tích cực Tu Tâm, thì phiền não mới
không gõ cửa. Ví dụ: Ngày nào cũng lau chùi nhà bếp sạch bóng, thì gián làm sao
xuất hiện? Nhà bếp bẩn thỉu nhếch nhác, thì đủ loại côn trùng đều kéo đến. Bình
thường trong tâm luôn giữ gìn sạch sẽ trong ngần, thì phiền não làm sao vào được?
Đó chính là thực tu!
Thực ra, sau khi phiền não xuất hiện, tức là nghiệp báo của
chúng ta đã đến. Nghiệp báo đến nghĩa là sao? Là bắt đầu trả nghiệp rồi: Phiền
não nhỏ thì nghiệp báo nhỏ, phiền não lớn thì nghiệp báo lớn, chạy không thoát!
Hôm nay hai vợ chồng mặt nặng mày nhẹ với nhau, nghiệp báo đến rồi đấy; đây chẳng
phải là cái Quả của việc bình thường không chịu chú ý vun đắp tình cảm, không
biết hóa giải mâu thuẫn mà ra sao?
Chỉ cần bạn là con người, bạn sẽ thấy rất khổ. Chúng ta làm
người có khổ không? Ai cũng thấy đời mình đầy ải khổ; thân thể chịu khổ, thì
trong lòng sẽ càng khổ hơn; thân thể không khổ, thì nỗi khổ trong lòng sẽ vơi
đi một chút; thân thể khổ, trong lòng cũng khổ, thì tâm linh của bạn cũng khổ.
Đôi khi con người hận bản thân đến mức trút khổ lên chính thân xác mình: hận
đôi chân sao không bước nổi, hận cái miệng sao không nuốt trôi; có những lúc
răng đau buốt óc, hận quá tự vả vào mặt mình mấy cái tát, đau đến mức đó, có hận
mình không? Tất cả những điều đó trách ai đây? Bình thường không chịu giữ gìn
răng miệng, không chịu đánh răng đều đặn, không biết giữ vệ sinh; mọi thứ đều có
nhân quả của nó. Cho nên, khi bạn bị đau răng, thể xác bạn đau đớn, trong lòng
bạn có xót xa không? Dân gian có câu "Đau răng không phải là bệnh, nhưng
đau lên thì lấy mạng người". Do đó, chúng ta đừng để trái tim mình thường
xuyên phải nếm trải nỗi khổ như thế; tuy nhiên, khi nỗi đau dồn ép bạn đến đường
cùng, bạn bắt buộc phải đối mặt với những Nhân đau khổ của chính mình và buộc
phải thay đổi. Khi một người đã nếm đủ mùi đau khổ, bạn mới nhận ra những cội rễ
khổ đau này của mình, mới tự giác nhắc nhở bản thân không đi tạo thêm nghiệp mới
nữa.
Hiểu rõ mình đã làm sai chuyện, biết rõ nguyên nhân mới được
cứu. Bởi vì bạn thấu hiểu luật nhân quả, bạn mới được cứu; bởi vì bạn nhận ra
mình đang phiền não, bạn mới tìm cách nhổ bỏ nó; bởi vì bạn biết mình đang rất
khổ, bạn mới muốn thay đổi; bởi vì hôm nay bạn đã nếm tận cùng nỗi đắng cay, bạn
mới biết mình phải tìm ra một con đường, một hướng đi để thoát khỏi bể khổ. Do
đó, Biết rõ nguyên nhân để thay đổi — lúc này bạn mới nghĩ đến việc thay đổi,
tìm cách chữa trị nó. Chỉ khi bạn sửa đổi tận gốc những căn bệnh của thân và
tâm, bản thân bạn mới thực sự chuyển hóa. Người sẵn lòng sửa chữa khuyết điểm,
thực chất chính là người sẵn lòng tiếp nhận điều trị; như vậy, bạn chắc chắn sẽ
được cứu vớt.
Tại sao có một số người vẫn chưa phải chịu quả báo? Bởi vì
thời điểm báo ứng của họ chưa tới; thời cơ chín muồi, báo ứng ập đến, chạy đằng
trời cũng không thoát! Cho nên, hôm nay bạn không mắc bệnh ung thư, hôm nay bạn
không bị tai nạn giao thông, không có nghĩa là lần sau bạn sẽ thoát tai nạn,
không có nghĩa là sau này bạn sẽ không mắc ung thư! Hôm nay bạn còn có thể bình
an vô sự ngồi ở đây, không có nghĩa là vài ngày nữa, một tháng nữa, hay một năm
nữa bạn sẽ không gặp chuyện bất trắc. Các vị phải vĩnh viễn ghi tạc đạo lý này:
Hôm nay tôi không gieo cái Nhân này, tôi nhất định sẽ không gặp họa, vĩnh viễn
không bao giờ phải chịu quả báo; nhưng hôm nay tôi đã gieo cái Nhân này, nhất định
sẽ sinh chuyện, chẳng qua là thời cơ chưa tới mà thôi — bạn cứ thong thả mà chờ
đi!
Con người chúng ta khi chưa nếm mùi quả báo, chúng ta sẽ
vĩnh viễn không bao giờ giác ngộ. Bởi con người có liệt căn tính; lúc thân thể
còn tráng kiện, chẳng bao giờ biết quý trọng sức khỏe, đợi đến khi dạ dày thủng
lỗ chỗ, mới biết đường ngoan ngoãn đi khám bác sĩ định kỳ, mới biết bình thường
không nên ăn uống quá độ, không được để bụng dạ nhiễm lạnh, v.v... Đó chính là
lý do vì sao con người chỉ khi đụng phải đớn đau, rắc rối mới chịu mở mắt giác
ngộ.
Nếu một người ở trong hoàn cảnh thuận lợi mọi bề mà vẫn chủ
động tìm đến học Phật, chứng tỏ người đó có căn cơ. Nếu một người đợi đến khi đầm
đìa nước mắt đau khổ mới chạy đến học Phật, người đó cũng có căn cơ, nhưng căn
cơ còn nông. Các vị ngồi đây muốn học Phật, muốn tìm một con đường giải thoát,
chẳng phải vì mỗi người các vị đều đang nỗ lực tu tâm để khao khát tự giải
thoát cho chính mình sao? Sư phụ nói cho các vị biết, con người sẽ không bao giờ
tự giác ngộ, bởi vì họ mang trong mình ác căn liệt tính; con người vô cùng cố
chấp, luôn cho rằng mình là người đúng. Mỗi người các vị đều khăng khăng cho rằng
những gì mình làm là đúng đắn, thế nên mới không ngừng nổ ra những cuộc cãi vã
trong gia đình. Mỗi người các vị đều ảo tưởng mình là bức tranh hoàn mỹ không
tì vết, thế nên mới không ngớt lời chê bai người khác, bới móc khuyết điểm của
thiên hạ. Căn bệnh trầm kha của con người là "Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ".
Rất nhiều gã đàn ông ngày ngày ức hiếp vợ; bình thường vợ uất ức thét lên
"Tôi bỏ đi đây!", anh chồng chẳng mảy may tin tưởng; đợi đến ngày cô
vợ đệ đơn ly hôn thật, anh ta mới hối hận nhận ra sự quý giá của vợ và chuỗi
hành động ngớ ngẩn điên rồ của bản thân bấy lâu nay — nhưng lúc đó thì mọi chuyện
đã quá muộn rồi!
Phải hiểu rằng, chúng ta cần có tất cả trí tuệ, tất cả điều
thiện, lấy đó làm nền tảng để trợ giúp con đường thành Phật. Nghĩa là, thứ
chúng ta cần sở hữu chủ yếu nhất chính là Trí Tuệ; nhất định phải có Trí Tuệ và
Mọi Điều Thiện Lương. Bởi vì khi bạn sở hữu trí tuệ và sự thiện lương, là điểm
bắt đầu — Sư phụ lật ngược câu này lại để giảng cho các vị — tức là: Những việc
như thế nào mới có thể giúp các vị thành tựu Phật Đạo? Trước tiên phải có Trí
tuệ, tiếp đó phải có Sự Lương Thiện; đừng đợi đến khi chúng sinh rơi vào bể khổ,
kêu gào đòi giải thoát, lúc đó mới cuống cuồng đi cầu Phật, bái Phật, học Phật
— lúc đó thì đã muộn màng rồi! Do đó, tất cả những Diệu Pháp, Thiện Pháp, Phật
Pháp mà Bồ Tát truyền dạy cho chúng sinh, thực chất đều nhằm mục đích giúp
chúng sinh đối trị với sự bất thiện, sự vô tri và vô minh của chính mình. Bồ
Tát có giảng bao nhiêu Diệu Pháp, Thiện Pháp, Phật Pháp đi chăng nữa, cốt lõi vẫn
là để giúp các vị sở hữu Trí Tuệ, sở hữu Sự Lương Thiện. Một kẻ không có sự
lương thiện, kẻ đó sẽ không bao giờ học tốt Phật pháp; một người dù có giỏi
giang đến đâu, nếu không có sự thiện lương thì cũng không thể học Phật tốt; một
kẻ không có trí tuệ, kẻ đó căn bản không thể khai ngộ, người đó không thể bước
vào cửa Phật!
23. "Thiện" sinh ra Chánh trí tuệ
Người thực sự có trí tuệ phải biết dùng diệu Pháp để đối trị
khuyết điểm của bản thân. Đã trót phạm sai lầm, tôi bắt buộc phải nhận lỗi và sửa
đổi; làm được vậy, tôi sẽ đắc được chánh niệm. Thử nghĩ xem, có đúng không? Bạn
làm sai, tức là bạn đã đi lệch; nếu bạn sửa cái lệch đó lại, chẳng phải bạn đã
trở nên ngay chính rồi sao? Nếu tu sai lệch, nói lỡ lời, làm sai chuyện; nếu bạn
không chịu nắn lại cái sai lệch đó, bạn sẽ không đắc được chữ "Chánh".
Vậy chữ "Chánh" từ đâu mà ra? Tức là: Bạn làm sai, bạn sửa lại cho
đúng, thứ bạn đắc được mới là chánh; sửa đổi chính là nắn lại ý thức của mình về
đúng quỹ đạo (chánh đạo). Do đó, con người bắt buộc phải nhận lỗi và sửa sai mới
đắc được chánh niệm; có chánh niệm rồi, mới sản sinh ra chánh trí và chánh trí
tuệ. Nói cách khác, khi bạn giữ vững một niệm chân chính, những ý tưởng nảy ra
trong đầu bạn thảy đều là chánh trí tuệ. Lấy một ví dụ đơn giản: Nếu một người
không có chánh niệm, những suy nghĩ nảy ra trong đầu họ đều lệch lạc, đều là tà
niệm; vì vậy những việc họ làm ra cũng đều là tà — đạo lý chỉ đơn giản như vậy!
Những lời răn dạy (khai thị) của Sư phụ dành cho đệ tử, đồ đệ
đều vô cùng nghiêm khắc. Trong số các đệ tử, đồ đệ các vị, nếu tự cảm thấy mình
tu hành còn kém cỏi, phải luôn nuôi dưỡng tâm hổ thẹn (Tâm tàm quý), phải dỏng
tai nghe lời khai thị của Sư phụ, phải sống sao cho xứng đáng với Quán Thế Âm Bồ
Tát. Trên người các vị gánh bao nhiêu nghiệp chướng, nếu không lo tu, sẽ làm ảnh
hưởng đến người khác học Phật; trong đầu các vị chứa đầy tạp niệm, trên người đầy
khuyết điểm, phải nỗ lực cố gắng lên; bình thường phải gấp rút tu hành, đừng
làm mất mặt Quán Thế Âm Bồ Tát!
Muốn đối trị sự bất thiện, chính là phải sửa đổi lại cái mặt
xấu xa, thiếu lương thiện của bản thân. Hôm nay các vị bước vào Quan Âm Đường,
nếu trong đầu vẫn còn toan tính ý đồ, vẫn còn tự huyễn hoặc về bản thân, "cống
cao ngã mạn" (kiêu ngạo, tự phụ), các vị chắc chắn sẽ không bao giờ tu
thành! Tại sao Sư phụ không cho những người chưa tu hành vào nghe giảng? Bởi vì
họ không chịu nổi sự rèn giũa khắt khe này! Sư phụ vô cùng nghiêm khắc với đồ đệ,
đệ tử — "Nghiêm sư xuất cao đồ" (Thầy nghiêm khắc mới đào tạo ra trò
giỏi). Những kẻ không có tu vi, Sư phụ vừa mắng vài câu, mặt mũi đã bí xị, hậm
hực không vui; những kẻ đó sẽ không bao giờ tiêu trừ nổi nghiệp chướng trên
thân, không bao giờ gột rửa được thói hư tật xấu! Tuyệt đối đừng mang những
thói đời thế tục vào trong Quan Âm Đường. Sư phụ có trách mắng ai đi chăng nữa,
cũng là đang giúp các vị tiêu nghiệp chướng. Mỗi người các vị phải dỏng tai lên
mà nghe, phải nỗ lực, phải giữ chánh niệm, phải nhận lỗi và sửa sai; bởi vì có chánh
niệm mới sinh ra được chánh trí tuệ!
Sư phụ bảo các vị, một người muốn đắc được chánh trí và chánh
trí tuệ; khi một người sở hữu chánh trí tuệ, họ sẽ chủ động suy ngẫm, hành động
và học hỏi; còn nếu không có Chánh trí tuệ, họ sẽ không thèm nghĩ, không thèm
làm, cũng chẳng thèm học. Do đó, những phương pháp giúp các vị thành Phật thành
Đạo, chính là làm viên mãn tất cả những con đường trợ giúp thành Phật. Có rất
nhiều con đường trợ giúp thành Phật: Ví dụ, Giới luật giúp bạn thành Phật, hướng
bạn nuôi dưỡng thiện tâm, hướng bạn nắm giữ trí tuệ của Bồ Tát; đây đều là những
điều người học Phật nên đạt được.
Nhân địa nhất thiết trợ Phật thành Phật chi đạo (Mọi con đường
trợ giúp thành Phật trên vùng đất nhân quả) — Các vị có biết "Nhân địa"
là gì không? Nhân địa chính là chúng sinh, bởi chúng sinh đang ở trong nhân địa
— tức là nơi của nhân quả, nơi phát sinh nhân quả, nên gọi là nhân địa. Cho
nên, trước khi các vị chứng quả, nơi mà các vị đang ở đều thuộc về Nhân Địa.
Ngay trên mảnh đất nhân địa này, các vị đang gieo rắc những hạt giống nhân quả
của chính mình. Hôm nay sống ở cõi nhân gian này, nếu các vị gieo xuống một hạt
giống Phật, các vị sẽ "Khí ác tòng thiện" (Bỏ ác theo thiện), các vị
sẽ "cải tà quy chính" (Bỏ tà theo chính), các vị sẽ thường xuyên phát
tâm bồ đề, nảy sinh thiện niệm, thiện ý, thốt lời thiện ngôn, hành động thiện hành.
Nếu trên mảnh đất Nhân địa này các vị gieo rắc những hạt giống ác nghiệp xấu
xa, các vị sẽ liên tục khởi ác niệm, ác ý, thốt lời ác ngôn, hành động ác hành.
Nếu bạn gieo trồng những hạt giống tốt lành, bạn sẽ thu hoạch được muôn vàn
trái ngọt trí tuệ; nếu bạn gieo rắc những lời nói ác, bạn sẽ làm nảy mầm hạt giống
ác ngôn — mảnh đất đó sẽ không thể mọc lên được thứ gì tốt đẹp!
Do đó, khi một người mang tư duy lương thiện, họ sẽ chủ động
tránh xa "tà kiến" (những quan điểm sai lệch). Mong mọi người hãy ghi
nhớ: Nếu một người có trí tuệ và sự thiện lương, dù người khác nói gì, họ cũng
sẽ không nghe theo; người có trí tuệ, bất kể người khác nói gì, cũng sẽ không
khinh thường người khác; một người chỉ cần khởi sinh trí tuệ, họ sẽ không bao
giờ nghĩ xấu về người khác, họ sẽ không nảy sinh "tà tư" (suy nghĩ tà
ác). Nếu một người không có tà tư, không có tư duy xấu xa, thì họ sẽ không bao
giờ có "tà hành" (hành vi tà ác).
Một người gieo nhân thiện, ắt sẽ gặt quả thiện. Thường xuyên
tự soi lỗi, tìm căn bệnh của chính mình, bạn mới là người sở hữu thiện căn khí
(căn cơ lương thiện); người này mới có thiện căn, có căn khí tốt. Nếu kẻ nào
luôn ảo tưởng mình là chân lý, kẻ đó không có thiện căn. Một kẻ không biết sám
hối, không chịu thừa nhận mình sai, kẻ đó sẽ không nhận được lực gia trì của
chúng sinh và Bồ Tát. Cho nên, sám hối là phải dùng chân tâm để sám hối; Phật Bồ
Tát luôn luôn từ bi. Sư phụ mong mọi người học Phật phải thường xuyên nuôi dưỡng
thiện niệm, thì ác niệm sẽ không có cơ hội nảy sinh. Trên một mảnh đất màu mỡ,
những gì mọc lên thảy đều là quả ngọt thiện lương, sẽ không có cảnh cỏ dại mọc
um tùm. Còn nếu một mảnh đất đã bị bỏ hoang, không thể trồng trọt quả ngọt, nơi
đó ắt hẳn sẽ chìm trong cỏ dại. Vì vậy, Sư phụ hy vọng các vị đừng bao giờ từ bỏ
những điều mình đã cảm ngộ về lòng từ bi đối với bản thân và đối với Bồ Tát;
vĩnh viễn phải nhớ rằng Bồ Tát từ bi vĩ đại nhường nào; vĩnh viễn phải khắc cốt
ghi tâm: Tôi là một người học Phật! Hãy để mảnh ruộng tâm điền của mình thường
xuyên sinh ra trái thiện; Bồ Tát vĩnh viễn từ bi, Bồ Tát vĩnh viễn không bao giờ
từ bỏ việc cứu độ chúng sinh!
Người có duyên phận cũng phải hiểu rõ về giới luật, gọi là
"Duyên giới". Hai vợ chồng chẳng phải là có duyên phận sao? Nếu bạn
biết vợ mình đang mắc nợ mình, rồi bạn ra sức ức hiếp cô ấy, thì bạn nhất định
sẽ gánh chịu quả báo! Do đó, trong lúc tùy duyên, cũng phải giữ giới luật. Việc
này tuy trao cho tôi cơ hội, nhưng tôi cũng không được lạm dụng quá đà; tôi
cũng phải biết Giới, biết điểm dừng, giữ đạo trung dung. Mọi người phải hiểu rằng,
Duyên giới chính là dựa trên mối duyên phận sẵn có, cư xử chừng mực vừa đủ, nhất
định sẽ cứu độ được người khác. Nếu bạn tùy duyên giúp đỡ người khác một cách
chừng mực, bạn có cứu độ được họ không? Nếu bạn gặp chuyện mà suy nghĩ thông suốt,
cởi bỏ khúc mắc, bạn có đang làm tốt cho bản thân không? Có phải là bạn đang tự
cứu độ chính mình không? Đến cuối cùng bạn mới vỡ lẽ: Hóa ra là chính bạn đã cứu
lấy bạn! Thử nghĩ xem, những người học Phật các vị, ai đang cứu các vị? Chính
các vị đang tự cứu mình đấy! Nếu các vị không cho bản thân một cơ hội, làm sao
các vị có thể tiếp cận Phật pháp? Là tự các vị đã cứu lấy các vị, mọi người
nghe hiểu không?
Phải hiểu rằng, dựa vào chính mình để tự cứu mình. Chỉ khi bạn
coi Phật như một tấm gương soi, ngày ngày dùng tấm gương Phật phản chiếu lại bản
thân, bạn mới dần dần nhìn thấu chính mình, nhìn rõ bản tính của chính mình;
ngày ngày bạn mới hiểu được thế nào là minh tâm kiến tánh. Bạn ngày ngày lấy Bồ
Tát làm chuẩn mực — dùng tấm gương này soi xét — bạn mới biết hôm nay mình có
giống Bồ Tát không, có giống Phật không? Nếu hôm nay bạn vẫn còn hầm hầm tức giận,
hôm nay bạn vẫn còn u sầu buồn bã, vậy thì bạn chắc chắn không phải là Phật,
cũng dứt khoát không phải là Bồ Tát! Không phải Bồ Tát, không phải Phật, thì bạn
rất có thể là ma! Nếu bạn thấy mình chẳng giống Bồ Tát, cũng chẳng giống Phật, thì
phải nghĩ rằng mình có khả năng trở thành ma! Thế nên, chỉ có dùng tấm gương Phật
này không ngừng soi chiếu lại mình, soi sáng đến tận góc khuất u tối trong tim,
mới có thể nhìn thấy Phật tính của chính mình!
Tu hành phải kết hợp chặt chẽ với trí tuệ và từ bi. Tu hành
là phải am hiểu trí tuệ; tu hành là bắt buộc phải có từ bi. Một người nếu ngay
cả lòng từ bi cũng không có, mở miệng ra là chê bai người này tồi, người kia tệ,
kẻ đó không có tư cách học Phật! Người học Phật không nên có tâm khinh thường
người khác, không nên không hiểu rõ chính mình, không nên thiếu trí tuệ, cũng
không nên thiếu lòng từ bi!
Chỉ khi đã trang bị đầy đủ trí tuệ và lòng từ bi, bạn mới hiểu
thế nào là sở hữu pháp lực; bởi vì lòng từ bi sẽ trở thành một loại pháp lực,
có pháp lực mới giúp bạn độ hóa được chúng sinh. Sư phụ đã giảng rồi, đây chính
là sự chuyển hóa giữa vật chất và năng lượng. Khi trong lòng bạn dâng trào sự từ
bi, xót thương cho người này, bạn sẽ không bao giờ cạn kiệt sức mạnh. Bởi vì bạn
thấu hiểu nỗi khổ của họ, bạn khát khao mãnh liệt muốn giúp đỡ họ; thực chất,
ngay lúc đó, bạn đã được tiếp thêm một sức mạnh siêu phàm: bạn không sợ thiên hạ
đàm tiếu, bạn không gớm ghiếc sự dơ dáy trên cơ thể họ, bạn chỉ thấy họ đáng
thương tột cùng. Đúng lúc đó, khi bạn dang tay dìu dắt, cứu vớt họ, thực chất
là bạn đang vận dụng pháp lực! Người càng từ bi, pháp lực của họ càng vĩ đại.
Quán Thế Âm Bồ Tát Đại Từ Đại Bi, thế nên mới gọi là Phật Pháp vô biên, pháp lực
vô cùng. Mọi người thử nghĩ xem, có đúng không? Khi một người nung nấu ý chí muốn
cứu vớt tất cả mọi người, họ sẽ tự gia tăng nguồn năng lượng của chính mình;
ngược lại, một người ích kỷ, nhỏ nhen, không chịu giúp đỡ người khác, cứ thu
mình ở nhà thì sẽ ngày càng mất đi năng lượng, ngày càng sợ tiếp xúc với thế giới
bên ngoài. Đó là lý do vì sao một người ôm trọn trái tim từ bi sẽ đắc được sức
mạnh vô biên vô tận!
24. Chân Tu chính là "Trí Tuệ và Từ bi"
Các vị có nhớ trong trận động đất Vấn Xuyên, có một cậu bé
đã dùng thân hình bé nhỏ mỏng manh của mình chống đỡ bức tường đổ sập để bảo vệ
mạng sống cho cha mẹ, còn bản thân cậu thì hy sinh? Tại sao một cậu bé nhỏ bé lại
có thể bộc phát sức mạnh phi thường đến thế? Bởi vì cậu bé biết cha mẹ mình
đang trong tình cảnh hiểm nghèo đáng thương, cha mẹ chính là đối tượng để cậu
bé khởi lòng từ bi, thế nên cậu đã bùng nổ sức mạnh vô biên vô tận. Cậu bé lấy
đâu ra sức mạnh lớn đến vậy? Là vì sự từ bi! Vì cậu khao khát cứu người, cậu
khao khát cứu sống cha mẹ ruột của mình! Mọi người đều biết ở Úc người ta nuôi
chó rất nhiều, có bao nhiêu câu chuyện kể về những chú chó cứu chủ? Tại sao chó
có thể cứu chủ? Bởi vì nó có sự từ bii! Một người có lòng từ bi có thể cảm động
trời đất, có thể gia tăng năng lượng. Vì thế, người học Phật chúng ta trước
tiên phải nhìn thấy Phật tính của chính mình, phải tự nhận thức rằng mình là
người học Phật, mình có năng lực. Tu hành mà kết hợp hoàn hảo với trí tuệ và từ
bi, bạn sẽ sở hữu pháp lực, và hoàn toàn đủ khả năng ứng dụng pháp lực đó!
Mỗi người sinh ra đều mang theo tập khí (thói quen, tật xấu).
Đã có tập khí, bắt buộc phải chặt đứt nó; nếu không chặt đứt, bạn sẽ bị tập khí
bao phủ, và bạn sẽ trở thành một người mang tập khí. Tập khí là một từ mang sắc
thái tiêu cực, là một từ rất xấu; hễ một người vướng phải tập khí, họ sẽ bị nó
đeo bám dai dẳng. Sư phụ từng giảng trong pháp hội: Nếu bạn không chỉ rõ cho một
đứa trẻ biết việc này là tốt hay xấu, mà cứ để nó liên tục lặp đi lặp lại hành
động đó; chỉ sau hai tuần, việc đó sẽ trở thành một tập khí của nó. Phải biết
cách tự thay đổi những thói hư tật xấu trên người mình. Nhiều người bảo:
"Tính tôi vốn chẳng biết cười là gì, cả đời tôi làm người luôn lạnh lùng
như thế". Xin hỏi, bạn làm thế có đúng không? Vậy nên, Muốn sửa tập khí
thì phải đoạn trừ; sau khi đoạn trừ rồi thì không được để nó khởi lại. Hôm nay
tôi đã sửa khuyết điểm này, tôi sẽ không bao giờ tái phạm; tái phạm thì coi như
chưa sửa! Sửa xong mà không bao giờ phạm lại nữa, đó mới thực sự là nhổ tận gốc
tập khí!
Phải học cách sám hối; phải đánh bại tà mê tâm (tâm mê muội),
cuồng vọng tâm (tâm ngông cuồng), bất thiện tâm (tâm bất thiện), tật đố tâm
(tâm đố kỵ) và ác độc tâm (tâm thâm độc); phải bứng rễ mọi thói quen tồi tệ và
xua đuổi toàn bộ ác niệm trong lòng. Tà mê tâm là gì? Nghe người khác nói rồi lầm
tưởng đó là đúng, khiến tâm mình bị mê hoặc. Cuồng vọng tâm là tự cho rằng mình
đúng, sinh ra tâm niệm cho rằng người khác đều không bằng mình. Rõ ràng việc
này nằm trong khả năng giúp đỡ người khác, nhưng tôi lại nhẫn tâm từ chối, đó gọi
là Bất thiện tâm. Đố kỵ và thâm độc là ác căn liệt tính của con người: thấy người
ta thành công, đừng sinh lòng ghen ăn tức ở, đừng nói lời không hay, không đúng,
mà hãy vui lây với thành tựu của họ. Người học Phật phải dùng nhát kiếm tuệ nhổ
sạch toàn bộ những cỏ dại bất thiện trong tâm; những kẻ chứa chấp mầm mống ác
tâm đó, Phật giáo gọi chung là chúng sinh.
Chúng ta đọa đày làm chúng sinh chốn nhân gian, là bởi vì
chúng ta mê muội, chúng ta điên đảo, chúng ta mù mịt phương hướng, chúng ta chẳng
phân định nổi trắng đen, đúng sai. Bởi vậy, chúng ta hễ nghe người ta nói gì là
tin ngay; bao nhiêu người bị lừa, chẳng phải là vì không biết mình là ai, cứ
khăng khăng đòi làm việc đó, nên mới bị lừa hay sao?
Sư phụ từng lấy ví dụ cho các vị nghe: Nếu biết mình nhẹ dạ
cả tin, thì có những buổi giảng bạn không nên đi nghe! Kẻ nhẹ dạ mà lọt vào đó
nghe mồi chài, kiểu gì cũng bị dắt mũi làm theo; đã biết mình dễ mủi lòng thì
né xa ra! Biết mình hay sa ngã vì tiền tài, thì đừng có dính líu đến chuyện tiền
bạc! Biết mình không vượt qua được chuyện nam nữ thì đừng đụng vào những chuyện
nam nữ! Biết mình dễ bị cám dỗ bởi danh lợi, thì hãy tự trụ cái tâm của mình lại
cho ngay chính!
Có người nọ đến thưa với Bồ Tát: "Bồ Tát ơi, tâm con bất
an quá!" Bồ Tát bảo: "Con đưa cái tâm của con đây, Ta an lại cho."Tâm
ở đâu? Tâm vốn ở trong tim của bạn, nhưng bạn bất an là vì tâm của bạn chưa được
đặt đúng chỗ, nên tâm mới xáo động. Giờ Bồ Tát giúp bạn sắp xếp lại cho ngay chính,
đặt đúng chỗ, thì tâm đó mới có thể an định được chứ!
Phải hiểu rằng, chúng sinh ôm giữ đủ loại tâm bất thiện này;
một khi bạn vứt bỏ được những hạt sạn dơ bẩn đó, bạn sẽ trở thành bậc thánh.
Thánh giả là gì? Thánh giả chính là thánh nhân, là những người đã siêu thoát khỏi
mọi phiền não thế tục. Các vị hôm nay ngụp lặn trong đạo người với đầy rẫy phiền
não, ghen ghét, hận thù, tham lam; tất cả những hỉ nộ ái ố đó kéo các vị ra xa
lắc xa lơ cảnh giới thánh nhân — quá xa xôi, các vị hoàn toàn không đủ tư cách
làm thánh nhân!
Phải có tự tánh. Một người phải tìm thấy bản tánh của chính
mình, đó chính là Phật tánh. Phải tự độ (tự cứu mình); nghĩa là, bất luận gặp
giông bão gì, tôi cũng tự mình đương đầu giải quyết, tức là chính tôi đã tự độ
cho mình. Lấy ví dụ đơn giản: Bấy giờ tôi đang đau khổ tột cùng, một lát sau
tôi tự đả thông tư tưởng, thế là tôi đã tự độ! Hôm nay bạn buồn rầu, bạn rên rỉ
khóc lóc từ sáng tới đêm đen, tức là bạn chưa thể tự độ cho mình; bạn đã để mất
đi năng lực tự độ. Một kẻ ngay cả cảm xúc cá nhân còn không kiểm soát nổi, thì
làm sao có tư cách đi độ hóa kẻ khác? Thế nên, Tự độ độ nhân — trước tiên phải
cứu lấy mình, sau đó mới đi cứu người! Chúng ta phải nhìn thấu bản tính của
mình — hóa ra bản chất của chúng ta vô cùng lương thiện. Độ người phải tự độ
mình trước, muốn vớt người phải vớt mình lên trước; phải buông bỏ mọi chướng ngại
trong lòng, đừng có hôm nay phát điên vì chuyện này, ngày mai lại rồ dại vì
chuyện khác.
Phải hiểu rõ trái tim của con người nên được neo đậu ở đâu. Nếu
đặt tâm nơi bản tính của mình, đặt tâm vào đúng vị trí ngay chính, thì khi ấy mới
thực sự gọi là “an tâm”. Nếu bạn chỉ vì mưu cầu lợi ích cá nhân, thứ bạn đặt xuống
chỉ là cái tâm vụn vặt ích kỷ; thế nên người đời mới có câu "Kẻ hẹp
hòi" (Tiểu tâm nhãn - lòng dạ hẹp hòi). Bởi vì những kẻ chỉ biết tư lợi
cho bản thân, thì tâm lượng nhỏ bé, tù túng. Mong mọi người thấu tỏ đạo lý này.
Chân tu mới là chân đắc (đạt được thứ chân thật). Các vị hôm
nay tụ tập ở đây, phải thực sự tu hành thì các vị mới đắc được thành quả thực sự.
Trong cuốn Thái Thượng Cảm Ứng Thiên có dạy: "Mẫn nhân chi hung" —
nghĩa là khi người khác gặp tai ương, hung hiểm, bạn phải rủ lòng xót thương;
"Nhạc nhân chi thiện" — khi người khác làm được việc thiện, bạn phải
hân hoan, pháp hỷ; "Tế nhân chi cấp" — khi người khác lâm vào đường
cùng cần giúp đỡ nhất, bạn phải giang tay cứu tế; "Cứu nhân chi nguy"
— khi người khác ở trong tình cảnh ngàn cân treo sợi tóc, bạn phải xả thân cứu
vớt; "Kiến nhân chi đắc, như kỷ chi đắc" — nhìn thấy người khác đạt
được thành tựu, bạn phải vui mừng như chính mình vừa gặt hái thành công;
"Kiến nhân chi thất, như kỷ chi thất" — thấy người khác mất mát, phải
buồn như chính mình bị mất mát.
“Bất chương nhân đoản” — không phô bày, không nói quá những
khuyết điểm của người khác, bởi vì bản thân bạn cũng có khuyết điểm! Sư phụ từng
kể một câu chuyện trong pháp hội tại Thái Lan: Có chú tiểu đang rửa bát dưới bếp,
một chú tiểu khác chạy tới mách sư phụ: "Sư phụ ơi, sư đệ lỡ tay làm vỡ
bát rồi!" Sư phụ nghe xong mỉm cười đáp: "Ta mong con vĩnh viễn đừng
bao giờ làm vỡ bát." Lời răn dạy này hàm ý gì? Con bới móc lỗi lầm của người
ta, tức là con đang tự nắm lấy đuôi mình! Chẳng lẽ con không bao giờ làm vỡ bát
sao? Hôm nay khi con chê người khác không tốt, chẳng lẽ con sẽ không bị người
khác chê sao? Đó chính là đạo lý "Bất chương nhân đoản"!
Bất huyễn kỷ trường — Không được khoe khoang sở trường của bản
thân. Phải biết rằng, ưu điểm hễ mang ra khoe khoang lập tức biến thành khuyết
điểm. Bạn khoe mình đã làm bao nhiêu công đức, khoe mình tài giỏi ra sao; đến
cuối cùng, sẽ chẳng còn ai thèm khen ngợi bạn nữa. Bạn càng tự tâng bốc mình,
người ta càng ngứa mắt. Chẳng phải vì thói khoa trương sở trường mà bạn tự chuốc
lấy khuyết điểm cho mình sao? Ngược lại, nếu bạn khiêm tốn: "Tôi có làm được
gì đâu, chỉ đóng góp chút xíu sức mọn, còn phải cố gắng nhiều lắm", thì mọi
người lại tấm tắc khen ngợi bạn. Trông có vẻ như bạn đang đưa ra một chút xíu
"khuyết điểm", nhưng thực tế bạn lại nhận được vô vàn sự kính trọng
và yêu mến của người khác. Con mắt thế gian tinh tường lắm! Công đức không phải
dùng miệng nói ra, mà phải dùng hành động để làm nên; đừng bao giờ tự huyễn hoặc
phô trương. Át ác dương thiện — Ngăn chặn điều ác, phát huy điều thiện. Thấy
cái gì xấu xa, không đúng, đừng hùa theo; phải dập tắt nó, chặn đứng nó, và nỗ
lực phát huy tối đa ánh sáng lương thiện trong chính mình.
"Thọ nhục bất oán" — Bị người ta sỉ nhục mà không
nổi trận lôi đình, đây đích thị là một người có hàm dưỡng, một người học Phật
chân chính! Bị người khác làm nhục mà cứ động một chút là nổi nóng, cho rằng
mình ghê gớm lắm, thì người đó tuyệt đối không phải là người học Phật! "Thọ
sủng bất kinh" — Câu này chúng ta vẫn hay nói: Được người khác nói vài lời
tốt đẹp, được người khác khen ngợi vài câu, cũng không nên kinh ngạc hay tự cho
mình là giỏi; phải khiêm tốn, thận trọng. Phải giữ thái độ khiêm tốn cẩn trọng:
"Mình làm còn kém cỏi lắm, mình phải nỗ lực hơn nữa, mình còn thiếu sót
nhiều lắm!" Đó mới là bậc thức giả thấu hiểu đạo lý.
“Thi phước bất cầu báo” (Ban phước không cầu báo đáp) — Tôi
ban cho bạn biết bao ân phước mà không đòi hỏi bạn phải báo đáp, đó mới thực sự
là Bồ Tát! Các vị phải nhìn tấm gương của Sư phụ mà học tập: Từ hồi đài phát
thanh cũ cho đến tận bây giờ bao nhiêu năm ròng, bất luận ai tìm đến xin giúp đỡ,
Sư phụ đều xem xét từ sáng tinh mơ tới tận đêm khuya; ở đài cũ, có khi một ngày
hàng chục người xếp hàng, Sư phụ vẫn kiên nhẫn coi từng người, viết từng chữ;
Sư phụ có cầu đòi cái gì không? Thi ân bất cầu báo — Các vị giờ đã hiểu tại sao
Sư phụ lại nhận được sự chào đón và tôn kính của nhiều người đến vậy chưa? Rất
nhiều người hay thắc mắc: "Tại sao mình không thể làm chút gì đó để được mọi
người chào đón như Sư phụ nhỉ?" Cứ làm đi, sẽ thành công! Nhưng đó không
phải là chuyện một sớm một chiều, không phải làm một hai năm là có kết quả; nó
đòi hỏi một cái gốc thiện lương, một nguyện lực từ bi vĩ đại. Cứ bền bỉ không
ngừng cống hiến, bạn nhất định sẽ nhận được sự tôn kính và yêu kính của muôn
người!
25. Thấu hiểu Phật lý, đắc Pháp lý chốn nhân gian
Sư phụ lần trước đã nói rồi, hiện tại nếu ai làm được việc
có người tâm cam tình nguyện giúp bạn đốt “Ngôi nhà nhỏ”, thì đó chính là nhờ
công đức của bản thân bạn. Hiện tại có người đang giúp một vị đồng tu làm thư
ký đốt “Ngôi nhà nhỏ”, chuyện của mẹ cậu ấy cũng có người âm thầm ở phía sau
giúp đốt “Ngôi nhà nhỏ”, đây là do tự cậu ấy tạo ra, đúng không? Cậu ấy đã giúp
đỡ bao nhiêu người, cứu được bao nhiêu người có ý định tự sát, những việc cậu ấy
đã làm, tất cả mọi người đều nhìn thấy được. Do đó, sự báo đáp mà cậu ấy nhận
được là điều bình thường, là điều tất nhiên. Chúng ta làm việc đừng cầu mong
người khác báo đáp, thì bạn nhất định sẽ nhận được sự báo đáp.
Giao thiệp với người không truy hối, nghĩa là khi đối đãi với
người khác thì không hối hận. Không có gì cả, đã làm rồi, dù tốt hay xấu thì lần
sau sửa đổi là được. Đừng đi bổ sung giải thích thêm rằng "tôi đến để bù đắp",
"tôi vốn dĩ ra sao, ra sao", chỉ cần trong lòng ghi nhớ, lần sau đừng
làm sai nữa là được.
Người thiện ai ai cũng kính trọng. Nếu bạn là một người
lương thiện, mọi người đều kính trọng bạn, trời đất che chở, phúc lộc sẽ tự
theo sau. Nếu bạn là một người lương thiện, bạn còn sợ không có phúc khí sao? Nếu
bạn là một người tốt, bạn còn sợ không có đường công danh, không có tài vận
sao? Mọi người đều yêu quý bạn, bạn sẽ có được mọi thứ. Do đó, mọi tà ác sẽ
tránh xa. Bởi vì bạn là một người lương thiện, người tốt đều yêu quý bạn, những
kẻ xấu ác, những người không tốt đều sẽ rời xa bạn. Như vậy, chẳng phải là
không có ác nhân đến ức hiếp bạn, trêu chọc bạn, đố kỵ với bạn, khiến bạn phải
chịu sự đối xử bất công nữa sao? Mọi người cần phải hiểu, trời đất hữu tình sẽ
che chở; nếu bạn là một người lương thiện, chúng sinh có duyên trong trời đất đều
sẽ đến giúp đỡ bạn. Phật Bồ Tát, Hộ pháp thần bảo vệ, nghĩa là Phật Bồ Tát và Hộ
pháp thần đều sẽ đến bảo vệ bạn, giúp đỡ bạn; cho nên, việc bạn làm ắt sẽ thành
công. Nói cho cùng, một người lương thiện sẽ nhận được sự giúp đỡ của mọi người,
tất cả mọi việc người đó làm đều sẽ thành công; một kẻ ác không có ai đến giúp
đỡ, thì việc hắn làm sẽ không thể thành công. Các vị hãy suy nghĩ một chút, hiện
tại các vị làm bao nhiêu việc mà chưa thành công, liệu các vị đã là một người
lương thiện chưa? Hãy suy nghĩ cho thật kỹ, Sư phụ đang giúp các vị gột rửa đi
những bụi bẩn đấy.
Phải thực sự thấu hiểu giáo lý của Phật Bồ Tát, bạn mới có
được nền tảng để làm người, hơn nữa sau khi tiếp thu giáo lý của Phật Bồ Tát rồi,
thì phải thực tu. Rất nhiều người chỉ hiểu Phật lý một cách nửa vời. Phải biết
rằng, giáo lý của bạn, mục đích là để giúp bạn đắc được pháp lý ở nhân gian.
Giáo lý giáo dục của việc học Phật cuối cùng là để bạn có được pháp lý làm người;
khi bạn làm bất cứ việc gì cũng phù hợp với pháp lý, thì con người bạn ở thế
gian này nhất định sẽ thông suốt không trở ngại.
Có những chúng sinh nhận được đồ tốt, họ phát đại từ bi tâm,
không có tâm phân biệt, họ muốn báo đáp cá nhân, báo đáp xã hội, báo đáp tất cả
chúng sinh. Cho nên, có những người khi được người khác tặng đồ, bản thân họ
không cất giấu đi, mà mang ra để mọi người cùng chia sẻ. Tại sao khi tổ chức
sinh nhật lại để mọi người cùng chia sẻ bánh kem? Sao bạn không tự mang bánh
kem về nhà để từ từ hưởng thụ? Tự bạn ăn một cái bánh kem lớn sẽ sinh bệnh đấy,
đồ tốt là phải để cho mọi người cùng có được, là phải để mọi người cùng chia sẻ.
Trí tuệ của Phật Bồ Tát cần phải để cho mỗi một người đều có thể đắc được. Một
người học Phật lương thiện khi có chuyện tốt lành, phải chia sẻ cho chúng sinh.
Các vị hiện tại đã học được "Pháp môn Tâm linh" tốt như thế này, thì
phải để cho tất cả mọi người đều có thể thấu hiểu nó, học hỏi nó, vậy chẳng phải
gọi là Bố thí sao?
Người học Phật trong tâm không được có tâm phân biệt, phải
thấy rằng mọi người đều là người tốt. Giúp đỡ người khác làm việc tốt, trong
tâm ngàn vạn lần đừng đợi chờ bất kỳ sự báo đáp nào. Nếu không, thứ bạn đợi được
sẽ là nỗi "cam khổ" đấy. Cam (vị ngọt) không còn nữa, Khổ (nỗi khổ)
thì tự mình nếm trải; cam khổ chính là nỗi khổ của chính bạn. Thực tế, ý nghĩa
của cam khổ ở đây là: bạn làm việc tốt cho một người nào đó, bạn cứ một lòng
mong chờ người đó báo đáp mình; khi bạn không nhận được sự báo đáp, khi người
ta không đối xử tốt với bạn, bạn sẽ sân hận, bạn sẽ thương tâm, bạn sẽ buồn bã.
Do đó, mọi người làm việc tốt cứ việc làm thôi, đừng đi chờ đợi sự báo đáp. Khi
sự báo đáp đến, bạn sẽ cảm thấy mừng rỡ bất ngờ, bạn sẽ thấy rằng sao mình lại
gặp chuyện tốt đến vậy, là bởi vì bạn đã quên mất việc chờ đợi người ta báo đáp
rồi.
Cho nên, cái tâm đại bi này cũng được dùng để đối xử bình đẳng
với những người ăn xin thấp kém. Gần đây, Giáo hoàng La Mã Francis I tại một
trường giáo dưỡng thiếu niên ở Rome đã rửa chân cho các thiếu niên phạm tội và
hôn lên mu bàn chân của họ. Ngài ấy là một vị Giáo hoàng, tại sao lại làm như vậy?
Ngài làm như vậy là để cho người trên toàn thế giới thấy rằng chúng sinh là
bình đẳng, Thượng đế, Bồ Tát và tất cả những đấng chúng ta tôn thờ đều bình đẳng
với chúng ta, không có ai đứng cao hơn người khác, không có ai đáng được hưởng
đặc quyền hơn người khác.
Người học Phật nên dùng tâm bình đẳng để nhìn người. Bất kể
là người có tiền, hay là người ăn xin gặp trên đường phố, chúng ta đối với
chúng sinh đều phải có tâm từ bi như nhau. Cho nên, chúng ta phải cúng dường
Như Lai Tâm, chính là cúng dường Phật tâm của chúng ta, chúng ta phải thành
kính hoàn toàn như nhau, như vậy mới đắc được Đại pháp thí viên mãn. Ví dụ, hôm
nay tôi đối với trẻ nhỏ cũng ân cần chỉ bảo, không thể vì nó là trẻ con mà tôi
đối xử không tốt với nó, như vậy là không được; hay vì ông ấy đã lớn tuổi, sắp
qua đời rồi, mà tôi cũng không đối xử tử tế với ông ấy, những điều này đều
không thuộc về Đại pháp thí viên mãn.
Đại pháp thí viên mãn, chính là chân chính cúng dường tất cả
mọi người, để họ đắc được Như Lai Tâm, sự pháp thí như vậy mới là viên mãn nhất.
Thực ra, bố thí bình đẳng chính là bố thí viên mãn. Người có thể bố thí bình đẳng,
chính là người từ bi nhất; việc người đó có thể làm được, người đó bố thí bình
đẳng, việc người đó không làm được, người đó cũng bố thí bình đẳng, như vậy mới
có thể đạt đến Chánh Đẳng Chánh Giác. Cho nên, trước tiên có thể để tâm mình đạt
đến Chánh Đẳng Chánh Giác, cộng thêm việc bạn không có tâm phân biệt, cộng thêm
sự nhiếp thọ của đại trí tuệ (nghĩa là tu học thời gian dài thì sinh ra trí tuệ),
cộng thêm việc chúng sinh pháp giới thường trụ trong tâm bạn (chính là trong
lòng bạn luôn nhớ nghĩ đến chúng sinh), thì bạn mới có thể đạt đến Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác, không có ranh giới, chính là cảnh giới cao nhất. Thử
nghĩ xem, Đức Phật có phải như vậy không? Đức Phật chính là Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác, bởi vì Đức Phật chưa bao giờ xem thường bất kỳ một ai, bởi vì Đức
Phật mãi mãi tưởng nhớ và giúp đỡ chúng sinh, cho nên, Ngài chính là Phật.
Phải loại bỏ tâm tà mê, tâm cuồng vọng, tâm bất thiện, tâm đố
kỵ, tâm ác độc trong lòng chúng sinh, cùng những cái tâm tương tự như vậy, bởi
vì có những tâm này, bạn chính là chúng sinh. Mỗi ngày hãy thường xuyên tự suy
ngẫm: Hiện tại tôi có tâm tà mê không? Tôi có mê muội vì ai không? Không; tôi
có tà niệm không? Không; tôi có cuồng vọng không? Không; bản thân có tiền, có
danh rồi, có cuồng vọng không? Không; tôi có tâm bất thiện không? Không; tôi có
tâm đố kỵ không? Hôm nay tôi không có; tôi có tâm ác độc không? Có muốn chơi xấu
người khác không? Không. Nếu vậy, bạn chính là một vị thánh nhân đã siêu thoát
khỏi chúng sinh, các vị hiểu chưa? Người học Phật không thể có những cái tâm
này.
Tự tính tự độ, đó gọi là chân độ (sự cứu độ thực sự). Tự
tính tự độ nghĩa là gì? Chính là tự mình nhìn thấy bản tính của mình là Phật, tự
mình độ chính mình, đó mới là chân độ. Rất nhiều người làm người, học Phật cảm
thấy rất mệt mỏi, bởi vì họ không biết cái gì là đúng, cái gì là sai. Sư phụ đã
nói với các vị rất nhiều lần, phải thường xuyên nhìn lại xem mình có phải là
người có lương tâm hay không. Nếu hôm nay bạn cảm thấy mình rất có lương tâm,
thì bạn chính là người có giác ngộ; nếu hôm nay bạn không cảm nhận được lương
tâm là gì, chỉ nói rằng "tôi chỉ biết kiếm tiền", "tôi chỉ cần có
danh có lợi", thì bạn chính là người chưa khai ngộ.
Phải khiến cho những tà kiến, tà niệm, phiền não và sự ngu
si trong lòng mình đều biến thành chánh kiến, chính là đi nhìn nhận chúng một
cách đúng đắn. Lấy một ví dụ đơn giản, hôm nay người ta nói với bạn rằng hàng
xóm đang bịa chuyện nhà bạn, bạn vừa nghe xong, lập tức khởi tà kiến, không vui
rồi. Bạn phải làm thế nào để mình có chánh kiến? Vậy thì trước tiên bạn phải
suy nghĩ: Hàng xóm không ân không oán với tôi, tại sao họ lại bịa chuyện về
tôi? Thứ hai, có khi nào có người nghe nhầm không? Thứ ba, cho dù họ có bịa
chuyện thật, có thể là vì tôi đã làm những việc không đúng lý không đúng pháp,
tôi cũng sẽ không hận họ. Nói như vậy, chẳng phải bạn đã có chánh kiến rồi sao?
Nếu bạn vừa nghe người ta nói bạn không tốt, bạn lập tức đi cãi nhau, đi tranh
cãi, đó gọi là đi lệch rồi, gọi là tà mê. Cho nên, nghe người khác nói chuyện,
nhất định phải ngay thẳng, đừng để bị che mờ, nghe xong lập tức nổi giận, thì
đó chính là tà mê. Đừng vì anh ấy là chồng bạn mà nghĩ rằng những lời anh ấy
nói nhất định là đúng; đừng vì cô ấy là vợ bạn mà bạn mãi mãi tin cô ấy; đừng
vì nó là con bạn mà bạn cứ tin tưởng nó. Thử nghĩ xem, chính vì chúng ta vướng
mắc vào Nhân tướng, Ngã tướng, chúng ta mới làm sai rất nhiều việc. Sư phụ nói
cho các vị biết, thực ra người dễ bị mắc lừa nhất không phải ai khác, mà chính
là bản thân các vị. Các vị bị chính mình lừa gạt, các vị hiểu sai vấn đề, cuối
cùng các vị nhận lấy một quan điểm sai lầm, các vị sẽ làm ra những việc sai lầm,
như vậy chẳng phải các vị đang bị chính bản thân mình làm hại sao?
26. Giác thụ là một loại Giác ngộ
Người học Phật tuyệt đối không được cuồng vọng. Thánh giả ly
cuồng — Người thánh thì lìa xa sự cuồng vọng. Nếu bạn là một bậc Thánh nhân, bạn
tuyệt đối sẽ không cuồng vọng; kẻ ngu muội thì cuồng vọng, bởi vì kẻ ngu muội
là người không có trí tuệ. Nếu bạn tự thấy mình là kẻ ngu muội, trước tiên càng
không được cuồng vọng.
Làm một việc gì đó phải thử nghiệm nhiều lần. Ngày xưa có một
người, để chiếm được lòng tin của ông chủ, cứ mỗi nơi ông chủ dự định đến vào
ngày mai, hôm nay anh ta sẽ đích thân dẫn tài xế đi trước một vòng. Thế nên
ngày hôm sau khi ông chủ xuất phát, sẽ không bao giờ có chuyện lạc đường tìm
không ra số nhà, không bao giờ làm lỡ dở thời gian của sếp. Sư phụ từng nghe kể
về phong cách làm việc của tập đoàn Mitsubishi; các trợ lý dưới quyền ông chủ
Mitsubishi đều làm việc vô cùng cẩn trọng và chặt chẽ như thế. Tuyệt đối không
bao giờ có chuyện "đến đó rồi tính", "đến lúc đó rồi hay", càng
không đợi đến khi xảy ra vấn đề rồi mới tìm lý do hoặc giải thích cả buổi. Nếu
bạn hay bào chữa: "Làm sao tôi biết được sự việc lại thành ra cớ sự này cơ
chứ?" — điều đó chứng tỏ bạn đã không thực sự dụng tâm; Không có chuyện gì
là không thể biết trước; việc đã làm mà không tốt thì đó là trách nhiệm của bạn!
Lấy ví dụ: Đường sắt xảy ra tai nạn, nếu bạn là Bộ trưởng Bộ Đường sắt, bạn có
thể chống chế: "Tôi có phải là người lái tàu đâu, bọn họ không cẩn thận
đâm vào nhau thì liên quan gì đến tôi?" được không? Đúng là đoàn tàu không
phải do ông ta lái, cũng chẳng phải do ông ta đâm, thế tại sao ông ta phải từ
chức? Bởi vì ông ta là người chịu trách nhiệm quản lý cả hệ thống đường sắt đó,
và ông ta đã làm không tròn trách nhiệm!
Các vị đi làm ở cơ quan, hay làm việc ở bất cứ đâu, cũng phải
giữ thái độ cẩn trọng, chặt chẽ; đừng tham nhanh, đừng làm qua loa, đừng chủ
quan nghĩ rằng việc mình từng làm tốt thì bây giờ chắc chắn sẽ làm tốt. Ngay cả
những việc đã từng làm, vẫn có lúc gặp những lúc không như ý, không đúng pháp,
nghe hiểu không? Cẩn thận làm thêm một lần không bao giờ thừa! Robin làm nghề vận
chuyển bao nhiêu năm nay, thỉnh thoảng vẫn giao nhầm địa chỉ, hơn nữa lại còn
thường xuyên mắc lỗi. Thử nghĩ xem, anh làm nghề mười mấy năm rồi cơ mà? Vậy
các vị tụng kinh mười mấy năm, mấy chục năm, lẽ nào không có lúc tụng sai, tụng
chệch? Đạo lý hoàn toàn giống nhau! Người học Phật phải thực sự, thực tâm rũ bỏ
thói cuồng vọng.
Con người phải có tinh thần mộc mạc, phải dũng cảm thừa nhận
sai lầm và quyết tâm sửa đổi. Con người còn một căn bệnh nữa: Hễ thất bại thua
cuộc, người ta thường sinh lòng đố kỵ. Khi bạn thua, phải dũng cảm thừa nhận
mình làm sai; bạn đã thua rồi mà! Nhưng cái tật của con người là "Thua mà
không chịu nhận thua". Vì thế, Sư phụ cực kỳ ghét rất nhiều người trong số
các vị, suốt ngày chỉ đi giải thích bào chữa. Sư phụ thấy người Úc có một thói
quen rất tuyệt vời: Làm sai việc gì, chỉ cần thốt ra một từ "Sorry"
(Tôi xin lỗi), thế là xong, kết thúc! Còn chúng ta làm sai, "Không những...
mà còn...", lải nhải giải thích nửa ngày trời; bởi vì bạn đã làm sai rồi,
ván đã đóng thuyền không thể lật lại được nữa, có giải thích hươu vượn thế nào
cũng hoàn toàn vô ích. Cách tốt nhất là mau chóng giải quyết êm xuôi hậu quả, rồi
thôi, kết thúc, xin lỗi!
Nói một câu khó nghe: Làm sai chuyện chẳng khác nào tạo ra một
thứ không tốt, đã thối rữa và bốc mùi, bạn có chế biến thế nào, thêm tiêu, cho
đường giấm, nấu nướng thế nào đi nữa, khi đưa vào miệng người ta vẫn bốc mùi
hôi thối! Cách tốt nhất là quăng thẳng nó vào sọt rác! Cho nên, người thông
minh khi làm sai chuyện sẽ lập tức nói: "Tôi xin lỗi, tôi làm sai rồi",
sau đó lập tức làm lại. Ông chủ sẽ không vì một việc nào đó mà đuổi việc bạn;
nhưng nếu bạn cứ cố gắng ngụy biện, không ngừng bào chữa, người ta sẽ đánh giá
bạn là kẻ có "bản tính không tốt”, biết sai mà không chịu sửa, lần sau
công ty rất có thể sẽ thôi việc bạn thật đấy! Nghe hiểu không? Trình bày đông
tây nam bắc có tác dụng gì? Nếu thực sự muốn nói, chỉ cần hai câu là giải quyết
xong: Thứ nhất, do sự sơ suất của tôi nên đã gây ra lỗi lầm này; thứ hai, tôi
xin rút kinh nghiệm, sau này ở khâu đó chúng ta phải tăng cường quản lý, chú ý
hơn nữa. Xong! Đã làm sai rồi thì có gì đáng để giải thích cơ chứ? Bởi vì chúng
ta không phải là thánh nhân!
Chúng ta tu tâm tu đến cảnh giới cuối cùng, trong tâm hoàn
toàn không được có chút tâm tà nào, như vậy mới là thánh giả, thánh nhân. Phải
Tự tính tự độ, phải thấu hiểu những chướng ngại của chốn nhân gian. Chúng ta thừa
biết nhân gian đầy rẫy khổ đau, nhân gian giăng đầy chướng ngại; chúng ta đang
sống lây lất, mờ mịt giữa cõi đời này, thế nên chúng ta càng phải hiểu rõ mình
là ai. Chúng ta chẳng là ai cả, chúng ta không có bản thân mình; chúng ta quên
đi chính mình thì mới có thể hiểu mình là ai! Nếu suốt ngày bạn cứ loanh quanh
quẩn lại trong cái chữ "Tôi", bạn sẽ chìm nghỉm xuống vực sâu của dục
vọng: Tôi muốn cái này, tôi đòi cái kia, tôi không thể không có danh phận, tôi
không thể thiếu tiền, tôi không thể thiếu thứ này thứ nọ, con cái tôi ra sao, bố
mẹ tôi thế nào... Tất thảy đều xoay quanh một chữ "Tôi"! Cứ như thế,
ngày qua ngày, bạn sẽ tự lê bước xuống vực sâu của dục vọng.
Sống ở nhân gian, phải học cách trầm tĩnh và sâu lắng. Dù là
đàn bà hay đàn ông, đừng mở miệng ra là ba hoa khoác lác; người ít lời sẽ rất dễ
nhận được sự tôn trọng của thiên hạ. Nếu cả ngày cứ thao thao nói mãi không ngừng,
người ta sẽ khinh thường bạn.
Trong cuộc sống, khi làm những việc không cần thiết phải
làm, cảm giác của cơ thể không bằng giác thụ về tinh thần. Nghĩa là sao? Hôm
nay bạn làm thay việc cho ông chủ một ngày, đứng chỉ huy người khác; thân thể bạn
cảm thấy oai phong sung sướng đấy, nhưng cái sướng đó không thể sánh bằng
"Giác thụ" của tinh thần — tức là trong tinh thần bạn nảy sinh một loại
cảm giác khác, đó chính là cảm hứng. "Giác thụ" của sự giác ngộ chính
là: Hôm nay tôi lĩnh ngộ thấu đáo một vấn đề, thế là tôi giác ngộ! Còn sự hưởng
thụ của thể xác thì sao? Ví dụ hôm nay ngủ ngon một chút, ăn ngon một chút; có
người tìm thấy sự hưởng thụ thể xác qua việc tắm rửa sảng khoái, hoặc cứ nhìn
thấy cái giường là thấy khoan khoái rồi.
Lấy một ví dụ: Thứ bảy tuần này các vị được lùi giờ học lại
một tiếng. Rất nhiều người phản ứng đầu tiên là sự hưởng thụ của thể xác:
"Ồ, được ngủ nướng thêm một tiếng rồi!" Thứ hai là giác thụ về mặt cơ
thể: "Tuyệt quá, ngay từ bây giờ đã bắt đầu thấy sướng như đang được ngủ rồi!"
Vậy cái cảm giác "Giác thụ" này há chẳng phải còn sướng hơn cả việc
thực sự được ngủ thêm một tiếng sao? Giác thụ há chẳng sướng hơn cảm giác của tinh
thần sao? Do đó, cảm thụ thuộc về ý thức mới là thứ khoan khoái nhất! Sư phụ
nói cho các vị biết: Cứ nghĩ đến việc sắp được nghỉ phép là thấy sướng, nghĩ đến
việc được ngủ thêm một tiếng là thấy hoan hỷ; thế nhưng một tiếng sau thì sao?
Nếu bạn đang làm một việc mình thực sự đam mê, bạn sẽ không có cảm giác này, vì
ngày nào bạn cũng thấy ngập tràn niềm vui. Còn nếu ngày nào bạn cũng làm việc cực
nhọc, đột nhiên được nghỉ lùi lại một tiếng, bạn sẽ sướng rơn; nhưng một tiếng
đó qua đi, sang ngày hôm sau bạn lại tiếp tục chuỗi ngày ủ ê đau khổ. Mọi người
nghe hiểu không?
Sư phụ muốn các vị phải nhìn thấu những sự việc này ở một tầng
sâu hơn. Chuyện yêu đương hẹn hò cũng vậy: Hẹn thứ Sáu gặp nhau, từ thứ Ba đã bắt
đầu lâng lâng vui sướng, hết trang điểm bên này lại trang điểm bên kia. Một lát
sau nói chuyện không thành, thế là xong, kết thúc, lại chờ lần sau. Như vậy là
để làm gì? Trong lòng không có sự hưng phấn ngân vang, lưu lại ấy. Thứ hưng phấn
đích thực phải là thứ giúp nội tâm bạn nghĩ thông suốt, nhìn thấu đáo, giác ngộ
và cái gì cũng hiểu rõ: "Chuyện này có cái gì to tát đâu? Cầm lên được thì
đặt xuống được! Có người yêu thì hoan hỷ, không có cũng chẳng chết ai; hôm nay
đối phương muốn thế nào thì cứ thế. Mình sống ở cõi đời này chẳng qua là để trả
nghiệp nợ thôi mà! Ở đâu chẳng là trả nợ? Trả cho anh ta cũng là trả, trả cho
người khác cũng là trả; trả nhiều trả ít tóm lại vẫn phải trả! Chi bằng cứ
thành thật cúi đầu mà trả nợ. Trong quá trình thành khẩn trả nợ, nhờ Bồ Tát
giúp đỡ, chúng ta còn có thể trả ít hơn, mắc nợ ít hơn, sau này ắt sẽ trả dứt
điểm. Còn nếu không mắc nợ ai, thì sau này khỏi phải trả nữa — thế chẳng phải
là tu thành rồi sao?" Bà Châu nghe đã hiểu chưa? Bà sống gần cạn kiếp người,
trả nợ đến tận hôm nay vẫn chưa dứt, bà vẫn muốn tiếp tục cong lưng trả nợ sao?
Nhìn thấy con trai, bẵng đi một thời gian lại nhấp nhổm lo không biết con trai
với con dâu sống sao rồi, thằng cháu ra sao rồi... Thế thì trả đến bao giờ mới
hết nợ?
Người học Phật phải có cảnh giới! Phải biết Nhân, hiểu Quả;
ít gieo nhân mới thấu rõ quả. Ít tạo thêm nghiệp mới, thì nghiệp cũ mới dễ bề
tiêu trừ; nếu không, nghiệp cũ và nghiệp mới cùng phải trả một lúc, sẽ tạo
thành nghiệp chướng lớn, phạm phải sai lầm lớn ở nhân gian!
27. Thân và Tâm tuyệt đối không được rò rỉ (Hữu Lậu)
Hôm nay giảng cho mọi người nghe: Tại sao một người học Phật
lại bị "Rò rỉ" (Hữu lậu)? "Rò rỉ" là một vấn đề rất lớn! Ví
dụ: Hôm nay gia đình bạn cũng có chút thực lực kinh tế, nhưng mỗi ngày bạn đều
bị thất thoát tiền bạc, lâu dần bạn sẽ hết tiền. Bạn ngày ngày liều mạng hy
sinh làm bao nhiêu việc tốt cho gia đình, bạn đối xử với vợ, với chồng vô cùng
tận tâm; nhưng rồi sẽ có một ngày, người đó bỗng dưng quay ra tệ bạc với bạn.
Lý do vì sao? Bởi vì bạn thường xuyên "Rò rỉ"! Cái rò rỉ đó là gì? Chính
là bạn thường xuyên làm một vài việc không tốt.
Một người học Phật làm công đức tuyệt đối không được phép
"Rò rỉ"; bởi vì "Hữu lậu tức đọa" — nghĩa là chỉ cần bạn có
chỗ rò rỉ, bạn nhất định sẽ sa đọa! Người học Phật hôm nay chỉ cần lơi lỏng
không cố gắng vươn lên, chắc chắn bạn sẽ tụt lùi; người học Phật hôm nay không
chuyên tâm tu hành, chắc chắn bạn sẽ tuột dốc không phanh.
Khi một người thực sự dốc tâm học Phật, quyết tâm sửa đổi
thói hư tật xấu, họ bắt buộc phải bịt kín mọi lỗ hổng của khuyết điểm. Nghĩa
là: Hôm nay tôi là người tốt, thì tôi dứt khoát không được làm mảy may một việc
xấu nào, như vậy tôi mới xứng danh là người tốt! Nếu hôm nay bạn vừa làm việc tốt,
lại vừa âm thầm làm việc xấu, thì bạn chưa phải là người tốt hoàn toàn! Lấy ví
dụ đơn giản: Mọi người đều biết khinh khí cầu đang bay vút lên cao, tại sao lại
rơi rụng xuống? Chỉ cần thủng một lỗ, nó sẽ rơi xuống! Máy bay cũng vậy, toàn bộ
cửa sổ trên máy bay đều phải bịt kín bưng; chỉ cần mở một cánh cửa, hoặc chỉ cần
một khe nứt, chiếc máy bay đó chắc chắn sẽ lao xuống đất! Con người cũng y hệt
như thế. Hôm nay bạn đã phát tâm học Phật, thì suy nghĩ và hành vi của bạn
không được có một chút gì không tốt. Nếu ban ngày bạn hăng hái làm việc thiện,
ban đêm lại buông lời nói xấu người khác, thì bạn vĩnh viễn không bao giờ học tốt
Phật pháp, bạn không phải là một đệ tử Phật chân chính — bạn chắc chắn đang bị
"Rò rỉ"! Rò rỉ lúc mới bắt đầu sẽ chẳng có cảm giác gì đâu, nhưng rỉ
đến một độ nhất định, toàn bộ công đức của bạn sẽ hết!
Rò rỉ được chia thành Tâm lậu (Tâm rò rỉ) và Thân lậu (Thân
rò rỉ).
Tâm lậu là gì? Trong lòng nghĩ không thông, không thấu đáo vấn
đề, ấm ức không vui — thế là bắt đầu rò rỉ! Lâu dần ngày càng bế tắc, ngày càng
thấy mình hàm oan, ngày càng hậm hực than trời trách đất sao mình toàn vấp phải
chuyện bất công ngang trái, trong khi người ta lại được sung sướng thảnh
thơi... Cứ như thế, cái tâm của bạn sẽ rò rỉ hết sạch, nên mới gọi là "Lậu
quang". Thân lậu cũng chính là Thể lậu — tức là Thân thể bị rò rỉ.
Hôm nay Sư phụ xin khẳng định trước với các vị: Người học Phật
làm công đức, dứt khoát không được "Hữu lậu"! Nếu hôm nay bạn đi làm
công đức, nhưng bạn không giữ vững được cái tâm của mình, đó gọi là "Hữu lậu".
Lấy ví dụ đơn giản: Thấy người khác làm việc xấu mà kiếm được một ít tiền, bạn
cũng liều mạng muốn làm một chút việc xấu để kiếm những đồng tiền không nên kiếm
— thế là bạn đã bị rò rỉ, Tâm bạn đã lậu rồi! Thấy người ta thành đạt thì đỏ mắt
đố kỵ; thấy người ta hạnh phúc thì trong lòng oán hận người ta — tất cả những
thứ đó đều là tâm lậu! Tham lam dòm ngó tài sản của người khác, ghen ghét đố kỵ,
sân hận thù hằn — thảy đều là Hữu lậu, thảy đều thuộc về niệm đầu bất chính! Nếu
bạn không kiềm tỏa được cái tâm của mình, bạn sẽ trượt dài vào con đường phạm tội,
bạn sẽ vi phạm pháp luật!
Người học Phật chúng ta phải giữ chánh niệm hiện tiền. Nghĩa
là: Hôm nay tôi đã là người tốt, tôi làm một trăm việc đều là thiện sự, bởi vì
tôi là người tốt, tôi là người thiện. Nếu hôm nay tôi lỡ tay làm một việc ác, tức
là tôi đã "Hữu lậu", tôi không còn tư cách làm người lương thiện nữa,
đúng không? Người tốt có đi ăn trộm không? Tôi mang tặng người ta chín mươi
chín món quà, món cuối cùng tôi tiện tay ăn cắp của người ta, bạn nói xem kẻ đó
có được coi là người tốt không?
Người học Phật, trong tâm không được phép tồn tại bất kỳ một
ý niệm tà môn nào; mọi thứ phóng chiếu ra phải hoàn toàn ngay thẳng (Chính),
như thế mới không bị rò rỉ. Tà tư, tà niệm chính là hữu lậu! Tà tư là gì? Thấy
người ta xinh đẹp quyến rũ, trong đầu liền tơ tưởng đắm đuối; thứ không được
phép nghĩ tới mà cứ đâm đầu vào tơ tưởng — đó gọi là tà tư! Bạn có trúng độc đắc
xổ xố được không? Không! Nhưng bạn cứ mơ mộng trúng số độc đắc — đó cũng là tà tư!
Hôm nay bạn căn bản không có cơ hội đó, nhưng bạn cứ liều mạng tranh giành, cướp
đoạt — đó cũng gọi là tà tư! Vậy Tà niệm là gì? Thứ không nên thuộc về bạn, bạn
dùng thủ đoạn đoạt lấy; Điều không nên có được, thứ chưa đến lượt mình, bạn lại
đi lấy — thử nghĩ xem, đó chẳng phải là tà niệm sao? Do đó, phải bịt kín mọi tà
tư tà niệm của bản thân, đó mới là Vô Lậu; có vô lậu thì mới không rò rỉ, có
như thế mới đạt tới cảnh giới Minh tâm kiến tánh! Một người nếu trong đầu bộc
phát ra toàn bộ là "Chính", họ chắc chắn sẽ phân định rõ rành rành
đâu là Đúng, đâu là Sai; bởi vì thấu tỏ đúng sai, bạn mới nhìn thấy lương tâm
và bản tính của chính mình — đó chính là minh tâm kiến tánh!
Giống hệt như một con người, Các vị cứ chú ý mà xem, người
thường xuyên nói không ngừng thì thường bị hao khí; nói một hồi lâu rất dễ già
đi! Tại sao hòa thượng, ni cô lại không nói chuyện? Vì nói nhiều là lậu khí; kẻ
rò rỉ chân khí thì đoản mệnh! Những người kể chuyện thời xưa, thao thao bất tuyệt
vài tiếng đồng hồ vô cùng lao lực, trước khi lên bục kể toàn phải dùng nhân sâm
để bổ khí. Có những kẻ trong cuộc sống ngày thường cứ liến thoắng không phanh,
các vị có biết không, khí rò rỉ hết trọn rồi thì chẳng phải mất mạng sao? Thế
nên mới có câu "khí tuyệt thân vong" (tắt thở lìa đời). Nói không ra
hơi nữa, không mở miệng nổi nữa, chân khí cạn kiệt, khí số đã tận — thế là kẻ
đó lìa đời!
Sư phụ khuyên các vị bớt mồm bớt miệng lại. Người học Phật
phải nghĩ nhiều nói ít; tu đến một cảnh giới nhất định gọi là không nghĩ không
nói; đạt đến đỉnh cao hơn nữa gọi là không ý niệm, không cái tôi — tức là không
màng ý niệm, vứt bỏ bản ngã, ngay cả bản thân mình cũng không còn nữa, lúc đó bạn
mới thực sự siêu thoát khỏi thực tại! Khí của một người hễ cạn kiệt, họ sẽ vong
mạng; khí tắt lịm, họ sẽ lìa đời. Thế nên, người suốt ngày tức giận nhất định sẽ
chết sớm! Người hay cáu bẳn giận dữ sẽ đoản mệnh; tức chết đi được mà! Khí
không còn, thì chết! Tại sao cứ phải nổi điên lên? Học Phật là dạy các vị không
được tức giận; học Phật rồi mà vẫn sân hận, thì các vị học Phật làm cái gì?
Phải bảo vệ thật tốt bản thân, tuyệt đối không được lậu khí!
Chỉ cần không lậu khí, công đức của bạn sẽ không bị rò rỉ. Hôm nay tôi làm được
một việc tốt, nhưng trong lòng lại hậm hực không vui — thế là công đức của bạn
bắt đầu rò rỉ! Hôm nay tôi giúp đỡ một bà cụ, làm được một việc thiện tâm,
nhưng tôi lại thầm trách: "Tại sao bà cụ này lại không cảm ơn mình?"
— Lại rò rỉ! Đạo đức của bạn đã bị thủng lỗ! Hôm nay tôi vô cùng hiếu thuận với
cha mẹ, nhưng họ hoàn toàn không có cảm nhận gì, mà lại cho rằng tôi vốn nên đối
xử tốt với họ — bạn lại rò rỉ! Phẩm đức của bạn đã bị lậu! Hôm nay bạn đột
nhiên muốn làm một việc thiện, nhưng bạn lại tính toán: "Mình chỉ làm việc
thiện cho người hiền lành thôi; Người này bình thường chuyên chửi mắng người
khác, nên tôi không đối xử tốt với anh ta!" — Thế là thiện tâm của bạn đã
bị rò rỉ! Bạn đi làm việc thiện của bạn đi, bạn đi làm người tốt của bạn đi, bạn
quản tâm xem người ta có tốt hay không làm cái gì? Bạn suy nghĩ lệch lạc sang
chuyện khác, thế là thiện tâm của bạn bị thủng lỗ!
Tâm từ bi cũng có thể bị rò rỉ! Vừa nãy còn thấy gã này đáng
thương tột cùng, chợt nhớ ra: "Ngày xưa nó từng chửi mình; thôi dẹp, không
thèm từ bi với nó nữa!" — Bạn lại bị rò rỉ! Cuối cùng, rò rỉ tột độ đến tận
âm gian! Bởi vì một kẻ đã để công đức rò rỉ hết sạch, thiện tâm rò rỉ hết sạch,
phúc đức rò rỉ hết sạch, Tâm từ bi rò rỉ hết sạch — thì bạn nói xem, kẻ đó còn
có thể đi về đâu? Chỉ có đường xuống âm ti địa ngục! Rớt xuống âm phủ rồi, vì
Phật tính của bạn cũng đã rò rỉ hết sạch, nên bạn sẽ đọa thẳng xuống vực sâu
tăm tối; rất nhiều kẻ đã bị tống thẳng xuống địa ngục như thế đấy!
Phải biết rằng, một người sống ở đời làm việc tốt, làm việc
thiện, từ bi với chúng sinh đó chính là chất dinh dưỡng cho cơ thể các vị! Một
người sống trên đời nếu không có tấm lòng lương thiện, không năng làm việc tốt,
vắng bóng tâm từ bi, không biết đưa tay giúp đỡ kẻ khác, bạn sẽ không nạp được
thứ dưỡng chất thiết yếu cho cơ thể; thế thì bạn sẽ không sống thọ được đâu, bạn
sẽ nhanh chóng chết, đọa xuống cõi âm tào địa phủ! Cho nên, bất kể là người học
Phật hay người không học Phật, điều kiện tiên quyết đầu tiên phải đạt được là vô
lậu.
Sư phụ bảo các vị: Con người không nên nói nhiều, sẽ bớt rò
rỉ khí. Bậc hiền triết cổ nhân đã răn dạy từ ngàn xưa: Bệnh tòng khẩu nhập, Họa
tòng khẩu xuất (Bệnh từ miệng ăn vào, Họa từ miệng thốt ra). Bây giờ các vị tự
vắt tay lên trán mà ngẫm xem: Bao nhiêu lỗi lầm tai hại các vị từng gây ra
trong đời, có đến từ miệng lưỡi của các vị không? Chửi mắng người khác, nói xấu
người ta, âm thầm hại người sau lưng, khiến vợ chồng người ta cãi nhau, cuối
cùng lại bị người ta đánh — há chẳng phải do miệng lưỡi này chuốc họa sao? Ngẫm
xem cơ thể ốm đau bệnh tật, có phải do ăn quá nhiều không? Có phải do ăn những
thứ không được phép ăn không? Dư thừa chất béo, hay thiếu hụt dinh dưỡng, há chẳng
phải cũng từ cái miệng này mà sinh bệnh sao?
Người học Phật phải biết cách quản chế chặt chẽ cái miệng của
mình, tuyệt đối không để cái miệng bị "Lậu". Các vị cứ nhìn những vị
hòa thượng, pháp sư đạo hạnh càng cao thâm, họ càng ít nói; đến cuối cùng họ chẳng
hé răng nửa lời, bạn có ép họ nói, họ cũng chỉ buông nhẹ một câu: "A Di Đà
Phật". Họ cảm thấy ở nhân gian này mình chẳng còn lời nào để nói, tất cả đều
là giả; họ đã nhìn thấu rồi, thì còn có đạo lý gì để nói nữa? Sư phụ phải gánh
vác sứ mệnh cứu người nên hết cách rồi! Có những lúc Sư phụ căn bản không buồn
đếm xỉa đến các vị, chẳng buồn mở miệng, chỉ mỉm cười cho qua; nhưng Sư phụ
nghĩ rằng mình có trách nhiệm, hôm nay Sư phụ đến cõi đời này là để cứu độ
chúng sinh. Đã cứu người, làm sao Sư phụ có thể không nói được? Nếu Sư phụ chỉ
bo bo giữ mình, tự bảo vệ trường khí của bản thân, Sư phụ đã chẳng già đi nhanh
đến thế! Nếu Sư phụ chỉ quan tâm đến việc tự tu Phật, tự tọa thiền, thì Sư phụ
thà lên núi cho xong, không phải lặn lội xuống trần gian cứu người? Thế nên Sư
phụ lao lực lắm! Ngày nào cũng phải giảng bài, giảng liên miên không dứt, tổn
hao tinh thần ghê gớm. Sư phụ rút ruột rút gan giảng bài, các vị chịu khó nghe
thì đã đành; ngặt nỗi có những người lời không vào tai, dứt khoát không chịu
nghe! Thử nghĩ xem, các vị có xứng đáng với tấm lòng của Sư phụ không? Học Phật
bao lâu nay, gặp người là cứ “luyên thuyên” nói mãi không ngừng, lại không sửa
được tật xấu của mình, đó chính là lậu khí!
28. TÌM KIẾM CHÂN NHƯ BẢN TÍNH
Chúng ta phải tắm mình trong đại dương ánh sáng của ý thức
vũ trụ. Câu nói này thốt ra khiến tâm hồn các vị bừng sáng khai mở, giống như
đang dạo bước bên bờ biển vậy; dùng chính Phật tính và lương tâm của mình để tắm
mát trong ánh sáng của ý thức vũ trụ. Ý thức là vô hạn, ý thức là thứ tự do nhất.
Khi tu đến một cảnh giới nhất định, trong ý thức, bạn muốn đạt được điều gì thì
liền có thể đạt được điều đó, không cần phải cố gắng, chỉ cần nghĩ đến là được.
Hôm nay bạn muốn mua một chiếc xe hơi, bạn nghĩ trong đầu: Bạn đi đến showroom,
trả tiền, người ta trao cho bạn chiếc chìa khóa sáng bóng, và bạn lái xe đi.
Trong ý thức, bạn muốn gì liền được nấy, vậy tại sao bạn không đi tìm kiếm sự tự
do của ý thức đó, mà lại cứ để mình bị trói buộc trong tư duy hẹp hòi của chốn
nhân gian?
Thử nghĩ xem, ở nhân gian bạn có rất nhiều sự ràng buộc. Bạn
lái xe trong ý thức thì ngay cả đèn xanh đèn đỏ cũng không có. Lái xe trên đường
có đèn xanh đèn đỏ không? Cho dù bạn nói: "Tôi tuân thủ luật lệ giao
thông, gặp đèn đỏ tôi dừng lại", bạn lại sai rồi. Nếu phía sau có một chiếc
xe chữa cháy, bạn bắt buộc phải vượt lên phía trước, nếu không sẽ bị đẩy đi. Đó
không phải là điều bạn có thể tự kiểm soát, nhưng ý thức lại là thứ do chính bạn
nắm giữ và kiểm soát, hơn nữa bạn nghĩ gì liền có thể đạt được nấy.
Học Phật tu tâm chính là bảo các vị tu cái ý thức này. Ngày
trước hay nói "hình thái ý thức", các vị đều không hiểu thế nào là
hình thái ý thức. Ý thức thực ra có một hình thái. Ví dụ, nếu trong ý thức bạn
muốn làm người xấu, thì hình thái ý thức của bạn sẽ giống như một người xấu, bởi
vì ý thức bạn muốn làm người xấu nên hình thái của ý thức bộc lộ ra ngoài — đây
đều là những điều thuộc về triết học. Sư phụ bảo các vị phải khai ngộ, đạt đến
trạng thái thanh tịnh của ý thức vượt khỏi tư duy thông thường của con người.
Nghĩa là, khi người khác đang phiền não điên đảo, thì tôi lại rất tĩnh lặng.
Các vị xem qua bộ phim chưa? Chú tiểu nói: "Sư phụ ơi, trong chùa cháy rồi."
Sư phụ không thèm để ý, tụng xong kinh mới từ tốn nói: "Tìm người đi dập lửa
đi." Chẳng có chút gì vội vã, đó là vì tâm định. Sư phụ muốn các vị tu ra
loại ý thức vượt trên tư duy thông thường của con người, vượt qua tưởng tượng
bình thường của nhân loại.
Cảm nhận đối với mọi sự vật trên thế gian phải viên nhuận
(tròn trịa, uyển chuyển), phải đạt đến trạng thái vô tướng, tức là không còn chấp
trước vào hình tướng của thân thể. Khi bạn không chấp trước vào bất kỳ một việc
gì, thì việc đó chính là chân như; khi bạn chấp trước vào một việc gì đó, thì
việc đó liền biến thành giả. Ví dụ bạn quá chấp trước vào một việc: "Tôi
không làm việc này thì không xong", "Đứa con này không vào được đại học
danh tiếng thì tôi không chịu dừng lại" — đó có phải chấp trước không? Lúc
này, trí tuệ của đứa trẻ đã đạt đến giới hạn rồi, nó không thể thi được điểm
cao hơn nữa, nó có áp lực. Thông qua việc ép đi học thêm, thức đêm học bù, dù đứa
trẻ có thi đỗ nhưng rồi sinh bệnh, sức khỏe từ đó suy kiệt. Có rất nhiều đứa trẻ
thi đỗ đại học danh tiếng nhưng không thể đi học, vì đầu óc đã phát sinh bệnh tật.
Đạo lý rất đơn giản, vì thành tích của đứa trẻ đó có được là nhờ gượng ép áp lực,
đó không phải là thật, không phải tự nhiên duyên thành. “Phi duyên tức thương”
— những điều không thuận theo nhân duyên, nếu cưỡng cầu, nhất định sẽ gây tổn
thương cho chính mình.
Chân như là gì? Ví dụ tôi không chấp trước, đứa con của tôi
chỉ thi đỗ đại học bình thường, tôi không ép nó phải thi trường danh tiếng, tôi
không áp đặt áp lực lên nó, đứa trẻ thi đỗ và nó đàng hoàng chăm chỉ học tập,
đó chính là chân như. Hiện nay rất nhiều trang trại muốn gà đẻ nhiều trứng nên
cho ăn thức ăn tăng trọng, tiêm thuốc... đó đều là chấp trước vào việc ép gà đẻ
trứng, trứng đẻ ra như vậy liệu có dinh dưỡng không? Lấy ví dụ đơn giản: Một
người sinh một đứa con thì chất lượng nuôi dạy rất tốt, vậy sinh tám đứa con
thì chất lượng có tốt không? Bạn bảo chăm tám đứa con với chăm một đứa con chất
lượng có như nhau được không? Cho nên, chấp trước đến cuối cùng không phải là sự
thể hiện của cái thật, mà chính sự không chấp trước, tùy duyên mới giúp bạn đạt
được chân như thực sự. Rất nhiều đứa trẻ không phải căn tính học hành, cha mẹ cứ
khăng khăng chấp trước ép phải thi trường danh tiếng, đến lúc đó sẽ hại chết
con. Hiện nay mỗi năm có biết bao đứa trẻ thi rớt đại học, cảm thấy không còn mặt
mũi nhìn cha mẹ liền tự sát, có phải bạn đã hại chết con gái, hại chết con trai
mình không?
Sư phụ nói cho mọi người biết: Trong không khí có, trong đất
có, trong đá có, trong xác thịt cũng có. Biết có cái gì không? Có cái thật, và
cũng có cái giả. Bảo các vị đi tìm chân như chính là bảo các vị đi tìm khắp
nơi. Tìm cái gì? Sống ở đời là phải tìm những thứ chân thật, đừng tìm kiếm những
giả tướng. Ví dụ: Người không có quan hệ lợi ích với bạn, bạn nói chuyện với họ
làm gì? Người có xung đột lợi ích với bạn, bạn bớt nói những lời này với họ,
sau này họ sẽ đem những lời bạn nói truyền ra ngoài, đó gọi là chân như.
Phải hiểu rằng, cái "tôi" trong quá khứ đã không
còn là tôi nữa, bạn đã qua rồi. Lấy ví dụ đơn giản, rất nhiều người trong các vị
hiện nay đã đổi tên đúng không? Bây giờ còn Trương Dư Xuân nữa không? Không còn
nữa, bây giờ chỉ có Trương Lập Chí. Vậy thì Trương Dư Xuân bạn hãy quên đi, cái
gì đã qua tức là không còn nữa. Học Phật chính là phải quên đi quá khứ. Sư phụ
nói với các vị: Cái "tôi" quá khứ đã không còn là tôi, cái
"tôi" tương lai thì chưa sinh ra, cái "tôi" hiện tại lại là
ai của tương lai? Cái "tôi" ngày hôm nay, ngày mai lại là ai? Nghĩa
là cái "tôi" này đều là trống rỗng, cái "tôi" này đều là bất
định, bạn lấy đâu ra cái "tôi"?
29. Khống chế Tâm niệm, bịt kín Ý lậu
Người tu hành phải thường xuyên giữ sự an tĩnh. Tâm của con
người phải định lại, tĩnh lặng một chút, phải bình ổn, phải thật vững vàng. Cho
dù bạn làm chủ doanh nghiệp, làm tổng giám đốc một công ty lớn, hay làm thủ tướng
của một quốc gia, bạn cũng cần phải bình an. Bất luận gặp phải chuyện gì, trước
tiên phải an tĩnh, xử lý vấn đề một cách bình ổn và an tường. Thế nào là an tường?
An tường chính là bình an và cát tường. Gặp bất kỳ chuyện gì bạn đều an tường,
bình ổn, an tĩnh, bạn cứ an ổn mà ngồi vững ở đó. Chỉ cần bạn ngồi không yên, bạn
đứng phắt dậy, bạn chồm lên, là bạn đã rời xa sự bình an và an ổn rồi.
Mỗi lần Sư phụ giảng pháp, Sư phụ đều không biết là đang nói
ai cả, Sư phụ không hề nhắm vào cá nhân nào. Nhưng có người lại ngồi không yên,
"đùng đùng" đứng dậy đi ra ngoài, giống như câu nói trong nhiều bộ
phim: "Phim này hoàn toàn hư cấu, xin đừng tự gán ghép vào mình". Chỉ
người có vấn đề về nhận thức mới tự gán ghép vào mình, Sư phụ nói ai cơ chứ? Sư
phụ nói là những khuyết điểm trên người các vị. Thử nghĩ xem, ai mà không có
khuyết điểm? Tại sao mỗi lần Sư phụ tổ chức xong pháp hội, luôn có người đi đến
nói: "Sư phụ ơi, hôm nay Ngài giảng những chuyện đó đều là nhắm vào con."
Trong lớp học đệ tử vào mỗi thứ tư hàng tuần, nhiều đệ tử sau buổi học cũng bước
đến nói: "Sư phụ, con biết Ngài đang nói con." Lại có rất nhiều người
gửi email cho Sư phụ nói: "Sư phụ, cảm ơn Ngài, Ngài nói con là đang gia
trì cho con." Thực ra, Sư phụ không nói riêng ai cả, Sư phụ nói về căn
tính và căn cơ của con người trên thế gian này, đây là những căn bệnh mà mỗi
người đều mắc phải, có đúng không? Tất cả các vị ngồi dưới đây đều từng bị cảm
cúm, có ai từ nhỏ đến nay chưa từng bị cảm cúm không? Xin giơ tay? Không có ai
đúng không, vậy hôm nay Sư phụ giảng về bệnh cảm cúm là đang nói bạn sao?
Con người phải biết giữ khí, người ngồi vững được mới giữ
được khí trường của mình. Mỗi ngày phải kiểm tra giới luật của bản thân, tức là
hôm nay mình giữ giới có tốt không? Hôm nay mình có nói dối không? Hôm nay mình
có tà dâm không? Hôm nay mình có uống rượu không? Hôm nay mình có trộm cắp
không? Có sát sinh không? Mỗi ngày đều suy nghĩ, mỗi ngày đều quán chiếu, bạn sẽ
không đi chệch hướng. Rất nhiều người khi nói khoác trong lòng còn nghĩ:
"Quán Thế Âm Bồ Tát xin lượng thứ cho con, con không còn cách nào khác.
Xin Quán Thế Âm Bồ Tát tha lỗi, con chuẩn bị nói khoác đây." Bạn mặt dày
thốt ra được câu đó sao? Đã hứa ngày mùng một, mười lăm ăn chay, đến mùng một gặp
đúng buổi tiệc tùng xã giao, bạn lại nói: "Quán Thế Âm Bồ Tát xin lỗi
Ngài, hôm nay con ăn thịt, ngày mai con lại ăn chay." Bạn nói ra được câu
đó sao? Đời người ngắn ngủi, muốn sửa khuyết điểm là phải sửa ngay lập tức. Mỗi
ngày kiểm tra giới luật và thiện tâm của mình, phải xem xem có rò rỉ (hữu lậu)
hay không, xem xem lương tâm của mình có thiện lương hay không, có vô tình làm
mất đi thiện niệm nào không. Người không thiện lương đã để rò rỉ mất thiện tâm
rồi, cho nên một người tự kiểm tra xem thiện tâm của mình có rò rỉ hay không,
thực chất chính là bạn đang giữ gìn thiện tâm của mình, đó gọi là "thủ
tâm" (giữ tâm). Giữ chặt tâm mình để không làm sai, không làm việc xấu,
như vậy bạn mới là người có thiện tâm.
Sư phụ nói với mọi người, nói quá nhiều lời thì khí sẽ bị hư
tổn. Các vị thấy Sư phụ đôi khi giảng đến đoạn sau là giảng không nổi nữa, có
đúng không? Nhưng Sư phụ khuyên các vị nên nói ít lại, bởi vì Sư phụ giảng cho
các vị là Sư phụ đang cứu độ chúng sinh. Bản thân các vị khi đi cứu người thì
các vị có thể nói, nhưng hôm nay các vị không đi cứu người thì những lời lung
tung nhảm nhí cố gắng nói ít lại, trừ khi là đi cứu người khác. Cho nên, miệng
không được nói quá nhiều lời làm tổn hao khí, người nói quá nhiều sẽ làm hao tổn
khí của mình. Các vị biết đấy, một người đứng dưới ánh sáng mặt trời có thể
nhìn thấy trong miệng mình phát ra rất nhiều khí trường, bên trong còn có nhiều
nước bọt bắn ra, rất hại thần, rất hại khí, cho nên nhất định không được làm
hao tổn khí.
Khí bị tiêu hao rồi thì bạn rất khó giữ được tâm của mình. Tại
sao vậy? Bởi vì nhiều người khi nói chuyện không dụng tâm, càng nói càng không
dụng tâm, nói đến cuối cùng là nói bậy nói bạ, thế là bạn đã tạo nghiệp. Cho
nên, người nói nhiều không giữ được tâm mình và sẽ tạo nghiệp. Khi chửi người
khác, có phải bạn đang tạo nghiệp không? Ban đầu nói rất hay, đột nhiên nói rất
nhanh, nhiều người lúc đầu không cãi nhau, rất tốt, nhưng vì càng nói càng
nhanh, hăng lên rồi, bị một câu nói của đối phương kích thích, đột nhiên chịu
không nổi liền lập tức nói một câu kích thích hơn để đốp chát lại, bạn liền lập
tức tức giận.
Người học Phật, muốn không tạo nghiệp thì trước tiên phải giữ
miệng. Muốn không tạo nghiệp mới, muốn không làm việc xấu, thì trước tiên phải
giữ chặt cái miệng của mình. Thứ hai là giữ ý niệm, đầu óc không nghĩ đến những
việc không nên nghĩ. Người ta có là của người ta, tôi không có không có nghĩa
là tôi nghèo, cái "không có" thực sự là bạn không có ý niệm xấu. Cho
nên, các vị phải nhớ kỹ một câu, nếu chúng ta không thể thường xuyên kiểm tra bản
thân, giữ gìn bản thân, thì tâm của bạn sẽ loạn, khí của bạn sẽ loạn, lúc này ý
niệm của bạn không giữ được nữa. Ý niệm không giữ được thì tư duy sẽ lệch lạc,
bạn sẽ hành động bừa bãi, đi lấy những thứ không nên lấy, xem những thứ không
nên xem. Sư phụ trong chương trình từng nghe cuộc gọi của một nữ thính giả, cô ấy
nhờ Sư phụ xem đồ đằng cho chồng, kết quả Sư phụ thấy chồng cô ấy suốt ngày xem
những thứ đồi trụy mà cô ấy hoàn toàn không biết. Cô ấy về nhà nói với chồng:
"Lư Đài Trưởng soi ra anh xem mấy thứ đồi trụy rồi đấy." Chồng cô ấy
vì xem những thứ không nên xem khiến tâm bị loạn, lập tức thừa nhận: "Xin
lỗi, anh làm sai rồi." Vì ý của bạn loạn nên tình mới loạn, ý niệm của bạn
không quản được thì bạn làm bất cứ việc gì cũng sẽ hỗn loạn, xáo trộn, mới làm
sai chuyện.
Sư phụ bảo các vị tư duy không được quá nhiều, nghĩa là nghĩ
vấn đề đừng nghĩ quá phức tạp. Sư phụ đang nói về người học Phật, nhưng điều
này quả thực không dễ làm được, vì chúng ta không phải Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni,
chúng ta vẫn là cư sĩ tại gia, cho nên yêu cầu chúng ta hoàn toàn không nói
chuyện, không dùng não thì cũng không thực tế, vậy làm sao mà sống? Ít nhất
cũng cố gắng đừng có quá nhiều tư duy, hiểu không? Tư duy phải giữ cho tư duy
được thuần khiết, thanh tịnh, nghĩa là không được tản loạn. Khi não bộ một người
tản loạn, tư duy tản loạn thì tâm của họ không thể khống chế được tư duy của
chính mình. Lấy một ví dụ đơn giản, đứa trẻ đi cùng mẹ trên đường, nhìn thấy tiệm
bán kem, đứa trẻ muốn ăn, mẹ nói "không ăn, sắp về đến nhà rồi", mẹ nắm
tay đứa trẻ đi tiếp, nhưng đứa trẻ vẫn liên tục ngoái đầu nhìn tiệm kem đó, tâm
của nó không nằm ở bàn tay của mẹ, cho nên nó rất dễ bị ngã.
Suy nghĩ quá nhiều thì bạn không thể giữ được tâm mình. Quá
nhiều tư duy, thường xuyên vướng bận thì bạn rất dễ bị lậu (rò rỉ), hậu quả của
việc bị lậu là vô cùng đáng sợ. Lấy một ví dụ đơn giản, trong túi bạn có một nắm
tiền xu, túi của bạn có một lỗ thủng rất nhỏ, khi bạn đi về đến nhà thì nắm tiền
xu đã rơi mất sạch rồi, đó chính là sự lợi hại của việc bị lậu. Con kiến có thể
làm hỏng con đê ngàn dặm. Các vị có biết tại sao một số ngôi nhà ở nước Úc
không bán được giá không? Vì nó có mối trắng, mối trắng có thể từ từ ăn hết gỗ
của cả ngôi nhà, cuối cùng ngôi nhà sụp đổ, loại nhà này sẽ không ai mua. Bây
giờ các vị đã biết Sư phụ nói việc bị lậu trong lúc học Phật đáng sợ đến mức
nào chưa? Làm việc thiện cả đời, nhưng vì làm mấy việc xấu, bạn không những
không lên được trời mà còn phải xuống địa ngục. Ngày nào cũng làm sai, mỗi ngày
đều có rò rỉ, các vị còn muốn lên trời sao? Lên trời cái gì chứ, không đi xuống
dưới đã là tốt lắm rồi, cho nên tuyệt đối không được để bị lậu.
Còn có một loại lậu gọi là dâm lậu. Thường xuyên nghĩ đến phụ
nữ, nghĩ đến đàn ông, trong ý thức phạm tà dâm, đó cũng là một loại lậu. Xem tiểu
thuyết đồi trụy, xem trang sắc tình trên báo chí, tất cả đều là hữu lậu. Người
học Phật phải kiên quyết đấu tranh với tư duy của chính mình, những thứ đồi trụy
kiên quyết không được xem, tuyệt đối không được đụng tới, điểm này nhất định phải
làm được, nếu không sẽ gây ra họa. Tại sao Sư phụ lại yêu cầu nghiêm khắc với
người trẻ tuổi các vị như vậy? Các vị đi trên đường thấy những người ăn mặc ăn
xống lố lăng, tuyệt đối không nên nhìn. Rất nhiều người vừa nhìn thấy thứ đồi
trụy là lập tức phạm lỗi ngay, những chuyện mọi người nhìn thấy còn ít sao? Cặp
vợ chồng mới cưới đi du lịch, trên đường âu yếm mặn nồng, lái xe rất nhanh,
không cẩn thận xe lao xuống núi. Mọi người bây giờ đã biết cái lậu này lợi hại
thế nào chưa? Một đứa trẻ ngoan được thể hiện qua ánh mắt và hành động của mình.
Phải biết rằng người háo sắc nhất định sẽ bị dâm lậu, tuy đây là sự rò rỉ từ cơ
thể nhưng cũng sẽ làm hao kiệt tinh-khí-thần của bạn. Các vị cứ nhìn xem, các đời
vua chúa có vị nào sống thọ không? Tinh-khí-thần đều tổn hao hết, tinh thần
không còn, khí cũng không còn, rồi chết.
Phải nhớ rằng, nếu bạn không biết kiểm soát những dâm lậu
này thì bạn không thể sống bình thường được, cơ thể của bạn nhất định sẽ lão
hóa rất nhanh. Con gái nếu thường xuyên làm những việc dâm loạn, bạn xem cô ta
có mau già không? Giống như hoa vậy, hoa nở thường xuyên thì sẽ mau tàn. Hãy
nhìn những bà lão trong viện dưỡng lão, thời trẻ tiêu hao quá nhiều nên đến tuổi
già không động đậy được nữa, đều phải vào viện dưỡng lão. Lại có rất nhiều cụ
bà nghỉ hưu tinh thần rất tốt, đi bộ tập thể dục trên đường, người ta là vì lúc
trẻ biết giữ gìn. Rất nhiều người cậy lúc trẻ đi chơi bời nhiều, phải biết rằng
chơi bời nhiều thì tiêu hao nhanh. Thực ra điều này giống như gửi tiền tiết kiệm
vậy, có bấy nhiêu tiền bạn dùng từ từ thì sẽ luôn có cái để dùng, nếu chỉ có bấy
nhiêu vốn kiếng mà bạn dùng quá nhanh thì đến cuối cùng bạn sẽ không còn gì để
dùng nữa. Cơ thể lúc trẻ không chú ý bảo vệ, sử dụng quá độ thì cơ thể sẽ mau
chóng sụp đổ, đó chính là đạo lý.
30. Công đức rò rỉ cạn kiệt thì mọi thứ vô ích
Người quá tham lam cũng là người bị hữu lậu (rò rỉ). Tham
danh, tham lợi, tham tiền tài, cái gì cũng tham; thấy người ta tốt rồi, mình lại
muốn tốt hơn người ta. Sư phụ nói với các vị, đừng tham, hơn nữa tham là rò rỉ
lớn (đại lậu) chứ không phải rò rỉ nhỏ, người không tham sẽ trường thọ. Đôi khi
Sư phụ rất tán thưởng một số người làm kinh doanh. Sự nghiệp của họ rất lớn, họ
nói với Sư phụ: "Sư phụ ơi, sau này con muốn nghỉ hưu sớm, con sẽ theo
Ngài đi hoằng dương Phật pháp." Sư phụ nghe xong rất hoan hỷ, cảm thấy
giác ngộ của họ rất cao, vì họ không còn tham nữa. Người làm kinh doanh rất dễ
sinh lòng tham, muốn cái này, lại muốn cái kia, đầu tư dự án này, lại thâu tóm
dự án nọ. Họ nói được những lời này chứng tỏ họ đã đạt đến một cảnh giới nhất định,
đã không còn bị tiền tài làm lay động nữa.
Sư phụ bảo các vị, suốt ngày theo đuổi mà không đạt được,
thì suốt ngày sẽ buồn bã, suốt ngày sẽ ưu sầu. Sự rò rỉ này gọi là "lậu
tâm", như vậy có buồn khổ hay không? Hôm nay muốn làm Lư Đài Trưởng, ngày
mai muốn có thần thông, ngày mốt lại muốn giống như Lư Đài Trưởng đi ra ngoài
được mọi người hoan nghênh, đó cũng gọi là tham. Mỗi người đều khác biệt, có
nhiều phụ nữ ngưỡng mộ nam giới, cô ấy muốn giống như đàn ông, cắt tóc ngắn,
tính cách hoàn toàn giống đàn ông — nguyên nhân do nhiều cô gái từ nhỏ đã bị bố
mẹ nuôi dạy như con trai, như vậy có được không? Lại có nhiều người nam ngưỡng
mộ phụ nữ, vì thấy các nữ minh tinh được nhiều người sùng bái nên họ cũng trang
điểm, phẫu thuật thẩm mỹ, thế chẳng phải thành người chuyển giới Thái Lan sao?
Cái gì của bạn thì sẽ là của bạn, cái gì không phải của bạn thì đừng cố truy cầu,
nếu không nhất định sẽ làm tổn thương chính bạn. Tâm bị rò rỉ, tình cũng rò rỉ,
cái gì cũng rò rỉ, rò rỉ đến cuối cùng sạch không còn gì, thì sẽ chết.
Tâm của con người vĩnh viễn không bao giờ thỏa mãn, đừng mải
mê chạy theo truy cầu, thì tâm của bạn sẽ từ từ cảm thấy mãn nguyện, tâm của bạn
sẽ dần dần đạt được sự viên mãn. Cho nên, muốn có được tâm viên mãn thì tuyệt đối
không được có lậu, nếu không bạn sẽ đánh mất trí tuệ chân chính và bạn sẽ vướng
vào vô minh. Sư phụ lật ngược lại câu này để giảng: Chính vì bạn đã mất đi trí
tuệ nên bạn mới ôm lấy vô minh, bạn sẽ trở nên không hiểu gì cả, cái gì cũng hồ
đồ mơ hồ, bởi vì bạn không có trí tuệ.
Hãy nhìn những kẻ đánh người, những tội phạm giết người, cướp
giật, bọn họ có trí tuệ không? Vì không có trí tuệ, không thấu hiểu, nên họ phải
sống nốt phần đời còn lại trong nhà tù. Tương tự, nếu bạn không có vô minh, bạn
sẽ có được trí tuệ thực sự. Vô minh chính là sự không sáng tỏ trong mọi tư duy,
hành vi và ngôn ngữ. Nói cách khác, vì không hiểu nên tư duy và suy nghĩ của bạn
mới không rõ ràng, sai lệch; vì bạn vô minh, không hiểu, nên miệng bạn mới nói
năng lung tung; vì bạn không hiểu nên mới gây ra tổn thương lớn hơn cho chính
mình; bạn không hiểu, thì hành vi của bạn cũng có thể giết người.
Trước đây có rất nhiều người không hiểu rằng đánh người là
phạm pháp, tức giận lên đánh một đấm khiến người ta tử vong, thế là nửa đời sau
phải sống trong trại giam, đó chính là tác hại do vô minh gây ra. Lại có rất
nhiều du học sinh năm xưa khi mới chân ướt chân ráo đến Australia, hoàn toàn
không biết mắng chửi người khác cũng là có tội. Cậu ta ở Australia chửi người,
liền bị người ta kiện tội phỉ báng, tội công kích cá nhân, tội gây tổn thương.
Cuối cùng bị kiện cả ba tội danh cùng lúc và lãnh án 2 năm tù giam. Chuyện này
từng xảy ra ngay tại Sydney. Khi bị vào tù, phóng viên đến phỏng vấn, cậu ta vẫn
nói: "Tại sao chửi người vài câu mà cũng phải ngồi tù?" Bởi vì từ nhỏ
cậu ta đã tiếp nhận sự giáo dục rằng chửi bới người khác là không sao cả:
"Bố tôi cũng chửi, mẹ tôi cũng chửi, ngoài xã hội ai mà chẳng chửi
nhau?" Đó chính là vô minh, là hoàn toàn không hiểu đạo lý.
Nếu hôm nay bạn vừa nói một câu Phật ngôn, lại nói thêm một
câu nhảm nhí, thì đó chính là bạn đang hữu lậu. Tại sao Sư phụ không cho phép
các vị nói những lời vô bổ? Phải biết rằng, những câu vô bổ đó sẽ cuốn trôi sạch
toàn bộ công đức từ những lời Phật ngôn Phật ngữ mà các vị vừa tích lũy. Bất kỳ
câu nói nào, chỉ cần trong ý thức bạn nhận ra mình lỡ lời, thì thực chất câu đó
đã trở thành nghiệp chướng của bạn, mọi người nghe có hiểu không? Có những lời
dung tục rất ẩn ý, một người nam thốt ra tuy không nói thẳng, nhưng nhiều cô
gái nghe xong lại liên tưởng đến rồi cười cợt, thế là nghiệp của bạn đã được tạo
thành, và bạn chắc chắn sẽ phải gánh quả báo. Cho nên, Sư phụ nghiêm cấm các vị
nói bất cứ câu từ hạ lưu nào, ngay cả khi ý thức dung tục vừa nảy sinh, các vị
cũng đã đang phạm tội, đặc biệt là các bác lớn tuổi nhất định phải chú ý. Học
Phật quả thực rất khó, nhưng để làm một người tốt cũng khó vô cùng. Trong xã hội,
cho dù bạn không học Phật, muốn làm một người lương thiện cũng đã là một việc rất
khó. Nhiều người trước mặt thì một kiểu, sau lưng lại một kiểu, thời gian lâu dần
sẽ bị người ta coi thường. Nhiều cô gái trong số các vị nếu tự hạ thấp bản thân,
chủ động làm nhiều chuyện ái tình lăng nhăng, lâu dần cũng sẽ bị người đời
khinh rẻ. Làm người phải là một người cao thượng, bởi con người là loài cao quý,
hy vọng các vị biết tự tôn tự ái. Vẫn còn may mắn vì có một Sư phụ luôn nhắc nhở,
quản lý các vị, nếu không thì ai sẽ quản các vị, các vị làm sai cũng chẳng tự
biết đâu.
Người mang quá nhiều phiền não, nếu không có năng lực chuyển
hóa phiền não thành bồ đề, thì họ sẽ phiền não suốt ngày. Hôm nay không vui,
ngày mai lại không vui, ngày mốt lại có áp lực, đến ngày nào họ mới nghĩ thông
suốt? Ngày nào mới hiểu ra? Trong lòng nghĩ không thông sẽ bắt đầu ưu sầu, bắt
đầu buồn bã, bắt đầu đau lòng. Vì không có trí tuệ để giải quyết những vấn đề
này nên họ suốt ngày phiền não, mà phiền não suốt ngày thì sẽ bị rò rỉ, hơn nữa
lại rò rỉ rất nghiêm trọng.
Phải nhớ kỹ, có 4 loại tâm sẽ khiến tâm bạn rò rỉ rất khủng
khiếp:
Thứ nhất là Tâm Ái. Yêu quá đà thì bắt đầu rò rỉ; yêu đến
phát điên cũng bắt đầu rò rỉ; yêu sai người lại rò rỉ; yêu đến mức thần trí hoảng
hốt, đầu óc lú lẫn, suốt ngày ngơ ngơ ngác ngác, thì bạn bị rò rỉ vô cùng nặng nề.
Thứ hai là Tâm Tham. Tham quá mức, cái gì cũng muốn thì rò rỉ
nghiêm trọng. Lòng tham không đáy, tham tâm, tham ái, tham lam tột độ, cái gì
cũng muốn, thì con người bạn sẽ bị rò rỉ.
Thứ ba là Vô Minh. Không hiểu biết, đối với việc gì cũng
không hiểu thì nhất định bạn có lậu. Thử nghĩ xem, người không biết đường có phải
sẽ đi lạc không? Người không hiểu đạo lý có phải sẽ làm sai chuyện không?
Thứ tư là Phiền Não. Một người ngày nào cũng phiền não,
không vui thì người đó nhất định sẽ có lậu. Hôm nay các vị đến Quan Âm Đường, nếu
vẫn còn không vui, thử nghĩ xem các vị có bị lậu không? "Hôm nay tôi làm
việc rất vui vẻ", vậy bạn nhất định sẽ không làm sai chuyện. "Tôi
đang phiền chết đi được, càng ngày càng phiền", thì bạn nhất định sẽ lập tức
bực bội quá mức, dẫn đến làm sai chuyện, và sau đó sẽ rò rỉ. Người phiền đến cực
độ sẽ cãi nhau với sếp; người phiền cực độ sẽ cãi nhau với người trong nhà; người
phiền cực độ mà không có ai để cãi nhau thì tự lấy đầu đập vào tường; người phiền
cực độ nghĩ không thông thì chạy ra bờ nước nhảy xuống. Những chuyện này có phải
do phiền não sinh ra không? Có phải do bị rò rỉ mà ra không? Một con người làm
sao có thể không có trí tuệ như vậy chứ?
Mỗi ngày phiền não là mỗi ngày rò rỉ; mỗi giờ phiền não là mỗi
giờ rò rỉ; mỗi phút phiền não là mỗi phút rò rỉ. "Lậu tận tức vong"
(Rò rỉ cạn kiệt thì chết), rỉ hết rồi thì chết mất, cho nên mới gọi là
"phiền chết đi được". Cứ phiền mãi, phiền đến cuối cùng sẽ chết, rất
nhiều người không phải chết vì bệnh tật, mà là do nghĩ không thông dẫn đến phiền
mà chết. Những người tự sát chẳng phải là vì phiền não mà chết sao? Cho nên, đời
người kết thúc thì sự rò rỉ của bạn ở nhân gian cũng kết thúc. Bạn cứ để cho rò
rỉ đi, rò rỉ cho đến khi cõi nhân gian này kết thúc thì sinh mệnh cũng chấm dứt.
Sự tham ái, sự vô minh, những phiền não của bạn — tuy thể xác đã chết nhưng những
thứ đó vẫn tồn tại trong ý thức của bạn. Các vị hãy nghe Sư phụ nói cho rõ, đây
là một vấn đề vô cùng nghiêm trọng. Nhiều người tưởng rằng mình tham lam, nghĩ
không thông, đi tự sát rồi chết là xong. Tuy thể xác bạn chết rồi, nhưng trong
thần thức của bạn vẫn còn tham-sân-si, vẫn còn phiền não, vậy thì cái ý thức
phiền não này sẽ kéo linh hồn bạn rơi xuống, đọa lạc. Vậy rơi xuống đâu? Mười
tám tầng địa ngục, đọa xuống từng tầng từng tầng một. Cho nên, đừng ngu si cho
rằng chết là xong hết. Cái chết mang đến cho bạn tai họa lớn hơn, nó sẽ kéo tuột
bạn xuống. Chuyện ở nhân gian, phải dùng cách ở nhân gian để giải quyết.
31. Tâm thái của Đạo trung dung
Nếu linh hồn của bạn không trong sạch, bạn nảy sinh lòng
tham, bạn ôm giữ lòng hận thù, bạn sẽ bị đọa lạc. Tại sao có những người nói
"Tôi có chết cũng không tha thứ cho hắn"? Người đó sau khi chết đi thực
sự sẽ biến thành một oan quỷ, quay lại tìm kẻ kia để báo oán. Các vị có biết không,
có những người chết đi muốn được đầu thai, nếu họ buông bỏ hận thù với kẻ thù
trong quá khứ, họ sẽ được đầu thai rất nhanh. Nhưng Diêm Vương hỏi họ:
"Ngươi đang rất hận kẻ này, ngươi muốn đi báo thù, hay là muốn đi đầu
thai?" Người đó đáp: "Tôi muốn báo thù." Thế là Diêm Vương không
thể cho người đó đi đầu thai được nữa, lúc này, người đó sẽ biến thành oan quỷ.
Oan quỷ thì đi đâu? Sẽ nhập vào thân thể của kẻ thù, khiến bạn trở nên thần trí
bất minh, xúi giục bạn tự đày đọa chính mình, khiến bạn đau khổ, dằn vặt. Đó
chính là hiện tượng ác linh nhập thể (vong nhập) hiện nay. Sư phụ không nói những
điều này, các vị có thể hiểu được không? Đến lúc đó mới cuống cuồng tụng
"Ngôi nhà nhỏ" hòng xua đuổi họ đi, nhưng họ không đi đâu, họ liều mạng
với bạn, họ cũng không cần đi đầu thai, mục đích của họ là bắt bạn phải trả nợ.
Cho nên, đừng bao giờ mắc nợ người khác, nợ tiền thì còn có thể trả, nhưng nợ
ân tình, bạn nhất định phải trả bằng ân tình. Lúc bạn đang vui vẻ hưởng thụ
tình cảm, bạn phải nghĩ đến lúc tình cảm bị tổn thương. Sư phụ đã nói đi nói lại
với các vị, đừng bao giờ đùa giỡn với tình cảm, chuyện tình cảm không đùa được
đâu. Biết người ta rất thích mình, ánh mắt lại cố tình nhìn người ta nhiều thêm
một chút, bạn cũng đang tạo nghiệp, bởi vì bạn không thực sự thích đối phương,
các vị nghe có hiểu không?
Sư phụ bảo các vị, những người có linh hồn không trong sạch
sẽ không có cách nào thăng lên thiên giới, bởi vì trong ý thức của các vị vẫn
còn lưu lại rất nhiều nghiệp chướng, chỉ có thể đọa xuống cõi âm, căn bản không
có cách nào lên trời, không có cách nào thành Phật. Giống như một chiếc khinh
khí cầu, khắp nơi đều là lỗ thủng, bạn căn bản không thể bay lên được. Phải học
cách thủ ý, giữ gìn ý niệm của mình, đừng để nó phạm tội. Phải học cách thủ
khí, bảo vệ trường khí của mình, đừng để nó tạo khẩu nghiệp, đừng nói nhiều những
lời không đáng nói. Phải giữ gìn hành vi của mình, đừng làm những hành động hạ
lưu, vô liêm sỉ; đánh người, mắng người thảy đều thuộc về loại này. Phải minh
tâm kiến tánh, các vị mới có thể lên trời thành Phật.
Phải nhớ kỹ, rò rỉ (hữu lậu) chính là đang thụt lùi. Một người
hôm nay có phiền não, nghĩ không thông, bị Sư phụ nói vài câu đã thấy buồn phiền,
trong lòng sinh bực tức, đó chính là đang thụt lùi, đó chính là hữu lậu. Sư phụ
không nói các vị thì ai nói? Nếu rò rỉ rồi, thụt lùi rồi, ắt hẳn sẽ sa đọa. Sư
phụ mắng các vị là vì muốn tốt cho các vị, hy vọng các vị hiểu chuyện một chút.
Hiện tại vẫn còn một người Sư phụ không màng đến việc bản thân sẽ bị tổn hao
trường khí tốt đẹp, ai cũng biết Sư phụ mắng hai câu là đang giúp người đó tiêu
trừ nghiệp chướng. Giống như cha mẹ rầy la con cái vậy, là vì muốn tốt cho con,
đứa con nên thấu hiểu điều đó. Có những bà mẹ nói: "Đứa nhỏ này sao lại thế
hả?" Đứa con đáp: "Mẹ, con vốn là thế đấy." Mặc dù trong lòng
hơi bực mình, nhưng đứa con biết mẹ yêu thương mình. Sư phụ há chẳng phải cũng
như vậy sao? Sư phụ không thương các vị thì có mắng các vị không? Sư phụ không
biết tiết kiệm chút hơi sức sao?
Tiếp theo, Sư phụ nói với các vị một chút chuyện trong đời sống
thực tế: sự khỏe mạnh của thân thể có mối liên hệ rất lớn với nghiệp báo. Không
ngờ tới đúng không? Nếu thân thể luôn ở trong trạng thái cân bằng, bao gồm dinh
dưỡng vừa đủ, không tích tụ quá nhiều mỡ thừa, thì cũng giống như người học Phật
tu tâm. Nếu thân thể bạn phải chịu quá nhiều khổ cực, thì tương đương với việc
người học Phật tu khổ hạnh, cũng không thể tu tốt được. Nhất định phải hiểu, ở
nhân gian mà tu khổ hạnh là không được, hiểu chưa? Hôm qua Sư phụ có kể với các
vị việc Đức Thích Ca Mâu Ni cũng từng đi học pháp tu khổ hạnh, khổ đến tột
cùng, về sau Phật Đà mới nhận ra rằng tu khổ hạnh không thể tìm ra con đường
giúp chúng ta thành Phật. Tu tâm quá lỏng lẻo cũng không tốt, để cho thân thể
quá buông thả cũng không được, cũng phải chú ý bảo dưỡng thân thể. Cho nên, việc
học Phật, sức khỏe thân thể, đều có liên hệ với nghiệp báo của bạn. Nói cách
khác, tiền kiếp bạn làm rất nhiều việc xấu, bạn có thể sẽ đầu thai vào một gia
đình có cha mẹ sức khỏe rất kém, bạn sẽ tiếp tục ốm yếu bệnh tật, đó chính là
nghiệp báo. Nếu người này khi sinh ra sức khỏe rất tốt, chứng tỏ kiếp trước người
đó không tạo nghiệp gì về mặt thân thể. Giả sử kiếp trước người đó tạo rất nhiều
nghiệp trong tư duy, thì kiếp này dù sức khỏe có tráng kiện, cũng chỉ là một kẻ
hữu dũng vô mưu, đầu óc rỗng tuếch, không có trí tuệ.
Phật giáo dạy chúng ta phải giữ trung quán, tức là bất luận
xảy ra chuyện gì cũng phải đứng ở góc độ trung lập để nhìn nhận. Khổng Lão Phu
Tử dạy chúng ta phải học cách trung dung. Một người thành công nhất định phải
am hiểu đạo trung dung, làm việc gì cũng đừng làm quá tuyệt tình, đừng quá lỏng
lẻo, cũng đừng quá khắt khe. Thử nghĩ xem, các vị mặc quần áo có phải cũng như
vậy không? Quần áo chật quá mặc vào thấy khó chịu, rộng quá lại trông như đi mượn,
cho nên không chật không rộng mới là tốt. Làm người cũng vậy, biết rõ người ta
đang kiếm chuyện với mình, đối xử tệ với mình, bạn cũng đừng đi kiếm chuyện lại,
nhưng phải cho người ta biết, tôi cũng không phải dạng vừa đâu, phải trung
dung. Cả đời bị người ta ức hiếp trong công ty, thì rất có thể bạn sẽ bị người
ta đuổi việc. Mặc dù bạn có thể nói với cảnh giới cao rằng, đó là do nghiệp kiếp
trước tôi tạo ra, nhưng nếu dùng tư duy trung dung, bạn có thể bảo vệ mình
không bị đuổi, vẫn tiếp tục làm việc ở công ty, như thế chẳng phải tốt hơn sao?
Đối với vợ, đối với chồng, đối với con cái, đều đừng đối xử quá tốt đến mức
thái quá, cũng đừng đối xử quá tệ, bạn sẽ nhận lại được sự đền đáp mang tính
trung dung. Nếu bạn nói "tôi yêu người này chết đi sống lại", bạn chắc
chắn sẽ vì người đó mà chết. "Đứa con trai này, tôi yêu nó muốn chết",
bạn sẽ vì đứa con này mà chết. Cho nên, Sư phụ mắng các vị là vì muốn tốt cho
các vị, nhưng Sư phụ mắng rồi mà các vị không nghe, Sư phụ sẽ dùng đạo trung
dung, Sư phụ sẽ không nói nữa.
Học Phật làm người phải biết cách điều tiết, trung dung
chính là điều tiết tốt thân thể và tâm hồn của mình, đừng để tâm quá đau buồn,
đừng để tâm quá phiền não, đừng để tâm quá bi thương, cũng đừng để nó quá vui
sướng, càng không được để nó quá bốc đồng. Thân thể cũng đừng để nó chịu kích
thích quá mạnh. Rất nhiều người khi đến khu vui chơi, chỉ mải mê chơi những trò
cảm giác mạnh, kết quả là tim đập nhanh, chóng mặt buồn nôn. Cho nên, con người
phải biết cách điều tiết tốt thân thể của mình. Lúc muốn nổi nóng thì kìm nén lại,
lúc không nổi nóng thì tự suy ngẫm, mình cũng có tôn nghiêm, chúng ta không được
phép có tính khí tệ hại, chúng ta không thể quá nóng nảy, nhưng cũng không thể
hoàn toàn không có chính kiến, biết cách điều tiết mới là quan trọng nhất.
Nhẫn nhục chính là nghĩ thông suốt. Hôm nay mặc dù tôi đang
bực mình, nhưng tôi nhẫn nhịn, tôi nghĩ thông suốt rồi, đó là tôi đã khai ngộ cảnh
giới của mình. Tôi nghĩ thông suốt: ông chồng này bản tính là vậy rồi, có tốt
cũng chẳng tốt lên được bao nhiêu, có tệ cũng chẳng tệ hơn được nữa, chúng ta cứ
chắp vá mà sống qua ngày vậy, để người ngoài nhìn vào còn thấy mình có một gia
đình. Nghĩ được như vậy, bạn chính là trung dung rồi, đúng không? Nếu bạn cứ đặt
yêu cầu khắt khe với người ta, bản thân bạn có làm được theo yêu cầu đó không?
Thôi bỏ đi, sống trung dung một chút đi.
32. Tạo nghiệp chính là gieo nhân
Chúng ta gặp chuyện phải nghĩ thông suốt, phải biết điều tiết
bản thân, phải giữ đạo trung dung. Giống hệt như trong đời sống thường ngày,
chúng ta ăn quá nhiều đồ có tính nhiệt, cơ thể sẽ bị bốc hỏa (hư hỏa thượng
thăng), khi bốc hỏa thì phải hạ hỏa. Ví dụ, bạn cần uống một thứ gì đó mát mẻ.
Tại sao người phương Tây vào mùa đông vẫn thích ăn kem? Nếu vào mùa đông họ vẫn
muốn ăn đồ lạnh, thực chất là do hỏa khí trong cơ thể quá vượng, thì bất cứ lúc
nào cũng cần hạ hỏa.
Vừa rồi Sư phụ đang nói về việc hạ hỏa cho thân thể, thực chất
làm người phải khiêm tốn (hư tâm). Khiêm tốn chính là một liều thuốc tốt nhất
giúp bạn hạ hỏa, khiêm tốn cũng bắt nguồn từ nguyên tố sinh mệnh của chính bạn.
Một người chỉ cần khiêm tốn, tức là mở rộng tấm lòng, ai cũng có thể chấp nhận
người đó, ai cũng sẽ yêu mến người đó. "Dì ơi, chuyện này cháu thực sự
không rành lắm, xin dì bỏ qua cho cháu." Một người khiêm tốn như thế, ai nỡ
lòng nào mắng chửi họ chứ? Có những người sĩ diện, hay nói: "Tôi từng này
tuổi đầu rồi, có cái gì mà không biết?" Bạn từng này tuổi thì sao chứ, bạn
không thể cái gì cũng biết. Ở nhân gian này ai đúng thì phải học hỏi người đó,
khiêm tốn chính là liều thuốc hạ nhiệt tốt nhất dành cho bạn.
Sư phụ nâng tầm đạo lý này lên một chút, khiêm tốn chính là
dựa vào năng lực khiêm hòa từ trong nguyên tố sinh mệnh của mình để hạ hỏa.
Khiêm tốn vốn dĩ là thứ tồn tại trong sinh mệnh của bạn, nằm trong phẩm cách của
con người, bạn dựa vào nó để làm dịu đi sự bốc hỏa của bản thân. Giống như việc
mặc quần áo vậy, phải biết điều tiết, trời lạnh thì mặc thêm áo, trời nóng thì
mặc ít đi một chút, đó cũng là một sự điều tiết. Sư phụ dặn những người có trường
khí yếu thì tụng nhiều "Đại Bi Chú", người bốc hỏa nhiều thì tụng nhiều
"Tâm Kinh", đó há chẳng phải cũng là một loại điều tiết sao? Đây
chính là phương pháp điều tiết, là phép tắc Phật giáo hoàn toàn phù hợp với quy
luật tự nhiên. Chỉ cần bạn làm việc gì cũng thuận theo quy luật tự nhiên, bạn sẽ
không bị tự nhiên đào thải, bạn đang sống thuận theo phương thức sinh tồn của đại
tự nhiên.
Người tu hành không được tạo nghiệp. Bởi vì việc chuyển thế,
đầu thai, luân hồi của con người, đều được định đoạt dựa trên kiếp số sinh ra từ
nghiệp lực của mỗi người. Ví dụ, bạn mang bao nhiêu kiếp số, bạn sẽ phải đọa địa
ngục; bạn mang bao nhiêu kiếp số, bạn sẽ được đầu thai làm người; bạn mang bao
nhiêu kiếp số, bạn sẽ biến thành súc sinh, đó gọi là kiếp số. Kiếp số từ đâu mà
ra? Kiếp số nhiều là do tạo nghiệp nhiều. Làm một việc tốt gọi là tạo thiện
nghiệp, làm một việc xấu gọi là tạo ác nghiệp; ác nghiệp tạo ra càng nhiều, thì
kiếp số của người đó càng lớn. Nếu kiếp này năm nào bạn cũng gặp đại kiếp nạn,
chứng tỏ kiếp trước bạn là một kẻ đại ác nhân thập ác bất xá, đã tạo vô số nghiệp
ác. Kiếp số của một người càng ít, chứng tỏ người đó kiếp trước tạo rất ít ác
nghiệp. Một người cái miệng thích nói xấu người khác, sẽ ngày ngày chuốc rắc rối,
ngày ngày bị người ta nói lại. Cái miệng người đó chê bai người ta một câu,
chính là tạo một ác nghiệp, hai ngày sau, người đó bị người ta nói lại, đó
chính là một kiếp nạn của họ. Nếu bạn không bao giờ nói xấu ai, bạn sẽ không có
kiếp nạn, người ta vĩnh viễn chẳng bận tâm soi mói bạn, không ai chê bai bạn,
thế là bạn không vướng phải kiếp nạn.
Người thường xuyên tạo nghiệp, khi ngụp lặn trong lục đạo
luân hồi sẽ thấy mọi sự đều không như ý, thứ mà họ sở hữu chỉ gói gọn trong hai
chữ "phiền não". Rất nhiều người thực sự đang lãng phí thời gian, tự
cho mình là đúng, mặc kệ người ta nói gì, trong đầu vẫn tự nghĩ ra đủ trò dựa
trên cách hiểu chủ quan của bản thân. Phải biết rằng, bạn nghĩ đúng thì không
sao, nghĩ sai là tạo nghiệp rồi. Người ta nói một câu, bạn liền cười khẩy
"hê hê" hai tiếng, coi thường người khác, tỏ thái độ khinh khỉnh,
mang định kiến chấp trước với người khác; những ý niệm đó trên trời đều ghi
chép lại hết, cho nên không được nghĩ bậy bạ. Nghĩ bậy bạ là sẽ sinh chuyện đấy,
tư duy của người học Phật phải sạch sẽ hơn cả lời nói mới được.
Tất cả những điều không như ý, những phiền não của con người
chốn nhân gian đều do nghiệp chướng tạo thành. Phải hiểu rằng, ý nghĩa thực sự
của nhân sinh trên thực tế là để trả nợ, là để tiêu nghiệp, để chúng ta kiếp
sau được trở về nơi chúng ta nên về, không thể tiếp tục luân hồi như thế này nữa,
đã chịu quá nhiều đau khổ rồi. Thử nghĩ xem mùa hè có khổ không? Mùa đông có khổ
không? Đi học có khổ không? Đi làm thuê có khổ không? Lại nghĩ xem lúc mình cãi
nhau với người khác, trong lòng có buồn bực không? Thử nghĩ xem lúc mọi chuyện
suôn sẻ thì vui vẻ, lúc tồi tệ thì đau đớn nhường nào, sinh nở thống khổ ra
sao, sinh lão bệnh tử có cái nào mà không khổ? Răng đau cũng là khổ. Lúc mới
sinh ra, muốn nói mà không thốt nên lời, có khổ không? Con người lúc già đi có
khổ không? Bảo họ ra ngoài đi dạo một chút, bước không nổi nữa; bảo đi leo núi
cùng mọi người nhé, leo không nổi nữa. Còn ốm đau bệnh tật thì thôi khỏi nói,
khổ không lời nào tả xiết. Chết lại càng đáng sợ hơn, không ai muốn chết cả, chỉ
toàn là sự đau khổ.
Muốn xua tan những nỗi khổ này, thì đừng sợ phải giữ giới:
không hút thuốc, không uống rượu, quan hệ nam nữ không buông thả, không trộm cắp,
không nói dối. Không ăn cắp đồ của người khác, thì con người lúc nào cũng trong
sạch. Sư phụ dùng ngôn ngữ bình dân (bạch thoại) để giảng Phật pháp chính là
như vậy đó, bạn không trộm đồ của người ta, tại sao bạn lại sợ bị người ta bắt?
Chỉ khi bạn đã từng trộm đồ, bạn mới vĩnh viễn sống trong nỗi sợ bị bắt, thế
thì tại sao còn đi gieo cái nhân đó làm gì?
Học Phật cũng giống như vậy, bạn giữ gìn giới luật, bạn còn
sợ cái chết sao? Tôi ăn uống sạch sẽ, ăn mặc sạch sẽ, dùng đồ sạch sẽ, làm người
sạch sẽ, mọi thứ đều sạch sẽ thanh tịnh, bạn có thể chết yểu được không? Người
có nội tâm sạch sẽ chắc chắn sẽ trường thọ. Ăn những con vật đang sống, bạn đã
không còn sạch sẽ nữa rồi; giết sinh mạng để ăn thịt, thử nghĩ xem, bạn có sạch
sẽ không? Gần đây ở Syria xảy ra chiến tranh, quân nổi dậy moi gan của người chết
ra để nấu ăn, trên báo đài đều có hình ảnh cả, thử nghĩ xem, đó có phải là việc
con người làm không? Con người không được ăn thịt người, lẽ nào động vật nhỏ bé
thì có thể ăn sao? Các vị thử nhìn xem những chú chó đáng thương biết bao,
chúng cũng có tính linh. Con chó giống như một đứa trẻ câm không biết nói,
nhưng trong lòng nó thấu hiểu mọi chuyện, lẽ nào các vị lại nhẫn tâm ăn thịt
chó? Đây là lý luận gì vậy, sống như thế các vị có thấy lương tâm thanh thản
không?
Giữ giới chính là cội nguồn thành tựu Phật đạo, bắt buộc phải
giữ giới, lời không đáng nói thì không được nói. Nhìn thấy người này thích đến
không chịu nổi, cắn răng nhẫn nhịn, trong lòng có nghĩ thế nào đi nữa cũng dứt
khoát không hành động, phải kiềm chế mãnh liệt, đếm một, hai, ba, rồi mau chóng
rời đi. Phải kiên cường một chút, tự mình chiến đấu với bản thân, tự tát vào miệng
mình: sao mình lại kém cỏi thế này, mình đúng là một kẻ vô tích sự.
Rất nhiều người hiểu đạo lý này, nhưng làm thế nào để thực
hiện được việc giữ cho tâm thanh tịnh mà không phạm giới? Nói đạo lý thì ai
cũng biết, nhưng rốt cuộc phải làm thế nào? Điều đó phụ thuộc vào việc nguyện lực
của bạn có đủ hay không. Rất nhiều người khi nghĩ đến việc sắp thi cử, liền nhủ
thầm: lần này dù thế nào mình cũng phải thi cho tốt, ngày nào cũng dậy từ rất sớm,
đó chính là có nguyện lực. "Nếu mình không làm tốt việc này nữa thì đời
mình xong rồi. Ông chủ nói cho thêm một tuần nữa, nếu một tuần mà chưa có kết
quả thì sẽ bị đuổi việc." Nếu người đó nghĩ đến việc còn phải trả tiền vay
mua nhà, họ sẽ lập tức dốc sức làm việc, biểu hiện tích cực, như thế mới được
ông chủ giữ lại, đúng không? Con người chưa bị dồn đến chân tường thì sẽ không
chịu dụng tâm đâu, nhiều người nói chưa thấy quan tài chưa đổ lệ, thực sự là
như vậy. Bắt buộc phải biết cách đấu tranh với sự lười biếng, với thói hư tật xấu
của chính mình; việc không nên làm kiên quyết không làm. Miệng lỡ lời mắng người,
tự tát vào miệng mình, tại sao phải làm thế? Rất đơn giản, phải có quyết tâm,
phải có hằng tâm. "Sao mình lại yếu kém như thế, chỉ một chút khuyết điểm
mà cũng không sửa nổi? Sao mình lại mất mặt thế này, mình không thể để mất mặt
được nữa." Hằng tâm của một người không đủ, nguyện lực không đủ, thì bạn mới
phạm sai lầm, mới phạm giới; học Phật là phải dựa vào nghị lực.
33. Phổ độ chúng sinh là phúc
Thời gian tu thành, chứng quả của mỗi người đều dài ngắn
khác nhau, nói cách khác, thời gian để một người tu thành hay không tu thành là
có sự khác biệt. Giống như một hạt giống gieo xuống, hạt giống này có thể kết
trái được không, quả có phát triển bình thường không, đều không giống nhau.
Cùng một hạt giống gieo xuống, gặp mảnh đất tốt sẽ đơm ra quả ngọt. Nếu bản mệnh
của người này quá kém, dù hiện tại bạn gieo hạt giống Phật vào người họ, họ
cũng không thể kết thành Phật quả, hạt giống coi như vô dụng, hiệu quả hoàn
toàn khác biệt. Cho nên, Sư phụ hy vọng các vị phải học hỏi, học cách chứng quả.
Chứng quả là gì? Là xác thực, kiểm chứng những quả báo mà chúng ta đang phải nhận
lãnh ở hiện tại. Đây là quả báo gì? Đây là hiện thế báo của bạn, và cả tiền thế
báo nữa. Chữ "chứng" này rất quan trọng, nó xác nhận sự tồn tại của
nhân quả này, sự tồn tại của thành quả này và sự tồn tại của Phật quả.
Nếu kiếp này chúng ta có thể khai ngộ, đó là điều tuyệt vời
nhất, lý tưởng nhất. Nếu kiếp này bạn vẫn chưa thể khai ngộ, vẫn chưa hiểu rõ đạo
lý học Phật, thì kiếp sau bạn phải quay lại tiếp tục làm người. Nói cách khác,
nếu kiếp này bạn tu không thành, kiếp sau bạn nhất định sẽ phải quay lại làm
người, hơn nữa kiếp sau làm người chưa chắc đã được đầu thai vào một gia đình tốt,
nói không chừng còn thảm hơn kiếp này. Bởi vì nghiệp cũ của bạn chưa tiêu trừ hết,
kiếp này bạn lại tạo thêm rất nhiều nghiệp mới, trong sự giao thoa giữa nghiệp
mới và nghiệp cũ, bạn đầu thai lần nữa có thể sẽ kém hơn cả bây giờ. Bởi vì hiện
tại là thời kỳ Mạt Pháp, các nghiệp lực tác động qua lại lẫn nhau, ảnh hưởng đến
sự trưởng thành của hạt giống Phật mà bạn đã gieo, khiến các nghiệp ấy đan xen,
chồng chéo lên nhau. Tức là, người này vốn dĩ sức khỏe đã không tốt, nay cộng
thêm bệnh này, lại thêm bệnh kia, thì sức khỏe người đó nhất định sẽ suy sụp. Bệnh
từ kiếp trước chưa chữa khỏi, đột nhiên lại mắc thêm căn bệnh này, lây nhiễm
chéo, người này sẽ rất nhanh mắc phải bệnh nan y.
Phải hiểu rằng, lỡ như kiếp sau chúng ta không còn được làm
người nữa thì sao, cho nên kiếp này chúng ta vẫn còn cơ hội để lên trời, tất cả
đều phải nương cậy vào việc tu hành ở kiếp này. Nếu kiếp sau bạn tiếp tục quay
lại làm người, muốn đạt được cảnh giới bất thoái chuyển ở kiếp sau là điều rất
khó. Bởi vì kiếp này bạn đang tu, bạn đầu thai lại làm người, bắt đầu lại từ một
đứa trẻ, trưởng thành dần lên, thực chất là bạn đã tu không thành rồi. Vì kiếp
sau bạn nhất định sẽ lãng quên Phật pháp, kiếp này của bạn coi như tu uổng
công, hơn nữa lại còn phí hoài tâm sức. Sư phụ nói với các vị, học Phật không
được để phí hoài công sức, con người cần phải định tâm, phải học cách thiền định.
Thiền định là phải ngồi cho vững vàng, ngồi thiền giúp tâm bạn an định, từ đó
sinh ra trí tuệ. Tâm vừa loạn, những thứ nảy ra trong đầu đều là tạp niệm. Hôm
nay những ai đang loạn tâm, mọi suy nghĩ đều là tạp niệm, không có một chút
chính niệm nào. Tạp niệm nhiều thì không phải là trí tuệ, bởi vì tạp niệm của một
người càng nhiều, trí tuệ sẽ càng ít; người có nhiều trí tuệ, sẽ không sinh tạp
niệm.
Rất nhiều người thật đáng thương, căn bản không biết nên học
Phật ở nhân gian như thế nào cho đúng. Học Phật phải bắt đầu từ trạng thái an định
nhất là tĩnh tọa. Các vị ngồi ở đây phải ngồi cho vững, tâm phải tĩnh lại, đầu
óc phải minh mẫn, cảm xúc phải ổn định, đây đều là những điều người học Phật
nên làm được. Cho nên, tĩnh tọa là để cầu được một cái tâm an định nhất, vì
chúng ta không biết tọa thiền, tĩnh tọa chính là ngồi yên tĩnh lại, như vậy các
vị mới từ từ ngộ đạo. Sư phụ không biết các vị có hiểu được câu này không, bảo
ngồi xuống không phải là bảo các vị đả tọa, mà là bảo các vị phải ngồi cho yên
tĩnh, tâm phải tĩnh lặng. Các vị thử nghĩ xem, rất nhiều chuyện phải đợi đến
khi tâm tĩnh lại mới có thể nghĩ thông suốt, lúc tức giận, lúc cáu bỉnh, tâm của
người đó chắc chắn không thể tĩnh lại được, họ sẽ không thể nào khai ngộ. Vì vậy,
tâm không định, sẽ không ngộ ra được đạo.
Phải giải chúng sinh phược, tức là phải giúp chúng sinh tháo
gỡ sự trói buộc, khởi tu hành địa. Nghĩa là sao? Nghĩa là nếu bạn muốn giúp đỡ
người khác, trước tiên bạn phải giúp họ tu hành; giúp họ tu hành thì bản thân
mình phải tu hành trước, tu tạo ra "tu hành địa", sau đó khởi phát
tâm tu hành, rồi phải tu cho đến "địa". Tức là, tôi bắt đầu tu từ
"địa" (nền tảng) này, nhưng tôi dùng tư duy để siêu việt nó, coi
"địa" này là một nền tảng, vượt qua nền tảng này, tu đến cảnh giới
"đăng địa", bạn có thể cởi bỏ sự trói buộc. Đăng địa chính là siêu việt
khỏi cảnh giới của người bình thường, tức là bạn đã nghĩ thông suốt rồi, những
chuyện ở nhân gian nghĩ không thông, Bồ Tát đều có thể nghĩ thông. Nếu bạn có
thể nghĩ thông được mọi chuyện ở nhân gian, thì bạn đã sở hữu tư duy của Bồ Tát
rồi. Đăng địa chính là bạn đã vượt lên trên cái "địa" đó. Cho nên, tu
đến quả địa này, tức là bạn đã chứng đắc được quả vị này, bạn sẽ biết cách dùng
tâm để hóa giải mọi khổ nạn chốn nhân gian. Bạn đã đạt đến quả vị này rồi, bạn
sẽ hiểu cách dùng tâm để tháo gỡ mọi đau khổ ở thế gian. Nói cách khác, bạn đã
siêu việt khỏi tư duy của cõi người, bạn sẽ thoát ly khỏi những phiền não chốn
nhân gian.
Muốn siêu việt khỏi phiền não chốn nhân gian, trước tiên phải
quảng phát Bồ đề tâm. Bồ đề tâm, và còn có Bồ đề hành nguyện tâm. Bồ đề tâm đơn
thuần chỉ là từ bi tâm, còn Bồ đề hành nguyện tâm nghĩa là: tôi không chỉ từ bi
với chúng sinh, mà tôi còn phải đi giúp đỡ mọi người, tôi phải thực hành nguyện
lực của chính mình. Địa Tạng Vương Bồ Tát đã sớm thành Bồ Tát rồi, tại sao Ngài
vẫn còn đi hành nguyện? Bởi vì Ngài muốn xuống địa ngục để cứu độ chúng sinh,
"địa ngục chưa trống không, thề không thành Phật", Ngài phải đi cứu vớt
những chúng sinh đang chịu khổ nạn dưới địa ngục, cho nên gọi là hành nguyện
tâm. Bởi vì khi một người sở hữu hành nguyện và phát Bồ đề tâm, kết hợp cả hai
lại thành Bồ đề tâm vĩ đại, thì thực chất người đó đã có thể bi trí song vận.
Nói cách khác, bạn vừa có tâm từ bi cứu độ chúng sinh, lại vừa có trí tuệ của Bồ
Tát, tương đương với việc tâm bi mẫn chúng sinh cộng với trí tuệ vô tận của bạn,
thì bạn chính là bi trí song vận. Bạn vừa có thể giúp đỡ người khác, vừa có thể
tự cứu độ chính mình, đây chính là đại Bồ đề tâm.
Phải phổ hóa chúng sinh. Phổ hóa chúng sinh là gì? "Phổ"
tức là trên mọi phương diện, vô cùng rộng lớn; "hóa" chính là cứu độ;
phổ hóa chúng sinh chính là phổ độ chúng sinh. Nỗi khổ của một người, kiếp nạn
của một người, bất luận to lớn đến đâu, người có Bồ đề tâm như chúng ta, sẽ còn
cảm thấy khổ đau hơn, bởi vì người khác bị thương thì ta đau đớn, người khác chịu
khổ, bạn sẽ càng thấy xót xa hơn, bạn sẽ phát sinh nhiều Bồ đề tâm hơn. Sư phụ
không biết các vị có hiểu được hay không? Bởi vì bạn chịu khổ càng sâu, thì
nguyện lực của bạn sẽ càng lớn. Rất nhiều người lúc trước khi chưa mắc bệnh, bảo
họ ăn chay mùng một, ngày rằm họ đều không làm được, đợi đến khi bác sĩ chẩn
đoán họ mắc bệnh ung thư, bác sĩ nói không sống được bao lâu nữa, lúc đó bảo họ
phát nguyện gì họ cũng sẵn lòng. Đó là vì họ đã nếm mùi đau khổ, họ mới dám
phát nguyện, con người là như vậy đấy. Một người chịu khổ càng nhiều, Bồ đề tâm
của người đó sẽ càng rộng lớn, hơn nữa thành quả tu tâm, thành tựu của họ sẽ
càng vĩ đại, bởi vì họ phát nguyện càng lớn, khiến bản thân chịu khổ càng sâu,
nên quả báo họ nhận được sẽ càng lớn lao.
Sư phụ hy vọng các vị nên chuyên tâm chứng tu, tức là đừng
có tu cái này một chút, tu cái kia một chút. Sư phụ nói với các vị, đa văn bất
như nhất tu (nghe nhiều không bằng chuyên tu một môn), nghĩa là gì? Nghe chỗ
này một chút, nghe chỗ kia một chút, cái gì cũng nghe, pháp môn này nghe một
chút, pháp môn kia nghe một chút, bạn thà chuyên tâm tu hành còn hơn, đa văn bất
như nhất tu, nghe đông nghe tây là không có tác dụng. Đa văn bất như nhất tu, cốt
lõi của tu hành nằm ở chữ "hành". Chúng ta tu hành một thời gian dài,
nhất định phải bước ra ngoài thực hành, nếu không bước ra được, thì bạn tu hành
cái gì? Tu hành chính là tu sửa hành vi của bạn, nếu hành vi của bạn là đang hoằng
pháp độ chúng sinh, thì bạn đang thực sự tu hành. Nếu hôm nay bạn không thực hiện
được việc tu hành, trên thực tế bạn căn bản không hề tu hành. Đã nói là tu hành
tu tâm, thì bắt buộc phải toàn tâm toàn ý.
Điều tối kỵ nhất trong tu hành là nói suông. Tại sao Sư phụ
không cho các vị nói suông? Lên mạng, vào các nhóm QQ, bạn giảng lý luận của bạn,
người ta nói lý luận của người ta, cãi nhau đến cùng chi bằng các vị ngoan
ngoãn ở nhà tu tâm còn hơn. Suốt ngày nói suông, đây là các vị đang lãng phí thời
gian, hơn nữa các vị còn đối mặt với nguy cơ tạo khẩu nghiệp, các vị sẽ bị hữu
lậu. Các vị đi tranh luận Phật lý với người ta trên mạng như thế, chi bằng tự
mình tu hành cho tốt. Nói suông chính là nói chuyện tào lao vô bổ, mà đã là nói
chuyện tào lao thì thà rằng im lặng, không nói còn tốt hơn, nếu không sẽ đánh mất
tuệ mạng của chính mình.
Sư phụ nói với các vị, cảm động không bằng hành động. Hôm
nay các vị rất cảm động, rất biết ơn Quán Thế Âm Bồ Tát đã cứu độ chúng sinh,
nhưng sự cảm động này phải được hiện thực hóa bằng hành động, các vị chi bằng
hãy đi hành động thực tế. Chữ "động" này chính là hành vi, động tác của
các vị, chính là tu hành. Cho nên, hành động chính là thực tu. Hôm nay tôi
không có gì phải ngại ngùng, không có gì để nói suông, tôi đã nhận được quá nhiều
ân huệ từ Quán Thế Âm Bồ Tát, sinh mạng của tôi, thân thể của tôi, gia đình
tôi, tất cả những gì tôi có hiện tại đều nương cậy vào lòng từ bi của Quán Thế
Âm Bồ Tát, tôi còn lời nào để biện bạch nữa đâu? Tôi chỉ có con đường chuyên
tâm tu hành, đây chính là hành động, chính là thực tu. Các vị hôm nay thực tâm
thực ý mà tu, không có gì là giả tạo, không phô trương hình thức. Tu giả tạo
chính là đang diễn kịch, là đang lừa trời dối đất, và đang lừa gạt chính bản
thân mình. Việc tu hành như thế là vô ích, bởi vì không có công đức. Cho dù bạn
có dập đầu, Bồ Tát đều biết trong lòng bạn đang nghĩ gì, Bồ Tát đều biết bạn
không chuyên tâm tu hành. Bạn làm hình thức cho người khác xem là không có ý
nghĩa gì, bạn lừa trời dối đất càng vô nghĩa, bạn làm cho chính mình xem, thì
cũng là đang tự lừa dối bản thân. Thực tu chính là buông bỏ mọi thói hư tật xấu
trên người, kiên quyết sửa đổi. Thử nghĩ xem trong quá khứ các vị đã làm sai
bao nhiêu chuyện, còn muốn lừa trời dối đất sao? Những chuyện mất mặt trong quá
khứ lẽ nào còn ít sao? Hãy tự mình kiểm điểm lại cho kỹ đi.
34. Phật Pháp chính là đại thiện duyên
Phải nhận thức rõ lục đạo luân hồi. Sư phụ nói với các vị,
các vị sống ở nhân gian làm việc của con người, không làm việc xấu, các vị kiếp
sau cùng lắm lại được đầu thai làm người. Nhưng hiện nay có bao nhiêu người
đang sống đúng với đạo làm người? Rất nhiều người mang thân người nhưng lại làm
việc của loài quỷ, lén lút lừa gạt người khác sau lưng, chơi xấu người khác,
nói xấu người ta, tạo khẩu nghiệp, lừa dối người khác, lừa gạt tình cảm, lừa gạt
tiền bạc, tất cả những kẻ đó đều sẽ đọa xuống làm quỷ. Lừa tiền, lừa tình, lừa
gạt danh dự, địa vị, toàn bộ đều sẽ đọa xuống làm ác quỷ. Cả đời bạn không làm
việc xấu, làm một con người đường hoàng, kiếp sau bạn vẫn sẽ là một con người.
Các vị đã từng làm bao nhiêu chuyện của loài súc sinh rồi? Những chuyện không
nên làm các vị đều đã nhúng tay vào, phải biết rằng, kiếp sau các vị sẽ đi đầu
thai làm súc sinh. Nếu các vị làm những chuyện tội ác tày trời, thì kiếp sau
các vị sẽ phải đọa xuống địa ngục. Nếu các vị cướp đoạt đồ của người khác, ghen
ghét đố kỵ người khác, sẽ đọa vào ngạ quỷ đạo. Sư phụ nói với các vị, sự đố kỵ
sẽ làm hại chết chính mình đấy.
Sư phụ ngày ngày đang nỗ lực cứu vớt các vị, khuyên bảo các
vị đừng đọa lạc xuống dưới, đợi đến khi các vị sắp rời bỏ cõi đời, mới biết những
lời này của Sư phụ trân quý đến mức nào. Bởi vì trong quá khứ chúng ta đã làm
vô số chuyện không xứng đáng làm người, chúng ta không thể tiếp tục như thế này
nữa. Ngay bây giờ bạn bắt buộc phải sửa đổi, sau này bạn mới còn cơ hội thăng
lên thiên giới, ít nhất cũng còn cơ hội tiếp tục làm người, nếu không, kiếp sau
bạn sẽ vĩnh viễn đứt duyên với cõi người. Cho nên, việc hiểu rõ nhân đạo, thấu
tỏ lục đạo, là để các vị nhận thức được chúng ta rốt cuộc muốn đi về nẻo nào?
Được làm người đâu có dễ dàng, có mấy ai sống đúng nghĩa một con người? Ai mà
chưa từng đâm thọc sau lưng, nói xấu người khác? Có người ngụy biện rằng ai mà
chẳng như thế. Lẽ nào những người làm việc xấu đó đọa xuống quỷ đạo làm quỷ, bạn
cũng muốn đi theo họ xuống quỷ đạo làm quỷ sao? Lẽ nào những người đó sau này
phải chịu tội chịu khổ dưới đó, bạn cũng muốn chạy theo gánh chịu cùng họ sao?
Chỉ vì nhiều người làm thế, mọi người đều như thế, nên bạn cũng muốn đọa lạc
theo sao?
Phải thấu hiểu nỗi khổ của luân hồi. Các vị có biết luân hồi
khổ sở như thế nào không? Đầu thai làm người có khổ không? Thử nghĩ xem các vị
đã phải chịu bao nhiêu đắng cay? Cha mẹ đã vì các vị mà chịu bao nhiêu vất vả?
Cuộc hôn nhân của các vị, con cái của các vị, chuyện công việc ở cơ quan, các vị
đã phải nếm trải bao nhiêu nỗi khổ tâm? Sư phụ còn chưa nói đến sức khỏe thân
thể của các vị, chưa nói đến bốn nỗi thống khổ sinh - lão - bệnh - tử của đời
người, các vị đã chịu bao nhiêu khổ ải rồi? Cho nên, nếm mùi đau khổ rồi thì phải
quảng phát Bồ đề tâm, bởi vì tôi đã chịu khổ, nên tôi không muốn người khác
cũng phải chịu khổ như vậy. Có biết bao người mẹ, chẳng phải vì bản thân đã nếm
mùi vất vả, nên không muốn để con mình phải chịu chung nỗi khổ đó sao? Phải quảng
phát Bồ đề tâm, phải thiện lương với tất cả mọi người, phải yêu thương bảo bọc
tất cả mọi người, phải phát Bồ đề tâm, từ bi tâm, phải biết xót thương chúng
sinh.
Thiện hành (hành động thiện lương) bắt nguồn từ chính Bồ đề
tâm. Cho nên hôm nay các vị đừng coi nhẹ bất kỳ một người nào đang làm việc thiện,
người có thể làm việc thiện, người đó đã sở hữu Bồ đề tâm rồi. Hôm nay giúp đỡ
một cụ già xách một món đồ, người này đã có Bồ đề tâm; hôm nay nấu cơm cho người
khác, hôm nay tôi nguyện ý xả tài bố thí, hôm nay tôi sẵn sàng làm rất nhiều việc
tốt, tất cả những người đó đều đã sở hữu Bồ đề tâm rồi. Hôm nay có thể dành ra
chút thời gian nghỉ ngơi quý báu của mình để phục vụ chúng sinh, thì bạn chính
là Bồ Tát. Còn biết bao nhiêu người không muốn cống hiến nhiều như vậy, họ đợi
đến năm nào tháng nào mới có thể thành Phật? Phải nghĩ đến việc đang có biết
bao nhiêu người phải chịu khổ ngoài kia.
Phải hiểu rằng, thiện hành bắt nguồn từ Bồ đề tâm, Bồ đề tâm
là đại thiện duyên của người học Phật. Nếu bạn có một trái tim lương thiện,
nhìn thấy người khác gặp khó khăn liền nhiệt tâm giúp đỡ, người này đã kết được
một đại thiện duyên rồi. Đó là thiện duyên của người học Phật, bởi vì bạn giúp đỡ
người khác, người ta sẽ giúp đỡ lại bạn. Người có đại thiện duyên chính là một
bậc đại thiện nhân.
Trong kinh văn có viết "Thiện nam tử, Thiện nữ
nhân", các vị có biết cái chữ "Thiện" này không hề dễ dàng đạt
được không? Thế nào gọi là Thiện? "Hữu thiện giả, vô ác hành" — tức
là, nếu người này có trái tim lương thiện, họ sẽ không có hành vi ác. Thử nghĩ
xem, mỗi người các vị đã từng làm việc ác chưa? Đã từng có hành động ác nào
chưa? Nếu có, các vị không thể được gọi là đại thiện nhân, cũng không được gọi
là thiện nam tử, càng không được gọi là thiện nữ nhân. Khi Đức Phật giảng kinh
gọi "Thiện nam tử, Thiện nữ nhân", các vị ngay cả tư cách này cũng
không có, bởi vì trên người các vị vẫn còn rất nhiều hành động ác, nên các vị
không thể trở thành thiện nam tử, thiện nữ nhân được.
"Nhất thiện khứ bách ác" — một niệm thiện quét sạch
trăm niệm ác. Nếu một người có một thiện niệm, một trăm hành vi ác của người đó
thảy đều có thể bị xóa bỏ. Cho nên, các vị phải nỗ lực làm việc thiện nhiều
hơn. Sư phụ nói với các vị, nhìn thấy người ta bỏ thời gian ra cống hiến, phải
biết cảm ân. Người ta lúi húi nấu cơm cho các vị ăn, phải cảm ân người ta. Mỗi
một người đều phải cảm ân chúng sinh, bởi vì thiện hành này của họ xuất phát từ
chính Bồ đề tâm.
Bồ đề tâm là đại thiện duyên của người học Phật, bởi vì một
khi có thiện duyên này rồi, bạn có thể tiêu trừ nghiệp chướng. Các vị có biết
tiêu nghiệp chướng mang lại lợi ích gì không? Đơn giản nhất là: tiêu trừ nghiệp
chướng, nghiệp chướng sẽ không bị kích hoạt, linh tính (vong linh) sẽ không nhập
vào người. Người không có nghiệp chướng, linh tính không thể tìm đến cửa được.
Đừng quên rằng, người tiêu được nghiệp chướng có thể gia tăng phúc báo. Các vị
nhìn xem, tại sao người ta có tiền? Tại sao người ta khỏe mạnh? Tại sao gia
đình người ta bình an êm ấm? Bởi vì người ta có phúc báo. Người lương thiện sẽ
có phúc báo. Thử nghĩ xem, các vị có thiện lương hay không? Trong cuộc sống,
chuyện gì các vị cũng phải giải thích thanh minh, nói câu nào cũng phải tranh
luận cho rành rọt với người ta, như thế có gọi là thiện không?
Tại sao Sư phụ rèn giũa các vị phải biết khiêm tốn, đừng đi
tranh giành hơn thua? Bởi vì nhất định phải luôn cho rằng mình là người sai,
trên thực tế, người ta mới là người đúng, đó mới là người có tu hành. Các vị
hãy nhìn những người không có tu hành, luôn thích tranh luận, cố chấp vào cái
"tôi"; các vị hãy nhìn những bậc cao tăng đại đức, họ không tranh luận,
họ không đưa ra lý do nào cả. Bởi vì mọi thứ trên thế gian này đều là không, đều
là quan hệ nhân quả, họ hiểu rõ tất cả, không có đạo lý nào để mà tranh cãi,
cho nên họ không tranh luận. Đến lúc bạn gặp xui xẻo, đó là nhân quả; đến lúc bạn
có phúc khí, đó cũng là nhân quả. Vậy bạn tức giận cái gì?
Tu tâm rất khổ, rất khó, nhưng nó có thể tiêu trừ nghiệp chướng,
gia tăng phúc báo, và làm thanh tịnh, soi sáng tâm quang. Tâm của bạn có muốn
được tươi sáng không? Tươi sáng chính là quang minh. Nghĩ thông suốt rồi, chính
là quang minh. Học Phật tu tâm cốt lõi chính là tu trái tim này, tu chính là tu
tấm lòng nhẫn nhục này, tu chính là việc hôm nay bất luận tôi làm đúng hay làm
sai, tôi đều có thể nhẫn nhịn. Làm được như vậy, bạn sẽ thuận lợi trong sự nghiệp.
Thử nghĩ xem, người trẻ tuổi làm việc ở cơ quan không biết nhẫn nhịn, chuyện gì
cũng tranh cãi với sếp, người như vậy có được sếp yêu thích không? Có gì đáng để
tranh cãi chứ? Cứ chăm chỉ làm việc, chăm chỉ tu hành. Vợ chồng ly hôn có đạo
lý gì để mà tranh cãi không? Ly hôn rồi rốt cuộc ai đúng ai sai? Bạn tưởng rằng
phán quyết của tòa án dân sự đều là đúng đắn sao? Rất nhiều người phụ nữ ra
tòa, tỏ vẻ đáng thương tội nghiệp, nhận được sự đồng cảm của hội đồng xét xử, cuối
cùng tòa phán cô ta tốt, phán người chồng tồi tệ. Người chồng bị oan ức lắm chứ,
người chồng đó chỉ là ngoại hình không được dễ nhìn mà thôi. Đạo lý là gì? Có đạo
lý gì để tranh cãi chứ? Mất là mất, có là có, có rồi cũng sẽ thành không, mất rồi
cũng có thể lại có.
Sư phụ hy vọng các vị thực tu với sự nhất quán giữa thân và
tâm. Trong lòng nghĩ thế nào, thì thân cũng làm đúng như vậy. Tôi làm việc đúng
như lý như pháp, thân và tâm đồng nhất, dốc sức thực tu, đây chính là điều Sư
phụ muốn dạy các vị. Đừng sống hai mặt, đừng chắp tay lạy Phật mà trong lòng lại
nghĩ về chuyện khác, đó là thân tâm bất nhất. Thực tu với sự thống nhất thân
tâm chính là: thân thể làm như vậy, trong lòng cũng nghĩ như vậy. Lời nói ra phải
chân thật, lúc không vui thì nói rõ lý lẽ; tôi luôn giữ sự hoan hỷ, dẫu hôm nay
tôi bị hàm oan, tôi nên suy nghĩ thế nào, tôi vẫn kiên định nghĩ đúng như thế.
Tôi không làm việc giả tạo, tôi không làm kẻ hai mặt, trên thực tế điều đó sẽ
không làm tổn thương chính bạn. Thử nghĩ xem, một con dao, sống dao có thể gõ u
đầu người ta, chuôi dao có thể đập chết người, lưỡi dao có thể chém chết người.
Cho nên, đừng sống giả tạo. Bởi vì nếu có sự giả tạo trong tâm bạn, giống như
có một con dao cắm vào tim bạn, tim bạn nhất định sẽ bị tổn thương.
Chúng ta phải đưa Phật pháp hòa nhập vào trong đời sống, tức
là phải chú ý mọi hành vi cử chỉ trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày — đi, đứng,
nằm, ngồi, không nơi nào là không có Phật pháp. Hôm nay các vị sống trong đời
thực, đi lại phải ra dáng nam nhi, mắt đừng nhìn ngó lung tung. Vừa đi trên đường
vừa đảo mắt ngó nghiêng, nam nhìn nữ, nữ nhìn nam, như vậy là không như lý
không như pháp. Bạn sống ở đâu, đi đứng nằm ngồi, bạn phải giữ đúng phong thái
của hoàn cảnh đó. Ngồi phải ra dáng ngồi, đứng phải ra dáng đứng, ngủ phải ra
dáng ngủ; đứng như cây tùng, ngồi như quả chuông. Có những người phụ nữ đứng
không ra đứng, ngồi không ra ngồi, làm sao có thể toát lên khí chất của người
tu Phật? Phải có quy củ. Ngủ ở đâu, ngồi ở đâu, đi đứng thế nào, sống ở đâu, ăn
uống ra sao... không gì không có Phật pháp. Người học Phật phải làm gương cho
người khác, trong cuộc sống từng cử chỉ hành động đều là sự tu hành. Ở nhà, vợ
lấy cho bạn một món đồ, bạn phải nói "cảm ơn"; bạn làm sai với con
cái, bạn cũng phải xin lỗi con, đó mới là người học Phật, đó mới thực sự là Phật
pháp hóa đời sống của chúng ta.
35. Diệt trừ tiểu ngã, không tham cầu
Phật pháp chính là phải diệt trừ cái "tôi" nhỏ bé
của bản thân. Không được phép chỉ nghĩ cho mình, đụng chuyện gì cũng chỉ nghĩ đến
lợi ích cá nhân, thì sẽ không nghĩ đến người khác. Một người suốt ngày chỉ nghĩ
cho bản thân: "Tôi thật khó xử, người này tôi không thể đắc tội, người kia
tôi cũng không thể làm mếch lòng." Nghĩ đến cuối cùng, cách giải quyết đưa
ra chắc chắn xuất phát từ sự ích kỷ. Lấy ví dụ: Ở cơ quan, bạn sợ làm mất lòng
sếp, lại sợ phật lòng nhân viên, bạn là quản lý cấp trung, nếu bạn dùng những
toan tính nhỏ nhen, tưởng rằng nhân viên không biết bạn đang nói xấu họ trước mặt
sếp, tưởng rằng sếp không biết bạn đang nói những lời bất lợi về sếp trước mặt
nhân viên. Đến cuối cùng, hai bên đối chất với nhau, bạn sẽ bị sa thải, mọi
chuyện kết thúc. Đó chính là hậu quả của cái "tôi" nhỏ bé ích kỷ; kẻ
suốt ngày mang tâm địa ích kỷ để giải quyết vấn đề, kết cục nhận được chỉ là tự
chuốc lấy đau khổ.
Phải diệt trừ cái "tôi" ích kỷ. Diệt trừ bằng cách
nào? Đó là phải hiểu rằng, tôi không sống vì bản thân, tôi sống vì chúng sinh.
Trong tâm tôi không có bản thân mình, những gì tôi nghĩ đến đều là người khác,
làm được như vậy là bạn đã loại bỏ được cái "tôi" rồi. Cái
"tôi" nhất định là nhỏ bé, chúng sinh nhất định là vĩ đại. Rất đơn giản,
người ngày nào cũng chỉ nghĩ cho bản thân, làm sao có thể nghĩ cho mọi người được?
Người ngày nào cũng chỉ lo cho vài người trong gia đình mình, làm sao có thể đi
cứu độ chúng sinh? Ngày nào cũng vì gia đình mình, không đoái hoài đến chúng
sinh, người như vậy có thể trở thành Bồ Tát được không? Thật ích kỷ. Các vị hãy
nhìn những người đến tìm Sư phụ soi Đồ Đằng (Totem), toàn bộ đều là vì lợi ích
cá nhân, có mấy ai sẵn sàng vì chúng sinh? Tuy nhiên, hiện tại quả thực có rất
nhiều người trong các nhóm cộng tu, họ thực sự rất tuyệt vời, họ gọi điện thoại
đường dây nóng toàn bộ là hỏi thay cho người khác, cảnh giới của họ đã được
nâng cao. Sư phụ không nói riêng ai ở đây, mỗi người các vị hãy tự suy ngẫm,
trong lòng các vị đang nghĩ về chúng sinh, hay đang nghĩ về bản thân mình? Nghĩ
về gia đình mình, nghĩ về con cái mình, tất cả đều là vì cái "tôi",
là "tiểu ngã", là tiểu nhân. Suốt ngày chỉ nghĩ đến bản thân chính là
kẻ tiểu nhân, các vị nghe có hiểu không? Kẻ tiểu nhân là kẻ ngày nào cũng muốn
chiếm tiện nghi, muốn bảo vệ bản thân mình, còn bậc thánh nhân thì suốt ngày
nghĩ về chúng sinh, giúp đỡ người khác.
Muốn làm cho tâm tĩnh lặng là một điều vô cùng khó khăn. Bởi
vì tâm của chúng ta rất bận rộn, tâm của chúng ta còn bận rộn hơn cả hành vi của
chúng ta. Các vị thử nghĩ xem có đúng không? Tâm của chúng ta mỗi ngày đều dao
động không ngừng, hôm nay muốn cái này, ngày mai đòi cái kia, bận rộn không ngớt,
tâm không định. Bởi vì tâm của chúng ta đã quen với sự bận rộn, giống như bộ
não của một người đã quen vận động, không thể dừng lại được. Phải hiểu rằng,
tâm của chúng ta vừa mới tĩnh lại một chút, phiền não sẽ kéo đến, bởi vì phiền
não của các vị quá nhiều. Tâm không thể tĩnh lặng, tâm vừa tĩnh lặng, phiền não
lập tức xuất hiện. Cho nên, tại sao rất nhiều người khi tụng kinh cùng Sư phụ lại
dễ buồn ngủ? Vừa ngừng nói chuyện là họ muốn đi ngủ, bởi vì phiền não đã đến.
Phiền não đến, nếu tâm bạn không bị tán loạn, bạn có thể tĩnh tâm lại, bạn có
thể trở nên rỗng không, thì bạn chính là Phật rồi.
Rất nhiều giám đốc khi phỏng vấn nhân viên, họ có thể nhìn
ra mọi thứ. Ánh mắt của bạn nhìn đi đâu, đại diện cho tâm thái của bạn thế nào.
Động tác của bạn, dáng vẻ của bạn khi đứng trước mặt người khác, tâm có hoảng
loạn hay không, có điềm tĩnh hay không. Khi bạn nói khoác, dáng vẻ cơ thể của bạn
sẽ bộc lộ thái độ của người đang nói khoác. Tất cả những điều này đều rất đáng
để lưu ý, Sư phụ hy vọng các vị dùng trí tuệ của Bồ Tát để phân biệt người tốt
kẻ xấu.
Có thể tĩnh tâm đến mức hoàn toàn rỗng không, bạn chính là
Phật. Bởi vì chỉ có Phật mới thực sự trở nên rỗng không, còn con người vĩnh viễn
không thể làm được điều đó. Cho nên học Phật phải đạt đến chân không. Mạng sống
con người tồn tại trong hơi thở, việc thành Phật cũng nằm trong một hơi thở. Có
một người ngáy ngủ quá lớn, ngạt thở tử vong, chẳng phải sinh mạng cũng kết
thúc trong một hơi thở sao? Việc thành Phật cũng quyết định bởi một niệm thiện
và một niệm ác của bạn. Nếu lúc ra đi bạn có thể giữ được thiện niệm, bạn có thể
thăng lên trời. Tại sao lúc lâm chung chỉ cần niệm một tiếng "A Di Đà Phật"
là có thể lên trời? Đó chính là sức mạnh từ một ý niệm của bạn.
Phải hiểu rằng, bởi vì mỗi nhịp thở của các vị đều đang ở trong
trạng thái "tâm không". Nếu Sư phụ yêu cầu các vị tập trung suy nghĩ
về hơi thở của mình, các vị sẽ lập tức cảm thấy khó thở. Khi các vị không nghĩ
đến nó, các vị đang hô hấp rất tự nhiên. Nếu Sư phụ yêu cầu các vị hít thở sâu,
chỉ vài nhịp thôi, các vị sẽ cảm thấy hụt hơi. Con người cũng vậy, những gì thuận
theo tự nhiên thì mới bền lâu, những gì miễn cưỡng không tự nhiên thì không thể
tồn tại lâu dài. Tự giác làm việc thiện, tùy duyên làm việc thiện, làm xong mà
không còn cảm thấy mình đang làm việc thiện, giống như việc bạn nghĩ về chúng
sinh, bạn sẽ rất tự nhiên nghĩ về chúng sinh mà không nghĩ về bản thân mình. Nếu
bạn nói, hôm nay tôi ép buộc bản thân phải đi làm việc thiện, thì cũng giống
như ép buộc bản thân hít thở sâu vậy, việc thiện đó sẽ không kéo dài được lâu.
Cho nên, phải thực sự hiểu được thế nào là tâm không. Trong
lòng hoàn toàn trống rỗng, đó mới là kiến chân thực tướng (nhìn thấy chân tướng
thực sự), tức là bạn đã nhìn thấy bản tướng chân thực của Bồ Tát ở nhân gian.
Tâm rỗng không rồi, tôi không còn lòng tham nữa, sao cũng được, người khác có
được thì không liên quan gì đến tôi, tôi vẫn vui vẻ; thấy người khác không có,
tôi thấy buồn lòng; bản thân không mưu cầu, nếu tôi có được tôi cũng sẵn sàng
chia sẻ cho bạn. Khổng Dung bốn tuổi nhường quả lê lớn cho anh, thử nghĩ xem,
có đúng như vậy không? Đây chính là thực tướng. Nhìn thấy thực tướng chân thật
chính là nhìn thấy bản tính Như Lai đích thực. Bản tính Như Lai chính là bản
tính nguyên thủy của chúng ta.
Trước đây khi Sư phụ giảng bài cho các vị, Sư phụ chưa từng
kể chuyện cho các vị nghe. Từ nay về sau, Sư phụ sẽ kể một vài câu chuyện về Phật
Bồ Tát. Năm xưa Văn Thù Bồ Tát cũng có hóa thân ở nhân gian. Có một lần, một
người tình cờ gặp Văn Thù Bồ Tát, người đó hỏi: "Ngài từ đâu đến? Sắp đi về
đâu?" Bồ Tát đáp: "Tiền tam tam, hậu tam tam" (Trước ba ba, sau
ba ba). Người hỏi câu này nghe không hiểu ý của Văn Thù Bồ Tát. Trên thực tế,
người này không hiểu chính là chưa khai ngộ. Bồ Tát có ý gì? Tôi từ đâu đến?
Tôi không từ đâu đến cả, Trước ba ba, sau ba ba. Ta không có trước, cũng không
có sau; không tăng, không giảm, đều là Không. Ngươi hỏi tôi từ đâu đến? Làm sao
tôi biết được? Ngươi hỏi tôi sau này đi về đâu? Làm sao ngươi có thể biết được?
Cho nên, phải gia tăng trí tuệ của mình. Gia tăng trí tuệ thực chất chính là
khai ngộ. Tâm Kinh có câu "Bất tăng bất giảm", bản thân không còn tâm
niệm nữa, thì thêm cái gì? Giảm cái gì? Tự bạn làm ra, thêm cái gì, giảm cái
gì? Có gì để thêm, có gì để giảm cơ chứ?
Mối quan hệ giao tiếp giữa con người với nhau là vô cùng khó
khăn, cái khó nằm ở chỗ vận mệnh của mỗi người đều không giống nhau, các vị
nghe có hiểu không? Tại sao bạn nói chuyện hợp với người này, nhưng lại không hợp
với người kia? Các vị thử nghĩ xem, rất nhiều người cao quý thích kết giao với
những người cao quý, đúng không? Đạo lý chính là như vậy, bởi vì vận mệnh chịu
quả báo khi họ đến nhân gian từ quá khứ là tương đồng. Có người thích kết giao
với người có học thức, có người thích kết giao với doanh nhân, thực chất là do
bạn và họ có điểm tương đồng trong vận mệnh. Trên thực tế, oán khí, lòng đố kỵ,
sự hận thù và lòng tham của mỗi người đều khác biệt. Nếu người này suốt ngày chỉ
nghĩ đến tiền, mà bạn lại là người không bận tâm đến tiền bạc, bạn tiếp xúc với
họ sẽ lập tức thấy không có tiếng nói chung. Bởi vì người này rất nghèo, suốt
ngày chỉ nghĩ cách kiếm tiền, còn bạn thì đã dư dả tiền bạc, bạn không coi trọng
tiền bạc, bạn không muốn bàn bạc chuyện tiền nong với họ, thế là hai bên nói
chuyện không hợp. Tại sao lại không hợp? Bởi vì kiếp trước bạn đã làm rất nhiều
việc bố thí, nên kiếp này bạn mới giàu có; còn người kia kiếp trước không biết
bố thí, nên kiếp này mới nghèo khó.
Người học Phật phải biết cách "dị trung cầu đồng"
(tìm điểm chung trong sự khác biệt). Bởi vì cảnh giới và vận mệnh của mỗi người
đều khác nhau, nhưng chúng ta vẫn phải cứu người, thế nên chúng ta phải dị
trung cầu đồng. Dị trung cầu đồng là gì? Mặc dù người này rất khó gần, mặc dù
người này rất đáng ghét, mặc dù người này có nhiều tật xấu... nhưng chúng ta có
một điểm chung, đó là chúng ta đều có một trái tim lương thiện, chúng ta đều là
người học Phật. Nắm bắt được điểm chung này, bạn có thể kết bạn với người đó. Bạn
bận tâm làm gì những chuyện rắc rối xảy ra trong gia đình họ, chỉ cần họ chuyên
tâm học Phật tu tâm là tốt rồi, đừng bận tâm quá nhiều.
Thiền là gì? Thiền chính là rèn luyện bản thân để chấp nhận
những con người khác nhau và những sự việc khác biệt, chính là an định cái tâm
của mình. Đừng bận tâm người khác nghĩ gì, đối diện với những người khác nhau,
bạn đều có thể giữ được sự tĩnh lặng. Cho dù đó là một kẻ rất hung dữ, hay một
người rất lương thiện, tâm của bạn đều có thể định lại được. Bất luận gặp chuyện
gì, tôi cũng có thể an định nội tâm; gặp chuyện xui xẻo hay gặp may mắn, tôi đều
có thể giữ tâm bình tĩnh. Tôi không tham lam, tôi không mù quáng theo đuổi, người
như vậy chính là người có được "Thiền". Sư phụ chẳng phải vẫn thường
nói với các vị sao? Hôm nay tỷ phú Lý Gia Thành có đến thăm, bạn vẫn giữ thái độ
như thế này, bạn coi ông ấy như một người bạn tốt, chỉ vậy thôi. Hôm nay có một
người rất nghèo đến thăm, các vị cũng coi họ như một người bạn đồng tu, đó
chính là Thiền. Hôm nay bạn gặp chuyện vui, bạn giữ được bình tĩnh, đó cũng là
Thiền. Hôm nay bạn chịu khổ, không gặp may mắn, bạn vẫn giữ vững tâm mình, đó
cũng là Thiền, không hề có tâm phân biệt.
Có những lúc con người ta ngay cả bản thân mình còn chưa hiểu
rõ, thì làm sao có thể thấu hiểu người khác? Sư phụ hỏi các vị, các vị có thực
sự hiểu rõ bản thân không? Rất nhiều người sau khi nổi giận lôi đình xong lại
than vãn: "Sao mình lại có thể làm ra loại chuyện này?" "Sao
mình lại lú lẫn như thế?" Lấy một ví dụ đơn giản, có bao nhiêu tội phạm,
những kẻ vì tiền, vì danh, vì lợi lừa gạt người khác, khi ở trong tù mới hối hận
thốt lên: "Sao tôi lại có thể làm ra loại chuyện này? Tôi không thể tha thứ
cho chính mình." Đó là vì bạn không hiểu chính bản thân bạn. Cho nên, một
người ngay cả mình còn chưa thấu hiểu, thì làm sao có thể thấu hiểu người khác,
làm sao có thể cứu vớt người khác được?
36. Thiền tâm tựa động mà phi động
Con người thường hay nói: "Bạn không hiểu tôi." Sư
phụ kể cho các vị nghe, vào thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tại Ấn Độ, Đề Bà Đạt
Đa là một vị đại đệ tử của Ngài. Ông ta đã theo Đức Phật ba mươi năm, lẽ nào
ông ta không biết Thích Ca Mâu Ni là Phật sao? Thế nhưng sau ba mươi năm, ông
ta lại rời bỏ Phật Đà, có đáng tiếc không? Qua câu nói này của Sư phụ, các vị
nên hiểu rằng, để một người thấu hiểu một người khác là điều vô cùng khó khăn.
Mẹ đẻ ra con còn chưa chắc đã hiểu con, thì con cái làm sao hiểu được cha mẹ?
Con người với nhau cần phải có sự giao tiếp. Sư phụ kể một câu chuyện vui: Một
đứa trẻ cùng bố đi xe buýt, về nhà liền khoe với mẹ: "Mẹ ơi, hôm nay con
đã nhường ghế cho người khác đấy." Người mẹ khen: "Con đúng là đứa trẻ
ngoan, rất hiểu chuyện." Đứa bé đáp: "Con nhường ghế vì con muốn ngồi
lên đùi bố, con ngồi quen rồi, con thích ngồi trên đùi bố cơ." Người mẹ
này ngay cả con mình còn không thấu hiểu, vậy ở đây có ai tự thấu hiểu được
chính bản thân mình không?
Đôi khi chỉ vì một chút chuyện nhỏ, các vị có thể hy sinh rất
nhiều thứ của bản thân; nhưng đôi khi chỉ vì một chút tư lợi, các vị lại sẵn
sàng vứt bỏ những việc lớn lao mang lợi ích chung. Nếu các vị có thể rũ bỏ lòng
tư kỷ thì tốt biết mấy. Thế nên, vị đệ tử theo Phật Đà ba mươi năm đó cuối cùng
vẫn phản bội lại Ngài. Về sau, Đức Phật đã độ cho gần năm trăm vị đệ tử thân cận
thăng lên cõi trời, hiện nay tất cả đều đã thành Phật, Bồ Tát; các vị xem vị đệ
tử kia có đáng tiếc không? Ông ta theo Phật Đà ba mươi năm, ông ta có hiểu Phật
Đà không? Ông ta không hiểu. Phật Đà ở nhân gian đã làm tốt đến mức như Bồ Tát
rồi, vậy mà ông ta vẫn nhẫn tâm rời bỏ Ngài, ông ta thực sự không có phúc khí.
Điều quan trọng hàng đầu là phải thấu hiểu chúng sinh. Mỗi
người chúng ta đều phải thấu hiểu chúng sinh, tức là phải hiểu người khác, phải
tìm ra điểm chung trong cuộc sống. Bạn có thể nói: "Người phụ nữ này tôi
không thích, người đàn ông kia tôi rất ghét." Nhưng bạn phải tìm ra điểm
chung của họ, đó là họ cũng có một trái tim hướng Phật, họ vẫn còn lương tâm, họ
vẫn đang học Phật. Phải hiểu rằng, người có thể cùng bạn tu tâm, sẽ cùng bạn tiến
bộ, các vị cần phải thấu hiểu lẫn nhau. Nếu không, một người tu tâm, một người
không tu tâm, thời gian dài trôi qua, hoặc là bạn bị người đó kéo tụt xuống, hoặc
là người đó được bạn kéo lên. Cho nên, người học Phật nếu có một người bạn đời
tuyệt vời, hoặc một người bạn đồng tu, hoặc người thân, hãy cố gắng độ cho họ
cùng học Phật; nếu không, bạn với họ chỉ có tình thân chốn nhân gian, bạn sẽ
không thể gắn bó với họ lâu dài, bởi vì ở nhân gian không có "Phật
tình", đây là lời Bồ Tát dạy.
Phải biết thấu hiểu lẫn nhau, thiền ngộ nhân sinh. Rất nhiều
người dùng từ "khai ngộ nhân sinh", tại sao Sư phụ lại dùng từ
"thiền ngộ nhân sinh"? Thiền ngộ nhân sinh chính là dạy các vị loại bỏ
vọng niệm, bởi vì khi các vị tọa thiền, các vị không có vọng niệm, không có tà
niệm, tâm rất thanh tịnh. Rất nhiều người nhờ tọa thiền mà khai ngộ, họ triệt để
thấu hiểu. Rất nhiều vị pháp sư tại sao có thể buông bỏ mọi thứ, lên núi tu
hành? Bởi vì họ hiểu rõ: mọi thứ ở nhân gian đều là hư vọng, họ đã khai ngộ rồi,
thiền ngộ nhân sinh rồi.
Phải hiểu một đạo lý, đó là người học Phật trước tiên phải
loại bỏ những lỗi lầm trong hành vi, nghĩa là không được làm sai, hôm nay một
hành vi cũng không được phép làm sai. Rất nhiều người đàn ông nhìn phụ nữ với
ánh mắt rất đáng ghét, rất khó coi, ánh mắt đầy sắc dục, người ta nhìn vào là
thấy ngay, làm sao giống một người học Phật được? Đó chính là hành vi cử chỉ
không đoan chính. Phải tu sửa hành vi, đi vỗ vai người này, chạm người kia, đó
là sự sai sót trong hành vi. Nói chuyện lớn tiếng ở nơi công cộng, khiến người
ta coi thường, thế thì bạn đâu có giống người học Phật? Các vị xem trong chùa
có ồn ào không? Nếu các vị thấy một đám hòa thượng tụ tập cười đùa cợt nhả, thì
các vị đừng đến ngôi chùa đó nữa, đúng không? Hành vi trước tiên phải ra dáng một
vị Bồ Tát. Lỗi lầm là gì? Là không được làm sai, hành vi không được sai phạm,
"Ôi, tôi thật hối hận, tôi không kìm nén được, tôi làm sai rồi, thật mất mặt!"
Về đến nhà, tự hận bản thân mình. Người học Phật trước tiên phải loại bỏ những
lỗi lầm trong hành vi.
Thiền tâm tựa động mà phi động. Thiền tâm là gì? Chính là một
trái tim thanh khiết yên tĩnh, một trái tim có thể giúp bạn khai ngộ. Các vị thử
nghĩ xem, khi các vị muốn tĩnh tâm lại, có phải lúc đầu tâm sẽ động không: hôm
nay bây giờ tôi bắt đầu tĩnh tâm, tôi phải tránh mặt tất cả mọi người, tôi phải
tắt điện thoại, tôi phải khóa cửa lại. Có phải tâm đang động không? Lúc bắt đầu
tọa thiền, những suy nghĩ này đều đang động; đợi đến khi các vị ngồi xuống rồi,
không động nữa, không còn suy nghĩ gì nữa, bởi vì không có điện thoại, không có
ai gõ cửa, không còn gì nữa, tâm của bạn không động, đó chính là phi động
(không động). Thực chất, ý niệm của con người cũng tựa động mà phi động; ý niệm
đôi khi đang động, đôi khi lại không động. Khi nghĩ đến một việc xấu, nó đang động;
sau khi nghĩ xong, cảm thấy việc này người học Phật chúng ta không nên nghĩ tới,
đó là phi động; như vậy cuối cùng bạn vẫn không thực sự làm điều đó, nghe có hiểu
không? Lúc mới bắt đầu tọa thiền, trong đầu không nghĩ gì cả, nhưng về sau, tạp
niệm bay lượn, phiền não không dứt; lúc đầu bạn là phi động, tiếp theo là tựa động,
rồi cuối cùng thực sự động, đã hiểu chưa?
Khi một người gặp phải sự cố bất ngờ, tư duy của họ rất dễ
đi chệch hướng, trở nên cực đoan. Các vị cứ nhìn xem lúc vợ chồng hay những người
yêu nhau cãi vã; bình thường lúc tốt đẹp thì tình cảm thắm thiết, đợi đến lúc
cãi nhau, lập tức nghĩ "tôi hận chết anh", lôi hết một loạt những
chuyện tồi tệ của đối phương ra để nhớ lại. Thực chất, đây chính là sự tích tụ
của nghiệp quả, giống như việc bạn dùng que diêm châm ngòi cho tràng pháo này,
"lốp bốp" nổ tung tóe; Sư phụ diễn tả có hình tượng không? Thuốc súng
đều do các vị tích tụ từng chút một vào lúc bình thường, đợi đến lúc cãi nhau,
diêm vừa châm lửa, chẳng phải là phát nổ sao? Bình thường đừng tích trữ thuốc
súng, bình thường đừng ghi nhớ những chuyện người ta đối xử tệ với mình, phải
quên sạch hết, trong đầu chỉ lưu giữ những điều tốt đẹp; dù cho thuốc súng có
vô tình bị châm ngòi, lập tức trong đầu nghĩ đến không phải là sự hận thù, mà
toàn bộ là những điểm đáng yêu của đối phương, là sự chân thành mà họ dành cho
bạn, là những lúc họ đã hy sinh vì bạn; trong đầu bạn toàn bộ là những năng lượng
tích cực, thì làm sao bạn có thể nghĩ đến chuyện ly hôn, làm sao có thể hận họ
được? Làm sao trong đầu có thể nảy sinh ý định rời xa họ? — Sư phụ giảng có
đúng là Phật pháp ở nhân gian không? Các vị tự mình chiêm nghiệm đi. Sư phụ thấy
mỗi người các vị đều sẽ có những trải nghiệm riêng, bởi vì hôn nhân, tình cảm
và tình yêu là những thứ thiên biến vạn hóa, muôn màu muôn vẻ; đó là Sư phụ nói
sự thật theo cách dễ nghe hơn một chút, thực tế là nếu con người không tu hành,
thì bất cứ chuyện gì xảy ra, các vị đều không thể xử lý tốt được. Chuyện gì
cũng có thể xảy ra.
Phải trong động có tĩnh, trong tĩnh có động. Tâm đang động,
nhưng động xong rồi phải thanh tịnh; tôi có thể nghĩ, tôi rất giận người này,
nhưng nghĩ xong rồi tâm phải lập tức tĩnh lại: tôi không được hận người khác,
tôi là người học Phật, bất kể họ ra sao, họ cũng đã gắn bó với tôi mấy năm nay
rồi, họ cũng thật đáng thương. Đúng không? Đó gọi là trong động có tĩnh. Trong
tĩnh có động nghĩa là, lúc tĩnh lặng tâm tôi thỉnh thoảng vẫn động; động điều
gì? Tôi thương rất nhiều người, có biết bao nhiêu người đáng để tôi thương xót,
tôi không nỡ bỏ họ.
Cho nên, phải loại bỏ những chướng ngại trong bản tính,
không phải là chướng ngại bề ngoài, mà là chướng ngại nằm sâu trong bản tính của
các vị. Bản tính là gì? Chính là lương tâm, lương tâm không thể vứt cho chó gặm;
lương tâm là bản tính của bạn. Cái tâm bề ngoài của bạn có thể có chướng ngại,
nhưng nội tâm tuyệt đối không được phép làm chuyện ác; nếu bạn làm những việc tồi
tệ đó, nó sẽ làm tổn thương chính bạn, và còn làm tổn thương người khác; thứ
làm tổn thương đến bản tính của bạn, đó chính là làm việc trái với lương tâm.
Người ta đối xử tốt với bạn như thế, bạn lại đột ngột nói lời chia tay với bạn
gái, bạn sẽ làm tổn thương trái tim người ta, đúng không?
Ở nhân gian tuy có thiện ác, nhưng đừng bao giờ nhìn nhận
cái ác một cách tuyệt đối, không thể coi cái ác là hoàn toàn ác; đối với cái
thiện cũng đừng nhìn nhận một chiều, coi là hoàn toàn thiện; bởi vì thiện và ác
có thể chuyển biến. Quá khứ người này rất xấu xa, bạn nói người này vĩnh viễn
không bao giờ tốt lên được, nhưng vài năm sau, người này thay đổi hoàn toàn, tốt
lên rồi, người ta rất lương thiện, bạn còn nói người ta xấu được không? Quá khứ
người này vô cùng lương thiện, là một người tốt, sau này bước ra ngoài xã hội,
vì muốn kiếm tiền mà đi lừa đảo, trở nên tàn ác vô cùng, vậy bạn nói người này
là người tốt hay người xấu? Cho nên, thiện và ác đều có thể thay đổi, bạn không
thể quy chụp một cách tuyệt đối; người lương thiện của ngày hôm nay có thể trở
thành kẻ ác của ngày mai, và kẻ ác của ngày mai cũng có thể trở thành người
lương thiện của ngày mốt.
37. Tu giải thoát mới có thể sinh khởi tâm xuất ly
Phải biết dùng thiện niệm, thiện tâm để chuyển hóa cái ác
trong lòng. Một người có càng nhiều thiện tâm, thiện niệm, thì ác niệm trong
lòng sẽ càng ít đi. Các vị cứ để ý mà xem, khi nói chuyện với người khác, có
người vừa mở miệng là nói: "Chắc không phải đâu, người này tốt lắm
mà." Người như thế là người có nhiều thiện niệm. Nếu một người vừa mở miệng
đã phán: "Cái người này vốn dĩ là như thế, chắc chắn là hắn đã làm gì đó,
hắn nhất định sẽ thế này thế kia." Thì trong lòng người này chứa nhiều ác
niệm. Phải hiểu rằng, nếu hiện tại chúng ta theo đuổi càng nhiều thứ ở nhân
gian, chúng ta sẽ càng đánh mất đi những thứ trên thiên giới. Hôm nay chúng ta
truy cầu tình cảm chốn nhân gian, sau này bạn nhất định sẽ không thể thăng lên
trời được; bởi vì lúc ra đi bạn không thể dứt bỏ được những tình cảm này: con
gái tôi, con trai tôi, chồng tôi, nhà của tôi, xe của tôi... Quá nhiều thứ ở
nhân gian mà bạn không thể mang theo lên trời, bạn sẽ đánh mất những gì vốn thuộc
về mình trên đó. Bạn truy cầu ở nhân gian càng nhiều, bạn sẽ đánh mất càng nhiều
những gì mình có trên thiên giới; nếu ở nhân gian bạn không có gì để vướng bận,
chỉ theo đuổi sự thăng hoa của cảnh giới, sau này bạn nhất định sẽ đắc được nhiều
thứ hơn trên thiên giới.
Người học Phật dù muốn giải thoát trong cuộc sống hiện tại,
hay muốn thành Phật, đều bắt buộc phải chứng ngộ Bát Nhã trí tuệ. Bát Nhã trí
tuệ là trí tuệ cao thượng, vô thượng, là trí tuệ của Bồ Tát. Hôm nay bạn muốn
khai ngộ, bạn bắt buộc phải có trí tuệ; hôm nay bạn muốn thành Phật, bạn bắt buộc
phải có trí tuệ, và bạn phải sở hữu trí tuệ; cho nên, những người đang ngồi dưới
kia, nếu không có trí tuệ, các vị tu tâm sẽ không thành. Trí tuệ là gì? Khôn vặt
không phải là trí tuệ; khôn vặt là đi chiếm tiện nghi của người khác, khôn vặt
là nghĩ ra một mưu mẹo nhỏ để giải quyết một vấn đề cụ thể; còn trí tuệ là sự
hóa giải, là sự viên dung, là sự bao dung.
Lấy một ví dụ đơn giản để giải thích thế nào là khôn vặt, thế
nào là trí tuệ. Nếu bạn là một người khôn vặt, mở một cửa hàng; hôm nay khách
mua đồ đưa thừa cho bạn mười đồng, bạn rất vui, lập tức cất mười đồng đó đi; bạn
nhận được mười đồng của người ta. Nhưng vị khách đó về nhà nghĩ lại: mười đồng
trong túi mình đi đâu mất rồi? Nhớ đi nhớ lại mới biết là đánh rơi ở cửa hàng
đó, biết ngay là chủ cửa hàng này không tốt; sau này ông ta sẽ đi kể với mọi
người rằng ông chủ này rất tham lam: "Lần trước tôi rơi tiền ở đó mà ông
ta không thèm trả lại." Bạn có thể sẽ đánh mất danh tiếng, đánh mất sự tôn
trọng của người khác. Bạn nhận được mười đồng, tiêu cũng hết, ăn cũng hết, chỉ
bằng tiền hai cốc cà phê; nhưng bạn đã mất đi rất nhiều, bởi vì tiếng xấu đồn
xa, việc buôn bán của bạn sẽ mất đi vô số cái "mười đồng" khác. Cũng
là sự việc đó, nếu rơi vào tay một người có trí tuệ, họ sẽ nói: "Anh ơi,
khoan đi đã, anh đánh rơi mười đồng ở đây, tiền của anh này." Vị khách sẽ
vô cùng cảm kích, cảm thấy người chủ này buôn bán ngay thẳng, không tham tiền;
người như thế mới là người tốt, người như thế mới gọi là có trí tuệ. Tuy không
giữ lại mười đồng đó, nhưng người ta tin tưởng anh ta, việc buôn bán sẽ ngày
càng phát đạt, ngày nào người ta cũng ghé mua đồ; bạn có biết ông chủ này có thể
kiếm được bao nhiêu cái mười đồng không? Đó gọi là trí tuệ; chiếm tiện nghi của
người ta gọi là khôn vặt, biết cho đi mới gọi là trí tuệ.
Phải biết chứng ngộ Bát Nhã trí tuệ, nhất định phải kết hợp
với tâm xuất ly (tâm buông bỏ thế tục), bạn mới có thể đắc được quả giải thoát.
Tâm xuất ly là gì? Tôi biết hôm nay tôi đến thế giới này, tôi chắc chắn sẽ có
ngày phải rời đi, cho nên tôi biết mọi thứ trên cõi đời này đều không thuộc về
tôi, tôi không bận tâm; danh cũng không phải của tôi, lợi cũng không phải của
tôi, tất cả đều không phải của tôi, sẽ có một ngày tôi nhất định phải rời bỏ thế
giới này; tuy thân tôi vẫn chưa rời khỏi thế giới này, nhưng tâm tôi đã rời khỏi
thế giới này rồi, tôi sẽ không phiền não vì bất cứ chuyện gì cả, đó gọi là tâm
xuất ly. Tâm xuất ly chính là phải buông bỏ mọi tình cảm quyến luyến nam nữ,
gia đình nơi nhân gian, phải buông bỏ mọi sự theo đuổi ở nhân gian; tôi không
theo đuổi, tôi không mưu cầu, tôi phải tu tâm xuất ly.
Thực tế, trong quá trình học Phật, chúng ta không thể nói là
hoàn toàn có tâm xuất ly được, nhưng tâm trí có thể xuất ly. Sư phụ không bảo
các vị không làm việc, Sư phụ không bảo các vị không kết hôn, đều được cả;
nhưng tâm phải nhìn thấu: kết hôn chỉ là tạm thời, làm việc kiếm tiền là để duy
trì cuộc sống, mọi thứ đều là tạm thời, như vậy bạn sẽ không còn bám chấp theo
đuổi nữa. Các vị có xuất được không, có ly được không? Rất nhiều người trong
chương trình nói với Sư phụ: "Sư phụ ơi, bây giờ con chỉ muốn đến Tây
Phương Cực Lạc thế giới thôi." "Vậy cho con đi ngay bây giờ
nhé!" "Khoan đã Sư phụ, đợi con cái con lớn khôn, đợi bạn đời của con
đi trước đã, con còn mẹ già phải chăm sóc nữa." Họ không chịu đi đâu. Các
vị ngồi đây có ai muốn đi ngay bây giờ không, xin giơ tay lên; các vị không chịu
đâu. Có được tâm xuất ly là điều rất khó, nhưng tâm xuất ly của chúng ta là sự
thật hiện hữu; bạn sinh ra đời lẽ nào lại không có ngày chết đi? Bạn có ngày
sinh ra, thì đã định sẵn sẽ có ngày phải nhắm mắt xuôi tay; vậy thì bao nhiêu
thứ ở nhân gian này, bạn ôm đồm để làm gì?
Lấy một ví dụ đơn giản, ở Úc có rất nhiều vườn trái cây; ông
chủ nói, bạn có thể hái cherry, hái cam tùy thích, bạn cứ hái thoải mái, ăn thoải
mái, nhưng tuyệt đối không được mang về. Bạn ăn đi, bạn ăn được bao nhiêu? Bạn
lại không được mang về, ăn đến mức về sau chỉ cần nhìn thấy quả cam thôi là
răng đã ê buốt; thật đấy, Sư phụ đem những đạo lý này ra giảng cho các vị nghe.
Lại lấy thêm một ví dụ, các vị theo Sư phụ sang Mỹ hoằng pháp, ở trong một
khách sạn, ở mười ngày hay năm ngày cũng được; vừa mới dọn vào, liền nghĩ:
khách sạn này là của mình, mấy ngày nay mình sở hữu khách sạn này, cảm thấy đồ
đạc bên trong đều là của mình, vui sướng biết bao. Năm ngày sau, nó lại là của
người ta. Vợ bạn hôm nay xinh đẹp, bạn tốn bao công sức theo đuổi rước cô ấy về;
đợi đến lúc bạn mất đi, vì vợ kém bạn nhiều tuổi, cô ấy lại đi tìm người đàn
ông khác, người vợ này còn là của bạn không? Bạn mất rồi, con cái ngay cả
"Ngôi nhà nhỏ" cũng không chịu đốt cho bạn, đứa con này còn là của bạn
không?
Sau khi bạn mất đi, bạn là ai? Con cái lại là ai? Tất cả đều
là nhân duyên cả. Sư phụ muốn đưa các vị lên thiên giới, vĩnh viễn ở bên Sư phụ;
ở trên đó vui sướng biết bao, hơn nữa lại không bị bệnh tật, không phải chết; nếu
bây giờ các vị đang ở trên thiên giới, thì mọi cảm giác của các vị đều là chân
thật. Sư phụ muốn đưa các vị lên đó, nhưng các vị phải tu hành cho thật tốt.
Phải biết dung hợp làm một với tâm Bồ Đề. Tâm giải thoát xuất
ly, cộng với trí tuệ, cộng với Bồ Đề tâm hợp nhất, bạn sẽ đắc được Phật quả. Phật
quả là gì? Chính là thành Phật. Thực chất "Tâm Kinh" chính là tinh
túy của Bát Nhã trí tuệ của Bồ Tát. Cho nên, chư Phật ba đời quá khứ, hiện tại
và vị lai đều nương tựa vào "Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh". Có ý nghĩa
gì? Chính là đại trí tuệ, Bát Nhã trí tuệ; "Mật Đa" chính là đại trí
tuệ đưa đến bến bờ bên kia. Cho nên, muốn đắc chứng Bồ Đề, bạn phải tu Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác. "Vô thượng" nghĩa là vô cùng to lớn;
"Chánh đẳng Chánh giác" nghĩa là: trong đầu hoàn toàn chứa đựng những
điều chân chính, mọi suy nghĩ, mọi cảm nhận giác ngộ đều là chân chính, không
có sự sai lệch, không có tà niệm; giống như một đứa trẻ vô cùng thuần khiết, ví
tâm hồn các vị như một đứa trẻ ngoan; vậy sự giác ngộ chân chính vĩ đại
"Vô thượng" đó, chính là Phật. Cho nên, Bát Nhã trí tuệ chính là khả
năng thấu hiểu Phật pháp, hiểu rõ con đường học Phật này, phải hiểu thấu, phải
ngộ ra, phải tu đạt đến trí tuệ liễu thoát sinh tử, siêu phàm nhập thánh.
Tại sao rất nhiều người coi nhẹ cái chết? Bởi vì họ thực sự
đã nhìn thấu. Sư phụ giảng cho các vị nghe, người thực sự có thể liễu thoát
sinh tử, đó là người tu thăng lên thiên giới; họ đã buông bỏ mọi thứ ở nhân
gian. Lúc ra đi, họ đã sớm quyên góp hết tiền bạc tài sản, để tránh việc con
cái sau này tranh giành vì tiền bạc, bởi vì chia cho đứa này nhiều, đứa kia ít,
đến lúc đó con cái lại oán trách cha mẹ; họ trắng tay ra đi, không vướng bận,
không lo âu, người như vậy chính là có Chánh đẳng Chánh giác. Lại có rất nhiều
người tỏ vẻ như đã nghĩ thông suốt, nhưng thực ra là đã suy nghĩ theo hướng cực
đoan, đi vào ngõ cụt: nghĩ rằng mình đã nếm trải quá nhiều đau khổ ở nhân gian,
bây giờ mình không chịu nổi nữa, mình không thể tiếp tục sống ở nhân gian này nữa;
vớ lấy sợi dây thừng thắt cổ tự vẫn, đó chính là suy nghĩ tà vạy. Nghe có hiểu
không? Người đó cũng muốn liễu thoát sinh tử, nhưng đã đi sai đường, bị lệch lạc,
người đó đã đọa địa ngục rồi. Còn người chân chính, họ đã nghĩ thông suốt, đã
thấu hiểu rõ ràng, cười nhìn nhân sinh, ngày ngày sống một cách an nhiên: số mệnh
tôi vốn dĩ là như vậy, tôi tranh thủ thời gian niệm kinh, làm việc thiện, đợi đến
lúc tôi rời bỏ cõi đời, tôi nhất định phải thăng lên thiên giới. Đó mới gọi là
chánh tín, chánh niệm, đó mới gọi là căn bản trí.
Căn bản trí chính là trí tuệ cội nguồn của nhân sinh, nó
siêu việt khỏi trí tuệ thông thường và sự khôn ngoan phàm tục. Người chỉ có sự
khôn ngoan phàm tục, những đồng tiền họ kiếm được thảy đều là tiền bạc chốn
nhân gian, những việc họ làm thảy đều là chuyện thế tục, sau này chẳng mang
theo được một thứ gì, người đó không thể thăng lên thiên giới. Người có nhiều
tiền đến mấy há chẳng phải cũng phải gánh chịu đau khổ sao? Phải biết rằng, người
học Phật về sau tinh thần sẽ không còn đau khổ nữa, lúc họ ra đi sẽ không cảm
thấy quá đau khổ, họ đã buông bỏ rồi. Có biết không? Họ nhìn con cái cũng mỉm
cười, nhìn vợ mình cũng mỉm cười, nhìn cha mẹ cũng mỉm cười, họ đã thực sự
không còn thống khổ nữa. Các vị chưa từng tìm hiểu, người nghĩ thông suốt và
người nghĩ không thông là hai loại cảm giác hoàn toàn khác biệt. Các vị đã từng
khuyên nhủ rất nhiều người nghĩ không thông; phải biết rằng lúc các vị khuyên
người ta, tại sao người ta lại ngoan cố không chịu hiểu, người ta cứ khóc lóc
thảm thiết? Tại sao bạn cũng có hoàn cảnh giống hệt họ, bạn nói: "Bạn yên
tâm đi, tôi cũng giống bạn thôi, quá khứ tôi cũng từng ly hôn, tôi cũng rất đau
khổ, nhưng lúc đó tôi cũng giống hệt bạn; bây giờ bạn phải suy nghĩ thoáng ra một
chút." Người đó có nghĩ thoáng ra được không? Cô ấy vẫn khóc lóc, buồn bã,
tổn thương, đòi sống đòi chết; bạn nói: "Tôi cũng từng muốn chết, nhưng
tôi đâu có chết. Bây giờ tôi đã quên sạch hết rồi, tôi chẳng còn cảm thấy đau
khổ chút nào nữa." Cô ấy có cảm nhận được cảm giác của bạn không? Người
nghĩ thông suốt, chính là người đi khuyên nhủ người khác, bởi vì họ đã vượt qua
rồi; và người thực sự có thể nghĩ thông suốt, sau này lúc họ ra đi cũng sẽ
không đau đớn, họ đã giác ngộ rồi: tôi sẽ không chết. Người nghĩ không thông mới
là người sợ chết.
Phải hiểu rằng cội nguồn của sinh mệnh chính là bản tính; thể
cội nguồn chính là bản tính. Cho nên, đừng dùng sự khôn vặt để làm việc ác ở
nhân gian, khôn vặt là vô dụng. Tại sao có những vị pháp sư lấy pháp danh là
"Bản Nguyên"? Chính là để tìm kiếm suối nguồn sinh mệnh, cội nguồn
nguyên thủy, đó chính là tâm sơ khởi.
Hãy nghĩ cho thông suốt, tại sao có những người làm ở cơ
quan được sếp tăng lương, sếp trọng dụng, đối xử tốt, có người lại vỗ tay chúc
mừng; tâm thái đó là của người đã nghĩ thông suốt. Tại sao có người ngoài thì vỗ
tay, nhưng trong lòng lại thấy rất khó chịu? Bởi vì người đó nghĩ không thông.
Tại sao cùng là hai con người, một người mãi không khai ngộ, một người lại có
thể khai ngộ? Tại sao lúc người này vỗ tay là thực sự thấy vui mừng? Tại sao
người kia lúc vỗ tay trong lòng lại thấy ấm ức? Sư phụ hỏi các vị, lúc đối mặt
với cái chết, một người nghĩ thông suốt sẽ rất thanh thản, biết mình sắp ra đi,
có thể được giải thoát, biết mình sắp đến một cảnh giới khác, nên chẳng bận tâm
gì nữa; còn một người thì lại vô cùng đau khổ. Sư phụ hỏi các vị, nếu các vị
đau khổ nhưng sau đó không chết, thì đó lại là chuyện khác; phải biết rằng, đau
khổ rồi thì chết càng nhanh hơn. Không đau khổ, không vướng bận chút đau khổ
nào, cứ thế mà sống trọn vẹn cuộc đời mình. Nghĩ thông suốt rồi, nhìn thấu mọi
thứ rồi; cái ngày bạn đến với thế giới này, cũng là lúc bạn chuẩn bị cho ngày
ra đi, chỉ là chuyện sớm hay muộn mà thôi. Ở nhân gian cứ mải miết theo đuổi,
mưu cầu; Sư phụ muốn xem các vị ở nhân gian rốt cuộc có thể theo đuổi được bao
nhiêu, mưu cầu được những gì.
38. Phúc phận nhờ trì giới, Trí tuệ nhờ khai ngộ
Chúng ta ngày nào cũng nói muốn giải thoát, chính là để bản
thân có một cuộc sống an tĩnh, một tâm hồn thanh tịnh và tư duy được nâng cao. Vậy
muốn giải thoát thì phải bắt đầu từ đâu? Trước tiên, phải tìm sự giải thoát
ngay trong quá trình tu hành. Tu hành chính là phải giữ cho phúc phận của bản
thân không bị thất thoát; bởi vì mỗi người đều có một chút phúc khí. Ví dụ, các
vị hôm nay vẫn còn sống bình an, không mắc bệnh nặng; các vị hôm nay vẫn còn một
gia đình, còn có con cái, còn có một người vợ, hoặc còn có một công việc tốt; tất
cả những điều này đều là những chút phúc phận của các vị. Nếu những phúc phận
này bị rò rỉ mất, thì các vị sẽ khiến trí tuệ của mình cũng bị thất thoát theo.
Thử nghĩ xem có đúng không? Nếu gia đình bạn tan vỡ, tiếp theo bạn chẳng biết
mình phải làm gì nữa, bạn há chẳng phải đã trở thành người không có trí tuệ
sao? Nếu hôm nay bạn mâu thuẫn với sếp, mất luôn công việc; vậy phúc phận của bạn
có phải đã rò rỉ rồi không? Bạn mất việc rồi, trí tuệ của bạn cũng sẽ rò rỉ; bởi
vì bạn không biết phải làm sao nữa, bởi vì bạn cảm thấy kiếp nạn của mình đã đến;
con người lúc đó sẽ rất đau khổ. Cho nên, phải biết cách bảo vệ thật tốt phúc
phận của mình, tức là vĩnh viễn không bao giờ để nó bị rò rỉ thất thoát.
Bảo vệ thật tốt phúc phận của mình nghĩa là sao? Nghĩa là
khi bạn đang có một chút phúc khí để thụ hưởng, bạn phải nghĩ đến việc làm thế
nào để tích lũy thêm phúc đức. Có phúc khí, trí tuệ của bạn sẽ không bị rò rỉ;
hôm nay bạn không có phúc khí, trí tuệ của bạn chắc chắn sẽ bị rò rỉ.
Làm thế nào để trí tuệ của bản thân không bị rò rỉ? Làm thế
nào để phúc phận của bản thân không bị thất thoát? Trước tiên, phải giữ gìn giới
luật. Giữ giới luật là gì? Là việc đáng làm thì làm, việc không nên làm thì
không được làm; điều đáng nghĩ thì nghĩ, điều không nên nghĩ thì đừng nghĩ tới;
lời đáng nói thì nói, lời không đáng nói thì đừng nói ra. Bởi vì khi bạn không
giữ được giới luật, bạn sẽ đi vào ba đường ác. Khi một người nổi cáu, buồn bã,
thực chất trí tuệ của họ đã cạn kiệt, khi đó tư duy của họ đang nằm ở ba đường
ác. Thử nghĩ xem, lúc cãi vã, lúc mất kiểm soát, lúc tức giận, con người có
khác gì súc sinh không? Muốn cắn người, hung hãn vô cùng, muốn đánh người; lúc
đó bạn chẳng phải giống như con hổ đòi ăn thịt người sao? Tư duy của bạn lúc đó
có phải đang ở ba đường ác không?
Cho nên, con người phải hiểu rằng, nhất định phải bảo vệ thật
tốt phúc phận của mình; đồng thời phải không ngừng gia tăng những phúc phận
mình đang có, đừng để nó thất thoát. Ví dụ, bạn vốn dĩ làm việc ở cơ quan này rất
tốt, vậy bạn phải không ngừng duy trì mối quan hệ tốt với sếp, như vậy có phải
là bạn đang không ngừng gia tăng phúc phận không? Bởi vì bạn cảm thấy công việc
này đối với bạn rất tốt, đúng không? Các bạn trẻ lúc mới kết hôn, tình cảm hai
người rất tốt; vậy bạn không được lạm dụng phúc phận này. Ví dụ, người vợ đối xử
rất tốt với bạn, bạn không đòi hỏi cô ấy phải chăm sóc mình một cách thái quá,
phúc phận của bạn sẽ không bị thất thoát; bạn cũng đối xử lại rất tốt với cô ấy,
lúc này, cô ấy sẽ tiếp tục đối xử tốt với bạn; rồi cô ấy biết bạn cũng tốt với
mình, cô ấy sẽ càng đối xử tốt với bạn hơn; như vậy phúc phận của bạn sẽ được
kéo dài. Nếu bạn chỉ nghĩ rằng, cô là vợ tôi, cô phải chăm sóc tôi; thì thời
gian dài trôi qua, người ta không chăm lo cho bạn nữa, những phúc phận này rò rỉ
hết, và bạn sẽ không nhận được sự chăm sóc của cô ấy nữa. Mọi người có hiểu đạo
lý này không?
Người học Phật không muốn đánh mất phúc đức của mình, thì trong
đời sống thường ngày phải biết tự giữ gìn, tự xét mình, cẩn trọng trong hành vi.
Hôm nay mọi người vẫn còn tề tựu bên nhau, đó là một chữ duyên; nếu ngày mai mọi
người không thể ở cùng nhau nữa, thì chữ duyên đó đã không còn. Không có duyên
thì ai quan tâm đến bạn nữa? Không có duyên, bạn sẽ từ từ đánh mất luôn cả phúc
phận. Thử nghĩ xem, mọi người đều yêu quý bạn, mọi người đều nhường nhịn bạn,
đó đều là phúc phận của bạn; không được để nó rò rỉ cạn kiệt, không được tiêu
xài phung phí. Đừng coi sự tốt bụng của người khác dành cho mình như một sự
khoe khoang, hay một đặc quyền; hãy biết đem điều tốt đẹp ấy vào cuộc sống, hiểu
rằng sự tốt đẹp giữa người với người là sự tương tác hai chiều; như thế, bạn sẽ
tiếp tục gieo thiện nhân, bạn mới có thể nhận được thiện quả, tức là người ta sẽ
không ngừng đối xử tốt với bạn. Cho nên, thiện ác quả báo, đó chính là sự thật
nghiêm trọng tồn tại ở nhân gian. Hôm nay bạn dùng hết phúc phận, lập tức cái
ác sẽ tìm đến bạn; hôm nay bạn có chút ý kiến với người ta thì không sao, nhưng
nếu bạn buông lời nhục mạ, tương đương với việc bạn đã dùng hết thiện duyên với
đối phương; tiếp theo là kết oán, họ vĩnh viễn sẽ không nói tốt về bạn, họ sẽ
vĩnh viễn đố kỵ hoặc hận bạn; chính là vì bạn làm quá đáng, bạn đã dùng cạn thiện
duyên đó rồi, mọi người có hiểu không?
Phải biết tôn trọng sự thật, nghiêm thủ giới luật; khi bạn
giữ giới luật, bạn sẽ chiêm nghiệm được mọi thứ, biết điều gì là đúng, điều gì
là sai. Bởi vì tôi hoàn toàn không làm sai, nên tôi đúng; bởi vì tôi không nói
năng bừa bãi, nên tôi đúng; bởi vì hôm nay lúc tôi nói chuyện, tôi tưởng mình
nói rất hay, nhưng thực chất trên trời đều biết bạn đang nói gì, dưới đất đều
biết bạn đang lừa dối cái gì; đến cuối cùng, tự bạn cho rằng người ta không biết,
thực chất bạn đang lừa gạt chính mình; bạn không lừa được trời, cũng chẳng lừa
được đất. Đây chính là điều người học Phật phải kỵ nhất: mở miệng ra là tạo
nghiệp, ít nói mới là tốt; cho nên, giới luật của bạn giữ càng nghiêm, bạn sẽ
càng chiêm nghiệm sâu sắc mọi thứ ở nhân gian. Bởi vì bạn biết, hôm nay tôi
không làm hại người khác, tôi sẽ được bình an; hôm nay bạn làm hại người ta, bạn
sẽ nghĩ đến việc người ta chắc chắn sẽ quay lại làm hại bạn, bạn sẽ không được
bình an. Nếu bạn là một người rất sợ bị người khác kiếm chuyện với mình, tốt nhất
bạn đừng bao giờ đi gây chuyện người khác; như thế bạn vĩnh viễn sẽ không để
người khác có cơ hội chơi xấu mình. Hôm nay bạn là người không thích mắng người,
tốt nhất bạn đừng đi mắng người; bạn không thích bị người ta bàn tán, tốt nhất
bạn đừng đi bàn tán về người khác; đó chính là luật nhân quả báo ứng.
Khi bạn giữ một giới luật đến một mức độ nhất định, bạn sẽ
ngộ ra rất nhiều đạo lý. Điều không nên nghĩ mà cứ suy nghĩ lung tung, nghĩ đến
cuối cùng, tâm trạng sẽ ngày càng tồi tệ, cảm xúc càng nghĩ càng không dứt ra
được, con người sẽ càng nghĩ càng đau lòng; bạn nghĩ không thông, những linh
tính sẽ tìm đến. Cho nên phải kiểm soát tốt bản thân, không được để mình bước
vào vòng xoáy của nhân gian, vòng xoáy của hồng trần. Phải giữ gìn thật tốt
Thân - Khẩu - Ý của mình; không được phạm thân nghiệp, không được phạm khẩu
nghiệp, không được phạm ý nghiệp. Có người thân không làm việc xấu, nhưng miệng
lại nói năng lung tung, phạm khẩu nghiệp; có người miệng không tạo nghiệp,
nhưng thân thể ngày ngày làm việc xấu; lại có người thân không làm việc xấu, miệng
cũng không nói xấu người khác, trông có vẻ là một người rất trầm lặng, nhưng
trong đầu lại không ngừng suy tính những điều xấu, phạm ý nghiệp, chẳng hạn như
nghĩ đối phương tốt nhất nên chết đi, tốt nhất nên gặp chuyện gì đó không
hay... Như vậy, bạn đang phạm tội nghiệp không kém thân nghiệp và khẩu nghiệp,
hơn nữa nghiệp còn sâu và nặng hơn. Tại sao? Bởi khi bạn phạm ý nghiệp, chư Bồ
Tát trên trời, quỷ thần dưới đất đều nhìn thấy rõ.
Trong quá trình học Phật phải càng học càng thấy kính sợ. Rất
nhiều vị pháp sư học cảnh giới càng cao, họ càng không dám nói chuyện bừa bãi;
các vị hiện nay càng dám mạnh miệng, chứng tỏ càng không hiểu về luật pháp. Luật
sư có dám nói năng bừa bãi không? Bởi vì họ am hiểu quá nhiều về luật pháp, nên
họ không dám nói bừa. Rất nhiều người chính vì không hiểu pháp luật, nên họ mới
chửi mắng người khác tùy tiện, phát ngôn bừa bãi; đến một ngày bị người ta kiện
ra tòa vì tội vu khống, bắt bồi thường đến khuynh gia bại sản; lúc đó bạn mới cảm
thấy: Hóa ra vì tôi không hiểu, nên tôi mới phạm tội. Không hiểu không có nghĩa
là không phạm tội; học Phật học pháp cũng vậy, nhất định phải giữ gìn khẩu nghiệp.
Các vị là những người học Phật, càng không được phép động não nghĩ xấu, làm sai
trái. Nếu các vị ỷ mình đang nương nhờ Phật mà lại đi vi phạm giới luật của Phật,
các vị chính là tội chồng thêm tội; tương đương với việc người thi hành pháp luật
lại đi phạm pháp.
Hãy suy ngẫm thật kỹ, học Phật không hề đơn giản. Đừng cho rằng
dùng cách của nhân gian để nhìn nhận là có lợi; thực tế bạn sẽ đánh mất phúc phận
và trí tuệ, bạn sẽ đánh mất phúc phận và trí tuệ. Cho nên, những người tự cho rằng
mình có thể xoay chuyển mọi thứ ở nhân gian, lại chính là những người thiếu trí
tuệ nhất; bởi vì họ chỉ có thể lừa người, chứ không thể lừa Bồ Tát và quỷ thần.
Vì không có trí tuệ, họ mới làm ra những chuyện như vậy; cho nên, phúc phận sẽ
dần mất đi. Khi một người thường xuyên nói dối và bị người ta vạch trần, họ sẽ
bị người khác coi thường; người ta sẽ không nhổ nước bọt vào mặt, cũng không
nói thẳng mặt, nhưng trong lòng họ cực kỳ coi thường; như thế người đó sẽ đánh
mất phúc phận, bởi vì người khác không còn muốn kết bạn với họ nữa.
Người học Phật nhất định phải ghi nhớ: phúc phận chính là giữ
giới, trí tuệ chính là giới luật; người muốn có trí tuệ thì phải giữ nghiêm giới
luật của mình.
39. Đắc gia trì, tu vô niệm mới có được chánh tri chánh giác
Người học Phật nhận được sự gia trì là điều rất quan trọng.
Thử nghĩ xem, Sư phụ có gia trì cho những người không chịu tuân thủ giới luật
không? Các vị cứ ngày nào cũng nói dối đi, các vị tưởng Sư phụ cũng giống như
các vị, không có trí tuệ sao? Không biết các vị có biết bốn chữ "Đại trí
nhược ngu" không? Nhược ngu” nghĩa là trông bề ngoài giống như một người rất
ngu ngơ, nhưng trong lòng lại biết rõ mọi chuyện. Các vị tưởng có thể lừa gạt
được Sư phụ sao? Trong lòng Sư phụ có một cuốn sổ ghi rõ mọi chuyện, chỉ là
không muốn nói ra mà thôi. Rất nhiều người đều đã thấm thía điều này; Đoàn
Thanh niên gần đây chẳng phải lại có người vừa có bài học thấm thía rồi sao?
Hãy nghiêm túc sửa đổi khuyết điểm đi; lừa dối Sư phụ chính là lừa dối bản
thân.
Gia trì có hai loại là Bồ Tát gia trì và bản thân tự gia
trì. Bồ Tát gia trì cho bạn, nhưng tự bản thân bạn không gia trì cho chính
mình, thì bạn vẫn không thể nhận được sự gia trì mà Bồ Tát ban cho. Nếu bản
thân bạn có công phu tu hành, cộng thêm sự gia trì của Bồ Tát, thì bạn mới nhận
được sự gia trì thực sự. Giống như một chiếc ô tô bị hết điện bình; người ta nạp
điện cho bạn, nếu bạn không tự khởi động, thì không có tác dụng. Tại sao tự bạn
cũng phải khởi động? Bạn vừa khởi động, người ta vừa gia trì, thế là thành
công; nếu bạn không chịu khởi động, điện của đối phương có nhiều đến đâu cũng
không giúp được bạn. Cho nên, một người tự bản thân không tu, chỉ dựa vào sự
gia trì của Sư phụ, sự gia trì của Bồ Tát; đó chỉ là một lời nói suông. Vì vậy,
sự gia trì của Sư phụ, cộng thêm sự tự gia trì của bản thân mới có thể thành
công; nhưng trước tiên phải có tâm thanh tịnh, phải có trí tuệ, thì mới nhận được
sự gia trì. Các vị đến nói chuyện với Sư phụ, nói dối, nịnh nọt đều không có
tác dụng.
Thanh tịnh là gì? Là rất sạch sẽ, trong đầu không có tạp niệm,
đó gọi là thanh tịnh. Trong đầu có bất kỳ tạp niệm nào, thì không thể thanh tịnh
được. Cho nên, vô tranh mới có thể thanh tịnh; vô tranh chính là không đi tranh
đua đấu đá với bất kỳ ai, chỉ việc ngoan ngoãn tu hành, không đi tranh giành với
người khác; như vậy bạn mới tu tốt được. Nếu hôm nay trong lòng bạn vẫn còn muốn
đấu đá với người này, tranh giành với người kia; thì con người bạn đã đánh mất
Phật tính, ma tính sẽ nhập vào người; bạn sẽ đánh mất ý chí của mình. Bởi vì
khi tranh đấu với người khác, bạn sẽ có tâm sân hận, tâm tham lam và tâm ngu
si; tiếp theo đó là bạn sẽ không có trí tuệ. Thế nên những người hay tranh đấu
đều đỏ mặt tía tai, tà niệm trong lòng cuộn trào đảo điên. Cho nên, không được
đi tranh đấu với người khác, bạn mới có thể nhận được sự gia trì của Bồ Tát.
Ngoài ra, cho dù chúng ta không biết phương pháp tăng trưởng phúc đức, thì ít
nhất bạn cũng phải biết được nguyên nhân khiến phúc đức bị rò rỉ. Phúc khí của
các vị tại sao lại bị rò rỉ? Phúc khí của các vị tại sao lại mất đi? Bởi vì đã
dùng rồi, dùng quá đà rồi. Mỗi người các vị đều cảm thấy mình rất giỏi giang,
các vị cảm thấy thế giới này là do Bồ Tát tạo ra cho các vị; các vị đã quên mất
mình đến nhân gian rốt cuộc là để làm gì. Nếu trong quá trình hoằng pháp, các vị
dùng những thứ của nhân gian quá nhiều; các vị sẽ đánh mất đi những thứ nhiều
hơn thế, đó chính là Phật tính. Các vị đang nhặt hạt vừng mà vứt bỏ quả dưa hấu.
Cho nên, Sư phụ muốn các vị phải biết về sự rò rỉ.
Nguyên nhân khiến phúc đức bị rò rỉ là gì? Chính là không
tuân thủ giới luật. Bồ Tát dạy chúng ta không được bốc phét nói dối; người xuất
gia không nói dối, người học Phật không nói dối. Các vị bốc phét, nói dối, đánh
vọng ngữ; chính là các vị đang làm rò rỉ phúc đức của mình. Phải biết rằng, người
lừa dối người khác kết cục cuối cùng sẽ rất thê thảm, cuối cùng sẽ bị đưa xuống
địa phủ chịu hình phạt. Nếu bạn lừa người ở nhân gian, người ta không biết; sau
khi bạn chết đi, sẽ bị âm luật trừng phạt. Nếu bạn lừa người ở nhân gian, bị
người ta phát hiện, bị người ta bắt được; người ta sẽ lập tức bắt bạn, lập tức
không thèm để ý đến bạn, lập tức tố giác bạn, lập tức kiện bạn; đó có phải là
hiện thế báo không? Nếu bạn lừa người, người khác không biết; sau khi bạn chết
đi, Sư phụ hỏi các vị: quỷ có biết không? Hộ pháp thần có biết không? Quan dưới
địa phủ có biết không? Cho nên, người lừa gạt, lừa đông lừa tây, lừa trên lừa
dưới; tất cả đều là tự lấy đá đập chân mình. Đặc biệt là các cô gái, tuổi còn
trẻ, nếu thường xuyên lừa dối sẽ bị người ta coi thường; nghe có hiểu không? Bị
người ta vạch trần một lần, giá trị của các vị giảm đi bao nhiêu, các vị có biết
không? Hôm nay Sư phụ đã gặp một người Đài Loan có hẹn trước; bà mẹ chồng này kể
với Sư phụ rằng, cô con dâu đó hễ mở miệng là nói dối, không có một câu thật. Các
vị xem, nhân cách của loại người này trong mắt người khác đã bị hạ thấp đến mức
nào rồi?
Phải tuân thủ giới luật, người không giữ giới sẽ phải chịu
khổ. Sư phụ nói với các vị, chúng ta ngày nào cũng ăn cơm, tại sao chúng ta lại
không béo lên được? Nguyên nhân là do cơ thể chúng ta bị rò rỉ, có bệnh. Tại
sao tôi ngày nào cũng ăn ngủ mà không béo lên được? Bởi vì cơ thể bạn không tốt,
dạ dày ruột hấp thu kém, có sự rò rỉ. Vậy tại sao tôi ngày nào cũng làm công đức
mà vẫn tu không tốt? Bởi vì bạn ngày nào cũng mắng người, lừa người, ngày nào
cũng giở trò khôn vặt; bạn bị rò rỉ, bạn tu không thành công. Phải hiểu rằng,
căn bệnh này sẽ không ngừng tiêu hao những thức ăn bạn nạp vào; tương đương với
việc bạn đã làm rất nhiều công đức, nhưng vì bạn rò rỉ: không thực tâm, không
an tâm, lại hay động não nghĩ kế khôn vặt; sẽ khiến công đức của bạn từ từ bị
tiêu hao hết; giống hệt như việc phúc của bạn mãi không tích lũy được. Tại sao
có rất nhiều người ăn nhiều, ngủ nhiều mà vẫn không béo lên được? Bởi vì người
đó bị rò rỉ. Tại sao có vô số người học Phật tinh tấn như vậy, niệm kinh thật
thà như vậy, dập đầu dụng tâm như vậy; nhưng cuối cùng cầu xin Bồ Tát lại không
linh? Bởi vì bạn bị rò rỉ, bởi vì bạn thường xuyên nói dối; bởi vì bạn trước mặt
Bồ Tát thì nói một đằng, trong lòng nghĩ một nẻo, lúc làm người lại biểu hiện một
kiểu khác; vậy chẳng phải bạn đang làm hại chính mình sao?
Sư phụ trong các buổi Pháp hội ở Đài Loan ngày nào cũng nói:
Xin hỏi năm mươi năm sau bạn có còn giống như ngày hôm nay không? Bạn đang ở
đâu? Tất cả những gì bạn đang sở hữu ngày hôm nay đã đi đâu mất rồi? Đừng nói đến
năm mươi năm; chỉ nói đến quyền lực trong tay các vị, tiền bạc trong tay các vị,
công việc, người vợ, người chồng, đứa con của các vị... Chỉ vài năm nữa thôi,
chưa chắc đã là của các vị nữa. Các vị mất đi thì nhiều, nhận lại thì ít; đó
chính là quả báo cho sự rò rỉ của các vị; bởi vì tất cả đều sẽ rò rỉ cạn kiệt.
Giống như một người kiếm được rất nhiều tiền, nhưng mãi vẫn
không thể khá giả lên được. Tại sao? Bởi vì không tích lũy được; suốt ngày chi
trả khoản này, chi trả khoản nọ, suốt ngày tiêu pha chỗ này, tiêu pha chỗ kia.
Cho nên, làm thế nào để số tiền bạn kiếm được không bị thất thoát ra ngoài, điều
đó rất quan trọng; làm thế nào để công đức mình tích lũy không bị rò rỉ là rất
quan trọng. Làm việc gì cũng phải thực tế; mỗi một sự việc đều phải tự hỏi Quán
Thế Âm Bồ Tát: "Quán Thế Âm Bồ Tát, con làm như vậy không phụ lòng Quán Thế
Âm Bồ Tát, con đang dùng lương tâm của mình để làm việc." Những lời này
không phải nói ngoài miệng; phải thưa chuyện với Bồ Tát trong lòng; như vậy bạn
sẽ không bị rò rỉ. Bạn không dám nói, trong lòng bạn sẽ bị rò rỉ.
Tại sao có người tu lâu như vậy mà không có cảm ứng? Trước
tiên, phải kiểm tra xem Thân - Khẩu - Ý của mình đã giữ được sự thanh tịnh hay
chưa; điều này rất quan trọng. Tại sao người ta tu thì linh, bạn tu lại không
linh? Bởi vì Thân - Khẩu - Ý của bạn không sạch sẽ; cơ thể bạn thường xuyên làm
việc xấu, miệng bạn thường xuyên nói dối, mắng người, ý niệm của bạn thường
xuyên nghĩ kế xấu; những điều này sẽ phá hủy công đức của bạn. Cho nên, bạn tu
một thời gian dài, bạn chỉ nhận được một chút danh lợi và cảm giác ở nhân gian;
những cảm giác này sẽ rất nhanh chóng mất đi; cuối cùng bạn nhận được gì? Bạn
không nhận được gì cả. Các vị quá khứ ở trường học chẳng phải từng làm Chủ tịch
Hội Sinh viên sao? Chẳng phải từng hô phong hoán vũ sao? Bây giờ các vị đi hô
phong hoán vũ cái gì nữa? Không còn nữa. Các vị đi theo đuổi loại cảm giác này
sao; người trẻ hiện nay nói rất rõ ràng: "Thứ chúng tôi theo đuổi là một
loại cảm giác." Cảm giác chính là hư vọng, hư vọng tức là trống rỗng. Bạn
đi theo đuổi những thứ trống rỗng, thứ bạn nhận lại chẳng phải cũng là một sự
trống rỗng sao? Sư phụ theo đuổi cái gì? Sư phụ lên bục giảng là để tìm kiếm cảm
giác này sao? Phải theo đuổi sự chân thật ở nhân gian; phải sống sao cho xứng
đáng với Bồ Tát, xứng đáng với tất cả những người ở địa phủ, xứng đáng với những
người đã khuất, xứng đáng với tất cả chúng sinh. Các vị đang ở cảnh giới nào,
tưởng rằng đây là biểu diễn sao? Sư phụ đã nói rồi, đợi khi Sư phụ già đi, thực
sự mong muốn những đệ tử này nghe Sư phụ giảng bài nhiều hơn. Đừng để kiếp này
tu không thành, kiếp sau lại đến; lúc đó sẽ không tìm thấy vị Sư phụ này nữa
đâu. Phải một kiếp tu thành; điều này rất không dễ dàng. Các vị có biết không,
các vị vừa rời xa Sư phụ, các vị lập tức bị tham sân si; một tuần không gặp Sư
phụ, các vị đã tham, sân, si ngay.
Phải hiểu rằng, tại sao tôi phải tu vô niệm, chánh tri chánh
giác. Vô niệm là gì? Là tôi ngay cả ý niệm tốt xấu cũng không còn. Sự việc này
là tốt, hay là xấu; đối với tôi mà nói, tôi hoàn toàn không phân biệt. Có thể
có người cho rằng đây là chuyện tốt; nhưng người khác lại cho rằng đây là chuyện
xấu. Đối với người học Phật chúng ta mà nói, không có gì là tốt hay xấu; chỉ là
một sự việc như vậy, có gì tốt hay xấu? Có người nói kết hôn là chuyện tốt, có
người nói hôn nhân là nấm mồ. Vậy các vị nói cho Sư phụ biết, kết hôn rốt cuộc
là chuyện tốt, hay chuyện xấu? Đây chính là người học Phật phải vô niệm. Vô niệm
chính là không có ý niệm; đối với mọi nhân quả ở nhân gian chỉ coi nó là một hiện
tượng, chứ không coi nó là đúng hay sai; bởi vì đây là một sự báo ứng. Hôm nay
bạn vì người đó mà chịu nhiều đau khổ như vậy, ngày mai người đó vì bạn mà chịu
nhiều đau khổ như vậy; đó chẳng phải là báo ứng sao? Có ý niệm gì là đúng hay
sai?
Sau khi vô niệm con người mới có thể giác ngộ, con người mới
có thể nhận biết chính xác; cho nên gọi là chánh tri chánh giác. Hôm nay người
thất bại trong hôn nhân coi hôn nhân là nấm mồ; nhưng người đó vẫn còn ý niệm.
Có người thành công trong hôn nhân, họ cảm thấy hôn nhân rất hạnh phúc. Thực chất
hai loại này đều không phải là chánh giác chánh tri. Chánh giác chánh tri nên
là: Hôn nhân là một mô hình tồn tại theo trình tự trong xã hội loài người; tôi
không cho rằng nó là tốt, cũng không cho rằng nó là xấu; vì đã có mô hình này,
tôi sẽ duy trì mô hình này. Bạn suy nghĩ như vậy gọi là chánh tri; bạn sẽ nhìn
nhận hôn nhân một cách chính xác; bạn sẽ không coi nó là tốt, cũng sẽ không coi
nó là xấu. Có chánh tri chánh giác mới có thể nhận được nhiều kiến thức Phật lý
ở nhân gian; đó mới gọi là chánh tri chánh giác.
40. Gạt bỏ tà kiến, phá trừ hư vọng
Thân phải thanh tịnh, miệng phải thanh tịnh, ý niệm phải
thanh tịnh; như vậy mới gọi là pháp không. Miệng của các vị có sạch sẽ không? Lời
nói ra có sạch sẽ không? Vẫn còn tưởng rằng đây là điều nên có ở nhân gian. Con
người là phải có một mặt, không thể có hai mặt. Nếu trước mặt người ta thì nói
tiếng người, sau lưng nói lời ma quỷ; đó là hai mặt, đó là nửa người nửa quỷ; vậy
thì bạn đang ở ba đường ác. Nếu một người ở nhà như vậy, ra ngoài cũng sạch sẽ
như vậy; thì người đó mới là người học Phật. Nếu ở nhà cảm thấy không cần phải
đoan trang như vậy; thì bạn đã đi ngược lại triết lý học Phật. Bồ Tát có dạy
các vị làm kẻ hai mặt không? Bồ Tát có dạy các vị ra ngoài thì đường hoàng, về
nhà làm những chuyện trộm cắp, tà dâm không? Các vị tự hỏi Quán Thế Âm Bồ Tát
xem, Bồ Tát có ở nhà các vị không? Tự mình nói ra những lời này, có phù hợp với
triết lý của Phật không? Cảnh giới phải nâng cao. Ra ngoài làm việc giống như một
con người, giống như một vị Bồ Tát; chạy về nhà giống như ma quỷ, giống như súc
sinh; ở những nơi không nhìn thấy Bồ Tát, các vị có thể làm việc xấu sao? Ở những
nơi không thấy cảnh sát, các vị có thể ăn trộm sao? Về lý thuyết chẳng phải là
giống nhau sao?
Tu thân khẩu ý, trước tiên phải bắt đầu từ việc sửa đổi thói
quen. Mỗi người các vị đều có thói quen xấu; tu tâm chính là phải không ngừng sửa
đổi thói quen xấu của mình. Cái miệng của tôi lúc tức giận nói năng không kiềm
chế; thì bạn bắt buộc phải sửa cái miệng của bạn. Miệng của tôi quen nói dối rồi;
bắt buộc phải sửa đổi. Cùng một câu nói, không phải cứ hung dữ mới có thể thuyết
phục được người khác; đôi khi ngôn ngữ nghiêm khắc, nhưng không nhất thiết phải
mắng người; đó mới là người học Phật. Có gia đình trong việc giáo dục con cái,
bố nhìn con một cái, con không dám nhúc nhích; có ông bố ngày nào cũng đánh
con, con vẫn không thèm để ý. Phải hiểu những đạo lý này; phải sửa thói quen, sửa
khuyết điểm, phải thay đổi tập khí của mình. Tôi vốn là người không thích để ý
đến người khác; thì bạn phải biết quan tâm, đáp lại người ta. Tôi là người
không cười được; bạn bắt buộc phải cười; ai muốn nhìn khuôn mặt nhăn nhó, khó
ưa của bạn? Bạn đi ra ngoài, bạn bắt buộc phải nở nụ cười với người khác; bởi
vì bạn là người học Phật.
Phải tu đến mức không thoái chuyển; tức là không còn đường
lui: tôi chỉ có thể tiến lên, không thể lùi lại; tôi chỉ có thể tiến bộ, không
thể tụt hậu. Hôm nay tôi học Phật rồi, ở Quan Âm Đường học tập rất tốt; nhưng về
đến nhà, vợ chồng lại cãi nhau, lại đánh nhau; đây gọi là học Phật sao? Các bạn
trẻ vừa kết hôn, về nhà đánh nhau; ở Quan Âm Đường vợ chồng tương kính như tân;
diễn cho ai xem? Các vị tự lừa mình thôi. Cảm thấy sửa đổi tập tính quá khó; nếu
bạn thoái chuyển, chứng tỏ bạn vẫn chưa thể kiểm soát sự thay đổi để thân khẩu
ý của mình không tạo nghiệp. Nói cách khác, bạn vẫn không kiểm soát được thân, khẩu
và ý niệm của mình để không tạo nghiệp; bạn vẫn sẽ làm việc xấu, bạn vẫn sẽ trở
thành người xấu, bạn có thể sẽ trở thành một người rất ác. Cho nên, tự bản thân
các vị phải cẩn thận gấp bội. Cẩn thận gấp bội chính là phải quản lý tốt bản
thân. Hôm nay lúc miệng tôi nói chuyện, bạn có nghe thấy giọng nói của mình
không? Rất nhiều người lúc nói chuyện ngay cả giọng nói của mình cũng không
nghe thấy, liền bắt đầu tạo nghiệp rồi. Sư phụ nói có đúng không? Rất nhiều người
lúc mắng người, mắng ra những lời thô tục; người ta nói: "Bạn dựa vào cái
gì mà mắng người?" Bạn nói: "Tôi mắng ai?" Tự mình mắng người
còn không biết; bạn đã hình thành thói quen xấu rồi. Mọi người cầm gương tự soi
lại mình đi; phải cẩn thận gấp bội. Từng chữ, từng lời mình nói ra, đều phải lắng
nghe, phải suy nghĩ; hành động này tôi làm ra, có đúng mực không? Thử nghĩ xem,
ý niệm này hôm nay hiện ra, không thể để nó chạy lung tung; bất kỳ suy nghĩ, ý
niệm nào bản thân đều phải kiểm soát.
Người học Phật trong đời sống hàng ngày, đối diện với mọi thứ
của bản thân đều phải kiểm soát tốt. Hôm nay chuẩn bị nói chuyện, trước tiên
hãy nghĩ xem, lời tôi nói ra có đúng không, có nên nói không, có tạo nghiệp
không? Hôm nay tôi chuẩn bị làm một hành động, tôi có phù hợp với giới luật học
Phật của Quán Thế Âm Bồ Tát không? Hôm nay trong đầu tôi muốn nghĩ về một việc,
tôi phải nghĩ xem việc này nên nghĩ hay không nên nghĩ, có phải là điều người học
Phật nên nghĩ không? Cho nên, con người trong quá trình tu hành, có đôi khi vừa
mới nghĩ thông suốt một chút; lập tức lại bị một việc nào đó làm cho phiền não.
Đây là điều Sư phụ nói với các vị; hôm nay thứ Tư bị Sư phụ nói một trận, lập tức
cảm thấy mình phải quyết tâm hối cải, biết lỗi của mình rồi, tôi sau này sẽ
không bao giờ như vậy nữa; trong đầu vừa mới bình tĩnh được một chút, tiếp theo
lại có chuyện phiền não ập đến; đem tất cả những giác ngộ vừa rồi quên sạch.
Chánh kiến của người học Phật rất quan trọng. Chánh kiến là
gì? Là bất kể chuyện gì cũng nghĩ về người khác theo hướng tích cực, hướng tốt
đẹp; đó gọi là chánh kiến. Học chánh kiến chính là xuất thế (vượt khỏi thế tục);
bởi vì bạn coi nhẹ nhân gian, bởi vì bạn biết nhân gian này không phải là nơi ở
lâu dài của chúng ta; bởi vì bạn biết mọi thứ ở nhân gian này đều không giữ được
lâu, không mang theo được, là một giấc mộng, là một ảo giác; cho nên chúng ta
hiểu những đạo lý này, chúng ta phải xuất thế, tu đến cảnh giới có thể rời khỏi
thế giới vẩn đục này. Nhân gian có nhiều phiền não như vậy, nhiều chuyện dơ bẩn
như vậy; cho nên, chỉ cần rời xa những thứ dơ bẩn, tà ác; thì đó là chánh kiến
rồi, để sau này tu thoát khỏi lục đạo luân hồi.
Cái gọi là tà kiến, thực chất chính là pháp thế gian; chỉ cần
bạn ở nhân gian theo đuổi mọi thứ, tất cả đều là tà kiến. Sư phụ nói với các vị
đủ rõ ràng chưa? Bạn ở nhân gian theo đuổi tất cả mọi thứ đều là tà kiến; bởi
vì những thứ này bạn không thể mang theo, cũng không thể giữ lại cho mình, và
đó là ảo giác; chỉ khiến bạn tạo thêm nhiều nghiệp quả, chứ không thể giúp bạn
siêu thoát nhân gian. Các vị có hiểu không?
Cho nên, theo đuổi mọi sự hoàn mỹ, danh lợi ở nhân gian đều
là tà kiến. Chỉ có nghĩ đến việc sau này tôi ra đi, tôi sẽ có được sinh mệnh
vĩnh viễn, cảnh giới không ngừng được nâng cao, tôi muốn đến bên cạnh Quán Thế
Âm Bồ Tát; đó mới là chánh kiến. Lấy ví dụ đơn giản, giống như con cái của bạn
hiện tại, bạn nói tôi muốn nó phải thế này, thế kia; như vậy đều là tà kiến, bởi
vì bạn không biết sau này những đứa con đó sẽ ra sao, bạn vĩnh viễn không thể
kiểm soát được chúng. Nếu mỗi người mẹ, người cha đều có thể kiểm soát tốt con
cái của mình, có lẽ thế giới này cũng không tồi tệ như vậy. Bố mẹ hiện nay có
thể kiểm soát được con cái không?
Người học Phật học đến cảnh giới cao, ngay cả chánh, tà cũng
không cần có, phải gỡ bỏ tất cả; chính là điều Sư phụ vừa nói, không có gì đúng
hay sai. Ở nhân gian này cái gì là đúng, cái gì là sai? Bạn gả cho người đó là
đúng, hay người đó lấy bạn là đúng? Có gì đúng hay sai? Sếp hôm nay sa thải bạn,
là ông ấy đúng hay ông ấy sai? Hôm nay bạn mâu thuẫn với sếp, là ông ấy đúng
hay ông ấy sai? Việc này bạn làm sai, là sai hay là đúng? Nói không chừng vài
chục năm sau lại là đúng. Thế nào gọi là đúng sai? Đúng sai chỉ là một quan niệm
nhận thức của con người về một sự việc nào đó trong đời sống thực tế. Lúc này
tôi cho rằng việc này là đúng, đó chỉ là một quan niệm, là cách nhận thức của
tôi về sự việc ấy, chứ không có nghĩa đó chính là đúng sai thực sự của bản thân
sự việc; mọi người có hiểu không?
Bởi vì con người tu hành trong nhân đạo, bạn bắt buộc phải
thoát khỏi tà tri tà kiến, thoát khỏi mọi hư vọng ở nhân gian; lúc này, bạn ở
nhân gian đã đạt đến cảnh giới của Bồ Tát. Vậy xuất thế pháp bản thân nó là rời
bỏ tà tri này; thử nghĩ xem, khi bạn tu hành ở nhân gian, cảnh giới của bạn có
phải đã ở trong trạng thái không có đúng sai, không có tà chánh rồi không? Bởi
vì ở nhân gian, bạn không đi theo đuổi việc ai đúng ai sai trong mọi chuyện; bạn
có phải là không có tà chánh rồi không? Từ góc độ Phật pháp, tà và chánh đều
không tồn tại; bởi vì bạn hiện tại đã là Bồ Tát, tướng hư vọng đều sẽ rời đi;
làm gì có tà chánh?
Lấy ví dụ đơn giản, các vị đến nhà hàng ăn cơm, ăn xong nên
đi chứ? Bạn nói tôi cứ ở lì trong nhà hàng không đi, tôi cứ ở lì trong nhà hàng
này, tôi còn phải lấy đồ của họ, tôi còn phải ăn bữa tiếp theo của họ; nói xem,
bạn như vậy có phải là tà tri không? Giống như chúng ta ở nhân gian, chúng ta
biết là không giữ được, con người sẽ chết đi, nhà cửa, tiền bạc và sinh mệnh của
chúng ta không mang theo được cái gì; cơ thể chúng ta, con cái chúng ta, mọi thứ
của chúng ta, chúng ta đều không có được; vậy tại sao còn lưu lại trong nhà
hàng của người ta? Tôi cứ muốn lấy ghế của họ, lấy bàn của họ, lấy nồi của họ,
còn phải ăn bữa tối của họ. Nếu khi ở trong nhà hàng đó bạn nghĩ thông suốt:
tôi chắc chắn phải đi, tôi ăn bữa này rồi, còn 7 tiếng nữa mới được ăn bữa sau,
tôi không thể ăn bữa này xong cứ đợi ăn bữa sau mãi được, chắc chắn phải đi nơi
khác; lúc đó, bạn sẽ không tham nhiều thứ trong nhà hàng đó nữa. Đã không đợi
được đến bữa tối, mọi thứ tôi đều không có được, chi bằng buông bỏ, tìm kiếm một
cảnh giới khác. Giống như Sư phụ mở pháp hội, nếu bạn cảm thấy mình đã trả tiền
thuê địa điểm này, tôi nhất quyết phải đợi đến khi nó kết thúc. Người ta nói:
"Lư Đài Trưởng, địa điểm của các vị có thể dùng đến 8 giờ tối." Pháp
hội của Sư phụ 5 giờ đã kết thúc rồi, nhưng vì muốn ở lại đến 8 giờ, cứ ở lì
trong nhà hát không đi; đây chẳng phải là cùng một đạo lý sao? Các vị hiện nay ở
nhân gian có thể sống đến tám mươi tuổi, tôi cứ cố sống lì không đi; cuối cùng
các vị nhận được gì? Là đau khổ, cơ thể không khỏe, phiền não. Bạn ở lại nhân
gian này, ít nhất bạn phải có cống hiến cho nhân loại; phải hiểu đạo lý này,
không vướng bận nhân gian, nhảy ra khỏi lục đạo luân hồi, bạn sống ở nhân gian
như vậy mới có ý nghĩa; tranh danh đoạt lợi chỉ làm hại chính mình.
41. Thể ngộ nhân sinh, Khai ngộ nhân sinh
Sư phụ nói với các vị, khi trong con người trước hết có Phật
tính, Bồ Tát tính, thì đó chính là lúc Phật tính hiển hiện. Nếu ở nhân gian,
các vị hiểu được Phật tính, hiểu được Bồ Tát tính, thì cũng giống như Phật tính
đang hiển hiện. Có ý nghĩa gì? "Tôi rất lương thiện, tôi muốn giúp đỡ người
khác, tôi muốn cứu người," đó chẳng phải là Phật tính đang hiển hiện sao?
Nếu một người đang u mê, dù có nghe rất nhiều kinh điển, tụng
niệm rất nhiều kinh văn, nhưng vẫn không khai ngộ, người đó chắc chắn sẽ phải
trải qua rất nhiều kiếp nạn. "Hôm nay tôi đã học được một chút kinh văn,
tôi đã hiểu ra một chút đạo lý, nhưng sau đó, tự bản thân tôi vẫn không khai ngộ,
vẫn vô cùng chấp trước, gặp chuyện ở nhân gian vẫn nghĩ không thông;" như
vậy các vị sẽ phải trải qua rất nhiều kiếp nạn. Hôm nay các vị đã học Pháp Môn
Tâm Linh, nếu vẫn không khai ngộ, các vị chắc chắn sẽ gặp kiếp nạn. Sau khi trải
qua kiếp nạn, nếm mùi đau khổ, các vị mới lĩnh ngộ được sự mầu nhiệm trong đó,
mới hiểu ra nguyên nhân tại sao; như vậy gọi là "Đốn ngộ". Rất nhiều
người trước khi kết hôn nghe người ta khuyên rằng hôn nhân rất khổ, sau này sẽ
cãi vã, biết đâu còn ly hôn; họ hoàn toàn không tin sẽ có chuyện như vậy. Kết
hôn rồi, đợi đến lúc ly hôn xong, họ mới đốn ngộ: "Ồ, hóa ra hôn nhân thực
sự là như vậy, quá khứ mình yêu cô ấy nhiều như thế, vậy mà cô ấy lại đối xử với
mình thế này." Bỗng chốc hiểu ra, hóa ra nhân gian chỉ là nơi ân oán nghiệp
duyên, là chuyện anh trả nợ tôi, tôi trả nợ anh, món nợ trả mãi không hết. Hôm
nay vừa trả xong một món, món tiếp theo lại đến; hóa ra hôn nhân lại đau khổ đến
thế.
Sự khai ngộ thực sự của người học Phật chính là "Chánh
kiến". Một người thực sự khai ngộ thì phải có chánh kiến, muốn thực sự trở
thành một người tốt, họ nhất định phải thấu hiểu người khác; tôi hiểu người
này, nhìn nhận họ là người tốt, đó là chánh kiến; tôi coi người khác là người xấu,
đó là tà kiến. Coi tất cả những người tốt trên thế giới này đều là người tốt, đều
là người học Phật, đều là con của Bồ Tát, đó gọi là chánh kiến; nhìn nhận rất
nhiều người trên thế giới là kẻ xấu, người lệch lạc, thì bạn đang có tà kiến,
thiên kiến.
Cho nên, bất kể trước tiên nhìn ai, nói chuyện với ai, làm
việc cùng ai; trước tiên phải buông bỏ mọi định kiến cá nhân của bản thân, sau
đó phải rời xa vọng tưởng, tà kiến của mình. Vọng tưởng là gì? Là si tâm vọng
tưởng, là những chuyện không có thật, những điều viển vông mà mình tưởng tượng
ra, gọi là vọng tưởng. "Ôi, giá mà tôi có thể gả cho người này người
kia," tất cả những suy nghĩ đó đều là vọng tưởng. Sau khi có vọng tưởng sẽ
nảy sinh tà kiến, sẽ không kiểm soát được bản thân, thậm chí phát điên; cho
nên, rời xa tà kiến, vọng tưởng, chính là chánh kiến. Một người không có ác niệm,
người đó chính là một người tốt, đúng không? Trong đầu một người không chứa đựng
ác niệm, không coi người khác là kẻ xấu, người đó chẳng phải là một người tốt
sao? Một người cả đời không làm việc ác, người đó chẳng phải là một người tốt
sao? Xa rời tà tri tà kiến, chẳng phải sẽ chuyển hóa thành chánh tri chánh kiến
sao?
Sống ở nhân gian phải thể nghiệm nhân gian, sau đó khai ngộ ở
nhân gian. Bạn đã sống trên thế giới này, trước tiên bạn phải cảm ngộ, thể ngộ
nhân gian. "Ôi, nhân gian khổ quá, tôi đến đây là để tiêu trừ nghiệp chướng,
tôi không thể tạo thêm nghiệp mới nữa, tôi không thể vì những thứ đạt được ở
nhân gian mà tự mãn;" đó đều là hư ảo. Hãy nghĩ lại cảnh tượng các vị lúc
trẻ nhận được phần thưởng, lúc ở trường được thầy cô biểu dương, khi các vị có
được mọi thứ và cảm thấy vô cùng hạnh phúc; hoặc khi các vị lên bốn năm tuổi,
ôm trong tay món đồ chơi tàu hỏa ở nhà và thấy vô cùng sung sướng; những suy
nghĩ của năm tháng đó, bây giờ các vị còn giữ không? Đó gọi là hư ảo, vọng niệm,
tất cả đều không còn nữa. Cho nên con người không thể giữ mãi những vọng niệm
này trong lòng, phải thể ngộ nhân sinh, cuộc đời vốn dĩ rất ngắn ngủi. Tuy bản
thân bạn chưa già, nhưng bạn có thể đi tìm những người lớn tuổi mà hỏi xem, con
người lúc già đi sẽ có cảm giác thế nào? Ăn không nổi, đi không nổi, chỉ cần
nói nhiều một chút là tim thấy khó chịu, mái tóc đen nhánh biến thành bạc phơ,
toàn thân đau nhức; các vị hãy đi thể ngộ nhân sinh đi. Các vị chưa già, nhưng
các vị thử nghĩ xem, các vị có già đi không? Tại sao có những người không biết kính
già yêu trẻ, chính là vì bạn chưa cảm nhận được mình là một người già. Bạn có
thể cảm nhận được nỗi đau của người khác, bạn há chẳng phải là Bồ Tát sao? Bạn
đã cảm nhận được nỗi đau của người ta chưa? Lúc người ta khóc, lúc người ta buồn,
bạn có cảm ngộ được gì không? Sư phụ lúc khám bệnh cho người ta, nhìn thấy những
người toàn thân đau nhức, trong lòng Sư phụ rất xót xa; Sư phụ thường xuyên cảm
nhận được sự khó chịu của người khác giống như chính mình đang chịu đựng cơn
đau; bạn phải có trải nghiệm như vậy bạn mới có thể cứu người. Các vị tưởng
mình là ai, lúc ở cổng đài phát thanh trả lời câu hỏi của người ta mà thái độ
thiếu kiên nhẫn, đó gọi là "công đức hữu lậu" (công đức bị rò rỉ).
Sống ở nhân gian, phải thực sự lĩnh ngộ, thể ngộ nhân gian,
phải khai ngộ ở nhân gian. Nghĩ cho thấu đáo, đời người rất ngắn ngủi, chúng ta
phải trân trọng tình cảm, nhân duyên của nhau; có thể ở bên nhau là điều không
dễ dàng; bất kể là người nhà của bạn, đồng đội của bạn, hay bạn đồng tu, bạn đều
phải biết ơn họ đã trao cho bạn một cơ hội làm công đức quý báu như vậy, trao
cho bạn một mối duyên lành như vậy. Bởi vì cuối cùng chúng ta đều phải rời bỏ
nhân gian, vậy tại sao trong khoảng thời gian ngắn ngủi ở nhân gian, chúng ta
không khai ngộ nhiều hơn một chút, hiểu thêm một vài đạo lý, bớt đi sự tranh
đua đấu đá?
Kiếp này ở nhân gian nhất định phải tu hành, hơn nữa phải tu
pháp xuất thế. Sư phụ đặt ra yêu cầu cho các vị ngày càng cao, phải tu xuất thế;
bởi vì khi bạn biết con người không thể ở lại thế giới này mãi mãi, tôi phải tu
cho kiếp sau, thì cảnh giới của bạn mới không dừng lại ở kiếp này. Cảnh giới của
các Phật hữu thuộc Ban Thư ký Đài Phát thanh Đông Phương thực sự rất cao; sắp xếp
cho các bạn ấy làm việc gì, các bạn ấy cũng toàn tâm toàn ý, không một lời oán
thán; những người trẻ này sau này sẽ không bị thiệt thòi; trong lòng các bạn ấy
sẽ không có sự buồn bực, các bạn ấy sẽ không dùng ý niệm của chính mình để làm
tổn thương bản thân.
Hôm nay Sư phụ giao cho ai phụ trách, bảo ai hiện tại không
phụ trách ban thư ký nữa, Sư phụ chính là muốn bồi dưỡng để các bạn ấy hiểu được:
"Đối với tôi mà nói, tôi không có suy nghĩ gì cả, không tham danh lợi nhân
gian, một lòng một dạ tu tâm; cho nên Sư phụ để tôi lên hay xuống, đối với tôi
đều không làm tổn thương chính mình." Rất nhiều người khi đang ở vị trí
đó, bảo họ xuống một cái, lập tức tự làm tổn thương bản thân. Hôm nay Sư phụ bảo
tất cả đệ tử các vị lùi xuống hết, không cho các vị làm lãnh đạo hay người phụ
trách nữa, để người khác làm; các vị cũng phải vui vẻ, đi theo phía sau để làm
công đức; nếu không tự bản thân các vị sẽ thấy buồn, khi cứ nghĩ mãi "tại
sao, tại sao", nghĩ không thông, thì các vị sẽ tự làm tổn thương mình. Những
thứ ở nhân gian hãy bớt đi một chút. Ngoài ra, những người lớn tuổi cũng phải
chú ý, không chịu nổi người khác nói, không chịu nổi người khác mắng, không chịu
nổi sự phê bình của người khác, đó đều là tu chưa tốt. Sư phụ nói những lời này,
trong số các vị ít nhất có một nửa nên thức tỉnh: đi đố kỵ với người khác, liệu
có thể tu tâm cho tốt được không? Bị người ta nói vài câu, ghim hận trong lòng,
buồn bực trong lòng; cho dù không hận, tự bạn thấy buồn, đó chẳng phải là bạn
đang tự làm tổn thương mình sao?
Con người ở nhân gian không thể hoàn toàn giác ngộ về hạnh
phúc và đau khổ, tức là không thể khai ngộ một cách triệt để. Sư phụ hỏi các vị,
thế nào gọi là hạnh phúc? Hạnh phúc chỉ là một chớp mắt, hạnh phúc chính là
đang ấp ủ sự đau khổ. Có hạnh phúc không? Nếu có thể hạnh phúc mãi mãi, đó mới
gọi là hạnh phúc đích thực. Hôm nay hạnh phúc, ngày mai đau khổ; một giờ trước
vui vẻ, một giờ sau đau khổ, đó gọi là hạnh phúc sao? Người phụ nữ được đưa vào
bệnh viện sinh con, có hạnh phúc không? Người chồng lúc đưa vào, nghĩ mình sắp
làm bố, vui sướng biết bao; người vợ nghĩ mình sắp làm mẹ, sinh con là chuyện
vui, kết quả đứa bé vừa ra đời đã qua đời, đó gọi là hạnh phúc sao? Ở nhân gian
có hạnh phúc không? Phải hiểu rằng, bởi vì hạnh phúc chắc chắn sẽ đi kèm với
đau khổ, đau khổ sau đó sẽ giúp bạn hiểu ra đạo lý ở nhân gian, sẽ mang lại cho
bạn hạnh phúc, nghe có hiểu không? Giống như một người trở thành Tổng thống, có
hạnh phúc không? Hạnh phúc. Sau khi hạ đài, trở thành tội phạm bị nhốt trong
tù, đau khổ không? Những chuyện như vậy còn ít sao, thử nghĩ xem chuyện của ông
Trần nào đó ở Đài Loan có phải như vậy không? Cho nên, người học Phật lúc hạnh
phúc đừng coi đó là hạnh phúc, lúc đau khổ cũng đừng coi đó là đau khổ; bởi vì
chúng đều không tồn tại, đều chỉ là một khái niệm. Thế nào gọi là đau khổ? Đau
khổ cũng là một khái niệm, một lý niệm; hạnh phúc cũng là một khái niệm. Thế
nào gọi là hạnh phúc? Chuyện bạn cho là hạnh phúc, người khác lại nghĩ là đau
khổ; nỗi đau của bạn có đại diện cho hạnh phúc của họ không? Người đàn ông sắp
làm bố có phải là rất hạnh phúc không? Người phụ nữ lúc sinh con có phải rất
đau khổ không? Đây là sự hoán đổi khái niệm. Người học Phật không có đau khổ,
không có hạnh phúc, mọi thứ tùy duyên, cho nên mới có thể "vô niệm".
42. Chánh tri chánh kiến mới có thể thoát khỏi Lục Đạo
Tu hành phải tu pháp xuất thế gian, bạn mới có thể tức thân
thành Phật, tức là lập tức thành Phật. Người tu hành các vị phải nghĩ đến việc,
sau khi qua đời tôi sẽ đi đâu, làm gì? Như thế bạn mới có thể tu thành Phật.
Các vị thử đi hỏi những người không tu tâm tu hành xem, sau khi chết họ sẽ ra
sao? Họ sẽ nói, tôi không quan tâm sau khi chết, tôi phải hưởng thụ hết những
gì ở nhân gian, dùng hết những gì có thể dùng; loại người này có biết tu không?
Họ là những người chịu hiện thế báo. Loại người này có thể thành Phật không? Những
người trẻ tuổi các vị có ai nghĩ đến việc sau này mình sẽ chết đi không? Thử nghĩ
xem, vài chục năm sau, các vị chẳng phải cũng giống như những người đang nằm dưới
nấm mồ sao? Điểm khác biệt duy nhất của các vị với họ có lẽ là bia mộ của các vị
đẹp hơn bia mộ thời trước. Có gì khác nhau đâu? Ở nhân gian có gì để theo đuổi?
Nghĩ đến những điều thuộc cảnh giới cao này, nghĩ đến việc bản thân sau này sẽ
rời bỏ thế gian này, bạn còn muốn xây tổ ở thế gian này nữa không? Bạn còn vì
ngôi nhà lớn, vì chiếc xe đẹp, vì con cái mà liều mạng tranh đấu nữa không? Nếu
một con tằm biết rằng sau khi nhả tơ xong nó sẽ chết đi, nó sẽ không nhả nhiều
tơ như vậy. Con người chúng ta chẳng phải cũng giống con tằm sao, cả đời vì con
cái, vì gia đình mà nhả tơ, nhả mãi; nhả xong rồi, hai tay buông xuôi, con người
chẳng phải sẽ ra đi sao? Những đạo lý này lẽ nào không nên thấu hiểu? Người
không nghĩ đến tương lai, sẽ không nhìn thấu hiện tại; người nhìn thấy tương
lai, mới biết trân trọng hôm nay. Giống như loài kiến xây tổ vậy, bận rộn cả
ngày, khó khăn lắm mới làm được cái tổ nhỏ, sáng hôm sau bị người lao công quét
sạch; con người chúng ta chẳng phải cũng đang sống như vậy sao?
Sư phụ nói với các vị, Sư phụ xây dựng Làng Quan Âm (Quan Âm
Thôn) đều không chấp trước; có thì có, không có thì thôi; đối với Sư phụ mà nói
đó không phải là một gánh nặng, không có gì là vui sướng, cũng chẳng có gì là
đau buồn. Cần gì Quan Âm Đường? Cần gì Làng Quan Âm? Trong tâm có Quan Âm Đường,
trong tâm có Làng Quan Âm; Sư phụ đi đến đâu, mọi người tụ họp ở đó, mượn một địa
điểm, chẳng phải tốt hơn là tự mua một nơi sao? Điều này há chẳng phải giống
như thuê nhà làm kinh doanh sao? Mục đích của Sư phụ là cứu người! Bạn mua mặt
bằng trước rồi mới kinh doanh, thì bạn gần như cạn vốn rồi. Các vị cứ hỏi những
người làm kinh doanh xem, có ai không đi thuê mặt bằng để buôn bán kiếm tiền
trước? Có ai không mượn mặt bằng của người khác để làm ăn trước? Chứ đâu có
chuyện tự mình đi mua mặt bằng trước rồi mới kinh doanh. Có mấy người đủ tiền
mua mặt bằng? Không sao cả, ngay cả điều này cũng phải buông bỏ, ngay cả Làng
Quan Âm cũng không cần bận tâm đến. Nếu có, thì tùy duyên; nếu không có, cũng
chẳng sao. Mục đích cuối cùng của Sư phụ là cứu người, đi đến đâu cũng có hội
trường ngoài trời rộng lớn như thế này, đó chính là thiên đường, bầu trời; dưới
bầu trời này đều là Làng Quan Âm. Các vị phải có tấm lòng rộng mở như vậy; bất
kể Sư phụ đến đâu, mọi người tụ họp lại, đó chẳng phải là một Làng Quan Âm sao?
Ngay cả việc làm công đức cứu người này cũng đừng chấp trước; không chấp trước
vào bất cứ điều gì, bạn sẽ buông bỏ được.
"Chánh kiến danh xuất thế" (Chánh kiến chính là là
xuất thế). Chánh kiến là gì? Một người suy nghĩ đúng đắn thì có nghĩa là đã vượt
ra khỏi thế gian này. Hôm nay tôi ở nhân gian, ngày nào tôi cũng nghĩ cho người
khác, những gì tôi nghĩ đều là những kiến giải đúng đắn, tôi đã rời khỏi thế giới
này rồi. Nếu một người không nghĩ cho bản thân, người đó không còn thuộc về thế
giới này nữa; bởi vì Quán Thế Âm Bồ Tát chưa từng nghĩ cho bản thân, mà luôn
nghĩ cho chúng sinh, cho nên Quán Thế Âm Bồ Tát không nằm trong nhân đạo. Các vị
ngày nào cũng nghĩ cho bản thân, đó là vì chính mình, các vị vẫn đang ở nhân
gian, các vị không thể thoát khỏi lục đạo. Sư phụ yêu thương các vị, đối xử tốt
với các vị như những đứa con; Sư phụ muốn dẫn dắt các vị đi theo con đường chân
chính, phải giáo dục các vị, muốn các vị hiểu ra đạo lý, chứ không phải là dung
túng, bao che cho các vị; nghiêm sư mới xuất cao đồ. Cho nên, rời xa ảo tưởng
và sự chấp trước thế gian chính là chánh kiến; những mong muốn sở hữu mọi thứ
trên đời của các vị gọi là chấp trước. Hôm nay tôi muốn cái này, ngày mai tôi
muốn cái kia, đó gọi là chấp trước. Hôm nay tôi không có được thứ này, tôi liều
mạng giở trò khôn vặt, đó gọi là ảo tưởng. Ảo tưởng và chấp trước chính là
thiên kiến (nhìn nhận phiến diện); có thiên kiến, bạn sẽ không đắc được chánh
kiến.
Sư phụ hy vọng các vị buông bỏ bản ngã, bị người ta ức hiếp,
bị người ta mắng chửi; hãy đến trải nghiệm những cảm giác này, xem bản thân
mình có thể vượt qua được không; điều này sẽ rất có ích cho việc liệu các vị có
đau khổ khi về già qua đời hay không. Nếu các vị bị người ta mắng chửi mà không
hề tức giận; bị người ta phê bình mà không hề nổi nóng; bị người ta hàm oan mà
không hề bận tâm; các vị chính là Bồ Tát. Hôm nay các vị đang ở vị trí này, Sư
phụ kéo các vị xuống, các vị không hề có chút cảm giác nào. Sư phụ từng kể cho
các vị nghe câu chuyện của công ty Mitsubishi Nhật Bản: Ông chủ muốn xem một vị
giám đốc có thể đảm nhận vị trí cao hơn không, trước tiên cố ý sắp xếp vị giám
đốc này ngồi ở một vị trí nhất định; nếu muốn đề bạt, ông ta sẽ bước đến và
nói: "Anh đứng lên, ra phía sau ngồi, nhường vị trí này cho người
khác." Vốn dĩ bạn là giám đốc, trước mặt bao nhiêu người, nếu bạn cảm thấy
mất thể diện, bạn sẽ không thể làm giám đốc cấp cao, chỉ có thể làm giám đốc bộ
phận. Ông chủ cố tình làm bạn bẽ mặt trước đám đông, thực chất là để xem bạn có
hàm dưỡng, có tu dưỡng hay không. Rất nhiều phương pháp Sư phụ dùng để giáo dục
các vị hôm nay đều dựa trên nguyên lý này, không biết các vị có hiểu không? Sư
phụ muốn các vị lúc lên lúc xuống, giống như lò xo vậy, càng ép xuống thấp, sức
bật càng cao; nếu các vị không thể hạ mình xuống, thì các vị giống như chiếc lò
xo đã hỏng, không chịu đựng được thử thách, không làm nên nghiệp lớn, đúng
không? Trên thế giới có bao nhiêu danh nhân, lãnh tụ đều trải qua những thăng
trầm đại khởi đại lạc; đừng tỏ ra không chịu đựng nổi, đừng tự huyễn hoặc mình
là ai.
Tà kiến thì không được có, chánh kiến cũng không được bám chấp;
lúc đó Phật tính mới hiển hiện. Không có tà kiến, đừng cho rằng trên thế giới
này mình luôn đúng; ngay cả ý nghĩ đó cũng đừng bận tâm. "Bạn xem, con người
tôi chưa từng làm hại ai;" bạn đừng bận tâm đến điều đó, vốn dĩ đó là
chánh kiến rất tốt, nhưng bạn đi suy nghĩ về nó, bạn lại sinh ra chấp trước rồi.
Học Phật rất khó, bên trái cũng không được, bên phải cũng không xong; cho nên tại
sao học Phật càng về sau càng lên cao lại càng khó. Các vị cứ hỏi những người
leo núi xem, những người có thể leo đến đỉnh núi, các vị biết họ dựa vào cái gì
không? Sự cân bằng; sự cân bằng trong tâm lý, sự cân bằng của cơ thể và sự cân
bằng trong ý niệm. Sự cân bằng trong ý niệm là "Tôi nhất định sẽ leo lên
được"; sự cân bằng trong tâm lý là nghĩ: "Lần trước người kia leo lên
được như thế, tôi chắc chắn cũng sẽ leo lên được." Về mặt cơ thể, gió tạt
đến, hơi nghiêng người một chút; mưa hắt tới, lấy tay che một chút; đó cũng là
dựa vào sự cân bằng để tiếp tục leo lên. Các vị ngay cả một chút phê bình cũng
không chịu đựng nổi, gặp một chút chuyện là nổi trận lôi đình, lập tức nhảy dựng
lên tranh giành hơn thua vì cái tôi cá nhân, không chịu thừa nhận khuyết điểm của
mình; các vị học Phật cái gì? Kiếp này có muốn thành Phật không? Tuy các vị vẫn
còn hơn mười năm nữa, nhưng các vị sẽ rất nhanh chóng trở thành người già, sẽ rất
nhanh phải nếm trải nỗi đau của tuổi già; rất nhiều người không cần phải đến
khi già yếu mới nếm mùi đau khổ, thực tế là ngay hiện tại, họ đã tự mang đến
cho mình những đau khổ nơi nhân gian.
Người học Phật có một câu nói: "Không nghĩ thiện, không
nghĩ ác". Tôi đã làm rất nhiều việc thiện, tôi cũng không bận tâm đến; tôi
cũng không nghĩ đến việc ác, tốt cũng không có, ác cũng không có. Giống như một
gia đình, nếu hai người muốn cùng nhau sống yên ổn, người đàn ông đừng nghĩ:
"Tôi đã hy sinh cho cái nhà này bao nhiêu, tôi đã hy sinh cho cô bao
nhiêu"; người phụ nữ cũng đừng nghĩ: "Tôi đối xử với anh tốt biết chừng
nào!" Gia đình này sẽ duy trì được sự bình yên. Nếu người đàn ông suốt
ngày nghĩ "Tôi đã kiếm được bao nhiêu tiền cho cái nhà này", người phụ
nữ lại nói "Tôi sinh con cho anh, tôi nuôi con cho anh"; bạn nghĩ xem
gia đình này có thể bình yên không? Cho nên, không nghĩ thiện, không nghĩ ác, đừng
bận tâm, không có thiện ác, không có đúng sai; có gì để mà nghĩ ngợi? Thiện là
chánh kiến, ác là tà kiến; không nghĩ đến thiện, không nghĩ đến ác, thì sẽ
không tồn tại tà và chánh, cảnh giới của bạn sẽ được nâng cao.
Sư phụ hỏi các vị, nếu hai đứa con của các vị cãi nhau, con
trai nói: "Mẹ ơi, em gái đánh con." Con gái nói: "Không có, anh
hai mắng con trước, con chỉ đẩy anh ấy một cái thôi." "Nó không phải
đẩy, nó đánh con." Bạn đi phân xử xem, ai đúng, ai sai, ai chánh, ai tà?
Cuối cùng bạn nói, hai đứa đều ra góc tường đứng phạt cho mẹ; con mắng người là
sai, con đánh người cũng là sai; cả hai đứa đều sai; vậy ai chánh, ai tà? Điều
này giống hệt như triết lý nhân gian và đạo lý làm người; cho nên hy vọng các vị
không nghĩ thiện, không nghĩ ác, Phật tính sẽ hiển hiện.
43. Học đến chân thật chính là vô niệm
Người học Phật tu hành tốt, đến cả những khái niệm "Thiện,
Chân như, Phật tính, Bất tăng bất giảm (không thêm không bớt), Bất sinh bất diệt
(không sinh không diệt)" cũng không được phép nghĩ tới. Có nghĩa là, người
tu hành đến cảnh giới cao về sau sẽ không còn tâm phân biệt. "Cái này là
thiện, cái này là chân như, đây là Phật tính." "Ôi, tâm của tôi không
thêm không bớt"; khi bạn thốt ra câu đó là bạn đang thêm bớt rồi;
"Ôi, con người chúng ta là không sinh không diệt"; trong tâm bạn đã
có sinh rồi lại có diệt. Ngay cả những điều này cũng đừng nghĩ tới, thì làm gì
có sinh với diệt? Sinh ra tôi cũng không biết, ra đi tôi cũng không hay, có gì
để sinh diệt? Sư phụ nói với các vị, học Phật thực sự rất khó, học Phật đến cuối
cùng là một cảnh giới rất cao. Bạn không nghĩ đến điều gì, bạn đã không có
sinh, thì lấy đâu ra diệt? Bạn không nghĩ đến sinh, thì lấy đâu ra diệt? Bạn
không tạo ra cái nhân này, thì lấy đâu ra cái quả? Bạn muốn cãi nhau với người
ta, chính vì bạn đã cãi nhau với họ, bạn mới nhận lại cái quả là họ cãi lại bạn.
Đã không hề nghĩ tới, thì làm gì có ý nghĩ này?
Sư phụ kể cho các vị nghe, rất nhiều người học Phật còn nói:
"Người đó đối xử tệ với tôi, tôi hoàn toàn không nghĩ tới." Câu nói
này chứng tỏ bạn đã nghĩ tới rồi; nếu bạn có bản lĩnh, thực sự không thèm quan
tâm họ đối xử với bạn ra sao, thì lấy đâu ra ý nghĩ đó? "Con người tôi
không bao giờ tính toán so đo với người khác!" Câu nói này vừa thốt ra, bạn
đích thị là kẻ chuyên tính toán so đo. Người không tính toán so đo thì chưa từng
nghĩ tới chuyện đó; người khác vừa nhắc nhở, "Tôi có nghĩ đến chuyện này
bao giờ đâu? Căn bản chưa từng bận tâm, thì làm gì có ý nghĩ đó?"
"Tôi không có ý kiến gì với người đó, nhưng mà..." Xong rồi, có chữ
"nhưng mà" là bạn chắc chắn đang vướng bận chuyện này, bạn có ý kiến
gì với họ vậy? Nếu thực sự làm được mức "Không thèm nghĩ tới", loại
người như bạn tôi căn bản không bận tâm đến, không thèm đoái hoài, đó mới thực
sự gọi là bất sinh bất diệt; hiểu chưa? Những ngôi sao điện ảnh đứng trên sân
khấu gặp người hâm mộ, tiện miệng thốt ra một câu: "Tôi yêu các bạn!"
Đám người hâm mộ phát cuồng, về nhà thề non hẹn biển muốn gả cho anh ta; người
ta chỉ tùy tiện nói một câu, hoàn toàn không để tâm, bạn lại coi đó là thật,
cho nên bạn mới phát điên; bây giờ đã hiểu chưa?
Sư phụ nói với mọi người, trên thế giới có những chuyện nào
là chuyện xấu, chuyện nào là chuyện tốt. Các vị biết đấy, chuyện xấu có thể biến
thành chuyện tốt, chuyện tốt cũng có thể biến thành chuyện xấu. Vậy cái nào là
chuyện tốt, cái nào là chuyện xấu? Vốn dĩ là một chuyện tốt, bạn làm hỏng bét,
vậy đó là chuyện tốt hay chuyện xấu? Cho nên, chuyện xấu biến thành chuyện tốt,
chuyện tốt biến thành chuyện xấu; bạn cho đó là chuyện tốt, sau này biến thành
chuyện xấu; bạn cho đó là chuyện xấu, nó lại biến thành chuyện tốt; thế nào gọi
là xấu, thế nào gọi là tốt? Thế nào gọi là chánh kiến, thế nào gọi là tà kiến?
Tất cả những thứ này phải vứt bỏ hết.
Nếu bạn nghĩ, Tây Phương Cực Lạc thế giới là tốt đẹp, các vị
có biết không, điều này cũng phải buông bỏ. Bởi vì Tây Phương Cực Lạc thế giới
tốt đẹp, tôi muốn lên đó; Một khi bạn nghĩ như vậy, khi ở nhân gian bạn sẽ vô
cùng đau khổ, bạn còn có thể tu tốt tâm mình sao? Bạn sẽ không tập trung tu
hành ở nhân gian nữa; đó chính là lý do vì sao rất nhiều người học Phật đến cuối
cùng lại đi chệch hướng. Vừa cảm thấy Tây Phương Cực Lạc thế giới quá tuyệt vời,
"tôi không muốn sống nữa, tôi phải nhanh chóng đến Tây Phương Cực Lạc thế
giới", rất nhiều người liền tự tử; bạn nói xem có phải là tu lệch lạc rồi
không? Mục đích của họ là tốt, các vị bây giờ đã hiểu chưa? Cho nên, ngay cả
Tây Phương Cực Lạc thế giới chúng ta cũng phải tùy duyên; bởi vì một khi bạn chấp
trước vào một nơi tốt đẹp, bạn sẽ cảm thấy nhân gian quá đau khổ, tôi không muốn
sống nữa. Cho nên ngay cả Tịnh độ cũng đừng nghĩ tới; làm gì có Tịnh độ nào, Tịnh
độ vốn dĩ là do Bồ Tát huyễn hóa ra, Tịnh độ nằm ngay trong tâm bạn; tâm bạn
thanh tịnh, bạn đã sở hữu Tịnh độ rồi. Bạn ở nhân gian đã có được Tịnh độ, bạn
còn sợ lên trời không có Tịnh độ sao?
Bạn đã đủ tư cách đậu đại học, bạn còn sợ không thi đỗ đại học
sao? Phật pháp vô cùng uyên thâm, Sư phụ chỉ sợ các vị nghe không hiểu, phải cố
gắng tu hành, cảnh giới của các vị còn kém xa lắm. Ở nhân gian phải tùy duyên,
mọi thứ đều thuận theo tự nhiên, gặp chuyện gì cũng coi đó là điều tốt, thì bạn
đã đạt đến cảnh giới của Bồ Tát. Bạn phải cảm thấy mọi thứ ở nhân gian đều tốt
đẹp, hiểu chưa? Bởi vì không còn khổ đau, không có tốt xấu, thì lấy đâu ra đau
khổ? Chưa từng cho rằng có chuyện gì là xấu, thì bạn sẽ không thấy khổ. Gặp một
chuyện xui xẻo, hãy nghĩ rằng việc này hoàn toàn không phải xui xẻo, mà là một
bài học cho chúng ta. Hôm nay bị ốm, có vẻ rất khổ, nhưng không khổ; bởi vì hôm
nay bạn không ốm, sau này bạn sẽ mắc bệnh nặng; hôm nay dạ dày bạn không đau,
sau này dạ dày bạn sẽ xảy ra chuyện lớn; hôm nay bạn biết dạ dày mình không tốt,
sau này bạn sẽ chú ý giữ gìn; hôm nay không ly hôn, sau này biết đâu lại xảy ra
án mạng. Đúng không? Mọi việc hãy nhìn nhận theo hướng tích cực, bởi vì ở nhân
gian vốn dĩ là phải tùy duyên, chuyện gì đến thì cứ để nó thuận theo tự nhiên
mà tiếp diễn; bởi vì năm mươi năm sau, chẳng còn ai ở lại đây nữa. Hôm nay mọi
người tốt nghiệp, ai nấy đều đến nơi làm việc làm nhân viên; lúc đó ai cũng muốn
làm Trưởng phòng, mọi người đều đang ganh đua, mưu cầu; đợi đến hai năm sau,
phòng ban này chẳng còn mấy bạn học cũ nữa, vì có người đã thuyên chuyển đi nơi
khác. Nơi này đâu phải là địa bàn của bạn, bạn một mình bám trụ ở đó, ta là Trưởng
phòng, bạn sẽ vĩnh viễn chỉ lãnh đạo những người mới vào, chẳng biết gì cả; bạn
muốn bám trụ như vậy sao? Bạn nghĩ cái địa bàn này là của bạn sao?
Phải hiểu rằng, ở nhân gian gặp bất cứ chuyện gì cũng phải
coi đó là điều tốt; lúc này quan niệm của bạn đã khác biệt, bạn sẽ sống trong
Bát Nhã. Bát Nhã là gì? Là trí tuệ, trong tâm bạn đừng nghĩ ngợi quá nhiều, hãy
tùy duyên, đúng không? Tự nhiên nó sẽ đến, bởi vì bạn có trí tuệ, bạn sẽ nảy
sinh quan niệm này, bạn sẽ có hành động này, bạn sẽ tỏa ra ánh sáng của trí tuệ.
Các vị hiện nay rất nhiều người đã biết đến trí tuệ của Sư phụ, cả thế giới đều
biết đến trí tuệ của Sư phụ, đúng không? Các vị có trí tuệ không? Vì một chút
chuyện cỏn con mà tranh giành, cướp đoạt; vì một chút chuyện nhỏ mà đi nói xấu
người khác; cảnh giới như vậy có thấp kém không? Gặp chuyện một chút là chê bai
cái này không tốt, cái kia không tốt; thấy người ta cảnh giới chưa cao, liền
chê bai người ta sao cảnh giới thấp thế; bạn đi phán xét họ, cảnh giới của bạn
có cao lên được không? Nếu bạn không phán xét họ, cảnh giới của bạn sẽ rất cao;
bạn vừa chê bai người ta không tốt, cảnh giới của bạn liền thấp xuống rồi, nghe
có hiểu không? Cảnh giới của người ta chưa cao, bạn nói rồi, cảnh giới của họ vẫn
không cao; nhưng cảnh giới của bạn lại càng thấp hơn; vậy bạn đi phán xét họ
làm gì?
Các vị là vợ chồng cứ việc đưa nhau ra tòa mà cãi vã đi,
quan tòa sẽ xem các vị như một trò cười. Có một người phụ nữ bêu xấu chồng mình
không thương tiếc, quan tòa nhất định sẽ xử cho người chồng thắng kiện. Hai vợ
chồng ra tòa, chỉ cần một bên mạt sát bên kia thậm tệ, người này chắc chắn là
người chua ngoa, vô lý; đạo lý chắc chắn thuộc về bên kia. Đây là điều một người
bạn làm quan tòa kể cho Sư phụ nghe, trong đó ẩn chứa triết lý của đạo Phật: kẻ
hay nói chuyện thị phi, chính là người gây ra thị phi. Các vị xem, một người
đàn ông ra tòa im lặng không nói gì, nhưng cô vợ lại thao thao bất tuyệt, nghe
có vẻ rất có lý; cuối cùng lúc hội đồng xét xử thảo luận, tất cả đều đồng tình
với người đàn ông im lặng, phán quyết người phụ nữ sai; đạo lý này mà các vị
còn chưa hiểu sao?
Người có thể nói xấu người khác thậm tệ như vậy, người đó
không phải là người tốt. Quán Thế Âm Bồ Tát có nói người khác xấu xa đến mức
như vậy không? Người học Phật các vị nên làm như vậy sao? Các vị đều chạy đến
mách lẻo với Sư phụ ai đó không tốt; hãy bớt bàn tán chuyện thị phi của người
khác đi, hãy nhìn nhận lại khuyết điểm của bản thân nhiều hơn, sau lưng đừng
bàn luận điểm yếu của người khác. Thật đấy, thế giới này không có thị phi (đúng
sai), chỉ có nhân quả. Làm gì có đúng sai, nói cho rõ ràng được không? Sự việc
này hai năm trước là đúng, bây giờ lại sai; sự việc kia hai năm trước là sai,
bây giờ lại đúng; có gì là đúng hay sai?
Chánh niệm, giữ giới; đây là bốn chữ quan trọng nhất Sư phụ
dạy các vị hôm nay. Chánh niệm giữ giới, giữ nghiêm giới luật của chính mình, bạn
nhất định sẽ đắc được chánh niệm; bạn muốn có chánh niệm, bạn bắt buộc phải giữ
giới. Giữ giới là gì? Không được suy nghĩ lung tung, không được nhìn bậy bạ,
không được làm bậy, không được nói bậy. Các vị hiện nay thấy Sư phụ trang
nghiêm đáng kính, đó là vì các vị tôn trọng chính mình; phải biết rằng tôn trọng
người khác chính là tôn trọng bản thân; bạn không coi người ta ra gì, người ta
có coi bạn ra gì không? Một người ngay cả Sư phụ còn không biết tôn trọng, thì
người đó có thể học Phật tốt được không?
44. Nhìn thấu hư không vũ trụ, Sở hữu trí tuệ đức năng
Sư phụ nói với các vị, hư không vũ trụ mà chúng ta không
nhìn thấy chính là một đại năng của trí tuệ; tức là, con người chúng ta không
nhìn thấy được vũ trụ là hư không, cứ cho rằng nó là một thực thể thực sự tồn tại;
còn Bồ Tát thông qua Ứng thân và Báo thân, rồi thông qua Pháp thân, có thể thấu
triệt chân lý của không gian vũ trụ: ngay cả vũ trụ cũng là hư không, vậy con
người bạn ở nhân gian thì đáng là gì? Đôi khi con người cảm thấy mình rất vĩ đại,
Sư phụ khuyên các vị nên ra bờ biển đi dạo một chút, Sư phụ khuyên các vị hãy nằm
trên bãi cát nhìn lên bầu trời; ngẫm lại xem bản thân mình nhỏ bé đến nhường
nào; cho dù bạn chết đi, cũng chỉ như một hạt cát trên trái đất, hay như một
cơn gió thoảng qua, căn bản chẳng có cảm giác gì; cho nên con người không được
tự cao tự đại. Vậy tại sao con người lại đỏ mặt? Tại sao lại cảm thấy bạn mắng
tôi, bạn nói tôi, tôi sống không nổi, tôi cứ nhất quyết phải giữ thể diện; thực
chất chính là vì họ coi cái "Tôi" quá quan trọng.
Sư phụ muốn các vị học Phật đến cuối cùng, phải buông bỏ bản
thân một cách triệt để, chính là phải coi nhẹ bản thân. Hãy ngẫm lại cả cuộc đời
mình, các vị đã làm bao nhiêu chuyện tồi tệ rồi. Nhớ lại những lần bốc phét
trong quá khứ, lúc trẻ nói dối bị người ta bóc trần, có thấy xấu hổ không? Nhớ
lại lúc yêu đương, chưa có gì với nhau mà đã làm chuyện bậy bạ rồi; những chuyện
này các vị hãy nghĩ đến nhiều hơn, các vị sẽ thấy mình thực sự đã làm rất nhiều
việc tệ hại, các vị sẽ thấy mình thực sự không phải là một người tốt. Điều này
không phải bảo các vị tự chà đạp bản thân, mà là muốn các vị hiểu ra một đạo
lý: Tôi phải nương tựa vào chân lý, chính là thứ mà trong thâm tâm tôi thực sự
tin tưởng, đó là tôi đã hiểu được thế giới này là hư không; vì vậy, chúng ta mới
không làm sai. Bởi vì chúng ta sống trong ngũ hành, nên chúng ta không thể
thoát khỏi sự dơ bẩn, chúng ta vẫn chưa lục căn thanh tịnh, cho nên con người
chúng ta vĩnh viễn là dơ bẩn; sau khi suy nghĩ như vậy, mục đích là để mỗi người
các vị đều coi nhẹ bản thân. "Tôi thì đáng giá cái gì? Là tôi tự làm tự chịu,
tôi làm bao nhiêu chuyện sai trái, mà tôi chưa phải gánh chịu nhiều báo ứng đến
thế, đây là Bồ Tát từ bi." Suy nghĩ như vậy, bạn sẽ có tâm sám hối, sẽ có
lòng từ bi, sẽ có sự ăn năn hối hận, sau đó sẽ có tâm biết ơn, và sau cùng mới
sinh ra tâm trí tuệ. Nếu một người tự coi mình quá vĩ đại, người đó vĩnh viễn
không thể sinh ra nhiều ý chí cầu tiến như vậy.
Nhìn thấu sự hư không của vũ trụ, thực chất bạn đã sở hữu
trí tuệ đức năng. Cho nên người có thể nhìn thấu mọi chuyện, người đó sẽ sở hữu
trí tuệ. Ví dụ, mọi người đều tranh giành phần thưởng này, tôi không tranh nữa,
có gì đáng để tranh giành, thứ này vốn dĩ chẳng quan trọng. Hôm nay bạn trúng
thưởng, bạn mang cái nồi cơm điện về nhà vui sướng biết bao; có người trúng một
đống phần thưởng, trong đó có mười cái bát, mười cái đĩa, mười cái cốc, mang về
nhà lúc đầu rất vui vẻ; thực chất là thỏa mãn thói hư vinh của bạn; mang về nhà
những cái cốc, cái đĩa đó căn bản không có tác dụng, bạn lại đặt chúng vào tủ,
bạn sẽ không dùng đến, đúng không? Mong mọi người hiểu rằng, nhất định phải loại
bỏ lòng tham. "Tôi không cần sở hữu, tôi chỉ biết cho đi," thì bạn đã
thành công. Lấy ví dụ đơn giản, nếu một người lúc yêu đương, chỉ muốn thành
công, không muốn bỏ ra; cuối cùng anh ta chắc chắn sẽ thất bại. Nếu chàng trai
này không muốn chiếm hữu cô ấy, chỉ muốn cho đi, đối xử với cô gái này vô cùng
tốt; các vị nói xem, cô gái này có muốn gả cho anh ta không? Cuối cùng anh ta
đã thành công. Sư phụ giảng những Phật lý này cho các vị nghe, là để các vị hiểu
rằng, đạo lý ở nhân gian và đạo lý của Phật hoàn toàn giống nhau. Người biết
buông bỏ bản thân, cứu độ người khác, người đó nhất định sẽ đắc được chân lý Phật
pháp. Tại sao con cái lại đối xử tốt với mẹ? Bởi vì người mẹ một lòng một dạ đối
xử tốt với con; đó chính là đạo lý.
Phải hiểu rằng, muốn tu thành Phật, phải kết hợp ba thân
(Tam thân) này lại với nhau, bạn mới có thể thành Phật. Phải hiểu rằng, tôi là Ứng
thân ở nhân gian, Báo thân của tôi đang trả nghiệp nợ; tôi dùng Ứng thân ở nhân
gian để trả nghiệp cho Báo thân của mình, trả hết những nghiệp chướng trong quá
khứ; cuối cùng tôi ở nhân gian sở hữu được Trí tuệ thân, đó chính là Pháp thân;
vậy chẳng phải bạn đã khai ngộ thành Phật rồi sao? Trong ba thân này, Pháp thân
là quan trọng nhất; bạn phải tu đến mức Pháp thân hiển hiện, đó là lúc trí tuệ
đích thực xuất hiện. Sự hiển hiện của Pháp thân có ý nghĩa gì? Tức là:
"Tôi đã hiểu, tôi đã biết." Ví dụ, cơ thể bạn đang rất đói, đây là
Báo thân của bạn, bởi vì tôi có cơ thể này; nếu bây giờ dạ dày tôi không khỏe,
nhưng tôi vô cùng muốn ăn; thế nhưng Pháp thân của tôi hoàn toàn hiểu rõ, dạ
dày tôi không tốt căn bản không thể ăn, tôi hiện tại đang phải chịu quả báo;
tuy hiện tại tôi rất muốn sở hữu một thứ gì đó, nhưng dạ dày tôi không thể dung
nạp nó, cho nên tôi tạm thời phải buông bỏ. Thử nghĩ xem, như thế có phải là có
trí tuệ không? Rất nhiều người chỉ biết "tôi đói, tôi phải ăn; tôi nghèo,
tôi phải đi lấy", đúng không? "Tôi nghĩ không thông, tôi phải đi đấu
đá; tôi không cam tâm, trong lòng tôi bất mãn," thì bạn sẽ sống mãi trong
sự tranh đấu. Thử nghĩ xem, như thế Pháp thân sẽ rời bỏ bạn, bạn vẫn mắc kẹt
trong Báo thân. Đã hiểu chưa?
Trí tuệ đích thực chính là sự giải thoát đích thực; người muốn
giải thoát là người sở hữu trí tuệ. Hôm nay các vị ở nhà bị ai đó kìm kẹp, ở cơ
quan bị ai đó khống chế, ra xã hội bị ai đó khống chế; thực chất là do các vị
chưa giải thoát. Thử nghĩ xem, tại sao tôi lại bị họ khống chế? Chắc chắn phải
có nguyên nhân từ chính bạn. Bạn không muốn bị họ khống chế; được thôi, bạn có
thể dùng kế "Ve sầu thoát xác". Ý là gì? Nghĩa là, bạn không muốn bị
một sự việc nào đó trói buộc, tốt nhất bạn hãy rời xa sự việc đó. Hôm nay tôi
muốn mua nhà, bạn bắt đầu bị ngôi nhà trói buộc; hôm nay tôi muốn kiếm tiền, bạn
sẽ bị đồng tiền khống chế; hôm nay bạn vì muốn theo đuổi một người, bạn sẽ bị
người đó chi phối; họ cười một cái, bạn cũng đau lòng một phen; họ cười với người
khác, bạn cũng thấy khó chịu; thực chất bạn đã bị họ trói buộc rồi. Bạn bị trói
chặt, giống như mặc một chiếc áo trên người, bạn cởi cũng không ra; hơn nữa đây
là do chính bạn chuốc lấy, rước lấy vào thân. Làm thế nào để giải thoát?
"Hôm nay anh cứ chằm chằm quan sát tôi làm việc, tôi sẽ không làm việc đó
nữa, thế là tôi được giải thoát, anh cứ nhìn thoải mái đi." Nếu ở cơ quan
bạn là người muốn làm Giám đốc, người ta sẽ săm soi bạn; nếu những hành động của
bạn không cho thấy bạn muốn làm Giám đốc, thì người ta sẽ không săm soi bạn nữa,
đúng không? Đạo lý đơn giản như vậy, tại sao phải tự trói buộc mình? Cho dù người
ta có nhìn bạn, bạn hoàn toàn có thể không làm những việc đó, đúng không? Người
ta càng chê cười bạn, bạn lại càng sợ người ta cười; nhưng bạn lại cứ làm, vậy
chẳng phải bạn đang tự chuốc lấy rắc rối sao? Muốn thoát khỏi bể khổ, phải tự
mình giải thoát, phải tự mình xuất ly.
Một cụ bà có điều gì nghĩ không thông, Sư phụ lập tức có thể
giúp cụ giải thoát, đúng không? Nhưng cần cụ phải hợp tác. Cụ bà nói: "Lư
Đài Trưởng, bây giờ tôi chuyện gì cũng nghĩ thông suốt rồi." Câu chốt cuối
cùng: "Tôi chỉ còn một chuyện duy nhất là nghĩ không thông." Vậy là cụ
chưa giải thoát rồi! Cụ đã chuyện gì cũng nghĩ thông suốt rồi, tại sao vẫn còn
một chuyện nghĩ không thông? Nếu chuyện gì cũng nghĩ thông suốt rồi, thì hãy
buông bỏ tất cả, đúng không? Có cũng được, không có cũng được, đều không phải của
mình. Thử nghĩ xem, sống đến 107 tuổi như Thiệu Dật Phu (Shao Yifu) có được mấy
người; bây giờ có còn lại gì đâu, đúng không? Bao nhiêu con cái, còn không? Bao
nhiêu tình cảm, còn không? Bao nhiêu tiền bạc, còn không? Chẳng còn gì cả; còn
biết bao nhiêu ngôi sao truyền hình, ngôi sao điện ảnh, chẳng phải đều do ông ấy
đào tạo sao? Không còn nữa, kết thúc rồi, ra đi rồi; hãy nghĩ cho thoáng, nhìn
cho thấu, giải thoát.
45. Ứng thân, Báo thân, Pháp thân
Phải biết ơn, biết ơn mọi nhân duyên trên thế giới này. Phải
thường xuyên suy nghĩ, chúng ta sống trên đời nhờ có sự giúp đỡ của chúng sinh,
chúng ta mới có thể thành công. Nếu từ nhỏ chúng ta không có sự chăm sóc của
cha mẹ, không có anh chị em, không có thầy cô giáo ở trường, không có mọi thiện
duyên, thiện tri thức giúp đỡ; kiếp này chúng ta không thể thành công được, có
khi lớn lên cũng chẳng nổi. Cho nên, đừng quá bận tâm đến nụ cười hay lời chửi
mắng của người khác. Bởi vì trong lòng chúng ta luôn thường trực sự biết ơn, cảm
kích sự chân thành cống hiến của người khác; người ta cười, bạn cũng cố gắng sống
cho tốt; người ta chửi mắng bạn, bạn hãy nghĩ rằng họ đang thúc đẩy mình, đối với
mình là một "tăng thượng duyên", tức là nguồn động lực giúp mình tiến
bộ.
Người tu hành phải dám gánh vác mọi điều tốt xấu ở nhân
gian; bất kể thế giới này hôm nay tốt hay xấu, chúng ta đều phải dám gánh chịu.
Rất nhiều người không biết ơn người khác; cho nên họ cũng không biết cách chấp
nhận điều tốt và điều xấu. Phải hiểu rằng, điều tốt và điều xấu trên thế giới
này, thực chất chỉ là một cái "duyên". Khi chuyện tốt đẹp đến, duyên
lành đến, rất nhiều người không hiểu; thực chất, họ sẽ rất nhanh phải gánh chịu
ác duyên. Có câu nói "Chuyện tốt không quá ba lần" (Hảo sự bất quá
tam); tức là, khi chuyện tốt đến, thực chất ác duyên của nó cũng bắt đầu từ từ
chín muồi rồi. Kết hôn là chuyện tốt; sau khi kết hôn bắt đầu cãi vã, thực chất
chính là ác duyên bắt đầu từ từ chín muồi. Chuyện tồi tệ đến, thực chất chính
là đang ấp ủ cho sự việc chuyển biến theo hướng tốt đẹp; cho nên, chuyện xấu
chưa hẳn đã là việc tồi tệ. Tại sao rất nhiều người lại đến với con đường học
Phật? Chính là vì họ gặp phải chuyện chẳng lành, gặp ác duyên; họ mới nghĩ đến
việc tìm kiếm một lối thoát để giải quyết những vấn đề trong lòng mình.
Trong tâm phải thường xuyên nghĩ đến Quán Thế Âm Bồ Tát. Sư
phụ bảo các vị nghĩ đến Quán Thế Âm Bồ Tát, không phải bảo các vị nhớ nhung
Quán Thế Âm Bồ Tát, mà là bảo các vị hãy suy ngẫm xem Quán Thế Âm Bồ Tát xử lý
những vấn đề ở nhân gian như thế nào: Quán Thế Âm Bồ Tát dùng sự từ bi để cứu độ.
Con người chúng ta sống trên đời trước tiên phải hiểu thế nào là từ bi; chính
là lòng biết ơn mà Sư phụ vừa nói. Người có lòng từ bi sẽ biết ơn người khác; cứu
độ thực chất chính là buông bỏ "Tiểu ngã" (cái tôi nhỏ bé), thành
toàn cho "Đại ngã" (cái tôi rộng lớn); chính là để tâm mình trở nên rộng
lượng hơn, bao dung hơn, tấm lòng ngày càng rộng mở; như thế bạn mới có thể
gánh vác được mọi điều tốt xấu ở nhân gian. Trong tâm phải thường nghĩ đến Quán
Thế Âm Bồ Tát; như vậy, quá trình tu hành của bạn nhất định sẽ đạt được thành tựu.
Tại sao tu hành lại có thành tựu? Bởi vì trong tâm bạn có Bồ Tát, có Phật, bạn
mới có thể đạt được thành tựu; trở thành một sự thật, đó chính là chữ "Tựu"
(Thành tựu).
Người học Phật phải biết không được chấp trước vào "Hóa
thân". Câu nói này có ý nghĩa gì? Bởi vì mọi hành động của chúng ta ở nhân
gian, thực chất đều do Hóa thân thực hiện. Kết hôn là do Hóa thân của cơ thể bạn
đi kết hôn; tức giận là do Hóa thân tâm hồn của bạn đang tức giận; giúp đỡ người
khác cũng là do Hóa thân của bạn đang giúp người. Tất cả những điều này thực chất
đều là Hóa thân; nhưng tại sao lại bảo các vị đừng chấp trước? Chính là đừng ảo
tưởng rằng "Tôi đang làm việc tốt, tôi đang giúp người, tôi đang cứu độ
chúng sinh, tôi đang tức giận"; thực ra mọi hành động của tôi ở nhân gian
hoàn toàn là do Hóa thân thực hiện. Không chấp trước chính là nghĩ thoáng ra,
buông bỏ được; không chấp trước mới có thể siêu thoát. Khi một người cố chấp
vào một sự việc nào đó, họ rất khó siêu thoát; một người không bám chấp, họ sẽ
giải thoát rất nhanh. Ví dụ, trong gia đình vô cùng bám chấp vào một người nào
đó, không buông bỏ được; vậy là bạn đã chấp trước rồi, bạn sẽ vĩnh viễn không
thể buông bỏ họ. Nếu bạn nghĩ thông suốt: con cái lớn rồi, sớm muộn gì cũng phải
trưởng thành; buông lỏng một chút, sau đó tâm bạn sẽ thanh thản hơn, tin tưởng
người khác nhiều hơn một chút; tâm hồn và tinh thần của bạn sẽ buông bỏ được
nhiều hơn.
Phải hiểu rằng, cơ thể con người trải qua quá trình Thành -
Trụ - Hoại - Không. Hôm nay cơ thể các vị hình thành hình hài một đứa trẻ
(Thành), sống trên thế giới này (Trụ); đến khi lớn tuổi, cơ thể bắt đầu suy yếu
(Hoại); đến cuối cùng trở về không (Không). Người ta nói "Quy không"
chính là chết đi, kết thúc rồi. Cái quá trình "Thành Trụ Hoại Không"
này chính là thông qua việc tu tâm để tu sửa Pháp thân vô hình của các vị. Mọi
người thử nghĩ xem, Pháp thân này của chúng ta có tồn tại không? Có rất nhiều
người ngốc nghếch, từ lúc trẻ đã bắt đầu trang điểm; thử làm một phép tính, thời
gian bạn dùng để trang điểm cả đời đã lãng phí bao nhiêu sinh mệnh của bạn? Mỗi
ngày một tiếng, một năm là 365 tiếng; thử nghĩ xem, bạn quá bám chấp vào cơ thể
này. Khi còn nhỏ chúng ta vì cái thân này mà bám chấp vô cùng, chúng ta còn hy
sinh rất nhiều; cho nên, cơ thể này đã mang lại cho chúng ta vô vàn đau khổ; bởi
vì cái thân xác này cuối cùng sẽ tan biến. Mọi thứ hiện hữu trên cơ thể bạn bây
giờ, sau này đều sẽ biến mất. Nghĩ đến ngài Thiệu Dật Phu, sống thọ đến 107 tuổi;
thử nghĩ xem ông ấy có bao nhiêu tài sản, thế giới điện ảnh ông ấy tạo ra lộng
lẫy nhường nào; bây giờ có thứ gì có thể mang theo được? Cuối cùng cũng quy
không, cơ thể không còn; mọi thứ ông ấy mua sắm cho bản thân đều tan biến; thứ
thành toàn cho ông ấy là Pháp thân, mọi thứ đều kết thúc. Ý nghĩa của điều này
là gì? Chính là các vị đang tu một loại Pháp thân vô hình, không có hình hài; đừng
tưởng cơ thể các vị có hình hài, kết thúc rồi thì sẽ không còn hình hài nữa.
Hình dạng cuối cùng của các vị là gì, các vị có biết không?
Là linh hồn, không có hình dạng, không có hình dáng xác thịt, vô hình vô trạng.
Một người bề ngoài có lương thiện đến mấy, nhưng chỉ cần tâm họ không tốt, lúc
không vui họ lập tức bộc lộ ra; thì biểu hiện bên ngoài cũng trở nên xấu ác, trạng
thái ấy gọi là ác trạng; những hành vi biểu hiện ra cũng trở thành ác hành. Vì
vậy người ta mới nói ác hành ác trạng. Thực chất, ác hành ác trạng chính là sự
biểu hiện của tâm hồn bạn lên thân xác thịt và Pháp thân. Cho nên, tinh thần của
người này nếu đã ác, hình dáng của họ sẽ lập tức trở nên xấu ác.
Sư phụ nói với các vị, ở nhân gian con người có ba cơ thể: Một
là Ứng thân, hai là Báo thân, và ba là Pháp thân. Từ rất lâu Sư phụ đã giảng
bài cho các đệ tử về ba loại thân này. Ứng thân nghĩa là gì? Chính là cơ thể ứng
hóa ở nhân gian, tức là mang dấu ấn của thân xác con người. Báo thân là thân
xác huyễn hóa trong thế giới ảo mộng, còn gọi là Hóa thân. Thứ ba chính là Pháp
thân; thực chất Pháp thân là một loại Trí tuệ thân, Pháp thân có được sau khi
trải qua Báo thân và Ứng thân. Trong ba thân này, trước tiên phải hiểu về Ứng
thân. Chúng ta mang cơ thể này bước vào nhân gian; người ta nói, nhìn thấy người
này lọt vào tầm mắt, tức là hình bóng người đó đã bước vào tầm mắt tôi. Vậy hôm
nay tôi nhìn thấy bạn, các vị ngồi ở đây, gọi là Ứng thân, mọi người nghe có hiểu
không? Có rất nhiều người làm nhiều việc mà không ở trước mặt người khác, giống
như trong mộng ảo, gọi là Huyễn thân. Ví dụ, các vị không ngồi ở đây nghe giảng,
nhưng các vị đang viết thư, gọi điện cho Sư phụ, các vị vẫn đang liên lạc với
Sư phụ; vậy Sư phụ muốn hỏi bạn, đây là thân gì? Đây là Báo thân. Giảng kỹ hơn
cho các vị hiểu: Kiếp này bạn tên là Tiểu Vu, kiếp trước bạn có thể mang họ
Trương, hoặc họ Vương, bạn không hề biết; vậy Báo thân của bạn kiếp này là tiếp
tục chịu quả báo của người tên Tiểu Vương kiếp trước, nhưng lại xuất hiện ở
nhân gian dưới thân phận Tiểu Vu để trả nghiệp. Thực chất, chính là những việc
sai trái bạn làm kiếp này, những nỗi khổ bạn đang chịu, những rắc rối trong hôn
nhân; thử nghĩ xem những thứ đó từ đâu mà có? Có phải là bỗng dưng mà đến
không?
Có câu nói "Không có tình yêu vô cớ, cũng chẳng có hận
thù vô cớ". Bởi vì kiếp trước bạn (Tiểu Vương) có mối quan hệ tồi tệ với một
người nào đó; kiếp này tiếp tục dùng Báo thân của bạn để trả nghiệp, để hóa giải
oan trái kiếp trước của các vị, để nhận lấy quả báo thiện ác từ kiếp trước;
nghe có hiểu không? Ứng thân là thứ nhìn thấy được; Sư phụ gọi các vị, các vị
thưa, có một con người bằng xương bằng thịt như vậy, đó chính là Ứng thân. Báo
thân chính là cơ thể đang gánh chịu quả báo. Vậy, khi đã hiểu rõ sự hư không của
con người, hiểu được chân lý của con người, bạn sẽ sinh ra Pháp thân. Pháp thân
này là gì? Chính là trí tuệ mà các vị sở hữu. Bởi vì các vị đã hiểu ra đạo lý,
hiểu được mục đích và ý nghĩa khi đến với nhân gian; cơ thể cuối cùng mà các vị
có được gọi là Pháp thân. Bồ Tát vì thấu hiểu Ứng thân và Báo thân của con người,
nên Bồ Tát mới có Trí tuệ thân; đó chính là Pháp thân.
Kiếp này nếu bạn thấu hiểu về Ứng thân và Báo thân, tức là bạn
đang sống trong Trí tuệ thân; vậy bạn sẽ vĩnh viễn siêu thoát khỏi hai lớp thân
huyễn hóa, mộng ảo của chính mình. Sư phụ nói cho các vị biết, thực chất hai cơ
thể trước đại diện cho linh hồn và thân xác. Ứng thân là thể xác của bạn, còn
Báo thân là linh hồn chịu quả báo của bạn. Chỉ những người thấu hiểu tường tận
hai loại thân này, mới có thể sở hữu Trí tuệ thân, đó chính là Pháp thân mà
chúng ta nhắc đến. Rất nhiều người đang mắc kẹt trong Báo thân: hôm nay gặp xui
xẻo, ngày mai cãi nhau với người này; họ vĩnh viễn không hiểu được, "Tôi
đang dùng cơ thể này để tiếp tục trả thù họ", thì bạn vĩnh viễn sẽ sống
trong Báo thân. Người này nói: "Tôi chỉ sống vì cái thân xác thịt
này", buông thả dục vọng, ăn uống chơi bời, tìm kiếm cảm giác kích thích;
thì bạn đang sống trong Ứng thân của mình. Nếu bạn nhìn thấu cả Ứng thân và Báo
thân của mình; vì bạn biết "Ứng thân là thể xác tạm mượn trong kiếp nhân
sinh, còn Báo thân là linh hồn sinh ra từ nghiệp báo tôi phải gánh chịu từ kiếp
trước và kiếp này; cho nên tôi biết những việc sai trái trong quá khứ, kiếp này
tôi đã trả xong rồi, không sao cả, tôi sau này sẽ không bao giờ tái phạm nữa;
tôi biết thể xác Ứng thân này rất ngắn ngủi, vài năm nữa sẽ không còn;" vậy
là bạn đã giải quyết xong hai loại thân này. Lúc đó, bạn mới có thể sở hữu Pháp
thân; Pháp thân này chính là một cơ thể có thể "Nhìn thấu - Buông bỏ"
mọi thứ ở nhân gian.
46. Siêu thoát thị giác hư ảo, Tìm kiếm chân tính của ý thức
Phải siêu thoát khỏi những huyễn tướng của chính mình. Huyễn
tướng của bản thân là gì? Chính là những điều không có thật do các vị tự tưởng
tượng ra. Những việc tự tưởng tượng ra nhưng không thể làm được, cũng gọi là
huyễn tướng của bản thân. Có người nằm mơ thấy bốn con số, huyễn tướng của người
đó bắt đầu xuất hiện: "Tôi học Pháp Môn Tâm Linh, Bồ Tát từ bi với tôi, cho
tôi bốn con số của xổ số Mark Six." Bạn đi mua thử xem, bốn con số có thể
trúng độc đắc được không? Nếu Bồ Tát thực sự muốn bạn trúng thưởng, Ngài đã cho
bạn luôn sáu con số rồi, tại sao lại chỉ cho bốn số? Bạn xem có trúng thưởng được
không? Đó là ảo giác của bạn, do tự bạn tưởng tượng ra. Căn bệnh của con người
ngày nay đã ăn sâu vào tận xương tủy, rất nhiều chuyện không có thật cũng tự
mình tưởng tượng ra. Mắt vừa nhìn thấy một chút, lập tức sinh lòng đố kỵ:
"Bạn xem, cô ta lại đang liếc mắt đưa tình với anh kia kìa, anh ta lại thế
này thế nọ rồi; anh ta đối xử tốt với cô ấy một chút, anh ta lại ra sao; anh ta
lại đang âm mưu chuyện gì..." Các vị có thấy mệt không? Liên quan gì đến
các vị? Câu nói "Liên quan gì đến bạn" của Sư phụ nghe có vẻ bình
dân, nhưng thực chất lại vô cùng hữu dụng để các vị giải thoát trong cuộc sống.
Thử nghĩ xem, chuyện hoàn toàn không liên quan đến bạn, bạn đi bận tâm làm gì?
Người ta đang nói chuyện với nhau, đâu có nói đến bạn; nếu người ta không tốt,
người ta tự làm tự chịu, liên quan gì đến bạn? Chẳng liên quan gì cả.
Chúng ta phải siêu thoát khỏi huyễn tướng của chính mình, đừng
nghĩ ngợi lung tung; nghĩ ra rồi tự rước lấy đau buồn, nghĩ ra rồi tự thấy
không vui; lồng giam là do chính bạn tự xây, huyễn tướng cũng là do chính bạn tự
tưởng tượng ra. Đối với người mà các vị không tin tưởng, người mà các vị nghi
ngờ, các vị càng nghĩ về họ thì càng thêm nghi ngờ họ. Đừng nghi ngờ họ nữa thì
các vị sẽ không còn nghi ngờ nữa. Sư phụ nói cho các vị biết, trong giới y học,
các nhà khoa học đã sớm kiểm chứng một quan điểm: khi một người cứ luôn nghi ngờ
rằng một bộ phận nào đó trên cơ thể mình sẽ mọc ra thứ gì đó, chỉ cần cứ liên tục
sờ vào chỗ đó thì rất nhanh chỗ đó sẽ mọc ra thứ gì đó; thực sự là như vậy. Các
vị chắc hẳn đã từng xem tiểu phẩm "Bán Nạng" của Triệu Bản Sơn trong
chương trình Gala Tất niên; ông ta phán đôi chân của người này có vấn đề:
"Anh đi thử xem, anh đi vài bước tôi xem nào, anh không thể đi lại đàng
hoàng được đâu." Đây chính là sức chi phối của tâm lý khiến hệ thần kinh của
bạn bị rối loạn, gây ra áp lực tâm lý dẫn đến những khiếm khuyết rối loạn về mặt
sinh lý, khiến cơ thể bạn không thể thể hiện được sự vận hành bình thường của
các cơ quan. Cho nên, tâm lý con người không được phép xảy ra vấn đề; một khi
tâm lý có vấn đề, bạn sẽ bị những huyễn tướng của chính mình làm cho mê muội.
Sư phụ nói với các vị về "sắc tâm" và "ý thức
tính" của con người. Chữ "sắc" này không phải là cái "sắc"
nam nữ, mà là việc nhìn thấy thế giới đa sắc màu này, tức là thế giới có màu sắc,
sắc tâm và ý thức tính; nói cách khác, những thứ bạn nhìn thấy hôm nay và khả
năng ý thức của bạn có thể thấu hiểu được nó, gọi là ý thức tính. Lấy ví dụ đơn
giản, rất nhiều người nhìn thấy ánh đèn này cảm thấy rất vui vẻ, nhưng có những
người nhìn thấy ánh đèn lại cảm thấy sợ hãi, đó gọi là ý thức tính. Vậy cùng
nhìn thấy thế giới đa sắc màu này, tại sao lại nảy sinh những suy nghĩ và quan
niệm khác nhau? Có người thấy Sư phụ dạy mọi người học Phật rất vui: "Mọi
người đều ngồi ngay ngắn ở đó thật tốt biết bao." Lại có người nói: "Ở
đây chẳng có chút tự do nào, tại sao tôi phải ngồi ngoan ngoãn ở đây?" Đó
là vì ý thức tính không giống nhau.
Cho nên, Sư phụ muốn nói với mọi người, chúng ta phải hiểu rằng
một sắc tâm chính là "lục trần" mà bạn nhìn thấy thông qua "lục
căn". Bởi vì bạn nhìn thấy đủ loại sự vật trong thế giới đa sắc màu này,
nên bạn dùng lục căn, tức là dùng ý thức của thân thể con người mình để nhìn nhận
xã hội này; thứ bạn nhìn thấy không phải là thế giới chân thực, mà là thế giới
đã bị ô nhiễm bởi lục trần dơ bẩn.
Ví dụ, hôm nay bạn dẫn một đứa trẻ vào phòng chơi, nó rất
vui vẻ, nghĩ rằng sao lại có căn phòng lớn đến thế; nhưng nếu một người lớn bước
vào, họ sẽ không thấy căn phòng này lớn; nếu hôm nay tuyển thủ bóng rổ Mục Thiết
Trụ bước vào, anh ấy sẽ cảm thấy sao căn phòng này nhỏ thế, trần nhà sao thấp
thế. Nếu hôm nay có một người bình thường đến đây, họ sẽ thấy những bông hoa
này sao mà đẹp đẽ, sạch sẽ đến vậy; nhưng nếu đó là một bác sĩ, khi nói chuyện
với các vị họ sẽ giữ một khoảng cách nhất định, bởi vì họ làm công tác xét nghiệm,
họ hiểu rằng những lời từ miệng các vị thốt ra, các vị không nhìn thấy được,
nhưng thực chất trong không khí chứa vô vàn vi khuẩn; cho nên, lúc nói chuyện họ
sẽ lấy tay che miệng lại. Tại sao bác sĩ phải đeo khẩu trang? Bây giờ các vị đã
hiểu chưa? Những người khác nhau nhìn thế giới này, họ sẽ có những quan điểm
khác nhau. Cho nên, bạn khăng khăng ép buộc người khác phải chấp nhận quan điểm
của mình; nếu vị bác sĩ đó ép toàn bộ mọi người trên thế giới phải chấp nhận
quan điểm của mình, thì cả thế giới sẽ mắng ông ta là kẻ mắc chứng sạch sẽ thái
quá. Nhưng thực tế là ông ấy đã nhìn thấy bụi bặm, vi khuẩn; còn chúng ta lại
không để tâm đến bụi bặm, vi khuẩn. Rất nhiều người mở hàng ăn bên lề đường,
trong chảo dầu rán bánh, ô tô chạy qua, bụi bặm bám đầy lên bánh, bạn không
nhìn thấy, liệu bác sĩ có dám ăn không? Bây giờ các vị đã hiểu chưa?
Mỗi một người khi nhìn ra thế giới lục trần này, bởi vì họ
dùng con mắt xác thịt để nhìn, nên quan điểm của họ về thế giới sẽ khác nhau.
Cùng tiếp nhận thế giới lục trần, nhưng vì lục căn của bạn — mắt, tai, mũi, miệng
— cộng thêm nền giáo dục bạn nhận được trong quá khứ khác nhau, ý thức của bạn
khác nhau, cho nên thế giới bạn nhìn thấy sẽ khác nhau. Nghe có hiểu không? Những
người lớn tuổi nhìn giới trẻ hiện nay thường thấy chướng mắt; họ nhìn lại những
kiểu tóc thịnh hành thời trước, mặc những bộ quần áo giản dị, họ cảm thấy như vậy
mới là rất đẹp. Tương tự, thanh niên nhìn những người lớn tuổi, làm sao có thể
thấy thuận mắt được? Khoảng cách giữa các thế hệ, lối sống tiếp nhận khác nhau,
cách tư duy khác nhau, cho nên quan niệm sinh ra cũng khác nhau. Nghĩ được như
vậy, con người sẽ biết tùy duyên. Có gì mà không hiểu được? Bởi vì sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp mà bạn tiếp nhận đều không giống nhau. Các vị đi hỏi những
người bán đậu phụ thối xem, có thối không? Nếu thấy thối, họ đã không đi bán.
Những người thích ăn tỏi sống, họ thấy có thơm không? Họ thấy thơm vô cùng; người
Sơn Đông ăn tỏi sống, bẻ một củ lớn nhai trong miệng, cách xa ba dặm còn ngửi
thấy mùi hôi, vậy mà họ vẫn thấy thơm; các vị lý giải những vấn đề này như thế
nào? Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; lục trần khiến tâm bạn bị ô nhiễm, căn bản
không còn biết thế nào là thơm, thế nào là thối nữa; đã hiểu chưa? Đạo lý chính
là như vậy.
Mọi hiện tượng vật chất của chúng ta trong thế giới hữu hình
này, thảy đều là ảo giác trống rỗng; điều này gọi là "thị tượng"
(hình ảnh nhìn thấy). Giống như chúng ta xem tivi vậy, lúc bạn xem, bạn thấy có
hình có khối; khi bạn tắt tivi đi, mọi thứ đều biến mất. Đôi mắt của một người
cũng giống như chiếc tivi, nhìn ngắm thế giới này; đợi đến lúc nhắm mắt đi ngủ,
thế giới này hoàn toàn biến mất. Đợi đến ngày nào đó cạn kiệt năng lượng, nằm
trên giường và vĩnh viễn tắt đi chiếc tivi đó, thế giới này đối với người đó sẽ
vĩnh viễn biến mất. Cho nên, nhìn nhận thế giới như một huyễn tướng, đó chính
là trí tuệ.
Đã nhìn nhận thế giới là thứ giả tạm rồi, bạn còn thực sự muốn
đi tranh đua đấu đá với người khác không? Sư phụ trong quá trình hoằng pháp, có
những người sẽ nói những lời không hay về Sư phụ; Sư phụ làm sao có thể đi
tranh cãi với họ? Góc nhìn của mỗi người đều khác nhau, thông qua thị giác,
thông qua những kiến thức tự học hỏi, những nơi từng tiếp xúc, nguồn gốc xuất
thân; mọi thứ đều khác biệt; làm sao bạn có thể bắt người ta chấp nhận bạn, bạn
chấp nhận người ta được? Tất cả đều là ảo giác; nghĩ như vậy, bạn sẽ không còn
tức giận nữa. Tại sao trẻ nhỏ thường hay tranh cãi với bà của mình? Đứa trẻ khi
mới sinh ra, tay chân vô cùng non nớt; bà tắm cho cháu, vừa chạm tay vào nước
thấy nhiệt độ vừa phải, không nóng; nhưng chân đứa trẻ vừa đưa vào đã bị bỏng đến
khóc thét lên. Bà còn bảo: "Nóng ở đâu chứ? Hoàn toàn không rát tay chút
nào." Thử nghĩ xem, trên tay bà có bao nhiêu vết chai sần, da dày đến thế
nào; bà dùng tay chạm vào nước nóng hoàn toàn không có cảm giác. Da của đứa trẻ
non nớt biết bao, vừa chạm vào nước đã bị bỏng đến phát khóc; bạn nói xem có giống
nhau không? Nền giáo dục tiếp nhận, môi trường sống... thảy đều không giống
nhau. Sư phụ giảng Bạch Thoại Phật Pháp cho mọi người, chính là giảng những điều
này, giảng về Phật lý, về nhân sinh; hy vọng mọi người sẽ tiếp nhận thật tốt.
Phải hiểu rằng, nếu đã không phải là thứ chân thật, thì phải buông bỏ, phải
nhìn thấu.
Cứ tưởng mái tóc của mình là thật, ngày nào cũng chải chuốt
vuốt ve, chải đến cuối cùng rụng sạch trơn. Trên đường có rất nhiều phụ nữ lớn
tuổi, nhìn qua là biết họ từng cắt mí mắt; đến khi có tuổi, mí mắt sụp xuống,
đôi mắt trông rất thiếu tự nhiên; vậy là họ chỉ có được mười mấy, hai mươi năm
thanh xuân trông có vẻ xinh đẹp. Thực chất mắt một mí cũng là một vẻ đẹp tự
nhiên, cũng rất tốt. Cho nên, phải nhìn thấu thế giới này, đừng đi tranh giành,
đừng đi cướp đoạt; có gì đáng để tranh giành chứ? Con người thật ngốc nghếch,
tranh qua đấu lại, nhờ luật sư kiện tụng đến cùng; đợi đến ngày ra tòa nhìn thấy
vợ mình, chồng mình khóc lóc, "Ôi, tôi thật không nên làm vậy"; thật
là thần kinh, những người này đều là đầu óc có vấn đề. Bởi vì họ coi cái thế giới
hư ảo này là thật, nên mới đi tìm kiếm sự chân thực trong một thế giới hư ảo;
giống hệt như việc cố gắng tìm kiếm thế giới thực trong một bộ phim vậy; nghe
có hiểu không?
47. Quản chế Lục căn, Thanh tịnh Lục trần
Sư phụ thấy mỗi người các vị đều đang ghi chép, đều chăm chú
lắng nghe như vậy, hơn nữa còn nghe vào và hiểu được; Sư phụ cảm thấy rất an ủi.
Sư phụ cảm thấy các vị là những đệ tử rất tốt, là những người có khả năng thấu
hiểu Phật lý Phật pháp. Sau này khi Sư phụ giảng pháp cho những người có cảnh
giới tu hành cao hơn, Sư phụ cũng sẽ giảng như vậy, phải làm sao cho sâu sắc mà
dễ hiểu. Trước hết phải giảng một cách đơn giản để người ta hiểu, sau đó mới từ
khía cạnh mà họ đã hiểu được dẫn dắt họ đi vào những Phật lý sâu xa; đợi đến
khi Phật lý có chút khó khăn, khó hiểu; bạn lại phải kéo nó xuống, dùng những lời
lẽ mộc mạc để kể cho họ nghe về triết lý nhân sinh; đây mới đích thực là Bạch
Thoại Phật Pháp. Hôm nay Sư phụ đọc được một email, một người có kiến thức vô
cùng uyên thâm, sau khi đọc Bạch Thoại Phật Pháp, vừa ngẫm nghĩ liền khai ngộ;
anh ấy không muốn xem những thứ khác nữa, anh ấy chỉ muốn đọc Bạch Thoại Phật
Pháp; người ta là người có tu hành đấy.
Chẳng có sự việc gì là vĩnh hằng cả, phải nhìn thấu; hãy coi
nó như một công cụ để sinh tồn ở thế gian. Mọi thứ ở nhân gian, bao gồm cả danh
và lợi, chỉ là công cụ để chúng ta sống trên cõi đời này. Danh là công cụ giúp
tôi tồn tại, lợi cũng là một công cụ, tiền bạc cũng là công cụ để tôi duy trì
cuộc sống; tôi không thể coi tiền bạc là thứ tồn tại vĩnh viễn không biến mất,
như vậy bạn sẽ không sa ngã vì tiền. Rất nhiều người liều mạng tham ô, hủ bại,
trong nhà rất nhiều tiền; bây giờ bị tịch thu hết rồi, những đồng tiền đó đi
đâu mất rồi? Bây giờ còn không? Dùng để làm việc xấu à? Sư phụ đã sớm nói với
các vị rồi, mọi công cụ ở nhân gian: danh, lợi, tài, sắc; mọi thứ đều chỉ là
công cụ để các vị sử dụng trong quãng thời gian tạm sống ở nhân gian. Cho nên,
khi nhìn nhận như vậy, bạn sẽ hiểu được rằng "Nhân vô thập toàn, kim vô
túc xích" (Con người không ai hoàn hảo, vàng không có loại nào thuần khiết
tuyệt đối); nếu bạn thấu hiểu đạo lý này, thì bạn sẽ có thể sống được nhẹ nhàng
hơn trong thế giới này.
Khuyết điểm của con người là coi mọi thứ giả tạm ở nhân gian
thành sự thật. Lúc yêu đương, thề thốt với người mình yêu: "Em yên tâm đi,
dù cho vật đổi sao dời, biển cạn đá mòn, anh cả đời này sẽ không bao giờ rời xa
em." Trẻ em là nạn nhân đầu tiên; khi chúng ta còn là những đứa trẻ, tựa
vào lòng mẹ: "Mẹ ơi, mẹ đừng bao giờ rời xa con nhé." "Con yên
tâm đi, mẹ nhất định sẽ không rời xa con đâu, mẹ mãi mãi yêu con, mẹ sẽ bên con
cả đời." Kết quả là người mẹ lại đoản mệnh ra đi sớm. Cứ tưởng thế giới
này là thật, lấy giả làm thật, trong lòng sẽ trở nên trống rỗng; trống rỗng rồi,
chính là hư không. Cho nên chúng ta đang sống trong một thế giới hư không.
Phải hiểu rằng, chính vì cái thân xác thịt này, chúng ta mới
phải hao tâm tổn trí. Chúng ta có cái thân xác này, chúng ta mới liều mạng chịu
khổ. Thử nghĩ xem, có phải các vị đang chịu khổ vì cái thân xác này không? Đau
răng có phải do thể xác gây ra không? Dạ dày không tốt có phải do thể xác
không? Đầu óc nghĩ không thông, chẳng phải cũng là chuyện của thân xác sao? Cơ
thể các vị đều có bệnh, chẳng phải cái xác thịt này đang chịu khổ sao? Lúc thì
thấy lạnh, lúc lại thấy nóng, có phải đang chịu khổ không? Lát sau không ngủ được,
gan không tốt, thận có vấn đề; Sư phụ nói với các vị, tất cả những thứ này đều
là chịu khổ. Ngày ngày bận rộn vì thể xác, ăn cái này ăn cái kia; dục vọng trỗi
dậy, lúc thì có dục vọng này, lúc lại có dục vọng khác; cuối cùng bận rộn ngược
xuôi, chẳng phải đều là vì cái thân xác thịt này sao? "Tôi phải ngủ trên
chiếc giường nệm êm ái, tôi muốn nhà rộng hơn một chút;" liều mạng kiếm tiền
đến mức đổ bệnh, cuối cùng mua được căn nhà lớn; đó chẳng phải là cả đời bận rộn
vì xác thịt sao? Các vị xem, Sư phụ có một vị đệ tử lớn tuổi đã hơn 80 tuổi, bận
rộn cả đời, bây giờ đang bận cái gì, chẳng có gì cả; nếu bà ấy sớm tu tâm,
không hao tâm tổn trí vì thể xác của mình, có lẽ bây giờ đã tu rất tốt rồi. Lo
cho con trai xong, thì lại đến cháu; bản thân già yếu đến nhường này, tiền bạc
bị con cái tiêu sạch, cuối cùng còn bị con trai đuổi ra khỏi nhà; nếu không nhờ
Pháp Môn Tâm Linh cứu giup, liệu con trai bà ấy cuối cùng có chịu đón bà ấy về
không? Đây đều là những sai lầm trong cách làm người. Chúng ta làm sai rồi,
chúng ta bận rộn từ sáng đến tối, nhưng lại không biết rằng kiếp này đều là giả
tướng, toàn là giả, không có gì là thật.
Từ bây giờ trở đi phải hiểu rằng, phải chuyển hóa Lục căn, Lục
thức thành Lục trí. Lục căn gồm Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý; mắt nhìn thấy,
tai nghe thấy, mũi ngửi thấy, cơ thể cảm nhận, lưỡi nếm được, và còn cả ý niệm.
Phải biết tác dụng của Lục căn; tai dùng để nghe gì? Nghe lời không hay, hay là
nghe lời hay ý đẹp? Phải nghe Phật pháp; mắt phải nhìn Phật pháp, nhìn người tốt,
không nhìn kẻ xấu; ý niệm kiên quyết chỉ nghĩ đến việc tốt, không nghĩ đến chuyện
xấu; như vậy Lục căn chẳng phải đã chuyển hóa thành Lục trí rồi sao? Nếu không,
Lục căn của bạn sẽ xui khiến ý thức của bạn làm chuyện sai trái; cho nên phải
tu thành Đệ Bát Ý Thức (Thức thứ tám). Một khi đã tiến vào Đệ Bát Ý Thức, tức
là A Lại Da Thức, bạn sẽ rất khó để loại bỏ nó. Cho nên, trong quá trình tiếp
xúc với lục trần và sử dụng lục thức, cố gắng đừng sai lầm; khi bạn đi vào A Lại
Da Thức, bạn sẽ không sai lầm.
Lấy một ví dụ đơn giản, các vị lái xe đến Sydney; lúc bắt đầu
khởi hành, các vị đừng đi nhầm đường, các vị cứ tiếp tục đi đúng hướng thì có
thể đến được Sydney. Nếu lúc bắt đầu bạn đã đi sai đường, thì bạn chắc chắn sẽ
rất khó tìm đường đến Sydney. Cho dù bạn có đến được Sydney, thì trong ý thức của
bạn cũng đã bị ô nhiễm; tức là bạn đã đi nhầm rất nhiều đường, tuy cuối cùng
cũng đến đích, nhưng quá trình không hề suôn sẻ, trong ý thức đã không còn sạch
sẽ nữa; không giống như rất nhiều người nói, rất đơn giản, cứ lái thẳng một mạch
là đến Sydney.
Học Phật cũng giống như vậy; học Phật rất đơn giản, hãy làm
một người tốt, không nghĩ đến những chuyện xấu xa, chăm chỉ niệm kinh, tự bản
thân cảm thấy học Phật rất tốt. Có một số người thì học đông học tây, nghe chỗ
này một chút, nghe chỗ kia một chút; nói người này thế này, người kia thế nọ.
Người học hành đàng hoàng, có chạy đến chùa để nói xấu người khác không? Người
học hành đàng hoàng, có chạy đến Đài Đông Phương để chê bai nhà chùa không tốt
không? Chính là phải học hỏi người tốt, làm việc tốt; chưa tu hành đến nơi đến
chốn, họ mới phải đi nói năng bừa bãi khắp nơi. Người học hành đàng hoàng không
bận tâm đến chuyện nhân gian, lại đi chê bai người này tu không tốt, miệng người
kia có vấn đề; vậy là bạn bị thần kinh rồi. Giống hệt như việc bạn đến bệnh viện
tâm thần để tìm một người bình thường; nếu không có bệnh, họ vào đó làm gì? Các
vị đến nhân gian đều là những người có khuyết điểm; các vị đến Quan Âm Đường,
các vị còn đi soi mói khuyết điểm của người khác, kén cá chọn canh; chẳng phải
tự bản thân các vị cũng đang có bệnh sao? Người không có bệnh đã sớm xuất viện
rồi, người có bệnh đương nhiên phải nằm viện; người không có bệnh đã sớm thăng
lên thiên giới, tiến vào Tây Phương Cực Lạc thế giới rồi, người có bệnh toàn bộ
đều ở lại nhân gian.
Các vị thử nghĩ xem con người có khuyết điểm không? Lúc vợ
chồng cãi nhau, bạn nói anh ấy có bệnh, anh ấy nói bạn có bệnh; thực chất cả
hai đều có bệnh. Bởi vì ý thức của con người là nhìn người khác thì rõ, nhìn bản
thân thì mờ mịt. Đạo lý rất đơn giản, cầm tấm gương lên soi là biết ngay; bạn
không cầm gương lên thì vĩnh viễn không biết khuôn mặt mình trông như thế nào,
bởi vì thứ các vị nhìn thấy là người đối diện. Các vị hiện đang ngồi đối diện
nhau, các vị có nhìn thấy chính mình không? Thứ các vị nhìn thấy là Sư phụ; các
vị cứ soi mói khuyết điểm của Sư phụ đi, bây giờ Sư phụ cũng đi soi mói khuyết
điểm của các vị. Các vị phải thường xuyên lấy gương soi lại chính mình, đó gọi
là "Tự giác", tức là tự mình giác ngộ, tự mình nhận biết được bản
thân mình là người tốt hay người xấu, nghe có hiểu không?
Phải tu luyện để đạt được Viên mãn tâm, Đại trí tâm. Viên
mãn tâm là gì? Dù có những việc ở nhân gian không được trọn vẹn, nhưng trong
tâm tôi luôn cảm thấy viên mãn. Ví dụ, hôm nay tôi rất yêu thương cha mẹ, nhưng
tôi phải ra ngoài, như vậy là không thể ở bên chăm sóc cha mẹ, không được trọn
vẹn; nhưng tâm tôi rất viên mãn, tôi ở nhà nấu sẵn cơm nước cho cha mẹ, hoặc
chuẩn bị sẵn mọi đồ đạc cho họ; vừa ra ngoài tôi liền gọi điện cho cha mẹ để họ
không buồn; như thế chẳng phải bạn đã có Viên mãn tâm rồi sao? Bạn không nhất
thiết cứ phải ở bên cạnh cha mẹ. Đôi khi bạn ở bên cạnh, họ lại thấy bạn phiền
phức, đúng không? Giống như những đứa trẻ bây giờ vậy, cha mẹ chạy đến ở bên cạnh:
"Con ơi, bố mẹ đi chơi cùng con nhé?" Nó không thèm chơi với bạn đâu,
nó đã có một "người" ở bên mà nó không thể rời xa — đó chính là chiếc
máy tính; nó không thèm chơi với bạn đâu! Hiểu người khác, thấu hiểu chính
mình, đó gọi là viên mãn. Bạn không thể hiểu người khác, bạn chỉ biết thấu hiểu
chính mình, đó chính là không viên mãn.
Mong mọi người hiểu được đại trí tâm, có được trí tuệ tâm;
chuyện gì tôi cũng có trí tuệ để xử lý, tôi đều hiểu rõ. Hôm nay Sư phụ nói,
"Con đừng đi nhé" — Vâng, con hiểu rồi; hôm nay Sư phụ nói, "Con
đừng ăn, nhường người khác ăn trước" — Con biết rồi, khách ăn trước, đó là
đã hiểu; Sư phụ nhắc nhở, "Con nói chuyện phải cẩn thận nhé, đừng nói lung
tung" — Con biết rồi, con là người hay nói nhiều, hôm nay Sư phụ bảo con đừng
nói, con sẽ không nói.
Phải thấu hiểu trí tuệ tâm, tâm không bị ngoại cảnh xoay
chuyển, không bị môi trường tác động. Hôm nay vui vẻ, liền đắc ý bay bổng, quên
hết mọi thứ, ăn uống vô độ, nói năng bừa bãi. Trí tuệ tâm, chính là không bị
môi trường xoay chuyển. Đôi khi một người bị môi trường tác động: "Mọi người
đều hẹp hòi như vậy, tôi cũng hẹp hòi"; thế là xong, bạn sẽ rất nhanh
chóng rơi vào ma chướng. Càng là lúc người khác làm sai, bạn càng phải kiên định;
càng phải hiểu rõ thế nào là thật, thế nào là giả; bạn mới có thể nhập vào
"Thiền định", giữ được sự tĩnh tâm, không bị người khác làm dao động.
Tất cả mọi người đều đang tham lợi, tôi không tham; mọi người đều đang làm việc
xấu, tôi không làm; mọi người đều đang mắng chửi, tôi không mắng. Ở Úc, tàu hỏa
trễ giờ một tiếng, hai tiếng; không có một ai chửi mắng. Đôi khi nghĩ lại, có
những người thực sự rất tức giận, nhưng người Úc không ai chửi bới cả, mọi người
đều đứng đợi trong im lặng. Bây giờ những người học Phật các vị thấy tàu trễ giờ,
đã biết vừa đợi vừa niệm kinh; lúc đó niệm kinh là phương pháp tốt nhất, đây
cũng là một loại tu dưỡng. Những người thời trước rất ích kỷ, thấy một chiếc xe
đến, mọi người đều xô đẩy chen lấn lên xe, cửa xe không đóng nổi; khó khăn lắm
mới đóng được cửa, cuối cùng lại có một người cố nhảy lên, bám lơ lửng ngoài cửa,
nhất quyết không cho xe chạy: "Các người không cho tôi chen lên, thì tôi
cũng không để ai đi được." Đây là tâm thái gì vậy? Đến cuối cùng, những
người bên trong xe đều phải đứng, có chỗ trống cũng không chịu di chuyển, chiếc
xe cứ treo lơ lửng ở đó; người soát vé tử tế thì liên tục hô lớn: "Mọi người
dồn vào trong một chút đi, xe sắp chạy rồi." Lại có người soát vé uể oải
nói: "Liên quan gì đến tôi." Những chuyến xe cứ thế nối tiếp nhau đứng
ì ra như vậy. Cho nên, sự ích kỷ của con người đã ngấm sâu vào Bát thức điền
(Ruộng thức thứ tám).
48. Có từ bi mới có thể tu dưỡng Bản tính
Đừng chấp trước vào sự tồn tại của mọi vật chất trên thế giới
này. Có thì có, không có thì không, bạn không vui thì nó vẫn có, bạn vui thì nó
vẫn không có.. Sinh ra thì có, chết đi thì không còn, đúng không? Có cái gì để
mà "có", có cái gì để mà "không"? Hôm nay có, ngày mai lại
không. Đôi khi Sư phụ nghĩ lại thấy tiếc cho một số đệ tử; lúc mới bắt đầu học
Phật thì vô cùng nghiêm túc, cuối cùng lại bỏ ngang, không còn học nữa. Không học
nữa thì cũng đành chịu thôi, biết làm thế nào? Có hôm Sư phụ vô tình nhắc đến một
chuyện, một vị thính giả bỗng giật bắn mình; Sư phụ chỉ là thuận miệng nói
thôi. Sư phụ nói, có những đứa trẻ đột nhiên bị xe tông chết, thế là hết, đúng
không? Vị thính giả đó giật thót mình, nội tâm chấn động, bởi vì cô con gái 24
tuổi của cô ấy ở Nhật Bản chính là bị xe tông chết như vậy; cô ấy không thiết sống
nữa, chẳng phải là như vậy sao? Các vị đi tranh giành, cướp đoạt cái gì? Mọi quả
báo ở nhân gian đều như hình với bóng; tâm thái không tranh giành mới là tâm
thái thực sự thấu hiểu thế giới này, mọi người nhất định phải hiểu đạo lý này.
Chúng ta không chấp trước vào sự tồn tại của mọi vật chất
trên thế giới; một khi đã chấp trước, bạn sẽ không thể tự giải thoát. "Hôm
nay tôi nhất định phải làm việc này," bạn liền đâm đầu vào đó; "Tôi
nhất định phải thế này thế kia," bạn sẽ không rút chân ra được. "Tôi
nhất định phải mua một căn biệt thự nhà vườn," thế là xong, cả đời bạn sẽ
hy sinh sinh mệnh của mình vì căn biệt thự đó. "Tôi nhất định phải đẻ con
trai," thực ra sinh con gái cũng rất vui mà, vợ sinh cho một đứa con gái
thật tốt biết bao, con gái như chiếc áo bông nhỏ, rất ấm áp thấu hiểu lòng người.
Vợ sinh con gái thật rồi, thế là xong, không vui, quay ra làm mình làm mẩy với
vợ; các vị nói xem, đây chẳng phải là tự chuốc lấy phiền phức sao? Bạn đừng
dùng từ "nhất định", bạn sẽ thấy vui vẻ; bất cứ chuyện gì bạn nghĩ
"tôi nhất định phải có", là bạn đã chấp trước; một khi chấp trước bạn
sẽ đau khổ, bởi vì trên đời này chẳng có mấy việc thuận theo ý muốn của bạn,
khiến bạn yên tâm đâu; hiểu không?
Tại sao trong bệnh viện lại có rất nhiều người nhà bệnh nhân
đánh bác sĩ? Người nhà đưa bệnh nhân vào viện, "Bác sĩ ơi, bác sĩ nhất định
phải cứu sống ông ấy nhé"; bác sĩ cũng đâu có chắc chắn cứu sống được bệnh
nhân. Bệnh nhân qua đời, người nhà liền kiếm chuyện: "Tôi đã bảo ông nhất
định phải cứu sống ông ấy cơ mà?" "Bốp" một cái, vung nắm đấm
đánh bác sĩ, hậu quả là bị giải lên đồn công an. Cho nên con người không thể
đòi hỏi "nhất định"; mọi việc đều phải nghĩ là "không nhất định".
Không nhất định sẽ thành công, nhưng tôi phải cố gắng hết sức; không nhất định
sẽ làm tốt, nhưng tôi nhất định sẽ nỗ lực. Nỗ lực có thể "nhất định",
nhưng kết quả "nhất định" không bao giờ là tuyệt đối.
Phải hiểu rằng, hôm nay chúng ta yêu thích thứ gì thì sẽ bị
thứ đó trói buộc. Yêu phụ nữ thì bị phụ nữ trói buộc; yêu tiền thì bị tiền trói
buộc; mê vé số thì bị vé số trói buộc; mê mua sắm quần áo, hễ thấy cửa hàng là
lao vào; mê đồ nhiếp ảnh, thấy cửa hàng bán máy ảnh là chạy ngay vào. Có người
mê ăn uống, bất kể là nhà hàng hay khu phố ẩm thực, chỗ nào cũng phải chui vào.
Bởi vì bạn yêu thích thứ gì, bạn sẽ bị thứ đó trói buộc. Thích ngủ, bị giấc ngủ
trói buộc, sắm một chiếc giường thật xịn, ngủ trương thây lên thành một kẻ béo
phì; chẳng phải là do mê ngủ mà ra sao? Nhìn những người béo phì xem, có ai
không phải là do mê ngủ nướng trên giường mà ra?
Người tu hành tuyệt đối không được rơi vào chấp trước đối với
một cảnh giới nào đó. Cảnh giới là gì? Chính là một hoàn cảnh nhất định. Hồi nhỏ
giáo viên nói: "Thứ Bảy tuần đầu tiên của tháng sau, cả lớp đi cắm trại.
Các em có thể mang theo đồ ăn, đồ chơi." Trước đó cả tháng, ngày nào mọi
người cũng háo hức, mong ngóng đến ngày đó. Sắp đến ngày đi cắm trại thì lăn đùng
ra sốt cao, ốm không đi được; bạn nói xem có khó chịu không? Sư phụ dặn các vị,
ngàn vạn lần đừng để bản thân bị trói buộc bởi hoàn cảnh xung quanh; vĩnh viễn
đừng nghĩ rằng "Việc này tôi nhất định phải thế này, thế kia"; như thế
là tự rước họa vào thân.
Rất nhiều vật chất trên thế gian có thể khiến bạn say mê
ngay lập tức, điều này phụ thuộc vào định lực của bạn. Trên thế giới có rất nhiều
thứ dễ dàng khiến con người say mê; con người rất yếu đuối, nhìn thấy cái gì là
thích cái đó, thấy cái gì là muốn cái đó. Lấy ví dụ đơn giản, các vị xem phim
xong, rất nhiều người đâm ra mê mẩn diễn viên điện ảnh, si mê nhân vật nữ
chính, say mê điên cuồng. Hay như ăn một bữa cơm, hôm nay có tám món, bạn thích
món nào nhất? Các vị chắc chắn sẽ chỉ đích danh được món mình thích nhất; thế
là xong, say mê rồi. Một khi say mê là hỏng bét; cho nên đừng say mê, mới có thể
buông bỏ. Nếu si mê chồng mình, si mê vợ mình quá mức, chắc chắn sẽ rước họa.
Phải tu luyện được định lực của chính mình; không si mê bất
cứ thứ gì, không bám chấp bất cứ thứ gì, chuyện gì cũng thấy bình thường; phải
học cách buông bỏ, có gì to tát đâu, khổ ải nào mà chưa từng nếm trải, đúng
không? Thử nghĩ xem, người càng nổi tiếng, càng bị người ta chửi mắng nhiều; đó
là chuyện rất bình thường. Bạn không nổi tiếng, ai thèm chửi mắng bạn? Có người
nổi tiếng nào mà không bị người ta chửi rủa? Một ngọn cỏ nhỏ bé lẫn trong bụi cỏ,
chẳng ai thèm ngó ngàng đến bạn; chỉ cần bạn mọc cao hơn người khác một chút;
thứ nhất, gió dễ quật ngã bạn; thứ hai, mưa dễ hắt vào bạn; thứ ba, mưa đá
giáng xuống, bạn là kẻ đầu tiên chịu đòn. Những ngọn cỏ nhỏ đều nấp ở dưới; nếu
bạn là kẻ thích chơi trội, bạn sẽ bị nhắm đánh; một con lợn béo mập, thì sẽ bị
đem đi làm thịt, đưa vào nhà hàng; chẳng phải đạo lý là vậy sao?
Người học Phật phải thấu hiểu một đạo lý: Định lực chính là
dùng bản tính để làm chủ nội tâm. Thế nào gọi là định lực? Tôi có định lực thì
chắc chắn phải có bản tính dẫn dắt làm chủ. Làm chủ cái gì? Bởi vì tôi thấu hiểu
lương tâm, bởi vì tôi biết thứ này không nên lấy, tôi mới có định lực. Bởi vì
tôi biết việc này không thuộc về mình, tôi có định lực rồi. Bởi vì tôi thấu hiểu
sự từ bi, nhường người khác lấy trước, cho nên tôi có định lực, tôi không tranh
lấy. Đây là món tôi thích ăn nhất, tôi có định lực, bởi vì tôi biết mình bị tiểu
đường không thể ăn. Miếng bánh ngon như vậy, không ăn, có định lực chứ? Sự tự
chủ của bạn đã xuất hiện rồi đó. Mọi người đều hùa nhau đi chèn ép một người;
các vị xem ở Ấn Độ, một gã đàn ông định giở trò đồi bại với một cô gái, kết quả
cô ấy vừa la lên, lại thu hút thêm sáu gã đàn ông nữa hùa vào hãm hiếp tập thể;
thử nghĩ xem, đây là tâm thái gì? Mọi người thử nghĩ xem, nếu cô gái đó là em
gái của bạn, trong lòng bạn sẽ nghĩ sao? Nếu cô ấy là vợ bạn thì sao? Các vị cứ
suy nghĩ như vậy, nhân tính mới xuất hiện, lương tâm của bản tính mới trỗi dậy;
bạn mới không đi làm chuyện bạo ngược đó, bạn mới có được định lực.
Một người muốn hiểu đạo lý, thì phải nghe giảng đạo lý nhiều
hơn; một người muốn nghĩ thông suốt thì phải thường xuyên ở bên những người hiểu
đạo lý; một người muốn khai ngộ thì phải thường xuyên tiếp xúc với lời Phật, lời
Bồ Tát, nếu không, bạn sẽ vĩnh viễn không bao giờ khai ngộ. Cho nên, Sư phụ nói
với các vị, sau khi biết quá nhiều về mọi thứ ở thế gian, chính những điều đó lại
trở thành cái duyên khiến bản thân tạo ra đau khổ. Mọi thứ bạn biết trên thế giới
này, đều là do chính bạn tạo duyên. Duyên phận này chẳng phải do chính bạn tạo
ra sao? Bạn tưởng mình đã biết, cuối cùng lại rước lấy đau khổ, người đó chẳng
phải cũng chính là bạn sao? Nhiều người thấy người khác gánh đồ rất nhẹ nhàng
nên tưởng mình cũng làm được, nhìn người ta liền phán: "Việc này anh làm
được, tôi cũng làm được." Bạn thử xem? Bạn thấy người có sức khỏe bê vác đồ
đạc rất dễ dàng, bạn đứng ngoài nhìn thấy dễ ợt: "Để tôi thử bê xem
sao." Vừa khom lưng bê một cái, ôi thôi, lưng đã đau rồi; thử nghĩ xem, đạo
lý chẳng phải là vậy sao? Bạn có làm nổi không? Đau khổ là duyên phận của riêng
bạn, hạnh phúc cũng là duyên phận của riêng bạn; thiện duyên, ác duyên tạo nên
duyên phận, chính là những cái duyên mà bản thân bạn phải tự gánh chịu. Sư phụ
giảng như vậy đã đủ rõ ràng chưa?
Phải hiểu rằng, tiền tài, danh vọng và lợi lộc mà chúng ta sở
hữu; lúc thì có, chốc lát lại biến mất; đơn giản vậy thôi. Nghĩ lại hồi nhỏ
trong lớp, ai cũng từng làm cán sự lớp; hồi nhỏ Sư phụ ở trong lớp thấy giáo
viên bước vào, liền hô to: "Cả lớp đứng!" Giáo viên nói: "Chào
các em! Mời ngồi." Lúc đó Sư phụ được hô mỗi một câu như vậy, cứ tưởng
mình oai phong lắm, đúng không? Bây giờ cái cảm giác đó đi đâu mất rồi? Trôi
qua rồi, không còn nữa. Mong mọi người hiểu được một đạo lý, danh lợi trên thế
giới này chốc lát có, chốc lát không, không phải là vĩnh hằng, chỉ có thể nhìn
thấu mà buông bỏ. Các vị trước đây từng làm việc ở nhiều vị trí khác nhau trong
nhiều năm; bây giờ còn giữ không? Trong số các đệ tử của Sư phụ có người từng
làm Y tá trưởng quản lý hai ba trăm người; bây giờ còn làm Y tá trưởng gì nữa?
Không còn nữa. Tiền tiêu hết, là không còn; về hưu rồi danh tiếng cũng bay mất;
lợi lộc hết, cũng chấm dứt; thứ gì mất đi, là kết thúc; tại sao cứ phải cố chấp
níu giữ? Thường xuyên sống trong quá khứ chỉ mang lại đau khổ, rất khó mang lại
hạnh phúc; hạnh phúc phải dựa vào việc bản thân không ngừng kiến tạo. Đặc biệt,
đừng tạo dựng hạnh phúc về mặt thể xác, mà hãy tạo dựng hạnh phúc về mặt tinh
thần; nghĩ cho thoáng, nhìn cho thấu, buông bỏ được, không còn vướng bận; đó mới
chính là hạnh phúc.
49. Tu hành ở nhân gian, Thứ sở hữu là Tuệ mạng
Phải hiểu thế nào là nhập thiền; chính là tâm không bị ngoại
cảnh làm dao động. Chuyên tâm niệm Phật; niệm Phật trước tiên phải thành Phật
trong ý niệm. Đừng nghĩ rằng thân và tâm của mình có thể nhanh chóng thành Phật;
điều quan trọng nhất là tâm phải thành Phật trước; tâm thành Phật rồi, thể xác
của bạn mới có thể thành Phật. Bởi vì tâm dẫn dắt hành vi của bạn. Nếu tâm bạn
không giống Bồ Tát, thì hành vi của bạn vĩnh viễn cũng không thể đạt đến cảnh
giới của Bồ Tát. Trong tâm bạn không muốn cãi nhau với chồng, thì hành động của
bạn mới không đi cãi nhau với chồng; vì vậy, bạn sẽ không bị thái độ lúc về nhà
của chồng làm ảnh hưởng, bạn sẽ không cãi nhau với anh ấy.
Sư phụ đã mang Phật pháp giảng giải tận nhà các vị rồi; nếu
các vị vẫn không nghe hiểu, Sư phụ cũng đành hết cách. Giống như Sư phụ từng
nói, thời kỳ mạt pháp đã đưa Bồ Tát đến tận nhà mỗi người; bởi vì các vị đi làm
rất bận rộn, về đến nhà lại không có thời gian lên chùa, nên đã thỉnh bàn thờ
Phật về tận nhà; vậy mà các vị vẫn không chịu lạy, còn lười đến mức nước cũng
không buồn thay; các vị có thấy hổ thẹn với Bồ Tát không? Bồ Tát đến tận nhà chăm
sóc các vị, các vị còn không chịu chăm chỉ niệm kinh.
Cho nên, trước hết thành Phật trong ý niệm mới là điều quan
trọng nhất; mọi sự tu hành ở nhân gian, bao gồm cả phát nguyện, niệm kinh,
phóng sinh; đều là để Phật tính hiển lộ trong tâm các vị. Làm thế nào để có thể
thành Phật trong ý niệm trước? Phát nguyện, có phải xuất phát từ tâm không? Niệm
kinh, có phải từ tâm không? Phóng sinh, chính là từ tâm đã chuyển hóa thành
hành động; bởi vì tâm bạn khởi sinh lòng từ bi, hành vi của bạn mới đi phóng
sinh, cứu độ chúng sinh. Mọi người phải hiểu những đạo lý này.
Sư phụ còn muốn giảng cho các vị về quá trình từ lúc vô minh
cho đến lão tử. Để lần sau Sư phụ sẽ giảng tiếp, thời gian lên lớp hôm nay lại
vượt quá rồi. Kinh điển trong Phật pháp, Sư phụ nói cho các vị biết, cả đời
cũng giảng không hết; các vị cứ yên tâm, không có ngày nào Sư phụ có thể giảng
hết được; cho nên các vị chỉ cần còn sống, đi theo Sư phụ chăm chỉ tu hành, cả
đời các vị sẽ được nghe những Phật pháp uyên thâm nhất, tuyệt vời nhất. Rất nhiều
pháp sư ngày nào cũng đọc blog và Bạch Thoại Phật Pháp của Sư phụ, sau đó dùng
những điều này để giảng pháp, giảng rất hay, Sư phụ rất vui. Làng Quan Âm của
Sư phụ sau này sẽ có rất nhiều pháp sư ở trong đó giảng pháp; lúc Sư phụ vắng mặt,
họ có thể giảng pháp; đợi khi Sư phụ đến giảng, mọi người lại cùng nhau chăm chỉ
học tập.
Các vị đều phải chăm chỉ lắng nghe, chăm chỉ chia sẻ; lúc
các vị đi độ nhân (cứu độ người khác), các vị chính là pháp sư, giúp người khác
hiểu ra đạo lý nhân gian; các vị đều là những người có tu hành, lời nói ra giống
như ngọn đèn soi sáng tâm hồn người khác. Sư phụ giảng như vậy đã đủ rõ ràng
chưa? Bản thân bạn thắp lên một ngọn đuốc, chỉ có thể soi sáng một đoạn đường
ngắn phía trước; rất nhanh sau đó ngọn đuốc sẽ tắt, phía trước mặt bạn sẽ chìm
trong bóng tối. Nếu bạn truyền ngọn đuốc này cho tất cả những người xung quanh,
thắp sáng cho tất cả mọi người; cho dù ngọn đuốc của bạn có tắt đi, ánh sáng từ
những người xung quanh vẫn sẽ soi rọi con đường tương lai của bạn. Bạn có thể
mượn ánh lửa từ người khác để thắp lại ngọn đuốc của mình, tiếp tục tự soi sáng
bản thân; đây chính là ánh sáng Phật pháp vĩnh viễn không tắt. Nếu bạn chỉ khư
khư ôm lấy ngọn đuốc của riêng mình, không muốn truyền Phật pháp cho người
khác; cho dù bạn ở nhà niệm kinh cũng rất tốt, nhưng không hiểu Phật lý, không
đi độ nhân; khi gặp vấn đề bạn sẽ rất nhanh chóng rơi vào bế tắc, không hiểu ra
vấn đề, ngọn đuốc của bạn sẽ nhanh chóng cháy rụi; Phật pháp đối với bạn có thể
coi như kết thúc. Đó chính là lý do vì sao phải đi độ nhân.
Trong quá trình độ nhân có thể tự độ chính mình, trong quá
trình độ nhân có thể tu dưỡng bản thân, trong quá trình độ nhân có thể hiểu được
thế nào là từ bi, thế nào là chúng sinh, thế nào là Phật; bởi vì khi bạn đi độ
nhân, Hộ pháp thần sẽ bảo vệ bạn; lúc này bạn sẽ từ từ nhận ra: Mình không hề
cô đơn. Đó chính là lý do tại sao rất nhiều người khi đi độ nhân lại càng nói
càng lưu loát; có những người vốn dĩ ăn nói lắp bắp không rõ ràng. Sư phụ kể
cho các vị nghe, có một người bình thường nói chuyện hơi lắp bắp, nhưng lúc đi
độ nhân, anh ấy không hề nói lắp; mọi người thử nghĩ xem tại sao lại như vậy?
Đây chính là sự gia trì của Bồ Tát, thật đấy. Có một cụ bà, chân tay không cử động
được; lúc cụ đi độ nhân qua điện thoại, cụ vừa khóc vừa nói; đầu dây bên kia vô
cùng cảm động, liền nói với cụ: "Bà Trương ơi, bà đừng khóc nữa, cháu nhất
định sẽ nghe lời bà, cháu sẽ bắt đầu niệm kinh. Tuy cháu chưa hoàn toàn hiểu hết,
nhưng từ tình cảm của bà, cháu biết Pháp Môn Tâm Linh chắc chắn là một Pháp môn
rất tốt." Sư phụ chỉ có thể kể đến đây thôi; Sư phụ nói với các vị, Pháp
Môn Tâm Linh thực sự rất tuyệt vời.
Người học Phật chân chính sẽ không nỡ vứt bỏ những thứ về mặt
tinh thần mà họ đạt được; còn những thứ đạt được ở nhân gian đều là vật chất. Nếu
cứ bám víu không chịu buông, họ sẽ nhanh chóng đánh mất sự thỏa mãn về mặt tinh
thần. Chỉ khi đạt được sự thỏa mãn về tinh thần, mới có thể buông bỏ sự theo đuổi
vật chất; cho nên chúng ta không được chạy theo vật chất. Bồ Tát dạy rằng, những
thứ mưu cầu ở nhân gian càng nhiều, những thứ bạn nhận được trên thiên giới sẽ
càng ít; những thứ mưu cầu ở nhân gian càng ít, những thứ bạn nhận được trên
thiên giới sẽ càng nhiều. Sư phụ hy vọng các vị tự biết lo liệu cho tốt. Mỗi
người đều có một sinh mệnh; và sinh mệnh này phụ thuộc vào cách bạn sống, phụ
thuộc vào cách bạn kéo dài nó. Đừng tưởng rằng kết thúc ở nhân gian là sinh mệnh
này cũng chấm dứt; sinh mệnh là vĩnh hằng, còn thể xác chỉ là tạm bợ. Cho nên, người
theo đuổi những thứ chỉ có thể sở hữu tạm thời, cuộc đời của họ mãi chỉ là một
sinh mệnh ngắn ngủi; còn người theo đuổi sinh mệnh vĩnh hằng, đó thuộc về phạm
trù tinh thần, người đó sẽ sống mãi trong lòng chúng ta.
Hôm nay là Tết Lạp Bát, cũng là ngày Đức Phật thành đạo. Tại
sao trên toàn thế giới có năm, sáu trăm triệu người học Phật đều đang ngưỡng kính
Đức Phật? Phật Đà đã đi rồi sao? Ngài không hề đi, Ngài đang ở trên thiên giới,
Ngài sống mãi mãi. Tại sao có những người chưa chết, nhưng họ đã sống như một
cái xác không hồn? Vậy làm thế nào để tinh thần của mình tồn tại mãi mãi trên
thế giới này; đó mới thực sự là tinh hoa của Phật giáo mà chúng ta thực sự đáng
để tìm hiểu.
Sư phụ ngày nào cũng nhắc nhở các vị, phải hoằng dương tinh
hoa của Phật giáo. Tinh hoa là gì? Tinh hoa của Phật giáo chính là nhìn thấu,
buông bỏ, không chấp trước, rũ bỏ Tham - Sân - Si; tất cả những điều này đều là
tinh hoa của Phật giáo. Các vị tưởng Sư phụ chỉ giảng bấy nhiêu đó là hết tinh
hoa rồi sao? Tinh hoa là thứ giảng không bao giờ cạn; hiểu đạo lý chính là
"Minh tâm", thấy được ánh sáng, biết được tương lai của mình gọi là
"Kiến tính" (Thấy rõ bản tính). Cho nên, tự bản thân hiểu đạo lý,
nhìn thấy tương lai, nhìn thấy ánh sáng; đó chính là "Minh tâm kiến
tính".
Nếu Sư phụ giảng những lời này trong một pháp hội hàng ngàn
người, chắc chắn những tràng pháo tay sẽ vang lên như sấm dậy; nhưng Sư phụ dường
như đã nghe thấy những tràng pháo tay sấm sét đó rồi, bởi vì đó chính là tâm.
Sư phụ căn bản không cần các vị vỗ tay, Sư phụ vẫn có thể nghe thấy những tràng
pháo tay đó. Bởi vì khi một người có thể cảm nhận được trái tim của người khác,
thực chất đối phương chắc chắn cũng cảm nhận được trái tim của bạn. Lời bài hát
đã viết rồi, con người làm sao lại không có sự cảm ứng với nhau? Người ta có tiếp
nhận ý kiến của bạn hay không, ai mà không biết? Những người ngồi bên dưới
không muốn nghiêm túc lắng nghe, Sư phụ lẽ nào lại không biết?
Hãy nỗ lực theo đuổi sự giải thoát về mặt tinh thần, chứ
không phải sự sở hữu về mặt vật chất. Sự sở hữu vật chất cuối cùng cũng sẽ mất
đi; còn sự giải thoát tinh thần là vô thủy vô chung (không có điểm bắt đầu,
không có điểm kết thúc), không sinh không diệt, vô hữu vô vô (không có, cũng
không phải là không có), tựa có tựa không; đây chính là tinh hoa của Phật pháp.
Hy vọng các vị nhất định phải hiểu đạo lý; chúng ta không thể để những kiến thức
đã học trong quá khứ trói buộc, tự trói chặt chính mình; chúng ta không thể để
sự ích kỷ từ thuở ấu thơ tiếp tục trói buộc tư duy, trói buộc cơ thể của mình.
Cho nên, những người tham lam hưởng thụ rất khó tu Phật
thành tựu; những người biết chịu khổ mới có thể tu Phật thành tựu. Đó chính là
lý do tại sao trong chùa lại yêu cầu mọi người phải chịu khổ; sáng sớm thức dậy
không được ngủ nướng, chuông sớm mõ chiều, quét nhà, lau sàn, niệm kinh, lạy Phật;
họ muốn bạn cảm nhận được cuộc sống này rất khổ ải, bạn mới khao khát đi tìm một
thế giới tinh thần không còn đau khổ. Nếu ở nhân gian, ngày nào bạn cũng sống rất
hưởng thụ, rất phóng khoáng, cảm thấy rất thỏa mãn; bạn sẽ vĩnh viễn không bao
giờ có ý niệm theo đuổi những điều tốt đẹp hơn về tinh thần, vượt ra ngoài vật
chất mà bạn chưa có được; mọi người nghe có hiểu không? Giống hệt như hồi chúng
ta còn đi học vậy; trong ngôi làng này tất cả mọi người đều chỉ tốt nghiệp tiểu
học; anh ta cảm thấy rất mãn nguyện rồi, tốt nghiệp tiểu học, biết đọc vài con
chữ là đủ rồi; anh ta vĩnh viễn sẽ không hiểu rằng mình cần phải học đại học.
Chỉ khi cho anh ta thấy, anh học hành quá ít, chữ này anh không biết, chữ kia
anh cũng không hay, ngay cả một bài văn anh cũng không viết nổi; lúc đó anh ta
mới nhận ra: Tôi phải học lên trung học, tôi phải học đại học, tôi mới có thể
viết văn cho bà con trong làng. Cảnh giới chính là lý niệm này; hãy chăm chỉ học
Phật, chăm chỉ tu hành.
Sư phụ là người yêu thương các vị nhất, nhưng các vị lại có
những khiếm khuyết; khiếm khuyết trong tâm hồn, khiếm khuyết về thân thể, khiếm
khuyết về tinh thần; hoặc có chút bất mãn, không vừa ý với Sư phụ của mình. Tất
cả những điều này Sư phụ đều phải bao dung; bởi vì Sư phụ yêu thương các vị như
một người cha. Các vị đừng suy nghĩ quá nhiều, Sư phụ vĩnh viễn sẽ không trách
móc các vị, không hận các vị; bởi vì Sư phụ giống như một người cha, hy vọng
các vị thực sự sẽ học tập thật tốt. Sư phụ dù có phải giảng đến khản cả giọng,
dù có phải hy sinh nhiều hơn nữa, Sư phụ cũng cam tâm tình nguyện. Sư phụ không
chỉ muốn giảng cho các vị nghe, Sư phụ còn muốn giảng cho tất cả Phật hữu trên
toàn thế giới nghe; Sư phụ muốn ngày càng có nhiều người trên thế giới niệm
kinh, giúp họ thoát khỏi những nỗi khổ niềm đau, thoát khỏi mọi phiền não. Sư
phụ hy vọng các vị là những đệ tử ngoan của Sư phụ, là những người con ngoan của
Sư phụ; thì phải biết cùng Sư phụ đi giúp đỡ người khác, cứu độ chúng sinh. Cho
nên, trở thành đệ tử của Sư phụ, không phải chỉ đi theo Sư phụ mà tu hành như vậy;
mà là phải hỗ trợ Sư phụ đi hoằng dương Phật pháp.
Hãy ghi nhớ nhé, mọi người đều đã thấy rồi, dịp Lễ Lạp Bát của
Đức Phật lần này, Báo điện tử nhân dân (People's Daily Online), Nhân dân nhật báo
(People's Daily), Hãng thông tấn trung ương Trung Quốc (China News Service)...
đều đăng tải rất nhiều nội dung về Lễ Lạp Bát. Hy vọng mọi người hãy nỗ lực hoằng
dương Phật pháp, kế thừa tinh hoa của Phật giáo; để bản thân có thể đứng vững
trong một thế giới bùn lầy nước đọng này với cảnh giới "gần bùn mà chẳng
hôi tanh mùi bùn"; tìm ra một chân lý đích thực chốn nhân gian; làm cho
mình tốt lên, làm cho người khác tốt lên; đó là cách nói bình dân. Còn dùng thuật
ngữ Phật giáo để diễn đạt, đó chính là: tự mình độ mình cho tốt, sau đó đi độ
người khác; Tự độ độ nhân; đây là lời khuyên chân thành Sư phụ dành cho các vị.
Hy vọng mọi người tự biết quý trọng cơ hội, chăm chỉ tu hành.
II. Những nhận thức, cảm ngộ, cảm ứng mầu nhiệm chân thực và sự hồi đáp sau
khi chân tâm tu học theo sự dẫn dắt của Lư Đài Trưởng, tụng kinh theo Pháp Môn
Tâm Linh của Quán Thế Âm Bồ Tát.
Do giới hạn về khuôn khổ, ở đây chỉ liệt kê một vài bài viết
của các thính giả và cư dân mạng về những nhận thức, cảm ngộ, cảm ứng mầu nhiệm
chân thực và sự hồi đáp sau khi tu học theo sự dẫn dắt của Lư Đài Trưởng, tụng
kinh theo Pháp Môn Tâm Linh của Quán Thế Âm Bồ Tát. Nếu muốn tìm hiểu thêm nội
dung, vui lòng truy cập blog của Lư Quân Hoành Đài trưởng.
Địa chỉ blog của Lư Quân Hoành Đài trưởng:
http://lujunhong2or.com
1. Pháp Môn Tâm Linh đã cứu sống tôi và con trai tôi
Con xin thành tâm tri ân Nam mô Đại từ Đại bi Cứu khổ Cứu nạn
Quảng đại Linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát!
Con xin tri ân người Thầy vô duyên đại từ, đồng thể đại bi
Lư Quân Hoành! Tri ân tất cả các sư huynh trong Pháp Môn Tâm Linh!
Xin chào tất cả các vị đồng tu! Tôi tên là Chiêm Á Bình, hiện
đang sống tại Thiên Tân. Hôm nay tôi xin viết ra những cảm nhận chân thực của
mình trong quá trình tu học Pháp Môn Tâm Linh để chia sẻ cùng các sư huynh, hy
vọng chúng ta có thể thực sự cảm nhận được sự chở che, bảo bọc từ bi của người
Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi. Hy vọng thông qua câu chuyện của chính bản
thân tôi, có thể giúp cho nhiều chúng sinh Bồ Tát được phá mê khai ngộ, giúp
cho những sư huynh vẫn còn đang chần chừ ngoài cửa có thể sớm xây dựng được tín
tâm học Phật!
Thứ nhất, Pháp Môn
Tâm Linh đã chữa khỏi căn bệnh ung thư cổ tử cung của tôi.
Tôi biết đến Pháp Môn Tâm Linh vào tháng 7 năm 2012. Lúc đó,
trên đường đi làm về, tôi và mẹ tình cờ đi ngang qua một cửa hàng bán đồ lót.
Chúng tôi vô tình bước vào, vốn dĩ cũng không có ý định mua đồ, nhưng không hiểu
sao tôi lại nhìn thấy trên chiếc bàn nhỏ trong cửa hàng bày rất nhiều sách. Mẹ
tôi là một người rất thích đọc sách, liền hỏi một câu: "Sao cửa hàng của
cô còn bán cả sách thế này?" Chị chủ quán đáp: "Không phải đâu dì ạ,
đó là sách Phật để kết duyên miễn phí đấy." Vừa nghe là sách Phật, không
hiểu sao chúng tôi lại càng thấy hứng thú, liền xin kết duyên vài cuốn mang về
nhà. Về đến nhà, cuốn đầu tiên tôi đọc là cuốn "Thế giới Đồ Đằng"; đọc
xong tôi cảm thấy vô cùng sợ hãi. Bây giờ nghĩ lại, chắc chắn là do nghiệp chướng
của tôi quá sâu nặng, nên mới sinh ra cảm giác đó.
Lúc đó, tôi đang kinh doanh bán buôn túi xách, cũng không mấy
bận tâm đến những chuyện như thế này, chỉ thỉnh thoảng mới niệm chú Đại Bi, hai
ba biến, có lúc còn không niệm nổi; mỗi lần niệm kinh là lại buồn ngủ. Sau này,
tôi dứt khoát không niệm nữa, bữa đực bữa cái, ba ngày đánh cá hai ngày phơi lưới.
Đến cuối tháng 12 năm 2012, tôi được chẩn đoán mắc bệnh ung
thư cổ tử cung giai đoạn cuối. Trước đó, vào nửa cuối năm 2012, khi tôi đã biết
đến Pháp Môn Tâm Linh, tôi đã có triệu chứng ra máu liên tục, nhưng vì ngày nào
cũng bận rộn nên tôi cứ chần chừ không đi khám. Mãi đến cuối năm, khi cơ thể
đau đớn không thể chịu đựng nổi nữa tôi mới đến bệnh viện. Tôi không thể ngờ
mình lại mắc căn bệnh nghiêm trọng đến vậy, lúc đó tôi gần như suy sụp hoàn
toàn. Năm đó tôi tròn 36 tuổi, đúng vào năm tuổi của mình. Bây giờ tôi mới hiểu,
đó chính là một đại kiếp nạn của tôi, nghĩ lại mà vẫn thấy rùng mình sợ hãi.
Sau đó, tôi nhập viện bắt đầu điều trị. Trong quá trình điều
trị, tôi đã kể về căn bệnh của mình cho chị Hà, chị chủ quán đã kết duyên sách
Phật cho tôi. Chị Hà biết chuyện vô cùng lo lắng, liền lên mạng vào blog của
Pháp Môn Tâm Linh tìm kiếm xem có trường hợp nào tương tự có thể giúp ích cho
tôi không. Đúng vào ngày đầu tiên tôi về nhà đón năm mới, chị Hà thực sự đã tìm
thấy bài viết chia sẻ thực tế của một sư huynh cũng mắc ung thư cổ tử cung giống
tôi. Chị gửi cho tôi, và tôi bắt đầu làm theo cách của vị sư huynh đó: Phát
nguyện đời này kiếp này vĩnh viễn không sát sinh, không ăn hải sản tươi sống, mỗi
tháng ăn chay hai ngày, sau khi khỏi bệnh tôi nhất định sẽ lấy bản thân làm
minh chứng (hiện thân thuyết pháp) để cứu độ nhiều chúng sinh có duyên hơn. Đồng
thời, tôi bắt đầu chính thức làm bài tập hàng ngày (công khóa): Chú Đại Bi 49
biến, Tâm Kinh 49 biến, Chú Vãng Sinh 49 biến, Chú Chuẩn Đề 49 biến, Lễ Phật Đại
Sám hối Văn 3 biến. Không ngờ trước đây ngay cả 3 biến chú Đại Bi mình cũng
không niệm nổi, vậy mà giờ đây tôi có thể niệm một lúc 49 biến. Trong lòng tôi
vô cùng biết ơn người Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi đã từ bi gia hộ cho
tôi. Khi tôi niệm Lễ Phật Đại Sám hối Văn, dường như tôi đã hiểu ra điều gì đó,
tôi vừa niệm vừa khóc; tôi biết mình đã sai rồi, tôi cầu xin Bồ Tát cho tôi
thêm một cơ hội nữa. Tri ân sự gia hộ bảo bọc của Bồ Tát dành cho tôi; ngày hôm
sau, tôi đã niệm thêm 49 biến Tiêu Tai Cát Tường Thần Chú vào công khóa của
mình, và tôi niệm vô cùng nhẹ nhàng, không hề thấy buồn ngủ chút nào.
Có một đêm, tôi nằm mơ thấy một bà lão vô cùng hiền từ đến
chữa bệnh cho tôi. Bà lão châm cứu cho tôi từ đầu đến chân, và còn nói cho tôi
biết, căn bệnh này của tôi là do ăn hạt dưa mà ra. Ngày hôm sau, tôi kể lại giấc
mơ này cho chị Hà nghe, bởi vì tôi không hiểu ý nghĩa của nó. Chị Hà tu hành rất
tốt, chị giải thích rằng: Hạt dưa chính là hạt giống (chủng tử), chính là cái
nhân mà bản thân mình đã gieo trồng thuở trước, nên bây giờ mình mới phải gánh
chịu cái quả này. Tôi mới chợt bừng tỉnh, đây chẳng phải là câu nói dân gian
"Gieo nhân nào gặt quả nấy" (Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu)
đó sao? Tri ân Bồ Tát đại từ đại bi đã gia trì cho tôi, tri ân chị Hà đã giúp
tôi chia sẻ những nỗi lo âu, tháo gỡ những khó khăn!
Kể từ đó, cứ cách hai ba ngày tôi lại nằm mơ, tất cả đều là
Mẹ Bồ Tát đang từng bước dẫn dắt tôi, chỉ cho tôi niềm tin và phương hướng học
Phật. Thế là tôi vừa tiến hành hóa trị, vừa niệm kinh. Tôi vẫn còn nhớ rất rõ lần
hóa trị đầu tiên, đau đớn đến mức chỉ muốn chết đi cho xong; sau đó, nghe chị
Hà nói trong những lúc quan trọng, có thể niệm nhiều chú Đại Bi. Thế là, những
lần hóa trị sau đó, tôi đều điên cuồng niệm chú Đại Bi, mẹ tôi ở ngoài phòng bệnh
cũng liên tục niệm chú Đại Bi cho tôi. Kết quả hoàn toàn khác biệt so với cảm
giác lần đầu tiên, tôi không hề cảm thấy đau đớn chút nào; thực sự vô cùng tri
ân người Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi.
Bởi vì đang nằm viện hóa trị, không có cách nào niệm Ngôi
Nhà Nhỏ, tôi liền khấn nguyện với Mẹ Bồ Tát, đợi khi bệnh tình ổn định, con sẽ
về nhà chăm chỉ niệm Ngôi Nhà Nhỏ để trả nợ. Ngay vào đêm trước ngày xuất viện,
tôi nằm mơ thấy có người đang rửa sạch tử cung cho mình, và tôi còn nhìn thấy rất
nhiều hải sản nhảy ra khỏi tử cung, người đó nói đã giúp tôi phong ấn tất cả
chúng lại. Tri ân Mẹ Bồ Tát đại từ đại bi một lần nữa lại cứu giúp tôi, căn bệnh
ung thư tử cung của tôi đã hoàn toàn bình phục. Ngay trong năm 2013, tôi đã đi
tham dự pháp hội của Sư phụ ở Hồng Kông, và đã làm lễ bái sư. Tri ân Bồ Tát từ
bi bảo bọc!
Thứ hai, Pháp Môn Tâm
Linh đã cứu sống con trai tôi.
Đúng vào ngày 6 tháng 3 năm nay, con trai tôi (5 tuổi) vừa
ngủ dậy, phát hiện đầu gối không hiểu sao lại sưng vù lên, vùng da bị sưng nhiệt
độ cũng rất nóng, chân đứa trẻ hoàn toàn không thể cử động được. Tôi gặng hỏi
con: "Có phải con không cẩn thận bị ngã không?" Thằng bé bảo không
có, chỉ là hai hôm trước lúc chơi cầu trượt có va đập một chút; nhưng cũng đâu
đến mức sưng to như thế này. Tôi và mẹ liền phát nguyện đốt 4 tờ Ngôi Nhà Nhỏ
cho người cần kinh của cháu (oan gia trái chủ), cầu xin Bồ Tát từ bi bảo bọc
con trai tôi bình an vượt qua.
Ngay trong ngày hôm đó, chúng tôi bế cháu đến khoa xương khớp
để khám, chụp rất nhiều phim, nhưng cũng không tìm ra bệnh gì. Bác sĩ bảo, hay
là sang khoa miễn dịch khám thử xem. Thế là chúng tôi lại bế cháu sang khoa miễn
dịch làm xét nghiệm; bác sĩ bảo, hôm nay chưa có kết quả đâu, gia đình cứ về
nhà hôm sau quay lại. Chúng tôi về đến nhà, việc đầu tiên là niệm 4 tờ Ngôi Nhà
Nhỏ cho người cần kinh của cháu; sau khi đốt xong, chân cháu có dấu hiệu thuyên
giảm rõ rệt. Thế nhưng chưa được mấy ngày, mắt cá chân của cháu lại sưng lên,
cháu bắt đầu sốt cao. Tôi và mẹ lại vội vàng đưa cháu vào viện, nhiệt độ cơ thể
cháu cứ lúc lên lúc xuống; tôi thầm nghĩ chắc chắn là do nguyện lực tôi phát ra
chưa đủ lớn, số lượng Ngôi Nhà Nhỏ chắc chắn không đủ. Chúng tôi vừa chữa bệnh
cho cháu, vừa niệm Ngôi Nhà Nhỏ cho người cần kinh của cháu. Cuối cùng chúng
tôi tìm được vài vị chuyên gia để hội chẩn, họ chẩn đoán cháu mắc bệnh Viêm khớp
tự phát thiếu niên. Dựa theo kinh nghiệm của họ, đây là một loại bệnh mãn tính,
cho đến khi trưởng thành, cháu bắt buộc phải tiêm một loại thuốc gọi là chế phẩm
sinh học gì đó, hơn nữa loại thuốc này rất đắt tiền, và lại có tác dụng phụ rất
xấu đối với cơ thể mà ngay cả bác sĩ cũng không nói rõ được. Một khi đã mắc phải
căn bệnh này, xương khớp sẽ từ từ hoại tử, tàn phế, hoặc dẫn đến mù lòa. Khi
nghe được tin này, tôi cảm thấy bầu trời trước mắt như sụp đổ thêm một lần nữa,
cảm giác còn đau đớn hơn cả lúc bản thân mình mắc bệnh; trước mắt tôi chỉ là một
màn đêm tăm tối. Là một người mẹ, tim tôi như bị dao cứa, tôi biết phải sống tiếp
thế nào đây?
Thế là tôi lập tức phát nguyện phóng sinh số cá trị giá 5000
nhân dân tệ cho con trai tôi, cầu mong Bồ Tát đại từ đại bi cứu lấy con tôi.
Tôi bắt đầu mỗi ngày niệm 49 biến Tiêu Tai Cát Tường Thần Chú cho cháu, phát
nguyện đợt đầu tiên sẽ niệm 49 tờ Ngôi Nhà Nhỏ, hoàn thành vào ngày 20 tháng 4;
một lần nữa tôi cầu xin Mẹ Bồ Tát, xin Ngài phù hộ cho con trai tôi sớm ngày hồi
phục sức khỏe. Con xin hứa sau này nhất định sẽ tinh tấn học Phật, không bao giờ
lười biếng trễ nải nữa; sau khi con trai khỏi bệnh, con nhất định sẽ lấy bản
thân làm minh chứng, dùng câu chuyện chân thực của mình để cứu độ nhiều chúng
sinh có duyên hơn.
Trong khoảng thời gian này, chúng tôi nhập viện. Khi nhập viện
các chỉ số rất cao, bác sĩ cũng vô cùng quan tâm đến chúng tôi, bởi vì căn bệnh
này trên toàn quốc là vô cùng hiếm gặp. Vì căn bệnh của con trai, trong thâm
tâm tôi vô cùng sám hối. Từ sau khi bái sư, tôi đã không chăm chỉ niệm kinh học
Phật, không niệm Ngôi Nhà Nhỏ, mới dẫn đến việc cháu mắc phải căn bệnh quái ác
này. Mỗi lần nhìn thấy con phải cắn răng chịu đựng nỗi đau, còn cố tỏ ra mạnh mẽ,
tôi càng cảm thấy tội lỗi của mình sâu nặng. Cứ như vậy, mẹ tôi túc trực trong
bệnh viện chăm sóc cháu, còn tôi tranh thủ thời gian ở nhà niệm Ngôi Nhà Nhỏ
cho người cần kinh của cháu. Trong khoảng thời gian này, bệnh tình thuyên giảm
không rõ rệt lắm; tôi lại quỳ cầu xin Bồ Tát, tự bản thân lại phát nguyện sau
này sẽ không ngừng niệm từng đợt 21 tờ, 21 tờ cho cháu, cho đến khi cháu hoàn
toàn bình phục mới thôi.
Trong lúc này, tôi vô cùng biết ơn các sư huynh đã nhiệt
tình giúp đỡ tôi, cùng trợ niệm Ngôi Nhà Nhỏ cho cháu. Sau đó tôi đã nằm mơ thấy
rất nhiều giấc mơ tốt lành, đều là những giấc mơ báo hiệu nghiệp chướng của con
trai tôi đang được tiêu trừ. Tôi vẫn luôn lo lắng cho bệnh tình của cháu, cho đến
một ngày, Mẹ Bồ Tát báo mộng cho tôi nói rằng tai kiếp đã qua rồi. Ngày hôm
sau, bệnh viện truyền đến tin vui, nói rằng căn bệnh của con trai tôi không phải
là Viêm khớp tự phát thiếu niên, mà chỉ là viêm khớp do vi khuẩn thông thường,
chỉ cần truyền dịch tiêu viêm là có thể xuất viện. Tôi biết, đây chắc chắn là
nhờ sự gia hộ của Mẹ Bồ Tát, con trai tôi mới có thể chuyển nguy thành an.
Thực sự vô cùng tri ân Mẹ Bồ Tát, Ngài đã một lần nữa cứu sống
tôi, cứu sống con trai tôi; điều này tương đương với việc cứu sống cả gia đình
tôi. Vì tôi, mẹ tôi không biết đã phải rơi bao nhiêu nước mắt, tốn bao nhiêu
tâm huyết; lần này lại đến lượt con trai tôi, nhìn mẹ tiều tụy đi rất nhiều. Ở
đây, con xin hướng về người Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi để sám hối, con
sai rồi, xin Mẹ Bồ Tát tha thứ cho con; con nhất định sẽ nỗ lực tu học Pháp Môn
Tâm Linh, hoằng dương Pháp Môn Tâm Linh. Con xin hướng về vị Sư phụ đại từ đại
bi để sám hối: Sư phụ ơi, đệ tử có lỗi với Người, đệ tử vô cùng hổ thẹn trước sự
dạy dỗ từ bi của Người, đệ tử sai rồi. Xin Sư phụ tha thứ, đệ tử sẽ chăm chỉ hoằng
pháp độ chúng sinh ở nhân gian, xin Sư phụ hãy yên tâm.
Trong thời gian nằm viện, ở cùng phòng bệnh có một đứa bé
hơn một tuổi, mắc bệnh máu khó đông (Hemophilia), cần phải truyền yếu tố đông
máu suốt đời. Mẹ tôi liền nói với bà nội của cháu bé: "Cháu nhà bà mắc phải
căn bệnh không hề đơn giản, căn bệnh này chỉ có Mẹ Bồ Tát mới có thể cứu được,
chỉ cần phóng sinh, phát nguyện, niệm kinh, cháu bé sẽ được cứu." Bà nội
cháu bé kể, trước đây họ cũng từng tìm đến những người có khả năng ngoại cảm để
xem, họ cũng nói y hệt như vậy. Lúc chúng tôi mở băng ghi âm lời giảng của Sư
phụ trong phòng bệnh, đứa bé đó cứ liên tục dập đầu tạ ơn Sư phụ. Hiện tại gia
đình họ cũng đã bắt đầu niệm kinh, niệm Ngôi Nhà Nhỏ rồi; tin rằng không lâu nữa,
cháu bé cũng sẽ khỏe lại.
Một lần nữa con xin tri ân Nam mô Đại từ Đại bi Cứu khổ Cứu
nạn Quảng đại Linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát! Một lần nữa con xin tri ân
vị Sư phụ đại từ đại bi Lư Quân Hoành!
Tri ân mười phương ba đời chư Phật Bồ Tát Ma Ha Tát! Tri ân
tất cả chư vị Long Thiên Hộ Pháp Bồ Tát!
Một lần nữa xin tri ân tất cả các sư huynh trong Pháp Môn Tâm
Linh! Vô vàn tri ân! Tri ân! Tri ân!
2. Trồng thiện quả trên ruộng phước, Mưa hoa rợp trời tưới Bồ đề
— Đệ tử Thanh Liên tri
ân Mẹ Bồ Tát và Sư phụ đã cứu giúp người cha 79 tuổi gặp tai nạn giao thông
Lại là một ngày mùng 8 tháng 12 nữa, đối với tôi ngày này là
một ngày khá đặc biệt, tôi học Pháp Môn Tâm Linh tròn hai tuổi rồi; ngày này trở
thành ngày tôi viết bài tổng kết cuối năm đáng nhớ!
Năm nay là năm tôi rơi nhiều nước mắt nhất từ lúc chào đời đến
nay, bởi vì trong năm nay tôi đã trải qua hai sự kiện quan trọng nhất: Một là
cuối cùng tôi cũng được toại nguyện danh chính ngôn thuận gọi một tiếng Sư phụ!
Và sự kiện thứ hai cũng khiến tôi khắc cốt ghi tâm không kém, đó chính là nhờ
có vô vàn các đồng tu và Mẹ Bồ Tát từ bi cứu giúp, người cha của tôi - Trương
Chí Đức - đã bình an vượt qua kiếp nạn tai nạn giao thông. Thoát chết trong
gang tấc, tôi đặc biệt, đặc biệt vô cùng tri ân Mẹ Bồ Tát, tri ân Sư phụ, tri
ân tất cả chư vị Long Thiên Hộ Pháp, tri ân tất cả những người có duyên đã giúp
đỡ cha con tôi!
Tháng 6 năm nay, nhờ ân đức từ bi của Mẹ Bồ Tát, tôi đã thuận
lợi giúp bố mẹ chồng, chồng và các con hoàn tất thủ tục giấy thông hành sang Hồng
Kông, và đưa cả gia đình đi tham dự pháp hội Hồng Kông của Sư phụ Đài Trưởng! Cả
gia đình vui vẻ ngồi trong hội trường nghe những lời khai thị từ bi! Tối ngày
mùng 8, khi đang nghe Sư phụ khai thị, tôi bất ngờ nhận được điện thoại của người
nhà báo tin người cha đã 79 tuổi của tôi, bất ngờ gặp tai nạn giao thông ở quê!
Đang được cấp cứu tại bệnh viện, hiện tại vẫn đang trong tình trạng hôn mê,
chưa rõ sống chết! Anh ba tôi ngay trong ngày hôm đó đã đáp máy bay vội vã về
nhà! Lúc đó tôi như bị sét đánh, không biết phải làm sao! Cha tôi xưa nay vẫn
mang tư tưởng trọng nam khinh nữ, nhưng vì đã có ba người con trai, nên đối với
đứa con gái út là tôi, ông lại đặc biệt yêu thương. Những năm bảy mươi, trên thị
trường còn không tìm đâu ra đồ chơi trẻ em, cha tôi đã tự tay dùng gỗ đẽo cho
tôi một mô hình máy bay, hình dáng sống động như thật; ông còn đặc biệt đóng
riêng cho tôi một chiếc ghế nhỏ trên xe đạp, mỗi lần đi đâu là ông ôm tôi lên
xe đầu tiên; có lần tôi cầm đồ ăn trêu chọc chú chó nhỏ trong nhà, không cẩn thận
bị nó cắn vào ngón tay, cha tôi tức giận đánh chết nó luôn (mỗi lần nghĩ đến
chuyện này tôi đều thấy vô cùng hổ thẹn)... Nghĩ đến muôn vàn tình yêu thương
cha dành cho tôi suốt bao năm qua, đến lúc tôi cũng làm mẹ rồi, ngoài chút tiền
mọn gửi về biếu cha mỗi năm, tôi vẫn chưa kịp báo hiếu đàng hoàng; nỗi đau lớn
nhất của con người chính là nỗi sợ hãi mất đi những điều trân quý nhất. Trái
tim tôi nhói đau và vô cùng bất lực trong những suy đoán và chờ đợi bất an; người
vẫn ngồi lặng yên trong hội trường nhưng nước mắt đã tuôn rơi từng giọt lớn lã
chã không phát ra tiếng...
Lúc tâm trạng bình tĩnh lại một chút, nhớ lại những phương
pháp sơ cứu khẩn cấp mà Sư phụ từng dạy trong các chương trình, tôi kìm nén nước
mắt bắt đầu tụng chú Đại Bi cho cha, cầu xin Mẹ Bồ Tát từ bi giúp cha tôi vượt
qua cơn nguy kịch! Khi pháp hội sắp kết thúc, anh trai nhắn tin báo tình hình cụ
thể: Bác sĩ nói gãy mấy cái xương sườn, phổi bị tổn thương, trong não có máu bầm!
Hiện tại vẫn chưa qua khỏi cơn nguy kịch! Tôi bắt buộc phải chăm lo cho cả gia
đình già trẻ lớn bé hiện đang ở bên cạnh, không thể phân thân lập tức chạy về
bên cha được. Khi pháp hội kết thúc hoàn toàn, lúc chờ bắt taxi về khách sạn đã
là rạng sáng, tôi không thể kìm nén nỗi đau thêm được nữa, nước mắt tuôn như
mưa; giọng run run tôi lại hướng về không trung cầu xin Mẹ Bồ Tát từ bi giúp
cha bình an vượt qua kiếp nạn, và phát nguyện ngày 10 trở về Thâm Quyến sẽ đi
phóng sinh, gửi Ngôi Nhà Nhỏ...
Taxi ở Hồng Kông bất kể xe lớn xe nhỏ đều không chở quá 5
người; gia đình tôi lớn nhỏ cả thảy 6 người, bắt buộc phải chia làm hai xe. Vừa
hay lúc đó có hai đồng tu đến hỏi đi chung xe, tôi liền nhờ họ đưa hai đứa trẻ
lên xe của họ và biến mất trong màn đêm; ở một nơi xa lạ, trong một đêm tối xa
lạ, tôi lại giao con mình cho hai người hoàn toàn xa lạ như vậy, chỉ bởi vì họ
cũng là đồng tu của Pháp Môn Tâm Linh. Xe của chúng tôi vừa đến khách sạn, hai
đứa trẻ và hai vị đồng tu không quen biết kia đã đợi sẵn ở cửa, tự tay giao lại
hai đứa trẻ cho tôi, họ mới rời đi! Chúng tôi tin rằng chắc chắn là Mẹ Bồ Tát
đã từ bi tương trợ!
Về đến khách sạn, tôi không còn tâm trí nào để ngủ, cùng các
con trợ niệm chú Đại Bi cho cha, sau đó bảo các con đi nghỉ trước, tôi tiếp tục
trợ niệm cho cha. Buồn ngủ rũ rượi, tôi bôi chút dầu gió, lấy nước lạnh vã lên
mặt rồi tiếp tục; rạng sáng ngày mùng 9 không kìm được gọi điện thoại về nhà,
cuối cùng cũng nghe được tin vui: Đã bình an qua cơn nguy kịch! Tôi kích động
hét lên trong điện thoại: Cảm tạ Quán Thế Âm Bồ Tát! Nước mắt lại một lần nữa
tuôn rơi!
Ngày mùng 9 phải đi sớm đến Cửu Triển tham gia nghi lễ bái
sư, không kịp ăn sáng tôi vẫn kiên quyết đi chuyến xe sớm, nhất định phải điểm
danh đúng giờ, người nhà cũng đi cùng tôi! Sau khi nghi lễ bái sư kết thúc đã gần
ba giờ chiều, tôi phải hộ tống người nhà bình an trở về; biết rằng tối nay
không thể nghe Sư phụ khai thị nữa, trong lòng vô vàn lưu luyến, chụp ảnh lưu
niệm xong rất muốn đến chào tạm biệt Sư phụ, nhưng các sư huynh Hộ pháp vây
quanh đưa Sư phụ đi mất; tôi cũng biết Sư phụ đã quá mệt, quá mệt rồi! Lặng lẽ
đuổi theo vài bước ở phía sau, hướng về bóng lưng Sư phụ chắp tay hành lễ,
trong lòng thầm nói: "Con xin lỗi Sư phụ! Đệ tử không thể tiếp tục nghe
Người khai thị tối nay nữa, đệ tử xin phép được bái biệt Người!" Không ngờ
Sư phụ lại quay đầu lại cúi người chắp tay đáp lễ tôi; Sư phụ từ bi quá! Nước mắt
tôi lại trào ra, mỗi lần nhớ lại khoảnh khắc đó tôi vẫn không kìm được nước mắt!
Ngày 10 về đến Thâm Quyến tôi liền đi phóng sinh; chiều gọi
điện thoại về thì được biết tình hình của cha đã khá hơn một chút, có thể nói
chuyện!
Ngày 11 cha lại rơi vào trạng thái ý thức mơ hồ, tổn thương ở
não chưa rõ tình trạng! Gọi điện thoại liên lạc với sư huynh Đài Đông Phương,
sư huynh dặn phải gửi Ngôi Nhà Nhỏ từng đợt 49 tờ, đồng thời phải phát đại nguyện
cộng thêm phóng sinh! Sám hối bản thân bình thường tu hành không đủ tinh tấn,
không có vốn liếng tích lũy (tư lương); bây giờ phải cấp cứu giữ mạng cho cha,
đành phải cầu viện các sư huynh! Và thỉnh cầu những sư huynh có duyên giúp tôi
trợ niệm chú Đại Bi cho cha, không giới hạn số biến; cầu xin Đại từ Đại bi Cứu
khổ Cứu nạn Quảng đại Linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát phù hộ giúp đỡ cha mau chóng
thoát khỏi bệnh tật, hồi phục sức khỏe! Rất nhanh chóng, rất nhiều sư huynh nhiệt
tình đã dang tay giúp đỡ. Tri ân sư huynh Thụy đã hết lần này đến lần khác chỉ
bảo và giúp đỡ; tri ân vợ chồng sư huynh Vương ở Thâm Quyến ngay lập tức gửi đến
10 tờ Ngôi Nhà Nhỏ đã được niệm tại Quan Âm Đường trong thời gian diễn ra pháp
hội Hồng Kông, và liên tục gọi điện thoại động viên tôi, hãy tin tưởng vào Mẹ Bồ
Tát, cha tôi nhất định sẽ bình an! Lần nào cũng khiến tôi cảm động rơi nước mắt!
Tri ân các sư huynh nhóm cộng tu Thâm Quyến đã kịp thời gửi nước Đại Bi và trái
cây cúng dường, cùng với chiếc radio nhỏ tặng cho cha! Tri ân sư huynh Tố Thủ bản
thân vẫn đang trong thời kỳ hồi phục sau tai nạn giao thông, vẫn hào phóng giúp
đỡ nhường những tờ Ngôi Nhà Nhỏ của mình cho tôi trước, và dạy tôi hồi hướng
công đức ăn chay và tham gia pháp hội ít ỏi của mình cho cha, cầu xin Bồ Tát từ
bi cứu lấy mạng sống của cha trước! Tri ân sư huynh Hoành Diêu không chỉ gửi
Ngôi Nhà Nhỏ mà còn gửi những quả mít to đùng do chính nhà trồng cho tôi, khiến
tôi cảm động không biết nên khóc hay nên cười! Tri ân các sư huynh Diễn Anh,
Viêm Viêm, Nhạc Trần, Chu Mẫn, Lý Mộc Tử, Lưu Diễm Hồng, Hướng Cầm, Trương Tiểu
Kiệt, Quán Vĩ, Lưu Vi, Lương Quế Hương, Vương Quế Trân, Vi sư huynh, Gia Ân, Huệ
Quyên... đã lần lượt gửi đến những tờ Ngôi Nhà Nhỏ vô giá; mỗi lần nhận được
bưu phẩm tôi đều rơi nước mắt cảm tạ sự từ bi của Mẹ Bồ Tát, tri ân tấm chân
tình của các sư huynh!
Ngày 14 tháng 6, tôi xin Mẹ Bồ Tát cho phép đổi nguyện niệm
21 tờ thành 49 tờ, và tiếp tục phát nguyện niệm thêm 108 tờ; trước ngày 22
tháng 6 chia làm 5 đợt gửi xong 108 tờ.
Ngày 26 tháng 6, vừa tròn 18 ngày, cha tôi đã có thể xuống
giường đi lại! Thật không thể tin nổi! Vô vàn tri ân! Ngay cả các sư huynh cũng
phải thốt lên: "Hả? Một ông cụ bị tai nạn giao thông gãy xương sườn, mà đã
xuống giường đi lại được rồi sao?" Tôi nước mắt giàn giụa tri ân tán thán
Mẹ Bồ Tát quá từ bi! Sức mạnh trợ niệm của mọi người, quá mạnh mẽ... Tri ân tất
cả mọi người! Tri ân tất cả!
Bình ổn được một tháng, lại trải qua một ca phẫu thuật hút dịch
não tủy; tôi và anh trai hẹn giờ phẫu thuật, ở phương xa tôi trợ niệm 108 biến
chú Đại Bi cho cha, sau đó lại niệm thêm vài biến Lễ Phật. Gọi điện thoại về,
anh trai nói phẫu thuật vừa kết thúc, bình an suôn sẻ! Tri ân, ngoài tri ân ra
tôi không biết nói gì hơn!
Sau đó, cha tôi bước vào thời kỳ hồi phục yên bình, ngày một
tốt lên! Cho đến ngày mùng 9 tháng 9, cha tôi bình an xuất viện! Trước đây tôi
có một đồng nghiệp ở trong ký túc xá, bị vướng vào dây điện quạt máy ngã nhào,
vậy mà phải nằm liệt giường nửa năm trời; cha tôi lớn tuổi như vậy lại bị
thương nghiêm trọng đến thế, mới vỏn vẹn ba tháng đã hồi phục, quả thực không
thể tưởng tượng nổi! Một lần nữa minh chứng cho sức mạnh vĩ đại của Pháp Môn
Tâm Linh! Tri ân Mẹ Bồ Tát đại từ đại bi, tri ân Sư phụ đã trao cho chúng tôi một
Pháp môn tuyệt vời như vậy! Tri ân sự giúp đỡ vô tư của tất cả những đồng tu có
duyên!
Nghĩ lại những tháng ngày giúp cha vượt qua cơn hoạn nạn, Mẹ
Bồ Tát đâu chỉ cứu giúp cha tôi, mà còn đang cứu vớt cả tôi nữa! Tôi xưa nay vốn
coi trọng tình cảm gia đình; cả tháng 6, tháng 7 tôi chỉ một lòng một dạ liều mạng
niệm kinh, làm Ngôi Nhà Nhỏ, phóng sinh hoàn nguyện; đến cả ăn ngủ cũng sợ làm
lỡ mất thời gian... Vào ngày thành đạo của Mẹ Bồ Tát, tôi cùng đồng tu đi phóng
sinh, cơn mưa rào dữ dội vì chúng tôi mà tạnh ráo; phóng sinh xong màn mưa lại
trút xuống như cũ. Cũng trong ngày hôm đó tôi đã gieo được một thiện duyên để
ngày sau độ được một đồng tu mới; cùng ngày hôm đó một cuộc gọi điện thoại đã kết
duyên tôi với một quán cơm chay, giúp tôi có thể ăn chay không vi phạm lời thề,
cho tôi có thời gian tu hành, cho tôi cơ hội tùy duyên độ hóa những người có
duyên học Phật niệm kinh! Ngoài việc kịp thời hoàn nguyện, tôi đã phát nguyện lại
với Bồ Tát: Con nguyện dùng phần đời còn lại, để quảng bá việc ăn chay, hoằng
dương Phật pháp! Đi theo Sư phụ Đài Trưởng, đi theo Bồ Tát, tu hành Pháp Môn
Tâm Linh, một lòng tinh tấn, không bao giờ thoái chuyển! Nguyện làm thiên thủ thiên
nhãn (ngàn tay ngàn mắt) của Mẹ Bồ Tát; trên cầu giác ngộ thành Phật, dưới nguyện
độ hóa cứu giúp chúng sinh! Con nhất định sẽ không làm xấu danh tiếng của Mẹ Bồ
Tát, của Sư phụ Đài Trưởng!
Trải nghiệm ở quán cơm chay đã mang đến cho tôi những
"tăng thượng duyên" (duyên hỗ trợ tu tập) khi tu hành trong nghịch cảnh;
xin tạm gác lại không bàn tới!
Ngày 3 tháng 10, một gia đình đã bao trọn nhà hàng, mời tiệc
người thân bạn bè để tiễn đưa người cha vừa mới qua đời của họ. Sau đó tôi mới
biết người cha của họ mới 63 tuổi, cũng gặp tai nạn giao thông; vì không có
duyên nhận được sự cứu giúp của Mẹ Bồ Tát nên đã ra đi mãi mãi! Thật đáng
thương! Khiến tôi không kìm được lại nhớ đến những gì cha tôi đã trải qua, nhớ
đến đại bi vô lượng của Mẹ Bồ Tát; tôi không kìm được lại rơi nước mắt, bước
vào Phật đường dập đầu bái tạ!
Câu chuyện chân thực của tôi và gia đình, một lần nữa muốn
nói với mọi người rằng Pháp Môn Tâm Linh là chân thực không hư ảo; Pháp Môn Tâm
Linh là pháp môn phù hợp nhất để chúng ta tu học trong thời kỳ mạt pháp!
Tri ân Nam mô Đại từ Đại bi Cứu khổ Cứu nạn Quảng đại Linh cảm
Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát!
Tri ân Đại từ Đại bi Cứu khổ Cứu nạn Vô ngã Vị tha Lư Quân
Hoành Đài Trưởng Ma Ha Tát!
Tri ân tất cả các đồng tu!
Đệ tử Thanh Liên và gia đình dập đầu tri ân.
3. Năm tháng niệm kinh, phát nguyện, phóng sinh đã cứu vãn một gia đình sắp
tan vỡ
Ngày 27 tháng 2 năm 2014, với lòng tri ân sâu sắc, tôi bước
lên hành trình tham dự Pháp hội Malaysia và Singapore. Tâm trạng tôi vô cùng
kích động, tôi sắp được gặp lại ân nhân của mình; hơn nữa từ nay về sau tôi đã
trở thành đệ tử của Sư phụ Lư Quân Hoành. Tôi là người học Phật, tôi không thể
nói dối (vọng ngữ). Trong lúc đau khổ và bất lực nhất, tôi từng phát nguyện: Nếu
Pháp Môn Tâm Linh có thể khiến trái tim chồng tôi quay về với gia đình này, tôi
nhất định sẽ dùng câu chuyện của chính mình để chứng minh cho mọi người thấy,
Pháp Môn Tâm Linh có thể cứu vãn những cuộc hôn nhân đổ vỡ.
Nói qua một chút về cuộc hôn nhân của tôi. Hôn nhân của
chúng tôi cũng giống như bao gia đình khác, rất đỗi bình dị; đắng cay ngọt bùi
đều từng nếm trải. Nhưng từ "ly hôn" chưa bao giờ tôi nghĩ sẽ thực sự
xảy ra với mình. Một trận cãi vã với em trai của anh ấy đã trở thành giọt nước
tràn ly. Nhìn thấy tôi suốt nhiều năm không thể chung sống hòa thuận với đứa em
trai này, trong lúc tức giận anh ấy đã đòi ly hôn. Tôi biết anh ấy không nói
đùa, lúc đó cảm giác như bầu trời sụp đổ, tai họa ập đến; anh ấy muốn rời bỏ
tôi. Tôi hiểu anh ấy, anh ấy là mẫu đàn ông "một lời đã nói ra, ngựa tứ mã
khó đuổi". Tôi khóc lóc van xin, nhưng anh ấy hoàn toàn thay đổi so với vẻ
dịu dàng, từ bi thường ngày; những lời thốt ra sắc như dao cứa vào tận xương tủy.
Tôi biết anh ấy đã sắt đá hạ quyết tâm; tâm trạng của tôi lúc đó ngoài hận thù
ra chỉ có hận thù. Tôi hận em trai của anh ấy, hoàn toàn không suy nghĩ xem
mình đã làm sai ở đâu. Sư tỷ của tôi khuyên tôi niệm văn Sám hối, sám hối lỗi lầm
của bản thân. Nhưng trong lòng tôi lúc đó chỉ ngập tràn hận thù, bài Sám hối
tôi niệm ra nghe cứ như đang trả bài cho xong. Sư tỷ nói, chỉ cần chăm chỉ làm
theo "Ba Báu Vật" (Tam Đại Pháp Bảo) mà Đài Trưởng dạy, hôn nhân của
em nhất định sẽ được cứu vãn. Trong suốt năm tháng, niềm tin của tôi được nhân
lên gấp bội nhờ sự động viên, an ủi của sư tỷ.
Đầu tiên là nói về việc Phát Nguyện. Vì tai họa ập đến quá bất
ngờ, tinh thần nhất thời không thể tiếp nhận, thậm chí tôi đã nghĩ đến cái chết.
Tôi từng hỏi một vị sư huynh tu tập khá tốt: "Nếu tôi tự sát, tôi đem toàn
bộ tiền bạc của mình cúng dường cho các pháp sư trong chùa, nhờ họ niệm Ngôi
Nhà Nhỏ, siêu độ tôi lên thiên giới; tôi không muốn tiếp tục đọa đày trong lục
đạo luân hồi nữa." Vị sư huynh đó trả lời: "Người tự sát không thể
siêu độ lên thiên giới được đâu." Ôi, con người muốn chết mà cũng không chết
được! Xem ra, đến chết tôi còn không sợ, lẽ nào tôi còn sợ phát đại nguyện sao?
Lúc đó tôi lập tức khấn nguyện trước Quán Thế Âm Bồ Tát:
Một, Cả đời ăn chay, vĩnh viễn không sát sinh.
Hai, Quyên tiền in kinh sách.
Ba, Mỗi tháng phóng sinh hai lần.
Bốn, Vĩnh viễn đi theo Lư Quân Hoành Đài Trưởng tu học Pháp
Môn Tâm Linh, độ mình độ người, nguyện làm thiên thủ thiên nhãn của Quán Thế Âm
Bồ Tát.
Nguyện thì đã phát rồi; ba điều sau tôi đều có thể làm được,
duy chỉ có điều đầu tiên. Từ một người chưa từng ăn chay, bỗng chốc phải chuyển
sang ăn chay trường; cái hương vị đó nếu chưa từng trải qua thì khó lòng tưởng
tượng nổi. Bữa cơm không có thịt thì nấu kiểu gì? Vừa đau buồn lại không biết nấu
món chay, chỉ trong một tháng tôi đã sút đi 4 kg (8 cân Trung Quốc). Thêm vào
đó là sự không thấu hiểu từ người nhà, ai cũng tưởng tôi bị kích động nên thần
kinh có vấn đề. Bạn bè và người nhà đều nói cuộc hôn nhân của chúng tôi vô
phương cứu chữa rồi, chỉ còn cách chuẩn bị tâm lý chia tay, giữ gìn sức khỏe.
Chỉ riêng tôi vững tin rằng, có Quán Thế Âm Bồ Tát bảo bọc, trái tim chồng tôi
nhất định sẽ quay về.
Tiếp theo là Phóng Sinh. Sau khi phát nguyện, tôi kiên trì mỗi
tháng phóng sinh hai lần; tổng cộng đã phóng sinh được 5684 con cá. Trong đó có
một lần, tự tôi liên hệ với chủ hồ cá, phóng sinh 1495 con. Sáng sớm hôm đó, sư
tỷ đi cùng tôi ra bờ sông Hoàng Hà phóng sinh; trời gió rét căm căm, bầu trời vẫn
còn mờ tối. Trên đường đi tôi cứ lo lắng, chỉ có bốn người chúng tôi: tài xế,
chủ cá, tôi và sư tỷ; làm sao chúng tôi có thể phóng sinh cả một xe cá lớn thế
này? Tôi thầm cầu xin Bồ Tát trong lòng, mong cho chúng tôi gặp được người tốt
bụng giúp đỡ. Quả thực Bồ Tát đã hiển linh bảo bọc; xe vừa đến bờ sông Hoàng
Hà, từ phía đối diện có hơn hai mươi người công nhân đi tới. Tôi tiến lại hỏi:
"Các chú ơi, các chú đang đi đâu vậy?" Họ bảo vừa làm xong việc, đang
chuẩn bị về nhà. Tôi hỏi: "Các chú có thể giúp chúng cháu phóng sinh được
không?" Những người công nhân này thực sự rất lương thiện, họ nói:
"Làm việc thiện thì chúng tôi sẵn lòng." Cứ như vậy, tôi và sư tỷ
không cần phải động tay động chân mà vẫn phóng sinh được toàn bộ số cá. Trước
khi phóng sinh tiến hành nghi lễ, tôi niệm kinh xong; lúc cầu nguyện, tôi quỳ
trên nền đất ẩm ướt, nước mắt giàn giụa. Sư tỷ thấy tôi quỳ xuống, chị ấy bảo
nước mắt chị ấy cũng không kìm được mà tuôn rơi. Bồ Tát có thể thấu rõ sự chân
thành của tôi; chỉ khi chân tâm cầu nguyện, Bồ Tát mới có thể "hữu cầu tất
ứng" (có cầu ắt có ứng).
Cuối cùng là Niệm Kinh. Trước khi sóng gió gia đình ập đến,
tôi chỉ mới bắt đầu làm một chút công khóa buổi sáng, cũng mới tiếp xúc với
Pháp Môn Tâm Linh chưa đầy nửa tháng; kinh văn còn chưa niệm trôi chảy, huống hồ
nói đến việc niệm Ngôi Nhà Nhỏ. Thế nhưng tai họa ập đến, tôi không quản được
nhiều như vậy nữa; tôi xin nghỉ phép bắt đầu niệm Ngôi Nhà Nhỏ. Lúc đầu tôi mất
bốn tiếng đồng hồ mới niệm xong một tờ Ngôi Nhà Nhỏ. Vì quá sốt ruột, tôi đã thỉnh
hơn 700 tờ Ngôi Nhà Nhỏ ở chùa. Nhưng các đồng tu nói rằng, tốt nhất là tự mình
niệm; thế là tôi lại đem trả Ngôi Nhà Nhỏ cho nhà chùa, cúng dường hơn mười bốn
ngàn nhân dân tệ cho các vị pháp sư. Trong công khóa buổi sáng, số biến của mỗi
bài kinh tôi đều đọc ở mức tối đa. Gần như tôi thức dậy từ 5 giờ sáng, liên tục
niệm kinh cho đến 10 giờ đêm; khoảng nửa tháng sau tôi đã thuộc lòng các bài
kinh. Tốc độ niệm Ngôi Nhà Nhỏ cũng được cải thiện đáng kể; một tiếng hai mươi
phút tôi niệm xong một tờ, trung bình một ngày niệm được 3-4 tờ, một tháng niệm
được hơn 100 tờ. Mỗi lần niệm, tôi đều chân thành sám hối lỗi lầm của bản thân;
mỗi lần niệm Lễ Phật, tôi đều khóc đến sưng húp cả mắt. Ngày hôm sau, ai nhìn
thấy cũng hỏi thăm đôi mắt sưng mọng của tôi. Sau này tôi cố gắng kiềm chế,
không khóc nữa. Sư tỷ nói tôi là người tinh tấn nhất trong số những người chị ấy
từng độ. Trong quá trình niệm kinh và học Bạch Thoại Phật Pháp, tôi thực sự cảm
nhận được niềm hỉ lạc trào dâng (pháp hỉ sung mãn); trạng thái bình yên, thanh
tịnh mà tôi hằng tìm kiếm cuối cùng cũng đã tìm thấy. "Tùy duyên"; đó
là sự tùy duyên bắt nguồn từ việc thay đổi chính bản thân mình trước; nhờ niệm
kinh mà tâm sân hận đã tan biến, tôi nhận ra những tập khí xấu xa của bản thân,
và hạ quyết tâm phải triệt để loại bỏ chúng.
Năm tháng phát nguyện, phóng sinh, niệm kinh; cuối cùng, trước
khi tôi lên đường tham gia pháp hội, chồng tôi nói anh ấy muốn về nhà. Suốt 5
tháng qua, những lời mắng mỏ, sỉ nhục, thúc ép của anh ấy; tôi đều dùng nước mắt
để đáp lại; tôi đã thực sự thấu hiểu câu "Nhẫn nhục năng tinh tấn"
(Nhẫn nhục có thể giúp tu hành tinh tấn). Sự nhẫn nhịn của tôi có lẽ đã làm anh
ấy cảm động, anh ấy lại trở về như xưa, biết quan tâm, chăm sóc tôi. Khi ra nước
ngoài, vì điện thoại của tôi chưa đăng ký chuyển vùng quốc tế nên chúng tôi mất
liên lạc. Người nhà kể lại, anh ấy nghe tin có máy bay gặp nạn, lo lắng đến mức
bồn chồn không yên, lên mạng tìm kiếm danh sách hành khách tử nạn. Trong lòng
anh ấy thực sự vẫn còn hình bóng tôi, nhân duyên của chúng tôi vẫn chưa tận;
tôi sẽ trân trọng thật tốt đoạn nhân duyên này.
Phát Nguyện, Phóng Sinh, Niệm Kinh; Ba Báu Vật thực sự có thể
thay đổi vận mệnh, Ba Báu Vật đã cứu vãn cuộc hôn nhân của tôi. Tôi không biết
lấy gì để đền đáp công ơn Sư phụ; chỉ biết mỗi ngày niệm chú Đại Bi cho Sư phụ,
cầu mong Sư phụ thân thể khỏe mạnh, mãi mãi trụ thế ở nhân gian. Tôi sẽ chăm chỉ
độ nhân, chăm chỉ tu tâm, làm một người học Phật chân chính; để người nhà nhìn
thấy sự thay đổi của tôi sau khi học Phật; là đệ tử của Sư phụ, tuyệt đối không
được làm bôi nhọ danh tiếng của Người.
Tôi vô cùng biết ơn sư tỷ của tôi, tri ân Pháp Môn Tâm Linh
của Sư phụ, tri ân sự gia trì của Sư phụ dành cho tôi. Tri ân chư vị Long Thiên
Hộ Pháp. Càng tri ân hơn nữa người Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi cứu khổ
cứu nạn. Tôi hy vọng bài viết này của mình có thể giúp ích cho những gia đình
đang đứng trên bờ vực tan vỡ, giúp ích cho những người có duyên đang đánh mất
niềm tin vào hôn nhân. Chỉ cần chân tâm sám hối, chân tâm thay đổi bản thân; cuộc
hôn nhân của bất kỳ ai cũng có thể bền lâu, gia đình nào cũng có thể hạnh phúc.
Tôi tin rằng Pháp Môn Tâm Linh sẽ còn mang đến cho tôi những kỳ tích tiếp theo;
tôi sẽ tiếp tục chia sẻ cùng mọi người. Tri ân!
Đệ tử: Hà Hoa
4. Bệnh sảy thai quen dạ (sảy thai liên tiếp) nhờ tu tập Pháp môn Tâm linh
đã vui mừng đón quý tử
Xin chào các sư huynh, tôi là đồng tu họ Tăng, đến từ Quảng
Đông, Trung Quốc đại lục! Tôi từng phát nguyện rằng sau khi cầu con thành công,
tôi sẽ viết lại câu chuyện của mình để chia sẻ cùng mọi người. Hiện tại tôi vẫn
đang trong thời gian ở cữ, mấy ngày nay tôi luôn cảm thấy mình như đang trong một
giấc mơ, không dám tin rằng mình đã được làm mẹ! Mỗi lần nghĩ đến điều này, tôi
đều cảm động rơi nước mắt! Tri ân sự từ bi của Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại
bi! Nếu không có Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát, tôi không biết đến năm nào tháng nào mới
có thể vượt qua được cửa ải này!
Tôi kết hôn năm 2009. Khoảng thời gian trước và sau khi kết
hôn, tôi thường nằm mơ thấy rất nhiều điềm báo không tốt về tương lai, nhưng đều
bất lực không biết làm cách nào để thay đổi, bởi vì lúc đó tôi không biết cách
hóa giải! Đã tìm đến vô số người có khả năng ngoại cảm nhưng đều vô hiệu! Cứ
như vậy, cuộc sống của tôi chìm trong đau khổ như một cơn ác mộng suốt năm năm
trời!
Năm đầu tiên sau khi kết hôn, tôi rất nhanh chóng mang thai.
Thế nhưng đến tuần thứ 26, tôi đột nhiên đau bụng và sảy thai, vừa đến bệnh viện
thì đứa bé đã tuột ra ngoài! Lúc đó tôi cứ tưởng do công việc bận rộn, không được
nghỉ ngơi đầy đủ! Vì quá mong mỏi có con, nghỉ ngơi được nửa năm tôi lại mang
thai lần hai. Lần này tôi vô cùng cẩn thận, xin nghỉ việc ở nhà nằm dưỡng thai!
Ngoài lúc ăn cơm, tắm rửa và đi vệ sinh, thời gian còn lại tôi đều nằm trên giường!
Đến tháng thứ bảy, cứ ngỡ đứa bé sắp chào đời an toàn; qua tháng thứ bảy được
vài ngày, tôi đột nhiên đau bụng và ra máu (kiến hồng). Đến bệnh viện thì tử
cung đã mở, hơn nữa ngôi thai lại ngược. Tôi yêu cầu bác sĩ nhất định phải giữ
bằng được đứa bé. Đau đớn ròng rã suốt bốn tiếng đồng hồ, mấy vị bác sĩ và y tá
nỗ lực hết sức mà đứa bé vẫn không chịu ra, tôi vẫn kiên quyết yêu cầu giữ con!
Lại cố gắng thêm hai tiếng nữa, thậm chí phải mời cả bác sĩ trưởng khoa đến
nhưng vẫn không có cách nào đưa đứa bé ra ngoài; tôi cảm thấy máu chảy ngày
càng nhiều. Lúc này, một vị bác sĩ lớn tuổi lao vào phòng sinh hét lên với tôi:
"Đến nước này rồi mà cô còn đòi giữ con, cô không cần mạng nữa à!" Cuối
cùng, chính vị bác sĩ đó đã trực tiếp phẫu thuật; đứa bé được đưa ra ngoài
nhưng đã không thể cứu được nữa!
Trải qua hai lần sảy thai muộn, tôi bắt đầu sống như một cái
xác không hồn, ngày nào cũng rửa mặt bằng nước mắt! Các vị có biết, khi một người
mẹ ở cữ, sữa mẹ cứ tuôn chảy mà không có con để bú, đó là nỗi đau đớn đến nhường
nào không? Rất nhiều lúc tôi trốn vào một góc khóc một mình! Trái tim đau đớn
như muốn vỡ vụn! Nhưng tôi càng cảm thấy có lỗi với bố mẹ chồng hơn! Tim tôi dù
có đau đớn đến mấy, khoảnh khắc nhìn thấy họ, tôi vẫn liên tục nói lời xin lỗi!
Khoảng thời gian đó, tôi không dùng lời nào để diễn tả hết nỗi
đau trong lòng. Tôi biết người nhà cũng đau buồn không kém! Tôi không dám bộc lộ
nỗi đau trước mặt họ! Một ngày nọ, tôi đến ngôi miếu thờ Quán Thế Âm Bồ Tát
trong làng, quỳ gối khóc lóc thảm thiết cầu xin Bồ Tát từ bi xót thương cho
con, con nên làm thế nào đây? Khi lạy xong chuẩn bị rời đi, tôi phát hiện trên
bàn thờ Phật có thêm một tờ giấy màu vàng, trên đó viết ba chữ: "Đại Bi
Chú"! Về nhà lên Baidu tìm kiếm mới biết, hóa ra đó là kinh văn của Quán
Thế Âm Bồ Tát, hơn nữa còn giúp nâng cao năng lượng của bản thân. Lúc đó cơ thể
tôi gần như suy sụp hoàn toàn, đi phỏng vấn xin việc còn ngất xỉu ngay tại công
ty người ta! Thực ra lúc đó tôi đã biết đến Pháp môn của Sư phụ, chỉ là nghĩ
mình không thể nào biết niệm kinh nên chưa tu tập; sau đó tôi nghĩ mình nên thử
xem sao!
Kết quả là tôi rất nhanh chóng thuộc chú Đại Bi, tôi niệm
ngày niệm đêm. Lúc mới bắt đầu niệm Ngôi Nhà Nhỏ, tôi cảm thấy vô cùng, vô cùng
mệt mỏi, mỗi ngày chỉ niệm được tối đa nửa tờ. Vì mới bắt đầu tu, chưa đạt đến
cảnh giới tu nội tâm, tôi tu chỉ với một lòng mong mỏi cầu con! Cho nên tâm trạng
rất nóng vội và bất an! Lần này tôi đến một bệnh viện lớn để kiểm tra tổng
quát, trải qua hết ca phẫu thuật này đến ca phẫu thuật khác! Tiêu tốn hàng chục
ngàn nhân dân tệ, thuốc Đông y, Tây y chưa ngày nào ngừng uống!
Tu chưa đầy nửa năm, tôi lại vội vàng mang thai! Thực ra lúc
đó tôi tu hành cũng theo kiểu "ba ngày đánh cá, hai ngày phơi lưới"!
Lần này, ngay từ lúc mới mang thai, tôi đã nhập viện tại bệnh viện tuyến tỉnh tốt
nhất để an thai! Hơn nữa, nghe theo lời khuyên của bác sĩ, tôi đã phẫu thuật
khâu eo tử cung để phòng ngừa sảy thai. Sợ thuốc mê sẽ ảnh hưởng đến thai nhi,
tôi chủ động yêu cầu phẫu thuật không gây mê. Chịu đựng đủ mọi đau đớn chỉ vì
mong con được bình an khỏe mạnh! Tiếc thay sự việc trái với mong muốn, lần mang
thai này chưa đầy 20 tuần tôi lại vỡ ối và sảy thai! Khi đứa bé tuột khỏi cơ thể,
tôi ôm chầm lấy mẹ khóc nức nở: "Mẹ ơi, con đau lòng quá! Sau này con biết
sống sao đây?" Mẹ tôi bảo: "Đứa bé không có duyên với con, nó không
theo con cũng đành chịu thôi!" Lần này, các chuyên gia của Bệnh viện Phụ sản
tuyến tỉnh khuyên tôi đừng cố sinh nữa, hãy xin một đứa con nuôi đi! Những ngày
tháng đó, tôi thực sự chỉ muốn kết liễu cuộc đời mình! Trái tim tôi từng giờ, từng
phút, từng giây đều đau đớn như rỉ máu! Tôi không cam tâm, vô cùng không cam
tâm!
Đúng lúc này, tôi lại nhớ đến Pháp môn Tâm linh! Tôi quyết định
không bận tâm đến chuyện con cái nữa, tôi phải toàn tâm toàn ý tu hành! Nghiệp
chướng ngày nào chưa tiêu trừ, tôi không thể nào thành công được; tôi đã chịu đựng
quá nhiều đau khổ rồi, còn liên lụy đến người nhà phải chịu khổ cùng tôi! Và cả
những đứa con tội nghiệp của tôi nữa, là mẹ có lỗi với các con! Lúc đó tôi chỉ
cầu xin Bồ Tát giúp tôi tăng cường năng lượng, tôi chỉ mong được trả nợ nhiều
hơn, ngoài ra không cầu xin gì khác!
Mỗi ngày chưa đến 6 giờ sáng tôi đã thức dậy niệm kinh! Cứ
như vậy, tôi tu ngày càng tốt lên! Nửa đêm hay những lúc ở một mình, tôi không
còn khóc thầm nữa, tính tình cũng trở nên vui vẻ, cởi mở hơn rất nhiều! Căn bệnh
phụ khoa mỗi năm tái phát mấy lần của tôi, vậy mà từ lúc đó trở đi không hề tái
phát nữa, mỗi lần đi khám đều rất bình thường! Sau đó tôi nghĩ thông suốt,
không còn bám chấp vào chuyện sinh con nữa. Tôi tin rằng chỉ cần tôi tu hành
cho tốt, Bồ Tát đều biết tôi đang cần điều gì! Tôi dự định hai năm sau mới sinh
con; những ngày tháng niệm kinh khiến tâm hồn tôi vô cùng tự do, thư thái! Lúc
đó tôi đã phát nguyện mỗi ngày mùng 1 và 15 Âm lịch đều đi phóng sinh, mỗi
tháng ăn chay hai ngày! Không sát sinh nữa! Ngôi Nhà Nhỏ niệm từng đợt từng đợt!
Những dịp lễ Phật lớn đều đến chùa phát sách kết duyên!
Kết quả là, một năm trôi qua như vậy, có một đêm tôi nằm mơ
thấy Sư phụ hiện về nói với tôi: "Cái này giao cho con" (một cuốn sổ
giống như sổ sinh tử). Tôi mở ra xem, Sư phụ đã ký tên và đóng dấu vào mục cầu
con! Đây chẳng phải là điều tôi hằng ao ước sao? Sau đó, tôi thấy trong sổ còn
rất nhiều mục khác liên quan đến những chuyện ở nhân gian, ví dụ như: tuổi thọ,
tiền tài... Sư phụ nói: "Dựa theo sự tu hành hiện tại của con, ta chỉ có
thể phê duyệt cho con một mục!" Tôi vô cùng kích động: "Con không cần
gì khác, con chỉ muốn mục này thôi!" Tỉnh giấc, tôi biết thời cơ cầu con của
mình đã chín muồi một chút rồi! Nhưng tôi vẫn cảm thấy mình làm chưa đủ tốt,
chuyện con cái tôi cũng không vội, hy vọng tu tốt hơn chút nữa rồi mới tính! Từ
lúc đó, tôi bắt đầu tăng số lượng công khóa lên. Tôi chưa bao giờ sống một cuộc
sống kỷ luật và nề nếp đến vậy!
Lại nửa năm nữa trôi qua, một đêm tháng 5 năm nay, tôi mơ thấy
hai vị Hộ pháp thần đến nhà, vừa bước vào đã hối thúc: "Cô nhanh lên!
Nhanh lên, đến giờ rồi!" Sau đó họ nói ra một thời gian! Khoảng ba tháng
sau! Cụ thể là chuyện gì họ cũng không nói. Lúc này tôi nhìn thấy trên bầu trời
xuất hiện hai con rồng lớn đang mỉm cười với tôi; nhìn thấy những con rồng khổng
lồ như vậy tôi hơi sợ, chạy vào nhà gọi tất cả mọi người ra xem. Cả nhà đều trầm
trồ tán thán: "Chao ôi! Thật trang nghiêm!" Tiếp theo, một người phụ
nữ mặc áo trắng dẫn theo một bé trai và một bé gái khoảng vài tuổi bước vào nhà
tôi. Bà ấy nói: "Mỗi người ít nhất 50 tệ!" Bà ấy còn nói một mốc thời
gian, giống y hệt thời gian mà hai vị Hộ pháp thần vừa nói! Cả nhà tôi nhìn thấy
bà ấy đều thắp hương và quỳ xuống lạy, người nhà cũng chia cho tôi vài nén
hương! Lúc đó tôi còn đặc biệt vô lễ, nói lớn: "Rốt cuộc bà là ai? Sư phụ
Đài Trưởng của chúng tôi đã dạy, người học Phật không được gom góp tiền tài (liễm
tài)!" Nghe xong bà ấy mỉm cười, rồi toàn bộ những nén hương trên tay tôi
đều uốn cong lại, cuộn tròn từng vòng từng vòng như những bông hoa đang nở rộ!
Tôi chợt nhận ra lời Sư phụ từng dạy, hương uốn cong chính là Bồ Tát hiển linh
giá lâm! Tỉnh dậy tôi mới chợt bừng tỉnh ngộ, đó chẳng phải là Quán Thế Âm Bồ
Tát hiển linh ban con sao? Sao tôi lại ngốc nghếch đến mức trong mơ không nhận
ra Quán Thế Âm Bồ Tát chứ! Kết quả là, đúng vào khoảng thời gian mà các vị ấy
nói, tôi thực sự đã mang thai! Thực ra lúc đó tôi vẫn chưa chuẩn bị tâm lý để
có con nhanh đến vậy! Có thể nói là một sự bất ngờ! Nhưng con đã đến thì tôi phải
đón nhận, tôi biết Bồ Tát sẽ phù hộ cho tôi!
Sau đó, quá trình mang thai không hề nhẹ nhàng như tôi tưởng
tượng. Vì có dấu hiệu dọa sảy thai, tôi phải nhập viện ba lần, tổng cộng nằm viện
ba tháng! Mỗi lần nửa đêm cảm thấy không khỏe phải chạy vào viện an thai, tôi
không hề oán thán. Tôi thầm nghĩ: "Chắc chắn kiếp trước mình đã làm những
việc hại người tương tự, nên kiếp này mới phải gánh chịu quả báo và chịu khổ
như vậy; mình cam tâm tình nguyện gánh chịu!" Sau đó, nhờ sự giúp đỡ của
sư huynh Tiểu Trương ở Ban Thư ký, tôi nhận được lời khai thị của Đài Trưởng: Bệnh
sảy thai quen dạ của tôi là do nghiệp chướng gia tộc quá lớn gây ra; cần phải
không ngừng làm công đức và niệm Lễ Phật để sám hối mới có thể bình an vượt
qua! Mỗi lần cảm thấy không khỏe, có dấu hiệu dọa sảy thai, tôi liền phát nguyện
niệm Ngôi Nhà Nhỏ và phóng sinh; lập tức các triệu chứng thuyên giảm hẳn! Trong
suốt thai kỳ, các bài công khóa của tôi đều là 49 biến, Lễ Phật 5 biến! Nhờ sự
giúp đỡ của hơn hai mươi đồng tu như sư huynh Hải Yến, sư huynh Tuyết Băng, sư
huynh Bân Bân, sư huynh Bi Viễn, sư huynh SCH, sư huynh Mộc Ngư, sư huynh A
Linh, sư huynh Bình, sư huynh Sơ Học, sư huynh Thiện Hộ Niệm... trong thời kỳ
mang thai này, tôi đã đốt được 1000 tờ Ngôi Nhà Nhỏ, phóng sinh không dưới 2000
con cá. Tôi phát nguyện sau khi mẹ tròn con vuông, trong vòng một năm sẽ phóng
sinh 3000 con cá, độ 3000 người, in 3000 cuốn kinh sách, và từ nay về sau không
ăn hải sản tươi sống nữa! Cứ như vậy!
Vượt qua từng tháng từng tháng, vào ngày 4 tháng 5, đứa con
đã bình an đến bên tôi. Vì sinh non so với ngày dự sinh, em bé hơi nhỏ, chỉ nặng
2,4 kg (4 cân 8 Trung Quốc)! Thai đủ tháng bình thường phải từ 2,5 kg (5 cân)
trở lên! Cho nên cháu phải nằm lồng ấp vài ngày! Sau đó bố tôi kể lại, ông đặc
biệt lo sợ cái thai này của tôi không giữ được, nên đã tự ý đi tìm người có khả
năng ngoại cảm để hỏi. Người đó bảo bố tôi: "Cái thai này không sao đâu,
Quán Thế Âm Bồ Tát vẫn luôn bảo bọc đứa trẻ này!" Trước đây bố tôi không
hiểu việc tôi tu tâm niệm kinh, bây giờ không những tin rồi mà ông còn bắt đầu
niệm kinh nữa! Hèn chi trong lúc tôi mang thai, ông cứ khác thường nhắc nhở tôi
phải niệm kinh nhiều vào và cầu xin Quán Thế Âm Bồ Tát!
Tuy thời gian giữ thai vô vàn gian nan, nhưng tôi vô cùng
tri ân Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi đã cho tôi quen biết một nhóm bạn đạo
(Phật hữu) tuyệt vời! Vì tôi, họ đã thêm việc trợ niệm cho tôi vào công khóa
hàng ngày của họ, kéo dài cho đến tận khi con tôi bình an chào đời. Khi nghe
tin tình hình của tôi không tốt, họ lập tức xin nghỉ phép đi phóng sinh cho
tôi. Trong suốt thai kỳ, cứ đến ngày mùng 1 và 15 hàng tháng, các chị em lại đi
phóng sinh giúp tôi! Có đồng tu thậm chí vì tôi mà cầu xin Bồ Tát hồi hướng
công đức đi phát sách kết duyên của mình cho tôi, mong tôi sinh nở mẹ tròn con
vuông!
Tôi hiểu rất rõ, nếu không có sự giúp đỡ của mọi người,
không có Sư phụ, không có Phật pháp! Tôi căn bản không bao giờ có thể trở thành
một người mẹ! Bây giờ nghĩ lại những ngày tháng chưa biết đến tu hành trong quá
khứ, nó giống hệt như một giấc mơ. Thực ra trong quá trình tu hành, tôi cũng từng
vấp phải những sai lầm, như tu vì một mục đích vụ lợi nào đó. Nhưng sau này, đọc
nhiều Bạch Thoại Phật Pháp của Sư phụ, tôi dần hiểu ra rằng, năng lượng lớn nhất
của sự tu hành bắt nguồn từ việc tu sửa nội tâm! Luôn nhắc nhở bản thân phải diệt
trừ Tham - Sân - Si; giữ gìn Thân - Khẩu - Ý! Bắt đầu thực hành từ những điều
nhỏ nhặt nhất mới có thể làm cho bước chân tu hành của chúng ta vững chãi! Chỉ
cần kiên trì, Bồ Tát nhất định sẽ ban cho chúng ta những gì chúng ta mong muốn!
Khi đã làm mẹ, tôi mới nhận ra rằng: tấm lòng người mẹ yêu thương, lo lắng cho
con cái, cũng giống hệt như tấm lòng Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát yêu thương mỗi chúng
sinh! Và cũng giống hệt như tình yêu Sư phụ dành cho chúng ta; Người luôn khổ
tâm khuyên nhủ: "Sư phụ cầu xin các con, hãy chăm chỉ niệm kinh, chăm chỉ
tu hành đi!" Ở đây, một lần nữa con xin tri ân Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại
bi đã cho con kiếp này có phước duyên được biết đến Phật pháp! Một lần nữa tri
ân Sư phụ đã vì chúng con mà ngày đêm hy sinh không quản mệt nhọc! Con xin hứa
với Bồ Tát: Đời này kiếp này vĩnh viễn theo Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi và
Sư phụ tu tâm tu hành, không bao giờ lui bước!
Lúc viết những dòng chia sẻ này, nhớ lại những chuyện đã
qua, nước mắt tôi vẫn không ngừng rơi. Một phần vì xót xa cho những nỗi khổ
trong quá khứ, nhưng phần lớn là sự tri ân! Hôm nay khi chỉnh sửa bài viết, nước
mắt tôi vẫn giàn giụa! Nhưng đây là lần đầu tiên tôi ngửi thấy những luồng
hương trầm thoang thoảng. Bồ Tát thấu rõ từng lời nói, từng hành động của chúng
ta! Tri ân Nam mô Đại từ Đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát!
Đồng tu họ Tăng ở Quảng Đông
5. Tu tập Pháp môn Tâm linh, ôn thi Cao học lần nữa và đỗ thành công!!!
Trong thời gian học đại học, mãi đến học kỳ một của năm thứ
tư tôi mới có ý định thi cao học (nghiên cứu sinh). Lúc đó lại đúng vào dịp kỳ
thi tuyển sinh cao học có sự cải cách, thời gian ôn tập trước sau chưa đầy 3
tháng. Kết quả cuối cùng được công bố, điểm số của tôi chênh lệch rất xa so với
trường mục tiêu, và tôi cũng bỏ lỡ cơ hội được điều nguyện vọng.
Trong quá trình đi làm, nhờ có mẹ mà tôi biết đến Pháp môn
Tâm linh. Tôi đã nghe rất nhiều bản ghi âm của Đài Trưởng, thông qua trải nghiệm
của các đồng tu, tôi dần hiểu ra tại sao năm đó vận số của mình lại lận đận,
luôn bỏ lỡ những cơ hội tốt. Sau một năm làm việc, tôi kiên quyết xin nghỉ việc,
chuẩn bị dốc toàn lực ôn thi cao học một lần nữa. Có lẽ là do Bồ Tát dẫn đường
chỉ lối, một tuần sau khi tôi nghỉ việc, một lớp ôn thi rất nổi tiếng khai giảng.
Dù ngày nào cũng phải học tập với cường độ cao, nhưng tôi vẫn kiên trì hoàn
thành công khóa niệm kinh hàng ngày. Chú Đại Bi giúp bổ sung năng lượng, Tâm
Kinh giúp khai mở trí tuệ, Chú Chuẩn Đề để đạt được mong ước thi đỗ cao học, Lễ
Phật Đại Sám hối Văn giúp tiêu trừ nghiệp chướng của bản thân, Giải Kết Chú
giúp hóa giải những oan kết, Chú Vãng Sinh để siêu độ cho những sinh linh bé nhỏ
mà tôi từng ăn hoặc làm hại trong quá khứ. Bởi vì tôi biết, bất kỳ khâu nào làm
không tốt đều có thể khiến kỳ thi của tôi thất bại! Mẹ tôi ở nhà cũng giúp tôi
niệm kinh (Tâm Kinh, Chú Đại Bi, Như Ý Bảo Luân Vương Đà La Ni, và niệm thêm Lễ
Phật Đại Sám hối Văn) cùng với Ngôi Nhà Nhỏ; mùng 1 và 15 hàng tháng đều đi
phóng sinh với số lượng lớn, và nhiều lần quyên góp tiền công đức để trợ ấn
kinh sách.
Trong thời gian ôn thi, ngoài đợt Tết Trung Nguyên (tháng 7
Âm lịch) bị vong linh (linh tính) quấy rầy, ho không dứt — sau đó cũng nhờ niệm
kinh mà hóa giải được; còn lại tôi không hề mắc bệnh tật gì. Đầu tiên, về mặt
thể chất đã được đảm bảo vững chắc.
Năm nay số lượng người đăng ký dự thi vào chuyên ngành của
tôi tăng thêm 9 vạn người. Hai tháng cuối cùng làm bài thi thử, điểm số của tôi
vẫn còn khoảng cách rất xa so với điểm chuẩn của năm ngoái. Dù biết đề thi
chính thức sẽ dễ hơn đề thi thử, nhưng tôi vẫn không biết làm thế nào để bứt
phá nâng cao điểm số của mình một cách đột ngột; huống hồ sự cạnh tranh năm nay
còn khốc liệt hơn rất nhiều. Mẹ động viên tôi: "Chúng ta có sự gia trì của
Bồ Tát, nhất định không vấn đề gì đâu." Sau đó, mẹ lại tăng cường số lượng
phóng sinh và số lần trợ ấn kinh sách cho tôi. Trước kỳ thi, mẹ còn đốt cho tôi
hai tờ Kinh văn Tự tu Chú Chuẩn Đề và hai tờ Tâm Kinh. Trước hai tuần diễn ra
vòng thi sơ khảo, tôi phát nguyện ăn chay trường cho đến khi thi đỗ cao học
thành công.
Bài thi tự luận buổi sáng tôi chưa viết xong, trong lòng
cũng không nắm chắc có đỗ được hay không. Tôi liền khấn nguyện với Bồ Tát, trước
khi có điểm thi chính thức, tôi sẽ đích thân tự niệm 30 tờ Ngôi Nhà Nhỏ gửi cho
người cần kinh của mình, và đăng ký tham gia Pháp hội bái sư ở Malaysia (trước
đây chủ yếu là mẹ niệm Ngôi Nhà Nhỏ cho tôi, tôi chỉ niệm công khóa, rất ít khi
niệm Ngôi Nhà Nhỏ). Đồng thời, trước khi có điểm, tôi phát nguyện niệm Chú Chuẩn
Đề 108 biến, Giải Kết Chú 49 biến để hóa giải oan kết với giám khảo chấm thi;
các bài công khóa khác vẫn duy trì bình thường. Mẹ tôi vẫn luôn trợ niệm Tâm
Kinh, Lễ Phật và Như Ý Bảo Luân Vương Đà La Ni cho tôi. Tiếp đó, ngoại trừ lúc
đi phóng sinh, cả tháng trời tôi không bước chân xuống lầu, một lòng ở nhà niệm
kinh, niệm Ngôi Nhà Nhỏ; các buổi tụ tập họ hàng dịp Tết tôi cũng đều từ chối.
Khi điểm thi cao học được công bố, tôi không dám tin vào mắt
mình: cao hơn điểm thi thử đến hơn bốn mươi điểm! Nhưng vui mừng là vậy, tôi vẫn
phải giữ bình tĩnh; bởi vì điểm số của tôi vừa vặn chạm mốc điểm chuẩn dự đoán,
vẫn còn khá nguy hiểm. Thế là tôi lại phát nguyện niệm thêm 21 tờ Ngôi Nhà Nhỏ.
Vài ngày sau khi có điểm, tôi lên đường tham dự Pháp hội Malaysia và làm lễ bái
sư. Đài Trưởng từng nói, những người tham gia Pháp hội trở về đều sẽ gặp chuyện
tốt lành; Người còn nói, trong thời gian diễn ra Pháp hội, vì có rất nhiều chư
Phật Bồ Tát và Hộ pháp thần quang lâm, nên cầu xin điều gì cũng vô cùng linh
nghiệm. Vì vậy, trong thời gian tham dự Pháp hội, bố mẹ tôi đã quyên góp 500 tệ
tiền công đức cầu cho kỳ thi cao học của tôi, bản thân tôi cũng quyên góp thêm
1000 tệ. Ngày tôi từ Pháp hội trở về đúng vào mùng 8 tháng 2 Âm lịch, ngày Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni xuất gia. Vừa xuống máy bay về đến nhà, tôi và mẹ liền đi
phóng sinh ngay. Không lâu sau, điểm chuẩn chính thức được công bố; không phải
là vừa chạm vạch, mà điểm của tôi cao hơn điểm chuẩn 4 điểm!
Tiếp theo là quá trình chuẩn bị căng thẳng cho vòng thi phúc
khảo (thi vấn đáp). Trong công khóa, tôi vẫn duy trì ba bài kinh cơ bản không
gián đoạn; Giải Kết Chú để hóa giải oan kết với giám khảo vấn đáp, Tiêu Tai Cát
Tường Thần Chú để hóa giải mọi tai ương trong kỳ thi. Trước ngày thi phúc khảo
một ngày, để chắc chắn hơn, tôi lại phát nguyện niệm 21 tờ Ngôi Nhà Nhỏ cho người
cần kinh liên quan đến kỳ thi lần này, hoàn thành trước ngày mùng 1 tháng 5.
Ngày 19 tháng 2 Âm lịch, ngày Đản sanh Quán Thế Âm Bồ Tát, chúng tôi lại đi
phóng sinh với số lượng lớn; phóng sinh 1000 tệ tiền cá, đốt hai tờ Kinh văn Tự
tu "Tâm Kinh" và "Chú Chuẩn Đề". Mẹ tôi luôn lo sợ tôi
không đủ công đức, vốn dĩ định thi đỗ xong mới quyên góp 1000 tệ tiền công đức,
nhưng nhân ngày Đản sanh Phổ Hiền Bồ Tát, mẹ đã quyên góp trước cho tôi luôn.
Vô cùng tri ân tấm lòng khổ tâm của mẹ!!!
Quả thực Bồ Tát đã phù hộ. Ngay trong ngày thi phúc khảo,
lúc đi khám sức khỏe, chúng tôi mới biết thứ tự thi vấn đáp và thi viết đã bị đảo
ngược. Rất nhiều thí sinh bị bất ngờ, trở tay không kịp; còn tôi lại vô tình
đêm hôm trước đã ôn tập kỹ những nội dung cần xem. Kết quả trong bài thi viết
có hai câu hỏi tự luận lớn, đều rơi đúng vào những nội dung tôi đã chuẩn bị vô
cùng chu đáo. Thực sự tri ân Bồ Tát!
Từ khi tu tập Pháp môn Tâm linh, tôi cảm thấy mọi thứ bỗng
nhiên trở nên suôn sẻ thuận lợi; dù giữa chừng cũng có những trở ngại nhỏ,
nhưng đều có thể hóa giải. Trải qua 9 tháng ròng rã ôn thi cao học này, tôi
càng thêm vững vàng, cắm cúi tu tâm niệm kinh; đi đến chặng đường này, niềm tin
của tôi đối với Pháp môn Tâm linh càng thêm kiên định. Sau này tôi sẽ tiếp tục
nỗ lực tinh tấn, làm một người đệ tử đủ tiêu chuẩn của Đài Trưởng, tích cực hoằng
pháp độ nhân! Tri ân!
[Lời chia sẻ của mẹ đồng tu] Tôi là mẹ của thí sinh này. Con
gái tôi có thể thi đỗ cao học thực sự là một điều không hề dễ dàng; bởi vì tôi
hiểu rõ năng lực học tập của cháu, nếu không có sự bảo bọc của Quán Thế Âm Bồ
Tát và sự gia trì của Sư phụ, cháu rất khó có thể thi đỗ. Tôi làm công việc
liên quan đến tâm lý học. Hồi cháu thi đại học, tôi rất mong cháu có thể nâng
cao điểm số để đỗ vào trường đại học hạng nhất. Trong quá trình ôn thi và đi
thi, tôi liên tục niệm những câu ám thị tâm lý cho cháu, bỏ tiền cho cháu đi học
thêm, muốn nâng cao điểm số cho cháu; nhưng kết quả thi đại học vẫn y như điểm
thi thử bình thường, chẳng có gì thay đổi cả.
Lần này tôi trợ niệm cho kỳ thi cao học của con gái; ngoài
việc niệm Ngôi Nhà Nhỏ, bình thường, tôi còn niệm thêm các bài công khóa cho
cháu:
"Chú Đại Bi" — tăng cường năng lượng, tràn đầy tự
tin, ôn tập hiệu quả;
"Tâm Kinh" — khai mở trí tuệ, giữ tâm trạng bình
hòa, ôn tập hiệu quả. Vì tố chất tâm lý của cháu bình thường khá kém, dễ bị dao
động; đặc biệt là sau những lần thi thử kết quả không như ý. Có một lần thi thử,
giáo viên còn làm mất bài thi của cháu; lại có lần vô cớ bị vấp ngã một cú đau
điếng bởi cây lau nhà trong nhà vệ sinh...
Sư phụ từng dạy: Muốn cầu mọi việc suôn sẻ, hãy niệm nhiều Lễ
Phật Đại Sám hối Văn. Vì vậy, tôi còn niệm thêm "Lễ Phật Đại Sám hối
Văn" cho cháu; và niệm "Như Ý Bảo Luân Vương Đà La Ni", mong
cháu được thuận lợi hơn; do Đài Trưởng từng nói người có công đức mới có thể niệm
bài kinh này.
Sợ cháu không đủ công đức, tôi điên cuồng đi phóng sinh cho
cháu, làm nhiều công đức trợ ấn kinh sách Pháp môn Tâm linh; tôi đem toàn bộ
công đức độ 125 người và công đức đi dự Pháp hội Malaysia của tôi tặng hết cho
cháu; đồng thời phát nguyện trong năm 2014, dưới sự gia trì của Bồ Tát và Sư phụ,
sẽ đi độ 200 người; và phát nguyện nếu con gái thi đỗ, nhất định sẽ chia sẻ câu
chuyện của cháu lên blog của Đài Đông Phương, để thu hút thêm nhiều chúng sinh
có duyên đến tu tập Pháp môn Tâm linh của Quán Thế Âm Bồ Tát, tiêu trừ nghiệp
chướng, thoát khổ được vui.
Ngay khi cháu bắt đầu ôn thi, tôi đã phát nguyện 49 tờ Ngôi
Nhà Nhỏ cho kỳ thi này + con gái tự phát nguyện 30 tờ + sau đó cháu lại phát
nguyện thêm hai đợt 21 tờ; tổng cộng là 121 tờ. Hai tuần trước kỳ thi sơ khảo
và phúc khảo, tôi bắt đầu đốt Kinh văn Tự tu (khổ A4) "Chú Chuẩn Đề"
và "Tâm Kinh" cho cháu; tổng cộng 5 tờ "Chú Chuẩn Đề", 4 tờ
"Tâm Kinh". Lúc cháu đang làm bài thi sơ khảo và phúc khảo, tôi thắp
hương, quỳ liên tục trước bàn thờ Bồ Tát để trợ niệm cho cháu, không dám một
giây lười biếng.
Sở dĩ tôi dốc toàn lực giúp con trợ niệm cho kỳ thi cao học
như vậy, không chỉ đơn thuần là mưu cầu một thứ ở nhân gian. Thứ nhất, tôi muốn
thông qua kỳ thi này giúp con gái thêm vững tin vào Pháp môn Tâm linh, thêm
tinh tấn tu hành. Thứ hai, vì em gái tôi từ Canada trở về, tôi đã nói với dì ấy
Pháp môn Tâm linh tốt như thế nào, linh nghiệm ra sao; hy vọng dì ấy có thể tu
học, siêu độ cho đứa con từng sảy thai của mình, và trợ niệm cho hai đứa con
trai đang tuổi dậy thì ngỗ ngược, không nghe lời khiến dì ấy rất đau đầu. Tôi
còn hy vọng sau khi tu học, dì ấy có thể truyền bá Pháp môn Tâm linh tại thành
phố nơi dì ấy sinh sống. Tôi cũng hy vọng chị gái tôi sẽ tu học, niệm Ngôi Nhà
Nhỏ cho đứa con trai bị thiểu năng trí tuệ của bác ấy. Nhưng họ đều nói:
"Đã linh nghiệm như vậy, thì chị cứ niệm cho con gái đỗ nghiên cứu sinh đi
rồi tính tiếp."
Chồng tôi và bố mẹ chồng ở bên này cũng đang đứng ngoài quan
sát: "Nghiên cứu sinh khó thi như vậy, bà cứ ở nhà niệm kinh là có thể
giúp con thi đỗ sao?" Lúc đó tôi nói với bố chồng: "Có Quán Thế Âm Bồ
Tát phù hộ, nhất định sẽ thi đỗ!" Họ đều tưởng tôi đang nói cuồng ngôn, đều
khoanh tay đứng nhìn xem kết quả ra sao.
Trời không phụ lòng người, sự nỗ lực của con gái cộng với sự
trợ niệm của tôi, các đồng tu và người nhà; cháu cuối cùng đã toại nguyện thi đỗ
cao học thành công! Tuy mọi người trong gia đình vẫn chưa hoàn toàn tu tập Pháp
môn Tâm linh, nhưng thông qua sự việc này, họ không còn bài xích nữa, mà đã tin
tưởng và nói tốt về Pháp môn Tâm linh.
Con gái thi đỗ, điều đó rất đáng mừng; nhưng điều khiến tôi
an ủi nhất chính là sự thay đổi trong tính cách của cháu. Thông qua việc tu học
Pháp môn Tâm linh, những đường chỉ tay lộn xộn, vụn vặt trên lòng bàn tay cháu
đã giảm đi rất nhiều. Cháu không còn vì những chuyện nhỏ nhặt mà buồn bực, cáu
gắt vô cớ nữa (nếu không học Pháp môn Tâm linh, tính cách đó của cháu cứ phát
triển tiếp, quả thật không dám tưởng tượng nổi...).
Bây giờ, tính tình cháu trở nên cởi mở, rạng rỡ, không còn
nhìn mọi việc theo hướng tiêu cực nữa. Nhờ xem video và nghe ghi âm của Đài Trưởng,
cháu đã hiểu ra một điều: Mọi việc trên đời không có lý lẽ đúng sai, chỉ có
nhân quả! Nhờ vậy, cháu bớt đi sự soi mói, oán trách; thêm vào đó là sự tự vấn
lương tâm; và biết cách xử lý mọi việc xung quanh một cách đầy trí tuệ. Cháu
còn phát nguyện nguyện làm thiên thủ thiên nhãn của Quán Thế Âm Bồ Tát, giúp Sư
phụ đi độ nhân! Hơn nữa, cháu thường xuyên dâng hoa cúng Bồ Tát, đến cả bố cháu
cũng khen dạo này cháu ngày càng xinh đẹp!
Tự đáy lòng, con xin tri ân sâu sắc Quán Thế Âm Bồ Tát, tri
ân sự gia trì của Sư phụ. Tri ân các đồng tu và người nhà đã trợ niệm cho con
gái; tri ân tất cả các đồng tu đã giúp đỡ con gái trong thời gian tham dự Pháp
hội Malaysia. Tri ân các đồng tu đã chia sẻ những bài học, trải nghiệm tu tập
trên blog; chính những bài chia sẻ của mọi người đã gợi mở sự ngộ đạo của tôi,
củng cố thêm niềm tin trợ niệm của tôi. Tri ân các đồng tu thuộc Ban Thư ký Đài
Đông Phương; nhờ sự cống hiến âm thầm của các vị, tôi mới có thể đọc được nhiều
câu chuyện "tâm tưởng sự thành" vi diệu như vậy; xin cảm ơn các vị!
Muôn ngàn lời nói xin đọng lại thành hai câu:
Nguyện mãi làm thiên thủ thiên nhãn của Quán Thế Âm Bồ Tát,
trợ giúp Lư Quân Hoành Sư phụ hoằng dương Pháp môn Tâm linh; để vô vàn chúng
sinh có duyên được tu học Pháp môn, nhân tâm hướng thiện, tiêu trừ nghiệp chướng,
thoát khổ được vui.
Nguyện vĩnh viễn đi theo Lư Quân Hoành Sư phụ, nhất môn thâm
nhập, dũng mãnh tinh tấn, một kiếp tu thành, vĩnh viễn đoạn trừ luân hồi!!!
Đồng tu chắp tay tri ân!!!
6. Đệ tử mang lòng tri ân viết gửi Sư phụ
Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát,
Kính thưa Sư phụ tôn kính,
Kính chào các sư huynh Ban Thư ký:
Đệ tử Trần Tuệ Điềm, xin vấn an Sư phụ, xin gửi lời chào đến
các sư huynh.
Hôm nay là năm thứ mười tám con đến với nhân gian, cũng như
thể chỉ mới trôi qua mười tám ngày. Trải qua muôn vàn gian nan thử thách mới có
duyên hạnh ngộ Pháp môn Tâm linh. Đệ tử thấu hiểu sâu sắc rằng thân người khó
được, Phật pháp khó nghe; con sẽ càng thêm trân quý Pháp môn Tâm linh của Quán
Thế Âm Bồ Tát mà Sư phụ đã truyền dạy. Trong thời kỳ mạt pháp, tu hành quả thực
không dễ dàng; tri ân vì có Sư phụ ở bên, nên tuệ mạng của chúng con mới được
tiếp nối... Nhờ gặp được Phật pháp, chúng con mới biết xả bỏ những điều hư ảo
giả tạm, thu gặt những giá trị chân thực. Nhờ gặp được bậc minh sư, chúng con mới
có thể phước tuệ song tu (tu cả phước báu và trí tuệ), tự độ độ nhân. Ngẫm lại,
Phật duyên có được nào đâu dễ dàng; phải trải qua nhiều kiếp tu hành mới có phước
phần trở thành đệ tử của Quán Thế Âm Bồ Tát. Từ thời nhà Đường con đã kết duyên
cùng Sư phụ; nhớ lại hình ảnh Đại sư Tăng Già với lòng đại vô úy ngồi trên tòa
sen báu, Ngài là vị Đại Bồ Tát với định lực vô cùng thâm hậu đã từ bi khai thị
cho con...
Nếu không tu học Pháp môn Tâm linh, đệ tử sẽ không bao giờ nằm
mơ thấy từng kiếp sống trong quá khứ của mình, cũng sẽ không liễu ngộ (hiểu thấu)
được luật nhân quả, lại càng không thể tự độ độ nhân. Đệ tử vô cùng tri ân! Cha
mẹ sinh dưỡng hình hài, Sư phụ giáo dưỡng bản tính chân thực của chúng con. Việc
cứu vớt linh hồn, tuệ mạng mới thực sự là đại sự nghiệp mang lại lợi ích lớn
lao cho chúng sinh. Đệ tử nguyện bước theo sát gót Sư phụ đi độ hóa những người
có duyên. Đệ tử đã phát nguyện sẽ quảng kết thiện duyên rộng khắp; những thiện
duyên được gieo trồng này sẽ không trở thành những vướng bận thiện nghiệp trong
vòng luân hồi, mà sẽ trở thành hạt giống Bồ đề để độ hóa chúng sinh, cầu mong
cho tất cả chúng sinh đều sớm ngày thành Phật.
Nhớ lại khoảng thời gian chưa biết đến Phật pháp, chúng con
thường dùng những phương thức của nhân gian để ăn mừng sinh nhật. Từ khi tu học
Pháp môn Tâm linh, đệ tử không còn mua bánh sinh nhật, không thắp nến nữa... Bởi
vì có thêm bao nhiêu ngày kỷ niệm đi chăng nữa cũng vô ích; nếu biết dụng tâm sống
trọn vẹn mỗi ngày, phát Bồ đề tâm cứu độ chúng sinh, thì điều đó còn giá trị
hơn bất kỳ ngày kỷ niệm nào. Thậm chí không cần nói đến giá trị, bởi vì mọi
công đức phát tâm đều dùng để mang lại lợi lạc cho chúng sinh. Con tin rằng, đi
theo Quán Thế Âm Bồ Tát, nhất định sẽ độ hóa được vô số người có duyên, cùng
nhau chứng ngộ quả vị Bồ đề.
Đệ tử được gặp Sư phụ khi vẫn chưa tuổi thành niên, được gặp
gỡ bao nhiêu sư huynh tốt bụng ở Đài Đông Phương. Con đã ăn chay nhiều năm, bắt
đầu ăn chay từ năm 2009; sau khi ăn chay con bắt đầu niệm kinh. Đến thời cấp
hai, sau khi niệm Tâm Kinh, con có duyên được biết đến Pháp môn Tâm linh của Đại
từ Đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát; đây chính là hồng ân tuyệt vời nhất. Con bắt đầu
đi độ nhân từ năm 2010. Dù ban đầu số người độ được còn ít ỏi, nhưng qua những
năm tháng đó, con đã tích lũy được không ít kinh nghiệm. Những lời khai thị từ
bi của Sư phụ, sự chỉ dẫn tận tình của các sư huynh Đài Đông Phương, sự giúp đỡ
lẫn nhau của các vị đồng tu; không có điều gì là không khiến con cảm động,
không có điều gì là không để con học hỏi, không có điều gì không phải là
"tăng thượng duyên"... Mạt học (kẻ hậu bối) vô cùng tri ân!
Những ngày sinh nhật trong quá khứ, con đã dùng rất nhiều tư
duy của nhân gian để khiến bản thân trông có vẻ trưởng thành hơn ở bề ngoài,
nhưng tâm hồn lại không hề lớn lên, cảnh giới chưa chắc đã được nâng cao. Nhưng
từ khi học Phật, mỗi ngày con đều có thể thông qua việc học Bạch Thoại Phật
Pháp để tôi luyện bản thân, chứng ngộ bản tính, lau sáng viên ngọc Ma Ni (viên
ngọc như ý vô giá) của chính mình, phản phác quy chân (trở về với bản tính chân
thật). Mỗi bài Bạch Thoại Phật Pháp chính là lời khai thị tuyệt vời nhất dành
cho đệ tử; sự động viên và gia trì từ Pháp thân của Sư phụ chính là món quà quý
giá nhất dành cho đệ tử. Mạt học không cầu xin bất cứ điều gì; những thứ cầu
xin được đều là giả tạm, những thứ tu hành mà có mới là chân thật. Con nghĩ Sư
phụ chắc chắn rất vui khi thấy chúng con phát nguyện đi cứu độ chúng sinh, bởi
vì sức nặng của nguyện lực nằm ở cường độ của nó.
Trong những tháng ngày sắp tới, đệ tử nhất định sẽ càng thêm
"như lý bạc băng" (cẩn trọng như đi trên băng mỏng); thực hành Từ -
Bi - Hỷ - Xả; nỗ lực độ mình độ người, cứu vớt những chúng sinh có duyên! Nguyện
mãi bước theo Quán Thế Âm Bồ Tát, cẩn tuân những lời giáo huấn của Sư phụ. Đệ tử
sẽ không ngừng tu tâm tu đức, hy vọng từng bước tiến vững chắc, mang lại lợi lạc
to lớn hơn cho chúng sinh, viên mãn quả vị Bồ đề.
Tri ân Nam mô Đại từ Đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát! Tri ân Sư phụ
đại từ đại bi!
Tri ân các sư huynh Ban Thư ký! Tri ân tất cả mọi tăng thượng
duyên!
Đệ tử Trần Tuệ Điềm kính dâng với lòng tri ân nhân dịp tuổi
trưởng thành.
7. Pháp môn Tâm linh giúp gia đình tôi trả hết 75 vạn (750.000 NDT) tiền nợ
chỉ trong nửa năm
Pháp môn Tâm linh là phương thuốc thần tiên cứu đời. Kể từ
khi tu học Pháp môn Tâm linh vào tháng 4 năm 2013, thông qua Ba Báu Vật của
Pháp môn: Phát Nguyện, Phóng Sinh, Niệm Ngôi Nhà Nhỏ; tôi đã thay đổi được sức
khỏe, tinh thần và hoàn cảnh gia đình của chính mình. Nếu không có Pháp môn Tâm
linh, sẽ không có một tôi lạc quan, tự tin như hiện tại.
Trước đây, tinh thần tôi luôn uể oải, ngày nào cũng ủ dột, sầu
não. Mỗi buổi chiều, tôi có thể ngủ vùi từ 1 giờ trưa đến 4-5 giờ chiều; luôn
trong trạng thái mê mệt, thường xuyên gặp ác mộng. Mỗi lần tỉnh dậy, tôi có cảm
giác như mình vừa trở về từ một thế giới khác. Tôi thường cảm thấy cuộc sống tẻ
nhạt vô vị, hay thở ngắn than dài. Từ khi tiếp xúc với Pháp môn Tâm linh, tôi cảm
thấy tinh thần trở nên phấn chấn, tự tin và lạc quan hẳn. Những căn bệnh vặt
vãnh trên cơ thể trước đây như đau lưng, đau đầu gối đều đã biến mất; tôi cảm
thấy mình tràn đầy năng lượng. Hơn nữa, chồng tôi cũng đã bắt đầu niệm kinh và
phát nguyện ăn chay vào mùng 1, 15 hàng tháng. Con cái học hành luôn đứng top đầu
trong lớp, không khiến tôi phải bận tâm nhiều.
Điều quan trọng nhất là, kể từ khi đi theo Quán Thế Âm Bồ
Tát và Lư Quân Hoành Đài Trưởng tu hành, chỉ trong một thời gian rất ngắn, gia
đình tôi đã trả được khoản nợ 75 vạn nhân dân tệ (khoảng 2,5 tỷ VNĐ). Chồng tôi
bắt đầu kinh doanh từ khoảng năm 2007; từng bán hợp kim nhôm, làm nghề trang
trí nội thất, cũng từng kiếm được 40-50 vạn. Nhưng anh ấy không bao giờ biết thỏa
mãn. Khoảng năm 2009, phong trào huy động vốn trong xã hội nở rộ; chồng tôi thấy
nghề này kiếm tiền nhanh, cũng nhảy vào làm nghề cho vay nặng lãi. Anh ấy dùng
số vốn huy động được mở nhà hàng, tiệm massage chân, khách sạn, xưởng sản xuất
sợi thủy tinh. Bây giờ tôi mới biết, làm nghề cho vay nặng lãi là đang kiếm
"tiền âm" (tiền bất chính), làm sao có thể bền lâu được. Khoảng cuối
năm 2012, khoản vốn 300 vạn huy động được không những không sinh lời, mà còn lỗ
sạch sành sanh. Những khoản tiền cho vay, hoặc là người ta không có khả năng trả,
dùng cách gì cũng không đòi được; hoặc là người ta bỏ trốn mất tăm; hoặc là tự
mình đầu tư thất bại, tiền bạc đều đổ sông đổ biển; hoặc là bị giam vốn trong
các khoản nợ công trình, nợ đọng không thu hồi được. Nền kinh tế gia đình lâm
vào cảnh bế tắc.
Năm 2013 là năm khó khăn nhất đối với toàn bộ gia đình chúng
tôi. Ban đầu chồng tôi còn giấu tôi, sau này tôi mới biết tình hình tài chính của
gia đình bi đát đến mức nào. Trước Tết cuối năm, bắt buộc phải trả một khoản 40
vạn. Đến tháng 11, có những lúc tôi sầu não đến mức quỳ gục trước bàn thờ Phật
khóc lóc. Thậm chí có một khoảng thời gian, tôi mất hết phương hướng, chạy vạy
khắp nơi tìm kiếm những người có thể gọi điện thoại được cho Đài Trưởng; nhờ họ
gọi điện thoại hỏi giúp xem chồng tôi rốt cuộc phải phóng sinh bao nhiêu tiền
cá, phải niệm bao nhiêu Ngôi Nhà Nhỏ mới có thể tiêu trừ nghiệp chướng, giúp
chúng tôi trả hết nợ nần. Về sau, sư huynh Lộc ở Truy Bác và một sư huynh ở
Thanh Đảo đã thức tỉnh tôi bằng một câu nói: "Cho dù chị có gọi được điện
thoại cho Đài Trưởng, thì chị cũng phải tự niệm Ngôi Nhà Nhỏ, nợ của mình mình
phải tự trả, đúng không?" Tôi cũng ý thức được rằng, vợ chồng là "cộng
nghiệp" (nghiệp chung); muốn thay đổi vận mệnh của mình, bản thân phải nhận
ra lỗi lầm, cam tâm tình nguyện đi trả nợ, không ai có thể làm thay tôi được.
Thế là tôi nghĩ, vẫn phải vận dụng Ba Báu Vật của Đài Trưởng,
cầu xin Mẹ Bồ Tát giúp đỡ. Tôi liền khấn nguyện trước mặt Mẹ Quán Thế Âm Bồ
Tát, xin Người giúp con duy trì được cuộc sống hiện tại; nếu tình hình kinh tế
gia đình con có đôi chút khởi sắc, con sẽ đem trải nghiệm học Phật của mình
chia sẻ cho các đồng tu, chia sẻ lên blog của Đài Trưởng, để họ thêm vững tin
vào Pháp môn này, đi theo Đài Trưởng chăm chỉ tu hành.
Tôi thường xuyên đi phóng sinh vào mùng 1, 15; khoảng thời
gian đó cuối tuần hễ có thời gian rảnh là tôi lại đi phóng sinh. Có một lần đi
phóng sinh về, tôi nằm mơ thấy giữa ngôi nhà của mình có một vũng nước nhỏ, hơn
nữa còn có nước suối chảy vào; có lẽ đó là tín tâm mà Bồ Tát ban tặng cho tôi.
Ngoài thời gian đi làm, toàn bộ thời gian rảnh rỗi tôi đều dùng để niệm kinh.
Chồng tôi tự niệm công khóa, tôi giúp anh ấy niệm Ngôi Nhà Nhỏ. Từ lúc tu pháp
môn này cho đến thời điểm đó, tôi đã niệm tổng cộng 157 tờ Ngôi Nhà Nhỏ cho người
cần kinh của chồng, trong đó bao gồm cả một phần do anh ấy tự niệm; và 49 tờ Ngôi
Nhà Nhỏ để hóa giải oan kết. Tôi cũng đã niệm 216 tờ Ngôi Nhà Nhỏ cho người cần
kinh của chính mình.
Bước ngoặt dường như xảy ra chỉ trong chớp mắt. Khoảng cuối
năm 2013, một công trình vốn dĩ tưởng không kiếm được bao nhiêu tiền, kết quả lại
thu về hơn 50 vạn. Cộng thêm một phần tiền nợ công trình cũ thu hồi được, cùng
những khoản nợ khác đòi được; cứ như vậy, trong khoảng thời gian trước và sau Tết,
gia đình tôi đã trả được 75 vạn tiền nợ. Không còn phải nơm nớp lo sợ cảnh chủ
nợ đến chực chờ trước cửa nhà, chúng tôi đã đón một cái Tết bình yên. Ba năm
ròng rã không kiếm ra tiền, vậy mà trong một khoảng thời gian ngắn như vậy,
chúng tôi lại có thể trả được một khoản tiền lớn đến thế; quả thực có nằm mơ
cũng không dám nghĩ tới. Quán Thế Âm Bồ Tát "tầm thanh cứu khổ" (nghe
tiếng kêu than mà đến cứu khổ) quả thực là chân thực không hư ảo!
Trước Tết, tôi đã mời các đồng tu đến nhà nghe tôi chia sẻ
câu chuyện này; họ đều vô cùng cảm động. Những người vốn còn đang chần chừ đứng
xem, nay đã thực sự bắt đầu hành động. Có một đồng tu bị bệnh thận, đã bắt đầu
tinh tấn niệm Ngôi Nhà Nhỏ. Tôi hy vọng các đồng tu đọc được bài chia sẻ này
trên blog của Đài Trưởng, sẽ nảy sinh thêm nhiều tín tâm, càng thêm tinh tấn tu
tâm niệm kinh, tin tưởng tuyệt đối vào luật nhân quả chân thực không hư ảo. Bởi
vì hồi nhà tôi mở quán ăn, tôi từng nằm mơ thấy những con cừu đông lạnh trong tủ
lạnh, căn bản không phải là cừu, mà là thi thể của những người phụ nữ; thực chất
từ lúc đó đã gieo cái "nhân" cho hoàn cảnh khó khăn về kinh tế của
gia đình chúng tôi sau này.
Những cảm ứng màu nhiệm kể từ khi học Pháp môn Tâm linh của
tôi nhiều không kể xiết; bao gồm cả ba lần nằm mơ thấy tự tay mình lôi ra những
con sâu trắng muốt từ trong cơ thể, hay giấc mơ thấy bầu ngực bài tiết ra những
con sâu dơ bẩn và những thứ ô uế... đó đều là những giấc mơ tiêu trừ nghiệp chướng.
Còn có những giấc mơ thấy người thân đã khuất như bà nội, mẹ chồng, bố chồng về
báo mộng xin Ngôi Nhà Nhỏ. Tôi cũng đã giới thiệu Pháp môn này cho hơn hai mươi
người, trong đó có 5 người đã bắt đầu niệm Ngôi Nhà Nhỏ; tự bản thân trải nghiệm
con đường tu hành này, tôi thực sự cảm nhận được những lợi ích to lớn mà nó
mang lại.
Bởi vì những câu chuyện giống như gia đình tôi vô cùng mang
tính tiêu biểu ở Trung Quốc đại lục, nên tôi cảm nhận được trách nhiệm của
mình; tôi nhất định sẽ chăm chỉ tu hành, tu dưỡng cho gia đình nhỏ của mình thật
tốt, trả hết nợ nần. Sau đó, tôi sẽ dùng câu chuyện của mình để "hiện thân
thuyết pháp", để nhiều người hơn nữa tin tưởng vào Pháp môn Tâm linh. Bởi
vì ở đại lục, những gia đình bị nạn cho vay nặng lãi đẩy đến bước đường cùng,
phải ly hương bỏ xứ nhiều vô kể. Chúng tôi không những không bỏ trốn, mà còn trả
được một khoản nợ khổng lồ trong một khoảng thời gian vô cùng ngắn; bản thân điều
này đã chứng minh rằng: Chỉ cần chúng ta sẵn sàng đi theo Lư Đài Trưởng và Pháp
môn Tâm linh của Quán Thế Âm Bồ Tát tu hành, sẵn sàng vứt bỏ những ý niệm Tham
- Sân - Si của bản thân, sẵn sàng thay đổi những hành vi, tư tưởng sai lầm
trong quá khứ; Mẹ Bồ Tát đều sẽ ban cho chúng ta một cơ hội để làm lại cuộc đời.
Chỉ cần chúng ta làm theo "Ba Báu Vật" mà Đài Trưởng truyền dạy, chăm
chỉ tu hành; cuộc sống của các vị nhất định sẽ ngày càng tốt đẹp.
Tôi nguyện đem câu chuyện của mình chia sẻ cho nhiều người
hơn nữa, để những người đang sống trong nghịch cảnh giống như tôi nhìn thấy tia
hy vọng của cuộc sống, cảm nhận được tấm lòng từ bi của Đài Trưởng và Mẹ Bồ
Tát, để tất cả chúng ta cùng chia sẻ pháp hỷ. Tôi cũng phát nguyện, nếu có thể
trả hết nợ nần, tôi nhất định sẽ cầu xin Mẹ Bồ Tát và Đài Trưởng cho tôi một cơ
hội được đứng trên bục Pháp hội của Đài Trưởng để chia sẻ câu chuyện của mình;
để nhiều người hơn nữa có thể cảm nhận được sự từ bi của Mẹ Bồ Tát và Đài Trưởng,
có thể tu học Pháp môn Tâm linh, có thể thoát khổ được vui, sau này có thể
thăng lên Tứ Thánh Đạo. Tôi nguyện làm thiên thủ thiên nhãn của Đài Trưởng và Mẹ
Bồ Tát, độ hóa nhiều hơn nữa những chúng sinh có duyên.
Đồng tu họ Lý ở Đại lục
8. Cuộc đời kỳ tích sau hai năm tu tập Pháp môn Tâm linh
Con xin tri ân Nam mô Đại từ Đại bi Cứu khổ Cứu nạn Quảng đại
Linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát!
Tri ân Ân sư Đại từ Đại
bi Lư Quân Hoành Đài Trưởng!
Mạt học xin chia sẻ những sự thay đổi và cảm ngộ của bản
thân sau hơn hai năm tu học Pháp môn Tâm linh, hy vọng mọi người sẽ càng thêm vững
tin vào Pháp môn Tâm linh, vững tin vào Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi!
Năm 2011, vì con cái và bản thân tôi luôn ốm đau bệnh tật, một
người bạn đã giới thiệu để tôi tiếp xúc với văn hóa truyền thống và Phật pháp.
Ban đầu khi học văn hóa truyền thống, tôi cảm thấy mình chưa đủ hiếu thuận với
cha mẹ, mọi mặt trong cuộc sống đều làm chưa tốt; tôi bắt đầu thay đổi bản thân
và đọc những cuốn kinh sách mà bạn tôi tặng. Vừa mới tiếp xúc với Phật pháp,
tôi liền nằm mơ thấy có người nói với tôi: "Cho tôi ba cọng rơm cứu mạng."
Tôi liền nhảy vọt lên những tầng mây, lấy được rơm cứu mạng rồi nhảy xuống. Sau
khi tiếp xúc với Phật pháp, tôi mới hiểu rằng trên thế gian này, ngoài chúng ta
ra còn có những không gian và chúng sinh khác; mới biết được rằng việc mẹ con
tôi thường xuyên ốm đau, công việc lận đận, vợ chồng cãi vã đều có quan hệ trực
tiếp với tội sát sinh của chúng tôi trước đây. Tôi bắt đầu chân thành sám hối với
Bồ Tát, phát nguyện với Bồ Tát rằng đợi khi tôi khỏi bệnh, tôi nguyện sẽ đi cứu
độ nhiều chúng sinh đang chịu khổ nạn hơn nữa. Lúc đó chúng tôi thường đến chùa
Quán Âm, Quán Thế Âm Bồ Tát vô cùng từ bi, khi trở về liền tạo duyên cho tôi tiếp
xúc với Pháp môn Tâm linh.
Dưới đây là những sự tích linh nghiệm xảy ra trong 2 năm tôi
tu học Pháp môn Tâm linh:
1. Lư Đài Trưởng và một
vị mặc áo giống Đường Tăng đã vào trong giấc mơ để cứu tôi
Tháng 2 năm 2012, vừa học Phật pháp nên chưa hiểu gì, tôi đã
đem kinh sách đưa cho một người đồng nghiệp trước đây hay ốm đau, muốn khuyên
cô ấy cùng học. Vì không hiểu nên tôi không biết rằng làm vậy sẽ phải
"gánh nghiệp" thay người khác; đưa sách xong về nhà, dạ dày tôi đau đớn
không chịu nổi. Rất may có cô Tiêu chỉ cho tôi cách cầu xin Bồ Tát. Tối đi ngủ
vẫn còn hơi đau, tôi liền mơ thấy Lư Đài Trưởng cùng một vị mặc áo giống Đường
Tăng đến chữa bệnh cho tôi. Tôi hét lớn: "Sư phụ cứu con!" Sư phụ vừa
niệm kinh, tôi liền nôn ra từ trong miệng rất nhiều giun đất và bùn vàng. Sáng
tỉnh dậy vẫn còn cảm thấy rất buồn nôn, nhưng dạ dày không còn đau chút nào nữa.
Tôi vô cùng mừng rỡ kể cho cô Tiêu nghe, cô ấy động viên tôi rằng Đài Trưởng đã
đến cứu tôi, tôi phải chăm chỉ niệm kinh để tiêu trừ nghiệp chướng.
2. Con trai mắc bệnh
hen suyễn suốt 4 năm nhận được sự gia trì của Bồ Tát
Từ lúc đó, tôi bắt đầu thực sự buông bỏ những cuốn sách
khác, chuyên tâm vào một pháp môn tinh tấn tu học Pháp môn Tâm linh. Tôi phát
nguyện với Bồ Tát sẽ niệm 49 tờ Ngôi Nhà Nhỏ cho con trai. Tối đó tôi mơ thấy
mình lên một chuyến tàu cao tốc, đi cùng tôi còn có một người đàn ông. Tôi hỏi:
"Ông là ai?" Ông ta đáp: "Tôi là năm con hổ dưới cội Bồ Đề."
Đồng hành cùng năm con hổ khiến con đường tu tâm tu hành của tôi trải qua rất
nhiều gian nan thử thách.
Con trai tôi mắc bệnh hen suyễn, từ năm lớp một đã bắt đầu
lên cơn suyễn, kéo dài suốt 4 năm. Những lúc bệnh nặng, cháu phải cõng đi học,
đi học về; giờ thể dục gần như chưa bao giờ chạy bộ, từ lớp 1 đến lớp 3 môn thể
dục đều không đạt. Lúc tôi mới bắt đầu niệm kinh cho cháu, cháu liền lên cơn
suyễn không ngừng, ngày nào đi học về cũng phải truyền dịch. Lúc đó việc học của
cháu rất căng thẳng, tay trái truyền dịch tay phải vẫn phải làm bài tập vì sợ
không theo kịp bài trên lớp. Trong lòng tôi vô cùng đau xót, khó khăn lắm mới
có được "cọng rơm cứu mạng", tôi không dám dừng lại. Trước đây tôi
chưa từng tiếp xúc với kinh văn, nhưng tôi không sợ, tôi và con cùng nhau học;
nhờ có Bồ Tát gia trì, chỉ vài ngày mẹ con tôi đã thuộc lòng tất cả các bài
kinh. Lúc tôi niệm kinh cho con trai, tôi cũng bắt đầu thấy khó thở, vô cùng tức
ngực; khó khăn lắm mới niệm xong một tờ, tôi liền đốt gửi cho người cần kinh của
cháu. Ngay đêm đó, cháu mơ thấy một cậu bé ăn mặc rất chỉnh tề nắm tay cháu vui
vẻ đi đến trường mẫu giáo. Con trai tôi thực sự đã khá hơn, niềm tin của tôi
càng thêm vững chắc; tôi không ngừng nỗ lực hy vọng sớm niệm đủ 49 tờ. Tôi quỳ
trước Bồ Tát phát nguyện ăn chay trường, sau đó thành tâm tụng "Chú Đại
Bi". Tàn hương sau khi cháy bắt đầu cuộn tròn lại, Bồ Tát thực sự đã quang
lâm nhà tôi rồi. Tôi vô cùng vui sướng bảo con trai quỳ trước Bồ Tát tụng
"Chú Đại Bi"; cháu tụng xong một biến nói với tôi rằng, sau lưng cháu
bắt đầu toát mồ hôi lạnh, hai bàn tay nóng ran như lửa đốt, rất nhanh sau đó mồ
hôi lạnh đã được bài tiết ra ngoài hết. Toàn thân cháu bắt đầu ấm lên, tri ân Mẹ
Bồ Tát.
Rất nhanh sau đó, việc tôi học Phật bất chấp mọi thứ đã vấp
phải sự phản đối của cả gia đình; đều do tôi không tốt, nghiệp chướng sâu nặng,
tôi quên mất bổn phận của mình, đáng lẽ phải nấu cơm đàng hoàng thì lại không
làm; sự chấp trước không khai ngộ của tôi đã gây ra sự hiểu lầm cho người nhà,
khiến gia đình rơi vào bế tắc. Bản thân tôi học Phật vô cùng bị động, vợ chồng
xảy ra cãi vã, con trai vẫn ngày ngày lên cơn suyễn; đợt này là đợt suyễn nặng
nhất từ trước đến nay của cháu, phải truyền dịch gần một tháng trời, mu bàn tay
và cổ tay chi chít vết kim tiêm. Truyền dịch chỉ kiểm soát được nhất thời, cứ đến
đêm là cháu lại thở khò khè, khó thở nghiêm trọng, gần như phải ngồi thức trắng
đến sáng, đến cả bình oxy của cụ cố mang ra dùng cũng vô hiệu. Hết cách, tôi gửi
email cho Đài Đông Phương kể về hoàn cảnh của mẹ con tôi, hy vọng Đài Trưởng bớt
chút thời gian xem giúp. Trong lúc chờ hồi âm, tôi lại hướng Bồ Tát sám hối.
Đêm đến Bồ Tát báo mộng nhắc nhở: "Phóng sinh lập tử" (Phóng sinh cứu
mạng con). Lúc này tôi mới nhận ra mình quá keo kiệt, phóng sinh quá ít, khiến
gia đình rối tinh rối mù. Tôi bắt đầu đi phóng sinh cùng các sư huynh, cầu xin
Bồ Tát cho biết nguyên nhân sự việc là do đâu. Đêm đó mẹ con tôi cùng lúc nằm
mơ thấy người cần kinh trong nhà và trên người con trai, tổng cộng có hơn chục
người. Có một linh tính vô cùng ghê gớm, mặc quần áo của con trai tôi, trên mặt
đeo một chiếc bịt mắt, nửa thân dưới ngồi xe lăn, vừa mở miệng đã đòi 300 tờ Ngôi
Nhà Nhỏ; trong ý thức tôi biết rằng chính con trai tôi đã hại người đó ra nông
nỗi này. Sáng tỉnh dậy con trai tôi càng khó thở nặng hơn.
Vài ngày liên tiếp con trai mơ thấy tiền kiếp của mình, biết
được bản thân từng là một tiểu đội trưởng trong thời kỳ chiến tranh; thời kỳ đó
đã dùng súng, dùng dao đánh chết và làm bị thương vô số người. Sau khi chết,
cháu cùng với đồng đội và kẻ thù bị đọa xuống địa ngục; dưới địa ngục tối đen
như mực, mỗi ngày đều lặp lại cảnh tượng cháu bắn giết người vô cùng khủng khiếp;
tỉnh dậy cháu vô cùng sợ hãi. Lúc này, chúng tôi mới nhận thức được sự nghiêm
trọng của vấn đề. Tôi kể chuyện này cho người nhà nghe, nhưng vì nghiệp chướng
sâu nặng nên không ai tin. Họ đều sợ tôi mê tín dị đoan làm hỏng cả đầu óc, nên
quản lý tôi rất chặt không cho tôi chạy lung tung; lúc này trở ngại của tôi
càng lớn hơn. Không còn cách nào khác, tôi đành phải tự mình từ từ niệm; cứ như
vậy, khó khăn lắm mới hoàn thành 49 tờ Ngôi Nhà Nhỏ. Đúng lúc này Đài Đông
Phương gửi email hồi âm; tôi cứ làm theo "phương thuốc" mà Lư Đài Trưởng
kê để làm công khóa cho con trai, bệnh tình của cháu cũng từ từ được kiểm soát.
Tri ân Nam mô Đại từ Đại bi Cứu khổ Cứu nạn Quảng đại Linh cảm Quán Thế Âm Bồ
Tát! Tri ân Lư Quân Hoành Đài Trưởng đại từ đại bi!
Nghe tin Lư Đài Trưởng sắp tổ chức Pháp hội tại Singapore,
Malaysia, tôi vô cùng muốn đi tham dự. Cô Tiêu thấy tôi khá tinh tấn nên đã
giúp tôi lo liệu việc bái sư. Rất nhanh sau đó Sư phụ đã nhận tôi làm đệ tử.
Lúc này thời khắc thử thách tôi đã đến; những đồng tu trước đây cùng tu với tôi
nghe phải những lời đồn đại không hay, khuyên tôi đừng học nữa; tôi kiên quyết
không tin. Trở ngại từ gia đình cũng vô cùng lớn, chồng tôi bảo: "Cô mà đi
thì đừng có về nữa"; đồng nghiệp, nhà ngoại, mọi mặt đều tạo áp lực rất lớn.
Bởi vì con trai quả thực đã có sự chuyển biến tích cực, tôi liền dùng số tiền
tiết kiệm thường ngày mua vé máy bay giá rẻ đi Singapore và Malaysia. Tôi nói dối
bố mẹ chồng là đưa con về ngoại chơi vài ngày, gửi con ở nhà ngoại rồi bảo mọi
người là tôi đi công tác vài hôm, sau đó vội vã chạy ra sân bay. Lúc đó, tôi cảm
thấy những cản trở từ mọi phía, trong lúc sức khỏe của mẹ con tôi và mọi mặt
đang thay đổi tốt lên, đều chính là những "tăng thượng duyên". Tôi bước
lên máy bay với cảm xúc buồn vui lẫn lộn, nước mắt giàn giụa...
3. Pháp hội giúp tôi
buông bỏ mọi lo âu
Tôi chứng kiến một Pháp hội với quy mô hoành tráng, thù thắng
vô song; hàng vạn Phật hữu đã đến tham dự. Đây là một đại hội kết nối thiện
duyên rộng lớn của các Phật hữu trên toàn thế giới, cũng là dịp để bạn bè các
giới tại Malaysia và Phật hữu thế giới đồng tâm hiệp lực, hoằng dương văn hóa
truyền thống Trung Hoa, kế thừa tinh hoa Phật giáo, chung tay vì hòa bình thế
giới. Nhân duyên thù thắng, Phật ân hạo hãn, cộng triêm pháp hỷ, cùng tắm gội
trong ánh sáng Phật quang. Tri ân Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi! Tri ân Lư
Quân Hoành Đài Trưởng đại từ đại bi!
Những lời khai thị từ bi của Lư Đài Trưởng vô cùng lôi cuốn,
sâu sắc, đi vào lòng người. Đài Trưởng giảng pháp sâu sắc nhưng dễ hiểu, vô
cùng gần gũi; Ngài đưa những Phật lý Phật pháp uyên thâm hòa vào thực tế cuộc sống,
dùng những đạo lý giản đơn để phân tích các mâu thuẫn, vấn đề trong đời sống,
tìm ra cội nguồn mâu thuẫn và cách giải quyết. Từ đó vừa giúp mọi người lĩnh hội
được chân lý Phật pháp, vừa nhận được sự thuận tiện và lợi ích của việc học Phật,
giải quyết phiền não của bản thân, làm cho cuộc sống tươi đẹp hơn. Đài Trưởng dạy
chúng ta phải cống hiến sinh mệnh hữu hạn vào thế giới tâm linh vô hạn, giúp đỡ
chúng sinh, từ bi với chúng sinh. Tại Pháp hội, tôi thực sự cảm nhận được sự từ
bi của Sư phụ giống hệt như một người cha yêu thương tất cả những đứa con của
mình vậy. Đài Trưởng vì hoằng pháp độ chúng sinh mà bôn ba vất vả, giảng pháp
liên tục suốt nhiều giờ đồng hồ đến khản cả giọng; kết thúc Pháp hội có rất nhiều
người chủ động muốn bắt tay Sư phụ, làm tay Sư phụ bị xước cả máu. Tối đến Ngài
còn khai thị cho các đệ tử, sau đó lại gặp những ca bệnh nặng; đến tận 12 giờ
đêm hơn, Ngài vẫn tiếp tục khai thị nhỏ cho các nhóm cộng tu Pháp môn Tâm linh
đến từ Bắc Kinh, Thiên Tân... Quả thực là quá đỗi vất vả. Nghe mọi người nói một
ngày Sư phụ ngủ chẳng được mấy tiếng, luôn miệt mài từ bi cứu độ chúng sinh.
Tại Pháp hội, tôi nhận ra lỗi lầm của mình và chân thành sám
hối với Bồ Tát; tôi không nên thiếu tự tin, không nên cãi vã dùng lời ác ý tổn
thương người khác (ác khẩu), không nên bất hiếu với cha mẹ, không nên tạo nhiều
nghiệp sát sinh đến vậy. Lúc đó, tôi ngồi gục dưới chiếc ghế ở hàng sau khóc
ròng rã suốt hơn một tiếng đồng hồ. Sự sám hối tự đáy lòng của tôi đã nhận được
sự gia trì của Bồ Tát, cảm giác như tâm hồn được gột rửa lại từ đầu. Cộng thêm
sự gia trì của nghi lễ bái sư, tôi bất ngờ nhìn thấy pháp tướng của Thiên Thủ
Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát. Vài ngày sau đó, tôi thực sự đã nhìn thấy kim
thân (thân sắc vàng) của chư vị Bồ Tát trên trời giáng lâm tham dự nghi lễ khai
quang và Pháp hội tại Malaysia; tôi còn nhìn thấy Quán Thế Âm Bồ Tát từ bi rưới
nước cam lộ. Điều này đã giúp tôi đánh tan hoàn toàn những nghi ngờ, lo âu trước
đây.
Làm tình nguyện viên đứng suốt một ngày mà tôi không hề thấy
mệt. Trước đây tôi hay đau chỗ nọ nhức chỗ kia, bây giờ lại không thấy gì; chỉ
là không có cảm giác ngon miệng, không muốn ăn. Vì sợ không ăn cả ngày hôm sau
sẽ không trụ nổi, tối trước khi đi ngủ tôi uống một viên canxi và vài viên đông
trùng hạ thảo; đêm đó tôi nằm mơ thấy rất nhiều pháp tướng của Quán Thế Âm Bồ
Tát, cùng với một tờ giấy trắng viết rõ ràng bốn chữ: "Không được uống thuốc."
4. Trở về từ Pháp hội
tôi mang thai một "Tố Bảo Bảo" (Thai nhi ăn chay), Mẹ Bồ Tát từ bi
ban tên cho con gái nhỏ
Từ Pháp hội trở về, năng lượng sung mãn, tôi vội vã niệm Ngôi
Nhà Nhỏ: cho nhà cửa, cho người cần kinh trên người tôi, trên người con trai. Một
thời gian dài tôi bận rộn không xuể, vì trong nhà có hơn mười người cần kinh;
tôi có niệm Ngôi Nhà Nhỏ cho căn nhà nhưng chưa đủ, con trai cứ về nhà là lại
lên cơn suyễn, ở ngoài trường thì không sao. Sau đó chúng tôi quyết định ra cổng
trường thuê nhà, giải quyết từng vấn đề một, khi nào rảnh rỗi sẽ lo việc nhà cửa
sau. Sau khi cầu Bồ Tát, rất nhanh chúng tôi tìm được một căn nhà ưng ý trước cổng
trường, như vậy không còn mất thời gian đi lại, tôi chỉ việc chuyên tâm niệm
kinh là được. Về sau, ngày qua ngày tôi không muốn ăn cơm, ngửi mùi thức ăn là
thấy buồn nôn. Lúc này tôi mới sực nhớ hình như hai tháng rồi mình chưa có kinh
nguyệt. "Không sao đâu," tôi tự an ủi mình, cũng không đi khám; ngày
ngày bận rộn niệm kinh, phóng sinh. Sức khỏe con trai tôi ngày một tốt lên,
nhưng tôi thì cứ chán ăn. 3 tháng trôi qua, con trai không còn lên cơn suyễn nữa,
tôi vô cùng vui sướng. Nghe lời khuyên của một người bạn, tôi đi khám sức khỏe;
kết quả là tôi thực sự đã mang thai. Tôi chợt nhớ lại một giấc mơ trước khi đi
Pháp hội: Tôi mơ thấy bụng mình to tròn, bên trong rõ ràng là một bé gái buộc
dây thun đỏ; ôi chao, tôi sắp sinh rồi. Rất nhanh tôi chạy lên tầng 2; lúc đi
xuống có người hỏi tôi có phải là con gái không? Tôi gật đầu. Lẽ nào đó là giấc
mơ điềm báo, tôi vẫn không để tâm; bây giờ tôi phải làm sao đây?
Tôi chữa bệnh hậu sản mất hơn chục năm, con trai tôi chữa bệnh
hen suyễn mấy năm nay; gần như đã tiêu sạch số tiền dành dụm trước đây của
chúng tôi. Căn bản không có điều kiện để sinh và nuôi dưỡng đứa bé; bố mẹ chồng
cũng kịch liệt phản đối, chồng tôi cũng đã liên hệ địa điểm chuẩn bị đưa tôi đi
khám để làm phẫu thuật. Kết quả siêu âm cho thấy đứa bé vô cùng khỏe mạnh, phát
triển rất nhanh, hơn nữa đầu rất to nên không thể phá thai bình thường mà phải
đình chỉ thai nghén (sinh ép). Nghe nói sinh ép là phải tiêm thuốc cho đứa bé
chết lưu trong bụng trước, sau đó phân thây, gắp ra từng mảnh một. Tôi vô cùng
xót xa, không muốn con phải chịu nỗi đau đớn này. Suy cho cùng, vì tôi sắp đi
bái sư nên con bé mới vội vã tranh suất đến đầu thai vào bụng tôi; hơn nữa con
bé đã cùng tôi bái sư, cũng là đệ tử của Đài Trưởng, là con của Bồ Tát. Tôi
kiên quyết không làm phẫu thuật, tôi không cầu gì khác, chỉ mong cho tôi được
sinh con ra; sinh ra rồi cho người ta cũng được, gửi vào chùa cũng được; dù sao
đó cũng là một sinh mệnh bé nhỏ cơ mà!
Trải qua biết bao thăng trầm, cuối cùng gia đình cũng đồng ý
giữ lại em bé. Nhưng điều kiện đưa ra là: (1) Không được thờ tượng Phật lạy Bồ
Tát; (2) Không được ăn chay.
Lúc đầu, vì muốn "bổ sung dinh dưỡng" cho tôi và
em bé, người nhà đã nấu rất nhiều món thịt bắt tôi ăn. Tôi đành phải nhắm mắt
qua ải này trước, nhưng trong lòng vô cùng khó chịu. Không ngờ, sáng hôm sau
con trai tôi vừa ngủ dậy đã bảo: "Mẹ ơi, con mơ thấy em bé trong bụng mẹ gọi
điện cho con, giọng rất buồn bã nói 'Ngày mười lăm mà mẹ lại ăn thịt'."
(Tình cờ ngày tôi ăn thịt là ngày "mười bốn", hôm sau là "mười
lăm", nhưng con trai tôi hoàn toàn không biết tôi về nhà nội ăn thịt). Nước
mắt tôi tuôn rơi lã chã, đứa trẻ này tâm linh nhạy bén biết bao, tôi phải làm
sao đây? Rất nhanh đến ngày 19 tháng 9 Âm lịch, ngày Quán Thế Âm Bồ Tát xuất
gia; sáng sớm tôi nằm mơ thấy có người tặng tôi một con chim công vừa to vừa mập,
lông vũ bảy sắc cầu vồng, phát ra ánh sáng xanh dương, xanh lá, ánh vàng, vô
cùng xinh đẹp; chỉ là lông chưa mọc đủ. Sau khi tôi ôm về nhà, mẹ tôi liền đút
cho nó ăn đầu gà, đuôi cá; tôi nhìn thấy lúc nó cúi xuống ăn thịt, một bên cánh
bỗng nhiên bắt đầu rỏ máu. Tim tôi nhói đau, giật ngay con chim lại và nói:
"Chim công của tôi chỉ ăn ngô và khoai lang thôi." Rồi giấc mơ kết
thúc. Lúc đi phóng sinh, một vị đồng tu bảo tôi rằng việc tôi ăn thịt đã ảnh hưởng
đến bản tính của đứa bé; em bé chắc chắn là một "Tố Bảo Bảo" (Thai
nhi ăn chay), đây cũng là tâm nguyện từ kiếp trước của em bé; chị mau cầu Bồ
Tát đi! Chỉ cần chị dụng tâm, cầu gì cũng sẽ được. Về đến nhà, tôi quỳ trước Bồ
Tát khóc nức nở niệm xong 21 biến Lễ Phật, sám hối nghiệp chướng ăn thịt của
mình, cầu xin Bồ Tát phù hộ cho tôi sinh được một Tố Bảo Bảo khỏe mạnh, để mọi
người đừng quản lý tôi quá gắt gao nữa. Sau đó, tôi bắt đầu làm công khóa cho
em bé trong bụng. Chồng tôi vẫn mua món mặn về, gắp thức ăn vào bát tôi; tôi thừa
lúc anh ấy không để ý liền vứt đi, hoặc gắp trả lại. Vài lần như vậy, chồng tôi
và mọi người dứt khoát không thèm quản tôi nữa; sau này thấy tôi không ăn nên
cũng không mua nữa. Tôi thực sự mừng rỡ, Bồ Tát quả là linh nghiệm. Để cung cấp
đủ dinh dưỡng cho mẹ và con, ngày nào tôi cũng xay sữa đậu nành, ăn ngũ cốc, ăn
nhiều trái cây, rau xanh, bổ sung thêm viên canxi và vitamin tổng hợp.
Cuối năm 2012, một Phật hữu trước đây thường giúp người khác
trợ niệm lúc lâm chung đến thăm tôi. Cô ấy nói hôm nay chưa niệm kinh, xin nán
lại nhà tôi niệm. Lúc niệm cô ấy liên tục ho sặc sụa; tôi biết có chuyện chẳng
lành, nhưng ngại không dám nói. Rất nhanh sau đó tôi cũng bị lây bệnh cảm cúm
do virus rất nặng, nhưng tôi cũng không uống thuốc. Tôi đứng dưới ánh mặt trời
cầu xin Bồ Tát gia trì giúp tôi chữa khỏi bệnh cảm cúm; sau khi đốt 3 tờ Ngôi
Nhà Nhỏ tiễn người cần kinh, tôi liền khỏi bệnh. Còn cô ấy vẫn chưa khỏi, tôi
khuyên cô ấy cùng học Pháp môn Tâm linh, nói cho cô ấy biết cô ấy đã "gánh
nghiệp" thay người khác rồi, mau chóng đốt Ngôi Nhà Nhỏ cho người cần kinh
của mình đi. Rất nhanh sau đó tôi lại bị lây bệnh, lần này bệnh cảm cúm virus
nghiêm trọng mãi không khỏi, tôi lại bắt đầu lên cơn suyễn. Sợ ảnh hưởng đến
thai nhi trong bụng, tôi không ngừng niệm Ngôi Nhà Nhỏ cho người cần kinh của
mình, cầu xin Bồ Tát cho tôi không cần uống thuốc mà vẫn khỏi bệnh. Lúc tôi
đang cầu xin Bồ Tát, con trai tôi chụp một bức ảnh, thực sự đã chụp được kim
thân Bồ Tát và Phật quang bảy màu trên đỉnh đầu tôi, tỏa sáng rực rỡ khắp cả
căn phòng. Sau đó tôi mơ thấy Tôn Ngộ Không mang đến cho tôi một quả chuối; bóc
ra bên trong là một vật giống như viên chè trôi nước, có lẽ là linh đan diệu dược;
tôi một ngụm nuốt chửng luôn. Tôi còn hỏi Tôn Ngộ Không: "Sau này con em lớn
lên học đại học thì nên chọn ngành gì?"; Ngài lộn một vòng cân đẩu vân rồi
biến mất. Căn bệnh cảm cúm virus nghiêm trọng của tôi không cần uống thuốc cũng
tự khỏi.
Một tháng trước khi sinh, tôi còn mơ thấy một chim công mẹ
toàn thân bọc bảo vật mang "pháp bảo" đến cho chim công con. Chim
công nhỏ của tôi thật có phước!
Sắp đến ngày sinh mà em bé vẫn chưa có tên; đúng dịp Sư phụ
chuẩn bị tổ chức Pháp hội, tôi gọi điện cho cô Tiêu, nhờ Sư phụ đặt cho em bé một
cái tên. Cô Tiêu bảo tôi hãy tự cầu xin Bồ Tát; chỉ cần lòng thành, cầu gì được
nấy. Được, vậy là mỗi ngày lúc thắp hương sáng tôi đều cầu xin Bồ Tát ban tên
cho em bé. Bồ Tát quả thực linh nghiệm; vài ngày sau, khoảng 6 giờ sáng, tôi nằm
mơ thấy một tờ giấy trắng viết hai chữ "Điềm Nhiên". Bồ Tát thực sự
đã ban tên cho em bé nhà tôi rồi! Vô cùng tri ân Mẹ Bồ Tát, chúng tôi nhất định
sẽ vô cùng trân quý. Khi có ai hỏi tên em bé sao hay thế, ai đặt cho vậy? Tôi
luôn tự hào trả lời họ rằng: "Là Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát ban cho đấy."
Trước ngày dự sinh một ngày, tôi nằm mơ thấy một vị Hoàng đế
ban cho tôi một quả trứng vàng khổng lồ cỡ 50 cm. Ông ấy nói: "Con gái nhà
cô sau này thông minh, lanh lợi, ăn nói hoạt bát lắm." Tôi vô cùng tri ân
ông ấy, ôm ông ấy để bày tỏ lòng biết ơn; quay đầu lại thì phát hiện "em
bé đã phá vỏ chui ra rồi". Tôi biết đây là một giấc mơ điềm báo nên vội
vàng chuẩn bị.
Tôi cầu xin Bồ Tát phù hộ cho tôi được sinh nở suôn sẻ tại bệnh
viện gần nhà nhất, phù hộ cho hai mẹ con bình an; tôi đã đốt trước 2 tờ Đại Bi
Chú trong Kinh văn Tự tu mà tôi và con trai đã niệm tích lũy từ trước, đồng thời
phát nguyện nhất định sẽ phóng sinh, độ nhân, in đĩa DVD v.v. Bệnh viện gần nhà
nhất đã hết giường (những thai phụ đến trước tôi đều phải chuyển sang bệnh viện
khác); nhưng nhờ có sự gia trì của Bồ Tát, cùng sự giúp đỡ của các chị em gái,
tôi đã nhập viện vô cùng suôn sẻ.
Sáng sớm hôm sau, tôi xoa bụng bàn bạc với em bé: "Hôm
nay là rằm tháng 3, ngày mai là ngày Đản sanh Chuẩn Đề Bồ Tát; hai ngày này đều
là ngày tốt, con muốn chọn ngày nào ra đời?" Em bé không chờ đợi được nữa
đã chọn ngày rằm; chưa đến nửa ngày bụng tôi đã bắt đầu đau, đến trưa thì vào
phòng sinh (có người đến trước tôi một tuần mà ối cạn vẫn chưa có động tĩnh gì,
thật đáng ghen tị với tôi). Sáng hôm đó tôi liên tục tụng chú Đại Bi, đến lúc mệt
quá không tụng nổi nữa thì niệm thánh hiệu "Quán Âm Bồ Tát". Chỉ hơn
một tiếng đồng hồ là tôi sinh xong, vô cùng suôn sẻ, mẹ tròn con vuông. Vì trước
đây tôi từng làm tiểu phẫu đốt điện viêm lộ tuyến cổ tử cung, nên cổ tử cung
hơi bị rách; bác sĩ khâu 2 mũi, rạch tầng sinh môn khâu 2 mũi là xong. Nếu
không có sự gia trì của Bồ Tát, cổ tử cung từng phẫu thuật sẽ mất tính đàn hồi,
căn bản không thể sinh thường và rất dễ bị băng huyết (xuất huyết ồ ạt); nhờ Bồ
Tát gia trì mà tôi bình an vô sự, hơn nữa trong thời gian ở cữ vết khâu cũng
không hề đau. Lúc sinh đứa đầu tiên tôi vật vã hơn 3 tiếng đồng hồ, vì hôm đó
nhiệt độ lên tới 42 độ, bệnh viện bật điều hòa lạnh ngắt; tôi bị nhiễm phong thấp
nặng khiến toàn thân đau nhức, hơn nữa vết thương ngày nào cũng đau, còn bị
viêm nhiễm dẫn đến bệnh phụ khoa; căn bệnh phong thấp nghiêm trọng này ròng rã
10 năm trời chữa không khỏi. Thực ra sau này học Phật mới biết, đó đều là do
nghiệp chướng của chính mình tạo ra; đều là quả báo do mình không tốt, vậy mà
ngày nào cũng ôm lòng sân hận, oán trách người khác. Mẹ Bồ Tát ơi, con nhất định
sẽ sửa đổi! Em bé 3 tháng đã biết lật, 5 tháng biết đứng, 6-7 tháng đã bám đồ vật
tập đi, 8-9 tháng đã buông tay tự đi; bây giờ 1 tuổi rồi, khỏe mạnh thông minh,
không thiếu chất dinh dưỡng nào.
5. Con trai sốt ròng
rã 8 ngày, Lư Đài Trưởng từ bi gia trì, niệm xong 23 tờ Ngôi Nhà Nhỏ là khỏi hẳn
Vừa chuyển ra nhà thuê trước cổng trường, con trai lại lên
cơn suyễn, tôi liền ưu tiên niệm cho người cần kinh của cháu. Không ngờ chưa đầy
3 ngày, cháu liền lên cơn sốt; trước đây chỉ lên cơn suyễn chứ không sốt, bây giờ
chỉ sốt chứ không suyễn; uống thuốc, tiêm, truyền dịch đều không thuyên giảm.
Tôi liền tụng chú Đại Bi cho cháu, tụng trên 50 biến là cắt sốt. Kéo dài 8
ngày, ông bà nội đều cuống cuồng; tôi liền bảo con trai tụng chú Đại Bi 5 biến
tặng cho Lư Đài Trưởng. Không ngờ, mới tụng được 3 biến cháu đã ngủ thiếp đi.
Trong lúc ngủ, cháu mơ thấy Lư Đài Trưởng tặng cháu một món pháp khí hơi giống linh
thú Kỳ Lân (tứ bất tượng), Ngài bảo món đồ này quý giá lắm, đáng giá mấy tỷ bạc
cơ đấy; sau đó Lư Đài Trưởng cười ha hả, tiếng cười đánh thức cháu dậy. Tỉnh dậy,
tôi bảo cháu tiếp tục tụng chú Đại Bi tặng Lư Đài Trưởng, còn tôi đốt Ngôi Nhà
Nhỏ cho người cần kinh của căn nhà; rất nhanh cháu nôn thốc nôn tháo, nôn liên
tục mấy lần, toàn là nước đen ngòm. Sau đó tôi dừng hầu hết các loại thuốc, chỉ
cho uống nước Đại Bi; đốt xong 23 tờ Ngôi Nhà Nhỏ gửi cho người cần kinh của
căn nhà thuê, con trai tôi nhanh chóng cắt sốt, từ đó về sau không còn bị sốt lại
nữa.
6. May mắn tránh khỏi
thảm họa "Lũ lụt, Động đất"
Lúc mới học Phật, tôi mơ thấy người bà ngoại quá cố về báo mộng,
dặn tôi phải mau chóng học thuộc "Quán Âm Linh Cảm Chân Ngôn", sắp có
lũ lụt rồi. Chuyển ra nhà thuê chưa lâu, tôi lại mơ thấy vong linh của chồng
(cao khoảng một mét) dẫn tôi xuống tầng hầm tham quan; chiếc lò sưởi đang cháy
rực, nước sôi trào ra ngoài; vong linh bảo hệ thống sưởi ấm của tòa nhà tôi
đang ở sắp phát nổ, bảo tôi mau đưa người nhà rời đi. Tỉnh mộng, tôi liền tăng
số biến "Giải Kết Chú" và "Tiêu Tai Cát Tường Thần Chú" lên
108 biến, Lễ Phật tăng lên 5 biến, không ngừng niệm Ngôi Nhà Nhỏ. Một tháng
sau, sự việc thực sự đã xảy ra. Sáng sớm tinh mơ lúc chúng tôi đang chìm trong
giấc ngủ, vài giọt nước rỏ xuống mặt con trai; cháu bảo bị dột rồi. Lúc đó tôi
chưa tỉnh hẳn, bảo cháu đó là Bồ Tát rưới nước cam lộ đấy; lát sau nước lại nhỏ
xuống mặt, xuống người cháu, cháu quả quyết là dột thật rồi. Tôi bật đèn lên
xem, trần nhà nứt một kẽ dài mấy mét, ngấm sũng nước, nước đang tí tách chảy xuống;
tôi vội vàng đi tìm chậu hứng. Lúc này trên giường, chăn nệm, sàn nhà đều ướt
sũng; chốc lát trong nhà biến thành động Thủy Liêm (động chứa nước). Chắc chắn
trên tầng đã xảy ra chuyện; chúng tôi vội chạy lên lầu, sống ở trên đó là một cặp
vợ chồng già; gõ cửa nửa ngày không ai ra mở, nước từ trong nhà họ tuôn ra lênh
láng khắp hành lang. Hàng xóm vội vàng giúp chúng tôi gọi tổ dân phố, báo cảnh
sát. Rất nhanh đã liên lạc được với người nhà của họ; hóa ra ống sưởi nhà họ
phát nổ, giường chiếu, sàn nhà, sofa, tủ đồ đều chìm trong biển nước; nhà họ thực
sự có thể ví như "nước ngập chùa Kim Sơn". Về nhà, chúng tôi vội thắp
hương cầu xin Bồ Tát phù hộ, rồi không ngừng tụng chú Đại Bi và Tiêu Tai Cát Tường
Thần Chú. Đúng lúc này, chị gái gọi điện thoại đến bảo sáng sớm nay mơ thấy tôi
bị lũ cuốn trôi, sau đó lại chết trong một trận động đất; dặn tôi mấy ngày này
phải cẩn thận. Tôi kể với chị ấy, nhà em đang xảy ra lũ lụt và động đất đây này
(người trên lầu dọn bàn, chuyển tủ, kéo ghế ầm ĩ chẳng khác nào động đất). Nhờ
sự gia trì của Bồ Tát, kiếp nạn của tôi đã được "hóa lớn thành nhỏ".
Mẹ con tôi thu dọn chút đồ đạc rồi vội vã chuyển ra ngoài. Sau này trò chuyện với
bà cụ trên lầu mới biết bà cũng tín Phật; mấy chục năm nay hai ông bà chưa từng
đi ngủ nhờ nhà ai, đúng hai hôm đó họ lại sang nhà con gái ngủ, thế là cũng may
mắn thoát khỏi một kiếp nạn lớn. Chỉ cần có chánh tín chánh niệm, không thiên lệch
cố chấp; thì khi tai họa ập đến, Bồ Tát từ bi luôn hiện diện bảo bọc chúng ta.
Sư phụ từng nói: Nếu con chân tu, Hộ pháp Bồ Tát ắt sẽ bảo hộ.
7. Mẹ chồng lâm bệnh,
tôi quỳ trước Bồ Tát xin gia hạn thọ mạng cho bà
Sáng sớm tinh mơ ngày 30 Tết, con trai vừa tỉnh giấc đã kể với
tôi: "Mẹ ơi, con mơ thấy mẹ quỳ trước Bồ Tát cúng một bát mì cho bà nội,
xin cho bà được sống thọ." Tôi linh cảm đây không phải là một giấc mơ tốt
lành; liền kể với chồng và dặn anh ấy mau gọi điện hỏi thăm sức khỏe ông bà, e
rằng có chuyện chẳng lành (chồng tôi ngoài miệng thì nói không tin, nhưng trong
lòng vẫn hơi lo lắng). Một tháng sau, mẹ chồng tôi vì bệnh giãn tĩnh mạch nặng
đến mức không thể đi lại được nữa, bắt buộc phải phẫu thuật gấp. Vì tôi sắp đến
ngày sinh, không thể "gánh nghiệp" quá nhiều cho bà được; không còn
cách nào khác, tôi đành đốt 7 tờ Ngôi Nhà Nhỏ tích trữ từ trước cho mẹ chồng;
đem 2 tờ Đại Bi Chú trong Kinh văn Tự tu vốn dĩ để dành cho lúc đi đẻ đốt cho
bà; sau đó quỳ trước Bồ Tát cầu xin tiêu tai diên thọ (kéo dài tuổi thọ) cho mẹ
chồng, đồng thời phát nguyện đi phóng sinh cho bà, xin Bồ Tát gia trì! Khi mẹ
chồng đi khám tổng quát, mọi chỉ số đều bình thường (trước đây huyết áp của bà
không ổn định); ca phẫu thuật diễn ra vô cùng suôn sẻ thành công. Mẹ chồng tôi
cũng bình an vượt qua cửa ải 66 tuổi (lục lục đại quan). Tri ân Nam mô Đại từ Đại
bi Cứu khổ Cứu nạn Quảng đại Linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát!
8. Con gái bị bỏng nước
sôi, Nước Đại Bi kịp thời giải nguy
Lúc con gái nhỏ nhà tôi được 7 tháng; trong lúc dỗ cháu tôi
thấy khát nước, liền rót một cốc nước sôi để trên bàn, nhưng chưa đậy nắp. Tôi
định xỏ giày đi tìm nắp cốc; lúc này cháu bò tới, bám vào chăn đu người đứng
lên cạnh chiếc bàn nhỏ nơi tôi để cốc, tay quờ một cái làm đổ luôn cốc nước.
Giày tôi còn chưa xỏ xong đã nghe tiếng con khóc thét lên; nước sôi đổ vương
vãi khắp nơi, áo quần cháu ướt sũng. Tôi sợ đến điếng người, lúc này bố cháu
cũng chạy tới, chúng tôi vội vàng cởi bỏ quần áo ướt cho cháu. Bàn tay nhỏ bé của
cháu bị bỏng đỏ ửng, lớp da non nớt ở cổ tay cũng lập tức tấy đỏ. Bố cháu trừng
mắt nhìn tôi, quát tôi mau đi tìm thuốc; tôi nhớ đến kem đánh răng liền chạy vội
đi tìm. Đột nhiên tôi nhìn thấy cốc Nước Đại Bi thay từ bàn thờ sáng nay đang để
trên bàn; trong đầu tôi dường như có ai đó nhắc nhở: Mau dùng Nước Đại Bi đi!
Tôi vội lấy Nước Đại Bi xoa lên chỗ bỏng cho con; tôi nói với bố cháu đây là
"nước thuốc thần kỳ", con bé nhất định sẽ không sao đâu. Lát sau cháu
bớt khóc, nhưng sắc mặt bố cháu vẫn hằm hằm; tôi đứng một bên thầm cầu xin Quán
Thế Âm Bồ Tát phù hộ, rồi nhẩm tụng vài biến chú Đại Bi cho cháu. Hơn một tiếng
sau, buổi tối lúc lau người cho con, chúng tôi thấy bàn tay và cổ tay cháu
không còn đỏ nữa; lúc lau cháu cũng không khóc, trên người không hề có vết bỏng
nào. Trong lòng tôi thầm tri ân Quán Thế Âm Bồ Tát; nếu không có sự bảo bọc của
Ngài, không có Nước Đại Bi, tôi không biết con bé sẽ ra sao nữa.
Sáng hôm sau, bố cháu đi làm đến hơn 9 giờ thì gọi điện về hỏi
thăm tình hình con; lúc đó hai mẹ con tôi đang chơi đùa rất vui vẻ, quên bẵng mất
chuyện bị bỏng. Tôi kiểm tra lại bàn tay và cổ tay cháu, thấy hoàn toàn bình
thường như mọi ngày, không hề hấn gì. Tôi nói với bố cháu: "Thấy chưa, 'nước
thuốc thần kỳ' của em hiệu nghiệm chứ?" Sau này, có đợt cháu bị viêm họng,
uống nhiều thuốc vẫn không khỏi; tôi liền pha Nước Đại Bi vào nước lọc và sữa
cho cháu uống, đồng thời lấy Nước Đại Bi bôi lên sau gáy cháu. Hai ngày sau,
tôi phát hiện ở chỗ bôi Nước Đại Bi nổi lên chi chít những nốt sần nhỏ xíu như
hạt vừng; các triệu chứng của cháu cũng thuyên giảm rất nhiều, thật là kỳ diệu.
Tri ân Nam mô Đại từ Đại bi Cứu khổ Cứu nạn Quảng đại Linh cảm Quán Thế Âm Bồ
Tát!
9. Bệnh đau lưng nhờ
7 tờ Ngôi Nhà Nhỏ là khỏi hẳn
Trong lúc dỗ con, tôi không cẩn thận bị bong gân lưng; không
thể đứng thẳng, không bế nổi con. Phải làm sao đây? Đến tối lại càng khó chịu
hơn, chân sưng vù; nhưng chồng phải đi làm, không có ai giúp tôi trông con,
đành phải nghiến răng chịu đựng. Ba ngày trôi qua, bệnh tình ngày một nặng hơn,
đau buốt cả cột sống, quả thực là cực hình. Ngày thứ tư, tôi nằm mơ thấy bầy cừu
tôi từng chăn nuôi trước đây; liền vội vàng phát nguyện niệm 7 tờ Ngôi Nhà Nhỏ
và 108 biến Chú Vãng Sinh cho người cần kinh trong giấc mơ, đồng thời phát nguyện
Chủ nhật sẽ đi phóng sinh. Chủ nhật đúng lúc niệm xong 7 tờ, sáng sớm tôi liền
đốt, rồi tranh thủ ngày nghỉ của chồng đi phóng sinh. Lúc về nhà lưng không còn
đau nữa. Đến thứ Tư chồng hỏi tôi có cần đi xoa bóp lưng nữa không; tôi bảo
không cần nữa. Lại đến Chủ nhật, sợ tôi chưa khỏi hẳn, chồng vẫn giục tôi đi
xoa bóp; tôi lại tiếp tục đi phóng sinh. Thật tuyệt vời, lưng đã khỏi, cột sống
cũng không còn đau nữa. Căn bệnh đau lưng trước đây tốn bao nhiêu tiền xoa bóp
cũng không khỏi, vậy mà chỉ nhờ phóng sinh, phát nguyện, niệm kinh và 7 tờ Ngôi
Nhà Nhỏ là khỏi hẳn. Vô vàn tri ân!
Lời cuối cùng, tôi muốn chân thành sám hối với Bồ Tát. Trong
lúc ở cữ bồi dưỡng sức khỏe sau sinh, việc niệm Ngôi Nhà Nhỏ cho con trai bị
gián đoạn, khiến cháu lại lên cơn suyễn hai lần. Bởi vì tôi phải niệm công khóa
cho con trai, con gái, cho chính mình; lại còn phải niệm Ngôi Nhà Nhỏ cho người
cần kinh của hai đứa, của bản thân, cho căn nhà đang ở và căn nhà thuê. Lúc
mang thai mỗi ngày tôi niệm 3-5 tờ, nhưng vẫn không đủ số lượng cho người cần
kinh của con trai, nên cháu lại lên cơn suyễn. Vì mãi không gọi được điện thoại
cho chương trình của Đài Trưởng; trong lúc cấp bách, tôi đã tìm đến người có khả
năng ngoại cảm nhờ họ tiễn linh tính trong nhà đi. Không ngờ, trước đây tôi từng
mơ thấy trong nhà chỉ có 11 người cần kinh; nhờ người ta xem xong, người cần
kinh kéo đến ngập cả sân, khoảng chừng hơn hai trăm người. Báo hại con trai tôi
sợ không dám về nhà, cứ về là lại lên cơn suyễn (sân nhà tôi cho 6 hộ gia đình
thuê cùng ở chung). Tất cả đều do tôi không tốt, xin Bồ Tát tha thứ cho con,
con không bao giờ dám làm vậy nữa; con nhất định sẽ chăm chỉ niệm Ngôi Nhà Nhỏ
để siêu độ cho các vị người cần kinh. Xin Bồ Tát hãy tha thứ cho con!
Ở đây tôi cũng muốn gửi lời tri ân đến các sư huynh đã nhiệt
tình giúp đỡ tôi. Tri ân người cần kinh của tôi, người cần kinh của con trai
tôi; nếu không nhờ có các vị, tôi không thể nào tinh tấn tu tâm học Phật được
như vậy. Trước đây vì không hiểu Phật pháp nên tôi đã làm rất nhiều việc sai
trái: Sát sinh, trộm cắp, ác khẩu (lời ác ý), vọng ngữ (nói dối), lưỡng thiệt
(đâm thọc), tham sân si... đủ mọi thói hư tật xấu. Hồi nhỏ vì chưa hiểu biết,
lúc đó gia đình làm nghề chăn nuôi; nuôi rất nhiều gà, vịt, ngan, ngỗng, lợn,
mèo, chó, trâu, bò, ngựa, cừu... Tôi từ nhỏ đã giết gà, giết vịt, làm thịt thỏ;
còn cùng bố ra sông quăng lưới bắt cá, bắt tôm, mò ốc, vớt trai; bắt ếch, bắt
nhím, bắn chim, còn lột da rất nhiều rắn. Số lượng chúng sinh bị giết hại ở nhà
tôi có lẽ mấy xe tải cũng chở không hết; gây ra nghiệp sát sinh vô cùng nặng nề
cho gia tộc. Cả người lớn và trẻ nhỏ trong nhà đều gặp nhiều bất trắc: Bố tôi
hiện tại một mắt gần như đã mù lòa; mẹ tôi đau lưng đến mức còng cả người. Con
của chị gái tôi năm 6 tuổi bị một chậu nước sôi đổ ập vào người, phải nằm viện
một tháng; giữ được mạng sống nhưng hiện tại một phần ba cơ thể chằng chịt sẹo;
bản thân chị gái tôi cũng đã trải qua 3 đời chồng. Con trai tôi thì mắc bệnh
hen suyễn; con của em gái tôi bị chứng ngủ rũ (ngủ li bì); thím tôi qua đời vì
ung thư; em họ con nhà thím bị tâm thần; em trai con nhà thím bị tai nạn giao
thông gãy sống mũi (Cầu xin Bồ Tát gia trì cho con có năng lượng để độ hóa người
thân). Bản thân tôi chưa đến 30 tuổi, vừa sinh con xong quả báo đã ập đến: bệnh
tật đầy mình (lúc ốm tôi luôn mơ thấy vài con rắn quấn lấy mình); cuộc sống của
hai mẹ con rối ren bế tắc, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Khi cuộc hôn nhân và
sinh mệnh tưởng chừng đi đến hồi kết, chính Bồ Tát đã ban cho tôi "ba cọng
rơm cứu mạng". Từ khi học Phật, Bồ Tát từ bi đã giúp tôi giảm bớt bệnh tật,
đau đớn; gia đình êm ấm, hòa thuận; bệnh hen suyễn của con trai cơ bản đã khỏi,
thành tích học tập cũng tiến bộ; con gái nhỏ cũng may mắn lên được chuyến pháp
thuyền trong thời kỳ mạt pháp này. Hiện tại, trước mặt Quán Thế Âm Bồ Tát, con
xin chân thành sám hối; con đã quá có lỗi với những chúng sinh bị chúng con làm
hại và giết hại. Đều là do con không tốt, con nhất định sẽ quyết tâm sửa đổi.
Con xin phát nguyện: Con vĩnh viễn không sát sinh nữa, ăn chay trường suốt đời;
mỗi tháng phóng sinh ít nhất 1 lần, làm nhiều việc thiện, tích nhiều công đức;
tận tâm dạy dỗ hai con tu tâm tu hành. Con nhất định sẽ nghiêm túc tu học Pháp
môn Tâm linh, "nhất môn thâm nhập", dũng mãnh tinh tấn, vĩnh viễn
không bao giờ thoái chuyển; nguyện mãi mãi làm thiên thủ thiên nhãn của người Mẹ
Quán Thế Âm Bồ Tát, dùng câu chuyện chân thực của bản thân (hiện thân thuyết
pháp) để hoằng pháp độ chúng sinh.
Tri ân Nam mô Đại từ Đại bi Cứu khổ Cứu nạn Quảng đại Linh cảm
Quán Thế Âm Bồ Tát!
Tri ân Ân sư Đại từ Đại bi Lư Quân Hoành Đài Trưởng!
Đồng tu Trương Lỵ ở Triều Dương, Bắc Kinh chắp tay kính bái.
9. Hơn 3 tháng với 75 tờ Kinh văn Tổ hợp, chữa khỏi hoàn toàn căn bệnh suy
giáp mãn tính
Tri ân Nam mô Đại từ Đại bi Cứu khổ Cứu nạn Quảng đại Linh cảm
Quán Thế Âm Bồ Tát!
Tri ân chư vị Long Thiên Hộ pháp đã cho con cơ hội làm công
đức!
Tôi đến từ Thượng Hải, năm nay 32 tuổi, đã tu học Pháp môn
Tâm linh được hai năm rưỡi. Dưới đây tôi xin chia sẻ trải nghiệm chữa khỏi căn
bệnh suy giảm chức năng tuyến giáp một cách thần kỳ chỉ trong vòng 3 tháng ngắn
ngủi.
Trước đây, chưa bao giờ tôi nghĩ tuyến giáp của mình lại có
vấn đề. Bắt đầu từ giữa tháng 11 năm 2013, tôi thường xuyên nằm mơ thấy đồng hồ,
kim đồng hồ; ban đầu tôi cứ ngỡ là do những người cần kinh khác đang đòi nợ gấp.
Ai ngờ trong đợt khám sức khỏe định kỳ của công ty, lúc siêu âm, bác sĩ lập tức
thông báo tuyến giáp của tôi không ổn: tuyến giáp hai bên phì đại, cấu trúc âm
vang không đồng nhất; yêu cầu tôi mau chóng đi thử máu để kiểm tra kỹ hơn.
Lúc đó tôi vẫn chưa ý thức được mức độ nghiêm trọng, cứ đinh
ninh là do ảnh hưởng của việc cho con bú sau sinh; ôm tâm lý bệnh sẽ tự khỏi,
tôi đến bệnh viện lấy phiếu xét nghiệm máu. Vài ngày sau, khi cầm kết quả xét
nghiệm trên tay, tôi thực sự hoảng hốt: trong 7 chỉ số thì có tới hơn 3 chỉ số
có vấn đề. Với tâm trạng thấp thỏm lo âu, tôi đến hỏi bác sĩ khoa nội tiết. Bác
sĩ giáng cho tôi một đòn chí mạng, kết luận tôi mắc chứng "Suy giảm chức
năng tuyến giáp" (suy giáp), đồng thời liên tục nhấn mạnh: "Bắt buộc
phải uống thuốc suốt đời!!" Khi tôi cố gắng gặng hỏi nguyên nhân cụ thể
gây bệnh, bác sĩ tỏ vẻ vô cùng mất kiên nhẫn đáp: "Cái này nói không rõ được
đâu, do nhiễm virus các kiểu... Thôi nói chung là cô đã mắc bệnh rồi, đừng có
truy cứu nguyên nhân làm gì nữa, xác định uống thuốc cả đời đi! Cứ uống một
tháng trước rồi đến thử máu lại xem chỉ số thế nào, nếu không ổn thì tăng liều!
Không uống thuốc thì toàn thân cô sẽ rã rời vô lực, tâm trạng u uất trầm cảm,
cơ thể gầy gò ốm yếu, tinh thần uể oải; để lâu ngày sẽ xuất hiện các nốt kết hạch
(nhân tuyến giáp) rồi từ từ chuyển thành ung thư."
Bởi vì mỗi ngày tôi kiên trì tụng 49 biến chú Đại Bi, nên
các triệu chứng của bệnh suy giáp không biểu hiện rõ rệt trên cơ thể tôi. Vì vậy,
tôi cố chấp không thể chấp nhận kết luận của bác sĩ, liền phân bua: "Bây
giờ ngay cả bệnh tiểu đường cũng không cần phải uống thuốc suốt đời nữa mà bác
sĩ!" Nghe vậy, bác sĩ lắc đầu quầy quậy: "Bệnh suy giáp không bao giờ
có thể tự khỏi được; trong suốt bao nhiêu năm hành nghề y của tôi, tôi chưa từng
thấy một bệnh nhân suy giáp nào có thể phục hồi!" Tôi vừa định mở lời thì
một bệnh nhân đang chờ khám bên cạnh chêm vào: "Mẹ tôi cũng bị bệnh tuyến
giáp này; tháng trước vừa dừng thuốc, tháng này lại phải đến bệnh viện báo danh
rồi; cô thấy đấy, loại thuốc này căn bản không thể ngừng uống được đâu!"
Tôi kết thúc cuộc trò chuyện ở đó. Trong thế kỷ 21 này, khi
đối mặt với đủ loại bệnh nan y của nhân loại, y học hiện đại nhiều khi đành phải
bó tay bất lực. "Bệnh thể xác thì tìm bác sĩ, bệnh linh tính (nghiệp chướng)
thì niệm kinh"; Quán Thế Âm Bồ Tát đã dạy rồi, vạn bệnh đều có thể chữa khỏi!
Tôi là người học Phật, tôi sợ gì chứ? Nếu y học đã nhận định đây là căn bệnh
nan y phải uống thuốc suốt đời; được thôi, vậy tôi sẽ dùng Phật pháp để chữa trị,
lập một kỷ lục lịch sử cho bác sĩ xem! Thầm hạ quyết tâm xong, tôi rảo bước
nhanh chóng rời khỏi bệnh viện.
Tam Đại Pháp Bảo (Ba Báu Vật): "Phát Nguyện, Niệm Kinh,
Phóng Sinh", thiếu một thứ cũng không được. Người học Phật tuân thủ
"Tín - Nguyện - Hạnh", nói là làm. Ngày hôm đó về nhà, tôi bắt đầu
tìm kiếm những câu chuyện về bệnh suy giáp trong Pháp môn Tâm linh; tiếc là rất
hiếm. Tuy nhiên, vài sư huynh trong nhóm học Phật đã dùng những trải nghiệm chữa
khỏi nhân tuyến giáp của họ để tiếp thêm cho tôi sức mạnh vô bờ bến. Thế là
ngay hôm đó, trước bàn thờ Bồ Tát, tôi phát nguyện: Đợt đầu tiên sẽ niệm 21 tờ
Kinh văn Tổ hợp (Ngôi Nhà Nhỏ) cho người cần kinh, kết hợp phóng sinh 500 con
cá; sau khi khỏi bệnh sẽ viết bài chia sẻ cho chúng sinh có duyên (hiện thân
thuyết pháp). Phát nguyện xong, tôi bắt tay vào hành trình niệm kinh miệt mài. Ở
công ty, với điều kiện đảm bảo hoàn thành tốt công việc, tôi tranh thủ mọi lúc
mọi nơi để niệm kinh: ở cầu thang thoát hiểm, hành lang, phòng thay đồ, phòng họp...;
những ngày nghỉ cuối tuần lại càng liều mạng tinh tấn hơn.
Dưới đây là quá trình tôi tự chữa bệnh, được ghi chép chi tiết
theo trình tự thời gian:
16/11/2013: Khám sức khỏe biết tuyến giáp có vấn đề, quyết định
niệm 7 tờ Kinh văn Tổ hợp trước.
07/12/2013: Khám tại chi nhánh Bệnh viện Thụy Kim (Ruijin
Hospital), chẩn đoán chính xác là Suy giáp. Chỉ số TSH (Hormone kích thích tuyến
giáp độ nhạy cao) lên tới 30.253 ↑ (cao). Kháng thể Thyroglobulin (TgAb) 70.01
↑, Kháng thể vi thể tuyến giáp (TPOAb) 47.45 ↑ đều rất cao. Phát nguyện đợt đầu
niệm đủ 21 tờ cho người cần kinh, kết hợp phát nguyện phóng sinh 500 con cá;
sau khi khỏi bệnh sẽ viết bài chia sẻ (hiện thân thuyết pháp).
03/01/2014: Trong chuyến đi dâng hương chiêm bái tại Phổ Đà
Sơn, Bồ Tát đã nhắc nhở tôi phải tranh thủ thời gian niệm Kinh văn Tổ hợp.
25/01/2014: Hoàn thành đợt đầu tiên gồm 21 tờ Kinh văn Tổ hợp;
cầu xin Bồ Tát khai thị cho tôi cần phải niệm thêm bao nhiêu tờ nữa?
26/01/2014: Đêm đó tôi nhận được điềm báo trong giấc mơ: Trước
ngày 05/03 phải niệm thêm 47 tờ Ngôi Nhà Nhỏ gửi cho người cần kinh. Nếu không,
tuyến giáp sẽ gặp rắc rối, có thể phải làm thêm nhiều xét nghiệm và điều trị phức
tạp hơn. Trong mơ tôi vô cùng sợ hãi, bất an; thế là bắt đầu ngày đêm liều mạng
đẩy nhanh tiến độ niệm Kinh văn Tổ hợp.
13/02/2014: Lần đầu tiên đến khám chuyên khoa nội tiết tại Bệnh
viện Thụy Kim. Rạng sáng hôm đó tôi mơ thấy Đài Trưởng và lão pháp sư ở cùng
nhau, bản thân tôi nhận được sự gia trì. Buổi khám bệnh hôm đó diễn ra vô cùng
suôn sẻ, bác sĩ còn cẩn thận thăm khám, sờ nắn các vị trí cho tôi; mọi chuyện đều
tốt đẹp.
02/03/2014: Hoàn thành 47 tờ Kinh văn tổ hợp trước thời hạn
05/03. Vì sợ chất lượng không đảm bảo, sau đó tôi đã đốt bổ sung thêm 7 tờ.
19/03/2014: Ngày Đản sanh Quán Thế Âm Bồ Tát, cũng tình cờ
là ngày tôi đi tái khám lần hai. Hơn 5 giờ sáng tôi thức dậy ra bến sông Hoàng
Phố phóng sinh; về nhà vội vàng đốt Ngôi Nhà Nhỏ. Buổi chiều đến bệnh viện tái
khám, quá trình khám bệnh trước sau chưa đầy 10 phút; trên đường đi tôi vẫn
tranh thủ niệm kinh liên tục. Nhận được kết quả xét nghiệm máu: Các chỉ số suy
giáp đều đã hồi phục bình thường, kết quả vô cùng lý tưởng. Bác sĩ dặn hai
tháng sau đến kiểm tra lại.
14/05/2014: Tái khám lần thứ ba. Thực ra sau lần tái khám thứ
hai tôi gần như không uống thuốc nữa, cũng không nhận được giấc mơ báo mộng phải
niệm thêm Ngôi Nhà Nhỏ. Quả nhiên, sáng sớm hôm đó Bồ Tát báo mộng cho tôi biết
các chỉ số đều bình thường. Tôi canh đúng giờ đến bệnh viện; bác sĩ rạng rỡ
tươi cười nói với 3 cậu học trò của mình: "Các chỉ số suy giáp thực sự đã
hạ xuống hết rồi này! Hehe." Bác sĩ còn hỏi tôi đã dừng thuốc chưa. Thực
ra những kết quả này tôi đều đã đoán trước được, nhưng không nỡ làm bẽ mặt
"vị chuyên gia lão thành", nên tôi bảo: "Cháu dừng thuốc được một
thời gian rồi ạ." Vị chuyên gia vô cùng vui vẻ, lập tức thông báo tôi
không cần đến tái khám nữa; nửa năm sau tự đi xét nghiệm máu để theo dõi là được.
(Chỉ số TGAB cuối cùng sẽ tự động phục hồi về mức bình thường, có thể không cần
bận tâm).
Phát nguyện phóng sinh 500 con cá, cá còn chưa phóng sinh hết,
căn bệnh nan y đã bình phục! Bồ Tát chính là Đại Y Vương; một câu chuyện chân
thực đang hiện diện ngay bên cạnh các vị!
Thông qua ba tờ phiếu xét nghiệm trước và sau, mọi người có
thể thấy quá trình các chỉ số dần dần phục hồi. Những dòng trên đây là toàn bộ
quá trình tự mình chữa trị căn bệnh suy giáp mãn tính của cá nhân tôi. Việc sử
dụng Pháp bảo do Bồ Tát ban tặng đã tạo nên một kỳ tích y học; hy vọng có thể
mang lại niềm tin học Phật cho nhiều người hơn nữa!
Cuối cùng, xin tri ân Nam mô Đại từ Đại bi Cứu khổ Cứu nạn
Quảng đại Linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát!
Tri ân tất cả các đồng tu đã giúp đỡ và truyền niềm tin cho
tôi!
Đồng tu Thượng Hải "Nhân thành tức Phật thành"
10. Tu tập Pháp môn Tâm linh vỏn vẹn nửa năm, căn bệnh nan y phục hồi kỳ diệu
Tri ân Nam mô Đại từ Đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát!
Tri ân Ân sư Đại từ Đại bi Lư Quân Hoành!
Vào lúc 8 giờ sáng Thứ Bảy, ngày 8 tháng 10 năm 2011, tôi bị
đánh thức bởi một giấc mơ vô cùng chân thực và đáng sợ. Tôi ngồi bật dậy trên
giường, bồn chồn kể lại cho chồng nghe. Bối cảnh của giấc mơ là trong buổi tiệc
giao lưu do công ty chồng tôi tổ chức; anh ấy vô cùng vui vẻ dẫn tôi đến trước
một thầy bói, bảo tôi đưa tay cho thầy xem tướng. Tôi xòe cả hai lòng bàn tay
ra cho ông ấy xem; ông ấy nhìn thoáng qua liền phán: "Cô sống không qua khỏi
tuổi 42 đâu." Tôi sững sờ ngay tại chỗ, bàng hoàng hỏi lại: "Ý thầy
là tôi không sống qua khỏi ngày sinh nhật thứ Ba tuần này sao?" Vị thầy
bói gật đầu nhẹ và đáp: "Đúng vậy." Rồi tôi tỉnh giấc.
Tối hôm đó bạn bè tổ chức sinh nhật cho tôi, chúng tôi còn
sát sinh ăn rất nhiều hải sản tươi sống: cua to, tôm lớn... Bây giờ nghĩ lại mới
thấy tội lỗi thật sâu nặng!! Sau đó, một chuyện rất kỳ lạ đã xảy ra: Nhà hàng hải
sản này tôi đã đến vô số lần, là nơi tôi vô cùng quen thuộc; bản thân tôi cũng
là người rất cẩn thận, vậy mà tôi lại bị trượt ngã ngay bên ngoài nhà vệ sinh.
Không hiểu sao lúc đó chân tôi cứ đứng không vững rồi trượt ngã nhào; nhưng may
mắn là không bị gãy chân gãy tay.
Kể từ sau giấc mơ đó, đến tháng 2 năm 2012, bác sĩ chuyên
khoa tại bệnh viện chẩn đoán tôi mắc "Hội chứng đau cơ xơ hóa"
(Fibromyalgia). Căn bệnh này vô phương cứu chữa, không có thuốc đặc trị. Tuy nó
không làm suy giảm tuổi thọ, cũng không gây ra những tổn thương quá nặng nề;
nhưng mỗi ngày tôi đều phải dựa vào ý chí của bản thân để vượt qua những cơn
đau nhức lan tỏa khắp cơ thể! Sau đó, tôi bắt đầu xuất hiện triệu chứng chân
tay bủn rủn vô lực, mất ngủ, thiếu tập trung, đãng trí, trầm cảm, và cả chứng rối
loạn lo âu! Mỗi ngày tôi sống như trong chốn địa ngục trần gian, vô cùng đau khổ!
Lúc đó tôi chưa tu học Pháp môn Tâm linh, cũng không biết rằng thực chất đó là
thời kỳ nghiệp chướng bùng phát. Bởi vì sát sinh và ăn hải sản tươi sống suốt
nhiều năm trời, những linh tính (vong linh) nhỏ bé này đã làm ảnh hưởng đến hệ
miễn dịch của tôi, khiến các chỉ số trong máu trở nên bất thường. Kết quả xét
nghiệm máu ngày 08/01/2012 cho thấy chỉ số Kháng thể kháng ADN chuỗi kép
(Anti-dsDNA) của tôi lên tới mức 138 (mức Positive / Dương tính cao là từ
60-200).
Tôi đã trải qua 8 tháng sống trong cảnh địa ngục trần gian
như vậy. Vào tháng 8 năm 2012, trong lúc ngồi chờ con trai cắt tóc ở tiệm cắt
tóc, tôi tình cờ cầm lấy một cuốn tạp chí Phong Thái (Feminine) của Malaysia có
ảnh bìa là Sư phụ Lư Quân Hoành. Không hiểu sao tôi cảm thấy khuôn mặt người
này rất quen thuộc, mang lại cảm giác vô cùng gần gũi! Tôi vội vàng lật mở xem
bài phỏng vấn bên trong. Lập tức, tôi lấy điện thoại chụp lại vài số liên lạc của
người phụ trách tại Singapore, và chụp cả địa chỉ trang blog của Sư phụ Lư Quân
Hoành. Từ tiệm cắt tóc trở về, sau khi vào xem trang blog của Sư phụ Lư Quân
Hoành; ngay ngày hôm sau tôi rủ một người bạn thân đến Chùa Quán Âm trên đường
Tứ Mã (Waterloo Street) ở Singapore. Khoảnh khắc quỳ xuống lạy Bồ Tát, hai hàng
nước mắt tôi tuôn rơi. Tôi hướng Bồ Tát sám hối: "Con quả thực tội lỗi sâu
nặng, con chẳng hiểu biết gì cả, đã trót tạo nghiệp sát sinh; cầu xin Bồ Tát
tha thứ." Sau đó tôi phát nguyện ăn chay.
Từ hôm đó, đêm nào tôi cũng ôm lấy máy tính xem các video
khai thị trong Pháp hội của Sư phụ Lư Quân Hoành đến tận 3-4 giờ sáng. Tôi thầm
nhủ với bản thân: "Cuối cùng mình đã tìm thấy vị Sư phụ mà mình vẫn luôn
tìm kiếm bấy lâu nay!!"
Người bạn của tôi đã lập tức xin vé tham dự Pháp hội
Singapore 2012, hai chúng tôi cũng đăng ký làm tình nguyện viên. Trước khi Pháp
hội diễn ra, trong lúc chưa nhận được sự hướng dẫn chính xác, tôi đã tự mình
lên YouTube học cách tụng chú Đại Bi. Sau khi tụng chú Đại Bi chỉ vỏn vẹn bốn
ngày, kỳ tích đã xuất hiện! Sống lưng tôi bắt đầu nóng lên, cảm giác máu huyết
lưu thông khắp cơ thể, những cơn đau nhức giảm đi rõ rệt, buổi tối cũng bắt đầu
chợp mắt được. Lần đầu tiên tôi mơ thấy Sư phụ Lư Quân Hoành bước xuống từ một
chiếc xe buýt lớn màu trắng; tôi cứ như một bé gái vui vẻ chạy đến ôm lấy cánh
tay trái của Sư phụ, đung đưa mấy cái. Rồi tôi chợt nghĩ mình không nên làm vậy,
vì Người là Sư phụ! Mình còn không quen biết Người, sao có thể vô lễ với Sư phụ
như thế được? Tôi vừa buông tay ra, cả người bỗng lảo đảo hoa mắt chóng mặt. Sư
phụ vội đỡ lấy tôi, dắt tôi đến ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh, còn ân cần dặn
dò các bạn tình nguyện viên phải chăm sóc tôi thật tốt. Rồi tôi tỉnh giấc. Sau
này tôi mới hiểu, mơ thấy Pháp thân của Sư phụ chính là Sư phụ đã đến gia trì
cho tôi!
Sau Pháp hội Singapore 2012, tôi bắt đầu làm công khóa.
Trong lúc nhắm mắt niệm kinh, tôi chợt nhớ ra: Vị thầy bói trong giấc mơ năm
2011 chẳng phải là Sư phụ Lư Quân Hoành đó sao?! Tôi nhớ rất rõ khuôn mặt và bộ
trang phục của vị thầy bói đó; chỉ là hồi đó Sư phụ có khuôn mặt tròn trĩnh,
thân hình cũng đẫy đà hơn bây giờ, nên tôi mới không nhận ra Sư phụ trên trang
bìa tạp chí Phong Thái! Lẽ nào Sư phụ đã đến cứu tôi từ một năm trước rồi?? Cú
ngã đêm hôm đó cũng là Sư phụ giúp tôi hóa giải một kiếp nạn?? Trong một lần gọi
điện thoại kết nối được với chương trình Xem Đồ Đằng của Sư phụ, tôi đã hỏi Người
về chuyện này, và Sư phụ xác nhận đúng là Người đã giúp tôi hóa giải một kiếp nạn.
Tôi thực sự quá đỗi tri ân Sư phụ!
Ngày 26 tháng 2 năm 2013, tôi đi kiểm tra sức khỏe tổng quát
một lần nữa. Chỉ số Kháng thể Anti-dsDNA của tôi bất ngờ giảm xuống chỉ còn 16
(Negative / Âm tính)!!! Bác sĩ vô cùng kinh ngạc, thốt lên rằng chỉ trong vỏn vẹn
một năm, chỉ số trong máu có thể tụt từ ba con số xuống còn hai con số; bác sĩ
hỏi tôi đã uống loại thuốc gì. Tôi cũng chẳng bận tâm việc bác sĩ là người theo
đạo Cơ Đốc, tôi liền đáp: "Không uống thuốc gì cả, chỉ là niệm kinh, phát
nguyện, ăn chay thôi!!" Hahaha! Thực ra nếu tính chính xác, từ lúc tham
gia Pháp hội Singapore tháng 8 năm 2012 đến lúc đi kiểm tra vào tháng 2 năm
2013, tôi tu học Pháp môn Tâm linh mới chỉ vỏn vẹn nửa năm, vậy mà các chỉ số
trong máu đã nhanh chóng hồi phục bình thường.
Đệ tử thực sự vô cùng tri ân Nam mô Đại từ Đại bi Quán Thế
Âm Bồ Tát Ma Ha Tát! Vô cùng tri ân Ân sư Đại từ Đại bi Lư Quân Hoành! Đệ tử nhất
định sẽ theo sát gót Quán Thế Âm Bồ Tát và Sư phụ Lư Quân Hoành chăm chỉ tu tâm
tu hành; nguyện làm thiên thủ thiên nhãn của Quán Thế Âm Bồ Tát, hoằng dương Phật
pháp, phổ độ chúng sinh, vĩnh viễn không bao giờ thoái chuyển!
Tri ân Nam mô Đại từ Đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát!
Tri ân Ân sư Đại từ Đại bi Lư Quân Hoành!
Đồng tu Malaysia chắp tay kính bái.
Lời bạt
Pháp môn Tâm linh của Quán Thế Âm Bồ Tát có năng lực diệt trừ
mọi khổ đau, đây là sự thật chân thực không hư ảo. Bất cứ ai tu học Pháp môn
Tâm linh đều cảm nhận sâu sắc được lòng đại từ bi vô lượng vô biên của Lư Đài
Trưởng trong việc hoằng dương Pháp môn Quán Thế Âm Bồ Tát để cứu độ chúng sinh.
Pháp môn Tâm linh là phương thuốc thần tiên, là diệu dược cứu vớt những bệnh
nhân mắc bệnh linh tính, hóa giải mọi oan kết, trả những món nợ nghiệp chướng
mang theo từ nhiều đời nhiều kiếp, tiêu trừ ác nghiệp của tự thân, và giải
thoát khỏi bể khổ. Nó là ngọn đèn chỉ đường soi sáng cho những người đã học Phật
nhiều năm nhưng vẫn còn đang lầm lạc trong sương mù, giúp họ cập bến bờ giác ngộ.
Chỉ cần nghiêm túc thực hành theo sự hướng dẫn của Lư Đài Trưởng: Niệm kinh,
Phóng sinh, Phát nguyện; tất thảy mọi người đều nhận được những lợi ích và cảm
ngộ ở nhiều mức độ khác nhau.
Vậy tại sao lại có sự khác biệt về mức độ nhận được lợi ích?
Chúng tôi cho rằng, ngoài sự khác biệt về căn cơ của mỗi tín chúng, nguyên nhân
chủ yếu là do phần lớn mọi người chỉ chú trọng học "phương pháp", mà
chưa nắm bắt được tinh túy của việc "tu tâm"; đặc biệt là việc thanh
lọc "Tam Độc" (Tham - Sân - Si) của bản thân vẫn chưa đủ, khiến năng
lượng tự thân không cao. Biện pháp giải quyết duy nhất là phải hạ quyết tâm nỗ
lực trong việc "Tu Tâm", phải bám sát bước chân của Lư Đài Trưởng, tu
học cho tốt Pháp môn Tâm linh; để kiếp này sống một cách ý nghĩa đong đầy, và
khi ra đi không còn mảy may vướng bận (vô khiên vô quái).
Nếu muốn tìm hiểu chi tiết hơn về Pháp môn Tâm linh của Lư
Đài Trưởng, vui lòng truy cập "Địa chỉ Blog của Lư Quân Hoành Đài Trưởng":
http://lujunhong2or.com. Quý vị có thể tra cứu các bài viết: "Bạch Thoại
Phật Pháp" (Phật pháp qua lời kể bình dị), "Huyền Nghệ Tông Thuật"
(Giải mã Đồ Đằng), "Huyền Học Vấn Đáp" (Hỏi đáp Huyền học),
"Thính Chúng Cảm Ngộ" (Cảm nhận của thính giả), "Võng Hữu Phản
Quỹ" (Phản hồi của cư dân mạng). Đồng thời đón nghe các chương trình do Lư
Quân Hoành Đài Trưởng của Đài Phát thanh Hoa ngữ Phương Đông (Úc) chủ trì:
"Huyền Nghệ Tông Thuật" (3 giờ/tuần), "Huyền Nghệ Vấn Đáp"
(2 giờ/tuần), "Trực Thoại Trực Thuyết" (Nói thẳng nói thật - 30
phút/tuần), "Bạch Thoại Phật Pháp" (30 phút/tuần) cùng với những bản
ghi âm tại các buổi giải đáp thắc mắc trực tiếp quy mô lớn.
Ở đây cũng xin được nhắc nhở những ai vẫn còn mang trong
mình những nghi ngờ, do dự đối với Pháp môn Tâm linh của Lư Đài Trưởng: Hãy mau
chóng tự tìm nguyên nhân từ chính bản thân mình, buông bỏ mọi nghi ngờ; hạ quyết
tâm tuân theo những lời khai thị của Lư Đài Trưởng, khẩn trương tu tâm; thời
gian thực sự không chờ đợi một ai!
Tháng 12 năm 2011, tại Sydney.